Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 98 - CHƯƠNG PHÁP DIỆT

11/01/2016

QUYỂN 98 Quyển này có một chương Pháp diệt. 98. CHƯƠNG PHÁP DIỆT 98.1 LỜI DẪN Trộm nghĩ: Chính pháp tượng pháp đã qua, giáo pháp chuyển sang thời mạt. Bởi người có tà chính, nên pháp cũng có lúc suy vi. Có người nương và...

PUCL QUYỂN 98 - CHƯƠNG PHÁP DIỆT
Phần 1

QUYỂN 98
Quyển này có một chương Pháp diệt.
98. CHƯƠNG PHÁP DIỆT

98.1 LỜI DẪN
Trộm nghĩ: Chính pháp tượng pháp đã qua, giáo pháp chuyển sang thời mạt. Bởi người có tà chính, nên pháp cũng có lúc suy vi. Có người nương vào chân để tạo giả, hoặc khoác điều giả để loạn lẽ chân. Hoặc vay mượn văn chương, ý lời đều thiển cận; nhưng ngọc đá thật hư không thể nào lẫn lộn. Lại do thói đời bạc bẽo, tâm người đổi thay, ôm lòng vọng tưởng, chỉ tạo những nghiệp quấy. Nếu ba độc tăng trưởng thì chiêu lấy quả khổ trong bốn đường ác. Vì thế con người mãi sống trong cảnh tăm tối, hoàn toàn không nghĩ đến ngày tươi sáng. Lo tham đắm sáu trần, mà chẳng biết năm dục theo sau. Danh lợi đã vương thì nhân ngã càng lớn, dẫn đến kết bè đảng hung ác, rồi mặc sức nổi gió tà, luôn gièm pha những người thuần chính. Do đó giáo pháp lưu truyền đến Trung Hoa hơn sáu trăm năm mà đã ba lần bị các đế vương bạo ngược hủy diệt, tai họa ập đến không kịp trở tay, nhất định phải học theo các bậc tiền hiền. Nếu để tội lỗi thành hình thì thiên hạ sẽ cười chê.
Than ôi! Nghiệp báo đời sau thật đau đớn thay. Bởi do ít học buộc ràng, nên khi được làm thầy tâm thường độc đoán, giáo pháp cũng theo đó mà ẩn mất tai họa sẽ ập đến thân. Nếu xem đọc tám tạng, tổng hợp văn nghĩa rõ ràng; suy cứu chín thức, biết đươc tình mê trí ngộ. Như thế sẽ có lúc phá trừ ngũ ế tôi tăm, có ngày tam minh sẽ được sáng rỡ.
98.2. NGŨ TRƯỢC
Luận Địa trì ghi: “Năm trược: mạng trược, chúng sinh trược, phiền não trược, kiến trược, kiếp trược.
- Đời nay thọ mạng con người ngắn ngủi, dài nhất chỉ được trăm tuổi, nên gọi là mạng trược.
- Nếu các chúng sinh không kính cha mẹ, sa-môn, bà-la môn và các bậc tôn trưởng họ hàng, không học nghĩa lí, không làm việc phải làm, không sợ quả báo ác nghiệp của đời này đời sau, không tu trí tuệ, bố thí, không tạo các công đức, không tu pháp bát quan trai, không giữ gìn cấm giới, đó là chúng sinh trược.
- Nếu các chúng sinh tăng trưởng phi pháp tham, cung cấp đao kiếm, gậy gộc, binh khí cho người, gây ra tranh cãi, đấu tranh, dua nịnh, không ngay thẳng, dối gạt, tin nhận pháp tà và các việc ác khác, khiến pháp bất thiện sinh khởi, đó là phiền não trược.
- Nếu đời nay chính pháp bị hoại diệt, tượng pháp dần khởi, tà pháp lại phát sinh, đó là kiến trược.
- Nếu kiếp đói khát, bệnh tật, đao binh khởi lên, là kiếp trược”.
Luận Câu xá ghi: “Ngũ trược: mạng trược, kiếp trược, hoặc trược, kiến trược, chúng sinh trược.
Trong mạt kiếp, ngũ trược rất thô xấu và thấp nhất, biến thành cặn bã, nên gọi là trược. Do hai trược trước làm tôn giảm thọ mạng và các vật dụng sinh hoạt cần thiết. Do hai trược kế mà tổn giảm các pháp thiện hỗ trợ. Vì sao? Do hai trược này mà các chúng sinh tu tập thiên về lạc hạnh thế gian và tự khổ hạnh, có thể làm tổn hoại pháp thiện hỗ trợ hàng tại gia, xuất gia. Do trược cuối cùng làm tổn giảm thân lượng khiến năng lực, sắc, vô bệnh, lực, trí, niệm, chính cần, bất động đều diệt mất”
Kinh Trì nhân bồ-tát ghi: “Như Lai xuất hiện trong đời có năm trược:
1. Người nhiều xấu ác không biết nghĩa lí.
2. Có sáu mươi hai loại tà kiến rất mạnh, con người không lãnh thụ giáo pháp.
3. Con người nhiều ái dục, trần lao phiền não tăng trưởng mà không biết trừ bỏ.
4. Thọ mạng con người ngắn ngủi. Thời xưa, con người sống tám vạn bốn nghìn tuổi mà còn cho là giảm tổn. Đời nay mạng con người chỉ sống được trăm tuổi, hoặc hơn hoặc kém.
5. Tiểu kiếp chuyển tận, tam tai đang dấy khởi, tất cả đều bị tàn hại. Nếu người nào trong đời ngũ trược Xấu ác này biết kính tin trí tuệ chân chính của Phật thì thật rất khó”.
Luận Thuận chính lí ghi: “Ngũ trược này chỉ là thứ tự hiển bày năm tướng suy đã tăng trưởng cùng tột. Năm tướng suy:
1. Thọ mạng suy kém, thời gian rất ngắn.
2. Tiền tài vật dụng sa sút, vì ánh sáng và sự tươi nhuận tổn giảm.
3. Hạnh thiện sa sút, vì thích làm những việc xấu.
4. Sự tịch tĩnh suy kém, vì chúng sinh lần lượt chống trái, dẫn đến tranh cãi.
5. Tự thân suy kém, vì chẳng phải là bình công đức xuất thế gian.
Vì muốn hiển bày thứ tự năm loại suy tổn bất đồng này, nên phân làm năm trược”.
Kinh Tát-già Ni-kiền-tử ghi: “ Đức Phật bảo ngài Văn-thù-sư-lợi:
- Chư Phật Như Lai có mười hai năng lực thù thắng vị diệu, cũng như đề hồ là tuyệt diệu nhất trong các vị. Năng lực này thanh tịnh bậc nhất, làm thanh tịnh quốc độ của các Đức Phật. Như Lai nhờ năng lực này mà thành tựu A-nậu Bồ-đề. Mười hai năng lực:
1. Thị hiện kiếp trược
2. Thị thiện thời trược
3. Thị hiện chúng sinh trược.
4. Thị hiện phiền não trược.
5. Thị hiện mạng trược.
6. Thị hiện Tam thừa sai biệt trược.
7. Thị hiện cõi Phật bất tịnh trược.
8. Thị hiện nan hóa chúng sinh trược.
9. Thị hiện thuyết tất cả phiền não trược.
10. Thị hiện ngoại đạo loạn trược.
11 .Thị hiện ma trược.
12. Thị hiện ma nghiệp trược.
- Này thiện nam, các ông nên biết! Tất cả quốc độ của chư Phật đều do công đức xuất thế trang nghiêm hoàn toàn thanh tịnh tạo thành. Không có các lỗi uế trược như thế. Tất cả đều là sức phương tiện của các Đức Phật, làm lợi ích cho chúng sinh!”.
Kinh Đại ngũ trược ghi: “Sau khi Phật niết-bàn sẽ có năm loạn:
1. Tì-kheo ở đời sau theo cư sĩ học pháp.
2. Cư sĩ ngồi trên cao, tì-kheo ngồi chỗ thấp.
3. Tì-kheo thuyết pháp thì không có người lãnh thụ thực hành, cư sĩ thuyết pháp lại được khen là cao tột.
4. Tì-kheo nhà ma sinh ra đời này cho pháp thế gian là chân đạo đế, đã không hiểu kinh điển Phật pháp, lại còn cho là giả dối.
5. Đời sau, tì-kheo nuôi dưỡng vợ con nô bộc, tính kế mưu sinh, kiện tụng lẫn nhau, không tuân theo giáo pháp của Phật.
Đời nay thường thấy hàng bạch y vô trí, gặp việc thì dính mắc, nhưng dối cho là hiểu biết Phật pháp, phòng nhà không buông xả mà lại làm mô phạm cho người. Kẻ thế tục ngu si lấy đó làm kim chỉ nam, khiến công phu luống uống, dù có siêng năng cũng không ích gì, đời sau cũng không thoát khỏi địa ngục”.
Nên luận Trí độ ghi: “Như người mù, chính mình không thấy đường mà dối nói thấy đường, nên dẫn năm trăm người mù khác đi, kết quả tất cả đều rơi xuống hầm. Tự mình lao xuống sông sâu, há có thể cứu được?”.
98.3. THỜI TIẾT
Kinh A-nan thất mộng ghi: “Một hôm, A-nan đến thưa Phật:
- Bạch Thế Tôn! Con thấy bảy điều mộng như sau:
1. Thấy lửa bốc cháy ngút trời trong các ao hồ.
2. Thấy mặt trời, mặt trăng và các vì sao đều biến mất.
Phần 2

3. Thấy hàng xuất gia tì-kheo lại ở trong hầm hố dơ bẩn, còn người bạch y bước qua đầu họ mà thoát ra.
4. Thấy bầy heo chạy đến húc đổ, phá hoại rừng chiên-đàn.
5. Thấy đầu mình đội núi Tu-di mà không cảm thấy nặng.
6. Thấy voi mẹ bỏ con mình mà đi.
7. Thấy vua sư tử Hoa-tát, ừên đầu có bảy sợi lông mịn, nằm chết trên đất. Tất cả cầm thú thấy thế đều sợ hãi. Lại thấy trùng từ thân sư tử xuất hiện rồi lại ăn thịt sư tử.
Xin Đức Thế Tôn giải thích cho con hiểu!
Phật bảo A-nan:
-Những điềm mộng của ông đều biểu hiện cho những việc sẽ xuất hiện vào thời năm trược ác mai sau. Ông không bị tổn hại, cớ sao lại buồn?
Thứ nhất, ông mộng thấy các ao hồ lửa đều lửa bốc cháy ngút trời, đó là điềm tì-kheo ở đời sau tâm thiện càng ít, ác nghịch lại dẫy đầy, sát hại lẫn nhau không thể tính hết.
Thứ hai, ông thấy mặt trời, trăng, sao đều biến mất là điềm báo sau khi Như Lai nhập Niết-bàn tất cả thanh văn đều theo Phật vào niết-bàn, không ở lại thế gian nữa, con mắt của chúng sinh đã tắt.
Thứ ba, ông mộng thấy hàng xuất gia tì-kheo lại ở trong hầm hố dơ bẩn còn người bạch y bước lên đầu họ mà đi; đó là điềm báo tì-kheo ở đời vị lai ôm lòng sân hận, tật đố, dẫn đến giết hại lẫn nhau. Đạo sĩ chặt đầu cư sĩ, sau khi chết phải đọa địa ngục, còn hàng bạch y nhờ tinh tiến, sau khi chết được sinh thiên.
Thứ tư, ông mộng thấy bầy heo chạy đến húc đổ, phá hoại rừng chiên-đàn là điềm báo đời sau bạch y vào chùa tháp phỉ báng, moi móc những điều xấu của chúng tăng, phá tháp, hại tăng.
Thứ năm, ông thấy đầu mình đội núi Tu-di mà không cảm thấy nặng, đó là điềm báo sau khi Phật vào niết-bàn, A-nan sẽ làm thầy nghìn vị a-la-hán trùng tuyên lại kinh điển, không quên sót một câu, người thụ nhận rất nhiều, mà không cho là nặng.
Thứ sáu, ông thấy voi mẹ bỏ con mình mà đi, là điềm báo tương lai tà kiến hưng thịnh, phá hoại chính pháp của Ta, người có đức độ đều ẩn cư không ra giáo hóa.
Thứ bảy, ông thấy vua sư tử chết, là điềm báo sau khi Phật nhập niết-bàn, một nghìn bốn trăm bảy mươi năm, bốn chúng đệ tử dốc tâm tu đạo, tất cả ác ma không quấy nhiễu được. Bảy sợi lông là biểu thị cho việc sau bảy trăm năm”,
Kinh Ma-da ghi: “Ma-da hỏi A-nan:
- Xưa nay, ngài có từng nghe Thế Tôn nói chính pháp của Như Lai lúc nào bị hoại diệt không? A-nan rơi lệ đáp:
- Lúc trước, tôi từng nghe Thế Tôn nói những việc sau khi chính pháp diệt ở đời vị lai:
Sau khi Phật nhập niết-bàn, Ma-ha Ca-diếp bảo tôi kết tập kinh tạng, việc kết tập hoàn mãn, Ca-diếp sẽ vào núi Kê Túc nhập Diệt tận định, tôi cũng chứng quả; sau đó lần lượt vào niết-bàn. Tôi lại phó chúc chính pháp cho Ưu-ba-cúc-đa. ưu-ba-cúc-đa cũng giảng pháp yếu giỏi như Phú-lâu-na, nên truyền bá rộng rãi, độ khắp mọi người, sau đó lại khuyến hóa vua A-thâu-già phát khởi lòng tin vững chắc đối với chính pháp của Đức Phật.
Sau đó vua dựng tám vạn bốn nghìn tháp khắp nơi, tôn thờ xá-lợi của Phật. Trải qua hai trăm năm lại có tì-kheo Thi-la-nan-đà cũng giảng nói pháp yếu độ mười hai nghìn ức người tại cõi Diêm-phù-đề. Qua ba trăm năm thì có tì-kheo Thanh Liên Hoa Nhãn cũng giảng thuyết pháp yếu hóa độ nửa ức người. Đến bốn trăm năm có tì-kheo Ngưu Khẩu giảng pháp yếu độ được hai vạn người. Đến năm trăm năm có tì-kheo Bảo Thiên giảng pháp yếu độ hai vạn người. Tám bộ chúng sinh đều phát tâm A-nậu bồ-đề; từ đây thời chính pháp chấm dứt. Sau sáu trăm năm, chín mươi sáu phái ngoại đạo v.v... tà kiến đua nhau dấy khởi phá diệt Phật pháp. Lúc ấy có tì-kheo Mã Minh giảng thuyết pháp yếu rất giỏi, hàng phục tất cả bọn ngoại đạo. Đến bảy trăm năm có tì-kheo Long Thọ cũng giảng pháp yếu giỏi, xô ngã cờ tà kiến, thắp đèn chính pháp. Đến tám trăm năm, các tì-kheo ưa thích y phục tốt đẹp, buông lung giỡn cười. Trong trăm nghìn vạn người chỉ một hai người được đắc đạo. Sau chín trăm năm nô bộc, tì nữ xuất gia làm tì-kheo, tì kheo ni. Đến một nghìn năm, các tì-kheo nghe đến pháp quán bất tịnh, quán sổ tức, liền nổi sân giận không ưa thích. Vô lượng tì-kheo chỉ còn một hai người tư duy chính pháp.
Sau một nghìn một trăm năm, các tì-kheo làm những việc mai mối như người thế tục, ở trong đại chúng hủy báng tì-ni. Sau một nghìn hai trăm năm, các tì kheo và tì-kheo ni làm những việc phi phạm hạnh, có con trai thì cho làm tì-kheo, có con gái thì cho làm tì-kheo ni. Sau một nghìn ba trăm năm, ca-sa đổi thành màu trắng, không chịu nhuộm màu. Một nghìn bốn trăm năm, bốn bộ chúng như kẻ thợ săn, ưa thích sát hại chúng sinh, tham lam bán những đồ vật của Tam bảo. Một nghìn năm trăm năm sau, tại nước Câu-thiểm-di có tì-kheo Tam Tạng giảng pháp yếu rất giỏi Theo thường lệ, ngày mười lăm sau khi bố-tát, tì-kheo a-la-hán thăng tòa thuyết giới thanh tịnh, nói đây là những điều nên làm, đây là những điều không nên làm. Đệ tử của tì-kheo Tam Tạng nói với tì-kheo a-la-hán:
- Hôm nay thân miệng ý của ngài không thanh tịnh, cớ sao lại nói những lời thô này?
Tì-kheo a-la-hán đáp:
- Từ lâu thân khẩu ý, nghiệp của ta đã thanh tịnh, không còn tạo các lỗi lầm.
Đệ tử của tì-kheo Tam Tạng nghe như vậy, càng tức giận hơn, giết chết vị ấy ngay trên tòa. Thấy vậy, đệ tử tì-kheo a-la-hán nói:
- Những lời thầy ta nói đều hợp với chân lí, cớ sao các ông lại giết hòa thượng của ta?
Nói rồi, các đệ tử ấy liền lấy dao bén giết tì-kheo Tam Tạng. Thấy cảnh tượng ấy tám bộ trời, rồng... đều sầu não, còn ác ma Ba-tuần và các ngoại đạo thi rất vui mừng, đua nhau đến phá chùa tháp, giết hại tì-kheo. Bấy giờ tất cả kinh tạng đều dời đến Cưu-thi-na, rồi long vương A-nậu-đạt mang tất cả cất dưới long cung. Vì thế Phật pháp mới diệt tận. nghe xong Ma-ha Ma-da buồn rầu rơi lệ nói kệ.
Tất cả đều hủy diệt,
Không nơi nào thường an
Tu-di và biến lớn
Kiếp tận cũng tan, cạn
Giàu mạnh ở thế gian
Cũng có lúc suy bại.
Con của ta khi xưa
Siêng năng tu vạn hạnh
Thành tựu Đẳng Chánh Giác.
Vì chúng tuyên pháp tạng,
Cớ sao đến lúc ấy,
Chính pháp đều diệt tận?
98.4. ĐỘ NGƯỜI NỮ
Luật Thiện kiến ghi: “Do độ người nữ xuất gia, nên chính pháp chỉ được trụ thế năm trăm năm. Vì thế Đức Thế Tôn chế tì-kheo ni phải thực hành bát kinh pháp, nhờ thế chính pháp mới được trụ thế một nghìn năm.
Hỏi: Vậy qua một nghìn năm chính pháp sẽ diệt hết sao?
Đáp: Không phải diệt hết mà trong một nghìn năm đó, vẫn có người đắc tam đạt trí. Lại trong một nghìn năm nữa có người đoạn được ái, chứng A-la-hán, nhưng không có tam đạt trí. Một nghìn năm nữa có người đắc quả A-na-hàm, một nghìn năm nữa vẫn có người đắc quả Tư-đà-hàm, một nghìn năm nữa có người đắc quả Tu-đà hoàn. Tổng cộng được một vạn năm, năm nghìn năm đầu rất nhiều người đắc đạo, nhưng năm nghìn năm sau, nhiều người tu học nhưng không ai đắc đạo. Sau một vạn năm tất cả kinh điển văn tự đều diệt mất, người xuất gia chỉ còn hình tướng cạo tóc, đắp ca-sa mà thôi”.
Kinh Ti-ni-mâu ghi: “Tôn giả Ca-diếp trách ngài A-nan mười điều về việc cầu xin cho người nữ xuất gia trong Phật pháp:
1. Nếu người nữ không xuất gia, các đàn việt đều chuẩn bị đầy đủ thức ăn, quì bên đường cúng dường sa-môn.
2. Nếu người nữ không xuất gia, các đàn việt thường đón đường thỉnh các sa-mồn thụ nhận ỵ phục, ngọa cụ.

Phần 3

3. Nếu người nữ không xuất gia, các đàn việt đang cỡi xe voi, xe ngựa đều xuống xe dừng lại bên đường, năm vóc sát đất thỉnh sa-môn bước qua.
4. Nếu người nữ không xuất gia, các đàn việt thường trải tóc ở trên đường thỉnh sa-môn đạp trên đó mà qua.
5. Nếu người nữ không xuất gia, các đàn việt thường cung kính thỉnh các sa-môn đến nhà cúng dường.
6. Nếu người nữ không xuất gia, các đàn việt thấy các vị sa-môn, luôn dốc lòng cung kính quét đất, dọn dẹp sạch sẽ, cởi áo đẹp trải lên rồi mời sa-môn ngồi.
7. Nếu người nữ không xuất gia, các đàn việt thường cởi áo để lau bụi trên chân của Tì-kheo.
8. Nếu người nữ không xuất gia, các đàn việt thường xỏa tóc quét bụi trên chân tì-kheo.
9. Nếu người nữ không xuất gia, oai đức của sa-môn tỏa sáng hơn mặt trời, mặt trăng; ngoại đạo đâu có thể nhìn thẳng vào đầu sa-môn.
10. Nếu người nữ không xuất gia, chính pháp của Phật sẽ trụ thế cả nghìn năm. Nhưng nay giảm đi năm trăm năm, trong khoảng một trăm năm đầu có người được giải thoát kiên cố, một trăm năm kế có người được định kiên cố, một trăm năm tiếp có người được giới kiên cố, một trăm năm nữa có người đa văn kiên cố và một trăm năm sau có người bố thí kiên cố.
Trong một trăm năm đầu
Được giải thoát kiên cố
An trụ ở trong đây
Đều thấu hiểu văn nghĩa.
Đến trăm năm thứ hai
Đạt được định kiên cố
Lại trăm năm thứ ba
Giữ giới không hủy phạm.
Đến trăm năm thứ tư
Có người được đa văn
Trong trăm năm thứ năm
Có người hay bố thí.
Từ đây pháp Như Lai
Giảm dần trong từng niệm
Như bánh xe lăn chuyển,
Sẽ có lúc phải dừng.
Sở dĩ chính pháp diệt
Đều do lỗi A-nan
Thỉnh cầu đấng Điều Ngự
Cho người nữ xuất gia.
Chỉnh pháp đáng trụ thế
Trọn đủ một nghìn năm,
Nay giảm mất năm trăm
Ngoài ra đều như trước.
Thế nên năm trăm năm
Chính pháp trụ thế gian
Giải thoát, định, trì giới
Đa văn và bố thí.
98.5. BÁT CỦA PHẬT
Kinh Liên Hoa Diện ghi: “Phật bảo A-nan! Vào đời vị lai, tại nước Kế-tân sẽ có đại pháp hội. Sau khi năm vị thiên tử như Kim-tì-la v.v... diệt độ, sẽ có đệ tử của ngoại đạo Phú-lan-na tên Liên Hoa Diện thông minh trí tuệ, thân màu vàng ròng. Người đại ngu si này đã từng cúng dường bốn vị a-la-hán. Nhưng lúc cúng dường ông ta nguyện: ‘Tôi nguyện đời sau sẽ phá hoại Phật pháp’.
Nhờ phúc cúng dường các vị a-la-hán, nên đời đời ông ta được thân tượng tốt đẹp. Thân cuối cùng ông ta làm vua tên là Mị-chi-hạt-la-câu-la, là người phá diệt pháp của Ta. Người đại ngu si này đập vỡ bình bát Ta, do đó phải đọa vào đại địa ngục A-tì. Sau khi người đại ngu si này mạng chung, sẽ có bảy thiên tử lần lượt xả thân sinh vào nước Kế-tân, phục hưng lại chính pháp của Như Lai, thiết đại hội cúng dường.
Này A-nan! Do bát Ta bị phá vỡ, nên đệ tử Ta dần dần nhiễm ô giới hạnh thanh tịnh, thích làm những việc bất thiện, người có trí tuệ đều diệt độ. Bấy giờ các quốc vương không tuân theo vương pháp, nhân dân trong nước ấy phần nhiều làm mười điều bất thiện. Do tạo những ác nghiệp nên năm loại thức ăn, sữa, dầu, muối, đường, mật ở cõi Diêm-phù đề mất vị ngon. Vì bát Phật bị vỡ nên các đệ tử mang đến phương bắc. Bấy giờ, các chúng sinh ở phương bắc thấy bát của Phật vỡ, bèn thiết đại trai hội cúng dường, nhân đây có rất nhiều người phát tâm Tam thừa. Nhờ thiện căn của chúng sinh chiêu cảm, nên bát của Ta tự nhiên trở lại nguyên vẹn như trước.
Sau đó không lâu, bát của Ta ẩn mất ở Diêm-phù-đề và xuất hiện tại cung của long vương Sa-già-la. Lúc bát ẩn mất, cõi Diêm-phù-đề bảy ngày bảy đêm đều tối đen, ánh sáng của mặt trời mặt trăng biến mất; mặt đất chấn động, trời người đều khóc lớn, nước mắt tuôn như mưa, giới luật của Như Lai cũng mất. Ma vương thấy giới luật đã hủy diệt, vô cùng vui mừng, liên xúi chúng sinh tạo nhiều việc àc, do đó đời sau phải đọạ vào địa ngục A-tỳ.
Bấy giờ, long vương Sa-già-la thấy bát của Ta, liền thiết trai hội cúng dường bảy ngày, cung kính lễ bái đi nhiễu quanh bát theo bên phải. Nhân đây cũng có rất người phát tâm Tam thừa. Thế rồi, bình bát Ta lại ẩn mất ở long cung và xuất hiện ở cung trời Tứ Thiên Vương. Tứ thiên vương cũng thiết đại trai cúng dường, tất cả chúng trời đều phát tâm Tam thừa. Qua bảy ngày tại cung trời Tứ Thiên Vương, bát của ta lại ẩn mất và xuất hiện ở cõi trời Tam Thập Tam, mẹ của Phật là Ma-da-phu nhân thấy bình bát của Phật lòng sầu khổ như bị tên bắn vào tim, không chịu đựng nổi, lăn lộn trên đất như khúc gỗ tròn, than thở:
- Như Lai vào niết-bàn, thật đau khổ thay! Tu-già-đà diệt độ sao nhanh quá vậy! Con mắt của thế gian đã diệt, cây bồ-đề đã gãy, núi Tu-di Phật đã sụp đổ, ngọn đèn Phật đã tắt, dòng suối pháp đã khô cạn, mặt trời ma vô thường đã làm héo khô hoa sen Phật!
Bấy giờ, phu nhân bưng bát và nói với thiên chúng:
- Đây là bát mà Như Lai thường thụ dụng, nay bát đã đến đây!
Khi ấy, trời Đế Thích thiết đại trai hội cúng dường bảy ngày, bảy đêm. Nhân đây có rất nhiều người phát tâm Tam thừa. Hết bảy ngày, bát lại ẩn mất ở cõi trời Tam Thập Tam rồi xuất hiện ở cõi trời Diệm-ma. Vua trời Diêm-ma thấy bát của Phật, cũng thiết đại trai hội cúng dường bảy ngày bảy đêm, nhân đây có rất nhiều người phát tâm Tam thừa. Hết bảy ngày ở trời Diệm-ma, bát lại ẩn mất và xuất hiện ở cõi trời Đâu-suất-đà. Vua trời Đâu-suất-đà thấy bát của Phật cũng bày biện đủ loại phẩm vật cúng dường bảy ngày bảy đêm. Hết bảy ngày ở trời Đâu-suất-đà, bát lại ẩn mất rồi xuất hiện ở cõi trời Hóa Lạc. Vua trời Hóa Lạc thấy bát của Phật, cũng bày biện đủ loại phẩm vật cúng dường bảy ngày bảy đêm. Nhân đây có rất nhiều chư thiên phát tâm Tam thừa. Bấy giờ thiên vương bưng bát Phật và nói kệ:
Hi hữu, Đại đạo sư!
Vì thương xót chúng sình
Vì lợi ích chúng sinh
Khiến bát đến nơi này.
Phật bảo A-nan:
2 Cõi Diêm-phù-đề này và mười phương khác, cho đến cung của long vương Sa-già-la, đều có bát và xá-lợi của Phật. Như vậy bát và xá-lợi của Ta ở đời vị lai sẽ ẩn mất nơi cõi đất này, xuyên thẳng qua tám vạn do-tuần rồi trụ nơi lớp kim cương. Đến đời vị lai, khi thọ mạng các chúng sinh tám vạn bốn nghìn tuổi, đức Di-lặc Như Lai sẽ ra đời. Âm thanh của vị ấy như tiếng trống của cõi trời Đại Phạm, như tiếng ca-lăng-già. Bấy giờ, bát và xá-lợi của ta từ lớp kim cương vọt lên, hiện ra ở cõi Diêm-phù-đề, trụ trong hư không chỗ Đức Phật Di-lặc. Cả hai đều phóng ánh sáng năm màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Ánh sáng ấy chiếu soi đến tất cả cõi trời, và phát ra lời kệ:

Phần 4

Tất cả hành vô thường
Tất cả pháp vô ngã
Và niết-bàn tịch tĩnh
Đây là ba pháp ấn.
Ánh sáng ấy lại soi tới tất cả địa ngục, cũng phát ra lời kệ như thế. Lại chiếu đến mười phương thế giới, trong ánh sáng ấy cũng phát ra lời kệ như thế.
Phật bảo: Này A-nan! Bát và xá-lợi của Ta phóng ánh sáng chiếu đến mười phương thế giới, làm Phật sự rồi trở lại chỗ cũ, kết thành lọng mây sáng rỡ trụ trong hư không. Khi bát và xá-lợi hiện thần biến này, tám mươi trăm ức chúng sinh đắc quả A-la-hán; nghìn ức chúng sinh xuất gia có lòng tin thanh tịnh. Một vạn chúng sinh phát tâm A-nậu bồ-đề, đều không thoái chuyển. Lúc ấy ngài Di-lặc ôm bát và xá-lợi của Ta, nói với trời người và tất cả đại chúng:
- Các ông nên biết! Bát và xá-lợi này là cửa Thích-ca Mâu-ni Như Lai, bậc đại sĩ dõng mãnh luôn giúp cho vô lượng trăm nghìn na-do-tha ức chúng sinh trụ trong thành Niết-bàn, quí hơn trăm nghìn ức lần hoa Ưu-đàm, vì thế bát và xá-lợi Phật mới đến nơi này. Sau đó, Phật Di-lặc xây bốn bảo tháp phụng thờ bát và xá-lợi của Ta, thiết trai cúng dường, cung kính, lễ bái”.
Truyện Đạo Tuyên luật sư trụ trì cảm ứng ghi: “Luật sư hỏi một vị trời:
- Do nhân duyên gì mà giữ gìn bát của Đức Phật?
Vị trời thưa:
- Sau khi Như Lai thành đạo ba mươi tám năm, trên giảng đường Trùng Các tại tinh xá Kì-hoàn, Đức Phật bảo: ‘Này Văn-thù-sư-lợi! Ông hãy đến giới đàn rung chuông triệu tập thiên, long, tì-kheo và các đại bồ-tát khắp mười phương đến tinh-xá Kì-hoàn’.
Ngài Văn-thù-sư-lợi vâng lời Thế Tôn triệu tập đại chúng đông đủ. Lúc ấy Đức Phật dùng thần thồng biến tinh xá Kì-hoàn giống như nước Diệu Lạc. Giữa chặng mày của Phật phóng ra ánh sáng chiếu khắp mười phương, coi đất chấn động sáu cách. Trăm ức Thích-ca và mười ức Phật Diệu Quang cùng vân tập đến tinh xá Kì-hoàn. Bấy giờ, Thế Tôn ngồi kết già, nhập Kim Cương tam-muội, mặt đất lại chấn động sáu cách. Sau khi xuất định, Thế Tôn nói tiếng lớn bảo tất cả đại chúng trong ba nghìn thế giới:
- Trước đây, khi vượt thành xuất gia, Ta từng đi qua nước của vua Bình-sa, rồi vào núi tu đạo, thiên ma đến mê hoặc ta, lúc ấy có vị thần núi chỉ cho ta chỗ tu đạo, thần nói:
- Khi xưa- con từng ở đây, sau khi Phật Ca-diếp nhập niết-bàn có để lại bát sành cũ và dặn con giữ gìn, đợi Như Lai thị hiện, trao bát này cho Ngài. Vì thế trước khi thành đạo, Thế Tôn phải thụ bát này, rồi mới đến bát của Tứ thiên vương.
Ta nói với thần núi:
- Nếu ta thành Phật, sẽ làm đúng lời ông nói!
Sau khi xuống sông tắm gội xong, Ta nhận cháo sữa của hai cô gái, thần núi liền dâng bát. Ta dùng bát này đựng cháo sữa thì cõi đất lại chấn động. Ta giữ bát này trải qua ba mươi tám năm, chưa từng sứt mẻ. Một hôm, quốc vương thỉnh ta vào thành Vương Xá cúng dường. Thụ trai xong, ta bảo La-hầu-la đem bát về ao rồng. La-hàu-la làm bát vỡ thành năm mảnh. Ta liền lấy chì, bạc hàn lại, Đây không phải lỗi của La-hầu-la mà là điềm biểu hiện đời vị lai các ác tì-kheo tì-kheo-ni khinh chê, hủy hoại pháp khí của ta. Năm trăm năm đầu, tạng luật bị chia ra năm bộ, tạng kinh chia thành mười tám bộ. Đến khi chính pháp diệt, ba tạng kinh luật luận lại bị phân ra thành năm trăm bộ. Những tì-kheo vô trí vốn không có lòng từ, cũng không phát nguyện rộng cứu độ chúng sinh, mà chỉ khởi tâm tranh luận, dựng cờ ngã mạn làm cho chính pháp mau diệt. Đến một nghìn năm thi chính pháp bị hủy diệt, các ác tì-kheo đầy khắp Diêm-phù-đề và các cõi khác. Họ không giữ giới cấm, còn ác tì-kheo-ni giống như dâm nữ, không thực hành Bát kỉnh pháp, đem bát của ta đến khắp tửu điếm chứa rượu thịt. Thật đau xót thay! Như thế lẽ nào chính pháp không hủy diệt!
Bấy giờ, các tì-kheo đồng thưa:
- Bạch Thế Tôn! Sáng nay, chúng con vào thành khất thực, trở về trụ xứ thụ trai xong. Mọi người đem bát đi rửa, nhưng tất cả bát đều bị bể thành năm mảnh. Vì sự việc này, chúng con muốn đến thưa hỏi, thì được nghe Thế Tôn nói đây là điểm biểu hiện đời vị lai chính pháp sẽ bị hủy diệt, chúng con vô cùng lo sợ.
Thế Tôn liền bảo các tì-kheo:
- Ta giữ lại tám mươi ức bồ-tát tăng ở thế gian không vào niết-bàn. Trong đời ác mai sau, những bồ-tát này sẽ hộ trì thánh giáo, mỗi người đều dùng thần lực cảm hóa các tì-kheo xấu ác, khiến họ kính trọng bát của Phật.
Khi ấy, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy đến giới đàn và từ phía bắc bước lên, các tì-kheo dâng bát, Đức Phật thụ nhận. Đức Phật bảo La-hàu-la đem bát vỡ đến, rồi Ngài nhận và ném bát lên hư không, bay đến tận trời Hữu Đỉnh. Cứ thế, tất cả các vị Phật cùng hiệu Mâu-ni lần lượt ném bát của mình lên hư không. Các bát nối kết nhau giống như chuỗi hạt châu, đến đỉnh trời Sắc giới rồi lại rơi xuống giới đàn.
Bấy giờ, trăm ức vị Phật đến dự hội đều bảo thị giả đem bát của mình đến cúng dường Phật Thích-ca Mâu-ni. Các vị Phật cùng giữ gìn bát đó, khiến cho các tì-kheo, tì-kheo-ni xấu ác đời sau sinh tâm xấu hổ. Nhận bát xong, Thế Tôn lần lượt ném lên cõi trời, các bát xếp chồng rồi theo thứ tự rơi trở lại giới đàn. Bấy giờ, Thế Tôn hóa bát sành vỡ thành lá cờ bằng vàng của các cõi trời, phóng ánh sáng chiếu khắp mười phương.
Khi Đức Phật còn tại thế, Ngài nói với trời Đế Thích:
- Ông hãy cúng dường trân châu và các thợ giỏi cho ta!
Ngài lại bảo thiên ma-cúng bảy thứ báu, long vương Bà-kiệt cúng châu ma-ni.
Thế là Đế Thích, thiên ma, long vương liền dâng cúng châu báu lên Thế Tôn. Trong hai mươi mốt ngày, tất cả mọi người tập hợp tại giới đàn, xây tháp bằng chân châu, dùng bảy báu trang trí, trên đỉnh tháp gắn châu ma-ni. Nhờ thần lực của Đức Phật, nên trong hai mươi mốt ngày đã hoàn thành tám trăm ức tháp trân châu và bảy báu. Tất cả tháp ấy đều thờ bát sành của Như Lai.
Bấy giờ, ma vương thưa:
- Bạch Thế Tôn! Con đã xây tháp báu thờ bát của Ngài. Tuy con là thiên ma, nhưng kính vâng lời Ngài. Vì thế đời vị lai con không để cho người ác phá hoại chính pháp, con khuyến hóa các ác tì-kheo, khiến họ sinh lòng hổ thẹn.
Đức Phật nhận lời, ma vương dùng toàn ma-ni xây tháp lớn, cao đến bốn mươi do-tuần phụng thờ bát của Đức Phật. Sau khi Thế Tôn niết-bàn, Ngài phó chúc cho ma vương xây tháp, rồi nói với Đế Thích, Tứ thiên vương cùng đại ma vương:
- Các ông phải giữ gìn, sau khi ta niết-bàn, chính pháp diệt tận, các ông hãy đem tháp thờ bát của Ta đặt ở phía nam giới đàn. Trong mười hai năm đó Tứ thiên vương các ông phải ngày đêm cúng dường, giữ gìn đừng để tổn thất. Sau mười hai năm hãy giao lại cho long vương Bà-kiệt đặt trong long cung”.
Trong Tì-ni ghi: “Đức Phật lại bảo long vương phải xây mười sáu tháp phụ thuộc tháp bát. Mười hai năm sau giao cho Đế Thích, Tứ thiên vương đem tháp bát đến đỉnh núi Tu-di, đặt ở phía nam hồ Kim Sa trong vườn Hoan Hỉ của trời Đế Thích.
Đức Phật lại bảo Càn-thát-bà vương và tám bộ thần:
- Trong bốn mươi năm các ông hãy tấu nhạc trời cúng dường bảo tháp, vì đệ tử trì giới trong đời ác kia mà giữ gìn ứng lượng khí như con ngươi của mình.
Đức Phật bảo Đế Thích, Tử thiên vương:
- Các ông vào hang Kim Cang trong núi Tu-di lấy đá màu vàng, tạo nhiều bát đá hình dáng kích thước y như bát vỡ của Ta, hình dáng như năm mảnh ráp nối, sau đó thờ trong tháp mới và phải giữ gìn đừng để tồn thất. Một trăm năm sau, khi vua A-dục xây tháp xong, vua ấy sẽ đem tháp của ta đặt khắp cả nghìn cõi nước, cứ mười ức nhà, hoặc trong khoảng chu vi một vạn dặm đặt hai tháp thờ bát. Trong các cõi nước ấy, phải tìm những danh sơn là nơi các vị thánh ẩn cư ngày xưa, để đặt tháp.
Đức Phật lại bảo thiên vương ở phía bắc đến núi Lăng-già tìm hương Ngưu Đầu chiên-đàn, ngày ba lần đốt hương cúng dường tháp, đừng gián đoạn. Ta cũng bảo trời Tự Tại an trí tất cả tháp thờ bát, lại sai Tứ thiên vương và Càn-thát-bà vương phải thường đốt hương, trỗi nhạc cúng dường.
Các trời, rồng, thần nên biết! Vì giúp cho các tì-kheo, tì-kheo-ni phi pháp đời sau bỏ ác làm lành, cho nên ta sắp xếp như vậy”.
98.6. Phật pháp suy vi

Phần 5

Kinh Phó pháp tạng ghi: “Tì-kheo A-nan giáo hóa, giúp các chúng sinh đều được độ thoát. Cuối cùng, khi Ngài đến tinh xá Trúc Lâm nghe một vị tì-kheo tụng bài kệ trong kinh Pháp cú:
Nếu người sống trăm năm
Chưa thấy chim hạc nước
Không bằng sống một ngày
Mà được thấy chim hạc.
Ngài A-nan nghe thế, buồn than: ‘Con mắt thế gian tại sao hủy diệt nhanh vậy! Các phiền não ác sao lại chóng phát sinh! Điều này trái lời dạy của Đức Phật, tự ông khởi các vọng tưởng. Đây không phải lời dạỵ của Đức Phật, không thể tu tập theo. Ông phải biết! Có hai hạng người phỉ báng Đức Phật, một là hạng người tuy học hiểu nhiều mà tà kiến; hai, hạng người không hiểu nghĩa lí sâu xa, luận bàn sai lầm. Nếu rơi vào hai loại trên thì tự hại mình, lại không thể dẫn dắt người xa rời ba đường ác. Ông hãy lắng nghe ta nói bài kệ Đức Phật dạy:
Nếu người sống trăm năm
Không hiểu pháp sinh diệt
Không bằng sống một ngày
Hiểu rõ pháp sinh diệt.
Nghe xong, tì-kheo ấy liền đến gặp thầy mình và đọc bài kệ của ngài A-nan dạy. Vị thầy bảo:
- Ngài A-nan đã già nua, trí tuệ suy giảm, nói năng lẩm cẩm, không nên tin theo, con cứ tụng như trước.
Thời gian sau A-nan lại nghe tì-kheo ấy ngồi trong rừng trúc tụng bài kệ trước đây. Ngài A-nan liền đến hỏi. Tì-kheo đáp:
- Thầy tôi nói ngài A-nan đã già, lời nói có nhiều lầm lẫn, cứ y theo bài kệ trước mà tụng!
Ngài A-nan suy nghĩ: ‘Tại sao tì-kheo này xem thường lời nói ta, mà nghe theo lời dạy của người khác?’. Ngài A-nan liền nhập tam-muội để tìm người có đức cao, nhưng không thấy ai có thể chuyển đổi tâm ý tì-kheo này. Ngài liền thốt lên:
- Lạ thay! Sức vô thường thật lớn, hủy hoại vô lượng hiền thánh nhanh như thế, khiến thế gian rỗng không, để chúng sinh đi trong tối tăm lo sợ; tà kiến bất thiện tăng trưởng, phỉ báng Như Lai, đoạn dứt chính giáo, họ phải chìm trong biển sinh tử. Đường ác thú mở toang, cửa trời người đóng kín, chịu các khổ não trong vô lượng kiếp! Hôm nay ta sẽ nhập niết-bàn”.
Luận Tân-bà-sa ghi:
Hỏi: Sao nói chính pháp trụ?
Đáp: Vì người thực hành chính pháp đang trụ.
Hỏi: Sao nói chính pháp diệt?
Đáp: Vì người thực hành chính pháp đã diệt.
Hỏi: Vì sao viết ra luận này?
Đáp: Vì muốn phân biệt rõ ý nghĩa của khế kinh.
Khế kinh ghi: “Ca-diếp-ba nên biết! Tì-nại-da mà Như Lai thông đạt và giảng thuyết thì địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới không thể diệt được. Nhưng có hạng người xuất hiện ở đời, tâm đầy dục vọng, chuyên làm việc ác pháp; không phải chính pháp nói là chính pháp, đúng là chính pháp nói không phải chính pháp, không phải giới luật nói là giới luật, giới luật nói không phải giới luật. Hạng ngưới đó đã diệt hoàn toàn ba vô số kiếp chính pháp của ta kết tập”.
Khe kinh chỉ nói như vậy, nhưng không phân biệt vì sao chính pháp trụ, vì sao chính pháp diệt? Khế kinh chính là chỗ y cứ căn bản của luận này. Điều mà khế kinh không phân biệt thì ở đây phải phân biệt, cho nên mới tạo luận này. Trong đây có hai loại chính pháp:
1. Thế tục chính pháp: danh thân, cú thân, văn thân tức kinh, luật, luận
2. Thắng nghĩa chính pháp: thánh đạo tức ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi vô lậu.
Người tu hành theo giáo pháp cũng có hai loại:
1. Trì giáo pháp: người đọc tụng, giảng giải nghĩa kinh.
2. Trì, chứng pháp: người tu chứng thánh đạo vô lậu.
Nếu người trì giáo nối tiếp không gián đoạn thì chính pháp thế tục trụ lâu ở đời? Nếu người trì chứng cũng nối tiếp không dứt thì chính pháp thắng nghĩa trụ lâu ở đời. Nếu người trì diệt thì chính pháp cũng diệt.
Khế kinh ghi: “Chính pháp trụ lâu dài không phải nhờ vào tường vách, trụ cột, chỉ do người thực hành chính pháp nối tiếp không gián đoạn”.
Hỏi: Vì sao Thế Tôn không nói chính xác thời gian pháp trụ?
Đáp: Vì Thế Tôn muốn chỉ rõ chính pháp tùy theo người thực hành mà pháp được trụ lâu hay mau. Nghĩa là, nếu người hành pháp luôn tu tập theo chính pháp, như lúc Phật còn tại thế hay sau khi niết-bàn không lâu, thì chính pháp của Đức Phật vẫn thường trụ ở đời, không bị hoại diệt. Nếu không như thế, chính pháp sẽ mau chóng diệt mất. Nếu Đức Phật độ người nữ xuất gia mà không dạy họ hành Bát kinh pháp thì chính pháp của Phật sẽ giảm năm trăm năm. Nhờ Phật dạy họ thực hành Bát kỉnh pháp, nên chính pháp trụ ở đời trọn một nghìn năm.
Bài kệ Ca-chiên-diên thuyết pháp diệt tận:
Tôn giả Ca-chiên-diên
Ngộ đạo tu giới luật
Thấy những người hung bạo
Liền thuyết kệ khai pháp.
Khi chính pháp sắp diệt
Đời người chỉ trăm tuổi
Ánh sáng của chỉnh pháp
Trụ thế còn không lâu.
Khi chính pháp diệt rồi
Các tì-kheo mê muội
Sẽ bỏ các kinh pháp
Của Đức Phật đã giảng.
Xa rời nghĩa lí kinh
Lại cùng nhau tìm lỗi
Chính ta được nghe truyền
Độc hành không bạn lữ.
Đoạn giữa đặt vào sau,
Lời sau để vào giữa
Không biết rõ thứ lớp
Lời Phật quí vô cùng.
Nêu chứng cứ sai lầm
Lại nói không gốc ngọn
Nghe nhận đều sơ suất
Giảng thuyết không rõ ràng
Mỗi mỗi cùng tranh luận
Sinh khởi tâm độc hại
Tham lợi dưỡng cúng dường
Nổi chìm theo thế tục
Vui thích nơi ồn náo
Không ưa chỗ thanh nhàn
Lần lượt dối gạt nhau
Để nuôi dưỡng vợ con
Hoặc có các tì-kheo

Phần 6

Từ phương xa đi đến
Trụ trì vốn tự an
Sống nhàn, liền cho phép
Thấy tì-kheo phương xa
Hiện sắc mặt không vui
Họ bỏ đi nơi khác
Vì thế lòng vui thích.
Thường ôm lòng sân giận
Kiêu căng và tự đại
Mong cầu không biết chán
Buông lung theo thế tục.
Mãi tạo các việc ác
Không muốn tụng kinh điển
Suốt ngày vui ca hát
Tối đến ngủ say sưa.
Như thế cùng tụ họp
Nói không hợp lí kinh
Chỉ bàn việc quan huyện
Hành sự theo thế tục.
Giả sử có người học
Được mọi người cúng dường
Mong muôn được xuất gia
Nói học pháp tì-kheo,
Nhưng hành không đúng pháp
Chỉ nghĩ đến lợi dưỡng
Tuổi đạo còn non kém
Mà nuôi nhiều đệ tử.
Trong tâm thường loạn động
Sở học không thấu đáo
Cũng chẳng giữ giới luật
Rơi vào đường tà kiến.
Buông lung không hổ thẹn
Không tu tập uy nghi
Cũng không ưa pháp hội
Đam mê theo lợi dưỡng.
Tranh cãi mãi với nhau
Liền kết thành cừu oán
Các ma và quyến thuộc
Nhân đây có cơ hội.
Trời, người, rồng, quỉ thần
Muốn đến nghe kinh giáo
Ngưỡng vọng chờ nghe giới
Nhưng chỉ nghe tranh tụng.
Trời người tức giận bảo
Chẳng xứng hạnh tì-kheo
Qua lại cùng bàn bạc
Phật pháp sắp diệt tận.
Chúng ta bỏ sự vui
Muốn đến đây thụ pháp
Nhưng không nghe chính pháp
Chẳng thà ta bỏ đi.
Những quỉ thần uy đức
Tâm mến thích Phật pháp
Không quan tâm tì-kheo
Cũng không ủng hộ họ.
Bấy giờ ác quỉ thần
Hung bạo và độc hại
Hút tinh khí tì-kheo
Khiến mạng sống chấm dứt.
Lại có các tì-kheo
Trộm cắp không hổ thẹn
Biếng nhác lòng thâm độc
Như thế đời tương lai
Trái lại được cung kính.
Có tì-kheo hiền nhân
Đầy đủ lòng hổ thẹn
Vào đời chính pháp diệt
Lại không có chỗ nương.
Thí như vua sư tử
Nằm chết ở trong rừng
Chó sói và chằn cáo
Không dám đến ăn thịt.
Nhưng trùng từ trong thân
Cứ thế ăn sư tử
Ngày đêm cùng rúc rỉa
Hủy diệt thân thể nó.
Chính pháp tại thế gian
Hoàn toàn không tự diệt
Nhưng vì có tượng pháp
Nên chính pháp mới diệt.
Giống như thuyền trên biển
Tham chở nặng nên chìm
Phật pháp cũng như vậy
Vì lợi dưỡng mà diệt.
Các tì-kheo gặp nạn
Như người mất song thân
Ngày nay cuối thời mạt
Chính pháp Phật diệt tận.
Từ nay trở về sau
Không còn ai thuyết kinh
Pháp luật và cấm giới
Phải từ đâu để nghe.

Phần 7

Chư thiên và quỉ thần
Cùng các thần khoáng dã
Buồn thảm, tâm sầu não
Lăn lộn không kiểm chế.
Vì đèn pháp đã tắt
Chính học đã hủy diệt
Đời nay thật suy đồi
Trống pháp không còn vang.
Quân ma bày tiệc mừng
Tụ tập chúc tụng nhau
Đưa tay cao nói rằng:
“Nay đủng là mạt pháp
Ta biết đời tương lai
Sẽ có hoạn nạn này
Càng phải siêng tinh tấn
Nỗ lực cầu giải thoát
98.7. PHÁ GIỚI
Kinh Liên Hoa Diện ghi: “ Đức Phật bảo:
- Này A-nan! Đời vị lai, có các tì-kheo phá giới, thân đắp ca-sa, đi khắp thành ấp, đến các xóm làng ở lại nhà bà con thân thuộc. Người này chẳng phải là tì-kheo, cũng chẳng phải là cư sĩ. Vì họ chỉ lo nuôi dưỡng thê thiếp, sinh sản con cái.
Lại có tì-kheo đến nhà dâm nữ, dâm tì-kheo ni, cất chứa vàng bạc tạo dựng sản nghiệp để tự nuôi sống. Lại có tì-kheo làm sứ giả để tự nuôi sống, có tì-kheo bào chế thuốc thang để tự nuôi sống, có tì-kheo thường đánh cờ bạc để nuôi sống, có tì-kheo làm nghề bói toán để tự nuôi sống. Lại có tì-kheo tụng chú trừ đuổi quỉ thần cho người để lấy tiền tài nuôi sống thân mạng. Lại có người làm nghề đồ tể nuôi sống thân mạng, có người lạm dụng tiền vật của Tam bảo để nuôi sống bản thân. Lại có tì-kheo bên trong đã phạm giới, nhưng ngoài dối hiện tướng giữ giới trang nghiêm để thụ nhận của thí chủ. Lại có người bỏn xẻn cất giữ vật của chúng tăng, không cho khách tăng dùng. Lại có người bỏn xẻn phòng tăng, giường tòa, không cho khách tăng sử dụng.
Lại có tì-kheo chưa chứng quả A-la-hán mà dối xưng là a-la-hán, vì muốn mọi người biết để được cúng dường nhiều, chỉ vì lo nuôi sống thân mạng, không biết tu đạo. Lại có tì-kheo làm nghề buôn bán mong có nhiều tiền của để nuôi sống bản thân. Lại có người chuyên hành nghề trộm cắp để tự nuôi sống. Có người làm nghề chăn nuôi gia súc cho đến mua bán để tự nuôi sống. Lại có người buôn bán nô tì để tự nuôi sống. Có người làm nghề đồ tể giết trâu, dê ... để tự nuôi thân. Có người được chiêu mộ vào quân lính, ra chiến trường giết giặc, giết hại nhiều người để lập công trạng. Lại có người chuyên đi cướp đoạt đánh phá thành ấp, tụ lạc để tự nuôi sống.
Do vô lượng nguyên nhân dẫn đến địa ngục như thế, nên sau khi mạng chung đều rơi vào địa ngục. Như thịt sư tử không loài vật nào dám ăn, chỉ có trùng từ thân sư tử sinh ra trở lại ăn thịt nó. Phật bảo:
- Này A-nan! Phật pháp của ta chẳng phải do người khác phá hoại, chỉ có những ác tì-kheo trong Phật pháp ta phá hoại mà thôi. Chúng cũng như gai độc, phá hoại Phật pháp mà ta đã siêng năng gian khổ gom chứa trong ba a-tăng kì kiếp.
A-nan nghe Phật nói như thế, trong lòng rất lo sợ, rúng động toàn thân, liền bạch:
- Bạch đức Thế Tôn! Ngài sớm vào niết-bàn là đúng lúc! Làm sao nỡ nhìn thấy những viêc ác ở đời vị lai như thế!
Đức Phật bảo:
- A-nan! Đời vị lai, có nhiều người cư sĩ tại gia được sinh thiên, người xuất gia phần nhiều đọa vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh. Ông nên biết! Nghiệp thiện ác không bao giờ mất, như thời quá khứ, khi Ta làm thương nhân dong thuyền ra biển lớn, vì cứu nhiều người mà phải giết một người. Do duyên nghiệp ấy mà đến khi thành Phật, thân vẫn còn bị nạn cây gỗ nhọn đâm vào chân”.
Kinh Như Lai biến ghi: “Bấy giờ Thế Tôn bảo các tì-kheo:
- Đời tương lai sẽ có các tì-kheo không thuận một pháp mà làm cho Phật pháp bị hủy diệt, không phát triển. Đó là không giữ gìn giới cấm, không biết phòng hộ tâm, không tu trí tuệ, buông lung tâm ý, chỉ cầu tiếng tốt, không tuân theo lời Phật, không chịu siêng năng tu tập, sự nghiệp độ đời.
Lại có hai việc khác làm cho Phật pháp bị hủy diệt:
1. Không giữ gìn giới cấm, không nhiếp phục tâm, không tu trí tuệ, chỉ biết nuôi dưỡng vợ con, buông lung tâm ý, buôn bán kinh doanh để sinh sống.
2. Kết bè kết đảng, thấy người phụng thờ Phật pháp sinh tâm ganh ghét. Muốn làm cho người kia đọa lạc, nên luận bàn nhau cho người ấy là dua nịnh, trong tâm luôn nghĩ điều xấu ác, bên ngoài dối hiện thanh bạch.
Lại có ba việc làm cho Phật Pháp bị hoại diệt: Không giữ gìn giới cấm, không nhiếp phục tâm, không tu trí tuệ.
2. Đọc văn tự không xét kĩ câu cú, lấy câu trên đặt ở dưới, lấy câu dưới để lên đoạn trên, đảo lộn đầu đuôi, không hiểu chỗ cùng tột của giáo liễu nghĩa mà tự cho là đúng.
3. Người trí quở trách, không chịu vâng theo, trở lại sân giận bảo người ấy có tâm tật đố. Kém hiểu biết, không phân biệt nghĩa lí, nên điều gì cũng cho là đúng.
Lại có bốn việc làm cho Phật pháp bị hủy diệt:
1. Đời tương lai tì-kheo bỏ sự nghiệp tu đạo ở nơi thanh vắng.
2. Tì-kheo chỉ thích đến những nơi ồn náo trong nhân gian, giảng thuyết, luận bàn chỉ mong được cúng ca-sa năm màu.
3. Nhìn xa trông rộng cho đó là kì đặc, lại tự cho mình đức hạnh cao tột không ai sánh bằng. Nhưng đó chỉ là trí tuệ nhỏ bé, giống như ánh sáng đèn sánh với mặt trời mặt trăng mà thôi.
4. Không nhiếp phục ba việc, không phòng hộ các căn, đứng trước phụ nữ dùng ngôn từ hoa mĩ, nhiều lời, nói những việc tốt lành để động tâm người; biến trong thành đục; thân hạnh bất chính, phế bỏ chính pháp.
Nếu tì-kheo muốn chân thật học đạo, phải buông bỏ những lời hoa mĩ, không cầu danh tiếng, chất phác, chân thật, lưu truyền chính kinh điển của Đức Phật, dùng ngôn từ diễn đạt pháp sâu xa, không cần nói nhiều, chỉ y theo chính kinh giảng thuyết, không bỏ câu cú, tuy nói ít nhưng luôn đúng, không sai ý của Phật. Mặc áo thô ăn uống đạm bạc, dù được thức ăn ngon cũng không vui, gặp thức ăn dở cũng không buồn. Y phục, thức ăn tốt xấu đều tùy hỉ ý thí chủ, chỉ lo bảo vệ sáu căn, không trái lời Phật. Tinh tấn tu học Phật pháp như cứu lửa cháy đầu. Tuỵ không gặp Phật ra đời, nhưng xuất gia vì đạo, tu học không luống bỏ, luôn giữ tâm an bình, khởi lòng thương tất cả”.
Luật Thập Tụng ghi: “Khi chính pháp diệt bởi thời tượng pháp, có năm điều phi pháp:
1. Tì-kheo vừa có chút tỏ ngộ bản tâm liền cho là mình đã chứng được pháp của bậc thánh.
2. Cư sĩ được sinh lên cõi trời, người xuất gia bị đọa địa ngục.
3. Có người bỏ tập nghiệp thế gian để xuất gia tu đạo, nhưng lại phá giới.
4. Kẻ phá giới lại được nhiều người ủng hộ, người trì giới lại không có người ủng hộ.
5. Ngay cả những vị a-la-hán cũng bị hủy nhục.
Lại có năm điều đáng lo sợ ở đời vị lai:
1. Tự thân đã không tu thân giới, tâm tuệ, lại độ người khác xuất gia, cũng không dạy họ tu tập thân giới, tâm tuệ.
2. Nuôi dưỡng sa-di.
3. Làm thầy y chỉ cho người khác.
4. Người như thế cùng với tịnh nhân, sa-dỉ, cư sĩ ở chung, đều không biết rõ ba việc: đào xới đất đai cắt cỏ, dùng nước tẩy rửa.
5. Tuy có tụng trì Tam tạng, nhưng lẫn lộn trước sau.
98.8. TRANH TỤNG

Phần 8

Kinh Tạp A-hàm ghi: “Đức Phật nói:
- ở đời đương lai, tại nước Ma-thâu-la này chính pháp của Ta tồn tại đến một nghìn năm, sau một nghìn năm này mới xuất hiện phi pháp. Lúc ấy trong cõi Diêm-phù-đề có nhiều tai họa như gió bão, mưa lớn, nhân dân đói khát, môi trường tàn phá, thức ăn mất vị ngon béo, trân bảo bị vùi lấp. Phương tây có vua Bát-la-bà, phương bắc có vua Da-bà-na, phương nam có vua Phi-thích-ca, phương đông có vua Nhi-sa-la. Bốn vị vua này đều có rất nhiều quyến thuộc, giết hại tì-kheo, phá hoại chùa tháp, khắp nơi loạn lạc. Bấy giờ, các tì-kheo đều tu tập tại nước Câu-thiểm-di. Vua nước này tên Ma-nhân-đà-la-tây-na có một người con, bàn tay như dính máu, thân như mang giáp trụ, có sức mạnh vô địch. Lại có năm trăm người con của năm trăm quan đại thần cũng đồng được sinh ra trong ngày ấy. Bàn tay những đứa trẻ ấy cũng tựa như dính máu, thân như mang giáp trụ. Hôm ấy, tại nước Câu-thiểm-di, trời tuôn mưa máu suốt một ngày. Vua thấy điềm xấu như thế rất lo sợ, liền hỏi thầy tướng. Thầy tướng tâu:
- Thái tử về sau sẽ làm vua cõi Diêm-phù-đề giết hại rất nhiều người.
Nghe thế, vua đặt cho thái tử tên Nan Đương Thái tử dần dần trưởng thành, ngày kia có bốn vua ác từ bốn phương kéo quân đến. Vua nước Cầu-thiểm-di rất lo sợ, bỗng thấy thiên thần hiện đến bảo:
- Đại vương! Hãy lập Nan Đương làm vua, thái tử có đủ khả năng hàng phục bốn vua ác kia. Vua làm theo lời thiên thần, nhường ngôi rồi lấy hạt minh châu trong búi tóc găn lên đâu thái tử. Đồng thời nhà vua triệu tập năm trăm đại thần, dùng nước thơm làm lễ quán đỉnh rồi cho thái tử ra chiến trường. Năm trăm người con của đại thần cũng mang giáp trụ theo vua xuất chinh. Quân vua Nan Đương đánh và giết hết quân của bốn vua ác, cai trị cõi Diêm-phù-đề và đóng đô tại nước Câu-thiểm-di.
Sau đó, có vị Tam tạng a-la-hán xuất hiện, thuyết pháp độ vua. Vua nghe xong mọi ưu phiền đều dứt sạch, hết lòng kính tin Phật pháp, tự nói:
- Từ nay trở về sau ta sẽ mang sự vô úy đến các vị tì-kheo, họ an lạc là ta vui. Vua hỏi các tì-kheo:
- Trước đây bốn vua ác hủy diệt Phật pháp trải qua bao nhiêu năm?
Các tì-kheo đáp:
- Tâu đại vương! Mười hai năm.
Nghe xong, vua ngẫm nghĩ rồi nói lớn:
- Tôi sẽ cúng dường đầy đủ phẩm vật cho năm chúng trong mười hai năm. Ngày vua cúng dường trời đổ mưa thơm thấm ướt khắp cõi Diêm-phù-đề, tất cả giống loại đều tăng trưởng. Sau đó không lâu, đệ tử của Tam tạng cùng các tì-kheo có sự bất hòa. Một ác tì-kheo giết pháp sư Tam tạng A-la-hán, thấy thế vua rất sầu não. Các bọn tà kiến đua nhau phá tháp miếu giết hại tì-kheo. Từ đây Phật pháp hủy diệt nhanh chóng.
Nghe Phật nói xong tất cả trời người đều rơi lệ”.
Kinh Pháp diệt tận ghi: “Phật bảo:
- Này A-nan! Sau khi Ta nhập niết-bàn, chính pháp sẽ hoại diệt. Đời ngũ trược ma đạo hưng thịnh, các ma sa-môn phá hoại đạo của ta, mặc quần áo thế tục, ưa đắp ca-sa năm màu, uống rượu ăn thịt, giết hại sinh vật chỉ vì tham vị ngon, không có tâm từ bi, oán ghét lẫn nhau.
Bấy giờ, hễ bồ-tát tinh tấn tu đạo thì bị các ma tì-kheo ganh ghét, phỉ báng, cố tìm những lỗi xấu để tẩn xuất, không cho vị ấy ở trong chúng. Từ đó về sau không còn người tu đạo đức, chùa miếu hoang tàn, không người sửa sang, dần dần bị hủy hoại. Các ác tì-kheo này chỉ tham tiền của, lo gom chứa không hề buông xả, không tạo phúc điền, buôn bán nô tì, cày ruộng, trồng tỉa, thiêu đốt núi rừng, làm hại chúng sinh, không có tâm từ. Tớ trai làm tì-kheo, hầu gái làm tì-kheo ni, không có đạo đức, dâm dật hỗn tạp, nam nữ không phân biệt. Khiến cho đạo pháp suy vi đều do bọn người này. Hoặc vì trốn quan huyện nên vào đạo của Ta, xin làm tì-kheo, nhưng không thực hành theo giới luật; nửa tháng, cuối tháng tuy nói là tụng giới, nhưng lộ vẻ mệt mỏi không muốn nghe, không thích đọc tụng kinh luật. Nếu đọc, cũng không rành rẽ câu cú, nên gượng cho là đúng, mà không thưa hỏi người trí. Chỉ biết cống cao cầu danh, dối trá hiện vẻ an nhàn, mong được người cúng dường. Các tì-kheo xấu xa này sau khi mạng chung liền rơi vào địa ngục Vô trạch, vì phạm năm tội nghịch; nên phải trải qua các đường ngạ quỉ, súc sinh. Ở trong đó chịu tội vô biên hằng hà sa kiếp xong, mới sinh làm người ở nơi biên địa không có Tam bảo.
Khi Phật pháp sắp diệt, người nữ thường tinh tấn tạo các công đức, còn người nam thì biếng nhác không thích nghe pháp, thấy sa-môn cũng như thấy phân đất, không có tâm kính tin. Khi ấy bánh xe pháp diệt tận; chư thiên đều rơi lệ, thời tiết khô hạn, ngũ cốc thất mùa, tai ôn dịch bệnh lan tràn, người chết la liệt. Nhân dân lao khổ mới có được thực phẩm, thì bị quan huyện chiếm đoạt. Do không tuân giữ đạo lí, chỉ nghĩ đến những thú vui thác loạn, nên người ác càng nhiều, người thiện rất ít. Ngày tháng càng qua nhanh, mạng người càng ngắn.
Tì-kheo bồ-tát bị chúng ma xua đuổi, không cho dự vào hội chúng. Bồ-tát phải vào trong núi tu đạo, sống đời thanh đạm lấy đó làm vui, tuổi thọ dài lâu, chư thiên ủng hộ. Mười hai thể loại kinh không lâu sau cũng bị hủy diệt, không còn văn tự. Ca-sa của sa-môn tự nhiên biến thành màu trắng. Sau khi thánh vương băng, pháp của Ta bị diệt mất. Giống như đèn cạn dầu sắp tắt, ánh sáng bừng mạnh lên rồi mới tắt hẳn, pháp của Ta ở thời mạt cũng như thế.
Từ đây trở về sau không thể nói hết. Như thế trải qua thời gian lâu, cho đến khi Di-lặc hạ sinh ở nhân gian, thiên hạ mới được an bình, khí độc tiêu trừ, mưa hòa gió thuận, ngũ cốc dồi dào, cỏ cây tươi tốt, người cao đến tám trượng, thọ tám vạn bốn nghìn tuổi chúng sinh được độ không thể tính đếm”.
98.9. PHẬT PHÁP HOẠI DIỆT
Kinh Nhân vương ghi: “Vào đời ngũ trược, bốn chúng đệ tử tì-kheo, tì-kheo ni, tám bộ trời rồng..., tất cả thần vương, quốc vương, đại thần, thái tử, vương tử, cậy mình cao quí phá diệt pháp của ta. Họ tự chế ra các điều lệ, cấm đệ tử tì-kheo, tì-kheo ni của ta không được tạo hình tượng Phật, xây tháp thờ Phật. Họ lại đặt ra chức quan quản lí tăng ni, lập sổ bộ để theo dõi tăng chúng. Tì-kheo ngồi dưới đất, cư sĩ ngồi trên cao; binh lính, nô bộc làm tì-kheo thụ pháp biệt thỉnh; các tì-kheo tri thức cũng đồng tâm, kết giao thân thiết, lập trai hội để cầu phúc như pháp của ngoai đạo. Nên biết, bây giờ chính pháp không bao lâu sẽ hoại diệt.
- Đại vương! Sau khi ta diệt độ, trong đời vị lai, bốn chúng đệ tử, các vua nước nhỏ, thái tử, vương tử chính là những người giữ gìn bảo vệ Tam bảo, nhưng dần dần lại phá diệt Tam bảo. Như trùng trong thân sư tử trở lại ăn thịt sư tử, chứ chẳng phải do ngoại đạo. Những người phâ hoại Phật pháp của Ta đều phải chịu tội nặng. Do chính giáo suy tàn, nhân dân không chính trực, con người dần dần tạo ác, nên tuổi thọ ngày càng giảm chỉ còn trăm tuổi. Do phá hoại Phật pháp nên không có con hiếu thảo, lục thân không hòa thuận, thiên thần chảng ủng hộ, ác quỉ bệnh tật thường đến làm hại, tai họa ập đến liên miên. Sau khi chết đọa vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh; nếu được làm người phải chịu quả báo làm kẻ nô bộc. Như vang theo tiếng, như bóng theo hình; như người ban đêm viết chữ, đèn tắt nhưng chữ còn; quả báo trong ba cõi cũng lại như thế.
- Đại vương! Trong đời vị lai, tất cả quốc vương, thái tử, vương tử, bốn chúng đệ tử, vô cớ biên soạn, chế giới cho đệ tử Phật, giống như pháp của cư sĩ, binh nô. Nếu tì-kheo, tì-kheo ni đệ tử Ta lập sổ sách cho tăng, làm việc cho quan, thì đều chẳng phải là đệ tử Ta. Đó là pháp binh nô, lập ra tăng quan để kiểm soát tăng và quản lí sổ bộ chư tăng, Tăng chúng lớn nhỏ đều bị ràng buộc, như pháp của binh nô, như pháp ngục tù. Nên biết Phật pháp không còn bao lâu nữa”.
Kinh Xá-lợi-phất vấn ghi: “Phật bảo Xá-lợi-phất:
Ta niết-bàn không bao lâu, Đại Ca-diếp v.v... sẽ cũng phân biệt giảng thuyết, làm chỗ nương tựa vững chãi cho tì-kheo, tì-kheo ni, như Ta không khác. Ca-diếp sẽ truyền trao lại cho A-nan. A-nan lại giao phó lại Mạc-điền-địa, Mạc-điền-địa truyền lại Xá-na-bà-tư, Xá-na-bà-tư, truyền lại cho Ưu-ba-cúc-đa. Sau ưu-ba-cúc-đa có vua Khổng Tước Luân-khả hoằng truyền kinh luật ở đời. Cháu của Khổng Tước Luân-khả là Phất-sa-mật-đa-la khi kế thừa vương vị, liền hỏi quần thần:
- Làm sao để danh tiếng của ta không mất?
Khi ấy có một đại thần thưa:
- Tâu đại vương chỉ có hai điều, đó là:
Thứ nhất, đại vương nên noi theo tiên vương tạo tám vạn bốn nghìn tháp, dốc tiền của cúng dường Tam bảo. Thứ hai, nếu ngài không làm được việc ấy, có thể phá chùa tháp, hủy Phật pháp, tàn hại bốn chúng. Hai việc trên tuy thiện ác khác nhau, nhưng đều lưu truyền muôn thuở,
Vua nói:
- Oai đức của ta không thể sánh với tiên vương, nên ta chọn việc thứ hai để lưu danh.

Phần 9

Nói xong, vua đích thân chỉ huy bốn bộ binh đập phá chùa Kê Tước. Trong chùa có hai con sư tử đá bỗng nhiên gầm rống chấn động mặt đất. Vua hoảng sợ lui binh chạy về thành. Nhân dân chứng kiến cảnh tượng ấy, đứng chật đường khóc than. Vua càng phẫn nộ, nhưng không dám xông vào, liền ép binh tướng giả làm người bị hại đến khuyến dụ, kêu gọi bảy chúng tập họp đầy đủ và hỏi:
- Nên phá chùa, hay phá nhà?
Mọi người đều nói:
- Xin đừng phá cả hai, nếu bất đắc dĩ thì phá nhà mà thôi!
Nghe xong vua càng phẫn nộ nói:
- Tại sao không thể?
Nói xong, liền ra lệnh giết hại tất cả, không luận già, trẻ máu chảy thành sông. Sau đó vua phá hoại hơn tám trăm ngôi chùa tháp. Các thiện nam tín nữ kêu than, buồn khóc thảm não. Vua liền bắt họ, giam cầm, tra tấn. Năm trăm vị a-la-hán lánh đến Nam sơn mới thoát. Khe núi này hỉểm trở nên binh lính không thể đến. Vua sợ không thể diệt trừ tận gốc, liền treo thưởng cho nhân dân trong nước: ‘Nếu ai bắt được một sa-môn, sẽ được thưởng ba nghìn đồng tỉền’.
Bây giờ, có a-la-hán tên Quân-đồ-bát-thán được Phật phó chúc lưu truyền kinh điển ở đời. Ngài vận thần thông biến hóa ra vô lượng người, bắt vô lượng tì-kheo đem đến nhận tiền thưởng. Tất cả kho lẫm của vua đều cạn sạch, vua càng tức giận. A-la-hán Quân-đồ-bát-thán liền hiện thân nhập Diệt tận định. Vua đích thân gia hình, nhưng nhờ sức định nên a-la-hán không hề bị thương tổn.
Vua lại ra lệnh thiêu đốt đài kinh, lửa vừa bén, bồ-tát Di-lặc dùng thần lực đón kinh luật của Ta cất nơi cung trời Đâu-suất. Phất-sa-mật-đa-la lại phá tháp thờ xá-lợi thân và răng Phật. Thần giữ tháp nói thần Trùng Hành:
- Trước đây ngươi muốn lấy con gái ta, nhưng ta không chấp nhận Nếu hôm nay ngươi thệ nguyện hộ pháp thì ta sẽ gả con gái cho, nhưng phải hàng phục được vua này!
Nghe vậy thần Trùng Hành vui mừng, liền nhấc ngọn núi lớn đè chết vua và bốn binh chúng. Con cháu của vương gia cũng không ai sống sót.
Sau đó, vua khác lên ngôi tính tình hiền thiện. Bồ-tát Di-lặc biến ra ba trăm đồng tử bay xuống nhân gian để cầu Phật đạo, theo năm trăm a-la-hán thụ học giáo pháp. Từ đó, nam nữ trong nước đến cầu xin xuất gia ngày càng đông. A-la-hán Quân-đồ-bát-thán vận thần thông lên trời mang kinh luật trở lại nhân gian. Bấy giờ, tì-kheo Tổng Văn bàn bạc với các vị a-la-hán và quốc vương phân chia kinh luật của Ta, xây nhiều đài cao tôn trí để người cầu học đến gạn hỏi”.
Vương Huyền Sách hành truyện ghi: “Đạt-ma-sư trụ trì chùa Bồ-đề nước Ma-già-đà hỏi sứ giả nhà Hán mới biết được Phật pháp thịnh hành ở nơi ấy, nên nói:
- Phật pháp hưng thịnh khắp nơi!
Thuở xưa có Già-yết vương nằm mộng thấy biển lớn, ở giữa nước đục, , bốn phía lại trong, liền thỉnh Phật Ca-diếp giải thích. Đức Phật dạy:
- Thời mạt pháp của Phật Thích-ca, tại Thiên Trúc không còn Phật pháp, do đó nước ở giữa thì đục; Phật pháp được lưu truyền khắp bốn phương, nên nước bốn phía thì trong”.
* Lời bàn
Từ khi truyền về phương đông đến nay, Phật pháp tại nước Chấn-đán đã ba phen bị các vua ác hủy diệt. Thứ nhất, Hách Liên Bột Bột nước Hạ đánh phá Trường An, giết tăng chúng. Thứ hai, Thái Vũ đế đời Bắc Ngụy nghe lời Thôi Hạo tiêu diệt Tam bảo, về sau vua hối cải, Thôi Hạo bị gia tội ngũ hình. Thứ ba, Chu Vũ đế ra lệnh tăng ni phải hoàn tục. Ba vị vua này vì hủy diệt Phật pháp, nên đều không giữ được ngôi vị lâu dài, thân bị bệnh ghẻ lở. Sau khi chết đọa vào địa ngục. Có người chết sống lại kể rằng thấy những vua ấy ở trong địa ngục chịu khổ. Như trong biệt truyện và Minh bảo kí đã thuật rõ.
Có bài tụng:
Thánh tích ẩn rồi hiện
Theo người mà hưng suy
Chí thành liền cảm ứng
Không tin khó cảm thương.
Mong giữ tâm kính học
Giáo pháp trùm chân tông
Người mê mờ lí này
Thật khó được giải thoát.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục