PUCL QUYỂN 100 - CHƯƠNG TRUYỆN KÍ
12/01/2016
QUYỂN 100 Quyển này có một chương Truyện kí. 100. CHƯƠNG TRUYỆN KÍ 100.1. LỜI DẪN Từng nghe: kinh điển của chín nhà chất đầy tại Linh Khâu, sách về phép tắc trong thiên hạ chất kín ở Quần Ngọc, lại cũng có văn khắc trên...

QUYỂN 100
Quyển này có một chương Truyện kí.
100. CHƯƠNG TRUYỆN KÍ
Từng nghe: kinh điển của chín nhà chất đầy tại Linh Khâu, sách về phép tắc trong thiên hạ chất kín ở Quần Ngọc, lại cũng có văn khắc trên đá của Tam hoàng giữ tại Thanh khâu, Tử phủ; hay chữ Linh phi, Lục giáp tạo trên Lục kiểm, Hoàng thằng; nhưng cũng đâu sánh bằng bí tạng của Như Lai quí giá như minh châu, đâu thể so với phép tắc của chư Phật đồng như gương sáng. Như pháp tứ đế ở Lộc Uyển, văn tám tạng ở Ni viên, dù voi mạnh ở Hương sơn cũng không mang nổi, rương báu ở Long cung cũng chẳng chứa hết. Bởi lẽ, Đức Thích-ca chúng ta có cội đức sâu dày, đã gieo trồng từ đầu ba a-tăng-kì; diệu quả cao tột đã thành tựu vào cuối trăm đại kiếp. Ngài gom pháp giới làm trí, thâu hư không làm thân, đâu chỉ nhận khí từ đât trời, tâm trùm muôn vật thôi đâu!
Cho nên, thân biến khắp thì lượng vượt ngoài khuôn mẫu, trí biết cùng thì dụng không thể nghĩ bàn. Đâu thể dùng việc thế gian để suy lường, nào thể lấy nơi chốn để xác định! Ngài là đấng Đại sư của ba cõi, bậc Chí tôn của muôn đời. Chúng ta khả năng kém cõi, đâu thể diễn tả cho hết. Cho dù Chu công chế Lễ tạo Nhạc, Khổng Tử viết Dịch soạn Thi, Dư Tứ thông thạo ngôn ngữ, Thương Yển sở trường văn học, hay Tả Nguyên Phóng, Cát Trĩ Xuyên, Hà Thượng công, Trụ Hạ sử... thì vẫn còn quanh quẩn trong trần thế, đâu đáng để nói!
Do hàm linh chúng ta phúc cạn, nên sinh nhằm thời đấng Pháp vương đã vào niết-bàn, đầu ngài hướng về sông Đề phương bắc, thọ tám mươi tuổi. Như Lai xả bỏ ứng thân, chúng đệ tử rơi lệ máu khôn nguôi, tranh nhau hỏi điều nghi lần cuối, đồng đến cúng dường Thế Tôn lúc lâm chung.
Than ôi! Đuốc tuệ mây từ đã không còn, hàng đệ tử chơi vơi giữa đêm dài, thật đáng thương thay! Thế nên, chúng đệ tử chỉ biết chiêm ngưỡng tôn nhan qua khói chiên-đàn thơm ngát, ghi lại những lời giáo huấn của Ngài vào lá bối quí vô cùng. Từ đó có ba tạng kinh để thụ trì, có Tứ y để nương tựa. Nhờ đây mà phong giáo của Thế Tôn không mất.
Song, chính tượng đã qua, lòng người bạc bẽo; thế vận kim cổ đã đến hồi cuối. Từ đây Phật pháp truyền đến phương bắc rồi dần dần du nhập về đông. Vậy nên có điềm người vàng gá vào mộng Hán đế Lưu Trang, Ca-diếp Ma-đằng đợi Thái Âm khuyến thỉnh; đó là khởi đầu cho việc Phật pháp truyền đến đất Hán.
Hơn sáu trăm năm sau, các ngài như Khương Tăng Hội, Trúc Pháp Hộ, Phật-đồ-trừng, Cưu-ma-la-thập tiếp nối đến Trung Hoa, hoằng truyền giáo nghĩa Đại thừa. Sau đó lại có các đệ tử như ngài Đạo Sinh, Đạo An, Tuệ Nghiêm, Tuệ Quán, gạt bỏ thanh danh vinh hiển, một lòng qui hướng.
Đến thời Đường, có pháp sư Huyền Trang là người đức độ vượt lên vạn cổ, thanh danh cao vút trời xanh. Ngài đã vượt qua hơn một trăm năm mươi lãnh thổ, phiên dịch kinh luận số đến một ngàn năm trăm bộ, đã đạt đến chỗ hoàn mĩ, thật đáng ca ngợi tán dương! Đến nay, kinh tạng được dịch gần năm ngàn bộ, Phật pháp được truyền bá rộng khắp, cửa thiền ngày một hưng thịnh, đạo tục được nhiều lợi ích, thật không lời nào nói hết!
Thuở nhỏ, tôi đã đọc sách sử của Chu công và Khổng Tử; lúc về già cũng rất ngưỡng mộ ngôn từ sâu mầu của Lão Tử. Nhưng các triết thuyết này đều chưa thoát khỏi biển khổ, vẫn còn chìm đắm trong nhà lửa. Đáng gọi là trường tồn và rộng lớn hẳn chỉ có Phật giáo mà thôi! Thế là tôi cung kính bậc tôn quí quá khứ, lại ngưỡng mộ công hạnh của các bậc anh tài hôm nay. Các ngài đồng qui hướng chính đạo, đã tự thoát khỏi sự chìm đắm. Họ được gọi là Ân sĩ li dục, là Đại tướng phá tà. Tôi rất ngưỡng mộ nên nói như vậy. Nay liệt kê hơn năm nghìn quyển kinh được phiên dịch qua mười tám triều đại, ba trăm mười bộ, năm trăm ba mươi tám quyển bản kinh thất dịch do ba lần pháp nạn. Tôi cũng xin trình bày tổng quát đề mục các bộ kinh Đại và Tiểu thừa, ứng với niên đại đế vương. Còn nhân pháp thì đã được ghi lại đầy đủ trong Đại bản. Tôi lại nêu ra ba nghìn quyển, do các bậc đạo tục tài giỏi y cứ vào kinh Phật mà soạn, cũng như các sách của Bách gia chư tử có liên quan. Lại còn kể ra việc các Đế vương tạo phúc, niên đại Phật hạ sinh cõi Diêm-phù-đề và lược nêu các mốc thời gian. Những mục cần thiết như vậy đều được ghi chép ở sau, ngõ hầu các bậc hiền triết trong tương lai đồng xem xét, ghi nhớ.
100.2. PHIÊN DỊCH
Trộm nghĩ, từ khi có kinh điển đến nay, các bậc hiền đức ghi chép, mỗi khi đến phần dịch ngữ thì đều ghi: “Dịch từ Hồ sang Hán.” Chín châu Trung Quốc đều gọi Tây Vực là nước Thiên Trúc, hoặc gọi là Thân-độc, đó là gọi chung. Còn tiếng Phạn gọi Trung Quốc là Chỉ-na, hoặc Chân-đan, hoặc gọi là Chấn-đán, tùy theo âm giọng mỗi vùng mà khác nhau. Cũng có nơi gọi là Hán. Nhưng Hán chỉ là tên gọi hai triều đại Đông Hán và Tây Hán, do Lưu Bang sáng lập. về sau, lại tiếp nối có nhà Ngụy và nhà Tấn, nên phải lấy hiệu của các đế vương để phân biệt. Nay vì việc ghi chép này, nên cần chỉnh sửa lại cho chính xác. Hơn nữa, Hồ là giống dân ở ở biên địa của Thiên Trúc, giống như dân Khương, Man, Di ở Trung Quốc, vậy đâu thể nói văn trong kinh điển thuộc ngôn ngữ Hồ!
Lại nữa, Đức Phật ra đời ở Thiên Trúc. Nước này, những người thuộc dòng Bà-la-môn đều được gọi chung là Phạm, Phạm nghĩa là thanh tịnh, thuộc dòng dõi trời Quang Âm sắc, hay trời Quang Âm, là cõi thấp nhất của cõi Phạm Thế. Vào kiếp sơ, họ đến cõi này ăn chất béo của đất, nên thân thể nặng nề không thể trở về trời, vì thế phải làm người, nhưng vẫn giữ tên cũ, nên mới gọi là Phạm; ngôn ngữ, sách vở giống cõi trời nên gọi là Phạm thư, Phạm ngữ. Như trước dây, chúng tăng đều dùng tục tính, nhưng nay đều lấy họ Thích. Nguyên nhân bắt đầu thời Tần, có sa-môn Thích Đạo An là bậc kiệt xuất đương thời, tâm trí đà tỏ ngộ. Ngài nói:
- Chúng ta là hàng xuất gia, kế thừa giáo pháp Đức Phật Thích-ca, tuy con khác cha, nhưng họ thì không khác. Từ nay, người xuất gia nên lấy họ Thích.
Đến khi dịch kinh A-hàm thấy có câu: “Bốn giai cấp xuất gia không phân biệt cao thấp, đều đồng một họ Thích.” Mọi người mới thán phục. Nhưng ngài Đạo An sống thời Tấn Tần, đã từng san định mục lục, chú thích các kinh, tự hiệu là Di Thiên, làm phép tắc cho người sau mà vẫn còn ghi là: “Dịch Hồ sang Tần” thì đây cũng là một viên đá trong Côn sơn, chưa thật, sự hoàn mĩ. Vì thế từ trước đến đây có chỗ nào ghi chữ Hồ, đều được thay thế bằng chữ Phạn. Mong các học giả sau này luận bàn kĩ mà biết được chỗ đúng đắn.
- Đời Hậu Hán: Mười hai dịch giả tăng tục, dịch được ba trăm ba mươi bốn bộ, gồm bốn trăm mười sáu quyển kinh luật. Trong đó có một trăm hai mươi lăm bộ, gồm một trăm bốn mươi tám quyển thất dịch.
- Đời Tiền Ngụy: Sáu vị tăng phiên dịch, dịch được mười ba bộ, gồm hai mươi bốn quyển kinh luật.
- Đời Nam Ngô Tôn Quyền: Bốn dịch giả tăng tục, dịch được một trăm bốn mươi tám bộ, gồm một trăm tám mươi lăm quyển kinh, Trong đó có một trăm mười bộ, hai trăm chín mươi mốt quyển thất dịch.
- Đời Tây Tấn: Mười ba dịch giả tăng tục, dịch được bốn trăm năm mươi mốt bộ, gồm bảy trăm mười bảy quyển kinh. Trong đó có tám bộ, mười lăm quyển thất dịch,
- Đời Đông Tấn: Hai mươi bảy dịch giả tăng tục, dịch được hai trăm sáu mươi ba bộ gồm năm trăm tám mươi lăm quyển kinh truyện, trong đó có năm mươi ba bộ, gồm năm mươi sáu quyển thất dịch.
- Đời Tiền Tần họ Phù: Tám vị tăng dịch thuật, dịch được bốn mươi bộ, gồm hai trăm ba mươi tám quyển kinh truyện.
- Đời Tây Tần họ Ngật Phục: Một vị tăng dịch thuật, dịch được mười bốn bộ, gồm hai mươi mốt quyển. Trong đó có tám bộ, mười một quyển kinh thất dịch.
- Đời Hậu Tần họ Diêu: Tám vị tăng dịch thuật, dịch được một trăm hai mươi bốn bộ, sáu trăm sáu mươi hai quyển.
- Đời Bắc Lương họ Thư Cừ: Có tám dịch giả tăng tục, dịch được ba mươi hai bộ gồm hai trăm hai mươi bốn quyển kinh truyện. Trong đó có năm bộ, gồm mười quyển kinh thất dịch.
- Đời Tống: Hai mươi ba dịch giả tăng tục, dịch được hai trăm mười bộ gồm bốn trăm chín mươi quyển. - Đời Tiền Tề: Mười chín dịch giả tăng tục, dịch được bốn mươi bảy bộ, gồm ba trăm bốn mươi sáu quyển kinh truyện.
- Đời Lương: Hai mươi mốt dịch giả tăng tuc, dịch được chín mươi bộ, gồm bảy trăm tám mươi quyển kinh, luật, truyện.
- Đời Hậu Ngụy hay Nguyên Ngụy: Mười ba dịch giả tăng tục, dịch được tám mươi bảy bộ, gồm ba trăm hai mươi quyển kinh, luận, truyện, lục.
- Đời Hậu Tề họ Cao: Có hai dịch giả tăng tục, dịch được bảy bộ, gồm năm mươi ba quyển kinh luận.
- Đời Hậu Chu họ Vũ Văn: Mười một dịch giả cả tăng tục, dịch được ba mười bộ, gồm một trăm bốn mươi quyển kinh, luận, thiên văn.
1. Đời Trần: Ba dịch giả tăng tục, dịch được bốn mươi bộ, gồm ba trăm bốn mươi bảy quyển kinh, luận, truyện, sớ.
- Đời Tùy: Hai mươi dịch giả tăng tục, dịch được hơn chín mươi bộ, gồm năm trăm mười quyển kinh.
- Đời Đại Đường: Mười một vị tăng, dịch được hơn hai trăm bộ, gồm hơn một nghìn năm trăm quyển kinh luận.
Các kinh, luật, luận, truyện kí đã dịch tổng cộng tám trăm bộ, gồm ba nghìn ba trăm sáu mươi mốt quyển, năm mươi sáu nghìn một trăm bảy mươi trang, ba trăm hai mươi sáu pho (không kể những bản kinh Tân dịch), được liệt kê:
- Kinh Đại thừa dịch một lần, có hai trăm bốn mươi bộ, sáu trăm tám mươi lăm quyển, mười một nghìn không trăm bốn mươi hai trang, sáu mươi sáu pho.
- Kinh Đại thừa dịch nhiều lần, có hai trăm hai mươi bộ, bốn trăm chín mươi bảy quyển, bảy nghìn hai trăm chín mươi trang, bốn mươi chín pho.
- Kinh Tiểu thừa dịch một lần, có một trăm tám mươi bộ, bốn trăm ba mươi lăm quyển, sáu nghìn sáu trăm chín mươi trang, bốn mươi chín pho.
- Kinh Tiểu thừa dịch nhiều lần, có chín mươi sáu bộ, một trăm mười bốn quyển, chín trăm bảy mươi bảy trang, sáu pho.
- Luật Tiểu thừa có ba mươi lăm bộ, hai trăm bảy mươi bốn quyển, năm nghìn tám trăm mười ba trang, hai mươi tám pho.
- Luận Đại thừa có bảy mươi bốn bộ, năm trăm hai mươi quyển, chín nghìn một trăm ba mươi trang, năm mươi hai pho.
- Luận Tiểu thừa có ba mươi ba bộ, sáu trăm bảy mươi sáu quyển, mười hai nghìn một trăm bảy mươi bảy trang, sáu mươi tám pho.
- Tập truyện về Hiền thánh có bốn mươi chín bộ, một trăm tám mươi bốn quyển, hai nghìn tám trăm tám mươi trang, mười tám pho.
100.3. TẠP TẬP
Từ Tiên uyển sơ chuyển pháp luân cho đến Kim hà nhập diệt, Thế Tôn hằng giáo hóa chúng sinh, dẫn dắt muôn loài. Ngài tùy thời cơ mà lập phương tiện, theo tính dục mà thuyết giáo môn. Có thể nói tổng gom cả một đời giáo hóa, bao trùm hết cả đại thiên, người thụ nhận đạo của Ngài thật không thể nào tính hết, nhưng người truyền tông của Ngài thì thật chẳng nhiều. Trải qua sáu trăm năm, từ khi giáo pháp được truyền đến Trung Hoa, có khoảng năm nghìn quyển kinh luận đã được dịch sang tiếng Trung Quốc. Các tăng tục tài danh y cứ theo ý Phật cũng đã soạn được hơn ba nghìn quyển văn kí, chú sớ; hy vọng trang nghiêm Phật pháp, tuyên dương thánh giáo. Những tác phẩm này, về văn từ thì hay đẹp, nghĩa lí cũng rất sâu xa, thật đáng xem đọc.
Dù trải qua nhiều thời đại hưng suy, số lượng pho quyển thất lạc, tuy có ước tính nhưng cũng không đầy đủ. Chỉ tại Trường An thôi cũng đã mất một nghìn quyển. Nghe tại chùa Đông Lâm ở Lô sơn, là ngôi già-lam do pháp sư Tuệ Viễn lập vào thời Đông Tấn, đã giữ gìn cẩn thận Nhất thiết chư kinh và Tạp tập, xây dựng kho tàng riêng để tôn trí, có tri sự quản lí và canh giữ rất nghiêm ngặt, nhiều đời nối nhau nhận lãnh giữ gìn như thế. Đó là sợ mai sau pháp diệt, thì kinh giáo vẫn được bảo toàn.
Nay theo những điều đã thấy nghe mà liệt kê danh mục sau đây:
- Kì-xà-quật sơn giải (xem trong Tăng hựu lục), Chúng kinh mục. Hai bộ này do sa-môn Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn (265-316).
- Tức sắc du huyền luận, Biện tam thừa luận, Thích mông luận, Thánh bất biện trí luận, Đạo hạnh chỉ qui, Bản nghiệp tứ đế tự, Bản khởi tứ đế tự. Bảy bộ, bảy quyển này do sa-môn Chi Tuần soạn vào đời Ai đế, thời Đông Tấn (317-420).
- Tỳ-đàm chỉ qui, một quyển, do sa-môn Trúc Táng Kiền soạn vào đời Ai đế (?-365).
- Lịch du Thiên Trúc kỉ truyện, một quyển, do sa-môn Thích Pháp Hiển, người Bình Dương soạn vào thời Đông Tấn.
- Pháp tính luận, Minh báo ứng luận, Thích Tam bảo luận, Biện tâm thức luận, Bất kính vương giả luận, Sa-môn đản phục luận, Phật ảnh tán, Diệu pháp liên hoa kinh tự, Tu hành phương tiện thiền kinh tự, Tam pháp độ luận tự, Đại trí độ luận tự, Đại trí độ luận yếu lược sao, mỗi bộ một quyển; vấn Đại. thừa trung thâm nghĩa thập bát khoa tịnh La-thập pháp sư đáp. Mười ba bộ này gồm có ba mươi lăm quyển, do sa-môn Thích Tuệ Viễn ở núi Lô soạn vào đời Hiếu Vũ đế và An đế, thời Đông Tấn.
- Thần vô hình luận, một quyển, do sa-môn Thích Tăng Phu ở chùa Phạm Quan, tại Dương đô soạn vào đời Đông Tấn.
- Duy-ma-cật kinh tử chú, năm quyển; Cứu thông luận. Hai bộ này, gồm sáu quyển, do sa-môn Thích Đàm Thuyết (đệ từ pháp sư Tuệ Viễn), ở chùa Đông Lâm, núi Lô soạn vào đời Hiếu Vũ đế, nhà Tấn.
- Nhân vật thỉ nghĩa luận, một quyển, sa-môn Thích Pháp Sướng soạn vào đời Vũ đế, nhà Tấn.
- Cao Dật sa-môn truyện, một quyển, do sa-môn Thích Pháp Tề ở Ngưỡng sơn, phía đông đất Diệm soạn vào đời Hiếu Vũ đế, nhà Tấn.
- Lập bản luận, chín thiên; Lục thức chỉ qui, mười hai bài. Hai quyển này do sa-môn Thích Đàm Vi ở chùa Thượng Minh, Kinh châu soạn vào đời Hiếu Vũ đế nhà Tấn.
- Mã Minh bồ-tát truyện, Long Thọ bồ-tát truyện, Đề-bồ bồ-tát truyện, Thật tướng luận (pháp sư Cưu-ma-la-thập chú thích). Bốn quyển này do pháp sư Cưu-ma-la-thập, người Thiên Trúc soạn dịch vào đời An đế, Hậu Tần Tấn.
- Bát-nhã Vô tri luận, Bất chân không luận, Vật bất thiên luận, Niết-bàn vô danh luận. Bốn quyển này do sa-môn Thích Tăng Triệu, ở Kinh Triệu soạn vào đời An đế, nhà Tấn.
- Thích bác luận, một quyển, do sa-môn Thích Đạo Thường soạn vào đời An đế, nhà Tấn.
- Thiện bất thụ báo luận, Phật vô Tịnh độ luận, ứng hữu duyên luận, Đốn ngộ thành Phật luận, Phật tính đương hữu luận, Pháp thân vô sắc luận, Nhị đế luận. Bảy quyển này do sa-môn Thích Trúc Đạo Sinh ở chùa Long Quang soạn vào đầu đời Lưu Tống (420-479).
- Tam bảo kí, hai mươi quyển; Tịnh chủ tử, hai
mươi quyển; Tuyên minh nghiệm, ba quyển; Tạp
nghĩa kí, hai mươi quyển. Bốn bộ này gồm có sáu mươi ba quyển, do Tư đồ Cánh Lăng Văn Tuyên vương Tiêu Tử Lương soạn vào đời Tề (479-502).
- Thừa thiên đạt tính luận, Oan hồn chí, hai quyển; Giới sát huấn, một quyển. Ba bộ này do Quang lộc đại phu Nhan Chi Thôi, soạn vào đời Tề.
- Thuật tăng trung thực luận, một quyển, do Thẩm Hưu Văn soạn vào đời Nam Tề.
- Minh tường kí, mười quyển do Vương Diễm soạn vào đời Nam Tề.
- Xuất tam tạng tập kí, mười sáu quyển; Pháp uyển tập, mười lăm quyển; Hoằng minh tập, mười bốn quyển; Thế giới kí, mười quyển; Tát-bà-đa sư tư truyện, năm quyển; Thích-ca phả, bốn quyển; Đại tập đẳng tam kinh kí, Hiền Ngu kinh kí, Tập tam tạng nhân duyên kí, Luật phần ngũ bộ kí, Kinh lai Hán địa tứ bộ kí, Luật phần thập bát bộ kí, Thập tụng luật ngũ bách La-hán kí, Thiện kiến luật Tỳ-bà-sa kí. Mười bốn bộ này gồm có bảy mươi hai quyển, do sa-môn Thích Tăng Hựu ở chùa Kiến An, Dương châu soạn vào đời Lương (502-557).
- Chúng kinh yếu lãm pháp kệ, gồm hai mươi mốt bài, một quyển, sa-môn Thích Đạo Hoan soạn vào đời Lương Vũ đế.
- Khởi tín luận sớ, hai quyển, do pháp sư Chân Đế soạn vào niên hiệu Thái Thanh thứ tư (550) đời Lương.
- Chúng kinh yếu sao nhất bộ tịnh mục lục, mười tám quyển. Bộ này Lương Vũ đế ban chiếu thỉnh sa-môn Thích Tăng Mân v.v... trụ chùa Trang Nghiêm, đến chùa Định Lâm Thượng soạn.
- Hoa lâm Phật điện chúng kinh mục lục, bốn quyển, do Lương Vũ đế ban chiếu thỉnh sa-môn Thích Tăng Triệu soạn ở chùa An Lạc.
- Kinh luật dị tướng và mục lục, năm mươi lăm quyển; Danh tăng truyện tịnh tự mục, ba mươi mốt quyển; Chúng kinh cộng thánh tăng pháp, năm quyển; Chúng kinh mục lục, bốn quyển; Chúng kinh hộ quốc quỉ thần danh lục, ba quyển; Chúng kinh chư Phật danh, ba quyển; Chúng kinh ủng hộ quốc độ chư long danh lục, một quyển; Chúng kinh sám hối diệt tội pháp, ba quyển; Xuất yếu luật nghi, hai mươi quyển. Chín bộ này gồm có 122 quyển, do, Lương Vũ đế ban chiếu thỉnh sa-môn Thích Bảo Xướng v.v..soạn ở chùa Trang Nghiêm.
- Đại bát-niết-bàn kinh tử chủ, bảy mươi quyển, do sa-môn Thích Tuệ Minh soạn ở chùa Kiến An, triều Lương.
- Nghi lâm, tám mươi quyển, do Giản Văn đế, triều Lương ban chiếu thỉnh hai mươi đại đức ở chùa Khai Thiện, như sa-môn Thích Trí Tạng V.V.. soạn.
- Nội điển bác yếu, bốn mươi quyển, do quan Kí thất của Tương Đông vương là Ngô Hiếu Kính soạn, giống với bộ Hoàng lãm loại uyển chi lưu. về sau, ông xuất gia đổi tên là Tuệ Mạng.
- Cao tăng truyện, mười bốn quyển, do sa-môn Thích Tuệ Giảo ở chùa Gia Tường, cối Kê, soạn vào đời Lương.
- Phạt ma chiếu, một quyển, do ngài Tăng Hội soạn vào đời Lương.
- Chuyển pháp luân luận, một trăm tám mươi quyển, do vua ban chiếu mời các đại đức và học sĩ soạn vào triều Lương.
- Bà-la-môn thiên văn, hai mươi quyển, do sa-môn Thích Đạt-ma và pháp sư Lưu-chi, người nước Ma-lặc, dịch vào niên hiệu Thiên Hòa đời Lương Vũ đế.
- Đại phẩm kinh tự chú, năm mươi quyển hoặc một trăm quyển, do Lương Vũ đế chú thích.
- Pháp bảo liên bích, hai trăm quyển. Bộ này, do Giản Văn đế Tiêu Cương, đời Lương, hằng ngày ở cung thái tử, đích thân xem xét, điều động các học sĩ biên soạn. Có chỗ đồng với Hoa lâm biến lược.
- Kinh sư tháp tự kí, hai mươi quyển, do Thượng thư binh bộ lang trung kiêm sử học sĩ Lưu cầu phụng chiếu soạn.
- Thần bất diệt luận, một quyển, do Trịnh Đạo Tử soạn vào triều Lương.
- Bà-tẩu-bàn-đậu truyện, một quyển; Phiên ngoại quốc ngữ, bảy quyển; Chúng kinh thông tự, hai quyển. Ba bộ này gồm mười quyển, do Tam tạng pháp sư Câu-na-la, người nước Ưu-thiền-ni, Tây Thiên Trúc soạn vào đời Trần.
- Lạc Dương địa già-lam kí, năm quyển, do quận thú Kì thành, Nghiệp đô Dương Huyễn Chi soạn vào đời Nguyên Ngụy.
- Ngũ minh luận (Thanh minh luận, Y phương luận, Công xảo luận, Chú thuật luận, Nhân Minh luận). Năm bộ luận này do Tam tạng luật sư Nhương-na-bạt-đà-la và Xà-na-da-xá, người nước Ba-đầu-ma dịch tại cựu thành Trường An, đời Ngụy Minh đế (?-239).
- Chu chúng kinh yếu, hai mươi hai quyển; Nhất bách nhị thập pháp môn. Hai bộ này gồm hai mươi ba quyển, do Thừa tướng nhà Ngụy là Vũ Văn Mặc Thái thỉnh sa-môn Thích Đàm Hiển V.V.. soạn.
- Thích Lão tử hóa hồ truyện, Thập bát điều nan đạo chương. Hai quyển này do sa-môn Thích Tăng Mãnh ở chùa Nguyên Quả, Tân châu soạn vào đời Chu.
- Tán hoa luận, tám quyển, sa môn Thích Tuệ Thiện ở chùa Thê Huyền, Dương châu soạn vào đời Chu.
- Chí đạo luận, Thuần đức luận, Khiển chấp luận, Bất sát luận, Khứ thị phi luận, Tu không luận, Ảnh dụ luận, Pháp giới bảo nhân minh, Yếm thực tưởng văn, Tăng Nhai bồ-tát truyện, Thiều pháp sư truyện, Nghiệm thiện tri thức truyện. Hai mươi quyển này do sa-môn Thích Vong Danh trước tác vào đời Vũ đế nhà Chu.
- Tam bảo tập, mười một quyển, sa-môn Thích Tỉnh Ái căn cứ theo các kinh, soạn vào đời Vũ đế nhà Chu (557-581).
- Tam giáo luận, một quyển, sa-môn Thích Đạo An soạn vào đời Vũ đế nhà Chu.
- Tiếu đạo luận, ba quyển. Đời Chu, Vũ đế sắc lệnh Tiền tư lê Mẫu Cực bá Chân Loan khảo cứu Phật giáo và Đạo giáo mà soạn thành.
- Chu Cao tổ vấn nạn Phật pháp, hai quyển. Nhân có cuộc nghị luận giữa Vũ đế nhà Chu và vị tăng ở Nghiệp đô là Nhâm Đạo Lâm, Vũ đế ban chiếu ghi chép lại mà thành sách này.
- Vương thị phá tà luận, một quyển. Đời Vũ đế nhà Chu, ở Tương châu, sa-môn Vương Minh Quảng đối đáp với Vệ Nguyên Tung về việc phá hoại Phật pháp. Nhân đó có bộ này.
- An dân luận, mười hai quyển; Đào thần luận, mười quyển; Nhân quả luận, hai quyển; Thánh tích kỉ, một quyển. Bốn bộ này gồm có hai mươi lăm quyển, do sa-môn Thích Linh Hựu ở chùa Đại Từ, Tương châu soạn vào đời Tùy.
- Đối căn khởi hạnh tạp lục tập, ba mươi sáu quyển; Tam giai vị biệt lục tập, bốn quyển. Hai bộ này do sa-môn Thích Tín Hạnh ở chùa Chân Tịch Tây kinh soạn vào đầu đời Tùy.
- Chúng kinh mục lục, bảy quyển, do hai mươi đại đức như sa-môn Thích Pháp Kinh ở chùa Đại Hưng Thiện v.v.., phụng chiếu soạn vào niên hiệu Khai Hoàng mười bốn (594), đời Tùy,
- Thập chúng Đại thừa luận, một quyển, sa-môn Thích Tăng Xán ở chùa Đại Hưng Thiện, soạn vào đời Tùy.
- Luận tràng, ba mươi mốt quyển, sa-môn Thích Tăng Côn ở chùa Đại Hưng Thiện soạn vào đời Tùy.
- Phàm thánh lục hạnh pháp, hai mươi quyển, (cũng có bản mười quyển, bảy quyển, năm quyển, ba quyển, một quyển; gồm bốn mươi sáu quyển), do sa-môn Thích Đạo Chính ở Thương châu soạn vào Tùy soạn.
- Đạt-ma cắp-đa truyện, bốn quyển; Thông cực luận, một quyển; Biện giáo luận, một quyển; Biện chính luận, một quyển; Thông học luận, một quyển; Thiện tài đồng tử chư tri thức lục, một quyển; Tân dịch kinh tự, Phúc điền luận, một quyển; Tăng quan luận, một quyển; Tây Vức huyền chí, mười quyển. Mười bộ này gồm hai mươi hai quyển, do sa-môn Thích Ngạn Tông ở chùa Nhật Nghiêm soạn vào Tùy.
- Thuật Thích Đạo An Trí độ luận giải, hai mươi bốn quyển; Tồn phế luận, một quyển; Thương học luận, một quyển; Yểm tu luận, một quyển. Bốn bộ này gồm hai mươi bảy quyển, do sa-môn Thích Tuệ Ảnh ở chùa Xá Vệ, Trường An soạn vào Tùy.
- Tinh dị truyện, hai mươi quyển, do tú tài Nho lâm lang Hầu Quân Tố ở Tương châu, đời Tùy, phụng chiếu của Văn hoàng đế mà biên soạn.
- Thông mạng luận, hai quyển, do Tế tửu Từ Đồng Khanh ở Tấn vương phủ, nhà Tùy soạn.
- Ngoại nội bàng thông tỉ giảo số pháp, một quyển, do phiên kinh học sĩ Lưu Bằng ở Kinh Dương soạn vào Tùy.
- Khai hoàng tam bảo lục, mười lăm quyển, do phiên kinh học sĩ ở Thành Đô Phí Trường Phòng soạn vào Tùy.
- Chúng kinh pháp thức, mười quyển, do Văn đế sắc lệnh hữu ti soạn vào niên hiệu Khai Hoàng mười lăm (595), nhà Tùy.
- Phiên kinh pháp thức luận, mười quyển; Chư tự bi minh, ba quyển. Hai bộ này gồm mười ba quyển, do sa-môn Thích Minh Tắc soạn vào Tùy.
- Tự nội pháp, một quyển; Nội huấn, một quyển. Hai quyển này do sa-môn Thích Hành Cự soạn vào Hậu Tùy soạn.
- Hương thành cam lộ, năm trăm quyển, do sa-môn Thích Trí Quả và Hữu ti phụng chiếu soạn ở đạo tràng Tuệ Nhật, đời Hậu Tùy.
- Tam đức luận, một quyển; Nhập đạo phương tiện môn, hai quyển; Cảnh dụ luận, một quyển; Vô ngại duyên khởi, một quyển; Thập chủng đọc kinh nghi, một quyển; Vô tận tạng nghi, một quyển; Phát giới duyên khởi, hai quyển; Pháp giới đồ, một quyển; Thập bất thoái luận, một quyển; Lễ Phật nghi thức, một quyển. Mười bộ này gồm mười hai quyển, do sa-môn Thích Huyền Uyển ở chùa Diên Hưng, Tây Kinh soạn vào Đại Đường.
- Phả tà luận, một quyển; Biện chính luận, tám quyển. Hai bộ này do sa-môn Thích Pháp Lâm ở chùa Long Điền, núi Chung Nam soạn vào Đường.
- Tích nghi luận một quyển, Tục thi uyển anh hoa, mười quyển; Chủ Kim cang Bảt-nhã kinh một quyển, Chư kinh giảng tự một quyển. Bốn bộ này gôm mười ba quyển, do sa-môn Thích Tuệ Tịnh ở chùa Kỉ Quốc, Tây kinh soạn vào Đường.
- Nội đức luận, một quyển, do Môn hạ điển nghi Lý Sư Chính soạn vào Đường.
2 Biện lượng tam giáo luận, ba quyển; Thiền quản tứ thuyên luận, mười quyển. Hai bộ này gồm mười ba quyển, do sa-môn Thích Pháp Vân, ở chùa Tây Minh, kinh đô soạn vào Đường.
- Chú tăng ni giới bản hai quyển, Sớ kí bốn quyển; Chú yết-ma hai quyển, Sớ kí bốn quyển; Hành sự san bổ luật nghi, ba quyển; Thích môn chỉnh hạnh sám hối nghi, ba quyển; Thích môn vong vật khinh trọng nghi một quyển, Thích môn chương phục nghi, một quyển; Thích môn qui kính nghi, một quyển; Thích môn hộ pháp nghi, một quyển; Thích thị phả lược, một quyển; Thánh tích kiến tại đồ tán, một quyển; Phật hỏa đông tiệm đồ tán, hai quyển; Thích-ca phương chi, hai quyển; cổ kim Phật Đạo luận hành, bốn quyển; Đại Đường nội điển lục, mười quyển; Tục cao tăng truyện, ba mươi quyển; Hậu tập tục Cao tăng truyện, mười quyển; Quảng Hoằng minh tập, ba mươi quyển; Đông Hạ Tam bảo cảm thông kí, ba quyển; Tây Minh tự lục một quyển, Cảm thông kí một quyển, Kì-hoàn đồ, hai quyển; Di pháp trụ trì cảm ứng, bảy quyển. Hai mươi hai bộ này gồm một trăm mười bảy quyển, do sa-môn Thích Đạo Tuyên ở chùa Tây Minh soạn vào Đường.
- Thiền lâm sao kí, ba mươi quyển, do mười vị như sa-môn Hội Ẩn ở chùa Hoằng Phúc, tại Tây Kinh, sa-môn Huyền Tắc ở chùa Tây Minh v.v... phụng chiếu biên soạn vào niên hiệu Lân Đức thứ hai (665), đời Đường, tại Tu thư sở ở Tây Lũng môn, Bắc môn.
- Chú Kim cang Bát-nhã Xá-vệ quốc, hai quyển, do sa-môn Huyền Tắc ở chùa Tây Minh chú thích, vào niên hiệu Lân Đức thứ hai (665), đời Đường.
- Đại Đường Tây Vực truyện, mười hai quyển, do sa-môn Huyền Trang ở chùa Đại Từ Ân, Tây kinh, đời Đường, phụng chiếu biên soạn.
- Pháp uyển châu lâm, một trăm quyển; Chư kinh yếu tập, hai mươi quyển; Đại Tiểu thừa thiền môn quán, mười quyển; Thụ giới nghi thức, bốn quyển; Lễ Phật nghi thức, hai quyển; Đại thừa lược chỉ quán một quyển, Biện ngụy hiển chân luận một quyển, Kính phúc luận, ba quyển; Tứ phần luật thảo yếu, năm quyển; Tứ phần luật ni sao, năm quyển; Kim cang Bát-nhã tập chủ, ba quyển. Ba mươi mốt bộ này gồm một trăm năm mươi bốn quyển, do sa-môn Thích Đạo Thế, pháp tự Huyền uẩn, ở chùa Tây Minh, Tây kinh soạn vào Đường.
- Đại Đường chúng kinh âm nghi, hai mươi quyển. Bộ này do sa-môn Thích Huyên Ưng ở chùa Đại Từ Ân, Tây kinh soạn vào Đường.
- Chú Tân phiên Năng đoạn Kim cang Bát-nhã, một quyển; Chú nhị đế tam tạng thánh giáo tự, một quyển. Hai quyển này do sa-môn Thích Huyền Phạm ở chùa Phổ Quang, Tây kinh soạn vào Đường.
- Tây kinh tự kí, hai mươi quyển; Sa-môn Pháp Lâm biệt truyện, ba quyển; Sa-môn bất kính lục, sáu quyển. Ba bộ này gồm hai mươi chín quyển, do sa-môn Thích Ngạn Tông, ở chùa Hoàng Phúc, Tây kinh soạn vào Đường.
- Chú Bát-nhã tâm kinh, một quyển, do Vũ Thị Cực, tự Mẫn Chi soạn vào đời Đường.
- Chú Niết-bàn kinh, bốn mươi quyển, do Thích sử Lý Huyền Chấn (em của Anh công) ở Biện châu, đời Đường chú thích.
- Trung Thiên Trúc hành kí, mười quyển, do Triều tán đại phu Vương Huyền Sách soạn vào Đường.
- Tây Vực chỉ, sáu mươi quyển; Đồ họa, bốn mươi quyển. Hai bộ này gồm một trăm quyển, do các quan phụng chiếu soạn vào niên hiệu Lân Đức thứ ba (666), đời Đường.
- Minh báo kí, hai quyển, do Nội sử bộ thượng thư Đường Lâm soạn vào niên hiệu Vĩnh Huy (650-656), đời Đường.
- Minh bảo thập di, hai quyển, do Trung sơn lang Dư Lệnh, tự Nguyên Hưu, soạn vào khoảng niên hiệu Long Sóc (661-664), đời Đường.
- Lục đạo luận, mười quyển, do tả vệ Trưởng sử và học sĩ Hoàng Văn quán Dương Thượng Thiện soạn.
- Hiển thường luận, hai quyển, do Lý Huyền Kí soạn vào đời Đường.
- Biện chân luận, một quyển, do Nguyên Vạn Khoảnh soạn vào đời Đường.
- Qui tâm lục, ba mươi quyển, do Hữu uy vệ Lục sự Tiêu Tuyên Từ soạn vào đời Đường
100.4. BÁT-NHÃ BỘ
Bản kinh Đại Bát-nhã tiếng Phạn gồm có hai mươi vạn bài tụng, dịch thành sáu trăm quyển, tổng cộng mười sáu hội, được Đức Phật thuyết tại bốn nơi. Pháp sư Huyền Trang ở chùa Từ Ân dịch.
- Hội thứ nhất, Đức Phật thuyết tại núi Linh Thứu, thành Vương Xá. Bản Phạn có mười ba vạn hai nghìn sáu trăm bài tụng, được dịch thành bốn trăm quyển, bảy mươi chín phẩm (một bản dịch).
- Hội thứ hai, Đức Phật thuyết tại núi Linh Thứu, thành Vương Xá. Bản Phạn có hai vạn năm ngàn bài tụng, dịch ra bảy mươi tám quyển, tám mươi lăm phẩm (nhiều bản dịch), tương đương với ba bản kinh Đại phẩm, Phóng quang, Quang tán, tổng cộng có tám mươi quyển, dịch thành bảy mươi tám quyển, đồng với bản tiếng Phạn.
- Hội thứ ba, Đức Phật thuyết ở núi Linh Thứu, thành Vương Xá. Bản tiếng Phạn có một vạn tám nghìn bài tụng, dịch thành năm mươi chín quyển, ba mươi mốt phẩm (một bản dịch).
- Hội thứ tư, Đức Phật thuyết tại núi Linh Thứu, thành Vương Xá. Bản tiếng Phạn gồm có tám nghìn bài tụng, dịch thành mười tám quyển, hai mươi chín phẩm (nhiều bản dịch), tương đương với bốn bản kinh Tiểu phẩm, Đạo hạnh, Tân đạo hạnh, Minh độ, nay dịch thành mười tám quyển, đồng với bản tiếng Phạn.
- Hội thứ năm, Đức Phật thuyết ở núi Linh Thứu, thành Vương Xá. Bản tiếng Phạn có bốn nghìn bài tụng, được dịch thành mười quyển, hai mươi bốn phẩm (một bản dịch).
- Hội thứ sáu, Đức Phật thuyết ở núi Linh Thứu, thành Vương Xá. Bản tiếng Phạn có hai nghìn năm trăm bài tụng, dịch thành tám quyển mười bảy phẩm (nhiều bản dịch), tương đương với kinh Thắng thiên vương Bát-nhã.
- Hội thứ bảy, Phật thuyết ở vườn cấp Cô Độc, rừng Thệ-đa, thành Thất-la-phiệt. Bản tiếng Phạn có tám trăm bài tụng, dịch thành hai quyển, không phân phẩm (nhiều bản dịch), tương đương với kinh Văn-thù Bát-nhã.
- Hội thứ tám, Phật thuyết ở vườn cấp Cô Độc, rừng Thệ-đa, tại thành Thất-la-phiệt. Bản bằng tiếng Phạn có bốn trăm bài tụng, được dịch thành một quyển, không phân phẩm (một bản dịch).
- Hội thứ chín, Phật thuyết ở vườn cấp Cô Độc, rừng Thệ-đa, thành Thất-la-phiệt. Bản tiếng Phạn gồm có ba trăm bài tụng, dịch thành một quyển, không phân phẩm (nhiều bàn dịch), tương đương với kinh Kim cang Bát-nhã.
- Hội thứ mười, Phật thuyết tại điện Ma-ni Bảo Tạng, ở cung Thiên vương, trên trời Tha Hóa Tự Tại. Bản tiếng Phạn gồm có ba trăm bài tụng, dịch thành một quyển, không phân phẩm (một bản dịch).
- Hội mười một, Đức Phật thuyết về Thí Ba-la-mật-đa, ở vườn Cấp Cô Cộc, rừng Thệ-đa, tại thành Thất-la-phiệt. Bản tiếng Phạn gồm hai nghìn bài tụng, dịch thành năm quyển, không phân phẩm (một bản dịch).
- Hội mười hai, Đức Phật thuyết về Giới Ba-la-mật-đa, ở vườn Cấp Cô Độc, rừng Thệ-đa, thành Thất-la-phiệt. Bản tiếng Phạn gồm hai nghìn bài tụng, dịch thành năm quyển, không phân phẩm (một bản dịch).
- Hội mười ba, Đức Phật thuyết về Nhẫn Ba-la-mật-đa, ở vườn cấp Cô Độc, rừng Thệ-đa, thành Thất-la-phiệt. Bản tiếng Phạn gồm bốn trăm bài tụng, dịch thành một quyển, không phân phẩm (một bản dịch).
- Hội mười bốn, Đức Phật thuyết về cần Ba-la-mật-đa, ở vườn cấp Cô Độc, rừng Thệ-đa, thành Thất-la-phiệt. Bản tiếng Phạn gồm tám trăm bài tụng, dịch thành hai quyển, không phân phẩm (một bản dịch).
- Hội mười lăm, Đức Phật thuyết về Định Ba-la-mật-đa, ở vườn cấp Cô Độc, rừng Thệ-đa, thành Thất-la-phiệt. Bản tiếng Phạn gồm tám trăm bài tụng, dịch thành hai quyển, không phân phẩm (một bản dịch).
- Hội mười sáu, Đức Phật thuyết về Tuệ Ba-la-mật-đa, ở bên ao Bạch Lô, vườn Trúc Lâm, thành Vương Xá. Bản tiếng Phạn gồm có hai nghìn năm trăm bài tụng, dịch thành tám quyển, không phân phẩm (một bản dịch).
Bài tựa của mười sáu hội này do sa-môn Huyền Tắc ở chùa Tây Minh, Trường An soạn.
100.5. CÁC ĐẾ VƯƠNG TẠO PHÚC
Từ khi được truyền sang Trung Quốc, Phật giáo đã khai phát và cứu giúp rất nhiều người, nào là ngộ đạo, hoặc thông kinh, hoặc dứt sạch phiền não. Trong đó những điềm lành ứng hiện đều đã chép đủ ở phần trước, nay chỉ thuật lại vài điều để giải nghi cho người đời sau.
Thuở xưa, Chu Sĩ Hành tìm cầu Phật pháp, chỉ để tâm đến Đại thừa. Khi sắp ra khỏi Tây Vực thì gặp nạn, bèn ném kinh vào lửa để chứng nghiệm, nhưng kinh không cháy mà lửa lại tắt. Nhờ vậy, kinh được truyền đến Trung Quốc, đó là bộ kinh Phóng quang. Sau đó lại có ngài Đàm-vô-sấm thỉnh được bộ kinh Niêt-bàn vê đến đất Lương. Đêm nọ có tên trộm lén đến lấy, nhưng không thể nhấc lên, bèn dập đầu tạ tội. Chu Vũ đế hủy diệt Phật pháp, phá tượng đốt kinh, mọi người đều thấy kinh tạng nối theo nhau bay lên cao, rồi bỗng nhiên biến mất trong hư không. Những điều linh nghiệm như thế rất nhiều, không thể chép hết. Nhưng giáo pháp được truyền bá là nhờ vào con người, đồng thời lấy quốc gia làm gốc để độ người, lập chùa, tạc tượng, dịch kinh. Tất cả đều căn cứ vào tướng trạng để truy tìm. Vì thế ở đây trình bày việc xương minh Phật giáo từ trước đến nay. Nhưng từ đời Hán Ngụy trở về trước không có gì đáng kể. Còn từ đời Tấn, Tống đến nay thì xin được trình bày tuần tự như sau:
100.5.1. Đời Tây Tấn
- Tấn Thế tổ Vũ hoàng đế (236-290) dốc lòng làm Phật sự, xây dựng nhiều ngôi chùa.
- Tấn Tuệ đế (259-306) xây dựng chùa Hưng Phúc ở Lạc Dương, thường thỉnh hàng trăm vị tăng để cúng dường.
- Tấn Mần đế (trị vì 313-316) xây dựng chùa Thông Linh và chùa Bạch Mã ở Trường An.
Đời Tây Tấn (265-316) xây được một trăm tám mươi ngôi chùa ở hai kinh, có mười ba dịch giả, dịch được bảy mươi ba bộ kinh, toàn quốc có ba ngàn bảy trăm tăng ni.
100.5.2. Đời Đông Tấn
- Tấn Trung tông Nguyên đế (276-321) xây chùa Ngõa Quan và chùa Long Cung ở Giang Tả, độ ngàn vị tăng ở Đan Dương.
- Tấn Túc tông Minh đế (tại vị 223-325) xây chùa Hưng Hoàng và chùa Đạo Tràng, tập hợp trăm vị tăng nghĩa học.
- Tấn Hiển tông Thành đế (tại vị 326-342) xây chùa Trung Hưng và chùa Lộc Dã, tập hợp nghìn vị tăng nghĩa học.
- Tấn Thái tông Giản văn đế (tại vị 371-372) tạc tượng Phật, độ tăng, lập chùa, xây tháp bằng gỗ quí ở chùa Trường Can.
- Tấn Liệt tông Vũ đế (tại vị 373-396) xây chùa Hoàng Thái và chùa Bản Khởi.
- Tấn An đế (tại vị 397-418) xây chùa Đại Thạch ở cạnh tháp vua A-dục.
Tổng cộng đời Đông Tấn trị vì một trăm linh bốn năm (317- 420), xây dựng được một ngàn bảy trăm sáu mươi tám ngôi chùa, có hai mươi bảy dịch giả, dịch được hai trăm sáu mươi ba bộ kinh. Toàn quốc có hai vạn bốn nghìn tăng ni.
100.5.3. Đời Lưu Tống
- Tống Cao tổ Vũ đế (tại vị 420-422), tụng kinh, chép giới, xây bốn ngôi chùa: chùa Linh Căn, chùa Pháp Vương v.v... thường thỉnh nghìn vị tăng để cúng dường.
- Tống Thái tổ Văn đế (tại vị 424-453) giữ giới không sát sinh, xây chùa Thiền Linh, thường thỉnh nghìn vị tăng để cúng dường.
- Tống Thái tông Minh đế (tại vị 465-472) tạc tượng Phật bằng vàng ròng cao tám trượng. Khi giải trai, cảm được xá-lợi Phật, xây chùa Hoằng Phổ Trung, ban chiếu thỉnh các vị danh tăng.
Tổng cộng, đời Tống (420-479) đã xây dựng được một nghìn chín trăm mười ba ngôi chùa, dịch được hai trăm mười bộ kinh, có ba vạn sáu nghìn tăng ni.
100.5.4. Đời Bắc Tề
- Tề Thái tổ Cao đế (tại vị 479-482), chép kinh Pháp Hoa, tụng kinh Bát-nhã, vào mồng tám tháng tư hằng năm thường đúc tượng Phật bằng vàng; vào rằm tháng bảy, thường tổ chức hội Vu-lan-bồn ở các chùa, thỉnh ba trăm vị tăng đến cúng dường, xây chùa Trắc Dĩ và chùa Chỉ Quán.
- Tề Thế tổ Vũ đế (tại vị 483-493) xây hai ngôi chùa là Chiêu Huyền và Du Hiền, thỉnh ba trăm danh tăng, cứ bốn năm một lần san định phép tắc Tam giáo.
- Tề Cao tông Minh đế (tại vị 494-498) chép rất nhiều kinh, tạo ngàn tượng Phật, thường tụng Bát-nhã siêng trì kinh Pháp Hoa, lập chùa Qui Y, thỉnh các thiền tăng an trụ. Mỗi tháng vua giữ sáu ngày trai giới.
Tổng cộng đời Bắc Tề (479-502) có hai nghìn không trăm mười lăm ngôi chùa, dịch được bảy mươi hai bộ kinh, có ba vạn hai nghìn năm trăm tăng ni.
100.5.5. Đời Lương
- Lương Cao tổ Vũ đế (tại vị 502- 549) viết luận Ngũ thời, Chuyển Tứ phương đẳng, lập chùa Quang Trạch và chùa Thái Ngũ, thường thỉnh nghìn vị tăng đến để cúng dường, khuyến khích người trong cung giữ sáu ngày trai và trì tám giới.
2 - Lương Thái tông Giản văn đế (tại vị 550-551) xây chùa Từ Kính và chùa Báo Ân, trích máu chép mười bộ Bát-nhã, phát nguyện giữ trai trọn ngày không ăn, soạn Tập kí hơn hai trăm quyển, Pháp bảo liên bích hơn hai trăm quyển.
- Lương Trung tông Nguyên đế (tại vị 552-554) xây hai ngôi chùa là Thiên Cung và Thiên Cơ, thường thỉnh nghìn vị tăng đến để cúng dường, giảng kinh Pháp hoa và luận Thành thật.
Tổng cộng đời Lương (502-557) toàn cõi nước có hai nghìn tám trăm bốn mươi sáu ngôi chùa, dịch được hai trăm bốn mươi tám bộ kinh, có tám vạn hai nghìn bảy trăm tăng ni.
- Lương Tuyên đế và Lương Minh đế là hai vi vua có công phục hưng đất nước, lập nhiều chùa ở Kinh châu như chùa Thiên Hoàng, chùa Trắc Dĩ, chùa Đại Minh v.v.., trùng tu một trăm tám mươi ngôi chùa ở Giang Lăng, có ba nghìn hai trăm tăng ni.
100.5.6. Đời Trần
- Trần Cao tổ Vũ đế (tại vị 557-559) xây dựng bốn ngôi chùa như Đông An, Hưng Thánh, Thiên Cử v.v... ở Dương Đô, chép mười hai tạng kinh, tạc một trăm vạn pho tượng bằng đồng pha vàng, cho phép độ bảy nghìn vị tăng, trùng tu ba mươi hai ngôi chùa cũ.
- Trần Thế tổ Văn đế (tại vị 560-566) chép năm mươi tạng kinh, độ hai nghìn tăng ni, trùng tu sáu mươi ngôi chùa.
- Trần Cao tông Tuyên đế (tại vị 569-583) lập chùa Thái Hoàng và ngôi tháp gỗ cao bảy tầng trong cung tại Dương Đô, lại xây dựng chùa Thái Hoàng cao mười lăm trượng, an trí xá-lợi móng tay, móng chân Phật, tạo hơn hai vạn pho tượng Phật bằng vàng ròng, trùng tu năm mươi ngôi chùa cũ, sửa chữa một trăm ba mươi vạn pho tượng Phật cũ, chép mười hai tạng kinh, cho độ một vạn tăng ni.
Như vậy, năm vị vua đời Trần trị vì được bốn mươi năm (557-589), toàn quốc có một nghìn hai trăm ba mươi hai ngôi chùa, tạo thêm một nghìn bảy trăm ngôi chùa mới của quốc gia, các vị quan xây được sáu mươi tám ngôi chùa, có hơn ba trăm ngôi chùa lớn được xây ở kinh đô, có ba vạn hai nghìn tăng ni, dịch được mười bộ kinh.
Hưng Địa đồ ghi: “Thời Lương Vũ đế, tại kinh đô có hơn bảy trăm ngôi chùa. Nhưng gặp lúc Hầu Cảnh làm loạn, đã đốt cháy hết. Đến đời Trần, tất cả những ngôi chùa trên đều được vua quan và nhân dân cả nước tu bổ. Bấy giờ chùa tháp xây dựng khắp nơi, kinh điển và tượng Phật nhiều vô số, không thể kể hết.
100.5.7. Đời Nguyên Ngụy
- Ngụy Thái tổ Đạo Vu hoàng đế (371-409) xây dựng ngôi tháp mười lăm tầng ở đất Lỗ, lập hai ngôi chùa là Khai Thái và Định Quốc, cho chép kinh tạng, tạo một nghìn tượng Phật bằng vàng, thỉnh được ba trăm danh tăng, mỗi tháng tổ chức một ngày thuyết giảng Phật pháp.
- Ngụy Cao tông Văn Thành đế (440-465) tiếp nối xiển dương Phật giáo, mở rộng tông phong, cho độ ba vạn tăng ni.
- Ngụy Hiển tổ Hiến Văn đế (454-476) lập chùa Tây Ân, triệu thỉnh nhiều thiền tăng.
- Ngụy Cao tổ Hiếu Văn đế (467-499) lập chùa An Dưỡng tại đất Nghiệp, triệu thỉnh danh tăng khắp cả nước, khuyến khích thị nữ trong cung trì sáu ngày trai mỗi tháng và ba tháng trường trai mỗi năm, hằng tháng đều có tạc tượng Phật, cho phép độ người xuất gia. Vua luôn cầm kinh sách, lúc thuận tiện liền đọc, vì tiên hoàng mà tổ chức hội bố thí lớn tại chùa Đại Giác, cho phép một vạn bốn nghìn tăng ni xuất gia.
-Ngụy Thế tông Tuyên Vũ đế (tại vị 500-515) giảng kinh Duy-ma tại điện Thức Càn, xây dựng bốn ngôi chùa như chùa Phổ Thông, chùa Đại Định v.v.., thường thỉnh nghìn vị tăng đến để cúng dường.
-Ngụy Túc tông Hiếu Minh đế (tại vị 516-528) xây dựng chùa Đại Giác ở đất Nghiệp.
- Ngụy Kính tông Hiếu Trang đế (528-530) xây dựng năm ngôi tinh xá, tạc một vạn tượng Phật bằng đá.
- Tây Ngụy Vũ đế xây chùa Trắc Dĩ tại Trường An, thường thỉnh hai trăm vị tăng đến để cúng dường.
- Ngụy Văn đế (535-551) xây chùa Bát-Nhã, thường cứu giúp người nghèo, thường tụng kinh Pháp Hoa và chuyên tâm trì giới.
Đời Nguyên Ngụy có mười bảy vị vua, trị vì một trăm bảy mươi năm (386-556). Các vua xây dựng bốn mươi bảy ngôi chùa lớn. Tại Thường An, Bắc Đài, triều đình cho đục núi làm khám thờ tôn tượng, nối tiếp ba mươi dặm về phía đông. Các vương công xây được tám trăm ba mươi chín ngôi chùa, bách tính xây được hơn ba vạn ngôi chùa. Vua cho độ hơn hai trăm vạn tăng ni, dịch được bốn mươi chín bộ kinh. Phât giáo truyền sang Đông độ từ đây thực sự vô cùng hưng thịnh. Chỉ có Thái Vũ đế đã lầm tin theo sự dua nịnh của Tư đồ Thôi Hạo phế bỏ Phật giáo, nên Phật giáo đã suy vong bảy năm. Sau đó, vua biết âm mưu của Thôi Hạo bèn cho người giết chết, Phật giáo trở lại hưng thịnh như trước.
100.5.8. Đời Bắc Tề
- Tề Cao tổ Văn Tuyên hoàng đế (trị vì 550-560) vừa lên ngôi liền xin thụ giới bồ-tát ở thiền sư Tăng Minh Trù. Vua ban chiếu khắp kinh đô không ai được uống rượu, săn bắn, giăng lưới. Lại cấm mọi người trong toàn quốc làm đồ tể, khuyến khích muôn dân giữ trai giới sáu ngày mỗi tháng, ba tháng trai mỗi năm; những loại rau có mùi vị cay nồng cũng không được ăn. Ông cũng cho độ được tám nghìn tăng ni.
- Tề Túc tông Hiếu Minh đế đế (trị vì 560-561) đã vì tiên hoàng mà chép được mười hai tạng kinh, gồm ba vạn tám nghìn bốn mươi bảy quyển, cho độ ba nghìn tăng ni.
- Tề Thế tổ Vũ Thành đế (trị vì 561-565) xây bảo tháp, chuyên trì tụng kinh Đại phẩm Bát-nhã.
Như vậy, nhà Tề có sáu vị vua, trì vì hai mươi tám năm (550-577), xây dựng được bốn mươi ba ngôi chùa, dịch được mười bốn bộ kinh, tiếp nối nhà Ngụy cho phép độ tăng ni.
100.5.9. Đời Bắc Chu
- Chu Hiếu Minh đế (trị vì 558-561) và các cận thần đã vì tiên hoàng tạc được mười hai tượng Phật bằng gỗ chiên-đàn cao hai trượng sáu thước.
- Chu Thái tổ Văn đế (trị vì 561-579) xây dựng được sáu ngôi chùa tại thành Trường An, như chùa Truy Viễn, chùa Trác Hỗ, chùa Đại Thừa v.v... Ngoài ra vua còn xây được năm ngôi chùa khác, độ một nghìn tăng ni, thường cúng dường thiền sư Thật.
- Chu Hiếu Tuyên đế (trị vì 579) trung hưng Phật giáo, tạc bốn khám thờ với hơn một vạn tượng Phật màu trắng, chép được ba nghìn quyển kinh Bát-nhã, chuyên tâm trì giới Bát quan trai.
Như vậy, nhà Chu họ Vũ Văn trải qua năm đời vua, trị vì hai mươi lăm năm (557-581), xây dựng chín trăm ba mươi mốt ngôi chùa, dịch được mười sáu bộ kinh. Hoàng đế Hiếu Mần gây dựng cơ nghiệp, trị vì không lâu, lại không hiểu sâu Phật pháp, Cao tổ Thân Vũ hoàng đế lại không tin Tam bảo, nên bị quả báo hiện đời gặp tai họa lớn.
100.5.10. Đời Tùy
- Cao tổ Văn hoàng đế (trị vì 581-604), vào niên hiệu Khai Hoàng thứ ba (583), đã cho trùng tu tất cả những ngôi chùa bị tàn phá vào đời Chu. Ở mỗi danh sơn, vua cho dựng lập một ngôi chùa, xây tháp thờ xá-lợi Phật tại hơn một trăm châu, cho độ hơn hai mươi ba vạn tăng ni, xây được ba nghin bảy trăm chín mươi hai ngôi chùa, chép bốn mươi sáu tạng kinh, gồm mười ba vạn hai nghìn tám mươi sáu quyển. Vua còn cho tu bổ ba nghìn tám trăm năm mươi ba bộ kinh cũ, tạc mười vạn sáu nghìn năm trăm tám mươi tượng Phật và rất nhiều tượng khác, không thể biết hết.
- Tùy Dạng đế (trị vì 604-617) đã vì Hiến hoàng hậu của Hiếu Văn hoàng đế mà cho xây dựng hai Thiền Định Đạo tràng, hai ngôi tháp gỗ và mười ngôi chùa tại thành Trường An; cúng dường tứ sự mười năm; lại tu bổ sáu trăm mười hai tạng kinh cũ, gồm hai vạn chín nghìn một trăm bảy mươi hai bộ; sửa chữa được mười vạn một nghìn tượng Phật cũ, tạc ba nghìn tám trăm năm mươi tượng Phật mới, cho độ sáu nghìn hai trăm tăng ni.
Như vậy, đời Tùy có hai vị vua, trị vì ba mươi tám năm (581-618), xây dựng được ba nghìn chín trăm tám mươi lăm ngôi chùa, độ hai mươi ba vạn sáu nghìn hai trăm tăng ni, dịch được tám mươi hai bộ kinh.
100.5.11. Đời Đường
100.5.11.1 Đường Cao tổ Thái Vũ hoàng đế: Nối tiếp Nghiêu cư ở đất Tấn, học theo Vũ dựng lập nhà Chu; mây nổi rồng bay, bậc hiền tài thuận thế, thống nhất một mối để hưng vận nước, nhờ nhóm chư hầu mà được đồng lòng; xuất phát từ Tham Hư mà bình định chốn kinh kì; phép tắc an dân được ban bố, luật pháp quốc gia được mở bày, qui tụ bốn phương, đức trùm khắp chốn. Kỷ cương đã khôi phục, giềng mối được lập bày, từ đông sang tây, từ xa đến gần đều an định. Từ khi cờ nghĩa vừa dựng, nhân đi ngang qua núi Hoa Âm, vọng bái linh đàn để cầu phúc, vua bèn xây dựng tại đây một ngôi già-lam bên cạnh đền thần, đặt tên là chùa Linh Tiên. Kiến trúc ngôi chùa tuyệt đẹp như thần thánh kiến tạo, vàng ngọc ánh chiếu, nét chạm trổ rực rỡ tinh vi; thấy hết non cao, nghiêng xem lầu gác, điện đường chót vót, đối diện Liên Phong.
Vua dốc lòng tạc tượng chép kinh, làm nhiều việc phúc, xây chùa Hội Xương, chùa Thắng Nghiệp, chùa Từ Bi, chùa Chứng Quả và chùa Tập Tiên Ni ngay tại kinh đô. Ngoài ra vua còn xả bỏ nơi ở của mình để xây chùa Hưng Thánh. Tại Tinh châu, vua cho xây dựng chùa Nghĩa Hưng, với điện đường tráng lệ, tôn tượng điêu khắc tinh xảo.
Niên hiệu Vũ Đức thứ nhất (618), vua cho kiến lập đạo tràng ở con đường lớn phía nam Chu Tước môn, lập hội Vô già. Pháp lữ đến tham dự đông đúc như hội Linh Thứu mới khai; khách quí tấp nập tợ Hạc Lâm vừa tụ. Ngựa xe chật ních, nam nữ đầy dẫy. Tất cả đều tranh nhau đến đàn tràng như đi dự yến tiệc. Vua còn vì Thái tổ Nguyên hoàng đế và Nguyên Trinh hoàng hậu tạc ba pho tượng Phật bằng gỗ chiên-đàn, họa dung nghi của vua, mô phỏng linh tướng của Phật. Nét khắc chạm không thua kém tượng của Ưu-điền, vẻ rực rỡ của vàng bạc không thẹn sánh với tượng của Ba-tư-nặc.
Vào tháng hai năm này, vua ban chiếu thỉnh bốn mươi chín vị sa-môn vào cung hành đạo, khiến Phạm âm ở thiên cung lại vang rền nơi nội điện; bí điển của Vương thành một lần nữa được lưu bố khắp hoàng cung. Từ đó về sau, lòng sùng tín Phật pháp của vua mãi trường tồn.
100.5.11.2. Đường Thái tông Văn hoàng đế: Vua đã thụ nhận khí chất của Thái dịch, Thái sơ, thừa hưởng uy linh của Thiên hoàng Thiên đế, như u Phòng đặt nền móng cho Cao Dương, giống Dao Khư định cơ nghiệp cho Trùng Hoa.
Lúc vua chào đời, ánh hồng soi khắp chốn, khí tía xông ngút trời, thân như long nhan phụng ức tướng hiện nhật giác nguyệt huyền, mắt dài miệng rộng khác thường, thân thể trên to dưới nhỏ kì đặc. Ôg thông minh hiểu rộng, thấu lẽ huyền vi, biết rõ những điều chưa đến, nhớ kĩ những việc đã qua, thâm nhập chỗ sâu xa, tường tận cả lí tính. Đó là bản tính trời ban, tự nhiên như vậy, lại thêm có đức tiềm sơ, kinh luân thiên hạ.
Gặp lúc nhà Tùy biến loạn, đất nước chia cắt, lửa cháy núi Côn, nước dâng biển lớn, tất cả đều có điềm tranh đoạt, chỉ bày cách cướp ngôi, ủng hộ bọn đệ tử vô lại. Từ biến loạn Hoàng Hà đến nay long xà đều chết. Trên mảnh đất Trung nguyên, đá ngọc đều cháy sạch, khiến cho khắp cả đất trời đều có tiếng oán thán cầu sống, kinh đô biên địa đầy dẫy người giãi bày nỗi bi ai.
Hoàng đế ta là con của tiên vưomg, phải gánh vác di mệnh của tiên hoàng, nhận lãnh đế vị, thống lãnh lục quân, khiến cho kẻ địch như ngói nát băng tan, gió tuôn cỏ rạp. Khi muôn quân ca khúc khải hoàn, đế nạp tù binh và chiến lợi phẩm mà không nói đến công lao.
Thế là sương mù đã tan, bầu trời trong xanh trở lại, thiên hạ thái bình thống nhất. Cao tổ lắng tâm dưỡng tính, luôn nghĩ đến cảnh xuất trần, dõi mắt khắp yên hà xã tắc. Nhưng vốn vì muôn dân bị tai ương, trăm thần không nơi tế tự, nên học theo hạnh cao vời của Cao Dương, cứu vớt đất nước đang chìm đắm, lê dân đang mong đức tái tạo, bách tính nhờ ân tạc thành. Tuy vậy, đế chẳng vướng bận vào vương vị chỉ luồn nghĩ đến muôn dân; ý niệm buông xả chẳng bao giờ quên, chí hướng xuất trần dần dần hiện rõ.
Đế mừng vì trách nhiệm tế đất trời đã có chỗ giao phó, vui vì tông miếu đã có người trông nom. Vì thế, đế sai chọn ngày giờ đại cát truyền ngôi tại Thiêu Dương. Từ khi nhận nhiệm vụ giám quốc, phụ tá Đông cung, Thái tông luôn tuân hành ba thiện, một lòng vì quốc. Đến lúc thiên hạ sang trang, đế vị thay đổi, vua đến Xích huyện kính cẩn lập đại thệ nguyện phủ dụ muôn dân tạo lợi ích lớn, mở ra mặt trời Tứ đẳng, soi sáng mây Nghiêu; thổi ngọn gió Lục độ, đưa vào cơn mưa Thuấn.
Tháng giêng năm Trinh Quán thứ nhất (627), vua ban chiếu thỉnh tất cả các vị tăng đức hạnh vào cung hành đạo suốt trong bảy ngày; sai quan phụ trách chuẩn bị những phẩm vất tốt nhất để cúng dường đầy đủ.
Đến niên hiệu Trinh Quán thứ ba (629), vua sợ mất mùa, trong lòng lo lắng, bèn ban thánh chỉ tuyển chọn mười bốn vị cao tăng có giới luật tinh nghiêm, đức độ cao vời đến thiên môn để cầu mưa bảy ngày. Nhờ Phật lực thầm gia bị, vụ mùa năm ấy được bội thu, nhân dân sung túc nhờ thu được vạn hộc, đất nước giàu mạnh lương thực dùng đủ chín năm. Từ đó về sau, nước nhà luôn ấm no bền vững.
Trước đây, lúc mới dựng cờ nghĩa, rất nhiều binh lính đã bị tử vong dưới làn đạn mũi tên. Vì sợ họ trở thành những oan hồn vất vưởng, nên mùa đông năm này, vua đã ban chiếu thỉnh tăng ni khắp kinh thành tụng kinh siêu độ suốt bảy ngày; ai có y phục đều đem bố thí, mượn duyên lành này để dốc lòng sám hối. Tai những chiến trường xưa, vua đều cho xây dựng già-lam, gồm hơn mười ngôi, như chùa Siêu Nhân, chùa Đẳng Giác v.v...
Mùa xuân, niên hiệu Trinh Quán thứ ba (629) vua lại ban chiếu thỉnh tăng ni vào ngày mười bốn mỗi tháng đều phải tụng đọc kinh Nhân vương v.v..., các quan sở tại thiết trai cúng dường và lấy đây làm thường lệ. Vua lại ban chiếu thỉnh mười chín vị danh tăng thạc đức giỏi Tam giáo, rành rẽ mười khoa và thỉnh Tam tạng pháp sư Ba-pha đến chùa Hưng Thiện phiên dịch kinh điển, sa-môn Thích Tuệ Thừa chứng nghĩa v.v...
Sau, vì cầu phúc cho Thái Vũ hoàng đế, vua xây dựng chùa Long Điền ở núi Chung Nam, thỉnh sáu tôn tượng Phật do Vũ đế tạc đến đây thờ phụng và cúng dường. Vua lại vì Mục thái hậu mà xây chùa Hoang Phúc. Sau khi xây xong, vua đích thân đến chùa khai quang điểm nhãn tôn tượng, tổ chức hội bố thí rất lớn, nhân đó thỉnh mười vị đại đức đến đàm luận Phật pháp. Khi ấy, chủ chùa là đại đức Đạo Ý vừa nói đến thái hậu thì vua buồn thương không kềm lòng được, gạt lệ ngẹn ngào một lúc lâu, rồi nói:
- Trẫm sớm mất mẹ, không có cơ hội để báo đáp ơn sinh dưỡng, nỗi đau mất từ mẫu cứ canh cánh trong lòng. Chỉ biết nhờ hồng phúc Tam bảo thầm giúp đỡ và gia hộ. Gần đây trẫm đặt Lão Tử ở trước Thích-ca, các thầy không oán trách trẫm chứ?
Thầy Đạo Ý đáp:
- Chúng tăng ở đây được yên tâm tu tập là nhờ ân của bệ hạ thì nào dám quên!
Vua nói:
- Phật giáo và Đạo giáo hơn kém thế nào trẫm đều đã biết, họ Thích và họ Lý cao thấp ra sao thi người trí tự rõ. Đâu phải nhât thời để ở trên mà cho là hơn. Vì trẫm tôn kính Lão Tử là tổ tiên của mình nên tạm đem Lão Tử đặt lên trên để trồng cội phúc, tâm thành qui kính để phân biệt thân sơ, chứ chẳng phải không để tâm đến Phật giáo. Gần đây trẫm có bố thí gì đều hướng về nhà Phật, hễ có tu bổ đều là tu bổ chùa chiền. Các thầy nên hiểu ý trẫm!
Vua lại vì Mục hoàng hậu mà xây chùa Từ Đức bên cạnh đạo quán Khánh Thiện.
Sa-môn Huyền Trang sang Thiên Trúc thỉnh kinh. Trở về Trung Quốc muốn truyền bá lời vàng. Trải qua mười chín năm phụng chiếu dịch kinh điển, hoàng đế trước sau ca ngợi, tưởng thưởng vượt trên bình thường. Lại cử quan Trung sứ, cứ mười ngày lại đến thăm hỏi; còn đích thân suy nghĩ viết lời tựa cho bản dịch, trong đó viện dẫn yếu chỉ kinh để xiển dương Phật lí. Thánh thượng đã ban chiếu cho độ ba vạn tăng ni, đúc tạo vô số tượng Phật bằng vàng, bạc, chân châu.
Thánh thượng đương triều chính là thánh là thần, nhiều tài nhiều nghệ. Dùng vô vi trị quốc, kế thừa Li Liên xa xưa; với phong cách hữu đạo, thật có thể so với Viêm Hạo. Từ đó nhà nhà đều có đức hạnh, hiểu đạo không còn tranh tụng; nơi nơi đều tu phúc thiện, non nước rạng rỡ uy linh. Ngài là rường cột của Tam bảo, cứu giúp bốn loài, đã sớm trồng căn lành, từ lâu đã tu thắng nghiệp. Lòng sùng tín phát từ thiên tư, tâm hiếu kinh thật do chân tính. Thế nên, khi còn là thái tử, vua đã có bản nguyện này; do đó mới sai quan phụ trách cung kính vì Văn Đức hoàng thái hậu tạo chùa Từ Ân. Thái tử xét thấy địa thế nơi đây ưu việt, có núi sông che chắn, ngăn cách phố thị ồn náo, nên sai Phù nhân khai móng xây dựng. Chùa xây dựng xong, vừa treo biển hiệu, ngôi kim viên này, pháp lữ chen nhau, quan dân mong ngóng.
Nơi đây có thành cao, tường dài trăm trĩ, uốn lượn quanh co, vây quanh khép góc, chín tầng cao ngất kéo dài. Thế là già-lam rộng lớn, tráng lệ huy hoàng; lập hành thằng xem tinh tú, dựng trụ để trắc lượng bóng mặt trời; hài ngọc sáng soi, kim phô rực rỡ. Tháp ảnh uy nghiêm liên tiếp, đài kinh san sát nối nhau. Thật là cùng tận sắc màu rực rỡ, tóm thâu nét tinh xảo diệu kì, linh báu vang theo gió, mâm vàng hứng sương mai, chuông ngân từng tiếng thâu đêm, lời kinh nhẹ vang mỗi sớm. Đây là chỗ nương của bậc tu định tuệ, là nhà trọ của thánh linh.
Lẽ ra thuật lại bài nói về ý kinh của Ván đế, nhưng văn rất dài, không thể ghi lại.
Đến khi kế thừa ngôi báu, phúc vận ngày càng tốt đẹp, vua luôn nhớ đến ân to lớn của tiên hoàng, mà rưới ân huệ thấm nhuần muôn loại! Từ khi gởi thân về chốn Đỉnh Hồ, xa xăm chẳng thể truy tìm; hồn đến nương gá tại Trường lăng, mịt mờ từ đây vĩnh biệt. Vì muốn hưng tịnh nghiệp, dựng lập phúc điền, nên đổi hai cung Ngọc Hoa và Thúy Vi mà tiên đế thường đến thành chùa, tạc tượng trang nghiêm, khắc chạm huy hoàng, cúng dường trọng hậu. Mỗi khi đến ngày kị của Vũ hoàng và Mục hậu, vua đều thỉnh tăng ni khắp kinh thành tụng kinh cầu siêu suốt bảy ngày. Đến ngày kị của Thái tông và Văn đức hoàng thái hậu, vua ban chiếu thỉnh tăng ni khắp kinh thành tụng kinh cầu siêu suốt hai mươi mốt ngày, lại tạc tượng, chép kinh, cho phép độ táng, thiết trai cúng dường, mọi người đều thấy nghe, ở đây chỉ xin kể sơ lược.
Niên hiệu Hiển Khánh (656-661), vua thỉnh pháp sư Huyền Trang vào cung phiên dịch kinh tạng và các đại đức ở chùa Từ Ân thay phiên nhau tụng kinh, thuyết giảng, không bỏ phí chút thời gian. Vua lại vì hoàng thái tử, ban chiếu xây chùa Tây Minh tại Tây kinh Trường An. Nhân một lần đến Đông đô Lạc Dương, vua liền cho xây dựng chùa Kính Ái tại đây. Chi phí xây dựng mỗi chùa là hơn hai mươi vạn xâu tiền. Vì thế lầu đài, bảo điện, giảng đường, phòng ốc, tôn tượng, tràng phan, bảo cái, mỗi mỗi đều tuyệt diệu như cõi trời, tinh xảo như thần quỉ tạo. Vua lại vì các công chúa mà xây dựng hơn hai mươi ngôi chùa tại Trường An, như chùa Tứ Giới, chùa Sùng Kính, chùa Chiêu Phúc, chùa Phúc Thọ v.v...Vua lại sắc lệnh nội cung phải mô phỏng theo di ảnh Thế Tôn để thêu trên lụa, mỗi bức cao mười hai trượng, xưa nay chưa từng có, khiến người thấy nghe kinh ngạc. Trên bức tượng lụa thêu năm màu đồng rực hiện, sáu văn ánh chiếu nhau; thật là, gởi cành liễu biếc trên đôi tay thanh tịnh, vẽ vầng trăng tròn từ cặp kim sắc nhọn; đẹp hơn lụa nước Yên, sáng hơn gấm đất Thục, bàng bạc như màu sắc Cửu Hoa, rực rỡ tựa ánh sáng thất diệu. Tôn tượng được thỉnh về chùa Từ Ân để vĩnh viễn cúng dường.
Lúc rảnh rỗi chính sự, vua luôn tu tập Bát chính đạo, lại tự tâm tư duy, đích thân cầm bút viết văn bia cho chùa Từ Ân và chùa Long Quốc. Lời văn trong sáng như sương đọng, ý vị nhẹ nhàng tợ gấm thêu, khắc vào bia đá, lưu truyền bất hủ. Nội dụng văn bia nêu cao lí cùng tột, soi sáng đạo sâu mầu. Vua cũng nhiều lần thỉnh các sa-môn và các đạo sĩ vào cung nghiên cứu sâu về danh giáo. Khi luận bàn, vua đều đích thân giám định, cân nhắc đúng sai, rồi cho biên tập đầy đủ.
Những lúc công việc đã thành, tế cáo đất trời, vua lên núi Thái sác phong, nhường đức cho trời cao, suy công lên Đại thánh, ban chiếu đến kháp muồn dân, ở mỗi châu trong cả nước đều phải xây dựng một ngôi chùa, độ bảy vị tăng, tùy theo điềm lành xuất hiện trong ngày mà đặt tên cho bản tự.
Xét trong sử sách từ xưa, xem các đế vương nhiều đời, thì thấy tâm đạo của vua trùm khắp thiên hạ, lòng nhân từ gội nhuần muôn loài; lấy pháp hóa để sáng tỏ Minh đường, dùng tế tự bố cáo trời đất. Đức gồm thâu chân tục, bao quát cổ kim, chưa có thời nào thịnh trị bằng triều đại ta!
Niên hiệu Tổng Chương thứ nhất (668), Cao Tông hoàng đế ban chiếu lập hai huyện Minh Đường và Càn Phong để tuyên dương công đức, lưu truyền cho con cháu đời sau.
Ba đời vua đầu tiên của nhà Đường vừa kể trên, trong nước có hơn bốn nghìn ngôi chùa, hơn sáu vạn tăng ni, kinh tượng nhiều vô số, lại dịch được hơn một nghìn năm trăm quyển kinh luận.
100.6. LỊCH TOÁN
Tháng mười, mùa đông niên hiệu Trinh Quán mười ba (639), đời Đường, vua sắc lệnh Hình bộ thượng thư Lưu Đức Uy, Lễ bộ thị lang Lịnh Hồ Đức Phân, Thị ngự sử Vi Tông, Ung châu tư công Mao Minh Tố v.v... đến thưa hỏi pháp sư Pháp Lâm:
- Theo Biện Chính luận, quyển năm ghi: “Lịch của Diêu Trương Khiêm nói Phật đản sinh năm Giáp Dần, đời Chu Chiếu Vương (1052BC-?), diệt độ năm Nhâm Tý đời Chu Mục Vương (1001BC-?)”. Nhưng vì sao trong truyện Pháp Hiển lại nói Phật sinh vào thời Ân vương (khoảng từ 1400-1100BC). Còn Tượng chỉnh chi kí thì cho rằng Phật sinh vào thời Chu Bình vương (7-720BC). Căn cứ vào các bộ luận của ngài Đạo An thì ngài xác nhận Đức Phật sinh thời Chu Hoàn vương (7-697BC); còn Phí Trường Phòng lại ghi Phật sinh vào thời Chu Trang vương (7-682BC). Vì sao có nhiều sự truyền thuật khác nhau như thế, không biết phải nương theo thuyết nào? Ngưỡng mong pháp sư nói rõ duyên do của sự bất đồng này!
Pháp sư đáp:
- Bần đạo nghe nói, Đức Phật ứng hiện đản sinh, vốn mong cứu giúp muôn loài, có cảm liền ứng, không duyên thì chẳng thấy. Nên kinh ghi: “Một âm thanh phát ra, tùy từng loài mà cảm nhận khác nhau”. Luận về âm thanh đã như thế thì ngôn ngữ cũng vậy. Truyện kí trình bày như thế, đều có cái lí của nó. Nay bần đạo căn cứ theo nhiều thuyết để trình bày. Trước tiên, bần đạo xin nêu ra những thuyết đúng, sau đó sẽ nói rõ những thuyết không chính xác.
Căn cứ theo thuyết của pháp sư Đàm-vô-tối đất Ngụy; pháp sư Thượng Thống đời Tùy, Tu lịch bác sĩ Diêu Trương Khiêm. Cũng y cứ theo Chu Mục vương thiên tử truyện, Chu thư dị kí, Lưu Hướng liệt tiên truyện tự đời Tiền Hán, cổ cựu nhị lục, Pháp bản nội truyện đời Hậu Hán; Pháp vương bản kỉ của Phó Nghị, Ngô thượng thư Linh khám trạch; cũng lại căn cứ theo như các bộ kinh A-hàm, rồi nghiên cứu kĩ thì bần đạo hy vọng có được thời gian chính xác: Vào ngày rằm tháng bảy, năm Quý Sửu, nhằm năm thứ hai mươi ba Chiêu vương Cơ Hà (1030 BC), vị vua thứ năm đời Chu, Đức Phật từ cung trời Đâu-suất, hiện thành voi trắng giáng trần, gá vào thai hoàng hậu Ma-gia, trong cung vua Tịnh Phạn. Vậy nên trong Pháp bản nội truyện, đời Hậu Hán ghi: “Minh đế hỏi pháp sư Ma-đằng:
- Pháp sư có biết Đức Phật sinh vào ngày, tháng, năm nào không?
Pháp sư đáp:
- Vào ngày rằm tháng bảy, năm Quý Sửu, Đức Phật gá vào thai hoàng hậu Ma-gia. Đến ngày mồng tám tháng tư năm Giáp Dần, tức năm thứ hai mươi bốn đời Chu Chiêu vương (1029 BC), Đức Phật đản sinh từ hông bên phải, tại gốc cây sa-la, trong vườn Lâm-tì-ni”.
Kinh Phổ diệu ghi: “Lúc Phật đản sinh, hào quang chiếu sáng khắp Tam thiên đại thiên thế giới”.
Chu thư dị kí cũng chép: “Vào ngày mồng tám tháng tư, năm Giáp Dần, tức năm thứ hai mươi bốn đời Chu Chiêu vương (1029BC), sông, suối, khe, ngòi bỗng nhiên dâng lên cao và tràn bờ; cung điện, nhà cửa, núi sông, đại địa thảy đều chuyển động. Đêm ấy, có một luồng khí sáng năm màu xuyên qua thái vi, chiếu soi khắp phương tây, rồi sau đó biến thành màu xanh hồng. Chiêu vương liền hỏi Thái sử Tô Do:
- Đây là điềm lành gì?
Tô Do đáp:
- Thưa bệ hạ, đây là điềm lành có vị thánh nhân ra đời ở phương tây!
Chiêu vương hỏi:
- Đất nước ta có được hồng phúc gì không?
Tô Do thưa:
- Hiện tại thì chưa, nhưng một nghìn năm sau thì Phật pháp sẽ truyền sang đất nước ta.
Chiêu vương liền lệnh cho khắc vào đá ghi lại điều này, rồi đem chôn cất trước miếu thờ trời tại nam giao”.
Lúc nửa đêm ngày mồng tám tháng tư, năm Nhâm Dần, tức năm thứ bốn mươi hai đời Chu Chiêu vương (1011 BC), thái tử Tất-đạt-đa vượt thành xuất gia. Vậy nên kinh Thụy ứng ghi: “Nửa đêm ngày mồng tám tháng tư, thái tử mười chín tuổi, chư thiên đứng bên song cửa chắp tay thưa:
- Đúng lúc ngài nên đi! _ Nhân đó, thái tử thúc ngựa lên đường”.
Ngày mồng tám tháng hai năm Quý Mùi tức năm thứ hai Mục vương Cơ Mãn (1000 BC), vị vua thứ sáu đời Chu, Đức Phật thành đạo, lúc ấy ngài ba mươi tuổi. Cho nên kinh Phổ Diệu ghi: “Lúc sao mai vừa mọc, bồ-tát hoát nhiên đại ngộ”. Đến ngày rằm tháng hai, năm Nhâm Thân, tức năm thứ năm mươi hai đời Chu Mục vương (950 BC), Đức Phật diệt độ, lúc này Ngài bảy mươi chín tuổi. Cho nên kinh Niết-bàn ghi: “Ngày rằm tháng hai, lúc Đức Phật sắp vào niết-bàn, có nhiều ánh sáng xuất hiện, mặt đất chấn động, vang đến cõi trời Hữu Đỉnh, ánh sáng chiếu khắp Tam thiên đại thiên thế giới”.
Chu thư dị kỉ cũng ghi: “Sáng sớm ngày mười lăm tháng hai, năm Nhâm Thân, tức năm thứ năm mươi hai đời Chu Mục vương (950 BC), một cơn gió mạnh nổi lên làm nhà cửa đổ sập, cây cối ngã gãy, núi sông đại địa đều chấn động. Đến chiều hôm ấy, bầu trời u ám, mây đen vần vũ. Phương tây có mười hai đạo cầu vồng bắc từ phương bắc sang phương nam, suốt đêm không mất. Mục vương hỏi Thái sử Hộ Đa:
- Khanh có biết đây là điềm gì không?
Hộ Đa đáp:
- Thưa bệ hạ, đây là điềm phương tây có thánh nhân diệt độ!”.
Bắt đầu từ năm Giáp Dần, năm thứ hai mươi bốn đời Chu Chiêu vương (1029 BC), Đức Phật thị hiện đản sinh, đến năm Kỉ Hợi, niên hiệu Hàm Hanh thứ hai (671), đời Đường, là đã trải qua một nghìn sáu trăm chín mươi chín năm.
Theo Tây Vực hành truyện của Vương Huyền Sách ghi: “Đại đức Xa-na-khư-tuyền-đà ở chùa Bồ-Đề, nước Ma-già-đà, đã căn cứ theo các kinh để tính toán, rồi cho:
- Lúc mười chín tuổi, vào đầu đêm ngày rằm tháng tư, bồ-tát Thích-ca vượt thành xuất gia. Năm ba mươi tuổi ngài thành đạo và năm bảy mươi chín tuổi ngài nhập niết-bàn. Tính đến nay, niên hiệu Hàm Hanh thứ hai (671), chỉ mới trải qua một nghìn ba trăm chín mươi lăm năm”. (Vì lịch toán ở Ẩn Độ khác với Trung Quốc nên có sự ngắn dài khác nhau; vả lại trước nói sau thuật cũng đã có sai).
Pháp Hiển truyện ghi: “Đức Phật đản sinh vào đời Ân vương (khoảng 1400-1100 BC)”. Nhưng ngài Pháp Hiển tuy có đi qua nhiều nước, nhưng lời truyền này không đáng y cứ, năm tháng sai lệch hẳn với phong tục, thật không đáng tin. Lại có thuyết của Đạo An nói Ất Sửu và Thượng Thống nói Giáp Dần. Các thuyết này đều không có căn cứ, chưa đủ tin cậy. Còn như trong Tượng chính chỉ kí thì ít thấy y cứ theo. An công tạo luận căn cứ theo sự ghi chép của La-thập. La-thập tiếp nối từ An Thế Cao. Ngài An Thế Cao là người chấp bút phiên dịch kinh vào thời Hoàn đế (132-167), nhà Hán, tại Lạc Dương. Đời Tần (401), ngài La-thập mới đến Trường An, còn ngài An Thế Cao đã đến Lạc Dương năm 147, đời Hán (25-220). Hai ngài đến Trung Quốc cách nhau gần ba trăm năm. Nếu đúng là La-thập nối tiếp viết kí thì chẳng phải do Đạo An khinh suất luận thuật sai lầm, thì cũng là do lỗi của người đương thời truyền thuật.
Theo như học sĩ phiên kinh Phí Trường Phòng, thì Phật sinh vào thời Trang vương. Trường Phòng cho rằng có hai Trang vương cùng thời, là Chu Trang vương năm thứ mười (685 BC) tức là Lỗ Trang vương năm thứ bảy. Nếu chỉ căn cứ vào Hằng tinh để xác định ngày Phật sinh thì chưa hiểu được ngoài Hằng tinh còn do những điều kiện khác.
Kinh Văn-thù-sư-lợi niết-bàn ghi: “Sau Phật diệt độ hai trăm năm mươi năm, Văn-thù đến Tuyết sơn giáo hóa năm trăm tiên nhân xong, lại trở về bản quốc, phóng ánh sáng lớn chiếu khắp thế giới, rồi vào niết-bàn,” Điềm lành có Hằng tinh tức là thời kì này. Trường Phòng nói Đức Phật sinh ngày mồng tám tháng hai, nhưng sự thực là tháng tư chứ chẳng phải là tháng hai. Sự phán định của Trường Phòng chưa thấu đáo căn nguyên sự việc, ông cho rằng đời Chu lấy tháng mười một là tháng giêng, nên nói tháng tư tức nay là tháng hai. Tuy rằng tháng hai chung qui là tháng tư, nhưng theo Xuân thu nhất bộ thì năm dùng theo năm của Lỗ hầu, tháng thì dùng tháng của Chu vương, mà Hằng tinh vốn hiện vào đời Chu, thì phải căn cứ theo ngày tháng Chu. Trường Phòng xác định Phật sinh ngày mồng tám tháng hai năm thứ mười đời Chu Trang vương (685 BC), thật đã quá vội vàng. Nếu cho rằng Phật sinh vào tháng hai thì không nên nói về Hằng tinh. Trường Phòng lại bảo Đức Phật gá thai mẹ vào mồng tám tháng tư, vậy nếu gá thai đã dùng theo ngày tháng
Chu, thì đản sinh cũng phải dùng ngày tháng Chu. Nên ông nói tháng hai thì cũng không đúng. Nếu như tháng mười một lịch Chu chính là tháng giêng, thì Đúc Phật không thể mười một tháng mớỉ đản sinh. Người thế gian tháng giêng mang thai thì tháng mười sinh, tháng tư mang thai thì tháng giêng sinh. Đức Phật đã thị hiện đồng thế gian, nên ' phải là tháng bảy gá thai và đến tháng tư đản sinh.
Tề chí của Vương Thiệu ghi: “Tháng tư nhà Chu, tức tháng sáu nhà Hạ”. Theo đây mà tính thì tháng tư sinh phải là tháng bảy gá thai, nay nói là tháng sáu là lấy theo thời tiết nơi này. Tuy chấp nhận tháng bảy, nhưng cuối cùng là tháng sáu. Vậy biết Vương Thiệu nói không sai. Phí Trường Phòng còn nói Đức Phật thành đạo vào đêm tháng hai năm Quí Sửu, nhằm năm thứ mười chín đời Chu Tuệ vương (656 BC) khi sao mai vừa mọc. Đây cũng là một sai lầm lớn. Vì sao? cổ Cựu nhị lục của Lưu Hướng ghi: “Thời Chu Tuệ vương, Phật giáo đã được truyền sang. Một trăm năm mươi năm sau Lão Tử mới thuyết Ngũ thiên văn”. Nếu cho rằng thời Chu Tuệ vương, Đức Phật mới thành đạo thì không có việc kinh điển đã truyền đến kinh đô Lạc Dương. Lại, Tuệ vương là cháu của Trang vương, lấy năm Quí Sửu mà suy thì chỉ cách nhau ba mươi năm, không lí nào Đức Phật vừa thành đạo mà kinh điển của ngài đã truyền đến Trung Quốc. Lại nữa, Như Lai thuyết pháp giáo hóa bốn mươi chín năm, ngài Ca-diếp kết tập kinh điển sau khi Đức Phật diệt độ. Vậy giáo pháp Như Lai được truyền sang đông chính là vào thời Chu. Lời của Lưu Hướng quả không sai. Sự ghi chép của Phí Trường Phòng không thể y cứ theo.
Nên biết, Đức Phật ứng hiện cùng khắp, thật khó suy lường. Huống là đông tây cách biệt, niên đại xa xôi, lại gặp thời Lục quốc phân tranh, Tần đốt hết kinh sách. Vì thế người viết lại niên đại không ít, người ghi lịch của đế vương cũng rất nhiều, từ đó dẫn đến sai trái lẫn lộn, thêm bớt trước sau, nhưng đều cho mình là đúng, đều cho là kim chỉ nam. Nay bần đạo tạm trình bày nhưng điều đã thấy nghe, thuật lời trong kinh sử để lược định xa gần, xác thật trước sau.
100.7. CẢM ỨNG
100.7.1. Những điềm lành do Tam bảo cảm hiện: Tam bảo hộ trì thế gian, mỗi ngôi đều có chủ đích riêng, như hai ngôi Phật và tăng biểu thị sự tiếp nối giữa thầy và trò, một ngôi giáo pháp hiển bày trọng tâm giáo hóa. Vì thế Phật và tăng tùy cơ, nên duyên cảm biết có lúc ẩn lúc hiện; giáo pháp là để trừ phiền não, nên điềm diệt nghiệp chướng luôn hiện. Vì thế, kệ xả thân luôn được thuyết tại bờ vực thẳm, giáo pháp của đấng Đại Từ thường được gom giữ tại cung rồng. Thật là Tam thánh thật đáng tôn kính, nhờ công dưỡng dục khổ lao; kẻ còn người mất đã nhờ ân, vui VÌ có phương tiện hay dẹp sạch điên đảo. Cho nên, người biết thụ trì đọc tụng tôn kinh ắt sẽ được điềm lành, tu tập đúng pháp sẽ được cảm ứng.
Chuyện xưa ở Ấn Độ thường được luận bàn, điềm hiển linh tại Trung Quốc luôn Luôn có. Như chuyện ngài Chu Sĩ Hành ném kinh vào đống lửa lớn, đến lúc lửa tắt mà kinh vẫn nguyên vẹn. Chuyện tên trộm lẻn vào phòng trộm chỉ một quyển kinh, nhưng lại nhấc lên không nổi. Chuyện hòm kinh bỗng nhiên bay lên trời, hoặc hiện điềm báo cho vua quan, hoặc cứu người thoát được bảy nạn, hoặc hai mong cầu do đây được thỏa mãn V.V.. Những việc như thế rất nhiều, không thuật thì khó biết, nên xin được tùy duyên ghi chép lại để trình bày cho người đời sau. Kinh há không ghi: “Chỉ ban cho những người có niềm tin, không nói cho những ai còn nghi ngờ.” Đến như bắn tên xuyên qua đá, là do tâm kiên quyết mà được; suối tự nhiên vọt, bước trên băng qua sông, khiến lòng nghi chóng dứt, Đây là những việc thế gian truyền tụng, huống là bậc trí tuệ vút trời cao, đạo đức siêu các cõi, tâm lượng thật vô cùng.
Nghiệp báo nhân quả như bóng theo hình, thì điềm lành ứng hiện, ắt sẽ khế hợp. Như vậy theo lí không được giấu giếm, vì thế xin được thuật và tập hợp lại. Những những chuyện xưa, phần lớn đều được trích từ những bộ truyện kí như Chí quái, Minh tường, Tinh dị, Trưng ứng..., có thể xem đọc đầy đủ trong đó. Nhưng sợ người đời không tin vào văn này, nên một lần nữa tôi khuyên mọi người cần tin kính.
100.7.2. Hán Minh đế cảm mộng lành: Cạnh một ngôi đại già-lam gần sông Đạt-li-la, trong thành đô cũ của nước Ô-trượng-na có một pho tượng Phật Di-lặc gỗ cao hơn trăm thước, kim dung tươi sáng tuyệt mỹ, rất có thần khí. Tương truyền, a-la-hán Mạc-điền-để-ca đã dẫn thợ điêu khắc bay lên cõi trời Đâu-suất-đà, tận mắt chiêm ngưỡng sắc tướng đoan nghiêm của Ngài. Ba lần lên xuống, ông ta mới tạc thành một pho tượng như thế.
Phật pháp truyền đến Trung Quốc bắt đầu từ thời Viêm Hán. Minh Đế nội kí ghi: “Tháng chín, mùa thu năm Giáp Tý, nhằm niên hiệu Vĩnh Bình thứ bảy (64), mọi người đều thấy một ngôi sao mai sáng ngời xuất hiện ở phía tây. Đêm ấy, Hán Minh đế mộng thấy một vị thần cao một trượng sáu, mặt màu vàng ròng, đỉnh đầu có hào quang chiếu tỏa, bay trên hư không một cách tự tại, ẩn hiện vô ngại. Đến sáng, Minh đế kể lại điềm mộng, quần thần nghe thế thảy đều vui mừng. Bấy giờ, Thái tử xá nhân Đôn Hoàng Phó Nghị tâu:
- Thần nghe ở Ấn Độ, có thái tử con vua Tịnh Phạn, tên là Tất-đạt-đa, từ bỏ ngôi Chuyển luân vương để xuất gia. Đến khi thành đạo có tên là Thích-ca Văn. Điềm mộng của bệ hạ hẳn là cảm điều này!
Vua liền sai sứ giả sang Tây Trúc. Vượt qua hơn bốn mươi quốc gia, sứ giả mới đến được thành Xá-vệ, Hỏi thăm một vị tăng, thì được nghe đáp:
- Đức Phật đã nhập niết-bàn từ lâu!
Sứ giả bèn sao chép lại thánh giáo, được sáu mươi vạn năm ngàn lời, rồi dùng ngựa trắng chuyển về. Đường đi rất gian nan hiểm trở, những con vật khác đều chết, riêng ngựa trắng thì vẫn ngoan cường chở kinh về đến đất nước. Để tán dương sự thần dị của con bạch mã, Hán Minh đế cho xây dựng tại Lạc Dương một ngôi chùa, đặt tên là chùa Bạch Mã.
Kinh văn Tây Trúc truyền vào Trung Hoa khởi đầu từ đây, ánh sáng Phật pháp chiếu sang Đông Độ bắt đàu từ thời kì này. Thế là giáo lí thấm nhuần khắp nơi, nhanh chóng tạo thành rừng phúc. Đạo pháp phát dương mạnh mẽ, lan truyền khắp cả nước. Giềng mối Phật pháp được kiến lập từ buổi ban đầu này.
Chu thư cũng có ghi: “Thân cao một trượng sáu, màu xích đồng, cho là điềm đặc biệt. Lòng thầm cảm chưa thuần mà Phật giáo cũng đã truyền đến”.
100.7.3. Đời Tống, sa-môn cầu-na-bạt-đà-la cảm ứng được thay đầu: cầu-na-bạt-đà-la Trung Hoa dịch là Công Đức Hiền. Sư người Trung Thiên Trúc, đời Tống, đã đến ở chùa Trung Hưng tại kinh đô.
Thuở nhỏ, sư đã học tập các bộ luận về Ngũ minh, thông hiểu âm dương chú thuật. Sau khi xuất gia, sư tinh chuyên tu học, thấu suốt ba tạng. Bản tính sư từ hòa, nghiêm cẩn, dốc lòng hầu thầy. Không lâu sau, sư từ biệt thầy Tiểu thừa, tìm cầu pháp Đại thừa. Vị thầy Đại thừa thử cho sư chọn một quyển trong tráp kinh, thì được quyển Đại phẩm Hoa nghiêm. Vị thầy khen:
- Con rất có duyên với Đại thừa!
Từ đó, sư đọc tụng giảng nói, đi khắp nơi thuyết pháp, không ai ứng đối lại được.
Đời Tống, niên hiệu Nguyên Gia thứ mười hai (162), sư đến Quảng châu. Thứ sử Xa Lãng dâng biểu, Thái tổ truyền chỉ nghinh tiếp trọng thể. Vào đến kinh đô, Thái tổ cùng sư trò chuyện rất vui vẻ, như bạn tâm giao.
Ban đầu sư ở chùa Kì-Hoàn. Sau đó Tiều vương trấn nhậm Kinh châu, đã thỉnh sư cùng đi. Sư đến ở chùa Tân, Tiều Vương thỉnh sư giảng các bộ kinh như Hoa nghiêm v.v... Sư lo lắng, và cảm thấy hổ thẹn vì không thông thạo tiếng Trung Hoa, nên ngày đêm sám hối cầu xin bồ-tát Quán Thế Âm cảm ứng. Không lâu sau, sư mộng thấy một người mặc y phục trắng, tay cầm thanh kiếm và mang một cái đầu người đến bên sư, hỏi:
- Vì sao lại buồn phiền?
Sư kể lại đầy đủ mọi việc. Nghe xong, người ấy nói:
- Không có gì phải quá to buồn!
Rồi dùng kiếm chặt đầu sư, đặt lên một cái đầu mới, bảo sư quay qua quay lại, rồi hỏi:
- Có đau không?
Sư đáp:
- Không đau.
Khi ấy, sư chợt tỉnh giấc, tinh thần trở nên vui vẻ phân chấn. Sáng hôm đó, sư xem đọc kinh điển, thông suốt ngữ nghĩa, thành thạo tiếng Trung Hoa. Nhân đây, sư thăng tòa thuyết giảng.
Niên hiệu Nguyên Gia cuối cùng (432), Tiều vương nhiều lần mộng thấy những điều quái dị, ông ta đem việc này đến hỏi, sư đáp:
- Kinh đô sắp loạn lạc.
Quả thực, chưa đến một năm, Nguyên Hung mưu đồ phản nghịch.
Niên hiệu Hiếu Kiến thứ nhất (454), Tiều vương âm mưu tạo phản. Sư tỏ vẻ không vui, chưa kịp nói ra thì Tiểu vương hỏí lý do. Sư hết lòng khuyên can, nhưng không được, nên rơi lệ cáo lui và nói:
- Nhất định không có hy vọng gì! Bần đạo không thể theo.
Tiều Vương cho rằng lòng dân tin tưởng sư, nên ép sư cùng đi theo. Phản quân bị đại bại ở Lương sơn. Thuyền chiến quay đầu gấp rút tháo chạy thoát thân, nhưng còn cách bờ quá xa. Đoán biết không ai cứu giúp, nên sư nhất tâm xưng danh hiệu bồ-tát Quán Thế Âm, tay cầm gậy trúc lao mình xuống sông, nước chỉ ngập đến gối, sư bèn cắm gậy xuống nước, thì nước chảy rất xiết. Bấy giờ, thấy một đồng tử từ phía sau đến, nắm tay dẫn đi, sư quay lại nói:
- Cậu chỉ là một đứa bé, làm sao cứu tôi được?
Trong lúc đang mơ hồ, sư cảm thấy hình như chỉ đi hơn mười bước mà đã đến bờ. Sư cởi áo bá nạp, định cảm tạ đồng tử, nhưng quay lại thì không thấy đâu. Sư cảm thấy toàn thân rúng động và biết là được thần lực của bồ-tát gia hộ.
về sau, sư đến xây chùa tại phía tây lầu Phụng Hoàng ở Mạt Lăng, mỗi khi đến nửa đêm đều có tiếng gõ cửa gọi, nhưng ra xem thì không thấy ai; lại thêm chúng tăng nhiều lần thấy ác mộng. Thấy thế, sư đốt hương chú nguyện:
- Đời trước các ngươi ở chốn này. Nay ta dựng chùa tu tập, lễ sám, đều là vì các ngươi. Nếu các ngươi muốn ở nơi này thì làm thiện thần ủng hộ chùa, còn không thì muốn đi đâu tùy ý.
Thế rồi, đêm nọ đạo tục hơn mười người đều mộng thấy hàng ngàn quỷ thần mang vác đồ đạc cùng nhau bỏ đi. Từ đấy, đại chúng trong chùa đều được yên ổn. Ngôi chùa này nay chính là chùa Bạch Tháp ở đảo Đào Hậu.
Có bài kệ:
Cúi đầu lễ chư Phật
Nay khẩn thiết thỉnh cầu
Xin oai thần giúp đỡ
Kẻ lừa dối, chê bai
Mê muội chưa tỉnh ngộ
Được quay về nẻo giác.
Kẻ chìm trong biển ái
May nhờ được thuyền bè
Kẻ chấp dị, ngang bướng
Đều hòa hợp gá nương
Xa lìa sự chấp hữu,
Chấm dứt những lỗi lầm,
Ngã mạn, trái bát chính
Buông lung phạm trăm lỗi,
Đồng xả mọi dị biện.
Hễ nhiễm tịnh lẫn lộn,
Thì chọn vàng, vứt đá;
Mài ngọc, trừ ràng buộc.
Xin Đức Phật soi khắp,
Lắng tâm quán lí mầu
Để thành tựu đại đạo.
Không còn dám hủy báng,
Chân thật bậc đức cao,
Kính trọng đối người dưới
Xin Phật hứa khả cho,'
Vui mừng mà phát triển,
Mong thương con chí thành
Rủ lòng từ chỉ dạy.
Con gom tập thánh giáo,
Toát yếu nương uy quang,
Đến mười năm mới thành.
Ba nghiệp thật lao khổ,
Mong truyền đến đời sau,
Người xem rõ yếu chỉ.
Tám tà không còn tranh
Bốn câu dứt lầm lỗi,
Hết mê, vững tín tâm,
Thành tựu trí vi diệu.
Hàm sinh đồng cảm biết,
Nguyện mỗi mỗi chuyển y.
Trọn bộ một trăm quyển, toàn ban Dịch thuật Hán tạng Pháp Âm dịch xong vào Trung thu Canh Dần (2010) tại chùa Từ Nghiêm, thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
11/01/2016
PUCL QUYỂN 99 - CHƯƠNG TẠP YẾU
QUYỂN 99 Quyển này có một chương Tạp yếu. 99. CHƯƠNG TẠP YẾU 99.1. LỜI DẪN Lí thể lìa âm thanh, nhưng nhờ vào ngôn từ để biểu ý nghĩa. Ngôn từ không dấu vết, nhưng nương vào văn tự để diễn phát âm thanh. Cho nên văn tự l...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 98 - CHƯƠNG PHÁP DIỆT
QUYỂN 98 Quyển này có một chương Pháp diệt. 98. CHƯƠNG PHÁP DIỆT 98.1 LỜI DẪN Trộm nghĩ: Chính pháp tượng pháp đã qua, giáo pháp chuyển sang thời mạt. Bởi người có tà chính, nên pháp cũng có lúc suy vi. Có người nương và...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 97 - CHƯƠNG TỐNG CHUNG
ỌUYỂN 97 Quyển này có một chương Tống chung. 97. CHƯƠNG TỐNG CHUNG 97.1. LỜI DẪN Bốn đại là đồ chứa chất độc, đầy dẫy dơ uế; sáu tên giặc là bọn chủ cuồng loạn, luôn tham đắm ngoại cảnh, không có ngày biết ngược dòng sin...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 96 - CHƯƠNG XẢ THÂN
QUYỂN 96 Quyển này có một chương Xả thân. 96. CHƯƠNG XẢ THÂN 96.1. LỜI DẪN Tính của sắc vô hình, thì xúc cũng sẽ trở về không; ba thời hư giả thì tám vi cuối cùng cũng tan hoại. Tuy có uy lực làm chuyển càn khôn, rốt cuộ...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 95 - CHƯƠNG BỆNH KHỔ
QUYỂN 95 Quyển này có một chương khổ. 95. CHƯƠNG BỆNH KHỔ 95.1. LỜI DẪN Ba cõi mênh mông, sáu đường đông đúc, tất cả các loài chúng sinh đều nhờ vào bốn đại phò trì, năm căn tạo thành hình thể. Thế nên, khi bốn đại tích...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 94 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT
QUYỂN 94 Quyển này gồm chương Uống rượu ăn thịt (tiếp theo), chương uế trược. 93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT (tt) 93.4. CẢM ỨNG 93.4.1. Đời Hán, Lạc Tử Uyên: Vào niên hiệu Hiếu Xương đời Hán, dũng sĩ Lạc Tử Uyên, người Lạc...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 93 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT
QUYỂN 93 Quyển này có một chương uống rượu ăn thịt. 93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT 93.1. LỜI DẪN Uống rượu là mở toang cánh cửa buông lung, các Đức Phật biết rõ đó là gốc khổ. Vì thế nên tránh những quán rượu, lìa bỏ những...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 92 - CHƯƠNG LỢI HẠI
QUYỂN 92 Quyển này có một chương Lợi hại. 92. CHƯƠNG LỢI HẠI 92.1. LỜI DẪN Hàm thức trong ba cõi, chúng sinh nơi bốn loài đều do sáu căn phan duyên, bảy thức tạo nghiệp mà bị lửa dục đốt thiêu, khởi lòng tham không đáy,...
