Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 96 - CHƯƠNG XẢ THÂN

11/01/2016

QUYỂN 96 Quyển này có một chương Xả thân. 96. CHƯƠNG XẢ THÂN 96.1. LỜI DẪN Tính của sắc vô hình, thì xúc cũng sẽ trở về không; ba thời hư giả thì tám vi cuối cùng cũng tan hoại. Tuy có uy lực làm chuyển càn khôn, rốt cuộ...

PUCL QUYỂN 96 - CHƯƠNG XẢ THÂN
Phần 1

QUYỂN 96
Quyển này có một chương Xả thân.
96. CHƯƠNG XẢ THÂN

96.1. LỜI DẪN
Tính của sắc vô hình, thì xúc cũng sẽ trở về không; ba thời hư giả thì tám vi cuối cùng cũng tan hoại. Tuy có uy lực làm chuyển càn khôn, rốt cuộc rồi cũng tiêu diệt; dù đẹp rực rỡ như mũ Tề lụa Sở cũng biến thành cát bụi. Vì thế hình chất không cố định, chỉ do các duyên hội tụ mà thành. Tứ trần bất đồng, gió lửa cũng khác, chia chẻ phân tích kĩ thì chẳng phải là một vật. Dù yến can, Việt đảm cũng không đáng để so sánh, chỉ có bồ-tát lợi sinh mới đạt tận cùng yếu chỉ. Nhưng chúng sinh ở mãi chốn trầm luân đời đời không dứt, mà chưa một niệm đổi dời; nghiệp ác phiền não dẫn dắt luân chuyển trong đường mê mà vọng chỉ tay cho là không ư? Đó chính là hữu vậy. Dưỡng thân mình mà hại mạng chúng sinh, đó chính là độc. Gom chứa tài vật ngoài thân để thỏa lòng ham muốn; lấy cắp vật chẳng phải phần của mình, sử dụng phung phí, há chỉ để ấm thân no bụng thôi đâu? Cho đên tài vật chất chứa tràn đầy trong kho, từ vô thỉ đến nay cung cấp cho thân huyễn này chưa từng biết chán. Lắng tâm xét kĩ việc này, há không có tội sao!
Nay đã biết rõ lỗi lầm, luống uổng nuôi dưỡng thân dễ hoại, biết vật và ngã đều không, thì đâu còn quí tiếc! Vì thế, biết rõ thân hư giả là tâm của bậc đại sĩ; xả vọng cầu chân là thường nguyện của bồ-tát. Lại biết ba cõi là ngôi nhà tạm ở trong chốc lát, hiểu rõ bốn loài chúng sinh là cảnh huyễn mộng. Sách thế gian nói: “Sống dùng thân mạng làm nhà trọ, chết thì dùng trời đất làm quan tài”. Nội điển thì nói: “Vương tử bỏ thân, công đức vượt chín kiếp, lóc thịt cho bồ câu làm chấn động cả tam thiên”. Dùng nay so sánh với xưa thì đều mong như vậy. Tất cả đều muốn khiến trâu trắng đủ sức đi đường dài, thuyền báu có năng lực sang bờ kia.
96.2. DẪN CHỨNG
96.2.1. Vương tử Tát-đỏa xả thân
Kinh Kim quang minh ghi: “Đức Phật bảo đại chúng:
- Vào thời quá khứ, có vua Ma-ha La-đà thường làm việc thiện, không có kẻ thù. Vua có ba người con: thái tử thứ nhât tên Ma-ha Ba-na-la, thứ hai tên Ma-ha Đồ-bà, thứ ba tên Ma-ha Tát-đỏa. Một hôm ba vị vương tử cùng vào rừng du ngoạn, dần đến một khu rừng trúc thì dừng lại nghỉ ngơi.
Vị vương tử thứ nhất nói:
- Ta rất lo sợ, ở trong rừng này chúng ta sẽ bị thú dữ hãm hại.
Vị vương tử thứ hai nói:
- Em không tiếc thân mạng, chỉ sợ người thân buồn khổ.
Vị vương tử thứ ba nói:
- Em không sợ hãi, cũng không sầu não. Trong núi vắng lặng, là nơi thần tiên đều khen ngợi, là nơi an tĩnh giúp người an ổn.
Sau khi nói lên suy nghĩ của mình, ba vị vương tử đi về phía trước. Cả ba cùng gặp hổ mẹ vừa sinh bảy con mới được bảy ngày. Bị các hổ con quấn quýt, không thể kiếm ăn, nên hổ mẹ đói khát khốn khổ, thân thể ốm gầy, mạng sống không còn bao lâu.
Thấy vậy, vị vương tử thứ nhất nói:
- Hổ mẹ bị đói bức bách, chắc nó sẽ ăn cả thịt con mình.
Vị vương tử thứ ba hỏi:
-Trong các anh, ai có thể kiếm thức ăn cho hổ mẹ?
Vị vương tử thứ hai nói:
- Hổ mẹ này đói khát, mạng sống sẽ không còn bao lâu. Chúng ta tìm đâu ra thức ăn này, đâu có thể xả thân cứu nó!
Vị vương tử thứ nhất nói:
- Thân mạng là vật khó bỏ nhất.
Vị vương tử thứ ba nói:
- Những bậc đại sĩ muốn làm lợi ích cho kẻ khác, nếu khởi tâm đại bi thì không có gì là khó bỏ
Các vương tử rất sầu khổ, chăm chăm nhìn hổ đói, mắt chẳng tạm rời, một hồi lâu rồi bỏ đi.
Vương từ thứ ba suy nghĩ:
- Nay chính là lúc ta xả thân mạng. Ta từ xưa đến nay đã xả thân nhiều lần, nhưng đều vô ích! Tùy thời cấp dưỡng cho thân không thiếu gì, mà nó không biết ân, lại hận oán. Thân này thật không bền chắc, nay ta xả bỏ để có sự nghiệp Vô thượng, làm chiếc cầu lớn trên biển sinh tử, vĩnh viễn xa lìa nỗi lo sợ vô thường biến đổi, thành tựu đầy đủ công đức trí tuệ.
Nghĩ thế, Tát-đỏa liền nói với hai anh:
- Hai anh cùng với gia nhân có thể trở về trước, em sẽ về sau!
Tát-đỏa trở lại chỗ bầy hổ, cởi y phục treo lên cành tre và phát nguyện: ‘Ta nay vì tất cả chúng sinh, cầu chứng đạo mầu Vô thượng giác, độ chúng sinh trong ba cõi!’. Phát nguyện xong, vương tử buông mình trước bầy hổ đói, nhưng do oai lực từ bi của ngài nên hổ không thể ăn thịt. Vương từ suy nghĩ: ‘Hổ quá ốm gầy, sức lực yếu ớt không thể ăn thịt ta’. Vương tử lại tìm dao bén, nhưng không có, bèn dùng cành tre khô tự đâm vào cổ, cho máu tuôn ra chảy đến bên hổ. Bấy giờ mặt đất chấn động sáu cách, mặt trời không còn chiếu sáng, trời tuôn hoa đẹp và tỏa hương thơm khắp khu rừng. Chư thiên trên hư không thấy việc này, đều sinh tâm hoan hỷ, cho là việc chưa từng có, nên đồng khen ngợi:
- Quí thay Đại sĩ! Ngài thật là bậc Đại bi, vì cứu giúp chúng sinh mà có thể bỏ cái khó bỏ, không bao lâu sẽ chứng Niết-bàn thanh tịnh!
Hổ thấy máu từ cổ Tát-đỏa tuôn ra, liền đến uống và ăn thịt, chỉ còn lại xưomg.
Hai người anh thấy mặt đất chấn động, mặt trời không chiếu sáng, trời mưa hoa đẹp và hương thơm, liền nghĩ chắc chắn em ta xả thân rồi. Hai vị vương từ rất buồn khổ, sợ hãi, khóc lóc than thở, dung mạo tiều tụy, liền chạy đến nơi hổ đói, thấy y phục của em mình treo trên cành tre, xương cốt và tóc móng vung vãi khắp nơi, máu chảy thấm ướt mặt đất. Hai người chẳng thể kềm lòng, ngã nhào trên những đốt xương, mê man một hồi lâu mới tỉnh lại. Cả hai đưa tay kêu trời, rồi khóc và nói:
- Em ta tuổi còn nhỏ, tài năng hơn người, mẹ cha luôn yêu mến, bỗng chốc xả thân mạng. Chúng ta trở về cung, nếu cha mẹ hỏi đến, phải đáp thế nào? Chúng ta thà cùng bỏ thân mạng ở chỗ này, không nỡ trở về gặp cha mẹ, quyến thuộc.
Bấy giờ các người hầu của Tát-đỏa chia nhau đi tìm khắp nơi, họ cùng nói:
- Vương tử đang ở đâu?
Cũng trong lúc này, vương phi đang nằm ngủ mộng thấy bị cắt hai vú, răng rụng, có ba chim câu non, một con bị chim ưng bắt. Lúc mặt đất chấn động, bà liền tỉnh giấc, lòng vô cùng lo lắng sầu não, nói bài kệ:
Hôm nay vì cớ chi
Mặt đất và sông hồ
Tất cả chấn động mạnh
Mọi vật đều không an
Mặt trời không chiếu sáng
Như có vật che chắn
Lòng ta rất sầu khổ
Cặp mắt luôn máy động
Như ta ngày hôm nay
Mộng thấy điềm báo trước
Chắc sẽ có họa lớn
Không tốt và khố đau.
Khi vương phi nói bài kệ này, một tì nữ từ bên ngoài nghe vương tử mất tích, vô cùng sợ hãi, liền đến thưa:
- Vương phi biết chăng! Con nghe những người bên ngoài nói tìm thái tử khắp nơi mà không gặp._ Vương phi nghe vậy, vô cùng buồn khổ, liền đến báo với vua. Vừa nghe, lòng vua vô cùng đau đớn, nghẹn ngào sầu thảm, gạt lệ và nói:
Phần 2

- Tại sao hôm nay ta mất đứa con yêu quí nhất.
Bấy giờ, Đức thế tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ:
Lúc bấy giờ đại vương
Từ chỗ ngồi đứng dậy
Dùng nước vẩy phu nhân
Một hồi lâu mới tỉnh
Bà giữ lòng an định
Lại hỏi nhỏ đai vương
Hômm nay con của thiếp
Còn sống hay đã chệ?
Vua đáp lời phu nhân:
Ta đã sai tất cả
Đại thần và quân lính
Đi đến khắp các nơi
Kiếm tìm con yêu quí
Nàng nay nên ạn tâm
Lòng chớ quá đau buồn
An ủi phu nhân rồi
Vua chuẩn bị xa giá
Cùng phu nhân xuất cung.
Lúc bấy giờ đại vương
Đã ra khỏi thành rồi
Vì tìm con yêu quí
Vua nhìn khắp mọi nơi
Lòng sầu não, tán loạn
Chẳng biết con ở đâu.
Sau đổ thấy từ xa
Có một người chạy đến
Tâu với vua thế này:
Xin vua chớ lo buồn
Các con ngài vẫn sống
Không bao lâu sẽ về
Để cho vua gặp mặt
Lát sau vua lại thấy
Một đại thần chạy đến
Vội vã tâu với vua:
Thưa đại vương nên biết
Một vương tử đã chết
Hai vương tử tuy còn
Nhưng sầu khổ, tiều tụy.
Vị vương tử thứ ba
Thấy hổ mẹ mới sinh
Bị đói khát bảy ngày
Sợ lại ăn thịt còn
Vương tử khởi tâm bi
Và phát nguyện rộng lớn
Sẽ độ khắp chúng sinh
Cho đến đời vị lai
Chứng đắc quả bồ-đề.
Thế là vị vương tử
Liền leo lên chỗ cao
Gieo mình trước hổ đói,
Hổ bị đói bức bách
Liền đến ăn vương tử
Máu thịt đều hết sạch
Chỉ còn những khúc xương
Nằm vung vãi trên đất.
Lúc bấy giờ đại vương
Nghe đại thần tâu xong
Tâm thần lại mê muội
Bất tỉnh ngã trên đất,
Như lửa dữ sầu não
Thiêu đốt khắp thân thể
Các đại thần, quyến thuộc
Cũng đều giống như thế.
Họ dùng nước vẩy vua
Một hồi lâu mới tỉnh,
Lại ngồi dậy huơ tay
Kêu trời rồi gào khóc
Lại có đại thần đến
Tâu với nhà vua rằng:
Thần gặp hai vương tử
Trong một khu rừng kia
Đang đau buồn, khổ não
Khóc gào thật thảm thiết
Tâm loạn ý mịt mờ
Mê ngất nằm trên đất
Thần liền tìm nước lạnh
Một hồi lâu mới tỉnh.
Vua lại than thở rằng:
Đứa con nhỏ ta quí
Mà bị quỉ vô thường
Âm thầm đến cướp mất
Hai vương tử tuy còn
Mà bị lửa sầu não
Thiêu đốt chẳng biết gì
Hoặc do những điều này
Mà đoạn dứt mạng căn.
Nay ta phải gấp rút
Vào trong khu rừng kia
Để đón các vương tử
Nhanh trở về hoàng cung.

Phần 3

Phu nhân đi phía sau
Lòng sầu khổ bức bách
Cùng với các người hầu
Cũng muốn đến rừng kìa.
Khi đang đi trên đường
Gặp hai vương tử lớn
Bà kêu trời, đạp đất
Gọi tên vương tử út.
Vua liền tiến lên trước
Ôm chặt hai người con
Khóc gào thật thảm thiếp
Trên đường trở về cung
Vua bảo hai người con
Lo chăm sóc mẫu thân.
Đức Phật bảo thụ thần
Nay ông phải nên biết
Vị vương tử Tát-đỏa
Xả thân cho hổ ăn
Hôm nay chính là Ta.
Vị đại vương La-đà
Nay chính là vua cha.
Vị vương phi thuở ấy
Nay chính là Ma-gia.
Vị vương tử thứ nhất
Nay chính là Di-lặc.
Vị vương tử thứ hai
Nay chính là Điều-đạt.
Con hổ mẹ lúc ấy
Nay chính là Cù-di.
Bảy hổ con chính là
Xá-lợi-phất, Mục-liên
Và năm vị tì-kheo.
Vua Ma-ha La-đà và phu nhân khóc gào thảm thiết, họ đêu cởi bỏ chuỗi báu trên thân, cùng mọi người đến rừng trúc thâu nhặt xá-lợi của vương tử Tát-đỏa rồi xây tháp bảy báu cúng dường. Lúc vương tử Ma-ha Tát-đỏa xả thân có phát nguyện:
- Nguyện xá-lợi của ta trải qua vô số kiếp vị lai luôn vì chúng sinh mà làm Phật sự”.
96.2.2. Bồ-tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến xả thân
Phẩm Dương Vương bồ-tát bản sự , kinh Pháp hoa lược ghi: “Bây giờ, Phật bảo bô-tát Tú Vương Hoa:
- Thuở quá khứ vô lượng hằng hà sa kiếp trước, Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Như Lai nói kinh Pháp hoa cho bồ-tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến và chúng bồ-tát, thanh văn nghe.
Bồ-tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến thích tu khổ hạnh, ở trong pháp hội của Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức tinh tiến kinh hành, một lòng cầu thành Phật, mãn một vạn hai nghìn năm rồi suy nghĩ: ‘Ta dùng thần lực cúng dương Phật, không bằng đem thân cúng dường’. Thế là bồ-tát liền uống các loại nước thơm, mãn một nghìn hai trăm năm rôi lấy dầu thơm xoa thân, ở trước Đức Phật Nhật Nguyệt Tinh Minh Đức, dùng y báu cõi trời tự quấn thân, rưới các thứ dầu thơm, vận sức thần thông tự đốt thân, ánh sáng chiếu khắp tám mươi ức hàng hà sa thế giới. Bấy giờ, các Đức Phật ở trong đó đồng khen ngợi: ‘Quí thay! Quí thay! Đây thật là chân tinh tiến, là chân pháp cúng dường Như Lai!’. Thân của bồ-tát cháy suốt một nghìn hai trăm năm mới tắt.
Bồ-tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến cúng dường như thế, sau khi mạng chung hóa sinh vào nhà vua Tịnh Đức trong cõi nước của Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức. Bồ-tát nói với vua cha:
- Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức hiện nay vẫn còn, trước con đã cúng dường Phật và đã chứng được Giải nhất thiết chúng sinh ngữ ngôn đà-la-ni, lại được nghe kinh Pháp hoa. Đại vương! Con nay trở lại cúng dường Đức Phật này, cho đến khi Ngài nhập niết-bàn. Sau đó con thâu lấy xá-lợi, xây tám vạn bốn nghìn ngôi tháp báu để cúng dường.
Nói xong, bồ-tát liền ở trước tám vạn bốn nghìn ngôi tháp báu, đốt cánh tay trăm phúc trang nghiêm, trải qua bảy vạn hai nghìn năm để cúng dường. Việc này đã giúp vô số người cầu Thanh văn, vô lượng vô số người phát tâm Vô thượng chính đẳng chính giác.
Bấy giờ, các vị bồ-tát, trời, người và a-tu-la v.v... thấy bồ-tát không còn tay, sầu khổ buồn thương nói:
- Bồ-tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến là thầy của chúng ta, giáo hóa chúng ta, mà nay đốt tay, thân thể không được đầy đủ.
Lúc đó, bồ-tất Nhất thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến ở trước đại chúng thệ nguyện: ‘Tôi bỏ hai tay, nhất định sẽ được thân sắc vàng của Phật. Nếu đúng như vậy thì khiến hai cánh tay tôi trở lại như cũ!’. Bồ-tát vừa phát nguyện xong, hai tay tự nhiên bình phục. Lúc đó tam thiên đại thiên thế giới chấn động sáu cách, trời mưa hoa báu, tất cả trời, người thấy được việc chưa từng có.
- Bồ-tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến nay chính là bồ-tát Dược Vương. Nếu có người phát tâm Vô thượng chính đẳng chính giác, có thể đốt một ngón tay, cho đến một ngón chân để cúng dường tháp Phật, hơn cả cúng dường quốc thành, vợ con và châu báu trong cõi tam thiên đại thiên thế giới”.
Hỏi: Bồ tát xả thân có phạm tội tự sát không?
Đáp: Theo luật, khi xả mạng mà chưa chết, sẽ bị tội nhỏ phương tiện Thâu-lan-giá, nếu chết rồi thì không có tội. Vì thế không bị đại tội sát nhân. Nếu căn cứ theo Đại thừa, bồ-tát vì nhàm lìa sinh tử mà xả thân cúng dường Phật, vì tất cả chúng sinh mà khởi tâm đại bi, không có ý hại người khác thì còn được phúc, chứ đâu có tội!
Nên kinh Văn-thù-sư-lợi vấn ghi: “Đức Phật dạy:
- Nếu tự giết mình thì không có tội báo. Vì sao? Vì bồ-tát tự giết mình chỉ có công đức. Vì thân ta do ta quyết định, mà tự sát có tội thì cắt móng làm tay thương tích cũng sẽ bị tội, vì tự làm thân bị thương. Bồ-tát xả thân chẳng phải vô kí, cho nên chỉ được phúc đức, diệt các phiền não, thân này diệt thì được thân thanh tịnh. Thí như tấm y dơ, dùng xà phòng giặt tẩy chất dơ thì y sẽ sạch”.
(Từ xưa đến nay, chẳng phải một hai vị bồ-tát xả thân mà rất nhiều. Như Nguyệt Minh bỏ đầu, Thi-tì cắt đùi, hoặc sư tử, voi chúa xả bỏ ngà và da; hoặc làm thân nai, chim chúa cứu người đốn củi gặp nguy, hoặc làm rùa, ba ba lớn để cửu người gặp nạn dưới nước; hoặc làm cà lớn, lấy thịt cứu người đói khổ...),
Có bài tụng:
Cung Thắng không tiếc thân
Lý Nghiệp có cùng tận
Kê Tẩu bị bức bách
Hoắc Tử mạng chẳng còn
Thê lương, bách dày sương
Thắm ướt măng đón gió
Chợt gặp, lòng cảm khái
Lâu mau chẳng xót thương
Ta hận chí con ta
Không xả thân trên núi
Hướng tâm trước Chính giác

Phần 4

Chịu đau khổ lâu rồi
Biết nhân, ngã đều không
Xa lìa tâm sầu não
Chỉ cầu mong đời sau
Oán thân hiểu lòng này.
96.3. CẢM ỨNG
96.3.1. Thời Hoàng Đế, Ninh Phong Tử: Truyền rằng ông làm quan Đào chính cho Hoàng Đế. Một Hôm có một dị nhân đến triều quản lí việc sử dụng lửa cho Hoàng Đế; người này có thể phun ra khói năm màu. về sau lại dạy cho Phong Tử. Phong Tử chất củi đốt mình, mọi người thấy Phong Tử theo làn khói bay lên xuống. Sau đó, thấy trong đám tro tàn vẫn có xương của ông. Người thời bấy giờ mang hài cốt của ông chôn trong núi Ninh Bắc, cho nên đặt tên ông là Ninh Phong Tử.
96.3.2. Đời Tống, sa-môn Thích Tuệ Thiệu: Sư ở chùa Chiêu-đề, Lâm Xuyên. Lúc nhỏ, mẹ sư cho ăn cá thịt, sư đều nôn ra, chỉ ăn được rau cải, nên từ đó sư ăn chay trường. Năm lên tám tuổi, sư xuất gia làm đệ tử ngài Tăng Yếu, siêng năng tu tập khổ hạnh. Sau đó, sư theo ngài Tăng yếu đến ở chùa Chiêu-đề tại Lâm Xuyên. Sư thầm có ý nguyện đốt thân, nên thường mướn người chặt củi chất trong hang đá ở núi phía đông cao vài trượng. Sư chừa một khoảng trống giữa đống củi lớn, vừa đủ thân mình.
Một hôm sư trở về chùa từ biệt ngài Tăng Yếu; Tăng Yếu một mực can ngăn, nhưng sư không thay đổi. Đến ngày đốt thân, sư nhóm họp đại chủng tổ chức khóa tu Bát quan trai ở núi phía đông để cáo biệt mọi người. Ngày đó dân chúng khắp châu tụ tập, xe ngựa đông đúc. Họ mang vàng bạc, châu báu đến cúng dường nhiều vô số. Đến tối, sư hành đạo, hành hương xong, cầm đuốc châm củi, rồi vào ngồi trong khoảng trống ấy tụng phẩm Dược Vương bồ-tát bản sự. Mọi người không thấy sư, mới biết là sư đã đi, đỉnh lễ chưa xong, mọi người vội đến chỗ đống củi. Lửa đang cháy mạnh mà vẫn nghe tiếng sư tụng kinh. Lúc lửa cháy đến trán mà vẫn nghe sư xướng “nhất tâm”; xướng xong mới im lặng.
Bấy giờ, đại chúng đều thấy một ngôi sao lớn như cái đấu từ hư không bay thẳng xuống đống lửa, thoáng chốc thì bay lên trời. Mọi người đều cho là chư thiên đến rước sư. Ba ngày sau củi mới cháy hết.
Trước khi thị tịch, sư có nói với bạn học: “Chỗ tôi thiêu thân sẽ mọc cây ngô đồng, các vị chớ chặt bỏ”. Ba ngày sau quả nhiên mọc cây ngô đồng ở chỗ dó. Sư thiêu thân đúng vào niên hiệu Nguyên Gia hai mươi tám (451), thọ hai mươi tám tuổi.
96.3.3. Đời Tống, Thích Tuệ ích: Sư người Quảng Lăng, xuất gia từ nhỏ, sau theo thầy đến ở tại Thọ Xuân. Vào khoảng niên hiệu Hiếu Kiến (454-457) sư đến chùa Trúc Lâm ở kinh đô, siêng năng tu khổ hạnh, thệ nguyện thiêu thân. Mọi người nghe việc của sư, hoặc có người chê, có người khen.
Đến niên hiệu Đại Minh thứ tư (460), sư không ăn cơm, chỉ ăn mè và lúa mạch. Đến niên hiệu Đại Minh thứ sáu (462), sư chỉ uống sữa bò, khoảng một thời gian ngắn rồi bỏ sữa, chỉ uống viên bột thơm; tuy thân yếu gầy, nhưng tinh thần minh mẫn.
Hiếu Vũ đế rất kính trọng sư, thăm hỏi rất thân thiết. Sau đó vua sai Thái tể Vương Nghĩa Cung đến chùa can ngăn, nhưng sư quyết chí không thay đồi.
Đến ngày mùng tám tháng tư, niên hiệu Đại Minh thứ bảy (463), sắp đến ngày thiêu thân, sư chuẩn bị một vạc dầu lớn tại phía nam núi Chung Sơn. Sáng hôm đó sư ngồi xe trâu, nhờ người dắt vào núi Sư nghĩ vua là nơi nương tựa của nhân dân và Tam bảo, nên xuống xe đi bộ vào cung. Khi đến cửa Vân Long thì không thể đi được, sư liền nhờ người vào báo:
- Tuệ ích đạo nhân hôm nay sẽ xả thân, nên đến kính từ biệt, xin bệ hạ hộ trì Phật pháp.
Vua nghe nói vậy, liền đứng dậy đi ra cửa Vân Long. Sư thấy vua quí trọng, nên một lần nữa giao phó Phật pháp cho vua, rồi từ biệt. Vua, các vương phi, thái hậu, tăng tục, nhân dân đồng đi theo, đứng chật cả hang núi. Tất cả cởi bỏ y phục, vật trang sức quí, nhiều không thể tính kể. Sư ngồi trên chiếc ghế nhỏ đặt trong vạc, tự lấy dây vải quấn quanh mình, trên đầu đội một chiếc mũ dài, rồi tưới dầu khắp thân. Sắp đến lúc châm lửa, vua bảo Thái tể đến thưa:
- Tu đạo có nhiều cách, hà tất phải bỏ thân mạng, mong sư suy nghĩ lại, chọn con đường khác!
Ý sư đã quyết, không hối hận, nên nói:
- Thân mạng thấp hèn này, đâu đáng để vua lưu tâm. Nếu bệ hạ có lòng từ rộng lớn thì cho phép mọi người xuất gia!
Vua ban chiếu chấp thuận. Nói xong, sư tự cầm đuốc đốt chiếc mũ trên đầu, rồi ném đuốc, chắp tay tụng phẩm Dược Vương bồ-tát bản sự. Lúc lửa cháy đến lông mày mà tiếng tụng kinh của sư vẫn rõ ràng, khi cháy đến mắt mới im lặng. Mọi người đều bi thương, than khóc làm chấn động cả hang núi sâu thẳm, rồi vội niệm danh hiệu Phật. Lửa cháy đến sáng hôm sau mới tát. Bấy giờ vua nghe trên hư không có tiếng đàn, sáo và hương thơm lạ. Vua ở lại suốt ngày mới trở về cung. Đêm đó, vua mộng thấy sư chống tích trượng đến, lại phó chúc Phật pháp cho mình.
Sáng mai vua thiết trai cúng dường, cho chư tăng độ người xuất gia, bảo trai chủ thuật đầy đủ việc này.
Vua cho xây chùa Dược Vương ở chỗ sư thiêu thân để ghi nhớ.
96.3.4. Đời Lương, Thích Đạo Độ: Khoảng niên hiệu Phổ Thông (520-527), sư trụ ở chùa Tiểu Trang Nghiêm. Sư giữ giới trong sạch, thông hiểu kinh điển Đại thừa. Lương Vũ đế kính trọng sư như bậc a-la-hán. Sư nhàm chán thân này giống như cây độc. Sư luôn nghĩ: “Nếu vô thường đến thì bỏ thân này ngoài rừng Thi-đà cho chim thú ăn thịt, thành tựu Đàn-ba-la-mật, cũng là một thiện nghiệp, nhưng ta không mong thiêu hết tám vạn vi trùng”. Do đó sư bèn kiếm củi chất thành đống, dần dần ăn ít lại.
Đến ngày mùng ba tháng mười một, niên hiệu Phổ Thông thứ bảy (526), bỗng có tiếng chuông kêu, chúng trong chùa kinh hãi, không biết có việc gì. Đến ngày mùng tám tháng mười một, chuông lại tự nhiên vang. Sư cùng đại chúng kết duyên lành. Từ đó sư nhịn ăn, chỉ dùng bình múc nước sạch uống, mỗi ngày uống một thăng. Đến sáng ngày hai mươi lăm, chúng trong chùa đến, thấy bình của sư phát ra ánh sáng năm màu, chiếu soi rực rỡ. Đến sáng ngày hai mươi chín, tự chủ Tăng Toàn v.v... và mọi người cùng lên thiền thất, từ xa trông thấy ánh sáng màu tía trong khám chiếu ra. Ngày hôm đó, trời sắp tối, bỗng có đàn chim năm trăm con bay đến đậu trên một cây trong chốc lát chúng bay về hướng tây. Đêm đó, vừa hết canh hai, trong chùa có ánh sáng nhiều màu chiếu sáng khắp phòng ốc. Đến canh năm, nghe trên đỉnh núi có tiếng lửa cháy mạnh, mọi người giật mình chạy lên xem, thấy thiền sư Đạo Độ ngồi chắp tay trong lửa. Năm đó sư sáu mươi sáu tuổi.
Bấy giờ, Thứ sử Vũ Lăng Vương sai người rưới nước, quét dọn, thu gom hài cốt của sư, rồi xây tháp phụng thờ. Sau này mọi người nghe có tiếng khánh đá trên đỉnh núi. Trước đó, ở chỗ sư thiêu thân có một cây lớn chết khô hơn mười năm. Từ khi sư vào núi, thường ngồi thiền bên gốc cây, đến lúc sư thị tịch thì cây sống lại, cành lá sum suê.
96.3.5. Đời Chu, Thích Tăng Nhai ở ích châu: Sư họ Mâu, lúc nhỏ ít nói, không thích cười đùa. Mỗi khi vào núi, gặp khe suối, nếu muốn uống sư đỉnh lễ trước rồi sau đó mới lấy dùng. Có lúc chăm nhìn không chớp mắt, hoặc ngồi suốt ngày, có người hỏi lí do. Sư đáp:
- Thân đáng ghét này, tôi suy nghĩ sau này sẽ đốt nó!
Đến lúc lớn lên, sư gia nhập quân đội, tính tình cương nghị, chính trực. Sư thường theo bạn bắt cá, phần của mình bắt được đều thả lại xuống sông và nói với bạn: “Giết hại chẳng phải nghiệp lành, nay toàn thân tôi mọc mụn nhọt, tôi thề từ nay không bao giờ chài lưới săn bắt!”. Nói xong, sư đốt tất cả vật dụng chài lưới, săn bắt của mình.
Bấy giờ, Nhương Thí dẫn đầu mấy trăm người cùng đào ao, đắp đê nuôi cá, sư dẫn mọi người đến xem. Bỗng có con rắn dài khoảng một thước xuất hiện, từ đầu đến đuôi đều màu đỏ; trong chốc lát thì nó dài hơn một trượng, chu vi thân năm sáu thước, Nhương và mọi người chạy tán loạn. Con rắn liền bò xuống nước, vẫy đuôi lên không trung, ánh sáng màu đỏ chiếu khắp nơi, một hồi lâu mới hết.
Mọi người tập trung bàn tán việc này. Sư nói:
- Việc này không có gì lo lắng, chỉ cần chấm dứt nghiệp giết hại, răn sẽ không hại người.
Sư khuyên mọi người ngừng việc đào ao, đắp đập nuôi cá. Họ chưa chịu thì trong chốc lát đê bị vỡ. Sau đó sư xuất gia.
Đến tháng sáu, niên hiệu Vũ Thành thứ nhất (559) đời Chu, sư ở đầu đường phía nam thành ích châu, dùng vải quấn mười ngón tay rồi đốt. Có người hỏi:
- Sư đốt tay có đau không?
Sư đáp:
- Đau do tâm sinh ra, tâm đã không đau thì tay có đau gì!
Người thời bấy giờ gọi sư là Tăng Nhai Bồ-tát. Hoặc có người hỏi:
- Hình như sư bị bệnh phong thấp, sao không chữa trị?
Sư đáp:
- Thân vốn không, biết trị chỗ nào?
Hỏi
- Các căn và bốn đại chống trái nhau gây bệnh sao gọi là không?
Đáp:
- Bốn đại và năm căn trụ vào đâu?
Mọi người đều kính phục sư. Bấy giờ pháp sư Đoài ở chùa Hiếu Ái là người học cao hiểu rộng, nghe sư đốt thân, bèn dẫn mấy mươi đệ tử đến đỉnh lễ, rồi cởi y cúng dường. Sau đó quay lại nói với đại chúng:
- Đây là bậc chân thật thông đạt Bát-nhã, chứ không phải nói suông!
Do đó, tăng tục nhóm họp đến rất đông và tăng thêm lòng kính tin. Cháy như vậy, trải qua một ngày thì ngón tay trái cháy hết, lần đến xương bàn tay, tủy vọt ra sắp làm tắt lửa, sư bèn dùng ngón còn lại của bàn tay phải kẹp cành tre khêu ra. Có người hỏi. Sư đáp:
- Do chúng sinh không tu hạnh nhẫn, nay ta khuyên nên nhẫn những việc không thể nhẫn, đốt cháy những vật không thể cháy.
Sư lại thuyết pháp khuyên nhủ mọi người thực hành hạnh từ bi, không ăn thịt cá. Tuy lửa cháy ngày đêm không ngừng, đốt hết hai tay mà lông mày và mắt của sư không máy động. Sư lại nói pháp, tụng kinh cho bốn chúng nghe. Có khi đang

Phần 5

dùng ngôn từ tha thiết, diễn bày ý nghĩa cốt yếu thì có người gật đầu mỉm cười, hoặc sinh tâm biếng nhác, hoặc nói chuyện riêng. Sư quay sang nói:
- Tôi ở trong núi, lúc đầu không biết chữ, nay nghe từng câu kinh dạy tâm liền tương ưng, sao các vị không chí tâm lắng nghe? Nếu mọi người trái ý ta thì việc đốt tay này thật vô ích, đâu khác gì đốt chiếc khăn vấn tóc của tiều phu.
Thế là đại chúng im lặng, chăm chú lắng nghe. Sư bảo đại chúng:
- Vào thời mạt pháp, con người có tâm khinh mạn, xem thường Phật pháp, xem tượng như thân gỗ, nghe kinh như gió thổi qua tai ngựa. Nay vì chép kinh giáo Đại thừa, cho nên thiêu thân, đốt tay, muốn khiến mọi người càng tin sâu Phật pháp!
Mọi người nghe tin, đều đến nhiễu quanh mấy vạn vòng, sư vẫn điềm tĩnh vui hòa, sắc mặt không biến đổi.
Mọi người thường nhóm họp tại con đường lớn ở phía tây thành, bàn luận về việc giáo hóa. Gặp trời mưa, lúc đầu mưa nhỏ, sau dần dần thấm ướt, sư bèn chính niệm nhập định thì lập tức mây tan, trăng sáng. Khi năm ngón tay giống như cây đuốc tàn, bỗng nhiên mỗi ngón mọc dài ra ba tấc, trắng như tuyết. Tăng ni đều nói:
- Sau khi bồ-tát diệt độ, chúng con nguyện thâu xá-lợi xây tháp phụng thờ!
Sư dùng miệng cắn gãy năm ngón tay mới mọc rồi phun ra ban cho đại chúng và nói:
- Các vị có thể xây tháp cúng dường.
Đến ngày mười bốn tháng bảy, niên hiệu Vũ Thành thử nhất (559) đời Chu, bỗng có tiếng động lớn, giống như đất chấn động, trời vỡ tung, người và súc vật đều kinh hãi. Trên hư không hiện ra các hình chó, dê, rồng, rắn, vũ khí, quân dụng, một lát sau thì chấm dứt. Có người hỏi sư. Sư đáp:
- Việc này không đáng lo, chỉ là tam-muội Kinh Thụy! Tôi sắp xả thân, nên bày biện phẩm vật cúng dường!
Lúc đầu, ở chùa Hiếu Ái có thiền sư Đạo, giới hạnh trang nghiêm, tuổi cao đức dày, đem tích trượng lục độ và tấm đắp màu hồng tặng sư đắp lúc tự thiêu. Sư Tăng Uyên từ xa mang y bá nạp đến tặng, với tâm nguyện để sư mang theo bên mình. Lúc ấy người bố thí tài vật quá nhiều, ồn náo nên không biết vật của hai vị đại đức mang đến. Sáng hôm sau, bỗng sư bảo thị giả Pháp Đà:
- Ông đi lấy tích trượng, tấm đắp màu hồng và ca-sa của thiền sư Đạo đến cho ta đắp.
Thị giả mang đến, sư đắp vào và cầm tích trượng đến chỗ thiêu thân. Lúc ấy tăng tục nhóm họp hơn mười vạn, người xe chen nhau mà khóc lóc. Sư nói:
- Mọi người nên giữ vững tâm Bồ-đề, chớ khóc lóc!
Sư lên tòa thuyết pháp cho mọi người nghe, nhưng lúc nào cũng để mắt đến đống củi, vui vẻ mỉm cười, Sau đó sư nằm nghiêng bên hông phải mắt nhắm, ngưng thở giống như người gỗ. Bỗng sư ngồi dậy nói: “Săp đến giờ rồi!”. Sư liền bước xuống và bạch chúng tăng:
- Phật pháp khó gặp, nên cùng nhau hộ trì!
Trước đó sư chất củi cao mấy chục trượng, tạo thành một tòa lầu, bên trên làm một ngôi nhà nhỏ rồi tưới dầu, sư bước đến nhiễu quanh lầu củi ba vòng, lễ bái bốn phương, rồi bước lên lầu, tựa vào lan can nhìn xuống, bảo mọi người tụng kinh Bát-nhã. Lúc đó, có thí chủ Vương Tuyển lo sợ nói:
- Nếu tôi phóng lửa thiêu thánh nhân sẽ mang tội nặng.
Sư thầm biết vỉệc này, liền gọi Vương Tuyển lên lầu, lấy tay xoa đầu và nói:
- Ông đừng lo sợ đốt lầu bị tội, sẽ được phúc lớn đó!
Nói xong, sư lấy lửa trao cho ông đốt, nhưng ông vẫn sợ và đặt ngọn đuốc xuống đất. Sư đưa tay cầm ngọn đuốc lên, đốt hướng tây bắc trước, lần lượt đến hướng tây nam. Do củi khô., lại thấm ướt dầu, nên lửa cháy rất mạnh. Sư đứng trong ngọn lửa buông đuốc đỉnh lễ, đến lạy thứ hai thì-thân thể khô nứt, thêm một lạy nữa thì ngã nằm trên than đỏ. Khi củi cháy hết, xương thịt đều thành tro, nhưng quả tim vẫn còn nguyên vẹn, có màu đỏ và ẩm ướt; gan, ruột, lá lách, dạ dày vẫn dính liền với nhau. Mọi người dùng bốn mươi xe củi đốt tiếp, bấy giờ gan, ruột, lá lách, dạ dày bị xoắn lại, nhưng quả tim vẫn như cũ. Pháp sư Đoài bèn bảo mọi người thâu lấy chôn dưới tháp. Lúc sư chưa thiêu, có người hỏi:
- Bồ-tát diệt độ, có hiện tướng lành không?
Sư đáp:
- Thân tôi cháy hết, nhưng tâm không cháy.
Mọi người nói:
- Tâm thần không có hình tướng, không thể đốt cháy được!
Sau khi thiêu xong, quả tim của sư vẫn còn nguyên vẹn, mọi người mới hiểu lời nói trước. Từ khi sinh ra cho đến lúc thị tịch, sư thường hiện hơn mấy mươi điềm lạ.
Tại một gia đình sắp thụ giới, vô cớ sư cười và nói:
- Sắp xả bỏ vật báu, nên lo nghĩ ư?
Mọi người hỏi, sư nói:
- Người phụ nữ họ Dương muốn bố thí cây trâm bạc mà sợ chồng trách, nhưng bà vẫn quyết xả bỏ.
Lại ở chùa Hiếu Ái có tăng Phật Hưng thích ăn uống cao lương mĩ vị, sống như phàm tục, không có phép tắc. Một hôm, ông đi theo sau sư, thầm phát nguyện: ‘Nay gặp được thánh nhân, ta thề không ãn thịt uống rượu nữa!’. Khi Phật Hưng trở về chùa thì gặp một vị mặc y vàng nói:
- Ông không ăn thịt nữa là việc tốt! Nếu ông ăn thịt một chúng sinh tức là ăn thịt tất cả chúng sinh, là ăn thịt tất cả cha mẹ, quyến thuộc của mình. Nếu ăn thì cũng giống như loài trùng trong tử thi, trùng đó chính là thịt vậy. Ngày sáu thời luôn nghĩ về điều lành thì rất tốt, nếu không đủ thì một thời cũng được. Hoặc trong một niệm cũng tốt, đều có thể diệt được điều ác!
Phật Hưng nghe lời lẽ của vị kia chân chính, giọng nói rất hòa nhã, muốn đến hỏi, nhưng không bao lâu thì vị ấy biến mất. Từ đó, Phật Hưng chuyên tâm nhiễu tháp, tụng kinh, niệm Phật. Phật Hưng lại nghe trên hư không có tiếng bảo: ‘Ngươi nên siêng năng giữ gìn trai giới, nguyện cho chúng sinh không ăn thịt và loài ngạ quỉ thường được no đủ!’. Người này được cảm hóa là do thần lực của sư.
Lúc sư mới bước lên lầu củi, sa-môn Tăng Dục đứng ở cửa chùa Đại Kiến Xương, thấy có lửa cháy cao bốn năm trượng, rộng ba bốn trượng, từ dưới đất vọt lên lầu củi, một hồi lâu mới tắt.
Lại ngày bắt đầu châm lửa, sa-môn Bảo Hải ở một ngôi chùa trong châu này hỏi sư:
- Cùng là một ngọn lửa, tại sao bồ-tát thiêu thì không có ý niệm đau đớn?
- Chúng sinh có tưởng niệm, nên mới đau! Sư đáp.
- Bồ-tát thường nói thay chúng sinh chịu khổ thật không? Sa-môn Bảo Hải hỏi.
- Đã khởi tâm thay chúng sinh chịu khổ, sao mà không được! Sư đáp.
- Bồ-tát tự thiêu thân, nhưng tội chúng sinh đã chín, tự chịu khổ, làm sao có thể thay?
- Giống như đốt tay, khởi một niệm thiện, tức có thể diệt ác, há không phải thay thế sao!
Sư bảo thị giả Trí Viêm:
- Sau khi ta thị tịch, nên siêng năng cúng dường người bệnh. Những người ấy phần nhiều vốn là chư Phật, thánh nhân tùy phương tiện ứng hiện giáo hóa, khổ có thể lường. Nếu không khởi tâm từ bi bình đẳng thì đâu thể cung kính, đây là việc thật.
Những người trong pháp hội nghi sư không phải thánh nhân, sư liền gọi tên người ấy và nói lớn:
- Chư Phật xuất hiện ở đời, hình tướng không nhất định, hoặc làm người xấu xí, người bệnh, cho đến làm súc sinh; đàn việt nhất quyết chớ nên xem thường!
Khi sắp châm lửa, mọi người đều thấy các tướng lạ như lọng tròn che trên sư, ba vị đạo nhân đứng trên lọng, hoặc thấy ánh sáng năm màu như hình người ở bốn cửa, hoặc thấy mặt trời xuất hiện trên lầu củi và trời mưa các loại hoa. Lớn thì như cái đấu, nhỏ thì bằng núm chuông, phát ánh sáng năm màu, đua nhau rơi xuống, nhiều người đón lấy, nỗi lo buồn liền tan biến.

Phần 6

Sau khi sư thị tịch, người ở huyện Bì thấy trên hư không có một cái kiệu bằng tơ, sư đứng trong đó, thân đắp y vàng, vắt tấm đắp một bên vai, cầm tích trượng, có năm sáu trăm vị tăng theo sau, che lọng trúc nương hư không bay về hướng tây, rồi biến mất.
Lại có tăng Tuệ Sách ở chùa Linh Quả, Đồng châu, nhân việc sư thị tịch mà thiết đại trai hội, tại khu chợ cổ. Trước lúc thụ thực, bỗng thấy đám mây đen từ phía đông nam kéo đến, che khuất mặt trời, trai hội âm u, trời mưa lác đác, những tia ánh sáng năm màu hiện rộ, tia dài thì một thước năm tấc, ngắn thì khoảng sáu tấc. Trời lại mưa các loại hoa, có tràng phan, hương thơm khắp cả hư không, đại chúng đều thấy.
Lúc thỉnh xá-lợi tim đến chùa Thường Trụ, mọi người đều thấy hoa rơi đày khắp và ánh sáng chiếu rực cả chùa viện.
Lại có vị tăng Tuệ Thắng ở chùa A-ca-nị-tra bị bệnh nằm liệt giường, không được thấy sư thiêu thân, trong lòng ân hận. Một hôm, Tuệ Thắng nằm mộng thấy sư dẫn theo vị sa-di mang đến một bọc vải đựng khoảng ba hộc hương thơm và bột chiên-đàn, sau đó chia thành bốn phần, để chung quanh Tuệ Thắng rồi đốt. Tuệ Thắng sợ và nói:
- Con là phàm phu, chưa thể thiêu thân!
- Ngươi đừng sợ! Chỉ để xông bệnh mà thôi Sư nói.
Lửa cháy hết, Tuệ Thắng cảm thấy hoàn toàn khỏe mạnh, lại xin sư hiện điềm lành! Sư nói:
- Pháp hiệu Tuệ Nhai của ta lúc ở ích châu chỉ là giả, tên thật là Quang Minh Biến Chiếu Bảo Tạng bồ-tát.
Sau khi tỉnh dậy, Tuệ Thắng càng nỗ lực tu tập gấp đôi lúc thường. Có lúc vì sư mà thiết trai hội ở ngoài thôn, Thắng tự nói: ‘Tăng tục ở Đồng châu phúc dày nên thấy được điềm lành; chúng ta nghiệp chướng sâu nặng nên không thấy’. Lập tức khoảng hai trăm người đều thấy hoa trời rơi nhiều như tuyết khắp hư không, che cả ánh sáng mặt trời. Thụ trai xong, hoa lớn dàn bằng cái mâm bảy tấc, màu vàng, ánh sáng chói mắt. Bốn chúng tranh nhau mà không thể lấy được, có người leo lên cây mong lấy được hoa, hoa lại bay thẳng lên hư không.
Lại nữa, ở Thành Đô có gia đình Vương Tăng Quí, từ khi sư đốt thân thì cả nhà phát nguyện không ăn thịt. Sau đó có việc mà cả nhà muốn bỏ ăn chay, nhưng còn bàn tính riêng. Đến canh hai, bỗng nghe ngoài cửa có tiếng gọi: “Đàn việt!”. Người nhà ra mở cửa thì thấy một đạo nhân. Đạo nhân nói: “Chớ ăn thịt!”, rồi dặn dò khuyên bảo, ngôn từ rất tha thiết, đến nỗi ứa lệ mà đi. Người nhà đuổi theo sau giống như gần mà lại xa, rồi bỗng mất dấu.
Lại sau khi sư đốt thân, đến giữa tháng tám, có một người thuộc dân tộc Nhương, tên Mâu Nan Đang đi săn trên đỉnh núi Tựu Kiêu, đang dương cung nhắm bẳn một con nai, bỗng thấy sư cưỡi một con kinh xanh. Người thợ săn sợ hãi hỏi:
- Ngài thiêu thân ở ích châu rồi, sao nay còn ở đây?
Sư đáp:
- Đó là người giả thôi. Ông có thể thiêu thân không? Ông săn bắn sẽ mang tội, hãy siêng năng làm ruộng để sinh sống.
Nói xong sư từ biệt.
Lại nữa, vào khoảng mùa đông, con người anh của sư đang lội dưới khe, bỗng nghe trong hang núi có chừng mấy vạn người nói chuyện ồn ào. ông nhìn lên thì thấy sư cầm tích trượng, có hai vị tăng đi theo, liền đuổi theo muốn nắm ca-sa. Sư nói:
- Cháu chịu khó nắm ca-sa của ta!
Sư liền chỉ tay vào con heo, con gà và nói:
- Âm thanh của chúng đều có ý nghĩa rõ ràng như lời của cháu vậy, nhưng người khác không hiểu. Như tiếng của nước khác, cháu cũng không hiểu được. Tuy người và súc sinh khác nhau, nhưng đều có Phật tính, chỉ vì chúng tạo nghiệp ác, nên thụ thân hình này. Cháu nên gắng sức làm ruộng, chớ nuôi dưỡng loài gia súc!
Lời nói thật thiết tha và rõ ràng. Sư thường hiện hình đoán biết ý của người khác mà khuyên dạy.
96.3.6. Đời Chu, Thích Tĩnh Ái: Sư họ Trịnh, người Huỳnh Dương, sớm nổi tiếng ở đời với phẩm hạnh thanh cao. Bản tính của sư rất giản dị, hơn hẳn phàm tục. Sư tự an ủi lòng mình: “Ta không được may mắn, sinh ra gặp đời ngũ trược tạp loạn, không được thiện tri thức chỉ dạy, thật đáng xấu hổ, tiến thoái lưỡng nan, mà vui sướng được sao?”.
Thế là sư tự quyết định đến chùa Tung Nhạc, chuyên tâm nghiên cứu kinh luận, quên cả ngủ nghỉ. Sau sư lại nghe có vị tăng Thiên Trúc học rộng, phẩm hạnh cao thượng, người đời không thể lường, từ Tây Trúc đến Hàm Dương, sư liền đến học đạo suốt mười năm. Sau đó sư đến núi Chung Nam, có ý muốn ở nơi đây suốt đời. Nơi đây có khói nứi mây trời, gió mát trăng thanh, khiến người đến quên cả trở về. Trong núi này vốn không có nước, khi cần thì đến khe suối. Một đêm, các đệ tử đang đứng hầu thầy, bỗng thấy một con hổ đến trước mặt quào đất rồi bỏ đi. Đến sáng sư ra xem, thấy chỗ đó có nước ẩm ướt, liền cho người đào thì có dòng nước phun lên. Từ đó trở về sau, sư không xuống khe suối, mà lấy nước ở đây dùng. Nay là suối Hổ Bào tại Tị Thê bảo, ở Tích Cốc vậy.
Tháng năm, niên hiệu Kiến Đức thứ ba ($74) Chu Vũ diệt pháp ở Quan Trung. Sau khi diệt pháp xong, đến ngày mười lăm tháng sáu, vừa bãi triều, thì Kim Thành công Dân bộ thị lang Nhâm Quân, tại nơi làm việc của mình, đã cùng các quan thuộc đang dạo chơi, thấy năm sáu vật lạ bay lên hư không như một đàn chim, cái lớn thì bay chạm trời xanh, cái nhỏ thì khoảng mười đấu, sau đó chúng dần dần ẩn mất, Có một số đoạn nhỏ màu vàng trắng rơi xuống đất, rồi cuốn vào hư không, những vật này giống như lá cờ không có tua. Hôm đó trời trong, gió lặng, đến hạt bụi cũng không động, càng tăng thêm sự oi bức. Nhân đó, ông đến phủ nghỉ đông, dạo quanh tường, khi đi về hướng bắc, thấy trên một bức tường đôi lộ ra quyển sách màu vàng, liền đến lấy xem, thì đó chính là quyển thứ mười chín của kinh Ma-ha Bát-nhã. Ông hỏi nguyên do, có người nói: “Quyển kinh này từ trên trời bay xuống đây”.
Lúc bấy giờ Phật pháp vừa bị tiêu diệt, nên hình pháp rất nghiêm, triều đình thường bắt các vị quan có liên hệ với Phật giáo. . Do đó ông giấu quyển kinh vào ống tay áo, rồi đem về nhà cất vào giỏ tre. Lúc đầu Vũ đế nghe danh sư ý chí ngay thẳng, vui vẻ muốn gặp mặt. Vua sai hơn hai mươi ngươi thuộc Tam vệ vào núi dò tìm. Vua dặn sứ giả nói;
- Đạo nhân áo lông! Trẫm sẽ phong đại sư làm Thượng khanh để cùng trị thiên hạ.
Sư ở trong núi sâu, nên mọi người tìm không được. Sau sư ẩn cư tại Tích Cốc, núi Thái Nhất. Sư thấy Phật pháp bị diệt, tăng tục không nơi nương tựa nhưng thân bị quả báo trói buộc, không có sức để giúp đỡ, bèn nói với đệ tử:
- Ta không thể làm lợi ích cho đời!
Thế là sư nghĩ đến việc xả thân, nên hỏi ý đại chúng. Lúc đầu không ai muốn. Sư có soạn bộ “Đại Tiêu thừa Tam bảo tập kí hơn hai mươi quyển, cất trong hang núi, để đời sau phục hưng Phật pháp, về sau tâm niệm nhàm chán thân càng bức bách, sư ở một mình trong hang riêng, rồi bảo đệ tử xuống núi, đến sáng sớm hôm sau mới được lên. Thế là sư ngồi kết già trên tảng đá, mặc một y nội, tự lóc thịt thân thành từng miếng trải trên đá, kéo ruột treo ở cây tùng mà không hề tổn thương đến lục phủ ngũ tạng. Sau khi lóc hết gân, thịt ở tay chân, chỉ còn bộ xương. Sư dùng dao cắt quả tim ra, bưng lên rồi thị tịch.
Vị thị giả thấy vậy vô cùng kinh hãi, suốt đêm không ngủ. Sáng hôm sau mọi người đến xem, vẫn thấy sư bưng quả tim chắp tay ngồi kết già ngay thẳng, xoay mặt về hướng tây như lúc đầu. Các vết thương trên thân không có máu chảy, chỉ thấy sữa chảy ra ngưng đọng trên đá. Mọi người bèn chất đá kín xung quanh. Lúc đó nhằm ngày mười sáu tháng bảy, niên hiệu Tuyên Chính thứ nhất (578) đời Chu, sư thọ bốn mươi lăm tuổi.
Các đệ tử của sư có vị nổi tiếng ở đời, trình bày đầy đủ trong các truyện khác. Đệ tử thị giả sư là sa-môn Tuệ Tuyên, làu thông nội ngoại điển, có đủ tâm trí và tài lực, đau xót cho non cao đã đổ, không còn nơi kính ngưỡng; bi thương cho cây cầu đã gãy, không nơi nương tựa; bèn dựng tháp lập bia ghi lại công đức của sư. Sau đó có người học đạo, nghĩ đến bậc hiền nên vào núi kính lễ, vị này đi theo sườn núi hiểm trở, mới thấy sư để lại bài kệ trên vách đá với lời ghi:
- Lúc đầu ta muốn dùng máu để viết, bản ý không nghĩ rằng máu sẽ biến thành màu trắng, vì đó là máu từ bi của bồ-tát. Thế là ta dùng mực đen viết: “Những thiện nam, tín nữ xuất gia hay tại gia nào có duyên hãy ở lại mạnh khỏe, không nên lui sụt đạo tâm đối với Phật pháp. Nếu người nào lui sụt, tức là mất lợi ích lớn. Vì ba nhân duyên mà ta xả thân mạng này: Một là thấy thân này nhiều tội lỗi; hai là không thể hộ trì Phật pháp; ba là muốn mau gặp Phật và giống bậc thánh xưa”. Ta có kệ:

Phần 7

Thân này không lợi ích
Nhiễu loạn công đức người
Lóc thịt phơi trên đá
Rải thân khắp non, tùng
Trời, người, a-tu-la
Sơn thần và thụ thần
Có ai cầu Phật đạo
Đều thấy ta xả thân
Nguyện cho các chúng sinh
Nếu thấy hài cốt ta
Thuyền phiền não, sinh tử
Thảy đểu chìm biển sâu.
Nguyện cho các chúng sinh
Nghe việc ta xả thân
Thiên nhĩ được thành tựu
Chứng bồ-đề rốt ráo.
Nguyện cho các chúng sinh
Lúc nhớ nghĩ đến ta
Liền đủ các niệm lực
Đa văn và tổng trì
Báo thân này chấm dứt
Bốn đại đều rã tan
Rừng suối liền bặt dấu
Hang núi cũng im lìm
Thí khắp loài cầm thú
Cho đến những côn trùng
Ăn thịt và uống máu
Căn lành thêm đầy đủ.
Ta nguyện đời vị lai
Mau chứng thành Chính giác
Thân tâm được tự tại
Sẽ cứu độ muôn loài.
Thân này vốn bất tịnh
Như cái đãy đựng phân
Chín lỗ thường chảy ra
Như bờ đê rỉ nước.
Thân này thật đáng gớm
Không thể nhìn lâu được
Lớp da mỏng chứa máu
Đồ dơ dáy tràn đầy.
Thân này thật dơ uế
Giống như xác chó chết
Ba sáu thứ hợp thành
Không do biến hóa ra.
Quán xét thân hôi này
Bị vô thường giam hãm
Lui tới không trốn thoát
Khi gặp loài trùng kiến
Thân này khó bảo toàn
Có thân ắt luân hồi
Bị chó sói ăn thịt
Chết biến thành trùng giòi
Các nam nữ trời người
Tốt xấu hay giàu nghèo
Đều bị lửa thiêu chết.
Tạm có như ánh chớp
Sự chết xâm hại người
Là oán trong các oán
Tôi cho là cừu thù
Thệ dứt tận nguồn gốc.
Thân này không đáng ưa
Như một hòm rắn độc
Bốn đại cứ vây quanh
Trăm thứ bệnh bức bách
Đó gọi là kho tụ
Là rừng già, bệnh, chết
Thân tâm bị nóng đốt
Tạo quả nhiều tội lỗi.
Thân này vốn vô ngã
Do không được tự tại
Không thật, vọng chấp thật
Nơi phàm phu nương tựa
Nên mê muội lâu dài
Bị điên đảo sai khiến
Mất hết các căn lành
Chết giống loài súc sinh
Bỏ trăm nghìn thân mạng
Máu, sữa chảy thành biển
Xương chất thành núi lớn
Đời sau càng gấp bội
Chưa từng làm lợi ích
Luống chịu bao nhọc nhằn,
Chúng sinh không được
lợi Với pháp cũng vô ích
Nay chịu đau xả thân
Công đức nhiều vô lượng
Thệ nguyện không lui sụt
Xa lìa bốn điên đảo
Xả thân dơ uế này
Nguyện vãng sinh Tịnh độ
Một niệm hoa sen nở

Phần 8

Tại cõi Phật Di-đà
Mau thấy khắp mười phương
Chư Phật và hiền thánh
Xa lìa ba đường dữ
Quyết định đạt chính đạo.
Báo thân chứng ngũ thông
Tự tại bay đi khắp
Thụ thực bên cây báu
Chứng quả vị Vô sinh
Pháp thân được tự tại
Nhưng không lìa ba cõi
Diệt hết các đường ma
Hộ chính pháp làm đầu
Đầy đủ hạnh Thập địa
Giáo hóa khắp muôn phương
Công đức đủ tứ thắng
Được gọi là Pháp vương.
Nguyện xả bỏ thân này
Khiến mau có thần thông
Pháp thân được tự tại
Ở mãi trong các đường
Tùy chỗ làm lợi ích
Hộ pháp, cứu chúng sinh
Hậu nghiệp cần dứt hết.
Pháp hữu vi đều vậy
Ba cõi đều vô thường
Thời đến không do mình
Giết người và tự sát
Rốt cuộc cũng như thế.
Người trí không ưa thích
Phải nên suy nghĩ kĩ
Các duyên đã nhóm họp
Nghiệp dứt ngay lúc này.
96.3.7. Đời Tùy, Thích Đại Chí ở Lô sơn, Cửu Giang: Sư họ cố, người Sơn Âm, cối Kê. Ban đầu, sư xuất gia và thờ ngài Thiên Thai Trí Giả làm thầy. Nhìn dung mạo, ngài biết sư có ý chí siêu xuất. Mọi người thấy ngài Trí Giả quan tâm ưu ái, nên biết sư là bậc phi phàm, về sau, sư lập đạo tràng Tĩnh Quán ở phía nam ngọn Cam Lộ thuộc rặng Hoa sơn, tu hạnh đầu-đà. Sư ở một mình, khi nghe tiếng gầm của hổ thì không lẩn tránh mà lại đến gần, chúng liền tránh đi, không dám hại sư. Trải qua bảy năm, sư chuyên tu thiền định, không gián đoạn, về già, sư ở chùa Phúc Lâm tại núi này.
Đến niên hiệu Đại Nghiệp (605-617), triều đình hủy diệt Phật pháp, chư tăng ẩn trốn khắp nơi. Xót xa cho Phật pháp bị kiếp nạn, sư bèn thay đổi y phục, hủy hình hài, đầu đội khăn tang, đắp y vải thô, ba ngày ba đêm gào khóc thảm thiết trong điện Phật, chúng tăng trong chùa an ủi, can ngăn. Sư đáp:
- Buồn cho nghiệp ác nặng đến như thế! Ta sẽ xả thân này để làm sáng tỏ Thánh giáo.
Sư liền về Đông đô, dâng biểu: “Mong bệ hạ xiển dương Phật pháp, được như vậy thì bần tăng nguyện dâng một cánh tay ở Tung Nhạc cúng dường pháp và cũng để báo ân đất nước”.
Nhà vua đồng ý, ban lệnh thiết trai hội lớn, thông báo cho bảy chúng tập họp. Ba ngày không ăn, sư bước lên một đài lớn, nung một miếng sắt đỏ rực để đốt cánh tay. Khi cánh tay cháy, sư dùng dao chặt đứt, thịt nát lộ bày xương. Sư lại đốt xương cháy đen, sau đó dùng vải tẩm sáp quấn cánh tay rồi đốt, lửa cháy sáng rực khắp cả ngọn núi. Đại chúng nhìn thấy việc tu khổ hạnh của sư, đều đau đớn thấu xương tủy, hai chân đứng không vững. Tuy lửa cháy mạnh mà tiếng nói và sắc mặt của sư không biến đổi, vẫn nói cười như không có gì; hoặc sư tụng kinh Pháp hoa, khen ngợi công đức của Phật, hoặc nói pháp cho đại chúng, ngôn từ thật ân cần, tha thiết. Sau khi cánh tay cháy hết, như lúc bước lên, sư an nhiên bước xuống đài, nhập định liên tục bảy ngày, rồi ngồi kết già thị tịch. Năm đó, sư bốn mươi ba tuổi.
96.3.8. Đời Đường, sa-môn Thích Hội Thông: Sư người Túc Xuyên, Vạn Niên Ngự, Ưng châu, lúc nhỏ thích sống cần kiệm, ưa dạo chốn sông núi, lấy việc nghiêm trì giới hạnh làm chí nguyện. Sư ẩn cư tại hang Báo Lâm, núi Chung Nam, khi tụng kinh Pháp hoa, đến phẩm Dược Vương bồ-tát bản sự, liền phát tâm xả thân. Từ đó, sư thấm chất củi và phát nguyện sẽ làm việc này.
Đến niên hiệu Trinh Quán cuối cùng (648), vào một đêm thanh vắng, sư vào rừng chất củi thành một cái hang, rồi vào trong đó ngồi tụng kinh Pháp hoa, khi đến phẩm Dược Vương bồ-tát bản sự thì châm lửa. Gió thổi lửa cháy rất mạnh, nhưng sư vẫn ngồi kết già ngay thẳng, tiếng tụng kinh vẫn rõ ràng. Lát sau, có luồng ánh sáng lớn màu trắng từ hướng tây nam bay vào đống lửa, thì sư mới ngã xuống. Đến sáng lửa mới tắt, đại chúng thâu lấy hài cốt của sư, rồi xây tháp và dựng bia.
96.3.9. Đời Đường, hai vị tì-kheo ni: Niên hiệu Trinh Quán thứ nhất (627), ở Kinh châu có hai chị em tì-kheo ni cùng tụng kinh Pháp hoa, họ khởi tâm nhàm chán thân này nên muốn xả thân. Họ tiết chế ăn mặc, siêng tu khổ hạnh, uống các loại dầu thơm, dần dần nhịn ăn ngũ cốc, sau đó bỏ hẳn, chỉ dùng hương mật, nhưng tinh lực vẫn đầy đủ, tâm trí sáng suốt. Hai vị nói với tất cả mọi người ngày giờ đốt thân.
Đến ngày mùng tám tháng hai, niên hiệu Trinh Quán thứ hai (628), hai vị làm hai tòa cao ở ngã tư đường lớn, dùng vải nhúng sáp quấn quanh từ chân đến đầu, chỉ chừa khuôn mặt. Lúc ấy mọi người nhóm họp rất đông, ca ngợi tán thán. Khi tụng kinh Pháp hoa đến đoạn bồ-tát Dược Vương đốt thân cúng dường, người chị lấy lửa châm đỉnh đầu người em, người em lại dùng lửa châm đỉnh đầu người chị. Trong đêm thanh vắng hai ngọn lửa cháy sáng cùng lúc. Lửa cháy xuống đến mắt thì tiếng tụng kinh vẫn rõ ràng, dần dần cháy đến mũi miệng mới im lặng.
Sáng hôm sau, mọi người đồng nâng thân lên thì cùng lúc tan rã, xương cốt cháy hết, chỉ còn hai cái lưỡi. Mọi người vui mừng ca ngợi, xây tháp phụng thờ.
96.3.10. Đời Đường, Thích Huyền Lãm: Sư người Phòng Tử, Triệu châu, trụ tại chùa Hoàng Phúc, Tây Kinh, thường lấy việc ngồi thiền, tụng kinh, lễ Phật sám hối làm sự nghiệp. Mỗi khi thuyết pháp, sư thường nói:
- Tuy cùng là sự nghiệp giải thoát, nhưng tôi vẫn thệ nguyện muốn xả thân!
Đến đầu tháng tư, niên hiệu Trinh Quán mười tám (644), sư cởi hết y phục, gói trong một chiếc khăn, rồi giao cho chúng tăng trong chùa, chỉ mặc một Phú kiên y, âm thầm đến phía đông kinh đô, dừng bên phường Hồng Pha, bờ bắc sông Vị. Đến sáng, sư xuống sông Vị và xưng niệm danh hiệu Phật, lễ bái xong, gieo mình xuống chỗ nước xoáy, mọi người vớt lên, sư nói:
- Tôi thệ nguyện xả thân lâu rồi. Muốn học theo các bậc đại sĩ, việc khó xả mà có thể xả. Đó là hạnh chính nói trong các kinh, mong mọi người chớ ngăn cản mà trở ngại đến đạo nghiệp của tôi!
Biết ý sư đã quyết, nên mọi người vâng theo. Sư liền nhảy xuống sông, chắp tay niệm Phật, phát nguyên lớn rồi chìm xuống dòng nước xoáy. Ba ngày sau, thi thể của sư mới nổi, người trong thôn vớt lên, xây tháp dựng bia phụng thờ.
Chư tăng trong chùa lấy làm lạ, không thấy sư trở về, liền mở khăn ra mới thấy bức di thư ghi:
- Kính bạch ba đời mười phương chư Phật! Đệ tử Huyền Lãm, từ khi xuất gia đến nay đã được mười hai mùa hạ, tuy ở trong tăng chúng, nhưng nghiệp lớn chưa thành, nay muốn tu hạnh Đàn ba-la-mật như Tát-đỏa xả thân cho cọp đói, Thi-tì lóc thịt đùi cho chim bồ câu, làm cá lớn, núi thịt... trong kinh đều có ghi chép đầy đủ. Nay con nguyện theo bậc thánh trước, dám làm người đi sau. Tất cả y phục và vật dụng xin được xử lí theo lời Phật dạy!
Bấy giờ đại chúng mới hay sư đã xả thân thị tịch.
96.4. KỆ VƯƠNG TỬ TÁT-ĐỎA XẢ THÂN

Phần 9

Bài kệ trùng tuyên việc vương tử Tát-đỏa xả thân trong kinh Kim quang minh, các tạng Tống, Nguyên, Minh và bản Cao Li ghi khác nhau, rất khó đối chiếu dung họp. Vì thế ở đây chỉ đối chiếu và tổng hợp ba bản Tống, Nguyên, Minh để chép ra mà thôi. Kệ ghi:
Ta nhớ đời quá khứ
Vô lượng vô số kiếp
Xả bỏ thân yêu quí
Vì cầu đạo bồ-đề
Có lúc làm quốc vương
Hoặc lúc làm vương tử
Thường xả việc khó xa
Vì cầu đạo Bồ-đề.
Ta nhớ đời quá khứ
Ở tại nước lớn kia
Có một vị quốc vương
Tên Ma-ha La-đà
Vua ấy có ba con
Trong đó người con út
Là Ma-ha Tát-đỏa
Thường thực hành bố thí
Hai anh của Tát-đỏa
Người anh cả có tên
Là Đại Ba-na-la
Anh thứ tên Đại Thiên
Ba người cùng dạo chơi
Đến một khu rừng vắng
Thấy hổ mẹ mới sinh
Đói khát không thức ăn.
Lúc bấy giờ Tát-đỏa
Phát khởi lòng đại bi
Ta nay sẽ xả bỏ
Thân mạng quí trọng này
Hổ bị đói bức bách
Có thể trở lại ăn
Chính con mình sinh ra
Liền leo lên chỗ cao
Gieo mình xuống trước hổ,
Vì muốn các hổ con
Được bảo toàn tính mạng.
Lúc ấy cả đại địa
Và các ngọn núi lớn
Đồng loạt chấn động mạnh
Các loài thú kinh hãi
Hổ, sói và sư tử
Tranh nhau chạy tán loạn
Thế gian mất ánh sáng
Tối tăm chẳng thấy gì.
Lúc ấy hai người anh
Đang ở trong rừng trúc
Lòng vô cùng sầu não
Gào khóe rất thảm thiết
Dần dần đi tìm em
Bèn đến chỗ hổ đói
Thấy hổ mẹ, bảy con
Miệng dính đầy máu tươi
Lại chỉ thấy bộ xương
Và tóc, lông, móng, răng
Vung vãi khắp mặt đất
Máu chảy lan mọi nơi
Bấy giờ hai vương tử
Thấy được việc này rồi
Thân tâm bị mê ngất
Té ngã nhào trên đất
Hốt tro và bụi dơ
Tự thoa khắp thân mình
Lòng vô cùng hoang mang
Không còn nhớ điều gì.
Tùy tùng của Tảt-đỏa
Nhìn thấy việc như vậy
Lòng vô cùng đau xót
Kêu gào và khóc lớn,
Họ đi lấy nước lạnh
Rưới lên hai vương tử
Sau đó mới tỉnh lại
Rồi cả hai đứng lên.
Lúc vương tử xả thân
Ở ngay tại hậu cung
Phi, hậu và thể nữ
Quyến thuộc năm trăm người
Đang cùng nhau vui chơi
Lúc bấy giờ vương phi
Hai ngực bỗng tuôn sữa
Khắp nơi trên thân thể
Đau như bị kim chích
Lòng cảm thấy sầu lo
Giống như bị mất con.
Thế là bà lập tức
Đi nhanh đến chỗ vua
Buồn khóc và bày tỏ
Với âm giọng nhỏ nhẹ
Hôm nay xin đại vương
Hãy nắng nghe thiếp nói
Lửa sầu não hung dữ

Phần 10

Đã đến thiêu đốt thiềp.
Nay hai ngực của thiếp
Cùng lúc sữa chảy ra
Toàn thân rất đau đớn
Như bị kim nhọn chích
Thiếp cảm thấy việc này
Như báo điềm không lành
Lo sợ chẳng được gặp
Đứa con yêu của mình.
Nay dùng thân mạng này
Dâng lên cho đại vương
Xin vua mau sai người
Đi tìm con của thiếp.
Mộng thấy ba chim câu
Thiếp đang ôm trong lòng
Trong đó chim nhỏ nhất
Thiếp rất yêu thích nó
Bỗng chim ưng bay đến
Cướp chim ấy bay đi.
Khi mộng thấy việc này
Lòng vô cùng sầu não
Nay thiếp rất kinh hãi
Mạng sông chẳng còn lâu!
Xin bệ hạ sai người
Đi tìm con của thiếp.
Lúc bấy giờ vương phi
Nói những lời ấy xong
Đau buồn, tâm mê ngất
Té ngã nằm trên đất.
Vua nghe nói như vậy
Lòng vô cùng sầu não
Bởi vì không gặp được
Đứa con mình yêu quí
Vua và các đại thần
Cùng bà con quyến thuộc
Tất cả đều nhóm họp
Đứng chung quanh đại vương
Khóc la thật thảm thiết
Chấn động cả đất trời.
Lúc bấy giờ trong thành
Tất cả những người dân
Nghe tiếng khóc than này
Kinh hãi chạy ra ngoài
Mọi người cùng hỏi nhau
Hôm nay vương tử út
Đang còn sống khỏe mạnh
Hay là đã chết rồi?
Vị vương tử chết rồi
Như một vị đại sĩ
Thường nói lời nhu hòa
Được mọi người thương yêu
Nay khó có thể gặp.
Đã có rất nhiều người
Vào rừng tìm vương tử
Nhất định không bao lâu
Sẽ có tin đưa về.
Lúc bấy giờ mọi người
Cứ hoang mang như thế
Lại bi thương khóc gào
Buồn động đến thần linh.
Lúc bấy giờ đại vương
Từ chỗ ngồi đứng dậy
Lấy nước vẩy vương phi
Hồi lâu mới tỉnh lại
Bà giữ lòng an định
Lại hỏi nhỏ đại vương
Hôm nay con của thiếp
Còn sống hay đã chết?
Lúc bấy giờ vương phi
Nhớ đến người con yêu
Lại càng thêm sầu khổ
Lòng không chút nguôi ngoai.
Đáng tiếc, con của ta
Dung mạo rất xinh đẹp
Tại sao trong bỗng chốc
Bỏ ta mà mạng chung
Sao ta không chết trước
Để phải thấy các việc
Vô cùng đau khố này.
Vương tử dung mạo đẹp
Như hoa sen tinh khiết
Ai hủy hoại thân con
Khiến mẹ con li biet
Lẽ nào do ngày xưa
Ta gây nhiều cừu oán
Do nghiệp duyên đời trước
Mà giết chết con sao ?
Bị gặp tai họa này?
Thà khiến cho thân ta
Tan nát thành tro bụi
Không nỡ để con yêu

Phần 11

Mất thân mạng thế này.
Trong mộng ta đã thấy
Được điềm báo như vậy
Chỉ vì ta vô tình
Mới chịu nỗi khổ này.
Ta mộng thấy răng rụng
Hai vú cùng chảy sữa
Nhất định đó là điềm
Mất đứa con yêu quí
Khuôn mặt con của ta
Sáng ngời như trăng tròn
Chẳng lẽ trong một sớm
Mộng thấy ba chim câu
Chim cắt bắt một con,
Trong ba người con đó
Chắc chắn mất một người.
Lúc bấy giờ đại vương
Liền nói với vương phi
Ta sai các đại thần
Và tất cả quan binh
Đi khắp cùng mọi nơi
Để tìm con của mình
Nàng chớ quá đau buồn!
Vua an ủi phi rồi
Liền chuẩn bị xa giá
Cùng ra khỏi cung điện
Lòng vô cùng sầu não
Do đau khổ bức bách
Tuy ở giữa mọi người
Mà dung nhan tiều tụy
Liền đi ra khỏi thành
Tìm đứa con yêu quí.
Lúc ấy có nhiều người
Cũng đi theo sau vua
Khóc gào đất chấn động.
Vua ra khỏi thành rồi
Nhìn quanh khắp mọi nơi
Tìm kiếm con của mình
Sầu não, tâm tán loạn
Không biết ở nơi đâu
Sau đó thấy từ xa
Có một người đi lại
Trên đầu lấm đất bụi.
Y phục nhuốm máu tươi
Tro phân dính khắp người
Khóc than mà chạy đến
Đã thấy cảnh như vậy
Vua Ma-ha La-đà
Lòng lại càng sầu lo
Ngẩng đầu lên kêu gào
Trách trời mà than khóc.
Thấy đại thần thứ nhất
Vội vàng chạy gấp đến
Tâu trình đại vương rằng
Xin vua chớ đau buồn
Các vương tử vẫn còn
Không lâu đây sẽ đến
Cho ngài được gặp mặt.
Trong khoảng chừng chốc lát
Đại thần thứ hai đến
Thấy vua quá sầu não
Dung mạo rất tiều tụy
Mặc y phục dơ bẩn
Toàn thân lấm bụi đất
Vị đại thần liền tâu:
Đại vương hãy nên biết
Một vương tử đã chết
Hai vương tử tuy còn
Nhưng vô cùng sầu khổ.
Bởi vương tử thứ ba
Thấy hổ mẹ mới sinh
Bị đói đã bảy ngày
Sợ lại ăn con mình
Vương tử khởi tâm bi
Phát thệ nguyện rộng lớn
Sẽ độ khắp chúng sinh
Ở trong đời vị lai
Được chứng quả Bồ-đề,
Liền trèo lên nơi cao
Gieo mình xuống trước hổ
Hổ bị đói bức bách
Liền đến ăn vương tử
Tất cả máu và thịt
Hổ đều ăn hết sạch
Chỉ còn lại bộ xương
Vung vãi khắp trên đất.
Lúc bấy giờ đại vương
Nghe đại thần nói thế
Tâm trí càng mờ mịt
Bất tỉnh ngã trên đất
Lửa sầu não cháy mạnh
Như thiêu đốt toàn thân

Phần 12

Các đại thần, quyến thuộc
Đều cũng giống như thế
Lấy nước vẩy lên vua
Một hồi lâu mới tỉnh
Lại ngồi dậy ngẩng đầu
Gọi trời mà than khóc.
Đại thần thứ ba đến
Tâu với đại vương rằng:
Thân đi vào trong rừng
Gặp hai vị vương tử
Họ vô cùng sầu não
Khóc than rất thảm thiết
Tâm ý đã mê muội
Mê ngất nằm trên đất
Thần vội đi tìm nước
Rưới lên hai vương tử
Một hồi lâu mới tỉnh
Lại nhìn quanh khắp nơi
Như thấy lửa cháy tràn
Đỡ vương tử đứng dậy
Nhưng liền ngã trên đất
Ngang đầu lên than vãn
Kêu trời mà gào khóc
Bỗng nhiên lại ca ngợi,
Công đức lớn của em!
Lúc bấy giờ đại vương
Vì mất con yêu quí
Lòng vua sinh mê muội
Khí lực bị yếu dần
Khóc than rất sầu não.
Vua lại khởi ý niệm:
Vương tử út của ta
Được ta yêu quí nhất
Bị quỉ vô thường cướp,
Hai đứa con trai lớn
Nay tuy vẫn còn đó
Nhưng bị lửa sầu não
Thiêu đốt chẳng biết gì
Có thể do việc này
Mà lại mất mạng căn.
Nay ta phải gấp rút
Nhanh đến khu rừng kia
Để đón các người con
Đưa trở về hoàng cung.
Phu nhân đi phía sau
Lòng sầu khổ bức bách
Tim gan như vỡ nát
Có thể bị mất mạng.
Khi thấy hai vương tử
Bà an ủi khuyên nhủ
Mới có thể giữ mạng
Sống thọ thêm nhiều năm.
Thế là vua La-đà
Liền cưỡi voi quí hiếm
Cùng với các thị vệ
Hướng về khu rừng kia
Lúc đang đi trên đường
Lại gặp hai vương tử
Đang kêu trời, đạp đất
Gọi tên của em mình.
Vua tiến lên phía trước
Ôm lấy hai vương tử
Kêu khóc thật thảm thiết
Trên đường trở về cung
Vua bảo hai vương tử
Mau đến hỏi thăm mẹ
Đức Phật bảo thụ thần
Nay ông nên biết rằng

Vị vương tử Tảt-đỏa
Xả thân cho hổ ăn
Hôm nay chính là Ta.
Vị đại vương La-đà
Nay chỉnh là vua cha.
Vị vương phi thuở ấy
Nay chính là Ma-gia.
Vị vương tử thứ nhất
Nay chính là Di-lặc.
Vị vương tử thứ hai
Nay chính là Điều-đạt.
Con hổ mẹ lúc ấy
Nay chính là Cù-di.
Bảy hổ con chính là
Xá-lợi-phất, Mục-liên
Và năm vị tì-kheo.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục