PUCL QUYỂN 95 - CHƯƠNG BỆNH KHỔ
11/01/2016
QUYỂN 95 Quyển này có một chương khổ. 95. CHƯƠNG BỆNH KHỔ 95.1. LỜI DẪN Ba cõi mênh mông, sáu đường đông đúc, tất cả các loài chúng sinh đều nhờ vào bốn đại phò trì, năm căn tạo thành hình thể. Thế nên, khi bốn đại tích...

QUYỂN 95
Quyển này có một chương khổ.
95. CHƯƠNG BỆNH KHỔ
Ba cõi mênh mông, sáu đường đông đúc, tất cả các loài chúng sinh đều nhờ vào bốn đại phò trì, năm căn tạo thành hình thể. Thế nên, khi bốn đại tích tụ thì thành thân, phân tán lại trở về không. Tính chất của địa, thủy, hỏa, phong đều khác nhau, nhưng mỗi mỗi tùy theo đó mà tìm chỗ dung hợp. Lẽ dung hợp rất khó, vì thế cần phải điều hòa, nếu để chống nhau thì dễ sinh rối loạn. Một đại không điều hòa thì bốn đại đều thương tổn.
Như địa đại tăng thì thân thể sạm đen, da thịt bầm xanh, kết tụ khối u cứng như sắt đá. Nếu địa đại suy giảm thì toàn thân gầy yếu, liệt nửa thân, khô gầy, tiều tụy, mắt mờ, tai điếc.
Nếu thủy đại tăng thì da thịt đầy nước, không còn khí sắc, toàn thân vàng bủng, thần sắc tiều tụy, chân tay sưng phù, bàng quang căng trướng. Còn thủy đại giảm thì thân thể gầy gò, xương lộ, gân hiện, mạch chìm, môi và lưỡi khô, tai ù, mũi nghẹt, ngũ tạng như thiêu đốt, chất dịch khô cạn, không tiết ra ngoài, lục phủ tiêu hao, không thể đứng vững.
Nếu hỏa đại tăng thì toàn thân bứt rứt, nóng như lửa đốt, mụn nhọt sưng tấy, vết thương lở loét, máu mủ chảy tràn, xông mùi hôi thối. Còn hỏa đại giảm thi thân thể gầy yếu, lục phủ ngũ tạng như băng, khí lạnh ngưng tụ nơi ngực, miệng như ngậm sương. Mùa hạ nóng bức, lại mặc áo da nhiều lớp vẫn không thấy ấm ăn uống không tiêu, lại thường nôn mửa.
Nếu phong đại tăng thì khí đầy, ngực tức, lục phủ, dạ dày không thông, tay chân chậm chạp, yếu ớt tê đau. Còn phong đại giảm thì thân thể gầy yếu, sức lực mong manh như sợi chỉ, chuyển động mệt mỏi, hơi thở như ngắn lại, ho hen nôn oẹ, khó nuốt, bụng tóp, lưng gù, trong tim lạnh giá, gân mạch nơi cổ lộ ra.
Các bệnh như thế đều do bốn đại tăng hoặc giảm bất thường mà sinh ra. Hễ một đại tăng hoặc giảm thì ba đại kia đều khổ, dần dần phát bệnh, gây ra phiền não. Bốn đại chống nhau thì lục phủ khó điều hòa.
Bởi vì đời trước gieo nhân ác, nay gặp quả báo khổ, lại không biết hổ thẹn, chẳng biết ân nghĩa. Luôn theo bốn mùa chu cấp những thứ cần dùng, ngày đêm nuôi dưỡng. Thế mà thân này chưa từng biết ơn, chu cấp thiếu thốn một chút, liền sinh bệnh khổ. Đã biết thân này vô ân thì đâu cần lao nhọc nuôi dưỡng. Dầu chu cấp cho thân thức ăn ngon, mặc đẹp, cuối cùng nó cũng trở thành phẩn uế. Mục đích ăn uống là để giúp thân trừ đói khát, chứ hoàn toàn không vì thân mà tiếp tục chất chứa; như thế chỉ làm nhọc tâm ta, bỏ phế việc tiến tu đạo nghiệp.
Thân này thật là vật chứa khổ, năm ấm như bình gốm dễ vỡ, khó giữ gìn, tan nhanh như bọt nước. Bốn đại không thật, thường chồng trái nhau; năm ấm tạm nương gá, dễ sinh nhiều phiền não. Lại nữa, chúng ta sinh làm người ở đời năm trược này, nhận chất huyễn làm thân, ở trong cảnh lo sợ. Cõi u minh có vô lượng quỷ thần, giống loài vô kể, không sao tính hết; hoặc nương vào phòng xá, am miếu, núi gò. Con người, hễ ở đâu có hiển linh thảy đều đến cầu thỉnh, khiến cho tinh thần u tối, thần thức mịt mờ, ngủ hay thức, lòng đều sợ hãi.
Vì thế mong cho tất cả mọi người khi gặp nguy hiểm nhiếp niệm, không đợi xưng ba lần danh hiệu Phật liền được bình an, đâu nhọc niệm nghìn biến. Cầu cho thánh đạo rộng lớn, đầy đủ oai quang, để làm lợi lạc quần sinh, không ai bị não hại. Sau đây là lời thật đáng ghi, bằng chứng đáng được trình bày.
95.2. DẪN CHỨNG
Kinh Phật thuyết Phật y ghi: “Thân người vốn có bốn thứ bệnh là địa, thủy, hỏa và phong. Phong đại tăng thì khí thịnh, hỏa đại tăng thì thân thể nóng bức, thủy đại tăng thì thân lạnh, địa đại tăng thì thân lực mạnh. Từ bốn đại này sinh ra bốn trăm lẻ bốn bệnh, nên địa thuộc về thân, thủy thuộc về miệng, hỏa thuộc về mắt, phong thuộc về tai. Hỏa đại giảm thì thân bị lạnh, sinh ra mắt mờ. Ba tháng mùa xuân thì lạnh tàng, ba tháng mùa hạ thì gió tăng, ba tháng mùa thu thì nhiệt tăng, ba tháng mùa đông thì có gió và lạnh.
- Vì sao mùa xuân lạnh tăng? Vì vạn vât sinh sôi nảy nở, do đó có lạnh, nên lạnh tăng.
- Vì sao mùa hạ gió tăng? Vì vạn vật đơm hoa kết trái, âm dương hội tụ, nên gió tăng.
- Vì sao mùa thu nhiệt tăng? Vì vạn vật đã đến lúc chín, nên nhiệt tăng.
- Vì sao mùa đông có gió và lạnh? Vì vạn vật đều suy tàn, nên có gió và lạnh.
Thời gian từ tháng ba đến tháng bảy được nằm, vì gió tăng nên thân dãn nở. Từ tháng tám đến tháng mười một và tháng một, tháng hai, thời gian không thích hợp để nằm, vì lạnh tăng nên thân thể co rút. Ba tháng mùa xuân có hơi lạnh, không được ăn lúa mì và đậu, nên ăn các vật nấu chín như cơm, đề hồ. Ba tháng mùa hạ gió nhiều, không được ăn khoai môn, đậu và lúa mì, nên ăn cơm, nhũ lạc. Ba tháng mùa thu có hơi nóng, không được ăn cơm, đề hồ, nên ăn gạo rang trộn mật, lúa nếp. Ba tháng mùa đông có gió và lạnh, âm dương hòa hợp, nên ăn cơm, canh đậu tằm, đề hồ.
Khi nằm, có lúc gió khởi hoặc diệt, nóng khởi hoặc diệt, lạnh khởi hoặc diệt.
Do mười nguyên nhân sinh bệnh: Một, ngồi lâu không nằm; hai, ăn không tiêu; ba, buồn bã; bốn, mệt mỏi; năm, dâm dật; sáu, giận dữ; bảy, nín đại tiện; tám, nín tiểu tiện; chín, nín ợ; mười, kiềm chế đánh rắm”,
Luận Đại trí độ ghi: “Bốn trăm lẻ bốn căn bệnh là do bốn đại nơi thân thường xâm hại lẫn nhau, mỗi một đại sinh ra một trăm lẻ một căn bệnh Phong và
thủy đại sinh ra hai trăm lẻ hai căn bệnh lạnh- địa và hỏa đại sinh ra hai trăm lẻ hai căn bệnh nóng Đặc tính của lửa là nóng, của đất là cứng chắc, do cứng chắc cho nên khó tiêu, vì khó tiêu nên sinh bệnh nóng Máu, thịt, gân, xưorng, mạch, tủy v.v... thuộc địa đạt Trừ nghiệp báo, còn tất cả pháp đều do nhân duyền hòa hợp mà thành”.
95.3. CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH
Bốn đại khó điều hòa, lục phủ chống trái nhau. Vì có báo thân nên có bệnh. Hoặc có người bỏ tục xuất gia, một mình ở nơi vắng vẻ; hoặc có người nghèo bệnh, già yếu, không nơi nương tựa, nếu không chăm sóc thì họ nhờ cậy vào đâu?
Cho nên, trong luật Tứ phần, Đức Phật dạy: “Từ nay trở đi nên chăm sóc người bệnh, nên làm người nuôi bệnh. Nếu muốn cúng dường Ta, trước phải cúng dường người bệnh. Cho đến đi trên đường, gặp người trong năm chúng xuất gia bị bệnh, Đức Phật dạy phải ở lại chăm sóc, nếu người nào gặp mà bỏ đi thì bị kết tội. Tâm của các Đức Phật lấy đại từ bi làm thể. Thực hành đúng theo lời dạy của Phật tức là thể hiện tâm Phật vậy . Luật Tăng-kỳ ghi: “Nếu đi trên đường gặp người trong năm chúng xuất gia bệnh, phải tìm xe chở về chăm sóc, cúng dường đúng như pháp, cho đến khi người ấy chết, cũng nên hỏa táng, chôn cất, không được bỏ rơi”.
Có chín trường hợp dẫn đến chết oan:
1. Biết thức ăn không tốt mà vẫn ăn.
2. Ăn không biết chừng mực.
3. Thức ăn chưa tiêu mà lại ăn tiếp.
4. Thức ăn chưa tiêu mà muốn cho ra.
5. Thức ăn đã tiêu, nên cho ra mà ép giữ lại.
6. Thức ăn không hợp với bệnh.
7. Thức ăn hợp với bệnh, nhưng ăn không chừng mực.
8. Lười biếng.
9. Không có trí tuệ”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Đức Thế Tôn bảo các tì-kheo:
- Có năm lý do mà người chăm sóc khiến bệnh nhân không lành:
1. Không biết phân biệt thuốc tốt.
2. Lười biếng.
3. Thường sân giận và ham ngủ nghỉ.
4. Vì tham cầu ăn mặc mà chăm sóc người bệnh.
5. Không chăm sóc đúng, cũng không chịu nói chuyện với người bệnh.
Nếu ngược lại năm lý do trên thì bệnh mau lành”.
Trong kinh Thiện sinh, Đức Phật nói kệ khen:
Người chăm sóc bệnh nhân,
Phải sẻ chia nỗi khổ,
Thiện ác có báo ứng,
Như gieo nhân gặt quả.
Đức Thế Tôn là cha,
Các kinh giảo là mẹ,
Đồng học là anh em,
Do đây mà giải thoát.
Kinh Di-lặc sở vấn bản nguyện ghi: “Phật bảo A-nan:
- Lúc xưa Ta cầu đạo, khổ nhọc vô cùng mới được thành Phật, việc này rất nhiều. Này A-nan! Vào thời quá khứ, có thái tử Sở Kiến dung mạo khôi ngô tuấn tú. Một hôm, từ trong vườn đi ra, thái từ gặp một người bị bệnh rất nặng, trong lòng thương xót, đến hỏi:
- Nên dùng thuốc gì để chữa lành bệnh cho ông?
Người bệnh đáp:
- Chỉ có máu của vương tử mới chữa lành bệnh của tôi.
Thế là thái tử liền dùng dao bén cắt thân cho máu chảy ra để chữa bệnh cho người kia, với lòng chí thành, không hề hối hận. Thái tử lúc ấy chính là Ta. Nước trong bốn biển lớn còn có thể lường được, nhưng máu nơi thân Ta cho thì không thể tính kể.
Vào thời quá khứ, có thái tử Liên Hoa Vương dung mạo khôi ngô tuấn tú. Một hôm, từ trong vườn đi ra, thái tử gặp một người bị bệnh hủi, trong lòng thương xót đến hỏi:
- Cần dùng thuốc gì để chữa lành bệnh cho ông?
Người bệnh đáp:
- Chỉ có dùng tủy của vương tử thoa vào thân tôi thì bệnh mới lành!
Thế là thái tử liền đập các ống xương trên thân để lấy tủy đưa cho người bệnh, với tâm vui vẻ, không chút hối hận. Vị thái tử lúc ấy chính là Ta. Nước bốn biển lớn còn có thể lường được, nhưng tủy mà Ta bố thí không thể tính kể.
Vào thời quá khứ, có vua Nguyệt Minh dung mạo khôi ngô tuấn tú. một hôm, từ trong cung đi ra, nhà Vua gặp một người mù nghèo khổ, đói khát xin ăn dọc đường, dần đến chỗ vua. Vua Nguyệt Minh thấy người mù, trong lòng thương cảm rơi lệ, đến hỏi:
- Có thuốc gì chữa lành bệnh mù cho ông không?
Người mù thưa:
- Chỉ có mắt của vua mới chữa lành mắt tôi.
Thế là vua Nguyệt Minh tự móc hai mắt cho người mù kia, vớí lòng thanh thản, không chút ăn năn. Vua Nguyệt Minh lúc ấy chính là Ta. Núi Tu-di còn có thể lường được, nhưng mắt mà Ta bố thí thì không thể tính kể.
Phật bảo A-nan:
“ Lúc xưa, bồ-tát Di-lặc cầu đạo, không chịu bố thí mắt, tai, mũi, tay chân, thân mạng..., chỉ dùng phương tiện khéo léo, thực hành hạnh an lạc, cũng được chứng Vô thượng chính chân.
A-nan bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Bồ“tát Di“lặc dùng phương tiện khéo léo gì mà thành Phật đạo?
Phật bảo A-nan:
- Bồ-tát Di-lặc ngày đêm sáu thời chỉnh y, nghiêm thân quì gối sát đất, hướng về mười phương chư Phật nói bài kệ:
Con sám tất cả tội
Tự tu các công đức
Qui y lễ chư Phật
Được trí tuệ vô thượng”.
Kinh Pháp cú dụ ghi: “Ngày xưa có một nước tên Hiền-đề. Bấy giờ, có một vị tì-kheo trưởng lão mắc bệnh đã lâu, thân thể gầy yếu, dơ bẩn, nằm ở tinh xá Hiền-đề, không người chăm sóc. Đức Phật dẫn năm trăm tì-kheo đến chỗ tì-kheo bệnh, bảo các tì-kheo thay nhau chăm sóc và lo cơm cháo, thuốc men. Nhưng khi ngửi thấy mùi hôi, các vị ấy đều sinh tâm khinh rẻ. Đức Phật liền sai Đế Thích mang một chậu nước ấm đến, Ngài dùng tay kim cang tắm rửa cho vị tì-kheo bệnh. Khi ấy, mặt đất bỗng nhiên chấn động, bầu trời rực sáng, mọi người đều kinh sợ. Quốc vương cùng vô số thần dân, trời rồng, quỷ thần kéo đến cúi đầu đính lễ và bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Ngài là đấng Chí tôn trong ba cõi không ai sánh bằng, đạo đức đầy đủ, tại sao phải hạ mình tắm cho tì-kheo bệnh kia?
Đức Phật bảo:
- Như Lai sở dĩ xuất hiện ở đời chính là vì những người nghèo cùng, khốn khổ không nơi nương tựa. Nếu ai chăm sóc nuôi dưỡng đạo nhân, sa-môn bệnh tật, những kẻ bần cùng và người già cô độc sẽ được vô lượng phúc, điều mong cầu được như ý, cuối cùng sẽ được thánh đạo.
Vua lại bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Vị tì-kheo này đời trước tạo tội gì mà bị bệnh nhiều năm, chữa mãi không lành?
Đức Phật bảo:
- Ngày xưa có vua Ác Hạnh thi hành chính sách rất bạo ác. Vua sai một người có sức mạnh tên là Ngũ Bá đánh người phạm tội. Ngũ Bá mượn uy quyền của vua mà tung hoành. Người sắp bị phạt roi, nếu mang nhiều của cải lo lót thì ông ta đánh nhẹ, ai không có thì bị đánh nặng. Do đó, cả nước vô cùng lo sợ.
Bấy giờ, có một hiền giả bị người mưu hại, nên phải chịu đòn roi. Hiền giả kia nói với Ngũ Bá:
- Tôi là đệ tử Phật, vốn không có tội, bị người hãm hại, xin ông tha thứ!
Ngũ Bá nghe nói đệ tử Phật nên đánh nhẹ tay, roi không chạm vào thân. Sau khi Ngũ Bá mạng chung, đọa vào địa ngục, bị tra khảo đánh đập đau đớn muôn lần. Tội địa ngục hết, lại đọa làm súc sinh, thường bị đánh đập trong hơn năm trăm kiếp. Khi tội báo ở loài súc sinh hết thì sinh làm người, thân thường bị bệnh khổ.
Quốc vương lúc ấy nay chính là Điều-đạt, Ngũ Bá là tì-kheo bệnh đây, người hiền bị hại lúc ấy là Ta. Do đời trước Ngũ Bá tha cho Ta, đánh roi không chạm vào thân, nên hôm nay đích thân Ta tắm rửa cho ông. Người làm thiện tạo ác thì họa phúc theo thân, dù sống hay chết cũng không tránh khỏi.
Bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói kệ:
Đánh đập người lương thiện,
Vu oan kẻ vô tội,
Thật tội gấp mười lần,
Họa đến không thể cứu,
Sống chịu nhiều khổ đau,
Thân thể không vẹn toàn,
Bệnh tật bất ngờ đến,
Tâm ý luôn sợ hãi,
Bị mọi người chê cười,
Hoặc chịu nạn quan quyền,
Tiền của bị tiêu hao,
Quyến thuộc phải chia lìa,
Nhà cửa và tài sản
Bị lửa đốt thành tro
Chết đọa vào địa ngục,
Đây là mười quả báo.
Tì-kheo bệnh khi nghe Đức Phật nói kệ này và nhân duyên kiếp trước, liền dốc lòng tự trách, nên bệnh tật tiêu trừ, chứng quả A-la-hán. Vua nước Hiền-đề suốt đời thực hành theo bài kệ, nên chứng quả Tu-đà-hoàn”.
Kinh Thiện sinh ghi: “Người chăm sóc bệnh nhân không nên buồn chán. Nếu mình không có tài vật thì ra ngoài xin. Nếu xin không được thì vay mượn vật Tam bảo, đến khi lành bệnh, phải trả lại gấp mười lần”.
Lại nữa, Ngũ bách vấn sự ghi: “Người chăm sóc bệnh lấy vật của người bệnh cho một người bệnh khác mà không hỏi trước, hoặc hỏi mà người bệnh ấy giận trách thì không được cho. Nếu đã lấy nên trả lại, không trả thì phạm trọng tội"
Luật Tứ phần ghi: “Chăm sóc người bệnh phải có năm đức tính:
1. Biết những thức ăn mà người bệnh dùng được và không được. Nên cho dùng những món có thể ăn được.
2. Không nhờm gớm khi người bệnh đại tiểu tiện, khạc nhổ, nôn mửa,
3. Có lòng thương xót, không vì cầu ăn mặc mà chăm sóc người bệnh.
4. Luôn chăm lo thuốc men cho người bệnh, đến lúc họ lành bệnh hoặc mạng chung.
5. Luôn thuyết pháp khiến cho tâm người bệnh hoan hỷ, chính mình cũng tăng trưởng pháp lành”.
95.4. CHỮA BỆNH
Hễ là người thì phải có thân thể, ngũ tạng, thức ngủ, hơi thở ra vào, tinh khí vận chuyển; nếu thông thì khí huyết tuần hoàn, vượng thì tạo thành khí sắc, phát thì thành âm thanh, đây là lẽ thường tình của con người. Dương thì thuộc tinh thần, âm thuộc hình sắc, tất cả trời người đều giống nhau. Đến khí huyết không điều hòa, nếu nóng thì phát nhiệt, ngược lại thì phát hàn, kết tụ thì thành khối u, ngưng trệ thì sinh ra ung thư, chuyển nhanh thì hồi hộp lo sợ, cạn kiệt sinh ra nóng bức. Cho nên thầy thuốc giỏi dùng kim châm khai dẫn tinh khí, dùng thuốc tốt để cứu bệnh. Thánh nhân thì dùng chí đức để điều hòa, dùng việc thế gian để phụ trợ. Do đó trừ được bệnh của thân, tiêu được mối họa trong trời đất.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Đức Thế Tôn bảo các tì-kheo:
- Có ba căn bệnh lớn: bệnh phong, bệnh đàm và bệnh lạnh. Nhưng cũng có ba loại thuốc hay để chữa trị: Một, nếu bệnh phong thì dùng váng sữa làm thuốc và thức ăn; hai, nếu bệnh đàm thì dùng mật làm thuốc và thức ăn; ba, nếu bệnh lạnh thì dùng dầu làm thuốc và thức ăn.
Tì-kheo cũng có ba mối họa lớn: tham dục; sân hận và ngu si, đồng thời cũng có ba loại thuốc tốt để đối trị: Một, đối với bệnh tham dục, nên dùng pháp bất tịnh đối trị và tư duy về pháp đó; hai, đối với bệnh sân hận, nên dùng tâm từ đối trị và tư duy về pháp đó: ba, đối bệnh ngu si, dùng trí tuệ đối trị và quán xét pháp nhân duyên sinh”.
Kinh Kim quang minh ghi: “Lúc Phật còn tại thế có trưởng giả Trì Thủy biết các phương thuốc hay để chữa trị bệnh khổ. Trưởng giả có người con tên Lưu Thủy, dung mạo khôi ngô tuấn tú, oai đức đầy đủ, bản tính thông minh, thông đạt các luận. Lưu Thủy thấy các chúng sinh chịu bệnh khổ, liền đến chỗ cha dùng kệ hỏi:
Làm sao mà biết được
Bốn đại và các căn
Luôn thay nhau suy tổn
Rồi sinh ra các bệnh?
Làm sao mà biết được
Ăn uống đúng thời tiết
Phải ăn như thế nào
Hỏa đại không suy tổn?
Làm sao mà biết được
Chữa bệnh phong và nhiệt?
Nước nhiều sinh bệnh phổi
Và các bệnh tổng hợp?
Lúc nào bệnh phong hiện
Lúc nào bệnh nhiệt phát
Lúc nào bệnh thủy khởi
Làm hại các chúng sinh?
Trưởng giả Trì Thủy nghe con mình hỏi cũng dùng kệ dạy:
Ba tháng đầu mùa xuân
Ba tháng kế mùa hạ
Ba tháng tiếp mùa thu
Ba tháng cuối mùa đông
Đó là mười hai tháng.
Nếu nói mùa ba tháng
Cứ như thế mà tính
Một năm có bốn mùa.
Nếu nói mùa hai tháng
Thì phân đủ sáu mùa
Ba tháng là theo xưa
Hai tháng theo hiện nay.
Nên tùy theo thời tiết
Mà điều chỉnh thức ăn
Thì thân được khỏi bệnh.
Nay nói rõ y phương
Tùy thời tiết trong năm
Các căn và bốn đại
Luôn thay nhau tăng giảm
Khiến thân phát sinh bệnh
Nếu là thầy thuốc giỏi
Cho thuốc theo bốn mùa
Bồi dưỡng theo ba tháng
Giúp điều hòa sáu đại
Tùy bệnh mà uống ăn
Cho đến dùng thuốc trị.
Mùa hạ bệnh phong sinh
Mùa thu hoàng nhiệt tăng
Tổng bệnh mùa đông phát
Người bị mắc bệnh phổi
Mùa xuân sẽ tăng nhanh.
Bệnh phong vào mùa hạ
Ăn dầu mỡ, chua, mặn
Và dùng thức ăn nóng.
Người bị bệnh hoàng nhiệt
Mùa thu ăn lạnh, ngọt
Tổng bệnh vào mùa đông
Ăn ngọt, chua, chất béo
Bệnh phổi khởi mùa xuân
Ăn dầu mỡ, cay, nóng
An xong; bệnh do phổi
Tiêu hóa, bệnh do nhiệt
Tiêu rồi, bệnh do phong.
Bốn đại cũng như thế
Theo ba thời phát khởi
Bệnh phong thân suy tổn
Dùng dầu tô bổ trợ
Bệnh nhiệt nên dùng thuốc
Có trái A-lê-lặc
Tổng bệnh phải nên uống
Ba loại thuốc tốt này
Đó là ngọt và cay
Và dùng các dầu tô.
Bệnh phổi nên đúng thời
Dùng loại thuốc thông cổ
Nếu bệnh phong và nhiệt
Bệnh phổi cùng tổng hợp
Trái thời mà phát bệnh
Nên nghe theo thầy thuốc
Tùy bệnh mà tính toán
Cho ăn uống thuốc thang”.
Luận Đại trí độ ghi: “Bát-nhã ba-la-mật có thể diệt trừ tận gốc tám mươi bốn nghìn căn bệnh. Tám mươi bốn nghìn căn bệnh này đều do bốn bệnh: tham, sân, si và tổng bệnh phát khởi. Bốn bệnh này, mỗi mỗi phát hai mươi mốt nghìn căn bệnh. Quán bất tịnh để trừ hai mươi mốt nghìn bệnh phiền não tham dục Quán từ bi để trừ hai mươi mốt nghìn bệnh phiền não sân giận. Quán nhận duyên để trừ hai mươi mốt nghìn bệnh phiền não ngu si. Dùng chung các phương pháp trên để trừ hai mươi mốt nghìn bệnh phiền não gồm cả tham, sân, si. Giống như viên minh châu có thể trừ bóng tối, Bát-nhã ba-la-mật có thể trừ phiền não ba độc”.
95.5. SẮP ĐẶT
Từng nghe: Nhà tam giới vốn là nơi chứa tứ đại; cảnh của lục trần là chỗ trú của năm ấm. Do vọng tưởng dối tạo, điên đảo chen nhau khởi, khiến cho muôn thứ khổ tranh nhau trói buộc, trăm mối lo cùng hội tụ. Nay quả báo đã chín muồi, mạng sống như đèn trước gió. Nhưng chúng, sinh cứ tham đắm, đến chết cũng không tỉnh ngộ. Do sợ nếu chúng sinh ở mãi một nơi thì mến tiếc của cải, lưu luyến quyến thuộc, nên Đức Phật dạy thay đổi chỗ ở, khiến cho họ sinh tâm nhàm chán, biết vô thường sắp đến mà khởi chính niệm. Luật Tăng-kỳ ghi: “Nếu vị đại đức bệnh, nên sắp đặt nằm ở căn phòng tốt, thoáng mát để tăng, ni, Phật tử đến thăm hỏi kết duyên lành. Người chăm sóc bệnh, mỗi ngày phải đốt hương đèn, rưới nước thơm trên đất để đón tiếp khách”.
Tây Vực Kì-hoàn đồ ghi: “Góc tây bắc của chùa, hướng mặt trời lặn là viện Vô Thường. Nếu có người nào bệnh thì sắp đặt cho nghỉ nơi đây. Vì viện có tên là Vô Thường, nên nhiều người không thích và đều bỏ đi, chỉ còn một vài người ở lại. Trong phòng ấy có đặt pho tượng Phật đứng, thếp nhũ vàng, xoay mặt về hướng đông. Phải nên đặt người bệnh ngồi dối diện trước tượng, nếu người bệnh quá yếu thì cho nằm xoay mặt về hướng tây, quán tướng hảo của Phật. Trong tay pho tượng cầm lá phan năm màu, bảo người bệnh nắm đuôi lá phan, khởi ý niệm vãng sinh Tịnh độ. Người bệnh ngồi ở đó, dù có đại, tiểu tiện, Thế Tôn cũng không cho là dơ bẩn. Vì cõi này vốn uế trược, Ngài đến tiếp độ chúng sinh hạ căn. Huống gì nay đối với người sắp mạng chung, Phật đâu thể bỏ! Tùy theo người bệnh thích cảnh giới nào mà sắp đặt tượng Phật A-di-đà, hoặc Phật Di-lặc, Phật A-súc, bồ-tát Quán Âm..., luôn đốt hương, rải hoa cúng dường, khiến cho người bệnh phát tâm bồ-đề”.
95.6. NHIẾP NIỆM
Ba cõi chẳng thật, năm ấm đều không, bốn đảo, mười triền cùng nhau hòa hợp. Tất cả như điện chớp, vạn kiếp thoáng qua chỉ trong chốc lát. Thân như giếng khô dễ mất, cuối cùng cũng nổi chìm trong biển khổ, cứ theo mãi đường mê, chẳng biết lối về. Không biết thân bảy thước nhỏ bé nàỵ là giả tạm; tai mắt luôn duyên theo ngoại cảnh, suốt ngày nói suông. Đã không nơi nương tựa, không ai cứu giúp, mà còn không tin nhận, một khi bỏ thân mạng này rồi, thì không hẹn ngày làm người trở lại. Vì thế, phải chuyên tâm tự xét, biết rõ nguy và an.
Luật Thập tụng ghi: “Người chăm sóc bệnh phải tùy thuận người bệnh, nên khen ngợi việc tu học của vị ấy ngày trước, không được chê bai mà làm lui sụt tâm tốt ban đầu”.
Luật Tứ phần ghi; . “Người chăm sóc bệnh nhân nên thuyết pháp cho họ nghe, khiến họ hoan hỷ”.
Luận Tỳ-ni mẫu ghi: “Nếu người bệnh không nghe lời của người chăm sóc, người chăm sóc làm trái ý người bệnh, cả hai đều mắc tội”.
Kinh Hoa nghiêm có bài kệ nói cho người lâm chung:
Lại phóng ánh sáng tên Kiến Phật,
Ánh sáng khai ngộ người lâm chung,
Niệm Phật tam-muội sẽ thấy Phật,
Sau khi bỏ thân sinh Phật quốc.
Khuyên người lâm chung nên niệm thiện,
An trí tôn tượng bảo chiêm ngưỡng,
Lại khuyên người bệnh hãy quy y,
Nhân đây thấy được hào quang Phật.
Luận Vãng sinh ghi: “Nếu thiện nam, thiện nữ tu tập thành tựu trọn vẹn năm niệm môn, sẽ được vãng sinh về cõi Cực Lạc, thấy Đức Phật A-di-đà.
Năm niệm môn là: lễ bái, khen ngợi, phất nguyện, quán xét và hồi hướng”.
Kinh Tùy nguyện vãng sinh ghi: “Đức Phật bảo bồ-tát Phổ Quảng:
- Nếu bốn chúng nam, nữ sắp mạng chung, phát nguyện sinh về cõi Phật trong mười phương, thì quyến thuộc trước phải tắm rửa thân thế, mặc áo sạch sẽ, đốt các hương thơm, treo tràng phan bảo cái, ca ngợi Tam bảo, đọc tụng kinh điển, nói pháp nhân duyên thí dụ cho người bệnh nghe. Lại dùng lời lẽ khéo léo diễn nói nghĩa vi diệu của kinh, như các hành đều là khổ, không, chẳng phải thật, bốn đại giả hợp. Thân thể như cây chuối không bền chắc, lại như điện chớp không thể lâu, sắc thân không thể tươi trẻ mãi, mà cũng sẽ hủy hoại. Chỉ có thành tâm siêng năng tu đạo mới được thoát khổ và những mong cầu đều như ý”.
* Lời bàn
Như trước đã dạy, nên tôn trí kinh tượng gần người bệnh, viết rõ tên kinh và danh hiệu của tượng, rồi đọc lên cho người bệnh nghe. Kế đó bảo người bệnh mở mắt ra nhìn, giúp cho họ tỉnh táo. Lại thỉnh người có đức độ đọc tụng kinh điển Đại thừa, khen ngợi tán dương, treo tràng phan, bảo cái, rải hoa khắp trước mắt, xông hương, thường nói lời hay, không truyền lời ác. Do lúc sắp mạng chung, người bệnh
thấy nhiều cảnh ác hiện ra mà không thể vững chí dẹp trừ. Vì thế, người chăm sóc bệnh phải tìm cách khéo léo để khuyên nhủ, khiến cho niệm niệm nối tiếp trong từng sát-na không gián đoạn. Nhờ vào phúc lực này, người bệnh có thể phát ý niệm vãng sinh Tịnh độ.
Luận Đại Trí độ ghi:v“Lúc sống làm việc thiện, đến khi gần chết lại khởi niệm ác thì liền sinh vào đường dữ. Lúc sống tạo nghiệp ác, nhưng khi gần chết khởi niệm thiện thì được sinh lên cõi trời”.
Kinh Duy-ma ghi: “Nhớ đến phúc của mình đã tu và nghĩ đến đời sống thanh tịnh”.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Nếu người giữ giới phục vụ người bệnh phá giới mà không cầu báo đáp, tâm không biết chán, người ấy lúc mạng chung sinh lên cõi trời Phổ Quang, tha hồ hưởng thụ năm món dục”.
Có bài tụng:
Chưa được dây lụa tía Luống uổng lìa bờ Chương Gặp lúc thân lâm bệnh
Bôn Dục hết ruổi rong
Đã không thuật cửu chuyển
Lại thiếu cả vạn kim
Không thấy trao quyền tước
Chỉ mộng thấy ao sen.
95.7. CẢM ỨNG
95.7.1. Đời Tấn, Nghị tào chuyên họ Âu: Ông ở Nam quận, bị bệnh nhiều năm, thân thể ốm gầy, chỉ còn da bọc xương, thầy pháp và thầy thuốc đều hết phương chữa trị. Một hôm, người con đang ngủ, mộng thấy các vị sa-môn đến thăm cha mình. Sáng hôm sau, người con đến chùa gặp các vị sa-môn và hỏi:
- Phật là vị thần gì?
Các vị sa-môn nói rõ sự việc cho người con nghe. Nghe xong, người con liền thỉnh các sa-môn về nhà tụng kinh. Trải qua hai, ba đêm, người cha tự biết bệnh mình có thuyên giảm. Ngày hôm đó ông chợp mắt trong giây lát, mộng như mình ngẩng đầu nhìn ra ngoài, thấy mấy chục đứa trẻ mặc áo năm màu, trong tay cầm phướn, đao và giáo từ cửa đi vào. Hai đứa trẻ đi trước, chạy thẳng đến trước rèm, bỗng chạy vụt ra nói với các đứa trẻ sau: “Dừng lại! Dừng lại!”, trong nhà toàn là sa-môn. Các đứa trẻ liền bỏ đi, không còn trở lại nữa. Từ đó về sau, bệnh ông dần dần lành hẳn.
95.7.2. Đời Tấn, Viên Vô Kị: Ông người nước Trần, nhưng cư ngụ ở Đông Bình. Niên hiệu Vĩnh Gia thứ nhất (307) đời Tấn, bị bệnh dịch hoành hành, nhà ông hơn một trăm người, mà bị chết gần hết ông tạm tránh nạn tại một thôn nọ, cùng ở với một người khác trong căn phòng nhỏ. Hằng đêm hai anh em cùng ngủ trên tấm ván gỗ được trải nhiều lớp cỏ. Đêm nằm ngủ không biết gì, đến sáng thức dậy thấy tấm ván gỗ ở ngoài cửa. Cứ nhiều đêm như thế, hai anh em sợ hãi không ngủ được.
Một hôm, có người phụ nữ đến đứng trước cửa nhưng thây Viên Vô Kị chưa ngủ, nên liền bước ra ngoài. Lúc ấy trời chưa sáng, nhưng nhờ ánh trăng chiếu, nên Kị nhìn thấy một phụ nữ mặc áo lụa màu trắng chỉnh tề, trên đầu cài trâm hoa, thoa bạc và chiếc lược bằng ngà voi. Viên Vô Kị liền đuổi theo, lúc đầu chạy quanh nhà bốn vòng thì tóc, trâm hoa trên đầu rơi xuống đất, Kị đều nhặt lấy. Sau đó, bà chạy ra cửa phía nam, bên đường có một cái giếng, bà liền nhảy xuống, Kị trở về ngủ.
Sáng hôm sau thấy trâm hoa, thoa bạc và lược ngà voi đều là đồ thật. Đào giếng lên thì thấy một quan tài, nước ngập ba phân, Kị liền mang quan tài, y phục và các vật về chôn nơi khô ráo thì bệnh dịch liền hết.
95.7.3. Đời Tấn, sa-môn Khang Pháp Lãng: Sư du học ở Trung Sơn. Khoảng niên hiệu Vĩnh Gia (307-313), sư cùng một vị tỳ-kheo đi về phương tây, vượt qua sa mạc hơn nghìn dặm đến Thiên Trúc. Trên đường đi, sư thấy một ngôi chùa Phật bên đường bị hư hoại, không có điện thờ, cỏ lau mọc um tùm, chẳng có người trồng. Sư cùng pháp lữ đến đỉnh lễ, thấy hai vị tăng, mỗi người một phòng, một người đang tụng kinh còn người kia bị bệnh lị, phẩn tiểu đầy phòng. Người tụng kinh không hề chăm sóc người bệnh. Sư cùng người bạn thương xót, nấu cháo, quét dọn và tắm rửa cho vị ấy.
Đến ngày thứ sáu, bệnh vị ấy càng trầm trọng, đại tiện tuôn như suối. Đêm đó, sư cùng bạn lo liệu, chữa trị, chăm sóc, nghĩ rằng vị ấy không sống đến ngày mai. Nhưng sáng hôm sau, sư đến xem, thấy sắc mặt người bệnh tươi tỉnh, vui vẻ, bệnh cũ cũng không còn, trong phòng những đồ phẩn uế đều biến thành hoa thơm. Sư và pháp lữ mới biết đây là bậc đắc đạo đến thử lòng người. Bấy giờ vị ấy nói:
- Vị tì-kheo phòng bên cạnh là thầy của tôi. Người đã đắc đạo từ lâu, các ông nên đến đỉnh lễ.
Sư cùng bạn trước đó trách vị sa-môn ấy không có lòng từ bi, nay nghe như vậy liền đến đỉnh lễ sám hối. Vị ấy bảo:
- Các ông thật có lòng chí thành, nên đều sẽ được đạo. Nhưng Pháp Lãng đời trước tu học còn nông cạn, nên đời nay chưa được như nguyện.
Vị ấy quay sang bảo người bạn của sư:
- Tuệ Nhược trồng căn lành sâu dày, nên đời này sẽ được như nguyện.
Nói rồi, vị ấy mời người bạn ở lại, còn Pháp Lãng sau đó trở lại Trung Sơn làm đại pháp sư, đạo tục đều tôn kính.
95.7.4. Đời Tấn, An Tuệ Tăc: Sư ở chùa Đại Thị không biết họ gì, lúc nhỏ bẩm tính khác thường, tài trí vượt mọi người, rất giỏi viết kiểu chữ khải, chữ chân và đàm luận.
Vào khoảng niên hiệu Vĩnh Gia (307-313) đời Tấn, khắp nơi bị bệnh dịch, sư chí thành cầu khẩn ngày đêm, nguyện đại thánh ban thuốc để chữa bệnh cho muôn dân. Một hôm, sư ra cổng chùa thấy hai tảng đá hình dáng như chiếc vò, sư nghi là vật lạ, nên lấy xem, quả thật bên trong có nước thần, người bệnh uống vào đều lành.
Sau đó, sư ở chùa Đại Thị tại Lạc Dương, tự tay chép bộ kinh Đại phẩm Bát-nhã trên tấm lụa mịn màu vàng nhạt, vừa đủ một quyển, chữ nhỏ như hạt đậu, nhưng rất rõ ràng, mọi người đọc được. Sư chép tất cả hơn mười bản, trao cho Hồ Mầu, vợ của Chu Trọng Trí ở Nhữ Nam tụng đọc cúng dường. Khi Hồ Mầu qua sông theo nhà Đông Tấn, bà cũng mang bản kinh theo bên mình. Một thời gian sau, nhà bị hỏa hoạn, vì quá gấp nên không kịp lấy bản kinh, bà buồn bã khóc lóc. Sau khi lửa tắt, bà bới tro thì tìm được bản kinh, màu sắc, bìa, trục đều còn nguyên vẹn. Bấy giờ, tất cả những người thấy nghe đều bỏ tà đạo, tin theo chính pháp. Bản kinh này hiện do ni Tĩnh Thủ ở chùa Giản Tĩnh giữ gìn.
95.7.5. Đời Tấn, Trúc Pháp Nghĩa: Sư thích ở chốn núi rừng, rất ham học. Sư trụ tại núi Thỉ Ninh, sau đó bị bệnh một thời gian lâu, tìm đủ mọi cách chữa trị mà bệnh không thuyên giảm. Đến lúc bệnh tình nguy cấp, không thể tự chữa trị, sư chỉ thành tâm niệm danh hiệu Quán Thế Âm suốt mấy ngày. Một hôm nằm mộng, sư thấy vị đạo nhân đến xem bệnh, rồi chữa trị cho mình. Đạo nhân mổ bụng sư lấy lục phủ ngũ tạng ra rửa sạch. Sư thấy những vật bất tịnh kết tụ trong đó rất nhiều, rửa xong, đạo nhân cho vào bụng sư, và nói:
- Bệnh ông đã lành!
Lúc sư thức dậy thì bệnh đã lành. Niên hiệu Thái Nguyên thứ bảy (382) đời Tấn, sư thị tịch.
95.7.6. Đời Tống, bà họ Phí, vợ của La Dư: Bà người Ninh Thục, cha tên là Duyệt làm Thứ sử Ninh châu. Lúc nhỏ, bà rất kính tin Tam bảo, tụng kinh Pháp hoa nhiều năm, siêng năng không biết mệt mỏi. Một thời gian sau, bà bị bệnh nặng, trong tim đau buốt, chỉ biết phó thác cho số mạng. Cả nhà lo sợ, chờ bà ấy chết. Bấy giờ bà suy nghĩ: “Ta siêng năng tụng kinh Pháp hoa, chắc sẽ có thiện thần giúp đỡ, nếu không có thì chác chết”.
Sau đó, bà chợp mắt trong khoảng bữa ăn, nửa mộng nửa tỉnh, thấy Đức Phật ở trong cửa sổ đưa tay xoa tim bà, lập tức hết đau. Lúc đó mọi người trong nhà đều thấy ánh sáng màu vàng và nghe hương thơm. Em gái chú bác của bà là tằng tổ bên ngoại của Diễm, phu nhân của Thượng thư trung binh bộ Phí Âm, đang thăm bệnh cũng ngửi thấy. Thế là người này tự ngộ, phát khởi lòng tin chính pháp, giữ giới nghiêm cẩn đến lúc mạng chung. Họ thường lấy điềm lành này để khuyên răn, dạy dỗ con cháu.
95.7.7. Đời Tống, Vương Văn Minh: Niên hiệu Thái Thỉ cuối cùng (472) đời Tông, ông làm huyện lệnh Giang An. Vợ ông bị bệnh lâu ngày, đứa con gái nấu cháo cho mẹ, lúc sắp chín thì cháo biến thành máu. Đứa con gái đổ bỏ, rồi nấu lại, cũng giống như lần trước. Nấu đi nấu lại nhiều lần cũng đều như thế. Sau đó, người mẹ qua đời, đứa con gái quì trước linh cữu khóc lóc, bỗng thấy mẹ hiện về nằm trên linh sàng, tướng mạo như lúc đang sống; con cháu thương cảm gào khóc, bà lặng lẽ biến mất. Vương Văn Minh rất thương một nô tì của vợ, người này mang thai sắp sinh. Ngày đưa vợ đi chôn, nô tì này ở lại trông nhà, còn tất cả mọi người đều đưa tiễn. Khi vừa khiêng quan tài ra, thì người vợ hiện hình đi thẳng vào nhà đánh đứa tớ gái.
Sau đó, những đứa con gái giết gà làm thức ăn cho cha, lúc mổ ra và rửa xong, bỗng nhiên con gà nhảy lên mái hiên đứng kêu, Vương Văn Minh liền qua đời. Sau đó những người con trai cũng lần lượt chết.
95.7.8. Đời Tống, Lý Thanh: Ông người Ư Tiềm, Ngô Hưng, làm Tham quân Đốc hộ cho Đại tư mã Hoàn Ôn. Một thời gian sau mắc bệnh, ông liền trở về nhà rồi qua đời, nhưng trải qua một đêm thì sống lại và nói: “Lúc đầu tôi gặp một người truyền giáo cầm tín phan nói với tôi là Công muốn gặp. Tôi cho là Ôn triệu kiến, liền chỉnh trang y phục rồi đi. Khi ra khỏi cửa thì thấy một chiếc kiệu bằng trúc, hai người kéo tôi lên rồi đẩy nhanh như ngựa phi. Khi đến một tòa nhà cao lớn thì gặp Nguyễn Kính, lúc đó Nguyễn Kính đã chết ba mươi năm. Kính hỏi tôi:
- Ông đến đây bao giờ? Nhà tôi thế nào?
Tôi nói:
- Nhà ông làm nhiều việc ác.
Kính khóc như mưa và hỏi:
- Con cháu tôi thế nào?
Tôi đáp:
- Tạm ổn!
Kính hỏi:
- Nay tôi giúp ông trở về, ông có thể quan tâm lo liệu cho nhà tôi không?
Tôi đáp:
- Nếu được như thế, tôi sẽ không phụ đại ân của ông!
Kính nói:
- Đạo nhân Tăng Đạt là bậc thầy được quan dân kính lễ, ông nên tha thiết cầu xin ngài.
Nói xong, ông vào bên trong một hồi lâu, sai người ra nói:
- Trước cửa có ngôi chùa Tứ Tằng do các quan xây dựng, mỗi sáng sư Tăng Đạt thường vào chùa lễ bái, ông nên đến đó cầu xin!
Khi tôi đến chùa đó thì gặp một vị sa-môn. Vị ấy nói:
- Ngươi là đệ tử bảy đời trước của ta và cũng đã trải qua bảy đờỉ hưởng phúc. Nay do tham đắm dục lạc thế gian mà quên mất nghiệp xưa, bỏ chính theo tà, phải chịu tội lớn. Nay có thể ăn năn sám hối, ngày mai hòa thượng sẽ ra giúp đỡ ngươi
Tôi trở lại kiệu, đêm xuống trời rất lạnh, đến sáng cửa chùa vừa mở, quả nhiên sư Tăng Đạt đến, tôi liền theo đỉnh lễ; Tăng Đạt nói:
- Ngươi phải dốc lòng làm việc lành, quy y Phật, pháp và tăng. Thụ trì Tam qui rồi thì ngươi sẽ không bị hoạnh tử. Nếu siêng năng thụ trì, cũng không bị các khổ nạn.
Tôi liền nghe theo. Tăng Đạt đến gặp vị sa-môn hôm qua, quì xuống thưa:
-Người này kiếp trước là đệ tử trong tăng, nhưng vì quên mất chính pháp mới bị thụ khổ, do duyên đời trước còn lại, nay được qui y Tam bảo, xin nguyện từ bi thương xót!
Vị sa-môn nói:
- Người này đời trước tạo phúc, nên cũng dễ cứu giúp!
Nói xong liền về lại đại sảnh, trong chốc lát bảo người ra nói :
- Lý tham quân có thể đi!
Đồng thời, Kính ra trao cho tôi một cành trúc xanh, bảo nhắm mắt lại cưỡi lên cành trúc. Tôi làm theo, bỗng nhiên về đến nhà. Tôi thấy người nhà khóc lóc, họ hàng quyến thuộc trong làng đến rất đông, muốn vào nhưng không được. Gặp lúc đưa quan tài về, người nhà và khách đều ra xem, chỉ còn lại thi thể nằm trên đất. Tôi bước đến trước thi thể, nhưng khi nghe mùi hôi thối, tự nghĩ hối hận. Nhưng bị người bên ngoài truy đuổi, bất chợt nhập thân, liền được sống lại.
Sau đó, ông quan tâm lo lắng, phân đất cất nhà cho gia đình Kính. Từ đó, họ hết lòng qui y Tam bảo, tin sâu chính pháp, trở thành những đệ tử thuần thành.
95.7.9. Đời Tống, Thích Đàm Dĩnh: Sư người Cối Kê, xuất gia lúc nhỏ, ở chùa Trường Can, nghiêm trì giới hạnh, tụng kinh hơn mười vạn lời. Sư tụng kinh rất hay, trên đời có một không hai. Sư từng bị ung nhọt lở loét, chữa mãi không lành, nên thờ tượng Quán Thế Am trong phòng, ngày đêm lễ bái cầu mau lành bệnh.
Một thời gian sau, sư bỗng thấy một con rắn từ phía sau pho tượng bám theo tường bò lên nóc nhà. Trong chốc lát lại có một con chuột từ trên mái nhà rơi xuống đất, nước dãi thấm ướt toàn thân, như đã chết. Sư đến xem thì thấy chuột vẫn còn sống, liền lấy que trúc gạt bỏ nước dãi. Sư từng nghe nói chuột bị rắn nuốt rồi nhả có thể chữa lành bệnh ung nhọt. Sư liền đến lấy nước dãi đó bồi lên tất cả mụn nhọt, chuột cũng sống lại. Sư bôi liên tục hai đêm như thế thì các ung nhọt lành hẳn. Từ đó, sư mới hiểu ra là rắn và chuột đều do cầu thỉnh mà đến.
Bấy giờ, vua chúa đều kính trọng, danh sư vang khắp gần xa. Sau đó, sư tịch tại chùa Trường Can, thọ tám mươi mốt tuổi.
95.7.10. Đời Ngụy, Trung thư lang Vương Trường Dự: Ông là người nổi tiếng, được cha là Vương thừa tướng yêu thương. Khi ông bệnh nguy cấp, Vương thừa tướng rất lo buồn, chỉ ngồi trên tòa, không ăn uống đã nhiều ngày. Một hôm, bỗng Vương mộng thấy một người cao lớn, khỏe mạnh, mặc giáp, mang đao đến, liền hỏi:
- Ông là ai?
Người kia đáp:
- Tôi là Tưởng hàu, biết con trai ông bệnh nặng, nên muốn đến cứu mạng, ông chớ lo buồn. Vương nghe nói vậy, vô cùng vui mừng và cảm động, liền sai người làm thức ăn cho Tưởng hầu. Tưởng hầu ăn hết mấy thăng, mọi người đều không biết chuyện gì. Tưởng hầu ăn xong, bỗng sắc mặt buồn bã, thương cảm và nói: “Trung thư lang mạng sống đã hết, không thể cứu chữa”. Tưởng hầu nói xong liền biến mất.
95.7.11. Đời Tề, Thích Tuệ Tiến: Sư ở chùa Cao Tòa, Dương châu, lúc nhỏ dũng cảm, bản tính hào hiệp. Năm bốn mươi tuổi, bỗng sư ngộ được lẽ vô thường, nên xuất gia học đạo, ăn uống đạm bạc, mặc áo vải thô, phát nguyện tụng kinh Pháp hoa. Vì dụng tâm quá lao nhọc, nên sư bị bệnh. Nhân đó sư phát nguyện ấn tống một trăm bộ kinh Pháp hoa để sám hối nghiệp chướng đời trước. Sư gom góp được một nghìn sáu trăm đồng tiền thì giặc đến cướp. Sư nói:
- Tiền này để in kinh!
Giặc nghe sư nói vậy, trong lòng hổ thẹn và rút lui. Sau khi sư in đủ một trăm bộ kinh thì bệnh lành. Nhờ công đức tụng kinh mà hết bệnh, tâm nguyện cũng tròn đủ. Nên sư hồi hướng công đức tụng kinh này nguyện sinh nước An Dưỡng! Bấy giờ, mọi người nghe trên hư không có tiếng bảo: “Nguyện ông đã tròn đủ, nhất định được vãng sinh!”, về sau, sư không bệnh mà thị tịch, thọ hơn tám mươi tuổi.
95.7.12. Đời Tùy, Thích Tăng Thiệu: Sư họ Tịch, trụ tại núi Mã Đầu, quận Văn Thành, nhưng quê ở Chính Bình, quận Giáng. Khoảng niên hiệu Nhân Thọ (601) đời Tùy, sư rất nổi tiếng. Một hôm bị bệnh nguy kịch, sư nói với đệ tử:
2 Ta bị khí lạnh ngưng tụ trong bụng. Vì lúc tuổi trẻ, ta ở ẩn trong núi, đến khi gạo hết, lười biếng đi mua, nên ăn những viên đá nhỏ để sống qua ngày, do đó mà bị bệnh. Sau khi ta thị tịch, hãy mổ bụng ra xem sẽ biết. Ta thị tịch không cần thiêu, vì sẽ tổn hại đến sinh mạng chúng sinh, hãy để ta ngồi trong cái vò rồi chôn.
Niên hiệu Đại Nghiệp thứ nhất (605) đời Tùy sư thị tich trong vách núi Đại Hoàng, đạo tục y theo lời nói của sư mà chôn cất. Tì-kheo Tăng Tập ở Giáng châu học theo sư, truyền bá pháp môn không mệt mỏi. Lúc sư thị tịch, Tăng Tập hoằng hóa nơi khác không hay, sau đó trở về tìm di cốt của sư mà không biết chỗ nào. Một lần nọ, Tăng Tập bỗng nghẹ một tiếng nổ lớn trong hang động, chấn động cả khu rừng, mặt đất nứt cái vò vọt ra ngoài, hài cốt sư trắng như tuyết và lưỡi còn nguyên Vẹn, màu đỏ tươi nhuận như lúc còn sống. Tăng Tập thâu lấy lưỡi và xương xây tháp phụng thờ.
95.7.13. Đời Đường, Tát Cô Huấn: Vào niên hiệu Trinh Quán hai mươi (646) đời Đường, ông làm Hành quân thương tào Tham quân, từng giết nhiều người dân trong thành Qui-tư, lại còn dẫn lính đến tinh xá nạo mặt tượng Phật để lấy vàng. Khoảng mười ngày sau, lông mày của ông rụng hết. Khi trở về Y châu, ông đến trước Phật sám hối tội lỗi, mang hết số vàng mình có đem ra tạo công đức. Không lâu sau, lông mày của ông mọc lại như cũ.
95.7.14. Đời Đường, thiền sư Triệt: Sư ở chùa Hãm Tuyền, núi Nam Cô, Phong châu. Có lần sư đi hoàng hóa, gặp một người bí bệnh hủi, sống trong hang núi, sư liền đưa về, đào một cái hang cho ở và cung cấp thức ăn. Sư lại dạy người này tụng kinh Pháp hoa, nhưng người này đã không biết chữ lại chậm chạp, nên sư phải dạy từng câu mà không nề mệt mỏi. Khi tụng gần được nửa bộ kinh, người ấy mộng thấy có người chỉ dạy.
Từ đó về sau, người này dần dần thông minh, tụng được năm sáu quyển thì bệnh hủi được lành. Khi tụng xong một bộ thì râu và lông mày mọc lại bình thường, dung mạo như cũ. Cho nên trong kinh ghi: “Kinh này là thuốc tốt để chữa bệnh”. Lời này quả thật không sai.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
12/01/2016
PUCL QUYỂN 100 - CHƯƠNG TRUYỆN KÍ
QUYỂN 100 Quyển này có một chương Truyện kí. 100. CHƯƠNG TRUYỆN KÍ 100.1. LỜI DẪN Từng nghe: kinh điển của chín nhà chất đầy tại Linh Khâu, sách về phép tắc trong thiên hạ chất kín ở Quần Ngọc, lại cũng có văn khắc trên...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 99 - CHƯƠNG TẠP YẾU
QUYỂN 99 Quyển này có một chương Tạp yếu. 99. CHƯƠNG TẠP YẾU 99.1. LỜI DẪN Lí thể lìa âm thanh, nhưng nhờ vào ngôn từ để biểu ý nghĩa. Ngôn từ không dấu vết, nhưng nương vào văn tự để diễn phát âm thanh. Cho nên văn tự l...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 98 - CHƯƠNG PHÁP DIỆT
QUYỂN 98 Quyển này có một chương Pháp diệt. 98. CHƯƠNG PHÁP DIỆT 98.1 LỜI DẪN Trộm nghĩ: Chính pháp tượng pháp đã qua, giáo pháp chuyển sang thời mạt. Bởi người có tà chính, nên pháp cũng có lúc suy vi. Có người nương và...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 97 - CHƯƠNG TỐNG CHUNG
ỌUYỂN 97 Quyển này có một chương Tống chung. 97. CHƯƠNG TỐNG CHUNG 97.1. LỜI DẪN Bốn đại là đồ chứa chất độc, đầy dẫy dơ uế; sáu tên giặc là bọn chủ cuồng loạn, luôn tham đắm ngoại cảnh, không có ngày biết ngược dòng sin...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 96 - CHƯƠNG XẢ THÂN
QUYỂN 96 Quyển này có một chương Xả thân. 96. CHƯƠNG XẢ THÂN 96.1. LỜI DẪN Tính của sắc vô hình, thì xúc cũng sẽ trở về không; ba thời hư giả thì tám vi cuối cùng cũng tan hoại. Tuy có uy lực làm chuyển càn khôn, rốt cuộ...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 94 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT
QUYỂN 94 Quyển này gồm chương Uống rượu ăn thịt (tiếp theo), chương uế trược. 93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT (tt) 93.4. CẢM ỨNG 93.4.1. Đời Hán, Lạc Tử Uyên: Vào niên hiệu Hiếu Xương đời Hán, dũng sĩ Lạc Tử Uyên, người Lạc...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 93 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT
QUYỂN 93 Quyển này có một chương uống rượu ăn thịt. 93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT 93.1. LỜI DẪN Uống rượu là mở toang cánh cửa buông lung, các Đức Phật biết rõ đó là gốc khổ. Vì thế nên tránh những quán rượu, lìa bỏ những...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 92 - CHƯƠNG LỢI HẠI
QUYỂN 92 Quyển này có một chương Lợi hại. 92. CHƯƠNG LỢI HẠI 92.1. LỜI DẪN Hàm thức trong ba cõi, chúng sinh nơi bốn loài đều do sáu căn phan duyên, bảy thức tạo nghiệp mà bị lửa dục đốt thiêu, khởi lòng tham không đáy,...
