Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 93 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT

11/01/2016

QUYỂN 93 Quyển này có một chương uống rượu ăn thịt. 93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT 93.1. LỜI DẪN Uống rượu là mở toang cánh cửa buông lung, các Đức Phật biết rõ đó là gốc khổ. Vì thế nên tránh những quán rượu, lìa bỏ những...

PUCL QUYỂN 93 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT
Phần 1

QUYỂN 93
Quyển này có một chương uống rượu ăn thịt.
93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT

93.1. LỜI DẪN
Uống rượu là mở toang cánh cửa buông lung, các Đức Phật biết rõ đó là gốc khổ. Vì thế nên tránh những quán rượu, lìa bỏ những buổi hội hè, xa bạn say, gần bạn pháp, ra khỏi cửa tối tăm, bước vào nơi sáng sủa.
Ăn thịt là đập nát hạt giông đại từ, các Đức Phật biết rõ đó là nhân sát sinh. Vì thế nên từ bỏ chất tanh hôi, để giữ sạch thân khẩu; ăn rau quả, để lắng tâm thần; tạo nhân tốt lành, mong được quả trường thọ.
Sách Lễ kí ghi: “Chỉ muốn thấy chúng sống, không nỡ nhìn chúng chết; nghe tiếng chúng kêu, không nỡ ăn thịt”. Đây cũng là ý nghĩa không giết hại vậy.
Người ăn thịt, uống rượu thì không khác gì lang sói, cầm thú; cũng chính là giết hại quyến thuộc của mình, uống máu ăn thịt người thân, gây thù kết oán, nhiều kiếp không có ngày ngừng dứt.
Luận Bà-sa ghi: “Có một người nữ năm trăm đời giết hại sói con, sói con cũng năm trăm đời ăn thịt con bà. Lại có người nữ khác năm trăm đời thường giết ma, ma cũng năm trăm đời lấy mạng bà”.
Thế mới biết, chúng sinh luân hồi trong sáu đường, chịu biết bao nhiêu oán báo, có khi làm thầy có lúc làm cha mẹ, anh em, chị em, con cháu, bạn bè. Nay mang thân phàm phu không có đạo nhãn, không thể phân biệt, nên ăn thịt lẫn nhau mà không hề hay biết.
Con vật ấy có tính linh, nên khi ăn thịt nó, nó sinh tâm sân hận, kết thành oán thù. Dần đến, từ chỗ cha mẹ, bạn bè thân thiết bỗng biến thành thù hận. Những việc như thế không đáng suy nghĩ sao? Chỉ vì hưởng chút vị ngon ngọt trong phút chốc nơi đầu lưỡi mà thân thuộc mãi mãi thành kẻ thù. Thật đau lòng không thể nói!
Kinh Niết-bàn ghi: “Tất cả thịt đều không được ăn; thậm chí thịt của con vật tự chết còn không được ăn. Thịt của con vật tự chết còn không được ăn, huống gì chính mình giết mổ”.
Kinh Lăng-già ghi:
Vì lợi giết chúng sinh,
Dùng tiền mà mua thịt,
Hai nghiệp đều bất thiện
Chết đọa ngục Kêu Gào.
Thế nào là dùng tiền mua thịt? Nếu trên đất liền giăng lưới bắt thú, dưới nước bủa lưới bắt cá, thì đó là dùng lưới để đánh bắt lấy thịt. Còn như dùng tiền mua thịt của người đồ tể, thì gọi là dùng tiền mua thịt. Nếu người ấy không dùng tiền mua thịt, thì cũng quen theo ác luật nghi mà đánh bắt giết hại chúng sinh. Hoặc là người ấy chỉ làm thịt cho mình ăn; hoặc đế dành cho người khác ăn, đã dành cho người khác ăn, thì những người ăn thịt ấy há không có phần giết hại ư? Sao còn nói: “Tôi không sát sinh”. Điều này rõ ràng trái với kinh văn, dứt giống từ bi, bị ngăn che không thấy được Phật.
93.2. UỐNG RƯỢU
* Lời bàn
Giáo pháp của Phật có Quyền giáo và Thật giáo. Quyền giáo là giáo pháp dẫn dụ theo thứ lớp, như cho phép phạm tội nhẹ để tránh tội nặng, nên lúc đầu cho là không phạm. Nhưng nếu xét về lý chướng thì hễ uống rượu là phạm. Căn cứ vào Thật giáo, tội nhẹ, tội nặng đều cấm; trước sau đều không phạm mới được gọi là trì giới.
Đầu tiên, nói theo Quyền giáo.
Kinh Vị tằng hữu ghi: “Bấy giờ, thái tử Kì-đà nghe Đức Phật nói quả báo không cùng tận của pháp thập thiện đạo liền quỳ gối, chắp tay, bạch Phật:
- Xưa đức Thế Tôn dạy con thụ trì năm giới, nhưng nay con muốn xả. Vì sao? Trong năm giới, giới uống rượu khó giữ, nên con sợ phạm tội!
Đức Phật hỏi:
- Khi uống rượu ông có làm gì ác không?
Kì-đà thưa:
- Những nhà cường hào trong nước thường thay nhau bày tiệc rượu, con cũng cùng họ uống ăn vui vẻ; do vui vẻ, nên không làm ác. Vì sao? Khi uống rượu, con nghĩ đến giới, nên không buông lung. Cho nên, tuy uống rượu mà không làm ác!
Đức Phật bảo:
- Quý thay! Quý thay! Này Kì-đà! Nay ông đã được trí tuệ phưong tiện. Nếu người thế gian đều như ông thì dù uống rượu suốt đời, có gì là ác? Người thực hành như vậy thì được phúc mà không có tội. Nếu người uống rượu không tạo nghiệp ác, tâm luôn hoan hỷ, thì không khởi phiền não; nhờ tâm thiện nên được quả báo thiện. Giữ năm giới như thế thì có lỗi gì! Uống rượu mà nhớ nghĩ đến giới thì phúc càng tăng. Vì vậy, trước đã giữ năm giới, nay thụ thêm thập thiện, được công đức gấp bội quả báo của thập thiện.
Lúc ấy, vua Ba-tư-nặc bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Như lời Phật dạy, khi tâm hoan hỷ, không tạo nghiệp ác, gọi là thiện hữu lậu, điều ấy không đúng. Vì sao? Khi người uống rượu có tâm hoan hỷ; vì tâm hoan hỷ, nên không khởi phiền não; vì không khởi phiền não, nên không gây não hại; vì không hại vật, nên ba nghiệp thanh tịnh. Đạo thanh tịnh tức là nghiệp vô lậu.
Bạch đức Thế Tôn! Con nhớ xưa kia khi vào rừng săn bắn, quên dẫn theo người nấu ăn. Bấy giờ, con cảm thấy đói, gọi người dâng thức ăn, quần thần tâu: ‘Sớm mai khi đi, bệ hạ không ban lệnh dẫn theo người nấu, nên không có thức ăn’. Nghe nói vậy, con phóng ngựa về cung, ra lệnh dọn thức ăn. Lúc ấy, người nâu ăn tên là Tu-ca-la nói: ‘Tâu bệ hạ! Không có thức ăn sẵn, bây giờ mớỉ làm thức ăn.’ Khi ấy đói lả, con tức giận không kịp suy nghĩ, nên ra lệnh xử chém người ấy. Bề tôi nhận lệnh, cùng bàn với nhau: ‘Tìm khắp trong nước chỉ có người này là trung thành lương thiện, nay nếu giết đi thì không có người thứ hai làm giám trù hợp ý vua’.
Bạch Thế Tôn! Nghe truyền lệnh giết Tu-ca-la, phu nhân của con là Mạt-lợi vô cùng thương tiếc. Biết con đang đói, phu nhân sai bày đủ các món thịt, rượu ngon, rồi tắm gội bằng nước thơm đặc biệt, trang sức thân thể, dẫn các kỹ nữ đi đến chỗ con. Thấy phu nhân trang sức đẹp đẽ, lại dẫn theo các kỹ nữ và những món rượu thịt ngon, con lỉền nguôi giận. Vì sao?
Phu nhân Mạt-lợi thụ trì năm giới của Phật, nên không uống rượu, điều đó luôn làm con bực tức. Bỗng nhiên hôm nay mang rượu thịt đến chung vui, nên lòng Con được cởi mở. Con cùng phu nhân uống rượu, ăn thịt trỗi kỹ nhạc, vui vẻ khoái lạc, con giận liền vơi. Biết con đã nguôi giận, phu nhân sai thái giám giả truyền lệnh của con: ‘Bảo các ngoại thần chớ giết người nấu ăn’. Thái giám tuân lệnh.
Sáng hôm sau, con hối hận tự trách, buồn rầu không ăn, sắc mặt tiều tụy. Thấy vậy, phu nhân hỏi con:
- Vì sao bệ hạ buồn rầu? Người lo nghĩ điều gì?
Con trả lời:
- Hôm qua, do con đói bức bách, trẫm đã nổi giận, nên ra lệnh giết Tu-ca-la. Xét trong nước, không ai có thể nấu ăn hợp ý trẫm như Tu-ca-la. Vì thế trẫm hối hận, lo buồn.
Phu nhân cười nói:
- Tu-ca-la vẫn còn sống, xin bệ hạ chớ buồn!
- Con hỏi lại:
- Là thật hay là đùa?
Phu nhân đáp:
- Là thật, không dám đùa!
Nghe vậy, con sai cận thần gọi Tu-ca-la đên.
Sứ giả đi trong chốc lát thì cùng với Tu-ca-la vào cung. Khi thấy Tu-ca-la, con rất vui mừng, không còn lo buồn.
Vua lại bạch Phật:
- Phu nhân Mạt-lợi thụ trì năm giới của Phật, mỗi tháng ăn chay sáu ngày, vậy mà trong một ngày đã phạm hai giới uống rượu và vọng ngữ trong năm giới và sáu giới trong bát quan trai giới. Việc ấy thế nào? Những tội đã phạm là nhẹ hay nặng?
Đức Phật bảo:
Phần 2

- Phạm giới như thế là được công đức lớn, không có tội báo. Vì sao? Vì có lợi ích. Như trước đây Ta đã nói người tu thiện có hai hạng là thiện hữu lậu và thiện vô lậu. Những giới mà phu nhân Mạt-lợi đã phạm thuộc thiện hữu lậu. Những giới không phạm gọi là thiện vô lậu. Luận theo ngôn từ thì phá giới mà tu thiện gọi là thiện hữu lậu. Luận theo ý nghĩa thì niệm thiện khởi từ tâm đều là nghiệp vô lậu.
Vua bạch Phật:
- Thật đúng như lời Thế Tôn đã dạy: ‘Phu nhân Mạt-lợi phạm giới uống rượu mà không khởi ác ý, nên được cồng đức, chứ không có tội báo. Tất cả mọi người cũng lại như thế.’ Vì sao? Con nhớ gần đây, những nhà hào tộc, vương công thuộc dòng Sát-đế-lợi trong thành Xá-vệ nhân tranh chấp nhỏ mà dẫn đến oán thù lớn. Họ lập mưu dấy binh đánh nhau. Hai bên vốn là hoàng thân quốc thích, nên không ‘thể bắt giam xử trị. Vì thế họ đánh nhau mãi, không nghe lời khuyên can, nên con rất đau buồn.
Nhớ lại khi còn là thái tử, có lúc con oán hận đai thần Đề-vi-la, lòng thật khó nhẫn nổi, nên có ý giết hại. Lúc ấy, thái hậu ban cho rượu, con uống vào, tâm ý bình hòa. Con liền bảo trung thần đem rượu quý và các món ngon và truyền lệnh mời các hào tộc, quần thần và sĩ dân trong nước tập hợp lại để bàn việc lớn của quốc gia. Hai vị đại thần đang tranh chấp kia, mỗi bên cùng với năm trăm người thân, cũng nhận lời mời đều đến. Khi ấy, trên cung điện, con cho bày đại nhạc , lại sai trung thần mang vò lưu li sức chứa ba thăng đựng đầy rượu ngon. Ở trước mọi người, con uống một vò, rồi nói: ‘Nay bàn việc nước, thiết nghĩ cân phải đồng tâm, mỗi người nên dùng một vò thuốc hay này, sau đó hãy bàn việc’. Tất cả đêu tuân lệnh. Thế là, con cho trỗi đại nhạc. Mọi người vừa uống vừa nghe nhạc, trong lòng vui vẻ, nên quên thù hận. Như vậy, nhờ rượu mà dứt tranh chấp, được an bình. Đây há chẳng phải là công dụng của rượu ư?
Trộm nghĩ! Những người nghèo cùng, thấp hèn, nô bộc, tỳ nữ trong thế gian này, vào những ngày lễ, họ cùng nhau đến quán rượu, tụ tập uống rượu, trong lòng vui vẻ, nên không ai bảo mà mỗi người tự nhảy múa. Khi chưa uống rượu thì không có việc ấy. Thế nên biết, nhờ uống rượu nên trong lòng vui vẻ. Khi lòng vui vẻ phấn chấn thì không khởi ác ý; không khởi ác ý tức là thiện tâm; nhân đó nên thụ quả báo thiện. Di hầu uống rượu còn biết nhảy múa, huống nữa là người.
Như Đức Phật dạy làm thiện được quả báo thiện, làm ác gặt quả báo ác. Phu nhân Mạt-lợi vì đời trước làm nhiều việc thiện, nên nay được quả báo lành. Vì sao Thế Tôn lại dạy phu nhân thụ trì năm giới, mỗi tháng ăn chay sáu ngày? Trong sáu ngày trai, không được trang sức hương hoa, múa hát đàn ca; lại không được phép gần vua, không đắm sắc. Rốt cuộc bà đâu có làm gì mà gọi là công đức, há chẳng phải tự làm khổ sao?
Đức Phật bảo:
- Lời đại vương hỏi đúng lắm! Nhưng khi phu nhân Mạt-lợi còn trẻ, nếu Ta không dạy thụ trì giới pháp, tu tập trí tuệ, thì làm sao có được công đức như ngày nay để tự độ và độ đại vương? Như vậy, công đức ấy thuộc về ai?”.
* Lời bàn
Trên đây là trình bày sơ lược theo Quyền giáo còn theo Thật giáo, thì tội nhẹ, tội nặng đều không phạm mới gọi là trì giới. Cho nên, các Đức Phật biết lúc nào, xét căn cơ ra sao mà thông tắc. Thông tắc tức là tùy thời mà cho phép hay cấm ngăn, nhưng trước phải cân nhắc lợi hại.
Như vua Ba-tư-nặc muốn giết người nấu ăn, thái tử muốn hại cha mình, nhưng nhờ rượu mà quên giận, bảo toàn thân mạng người kia, tránh được tội trọng. Đó là nhờ tội nhẹ mà tránh được tội nặng không chịu tai ương, nhưng không phải là không có lỗi uống rượu, không mắc tội ở đời sau! Đừng thấy ở trước tạm cho uống rượu (phần Quyển giảo) rồi cho rằng tất cả đều như thế mà phạm giới; mọi người cần phải cân nhắc ý của mỗi giáo, lại quán sát đức hạnh của mình hơn hay kém, đã dự vào hàng thánh nhân chưa! Đối với vua Ba-tư-nặc và phu nhân Mạt-lợi, mà việc khai cấm đã không giống nhau rồi. Cho nên mọi người cần phải y cứ vào kinh văn, dầu mảy may cũng không phạm mới là quí nhất.
Cho nên, luật Tứ phần ghi: “Đệ tử của Ta, cho đến một giọt rượu nhỏ trên đầu ngọn cỏ cũng không được thấm vào miệng, huống là uống nhiều”.
Luận Thành thật ghi:
Hỏi: Uống rượu có phải là tội chính không?
Đáp: Không phải. Vì sao? Vì uống rượu không làm tổn hại chúng sinh, nhưng đó là nguyên nhân gây tội. Người uống rượu là mở cánh cửa bất thiện, trở ngại thiền định và các pháp thiện. Như trồng các loại cây ăn quả, nhất định phải có tường rào vây quanh. Cho nên biết, lỗi của rượu cũng như cây ăn quả không có tường rào.
Kinh ưu-bà-tắc ghi: “Người nào thích uống rượu, hiện đời dễ mất tiền tài, thân tâm nhiều bệnh, thường ưa đấu tranh, tiếng xấu vang xa, không còn trí tuệ, chẳng biết xấu hổ, sức khỏe suy kém, thường bị mọi người chê trách, không ai thích nhìn, không thể tu thiện. Đây là quả báo xấu hiện đời của việc uống rượu. Sau khi chết rơi vào địa ngục chịu nhiều thống khổ như đói khát... Đây là quả của nghiệp ác ở đời sau. Nếu được làm người, tâm thường cuồng loạn, không thể chuyên tâm tư duy pháp thiện. Vì nhân duyên xấu này làm cho tất cả vật chất của cải đều bị hủy hoại”.
Kinh Trường A-hàm ghi: “Người uống rượu có sáu lỗi: mất tiền tài, bị bệnh, ưa đấu tranh, tiếng xấu đồn khắp, dễ sân hận, trí tuệ tổn giảm”.
Luận Đại trí độ ghi: “Uống rượu có ba mươi lăm lỗi”.
Kinh Sa-di-ni giới ghi: “Không được uống rượu, không được nhấm rượu, không được nếm rượu, uống rượu có ba mươi sáu lỗi làm mất đạo đức, phá gia đình, nguy thân, hại mạng thảy đều do rượu; nghiêng đông ngã tây, nắm nam vin bắc, không thể tụng kinh, không kính Tam bảo, xem thường thầy bạn, bất hiếu cha mẹ, tâm ý tối tăm, đời đời ngu si, không gặp chính đạo, tâm không hiểu biết; vì thế, không được uống rượu. Muốn lìa năm ấm, năm dục, năm cái, chứng năm thần thông, vượt qua năm đường thì không được uống rượu”.
Kinh Tát-già Ni-kiền-tử có bài kệ:
Uống rượu tâm buông lung,
Hiện đời bị ngụ si,
Muôn việc đều quên hết,
Thường bị người trí chê,
Đời sau lại ngu độn,
Mất hết các công đức,
Vì vậy, người có trí,
Tránh xa lỗi uống rượu.
Luận Thập trụ bà-sa ghi:
Hỏi: Cho người rượu, không biết có phạm tội chăng?
Đáp: Người cho được phúc, nhưng người nhân không được uống.
Cho nên, luận ghi: “Vị bồ-tát đó vui vẻ sẵn sàng thí xả tất cả; nếu người cần ăn thì cho thức ăn, ngươi cần thức uống thì cho thức uống. Nếu cho rượu thì bồ-tát phải nghĩ: ‘Nay là lúc thực hành bố thí, nên tùy theo sở thích mà cho, nhưng sau phải tìm cách dạy họ lìa rượu để có trí tuệ, không còn buông lung’. Vì sao?
Vì pháp bố thí ba-la-mật cốt là làm người mãn nguyện. Bồ-tát tại gia cho rượu thì không phạm tội”.
Kinh Phạm võng ghi: “Nếu tự tay trao chén rượu cho người uống, thì bị quả báo năm trăm đời không có tay, huống gì tự uống. Cũng không được bảo người và tất cả chúng sinh uống rượu, huống gì tự mình uống”.
Kinh Ưu-bà-tắc ngũ giới tướng ghi: “Khi Đức Phật trú tại ấp Bạt-đà-la-bà-đề, nước Chi-đề, có con rồng dữ Yêm-la-bà-đề-đà thường hại người, không ai dám đến chỗ nó ở, voi ngựa không thể lại gần, các loài chim cũng không thể bay ngang qua, cho đến lúa chín cũng bị nó phá hết.
Khi ấy, trưởng lão tì-kheo a-la-hán Sa-ca-đà đi sang nước Chi-đề, dần dần đến ấp Bạt-đà-la-bà-đề. Sáng sớm hôm sau, trưởng lão đắp y, mang bát, vào làng khất thực, nghe ấp này có con rồng dữ, thường hại người, chim thú và tàn phá lúa chín. Sau khi khất thực xong, trưởng lão đến bên cội cây, gần nơi con rồng đang ở, trải tọa cụ và ngồi xếp bằng ngay thẳng. Rồng nghe mùi y phục, liền nổi giận, từ thân tuôn ra khói, trưởng lão Sa-ca-đà liền nhập tam-muội, dùng sức thần thông, từ thân cũng tuôn ra khỏi. Rồng càng giận dữ, trên thân phát ra lửa, trưởng lão lại nhập Hỏa quang tam-muội thân cũng phát ra lửa. Rồng tuôn mưa đá, trưởng lão biến mưa đá thành các thứ bánh, như bánh thích-câu, bánh tủy... Rồng nổi sấm sét, trưởng lão lại biến thành các loại Hoan hỷ hoàn. Rồng tuôn mưa cung tên, giáo mác, trưởng lão lại biến thành các loại hoa, như hoa ưu-bát-la, hoa ba-đầu-ma...

Phần 3

Rồng biến ra vô số rắn độc, rắn hổ mang, rít, sâu bọ... trưởng lão lại biến thành chuỗi hoa ưu-bát-la, chuỗi hoa chiêm-bặc...
Có bao nhiêu tài năng đều biến hiện hết, nhưng rồng dữ chẳng những không thắng được mà còn mất hết oai lực và ánh sáng. Biết rồng đã kiệt sức, không thế làm gì được, trưởng lão Sa-ca-đà biến thân nhỏ chui vào hai tai rồng ra từ hai mắt, rồi chui vào mũi ra từ miệng; lại ra vào lui tới trên đầu rồng, nhưng không làm thân nổ thương tổn.
Rồng thấy sự việc như thế, vộ cùng sợ hãi; vẩy trên toàn thân đều dựng đứng, trưởng lão:
- Con xin quy y tôn giả,
Trưởng lão bảo:
- Ngươi chớ quy y ta, nên quy y Đức Phật, thầy của ta.
Rồng thưa:
- Từ nay con xin quy y Tam bảo, nguyện trọn đời làm ưu-bà-tắc của Phật.
Sau khi thụ Tam quy, rồng trở thành đệ tử Phật, không bạo ác như trước nữa. Dân chúng, chim muông đều tụ tập nơi ấy, mùa màng không còn bị phá hoại.
Bấy giờ, các nước đều biết trưởng lão Sa-ca-đà đã hàng phục, cảm hóa rồng độc làm trở nên thuần thiện. Từ đó danh tiếng của trưởng lão vang xa, mọi người thiết trai tranh nhau mời thỉnh. Trong đó, một cô gái nghèo có lòng kính tín, thỉnh được trưởng lão. Cô ta dâng cúng trưởng lão món cháo tô nhũ. Khi trưởng lão dùng cháo sữa, cô gái suy nghĩ: ‘Sa-môn dùng món cháo sữa này, có thể sẽ lạnh bụng’. Thế là cô liền lấy rượu trắng dâng lên trưởng lão. Trưởng lão không xem kĩ mà vội uống, uống xong, trưởng lão thuyết pháp, rồi trở về chùa. Khi trưởng lão về đến cổng chùa, men rượu bộc phát, làm mê man, té nằm trên đất. Y Tăng-già-lê, đãy lọc nước, bình bát, gậy... mỗi thứ một nơi, thân ở một ngả, say khướt, không còn biết gì.
Lúc ấy, Đức Phật cùng với tôn giả A-nan đi đến, nhìn thây tì-kheo Sa-ca-đà, Đức Phật biết, nhưng vẫn hỏi:
- Ai vậy?
Tôn giả A-nan thưa:
- Bạch Thế Tôn! Đây là trưởng lão Sa-ca-đà.
Đức Phật liền bảo tôn giả A-nan:
- Ông hãy trải tòa, lấy nước và nhóm tăng tại đây.
Vâng lời Phật dạy, sâu khi làm xong, tôn giả A-nan liền bạch:
- Bạch Đức Thế Tôn! Chúng tăng đã nhóm.
Đức Phật biết đã đúng giờ, liền rửa chân, ngồi vào tòa rồi hỏi các tì-kheo:
- Các ông đã từng nghe thấy con rồng Yêm-la-bà-đề-đà hung dữ, ác độc không? Trước đây, không ai đến chỗ nó ở được, cho đến chim thú cũng không dám đến gần, vào mùa lúa chín bị phá hoại hết, nhưng nay Sa-ca-đà đã hàng phục, cảm hóa nó trở nên thuần thiện, chim thú có thể đến ở.
Trong đó, những người đã thấỵ thì thưa: thấy!’ Người đã biết thì thưa: ‘Đã biết!’ Phật lại các tì-kheo:
- Các ông nghĩ sao, nay thiện nam tử Sa-ca-đà này cổ thể hàng phục ễnh ương không?
Thưa:
- Không thể.
Đức Phật bảo:
- Bậc thánh uống rượu còn mất hết năng lực như thế, huống là phàm phu! Những lỗi như vậy đều do uống rượu. Từ nay về sau, nếu là đệ tử của Ta thì không được uống rượu, cho đến một giọt rượu nhỏ trên đầu ngọn cỏ cũng không được uống”.
Sau đó, Đức Phật dùng nhiều lời quở trách lỗi uống rượu.
Theo luật, nhân chuyện của trưởng lão Sa-ca-đà, Phật chế giới không uống rượu.
Hỏi: Không biết trên trời có rượu không?
Đáp: Thật không có rượu được nấu từ men, chỉ có rượu do nghiệp tạo ra.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Đêm nọ, các vị trời nam nữ cõi Dạ-ma cùng nhau vào hồ vui chơi, uống rượu trời không gây say, nên hiện tại thụ hưởng công đức an vui, có đủ sắc, hương, vị, xúc. Trong đó, có vị trời dùng chén ngọc để uống rượu, thụ dụng tô-đà có đủ sắc, hương, vị, xúc. Họ nghĩ:,‘Nước này là rượu, để cho ta uống'. Vừa nghĩ như vậy, thì cam lồ biến thành rượu, rượu này không gây say, nên họ càng uống vào, càng thêm khoái lạc. Nhờ sức thiện nghiệp, nên tâm hoan hỷ. Song chư thiên này do nghiệp lực của mình, nên chỉ thụ lạc như thế.
Bấy giờ, có con chim tên Thường Lạc, nhìn thấy chư thiên đang uống rượu tại sông Hoan Hỷ, liền nói kệ:
Chìm trong biển phóng dật,
Tham đắm các cảnh giới,
Rượu ấy làm mê tâm,
Vì sao lại uống rượu?
Là cảnh giới lửa thiêu,
Chẳng biết làm, không làm
Vườn rừng ươm lòng tham,
Vì sao lại uống rượu?
Chim Thường Lạc thấy chư thiên thường đến bờ sông uống rượu, nên nói bài kệ trên để cảnh tỉnh họ”.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Vua Diêm-la nói kệ quở trách người tội:
Rượu làm loạn tâm người,
Khiến họ như súc sinh,
Chẳng biết làm, không làm
Vì thế nên bỏ rượu.
Kẻ thường hay say rượu,
Chẳng khác gì người chết,
Người nào muốn sống lâu,
Người đó nên bỏ rượu.
Rượu là gốc tội lỗi,
Thường không làm lợi ích,
Rượu là cửa đường ác,
Khiến nơi nơi tối tăm,
Uống rượu đọa địa ngục,
Cũng đọa vào ngạ quỷ,
Tạo các nghiệp súc sinh,
Đều do lỗi uống rượu.
Rượu là độc trong độc,
Ngục dữ trong các ngục,
Bệnh hiểm trong các bệnh,
Người trí nói như thế.
Nếu người thường uống rượu,
Bất chợt lòng vui vẻ
Bỗng nhiên nổi sân hận
Vô cớ tạo nghiệp ác
Ngu si trong Phật pháp
Phá pháp thế, xuất thế
Như lửa đốt giải thoát
Tất cả đều do rượu.

Phần 4

Người có thể bỏ rượu
Thực hành đúng giới pháp,
Sẽ đến chỗ cao tột,
Không sinh cũng không tử
Hỏi: Không bệnh mà uống rượu thì phạm tội, bị bệnh cho uống rượu không?
Đáp: Theo luật Tứ phần, nếu người thật có bệnh, uống các loại thuốc khác không lành, dùng rượu làm thuốc thì không phạm.
Hỏi: Cho phép được uống bao nhiêu rượu?
Đáp: Kinh Văn-thù-sư-lợi vấn ghi: “Theo cách pha chế, thầy thuốc bảo dùng nhiều thuốc hòa vào rượu; tức là rượu ít thuốc nhiều thì được uống”.
Kinh Xá-lợi-phất vấn ghi: “Xá-lợi-phất bạch Phật:
- Thế Tôn đã nói uống rượu làm ngăn ngại đạo pháp, nên không được uống, uống rượu giống như ăn hạt rau đay, là phá giới, là mở cánh cửa buông lung. Vậy vì sao có việc: khi trước có vị tì-kheo trụ tại tinh xá trong vườn trúc ở Ca-lan-đà bị bệnh nhiều năm, nguy kịch sắp chết.
Tôn giả Ưu-ba-li thấy vậy hỏi:
- Thầy cần thuốc gì, tôi sẽ đi tìm. Cho dù đi khắp cõi người hay lên cõi trời, cho đến mười phương, chỗ nào có thuốc tôi sẽ đến lấy.
Tì-kheo thưa:
- Thứ thuốc tôi cần trái với giới luật, nên không tìm. Do đó mà bệnh đến nỗi này, thà mất thân mạng chứ không phạm giới.
Tôn giả Ưu-ba-li hỏi:
- Đó là thuốc gì?
Tì-kheo thưa:
- Tôi cần năm lít rượu.
Tôn giả Ưu-ba-li nói:
- Nếu vì bệnh thì Như Lai cho phép.
Tôn giả Ưu-ba-li liền xin rượu. Vị tì-kheo uống vào, bệnh lành hẳn, nhưng tì-kheo vẫn hổ thẹn cho rằng mình đã phạm giới, nên đến gặp Phật tha thiết sám hối. Phật thuyết pháp, vị tì-kheo nghe xong, hoan hỷ, liền chứng quả A-la-hán.
Nghe nói vậy, Đức Phật liền dạy tôn giả Xá-lợi-phất:
- Rượu có nhiều lỗi, mở cánh cửa buông lung. Uống rượu như ăn hạt rau đay, phạm tội chồng chất. Nhưng nếu vì trừ bệnh, thì không thuộc cấm giới đã nói ở trên”.
* Lời bàn
Không được nghe nói Phật tạm cho dùng mà trường hợp nào cũng uống. Phải thật bệnh nặng, nguy kịch sắp chết và đã dùng nhiều loại thuốc mà không lành, cấn phải có rượu hòa với thuốc uống mới lành, thì mới cho phép uống.
Gần đây thấy có người không hiểu biết, thân thể cường tráng, hàng ngày đi khắp nơi, không theo luật nghi, hễ có chút bệnh, liền khởi lòng tham, không giữ gìn đạo nghiệp, lại vọng dẫn kinh luật: “Phật cho phép bào chế thuốc, dùng vải tốt, y phục quý dâng cúng Phật và tăng”. Những người này mượn việc công để làm việc tư, lừa dối tăng tục. Cho nên, người trí giữ giới như giữ mạng sống, không dám trái phạm.
Kinh Tát-già Ni-kiền tử có bài kệ:
Rượu là gốc buông lung,
Không uống, ngăn đường ác,
Thà bỏ trăm nghìn thân,
Không hủy phạm giới pháp,
Thà để thân khô gầy,
Nhất định không uống rượu.
Giả sử hủy phạm giới,
Mà tuổi thọ trăm năm,
Không bằng chết tức thời,
Mà giữ trọn giới cấm.
Biết chắc là khỏi bệnh,
Ta vẫn không chịu uống,
Huống gì chưa biết rõ,
Bệnh khỏi hay không khỏi.
Khởi tâm dứt khoát này,
Trong lòng thật hoan hỷ,
Tức thấy được chân đế,
Mọi bệnh đều diệt trừ”.
Nên biết, sở dĩ chúng sinh mắc bệnh là do nhân tham, sân, ngã mạn gây nên; từ nhân đưa đến quả, rồi chuốc lấy khổ đau, chứ chẳng phải do không dùng thuốc rượu mà bệnh không lành.
Kinh Niết-bàn ghi: “Tất cả chủng sinh có bốn mũi tên độc là nhân của bệnh. Đó là tham dục, sân khuể, ngu si và kiêu mạn. Nêu đã có nhân bệnh thì chắc chắn sẽ phát bệnh; như các bệnh nóng phổi, hen suyễn, nôn mửa, mụn nhọt; loạn tâm, tiêu chảy, nấc cụt, đái dầm, đái rắt, tai đau, đau mắt nhức, no hơi đầy bụng, điên cuồng khô gầy, ma quỉ dựa dẫm. Nếu đã biết rõ gốc của những chứng bệnh thuộc về thân tâm như thế, thì chỉ cần dứt ác tu thiện, chắc chắn vĩnh viễn đoạn trừ quả khổ ba đời. Ngược lại, nếu không xét rõ lý này, mà dùng càn các thứ rượu thuốc trên đời để trị, thì bệnh ấy càng tăng, thật khó lành được”.
Kinh Tì-ni mẫu ghi: “Tôn giả Di-sa-tắc nói:
- Tì-kheo Sa-đề lúc nhỏ nhờ rượu mà nuôi lớn thân mạng. Sau đó, ông xuất gia; vì không được uống rượu, nên tứ đại không điều hòa. Các tì-kheo thấy vậy bạch Phật.
Đức Phật dạy:
- Có bệnh thì cho phép ngửi mùi rượu trên vò, nếu hết bệnh rồi thì không được ngửi. Nếu chưa lành thì cho phép dùng rượu lau thân; vẫn không lành thì cho phép dùng rượu trộn với gạo làm bánh để ăn; vẫn không hết bệnh thì cho ngâm mình trong rượu”.
Luận Tân bà-sa ghi: “Như khế kinh nói: ‘Khi : tôn giả Xá-lợi-phất ở trong một khu rừng tại nước Kiều-tát-la, có một ngoại đạo xuất gia với mục đích nuôi sống thân mạng cũng ở trong khu rừng ấy, gần
chỗ tôn giả. Cách đó không xa có các thôn xóm, mỗi khi người dân mở lễ hội thì thường kéo dài bốn tháng, ngoại đạo đi khắp nơi, ăn thịt heo và tha hồ uống rượu, còn lấy trộm thức ăn thừa mang về. Trên đường đi, gặp tôn giả Xá-lợi-phất ngồi nơi gốc cây. Do say rượu, nên ngoại đạo khởi tâm khinh miệt, ông ta suy nghĩ: ‘Nay ta và người ấy đều xuất gia, nhưng ta thì giàu sang, còn người ấy thì nghèo hèn’. Ngoại đạo liền đi đến chỗ tôn giả, nói kệ:
Ta đã no rượu thịt,
Lại lấy trộm đem về
Cỏ cây cùng đất đá,
Đều xem như vàng ròng.
Nghe vậy, tôn giả Xá-lợi-phất nghĩ: ‘Kẻ ngoại đạo chết giẫm này thật không biết xấu hổ, lại còn ngang ngược nói bài kệ như thế. Ta nay cũng nên đáp lại’. Nghĩ xong, tôn giả nói:
Ta thường no vô tưởng,
Hằng trụ không định môn,
Cỏ cây cùng đất đá,
Đều xem như đàm dãi ”.
Tôn giả Xá-lợi-phất phát ra âm giọng như tiếng rống sư tử mà thuyết Tam giải thoát môn. Trong bài kệ này, câu đầu nói về Vô tướng giải thoát môn, câu thứ hai nói về Không giậi thoát môn, hai câu cuối nói về Vô nguyện giải thoát môn.
93.3. ĂN THỊT

Phần 5

93.3.1. Xét theo quyền thật
Pháp này cũng có Quyền và Thật.
Về Quyền giáo, căn cứ vào luật tạng, lúc đức Thế Tôn mới thành đạo, vì muốn độ hàng phàm phu xấu ác, chưa kham nổi lý sâu mầu, nên trong Tiệm giáo, Ngài nói ba thứ tịnh nhục là không thấy, không nghe, không nghi vì mình mà giết. Tức chim thú già tự chết đều cho phép dùng. Trước thô sau tế, giúp dần lìa xa tội lỗi, đây là ý thú biệt thời, là giáo thuyết bất liễu nghĩa. Nếu là Thật giáo, thì từ lúc mới thành đạo cho đến đêm nhập niết-bàn, Đức Phật thiết tha dặn dò, trước sau chẳng cho phép ăn thịt.
Kinh Niết-bàn ghi: “Tất cả chúng sinh nghe mùi thịt đều kinh hãi mà khởi ý tưởng sợ chết. Loài sống ở đất liền, dưới nước hay trên không trung thấy người ăn thịt đều bỏ chạy và nói: ‘Người này là oán thù của chúng ta’. Vì thế, bồ-tát không nên ăn thịt. Nhưng vì độ chúng sinh mà thị hiện ăn thịt. Tuy hiện ăn thịt, nhưng kỳ thật chẳng ăn. Chỉ vì chúng sinh chấp vào sự thấy mà chẳng hiểu ý Như Lai, vì phương tiện mà nói, chấp chặt vào giáo tì-ni giới hạn, bảo Phật cho ăn ba thứ tịnh nhục, rồi phỉ báng, cho Như Lai cũng ăn thịt. Kẻ ngu si kia phạm tội lớn, mãi mãi đọa vào nơi không có lợi ích, cũng không được gặp các thánh đệ tử trong hiện tại và vị lai, huống là được gặp các đức Như Lai!
Này Đại Tuệ! Các vị thanh văn thường nên ăn những thứ gạo, bún, dầu, mật... có thể nuôi sống thân mạng một cách thanh tịnh. Những vật chứa nuôi phi pháp, thụ nhận phi pháp, Ta nói là bất tịnh còn không cho ăn, huống gì cho ăn máu thịt bất tịnh? Không chỉ ăn thịt mới phá điều thiện, ngăn đường đạo, mà hành tà mạng, dối gạt để mưu cầu sự sống cũng đều chướng ngăn thánh đạo”.
Kinh Văn-thù-sư-lợi vấn ghi: “Nếu con vật ấy bị giết vì mình thì không được ăn. Còn nếu là thịt của thú trong rừng tự chết, thì được ăn; nhưng trước khi ăn, phải đọc thần chú này ba lần: Đa-điệt-tha (như thị), a-nại-ma, a-nại-ma (vô ngã, vô ngã), a-thị-bà-đa, a-thị-bà-đa (vô thọ mạng, vô thọ mạng), na-xá na-xá (thất thất), đà-a đà-a (thiêu thiêu), bà-phất bà-phất (phá phả), tăng-kha-lật-đa-nhị (hữu vi), tá-ha (trừ sát khứ)"
Có trường hợp cơm cũng không được ăn. Tại sao? Nếu không có chính tư duy thì cơm cũng không nên ăn, huống gì ăn thịt?
Đức Phật bảo Văn-thù-sư-lợi:
- Vì chúng sinh không có lòng từ bi, ưa sát hại, nên cấm ăn thịt. Nếu không có tâm sát hại, có đại từ bi, vì muốn giáo hóa tất cà chúng sinh mà ăn thịt thì không có tội”
Đây cũng là giáo pháp thời kỳ đầu tạm chế như vậy. Tức không được ăn thịt những con vật bị giết vì mình. Nếu chúng tự chết, tưởng như cỏ cây thì cho ăn. Khi ăn phải sinh lòng hổ thẹn, tụng chú rồi mới được ăn. Thời gian sau, khi đã chế định cấm hẳn, bất luận là thịt con vật tự chết hay chim thú già chết đều không được ăn. Như kinh Vị tằng hữu cho uống rượu, kinh Văn-thù-sư-lợi vấn cho ăn thịt... Xét các kinh này là Như Lai lúc mới thành đạo, vì thấy căn cơ chúng sinh chẳng thể đoạn ăn thịt ngay, nên không cấm ngay mà phải khai dần, chế dàn. về sau, biết căn cơ chúng sinh thuần thục bèn đoạn hẳn, cấm hẳn, mảy may cũng không cho.
Nếu chẳng nêu ra căn nguyên, thì kẻ ngu chỉ đọc kinh này, liền mặc tình hủy phạm, chăng hiểu việc cho hay ngăn, thông hay tắc đều khác nhau. Do đó, ghi ra những đoạn văn tiệm và đốn này để mọi người biết tường tận, ngõ hầu dứt hẳn nghiệp ác, thành tựu Phạm hạnh.
Hỏi: Rượu là thuốc điều hòa tinh thần, thịt là món ăn ngon cứu đói, xưa nay ai cũng ưa thích, sao lại chê mà không ăn? Giả sử Phật giáo nghiêm cấm như thế, vậy khi gặp lúc tang chế hay lễ tiết, hoặc quốc vương sắc ban -ăn theo thế tục, chúng tăng dám kháng cự, không ăn được sao?
Đáp: Tham tài hiếu sắc là điều trượng phu khinh bỉ, ham ăn thích đẹp là điều kẻ sĩ ghét chừa. Dứt tình theo đạo, ấy chuyện bậc hiền ngợi khen, tiết dục mến đức là việc bậc hiền triết ca tụng. Huống là thịt do giết mạng, rượu hay làm loạn tâm, không ăn là phải lẽ, đâu thể cho là sai quấy. Dù gặp bức ép cũng phải dứt, tuy trái mệnh vua, nhưng lại thuận tâm Phật.
Hỏi: Thịt do hại mạng mà có, nên đoạn là điều đương nhiên, còn rượu thì chẳng tổn hại sự sống, vì sao cấm hẳn? Giả sử không tổn hại mà cho là tội, không lỗi lầm mà nói là quấy, thì ăn cơm, canh cũng phạm tội. Nhưng thật không phải thế, vì sao lại chỉ cấm rượu?
Đáp: Tùy việc mà chế giới, theo tâm mà luận tội. Tính chất của thịt là do sát hại, nên ăn vào liền phạm tội. Tính chất của rượu tuy chẳng gây tổn hại, nhưng lỗi ở chỗ che mờ lí trí mà gây ra tội lỗi. Như vậy, tội lỗi phát sinh là do rượu, dứt rượu thì tội tiêu trừ. Vì thế mà ngăn cấm, chứ chẳng phải nói tính chất của rượu là tội.
Hỏi: Tội có tính tội và già tội, đặc tính của rượu hay sinh tội. Nay người có tửu lượng cao, có thể uống mà không say, lại chẳng loạn tâm, cũng không gây tội, người này uống rượu, theo lẽ không mắc tội. Thế thì có thể uống mà không lỗi, vì không chuốc lấy tội, vậy có liên quan gì đến việc dứt rượu mà chế thành giới thiện? Có thể nói: Người tửu lượng cao cũng được gọi là trì giới, uống ít mà say thì có tội lớn, được không?
Đáp: Ngăn tội ngừa lỗi vốn là sinh thiện. Giới là sinh thiện, tức dừng mọi điều xấu ác của thân và khẩu. Lìa tất cả các duyên về rượu, dứt cả tính tội và già tội thì mới được gọi là giới thiện. Người có tửu lượng cao đã không loạn tâm, chưa phá giới khác, đúng lý là chẳng phạm tội. Nhưng chỉ vì uống rượu là nguyên nhân sinh ra tội, ngoài thì trái điều Phật cấm, trong thì duyên tạo phạm tội, cho nên vẫn gọi là có tội. Nếu vì chống trái mà không uống thì vẫn chưa gọi là giữ giới!
93.3.2. Mười lỗi của việc ăn thịt
Trước hết, nếu nói thật có tổn hại thì kinh dạy người ăn thịt có mười lỗi:
1. Tất cả chúng sinh từ vô thỉ đến nay đêu là quyến thuộc của mình, nên chẳng nỡ ăn thịt.
Kinh Nhập lăng-già ghi: “Ta quán chúng sinh luân hồi trong năm đường, cùng sinh dưỡng trong vòng sinh tử, thay nhau làm cha mẹ, anh em, chồng vợ, hoặc nam hoặc nữ, lục thân quyến thuộc, nội ngoại, hoặc sinh vào đường khác, dù thiện hay ác cũng thường làm quyến thuộc. Vì nhân duyên ấy, ta thấy chúng sinh đều là quyến thuộc, lại ăn thịt nhau; do tham mùi thịt mà ăn thịt lẫn nhau, sinh tâm sát hại, tăng trưởng nghiệp khổ, trôi lăn trong sinh tử không thể ra khỏi.
Khi nghe Đức Phật nói vậy, các quỉ dữ la-sát nghe xong, đều bỏ tâm ác, không còn ăn thịt, lần lượt khuyên nhau phát tâm bồ-đề, bảo vệ chúng sinh như bảo vệ mình, không ăn tất cả các loại thịt, rồi kêu khóc thống thiết, bạch Đức Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Như vậy chúng sinh trong sáu đường bị con ăn thịt đều là người thân của con. Giờ đây, con mới biết ăn thịt chúng sinh là oán thù lớn, dứt hạt giống đại từ, thêm lớn nghiệp bất thiện, là gốc khổ đau. Từ hồm nay, con không ăn thịt và quyến thuộc của con cũng không được ăn. Đệ tử của Như Lai, vị nào không ăn thịt thì con sẽ ngày đêm gần gũi ủng hộ; vị nào ăn thịt, con sẽ làm cho người đó không được lợi ích.
Này Đại Tuệ! Quỷ dữ la-sát thường ăn thịt, nhưng nghe Ta nói như vậy, liền phát lòng từ, không ăn thịt, huống là đệ tử của Ta tu hành thiện pháp mà ăn thịt ư? Nên biết, nếu ăn thịt, sẽ trở thành oán thù lớn của chúng sinh, đoạn hạt giống thánh của Ta.
Này Đại Tuệ! Nếu đệ tử của Ta đã nghe dạy mà không quán sát kỹ, lại ăn thịt, nên biết đó là hạng chiên-đà-la, chẳng phải là đệ tử của Ta, Ta chăng phải là thầy của người đó”.
2. Người ăn thịt, chúng sinh thấy đều kinh sợ, nên không được ăn.
Kinh Nhập lăng-già ghi: “Người ăn thịt, chúng sinh nghe mùi đều sợ hãi, bỏ chạy thật xa. Thế nên, bồ-tát tu hạnh như thật, vì hóa độ chúng sinh, không nên ăn thịt. Thí như chiên-đà-la, thợ săn, đồ tể, người bẫy chim, đánh cá... đi đến nơi đâu, chúng sinh vừa trông thấy từ xa, liền suy nghĩ: ‘Ta nay chết chắc, người này chính lạ kẻ đại ác, chẳng biết tội ác, giết mạng chúng sinh mong được lợi trước mắt. Vì muốn ăn thịt, nên họ đến đây tìm chúng ta, bây giờ chúng ta phải chết’.
Này Đại Tuệ! Do ăn thịt, nên chúng sinh trông thấy đều sợ hãi như thế.
Này Đại Tuệ! Tất cả chúng sinh sống trên mặt đất hay trong hư không, khi thấy người ăn thịt đều sợ hãi và nghi ngờ: ‘Ngày nay, ta chẳng biết là chết hay sống. Kẻ ác như thế chẳng có từ tâm, khác nào lang sói đi khắp thế gian tìm thịt để ăn, như trâu ăn cỏ, như bọ hung nhũi phân, chẳng biết no đủ. Thân ta là thịt, chính là thức ăn của họ, không nên gặp mặt, phải mau tránh xa; giống như người sợ la-sát’”.
3. Người ăn thịt phá hoại tín tâm người khác, do đó không nên ăn thịt.
Kinh Nhập lăng-già ghi: “Nếu người ăn thịt sẽ khiến chúng sinh mất hết tín tâm và cho người trong thế gian không đáng tin. Thế nên, người ăn thịt sẽ bị quả báo đoạn mất niềm tin của chúng sinh”
Vì vậy, Đại Tuệ! Bồ-tát vì bảo vệ tín tâm cho chúng sinh, không được ăn tất cả các thứ thịt. Tại sao? Vì người thế gian thấy có tì-kheo ăn thịt thì sẽ hủy báng Tam bảo: ‘Ai ngờ những sa-môn, bà-la-môn tu Phạm hạnh chân thật trong Phật pháp,

Phần 6

mà bỏ cách ăn của thánh nhân lại ăn thịt chúng sinh giống như la-sát thế sao!’. Cắt đứt pháp luân của Ta, đoạn tuyệt giống thánh, tất cả đều do lỗi ăn thịt.
Này Đại Tuệ! Đệ tử của Ta vì ngăn người ác hủy báng Tam bảo, còn không được nhớ nghĩ đến thịt, huống là ăn!”.
4. Người tu tập từ tâm và thiểu dục không nên ăn thịt.
Kinh Nhập lăng-già ghi: “Vì cầu ra khỏi sinh tử, nên bô-tát phải luôn nhớ nghĩ đến hạnh từ bi, thiểu dục tri túc, chán khổ thế gian, cầu mau giải thoát, lánh xa chốn náo nhiệt, đến nơi thanh vắng, ở rừng Thi-đà hay a-lan-nhã, ngồi tư duy một mình ở gốc cây hay gò mả, quán xét tất cả cảnh thế gian chẳng có gì đáng vui, quán tưởng vợ con như gông cùm, đền đài cung điện tợ lao ngục, trân bảo giống phân dãi, xem thức uống ăn như máu mủ. Khi thụ nhận thức ăn uống phải khởi tưởng như nuôi ung nhọt, để duy trì sự sống chuyên tâm nơi thánh đạo, chứ không vì tham ăn; bỏ hết rượu thịt, không ăn các thứ cay nồng, như hành hẹ, tỏi nén. Người như thế mới thật tu hành, xứng đáng được tất cả trời người cúng dường. Nếu không sinh tâm nhàm chán, xa lìa thế gian mà tham đắm rượu thịt cay nồng, thì không xứng đáng nhận vật cúng của tín thí”.
5. Người ăn thịt đều do quá khứ từng làm la-sát dữ, do tập khí nên tham thịt. Vì vậy đời này không nên ăn thịt.
Kinh Nhập lăng-già ghi: “Có các chúng sinh từng tu vô lượng nhân duyên trong quá khứ, nay có chút căn lành được nghe chính pháp, có lòng tin xuất gia trong giáo pháp của Ta. Nhưng vì quá khứ từng làm quyến thuộc của la-sát, hay sinh vào loài cọp, 'sói, sư tử, mèo, chồn, cho nên nay tuy ở trong pháp Ta mà vẫn còn tập khí ăn thịt, thấy người ăn thịt thì mừng rỡ đến gần; vào thành, ấp, xóm làng, chùa tháp ăn thịt uống rượu để vui thú. Chư thiên và loài người Xem những kẻ ấy như la-sát giành ăn xác chết, mà hộ không tự biết. Người này đã không được dự vào giáo đoàn của Ta, mà thành quyến thuộc của la-sát. Tuy mặc ca-sa, cạo bỏ râu tóc, nhưng chúng sinh trông thấy đều kinh hãi như sợ la-sát”.
6. Người ăn thịt học chú thuật thế gian cũng không thành, huống gì muốn chứng đắc pháp xuất thế! Do vậy, hành giả không nên ăn thịt.
Kinh Nhập Lăng-già ghi: “Các thầy chú thuật tà kiến trong thế gian vì muốn thành tựu tà thuật còn không ăn thịt, huống gì đệ tử của Ta cầu thánh đạo vô thượng xuất thế giải thoát của Như Lai? Đã tu đại từ bi, tinh cần khổ hạnh mà ăn thịt sợ rằng còn không được, người ngu kia ăn thịt được giải thoát sao?
Thế nên, Đại Tuệ! Đệ tử của Ta vì cầu niềm vui giải thoát ra khỏi thế gian thì không nên ăn thịt”.
7. Chúng sinh đều yêu quí thân mạng giống như mình không khác. Do vậy, hành giả không nên ăn thịt.
Kinh Nhập lăng-già ghi: “Người ăn thịt thì khí lực mạnh, tâm tham chấp sâu nặng. Phải xét kỹ, tất cả những loài có mạng sống trong thế gian đều quý trọng thân mình và rất sợ chết. Người và vật đều tiếc giữ thân mạng, thà làm thân chồn hoang ghẻ lở chứ quyết không chịu bỏ thân để nhận lấy niềm vui của cõi trời. Tại sao? Vì sợ chết. Do đó, nên xem chết là khổ lớn, là điều đáng sợ. Bản thân sợ chết, vì sao muốn giết loài khác để ăn thịt?
Thế nên, Đại Tuệ! Người muốn ăn thịt, trước nên tự quán thân mình, sau nghĩ đến chúng sinh, mà không nên ăn thịt”.
8. Chư thiên, hiền thánh đều xa lìa người ăn thịt, ác thần cũng e sợ. Do đó, hành giả không nên ăn thịt.
Kinh Nhập lăng-già ghi: “Người ăn thịt, chư thiên còn lìa xa huống gì là thánh nhân. Thế nên, bồ-tát vì mong gặp thánh nhân, nên tu tập tâm từ bi, không được ăn thịt.
Này Đại Tuệ! Người ăn thịt, lúc ngủ nghỉ cũng khổ, lúc thức dậy cũng khổ. Như khi ngủ nằm mộng thấy các việc ác, kinh hãi dựng tóc, tâm thường bất an. Do không có lòng từ, nên sức thiện yếu kém, nếu một mình ở nơi thanh vắng thì cũng thường bị phi nhân tìm chỗ sơ hở để hại; cọp, sói, sư tử cũng đến rình tìm cách ăn thịt. Cho nên, tâm luôn lo sợ, không được an ổn”.
9. Người tu hành, tịnh nhục còn không nên ăn, huống là bất tịnh nhục. Do đó, hành giả không nên ăn thịt.
Kinh Nhập lăng-già ghi: “Ta nói phàm phu vì cầu mạng sống thanh tịnh mà ăn tịnh nhục, nhưng phải nghĩ tưởng như ăn thịt con, huống gì dùng những thức ăn chẳng phải của thánh nhân. Thánh nhân xa lìa tất cả các loại thịt, vì ăn thịt hay sinh vô lượng tội lỗi, làm mất tất cả công đức xuất thế gian. Như vậy sao lại nói Ta cho các đệ tử ăn những thứ bất tịnh như máu thịt v.v...? Người nào nói Ta cho phép là phỉ báng Ta.”. Cho nên, luật tạng nói: “Ăn thịt thì phạm tội Thâu-lan-giá"
10. Người ăn thịt sau khi chết sẽ tái sinh vào loài la-sát dữ. Do đó, hành giả không nên ăn thịt.
Kinh Nhập lăng-già ghi: “Những chúng sinh ăn thịt là do quá khứ từng huân tập nghiệp ăn thịt, nên thường sinh vào trong các loài la-sát, sư tử, cọp, sói, chim cú, kên kên, diều hâu, chim ưng... Những loài có mạng sống vì bảo vệ thân, không để mình chịu cảnh khổ đói khát, nên sinh lòng ác, thích ăn thịt loài khác, khi chết lại đọa vào đường ác, khó được thân người, huống gì được đạo Niết-bàn! Nên biết, người ăn thịt có vô lượng những tội lỗi như thế. Do vậy, hành giả không ăn thịt, tức là gom chứa được vô lượng công đức”.
Kinh ương-quật-ma ghi: “Văn-thù-sư-lợi bạch Đức Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Vì Như Lai tạng mà các Đức Phật không ăn thịt chăng?
Đức Phật dạy:
- Đúng vậy! Tất cả chúng sinh từ vô thỉ đến nay trôi lăn trong sinh tử, không ai không có cha mẹ, anh chị em, giống như nghệ sĩ hát tuồng thay đổi vai diễn mau chóng. Thịt mình hay các loại thịt khác đều là một thứ thịt. Thế nên, các Đức Phật đều không ăn thịt.
Phật lại bảo Văn-thù-sư-lợi:
- Chúng sinh giới và Phật giới là một, thịt ăn vào cũng đồng một loại. Do đó, các Đức Phật đều không ăn thịt.
Đức Phật bảo Văn-thù:
- Nếu trâu tự chết, người chủ lấy da làm giày dép cúng dường cho người trì giới, nên nhận chăng? Không nhận là đúng pháp của tì-kheo, nếu nhận thì chẳng từ bi. Tuy không phá giới, nhưng từ đó dần dần đưa đến tội lỗi. Do đó, cần phải lìa xa các nhân duyên sát sinh’’.
Kinh Ương-quật-ma ghi: “Trong thân chúng sinh có tám mươi vạn ổ vi trùng, nếu giết hại một chúng sinh tức giết tám trăm nghìn ổ vi trùng. Những lúc nấu nướng, hoặc ngâm phơi đều có trùng nhỏ, bướm bay, ruồi nhặng bám lên, vô tình lạm giết vô lượng sinh mạng. Tuy chẳng tự tay mình giết, nhưng đồ tể vì mình mà giết. Nên biết, người ăn thịt chịu cả tôi giết hại. Hoặc có tăng ni ở trong chùa công nhiên tụ tập người đời uông rượu, ăn thịt hoặc những thứ tạp uế cay nồng, làm ô nhiễm chốn già-lam mà chẳng biết thẹn với Phật, hỗn tạp như vậy đâu hơn gì ngoại đạo!”.
Kinh Ni-la-phù-đà địa ngục ghi: “Thân giống như khối thịt, không hiểu biết, đây là ai? Đều là các kẻ uống rượu. Tăng ni xuất gia sao chẳng tin sâu kinh sinh tâm hổ thẹn, lại tự bỏ chính pháp, đồng như ngoại đạo? Nếu ăn thịt cha của chúng sinh, chúng sinh lại ăn thịt cha mình; nếu ăn thịt mẹ của chúng sinh chúng sinh lại ăn thịt mẹ mình. Như vậy, anh chị em lục thân trai đều có oán thù nhau, oan oan tương báo, không thể thoát được”.
Kinh Sa-di-ni giới ghi: “Không được sát sinh mà phải thương xót chúng sinh như cha mẹ thương con, thương loài trùng nhỏ giống như con đỏ. Thế nào là không sát sinh? Là bảo vệ thân khẩu ý. Trong đó, thân không giết người vật, cho đến các loài côn trùng nhỏ bé, cũng không tự giết hay bảo người giết; thấy giết không ăn, nghe giết không ăn, hoặc nghi vì mình mà giết cũng không ăn. Miệng chẳng nói ‘nên giết, nên hại’ để báo oán, cũng không được nói‘giết chết thật vui, con này mập, con kia ốm, thịt này ngon, thịt kia dở. Ý cũng không nghĩ đến việc giết chết. Thương tưởng chúng sinh như xương tủy của mình, chẳng khác nào cha mẹ, con cái của mình v.v... Một lòng thường nghĩ đến Đại thừa”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Đức Phật nói với vua Ba-tư-nặc:
- Vào quá khứ lâu xa a-tăng-kỳ kiếp, cõi Diêm-phù-đề này có một đất nước rộng lớn tên là Ba-la-nại. Một hôm, quốc vương nước ấy là Ba-la-ma-đạt dẫn bốn loại binh vào núi săn bắn. Một mình cưỡi ngựa mải miết đuổi bắt cầm thú, vua lạc vào rừng sâu. Mệt quá, vua xuống ngựa nghỉ ngơi giây lát. Khi đó, trong rừng có con sư tử cái lòng dục rất mạnh, đang tìm đối tượng giao phối mà không được, chợt gặp vua ngồi một mình giữa rừng, ý dâm bùng mạnh nên muốn giao phối với vua. Nghĩ vậy, sư tử cái đến gần bên vua ngoắt đuôi quay lưng. Biết ý, vua suy nghĩ: ‘Nó là mãnh thú đủ sức giết mình, nếu không chiu ý ắt nguy hại tính mạng’. Vì sợ hãi, vua liền giao phối cùng sư tử. Việc xong, sư tử bỏ đi thì các đoàn binh mới tìm đến, vua cùng mọi người trở về cung thành.
Sau đó, sư tử mang thai, đủ ngày tháng liền sinh con có hình dạng như người, chỉ ở nơi chân có đốm. Sư tử nhớ lại, biết là con của vua, liền ngậm con đến trước vua.

Phần 7

Vua cũng nhớ lại, đúng là con mình, bèn nhận lấy nuôi dưỡng; vì chân có đốm nên đặt tên là Ban Túc. Ban Túc càng lớn thì đủ hùng tài, trí dũng, được kế vị ngôi sau khi phụ vương băng.
Lúc đó, vua Ban Túc có hai người vợ, một xuất thân từ dòng vua, người còn lại thuộc dòng Bà-la-môn. Một hôm, Ban Túc ra thành chơi, bảo hai người vợ: ‘Nếu người nào đến trước thì ta sẽ dành cho một ngày vui thú, người nào đến sau thì ta không đoái hoài’.
Sau khi vua đi, phu nhân thứ hai trang điểm lộng lẫy, bước lên xe. Trên đường, phu nhân thấy một ngôi miếu thờ trời của dòng Phạm chí, liền xuống xe hành lễ, do lễ bái nên đến muộn. Vua theo lời hứa, nên không đoái hoài. Vì thế, phu nhân oán giận thiên thần và trách: ‘Do lễ bái ngươi nên đến sau, khiến vua đối xử bạc như vậy. Nếu có sức trời sao chẳng hộ ta?’. Sau đó, phu nhân đập phá miếu thờ. Vị thần giữ miếu buồn rầu, muốn đến phá nát vương cung, nhưng thiên thần ngăn, không cho vào.
Có một vị tiên nhân ở trong núi hằng ngày bay vào cung nhận sự cúng dường của vua, không nhận món ngon mà chỉ dùng món dở. Tình cờ ngày kia, tiên nhân không đến. Biết thế, thiên thần biến làm tiên nhân, ngồi vào chỗ tiên nhân thường ngồi, nhưng không ăn mà chỉ mong được thịt cá. Vua liền thuận theo, thiên thần ăn xong rồi đi. Hôm sau, tiên nhân đi đến, vua lại bày toàn thịt cá, tiên nhân nổi cáu. Vua thưa:
- Đại tiên, hôm qua ngài dạy làm thế, sao nay lại không ăn?
Tiên nhân nói:
- Hôm qua, ta bệnh nên không đến. Ai nói với ông, hay là khinh thường mà thử ta? Ta sẽ làm cho ông từ nay thường ăn thịt người trong suốt mười hai năm!
Nói xong, tiên nhân trở về núi. Sau đó, một hôm, quan nấu ăn lại quên chuẩn bị thịt, sắp đến giờ dâng cơm, chẳng biết xoay sở cách nào, nên người nấu ăn ra ngoài tìm thịt, thấy xác một đứa trẻ trắng mập nằm trên đất. Trong lúc cấp bách, người nấu ăn chặt bỏ đầu và chân, mang về ngự trù, nấu với các thứ thuốc quí, đem dâng cho vua. Ăn vào, vua thấy ngon hơn bội phần nên hỏi:
- Trước giờ, ta chưa được ăn thịt ngon như vậy. Đây là thịt gì?
Quan nấu ăn sợ hãi, phủ phục trước vua mà thành thật tâu rõ, mong vua tha tội. Vua phán:
- Chỉ Cần Ông nói thật thì ta không hỏi tội!
Quan nấu ăn tâu rõ ngọn ngành. Vua nói:
- Thịt này rất ngon! Từ nay về sau, cứ làm như thế.
Quan nấu ăn tâu:
- Trước đây, tình cờ gặp xác đứa trẻ, nay chắc rất khó tìm!
Vua lại nói:
- Ông cứ âm thầm tim lấy, giá như có người phát giác thì ta sẽ phân xử!
Quan nấu ăn nhận chỉ, hàng đêm thường bí mật bắt cóc trẻ con, đem giết lấy thịt dâng cho vua.
Bấy giờ, nhân dân trong thành đâu đâu cũng kêu khóc mất con. Mọi người lần lượt tra xét duyên do.
Khi ấy, các đại thần họp bàn, cử người âm thầm điều tra các nơi để yên lòng dân, thì phát hiện quan nấu ăn của vua bắt cóc trẻ con. Họ bắt được, trói dẫn đến vua tâu hết mọi chuyện. Vua nói:
- Là lệnh của ta!
Quần thần uất hận, cùng nhau ra ngoài họp bàn: “Vua chính là giặc, ăn thịt con chúng ta. Vua mà àn thịt người thì làm sao trị vì thiên hạ? Hãy cùng nhau trừ khử tai họa nàỵ”. Thế rồi, tất cả quần thần đồng tâm hợp lực tính kế, nhất loạt cùng chống lại, bắt giết nhà vua. Thấy binh lính bao vây, vua kinh hãi hỏi:
- Tại sao các ngươi vây ép ta?
- Phàm người làm vua lấy việc chăm lo cho dân làm chính. Thế mà ông bảo nhà bếp giết người lấy thịt làm thức ăn, chẳng biết dân chúng khổ đau. Do đó chúng tôi muốn giết ông.
Vua nói với quần thần:
- Xin tha cho! Từ nay về sau, ta không làm thế sẽ cố gắng sửa đổỉ.
Quần thần nói:
- Quyết không buông tha, đừng có nhiều lời!
Nghe xong, vua tự biết mình phải chết, liền nói:
- Dù các ông nhất định giết ta, nhưng xin hãy nán giây lát nghe ta nói một lời.
Vua liền lập thệ:
- Từ trước đến nay, ta tu tạo các việc thiện, làm một minh quân, cúng dường tiên nhân. Nay xin hồi hướng tất cả công đức ấy khiến ta biến thành Phi hành la-sát.
Nói lời này xong, vua liền thành la-sát như lời nguyện, bay lên hư không, nhắn với quần thần:
- Các ngươi hợp sức muốn bức tử ta, nhưng nhờ may mắn nên ta có thể tự thoát. Từ nay về sau, các ngươi cố nhẫn chịu, ta sẽ lần lượt ăn thịt vợ con yêu quí của các ngươỉ.
Nói xong, la-sát bay đi, ẩn trong núi rừng, hàng ngày tìm bắt người mang về ăn thịt. Tất cả nhân dân đều sợ hãi trốn tránh. Càng ngày vua la-sái giết người ăn thịt càng nhiều. Sau đó, các bày la-sát kết làm quyến thuộc, nên đồ chúng càng đông và sự bức hại càng rộng. Một hôm, bầy la-sát thưa với vua Ban Túc:
- Chúng tôi phụng sự bệ hạ, mong lập thành một hội.
Vua liền chấp nhận, rồi ra lệnh:
- Các ngươi hãy bắt đủ năm trăm vị thì ta cho nhập hội!
Thế là, các la-sát chia nhau tìm bắt được bốn trăm chín mươi chín vị vua nhốt vào núi sâu, nhưng còn thiếu một người.
Sau đó, chúng bắt được Tu-đà-tố-di là vị vua có đức lớn. Ông ta xin vua Ban Túc cho hoãn lại bảy ngày. Hết thời hạn, Tu-đà-tố-di trở lại, nói pháp cho các la-sát nghe, chỉ rõ tội sát sinh và quả báo của nó, lại nói phúc báo của tâm từ không sát sinh. Vua Ban Túc hoan hỷ, đỉnh lễ, vâng theo lời dạy, không còn tâm sát hại, liền thả các vua về nước. Tu-đà-tố-di liền sai binh chúng đưa Ban Túc về lên ngôi, trị nước. Bấy giờ, đã mãn mười hai năm, vua Ban Túc không còn ăn thịt người, trở về trị vì dân chúng như xưa.
Tu-đà-tố-di thuở ấy chính là Ta, vua Ban Túc là Ương-quật-ma-la ngày nay, còn những người bị Ban Túc ăn thịt trong mười hai năm là những người bị Ương-quật-ma-la giết ngày nay. Những người này đời đời thường bị Ương-quật-ma-la giết hại. Ta cũng đời đời dùng pháp thiên hàng phục Ương-quật-ma-la. Ương-quật chính là tì-kheo Chỉ Man.
Khi ấy, vua Ba-tư-nặc lại bạch Phật:
- Tì-kheo Chỉ Man giết người ăn thịt nhiều như vậy mà còn đắc đạo, nhưng có bị quả báo không?
Đức Phật dạy:
- Đại vương! Hễ gây tạo ắt có quả báo. Hiện tì-kheo này đang ở trong phòng mà lửa địa ngục từ lỗ chân lông phát ra, rất đau khổ, kêu gào thảm thiết.
Đức Phật bảo một tì-kheo:
- Ông hãy cầm chìa khóa đến mở cửa phòng Chỉ Man.
Vâng lời dạy, tì-kheo ấy đến mở cửa vào phòng và thấy thân xác Chỉ Man tự cháy. Tì-kheo kinh ngạc trở lại bạch Phật. Phật bảo:
- Quả báo đúng như thế!
Vua và chúng hội đều tin hiểu”.
Có bài kệ:
Tài, sắc và rượu ngon,
Gọi đó là tam hoặc
Thần uống nên nát nhà,
Vua uống thì mất nước.
Thịt ngon cản lòng từ,
Ngũ tân ngăn tịnh đức,
Bậc quân tử tu đạo,
Không ham món nhơ này.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục