PUCL QUYỂN 92 - CHƯƠNG LỢI HẠI
11/01/2016
QUYỂN 92 Quyển này có một chương Lợi hại. 92. CHƯƠNG LỢI HẠI 92.1. LỜI DẪN Hàm thức trong ba cõi, chúng sinh nơi bốn loài đều do sáu căn phan duyên, bảy thức tạo nghiệp mà bị lửa dục đốt thiêu, khởi lòng tham không đáy,...

QUYỂN 92
Quyển này có một chương Lợi hại.
92. CHƯƠNG LỢI HẠI
Hàm thức trong ba cõi, chúng sinh nơi bốn loài đều do sáu căn phan duyên, bảy thức tạo nghiệp mà bị lửa dục đốt thiêu, khởi lòng tham không đáy, giống như dòng thác, đồng như Ốc Tiêu. Vì thế một con sóng nhỏ trôi, một tấc bóng đi qua dù đại lực sĩ cũng không thể kéo dừng; mặt trăng dời, mặt trời chuyển dù bậc hùng tài cũng chẳng thê ngăn chặn. Trong đó, chúng sinh hoặc án đắng nuốt cay, hoặc ôm đau ngậm xót; thân miệng bị mười sử sai khiến, ý thức bị tám tì dẫn đầu. Tất cả đều do yêu thương vợ con, tài sắc trói buộc mà từ vô thỉ đến nay luôn chịu tám khổ, hoặc chính mình gây tạo, hay dạy người gây tạo, nối tiếp không gián đoạn. Có kẻ thấy người làm điều thiện mà không ca ngợi, khi nghe người gây điều ác thì lại vui theo; hoặc đốt cháy rừng, tát cạn suối, xua chó săn thả chim dữ, đuổi cùng bắt tận; hoặc có kẻ tai nghe nhạc nước Trịnh nước Tề, hoặc có kẻ tận hưởng những vị ngon béo bổ; hoặc có kẻ cười đùa tạo ác chóp mắt tạo lỗi lầm, xem thường tôn tượng, phá hoại chùa tháp, chẳng kính kinh điển, phá hòa hợp tăng, tự mình định ra phép tắc, dẹp bỏ qui củ của người. Cho nên, tâm thẹn bởi làm trái lí, xấu hổ tạ tội khi dối người thân. Tuy tâm thuộc ta, thân cũng chẳng của ai khác, nhưng tỏ ngộ được tâm tính, đối với con người thì thật chẳng dễ. Nếu buông thả tâm và miệng thì các tội đều tụ tập vào thân.
Mong đạo tục vận tâm chí thành, tẩy sạch tà tham, mãi mãi tránh xa lửa dục, khiến cho thân tâm thanh tịnh, đầy đủ hạnh nguyện, tiêu ba nghiệp chướng, thông tam đạt trí; năm nhãn sáu thông tùy ý vô ngại, năm cái, sáu trần từ đây vĩnh viễn đoạn trừ.
92.2. DẪN CHỨNG
Đại trang nghiêm luận kinh ghi: “Thuở xưa, dân chúng khắp thành ấp xóm làng trong một quốc gia kia tranh nhau đến cúng dường một tì-kheo. Có một tì kheo khác thấy vậy, sinh tâm đố kị, dùng nhiều lời phỉ báng. Đệ tử của tì-kheo kia nghe được, về thưa:
- Bạch thầy! Tì-kheo nọ phỉ báng thầy.
Tì-kheo này nghe xong, liền mời tì-kheo kia đến, dùng lời ôn hòa thăm hỏi rồi lấy y cúng dường.
Các đệ tử thấy vậy, hỏi:
- Bạch thầy! Tì-kheo ấy chê bai thầy, vì sao thầy lại thăm hỏi và cúng dường y?
Tì-kheo nói:
- Người kia có ân với ta nên ta phải cúng dường.
Tì-kheo lại nói kệ:
Mưa đá hại hoa màu
Có người ngăn cản được,
Chủ ruộng rất vui mừng
Dùng tiền tài báo đáp.
Người ấy là bạn tốt
Không phải là oan gia
Ngăn mưa đá lợi dưỡng
Ta phải báo ân này.
Mưa đá hại một đời
Lợi dưỡng hại nhiều kiếp,
Mưa đá hại hoa màu
Lợi dưỡng hủy đạo nghiệp.
Ruộng bị mưa đá hại
Hẳn sót lại một ít,
Ta bị lợi dưỡng hại
Công đức đều tiêu sạch,
Như Đề-bà-đạt-đa
Mưa đá lợi dưỡng hại
Vì tham đắm vào đó
Pháp lành bị tiêu sạch
Các pháp ác lớn mạnh
Chết đọa vào đường ác.
Lợi dưỡng hơn lửa dữ
Hơn sư tử, hổ lang.
Người trí quản sát rồi
thà bị chúng làm hại
Không để lợi dưỡng hại.
Người ngu tham lợi dưỡng
Không thấy lỗi của nó
Lợi dưỡng xa thánh đạo
Hạnh lành diệt, không sinh.
Phật đã dứt kết sử
Kết ba cõi sạch hết
Đã đầy đủ công đức
Mà vẫn tránh lợi dưỡng,
Đức Phật ở trong chúng
Vẫn thường nói thế này:
“Lợi dưỡng đến gần ta
Ta cũng tránh xa nó
Người có trí sáng suốt
Ai mà tham lợi dưỡng,
Lợi dưỡng loạn định tâm
Tai hại hơn kẻ thù
Như đánh bằng roi da
Da rách thịt xương nát
Tủy đứt thì mới dừng
Lợi dưỡng hơn roi da
Cắt đứt da trì giới
Phá nát thịt thiền định
Làm gãy xương trí tuệ
Diệt đến tủy thiện tâm
Giống như đứa trẻ kia
Tay cầm lửa muốn ăn
Như cá nuốt mồi câu
Như chim bị sa lưới
Như thú rơi hầm sâu
Đều do tham vị ngon.
Ti-kheo tham lợi dưỡng
Có khác gì chúng đâu,
Vị ngon thật là ít
Nhưng họa thật không cùng.
Người ấy giả nịnh hót
An trú trong lợi dưỡng
Gần gũi chốn ồn náo
Ngăn hạt giống tai họa.
Giống như những mụn ngứa
Gãi nhiều thì càng ngứa
Kiêu căng, buông lung dục
Đều từ lợi dưỡng sinh.
Người này giúp chúng ta
Ngăn lỗi tham lợi dưỡng
Vì những lí do này
Ta hết lòng cúng dường
Người bạn tốt như thế
Sao gọi là kẻ thù? ,
Người vì tham lợi dưỡng
Không ưa chốn vắng vẻ
Tâm cứ chạy theo nó
Ngày đêm không dừng nghỉ,
Chỗ kia có ăn mặc
Chỗ nọ ta thân thiết
Ắt sẽ đến thỉnh mời.
Tâm ý cứ rong ruổi
Phá hại tâm tịch tịnh
Không thích chốn vắng vẻ
Ưa ở trong nhân gian,
Vì bị lợi dưỡng hại
Không thích pháp tịch định.
Vĩ bỏ pháp tịch định
Không được gọi tì-kheo
Cũng không phải bạch y. ”
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Khi Đức Phật an trú tại thành Xá-vệ, mỗi ngày vua A-xà-thế cúng dường cho Đề-bà-đạt-đa năm trăm chảo cơm và nhiều món lợi dưỡng khác. Các tì-kheo bạch Đức Phật biết. Đức Phật dạy:
- Các thầy tì-kheo chớ nên ham thích những lợi dưỡng của Đề-bà-đạt-đa! Ngài nói kệ:
Thân chuối không bền chặt Lau sậy cũng như thế.
La mang thai thì chết,
Lừa, ngựa cũng như thế.
Kẻ ngu tham lợi dưỡng,
Bị bậc trí chê cười.
Vì thế, này các tì-kheo! Lợi dưỡng là tai họa lớn, hay gây chướng ngại, dù a-la-hán cũng không tránh khỏi.
Các tì-kheo bạch Đức Phật:
- Bạch Thế Tôn! Lợi dưỡng gây ra những chướng ngại gì?
- Lợi dưỡng phá rách da tịnh giới, băm nát thịt thiền định, chặt gãy xương trí tuệ, tiêu tủy thiện tâm vi diệu”.
Kinh Bách dụ ghi: “Thuở xưa, có bà-la-môn tự cho là mình hiểu biết nhiều, thông suốt thuật bói toán và các kĩ năng khác. Vì muốn khoe tài năng của minh, nên ông đến nước khác, ẵm theo đứa con và khóc lóc. Có người thấy vậy, hỏi:
- Vì sao ông khóc?
Bà-la-môn nói:
- Đứa trẻ này bảy ngày sau sẽ chết. Tôi thương xót con, nên mới khóc !
Người ấy nói:
- Mạng người khó biết, tính toán đôi khi sai lầm Có thể bảy ngày sau nó không chết, ông khóc trước làm gì?
Bà-la-môn nói:
- Mặt trời, mặt trăng có thể mất ánh sáng, tinh tú có thể rơi rụng, nhưng tôi dự đoán không bao giờ sai.
Sau bảy ngày, vì danh lợi ông ta giết đứa con để chứng minh cho lời nói của mình. Nghe tin đứa con của bà-la-môn chết, mọi người đều khen) ngợi ông ta có trí tuệ chân thật, tiên đoán không sai, nên tin phục và đến kính lễ ông ta. Cũng vậy, bốn chúng đệ tử của Đức Phật vì lợi dưỡng cho nên tự xưng là đắc đạo. Có kẻ ngu giết đứa con thiện pháp để trá hiện đức từ, khiến tương lai chịu khổ vô cùng, như bà-la-môn kia muốn chứng nghiệm tài tiên đoán của mình, nên giết con để dối gạt người đời”:
Kinh Bách dụ lại ghi: ‘‘Thuở xưa, có một người cưới cô vợ rất xinh đẹp, nhưng chỉ có cái mũi rất xấu. Người chồng đi ra ngoài thấy người con gái khác diện mạo xinh đẹp mà mũi của cô ta cũng rất xinh xắn, thầm nghĩ: ‘Nay ta hãy cắt lấy cái mũi của cô ấy đem về thay mũi vợ mình. Như thế thì quá đẹp!’. Nghĩ thế, anh ta liền cắt mũi cô gái đó đem về nhà vội vàng kêu vợ:
- Mình mau ra đây! Tôi cho mình cái mũi đẹp!
Chị vợ chạy ra, anh ta vội cắt mũi của vợ, rồi gắn mũi cô gái kia gắn lên. Nhưng anh ta chẳng những không thể gắn được, mà còn mất luôn cái mũi của vợ, khiến cho người vợ phải chịu đau khổ!
Cũng vậy, người ngu nghe nói hàng sa-môn, bà-la-môn trưởng lão có danh đức lớn, được người đời cung kính cúng dường, nhận nhiều lợi dưỡng, bèn vọng cho mình cũng giống như họ, nên tự dối xưng: ‘Ta có uy đức lớn!’. Như thế, anh ta đã làm mất đi lợi lạc và tổn thương đức hạnh của mình. Giống như anh chàng cắt mũi người con gái khác, chỉ làm tổn thương chính mình”.
Kinh Bách dụ lại ghi: “Thuở xưa, có một nhà buôn cho người khác vay nửa đồng tiền. Lâu ngày mà người kia không trả, anh ta bèn đến nhà người ấy đòi nợ. Trên đường đi, anh ta phải chi hai đồng thuê thuyền qua sông lớn. Khi đến nhà, thì người thiếu nợ đi vắng, anh ta phải tốn thêm hai đồng qua sông để về nhà. Vì lấy lại nửa đồng tiền, mà anh ta phải mất bốn đồng, lại đi đường mệt nhọc. Món nợ rất ít mà hao tốn rất nhiều, anh ta bị nhiều người chê cười!
Cũng vậy, người đời vì cầu một ít danh lợi, mà làm mất nhiều hạnh lành lớn; vì phóng túng bản thân mà không màng đến lễ nghĩa, hiện đời phải chịu tiếng xấu, đời sau nhận quả báo khổ”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Đức Phật dạy các tì-kheo:
- Có người giống sư tử, có người giống như loài dê. Vì sao lại giống sư tử? Vì khi được cúng dường thức ăn, y phục thì người này tự nhiên thụ dụng, không khởi tâm nhiễm trước. Dầu không được lợi dưỡng thì tâm cũng không loạn động, không phân hơn kém, giống như sư tử ăn nuốt các sinh vật nhỏ bé không khởi ý tham chấp ngon dở. Thế nào là người giống dê? Đó là những người khi được cúng dường thì thụ dụng với tâm nhiễm ô, không biết có ác đạo, khải tâm ngã mạn cống cao; giống con dê bỏ bày chạy đến đống phân, ăn no phân dơ rồi lại chạy vào bầy đàn khởi tâm cống cao, ngã mạn nói rằng: ‘Ta được thứe ăn ngon, các ngươi không được’. Cho nên tì-kheo các ông phải học theo sư tử vương, chớ giống con dê ăn phân kia!’
Kinh Tì-ni-mau ghi:
- Nếu tì-kheo nào có tâm bình đẳng với tất cả những điều tốt xấu, thấy người được lợi dưỡng thì vui mừng giống như mình được, thì có khả năng làm thầy thiên hạ. Như khi vào xóm thôn, Ca-diếp không bị chướng ngại, không bị trói buộc, không chấp thủ, muốn được lợi thì cầu lợi, muốn được phúc thì cầu phúc. Như mình vui
mừng khi được lợi, thấy người được lợi cũng như thế. Như bàn tay huơ trong hư không, không ngăn ngại cũng không bị trói buộc.
Thế Tôn nói kệ:
Nếu khéo vào xóm thôn
Lợi hại, tâm bình đẳng
Thấy đồng hạnh nhập chúng
Chớ khởi tâm ghét ganh.
Nhà thân quen của ông
Chớ phân biệt mới cũ
Đó là hạnh của thầy
Kinh Phật tạng ghi: “Đức Phật dạy các tì-kheo:
- Này Xá-lợi-phất! Ông hăy lắng nghe, Ta sẽ nóí cho ông biết. Nếu tì-kheo nhất tâm hanh đạo, thì sẽ có nghìn ức thiên thần đồng lòng cúng dường các loại dụng cụ vui chơi. Này Xá-lợi-phất! Người thế gian cúng dường tì-kheo tọa thiền, không bằng thiên thần cúng dường. Vì thế ông không nên lo nghĩ rằng mình không được cúng dường.
Phật lại dạy:
- Nếu có người xuất gia, thụ giới trong pháp của ta rồi siêng năng năng tu hành, dù chư thiên thần không nghĩ nhớ, nhưng vì nhất tâm tinh tấn hành đạo, nên không còn nghĩ đến thức uống ăn và những vật cần dùng khác. Vì sao? Vì kho phúc báo của Như Lai vô lượng, không bao giờ hết. Dầu tất cả người trên thế gian xuất gia, thụ giới, tùy thuận giáo pháp mà tu tập thì cũng không hưởng hết một phần trong trăm nghìn ức phần phúc báu từ tướng bạch hào của Như Lai.
Xá-lợi-phất! Như Lai có vô lượng phúc như thế, nên các tì-kheo sẽ có được đầy đủ thức ăn thức uống và các vật cần dùng. Các tì-kheo nên suy nhĩ như thế và không được thực hành các pháp tà mạng để được các món cần dùng”.
Kinh Ca-diếp ghi: “Một hôm năm trăm tì-kheo cùng nói: ‘Chúng con không thể tinh tấn tu đạo, sợ rằng không tiêu được vật cúng dường của tín thí, xin được trở vê đời sống thế tục’. Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi khen:
- Nếu không tiêu được thức ăn của tín thí, thà một ngày mấy trăm người trở về thế tục, chứ không nên ở trong đó một ngày phá giới, thọ nhận của thí chủ.
Đức Phật bảo Văn-thù:
- Nếu có ai tu thiền giải thoát, ta cho phép người ấy thọ nhận của tín thí”.
Kinh Tăng Hộ ghi: “Bấy giờ tại nước Xá-vệ có năm trăm thương nhân cùng thệ nguyện ra biển lớn. Họ bàn bạc muốn thỉnh một pháp sư cùng đi, để luôn được nghe lợi ích của pháp mà đi và về an bình. Một trưởng giả trong đoàn nói:
- Thầy của ta là Tăng Hộ, trí tuệ siêu việt, biện tài thông lợi, có khả năng thuyết pháp. Chúng ta có thể thỉnh ngài làm pháp sư.
Thế là các thương nhân đến trụ xứ của sư Tăng Hộ, đỉnh lễ rồi thưa:
- Bạch thầy! Chúng con muốn ra biển lớn, nay thỉnh Đại đức làm thầy thuyết pháp cho chúng con nghe, để chúng con đi và về được an lành.
Tăng Hộ bảo:
- Các vị nên thưa với hòa thượng Xá-lợi-phất!
Các thương nhân vâng theo, đến bạch Xá-lợi-
phất. Xá-lợi-phất dạy đến hỏi Đức Phật. Thế là Tăng Hộ và Xá-lợi-phất dẫn các thương nhân đến đỉnh lễ Phật rồi trình bày ý nguyện của các thương nhân. Thế Tôn biết tì-kheo Tăng Hộ có khả năng độ nhiều chúng sinh, nên Ngài chấp thuận.
Các thương nhân thấy Đức Phật đồng ý, họ vô cùng vui mừng, liền cùng với tì-kheo Tăng Hộ vượt biển khơi. Trên đường đi, đoàn người bị long vương giữ chặt thuyền, tất cả đều lo sợ, họ quì gối chắp tay ngửa mặt lên trời hỏi:
- Vị thần nào giữ thuyền của chúng tôi? Nếu có cần gì thì xin hiện hình!
Long vương liền hiện hình, các thương nhân hỏi:
- Ngài cần gì?
Long vương đáp:
- Các vị hãy trao tì-kheo Tăng Hộ cho ta!
- Chúng tôi thỉnh từ Phật Thế Tôn và ngài Xá-lợi-phất mới được, đâu thể trao cho long vương!
Long vương nói: ‘Nếu không, ta sẽ nhận chìm hết các ngươi’.
Các thương nhân vô cùng sợ hãi, liền suy nghĩ: ‘Chúng ta đã từng nghe Đức Phật dạy:
Để cứu cả nhà, bỏ một người
Thà bỏ một nhà, cứu cả thôn
Vì cứu quốc gia, bỏ thôn xóm
Vì bảo vệ thân, bỏ tiền tài'
Các thương nhân đắn đo hồi lâu rồi giao Tăng Hộ cho long vương. Long vương vô cùng vui mừng đưa Tăng Hộ về cung, rồi chọn bốn rồng con thông minh, lanh lợi nhất làm đệ tử Tăng Hộ. Long vương thưa:
- Tôn giả vì con mà truyền dạy cho bốn rồng này, mỗi rồng một bộ A-hàm. Rồng thứ nhất nên dạy bộ Tăng nhất A-hàm, rồng thứ hai nên dạy bộ Trung A-hàm, rồng thứ ba nên dạy bộ Tạp A-hàm, rồng thứ tư nên dạy bộ Trường A-hàm
Tăng Hộ đáp: ‘Được!’.
Thế là Tăng Hộ bắt đầu dạy. Bấy giờ rồng thứ nhất im lặng nghe nhận, rồng thứ hai nhắm mắt miệng tụng theo, rồng thứ ba quay đầu nghe nhận, rồng thứ tư đứng xa lắng nghe. Vì các rồng con này thông minh, nên trong sáu tháng đã thuộc lòng bốn bộ A-hàm, ghi nhớ kĩ trong lòng, không thiếu sót.
Long vương đến chỗ Tăng Hộ, đỉnh lễ rồi quì xuống thăm hỏi:
- Ngài có buồn không?
Đáp: Ta buồn quá!
Hỏi: Vì sao tôn giả lại buồn?
Đáp: Người thụ trì Phật pháp, cần phải có phép tắc. Rồng là loài súc sinh, không có tâm giữ phép tắc, không đúng như phép Phật mà học tập, thụ trì.
Long vương thưa:
- Đại đức không nên quở trách các rồng con này. Vì;sao?,Vì bảo, vệ mạng sống cho thầy, nên mới như thế. Loài rồng có bốn cách phóng độc giết người, nên chúng thụ trì đọc tụng không đúng phép tạc. Như rồng thứ nhất im lặng nghe nhận, là vì phát độc từ tiếng kêu; hễ con rồng này phát âm thanh thì tổn hại mạng thầy, cho nên im lặng nghe nhận không đúng pháp. Rồng thứ hai nhắm mắt nghe, là do phóng độc khi nhìn người khác; nếu rồng này nhìn thầy, nhất định sẽ tổn hại mạng thầy, nên im lặng nghe nhận không đúng pháp. Rồng thứ ba quay đầu nghe nhận, là do phóng độc khi thở, nếu rồng này phà hơi thở về phía thầy, nhất định làm tổn hại mạng thầy, nên nó quay đầu nơí khác mà nghe nhận không đúng pháp. Rồng thứ tư đứng từ xa để nghe nhận, là do rồng này phát độc từ xúc chạm; nếu nó chạm vào thầy, nhất định sẽ hại mạng thầy, vì thế phải đứng từ xa nghe nhận không đúng pháp.
Sau đó không lâu, các thương nhân nhặt được châu báu trở về. Khi đến chỗ mà ngày trước mất thầy, họ nói:
- Ngày trước tại nơi này, chúng ta đã mất thầy. Ngày nay trở về, đến diện kiến Đức Phật, các tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên hỏi Tăng Hộ ở đâu, chúng ta biết trả lời thế nào!
Long vương biết các thương nhân trở về, liền trao Tăng Hộ lại cho họ và bảo:
- Đây là tì-kheo Tăng Hộ, thầy của các ngươi!_ Các thương nhân vô cùng vui mừng, bình an trở về.
Tăng Hộ hỏi các thương nhân:
- Chúng ta đi đường nào trở về, đường thủy hay đường bộ?
Các thương nhân đáp:
- Đường thủy rất xa, phải sáu tháng mới đến, mà hay lương thực sắp hết.
Thế là họ quyết định theo đường bộ trở về. Khi đêm đến, Tăng Hộ nói với các thương nhân: ‘Ta cần phải ngủ riêng! Đến khuy khi lên đường, các ông nhớ lớn
tiếng gọi ta’. Các thương nhân vâng theo. Thế là Tăng Hộ ra khỏi đoàn nghỉ ngơi vạ tọa thiền, đến nửa đêm mới ngủ. Trong đêm khuya, các thương nhân thức dậy lên đường, họ truyền nhau gọi lớn, nhưng Tăng Hộ không thức giấc, họ bèn bỏ đi. Trời sắp sáng, mưa to gió lớn bỗng nhiên nổi lên, Tăng Hộ mới thức giấc, lớn tiếng kêu gọi, nhưng không ai trả lời. Tăng Hộ thầm nghĩ: ‘Đây chính là họa lớn, đồng bạn đã bỏ ta đi hết rồi!’.
Thế là Tăng Hộ một mình lên đường. Đi chưa bao xa, nghe có tiếng kiền chùy, Tăng Hộ liền theo âm thanh tìm đến chùa. Tăng Hộ hỏi một người đi đường về tiếng kiền chùy này, người kia cho biết đó là hiệu lịnh vào phòng tắm. Tăng Hộ thầm nghĩ: ‘Ta từ xa đến đây, có thể vào trong tăng để tắm’. Thế là Tăng Hộ vào tăng phòng, thấy rất nhiều người giống tăng vào phòng tắm, thấy đầy đủ các dụng cụ tắm như y phục, bình nước. Trong phòng tắm lửa cháy hừng hực, người vào tắm liền bị đốt cháy, da thịt gân đều cháy đến tận xương, toàn thân giống như ngọn đuốc. Tăng Hộ vô cùng sợ hãi, bèn hỏi một vị tì-kheo:
- Ngài là người nơi nào?
- Người ở cõi Diêm-phù-đề, bản tính khó tin. Ông có thể đến hỏi Phật!
Tăng Hộ hoảng sợ vội chạy khỏi chùa. Đi chưa xa, lại gặp một ngôi chùa rộng lớn trang nghiêm, tráng lệ rực rỡ, lại có tiếng kiền chùy vang lên. Tăng Hộ gặp một vị tì-kheo và hỏi: ‘Vì sao lại gõ kiên chùy?’. Đáp: ‘Chúng tăng thụ thực’. Tăng Hộ nghĩ mình từ xa đến, đang rất đói, cũng nên vào dùng cơm. Vừa vào tầng phòng, đã thấy chúng tăng tập họp đầy đủ, nhưng chén bát, tọa cụ lửa cháy hừng hực. Người và phòng xá đều bị lửa đốt cháy giống như trước. Tăng Hộ lại hỏi: ‘Ngài là người ở đâu?’. Người ấy đáp giống y như trước. Tăng Hộ lại hoảng sợ bỏ chạy, đi không xa lại gặp một ngôi chùa cũng to lớn tráng lệ như trước. Tăng Hộ vào phòng, thấy các tì-kheo đang ngồi nằm trên giường lửa, cào cấu lẫn nhau, khiến da thịt rơi hết, lộ các đường gân, ngũ tạng, xương tủy cháy rực giống như ngọn đuốc. Tăng Hộ lại hỏi người ở đâu, thì họ cũng trả lời là ‘Người ở cõi Diêm-phù-đề, bản tính khó tin. Ông có thể đến hỏi Phật’. Tăng Hộ lại hoảng sợ bỏ chạy, đi không xa lại gặp một ngôi chùa cũng to lớn tráng lệ như trước. Tăng Hộ bước vào, thấy các tì-kheo đang ngồi thụ thực. Một vị tì-kheo bảo Tăng Hộ nên đi khỏi đây, Tăng Hộ còn đang chần chừ, chưa kịp quay ra, thì thấy trong bát của các tì-kheo toàn là phân người đang sôi sùng sục, tung tóe ra ngoài. Các tì-kheo lại ăn phân ấy, vừa nuốt vào thì yết hầu, ngũ tạng biến thành khói lửa, phân cháy đỏ trôi tuột xuống dưới.
Thấy vậy Tăng Hộ lại hoảng sợ bỏ chạy ra ngoài, đi không xa lại gặp một ngôi chùa cũng to lớn tráng lệ như trước; Tăng Hộ bước vào, thấy các tì-kheo đang cầm dùi sắt đâm đánh lẫn nhau, khiến thân thể nát vụn. Tăng Hộ lại hoảng sợ bỏ chạy, đi không xa lại gặp một ngôi chùa cũng to lớn tráng lệ như trước; Tăng Hộ bước vào tăng phòng, thì nghe tiếng kiền chùy, bèn hỏi, có người nói đó là hiệu lịnh săp dùng nước ngọt. Tăng Hộ nghĩ mình từ xa đến, đang rất khát nước nhọc mệt, cũng nên vào dùng nước. Vừa nhập chúng, Tăng Hộ đã thấy đầy đủ chén bát, giường nằm ngọa cụ, các tì-kheo đang mắng chửi nhau, trong bát toàn là nước đồng sôi, chư tăng uống nước ấy, vừa nuốt vào thì yết hầu, ngũ tạng biến thành than đỏ trôi tuột xuống dưới.
Tăng Hộ lại hoảng sợ bỏ chạy, đi không xa lại gặp một vùng toàn thịt, lửa cháy hừng hực, vang lên những tiếng kêu la thống thiết, người cảm thấy xót xa không chịu nổi. Tăng Hộ lại hoảng sợ bỏ chạy, đi không xa lại gặp một vùng toàn thịt, tình trạng cũng giống như trước, không khác. Tăng Hộ đi tiếp, không xa thì gặp một hũ thịt, bị lửa đốt cháy, vang lên những tiếng kêu la thống thiết, người cảm thấy xót xa không chịu nổi. Tăng Hộ đi tiếp, không xa lại gặp một hũ thịt khác, tình huống cũng giống như trước. Tăng Hộ đi tiếp, không xa thì gặp một bình thịt, bị lửa đốt cháy, vang lên những tiếng kêu la thống khổ, người cảm thấy xót xa không chịu nổi. Tăng Hộ đi tiếp, không xa lại gặp một bình thịt khác, tình huống cũng giống như trước.
Tăng Hộ đi tiếp, không xa thì gặp một suối thịt lớn, lửa cháy hừng hực, da thịt tuôn trào, những âm thanh đớn đau thống khổ vang lên nghe thật bất nhẫn. Tăng Hộ thấy vậy, hoảng sợ bỏ chạy, đi không xa lại gặp một hũ thịt lớn, bị lửa đốt cháy, vang lên những tiếng kêu la thống thiết,- người nghe cảm thấy xót xa không chịu nổi. Tăng Hộ đi tiếp, không xa thì gặp một tì-kheo, tay cầm dao bén, tự cắt mũi mình, cắt rồi lại mọc, mọc ra lại cắt, liên tục không dừng nghỉ. Sư lại đi về phía trước cũng gặp cảnh tượng y như thế, đi tiếp thì lại gặp một tì-kheo, một mình đứng trong nước, nhưng luôn miệng gọi: ‘Nước, nước!’, vô cùng thống khổ. Tăng Hộ lại đi tiếp về phía trước thì lần lượt thấy các cảnh:
- Một tì-kheo đứng trên gại sắt trong vườn toàn gai sắt, cất tiếng kêu la đau đớn.
- Một ngồi sảnh bằng thịt, lửa cháy hừng hực, vang tiếng kêu la thống khổ
- Một cái que thịt hình dáng giống như ngà voi, lửa bốc cháy rực, đang kêu la thống thiết.
- Một con lạc đà bị lửa đốt thân, kêu la thảm thiết.
- Một con ngựa bị lửa đốt thân đang kêu la thống thiết.
- Một con voi trắng lửa đốt cháy thân đang kêu la thống thiết.
- Một con lừa bị lửa đốt thân đang kêu la thống thiết.
- Một con dê đực bị lửa đốt thân đang kêu la thống thiết.
- Một đài thịt bị lửa dữ đốt cháy đang phát ra tiếng kêu lạ thống thiết.
- Một đài thịt khác bị lửa dữ đốt cháy đang phát ra tiếng kêu la thống thiết.
- Một gian phòng thịt bị lửa dữ đốt cháy đang phát ra tiếng kêu la thống thiết.
- Một chiếc giường thịt bị lửa dữ đốt cháy đang phát ra tiếng kêu la thống thiết.
- Một cái cân bằng thịt bị lửa dữ đốt cháy, khiến lúc co lúc dãn, đang phát ra tiếng kêu la thống thiết.
- Một cái móc bằng thịt bị lửa dữ đốt cháy, khiến lúc co lúc dãn, đang phát ra tiếng kêu la thống thiết.
- Một chiếc thằng sàng thịt bị lửa dữ đốt cháy đang phát ra tiếng kêu la thống thiết.
- Một tấm tường vách thịt bị lửa dữ đốt cháy khiến dao động, đang phát ra tiếng kêu la thống thiết.
-Một hầm xí, phân tiểu sôi trào, chúng sinh chịu tội trong đó vô cùng thống khổ.
- Một vị tì-kheo nhiếp tâm ngồi trên toà cao, bị lửa đốt cháy, phát ra tiếng kêu la thống khổ.
- Một vị tì-kheo thụ khổ trên tòa cao, bị lửa đốt cháy, phát ra tiếng kêu la thống thiết.
- Một chiếc kiền chùy thịt bị lửa dữ đốt cháy, đang phát ra tiếng kêu la thống thiết.
- Một y hồ-kì-chi thịt bị lửa dữ đốt cháy, đang phát ra tiếng kêu la thống thiết (hồ-kì-chi tức là câu-tu-là).
- Một núi thịt bị lửa dữ đốt cháy 'tiêu tan, đang kêu gào thống thiết, chấn động khắp nơi, khổ đau không thể chịu nổi.
- Một cây hoa tu-mạn-noa bị lửa dữ đốt cháy, đang kêu gào thống thiết, chịu khổ không thể chịu nổi, cũng giống như trước.
- Một cây hoa thịt bị lửa dữ đốt cháy, phát ra tiếng kêu kêu gào thống thiết, chịu khổ không thể chịu nồi, cũng giống như trước.
- Một cây ăn quả bằng thịt bị lửa dữ đốt cháy, phát ra tiếng kêu kêu gào thống thiết, chịu khổ không thề chịu nổi, cũng giống như trước.
- Một cây bằng thịt bị lửa dữ đốt cháy, phát ra tiếng kêu kêu gào thống thiết, chịu khổ không thể chịu nổi, cũng giống như trước.
- Một cây trụ bằng thịt bị lửa dữ đốt cháy, phát ra tiếng kêu kêu gào thống thiết, chịu khổ không thể chịu nổi, cũng giống như trước.
- Một cây trụ bàng thịt khác bị ngục tốt chém chặt, đau khổ không thể chịu nổi, cũng giống như trước.
- Lại thấy mười bốn cội cây bằng thịt bị lửa dữ
cháy, phát ra tiếng kêu kêu gào thống thiết, chịu khổ không thể chịu nổi, cũng giống như trước.
- Hai vị tì-kheo đánh đấm nhau, khiến đầu mặt vỡ nát, máu chảy ướt thân, thân thể tan hoại. Tan hoại rồi lại bình phục, vừa bình phục thì lại đánh tiếp, cứ như vậy đánh nhau không ngừng.
- Lại thấy hai sa-di ôm nhau nằm ngủ, lửa đốt cháy thân, thống khổ đớn đau không lúc dừng nghỉ.
Thấy như vậy, Tăng Hộ hỏi: ‘Các vị là ai mà chịu khổ như vậy?’. Đáp: ‘Khi còn làm người ở cõi Diêm-phù-đề, bản tính chúng tôi bất tín. Ngài có thể đến hỏi đức Thế Tôn’.
Quá kinh sợ, Tăng Hộ tiến về phía trước thì thấy từ xa một khu rừng xanh tốt đáng ưa, liền đi đến. Sau khi vào rừng, Tăng Hộ thấy năm trăm vị tiên đang dạo chơi. Vừa thấy Tăng Hộ, các vị tiên liền chạy khắp nơi lẩn tránh. Họ nói với nhau:
- Đệ tử Thích-ca làm ô uế khu vườn của chúng ta!
Tăng Hộ xin các tiên nhân cho mình mượn một gốc cây để tạm trú qua đêm, sáng mai sẽ rời khỏi. Một vị thượng tọa trong số tiên nhân có lòng từ bi, đồng ý cho Tăng Hộ mượn. Thế là Tăng Hộ trải ni-sư-đàn, ngồi kết già. Vào đầu đêm thì chế phục năm cái, đến nửa đêm thì ngủ nghỉ; cuối đêm lại kết già, lớn giọng tán tụng kinh điển. Các tiên nhân nghe tiếng tán tụng, ngộ giải tính không, chứng quả Bất hoàn, thấy rõ tam pháp ấn, lòng vô cùng vui mừng, đến chỗ sa-môn chí thành đỉnh lễ cầu thụ Tam qui, đồng thời xin xuất gia trong Phật pháp.
Tăng Hộ liền như pháp độ các tiên nhân, chỉ dạy pháp thiền. Không bao lâu họ đều chứng quả A-la-hán. Như rừng chiên-đàn, cây chiên-đàn tự vây quanh lẫn nhau, tì-kheo đắc đạo có hiền thánh làm chúng đệ tử.
Bấy giờ Tăng Hộ và các đệ tử đến tinh xá Kì-hoàn, đầu mặt lạy chân Phật rồi đứng qua một bên. Thế Tôn thăm hỏi các tì-kheo:
- Các ông đi đường có mệt nhọc, gian khổ không?
Tăng Hộ bạch:
- Chúng con không quá mệt nhọc, khất thực cũng dễ được, chẳng phải khó khăn gì mà nay đã được gặp Thế Tôn.
Sau khi Thế Tôn thuyết pháp cho đại chúng tì-kheo nghe, Tăng Hộ cất cao giọng thuật lại nhân duyên thấy địa ngục lúc trước. Đức Phật bảo Tăng Hộ:
- Phòng tắm mà ông thấy đó chẳng phải thật, mà là địa ngục. Các phi nhân này là những kẻ đã xuất gia làm tì-kheo vào thời Phật Ca-diếp, nhưng không giữ giới luật, buông lung tâm ý, tùy tiện sử dụng các đồ vật và dụng cụ tắm của chư tăng; các vị tì-kheo trì luật dạy về phép tắc, oai nghi thì họ lại không tuân theo. Từ khi Phật Ca-diếp niết-bàn, các người này chịu khổ trong địa ngục, đến nay chưa từng dừng nghỉ. Ngôi chùa và các tì-kheo mà ông thấy đó, thật chẳng phải là chùa cũng chẳng phải tì-kheo mà là địa ngục. Những người này đã xuất gia làm tì-kheo vào thời Phật Ca-diếp, nhưng không thành tựu năm đức, âm thầm cùng tăng thường trụ sử dụng vật của tăng bốn phương, chứ không chịu đánh kiên chùy nhóm chúng thập phương để cúng dường. Vì nhân duyên này nên bị lửa đốt cháy giường nằm, chịu khổ đến hôm nay vẫn chưa dứt.
Ngôi chùa thứ hai cũng chẳng phải là chùa và tăng mà là địa ngục và chúng sinh trong đó. Những người này, vào thời Phật Ca-diếp đã xuất gia làm tì-kheo, nhưng không đủ năm đức. Có đàn việt xây dựng chùa tháp, cúng dường bốn nhu cầu cần thiết cho tăng. Lúc đàn việt này mới phát tâm xây dựng chùa, đã tổ chức trai hội, muốn đánh kiền chùy nhóm họp chúng tăng cúng dường, nhưng tì-kheo này đã âm thầm thụ dụng riêng. Những khách tăng đến đều không được thức ăn, đành mang bát không trở về. Do nhân duyên này mà tì-kheo kia phải bị nằm trên giường sắt nóng, dùng tay tự cào cấu thân mình, khiến gân thịt tiêu hết, xương như tim đèn cháy rực, đến nay vẫn không tắt.
Ngôi chùa thứ ba cũng chảng phải là chùa và tăng mà là địa ngục và chúng sinh trong đó. Những người này đã xuât gia làm tì-kheo vào thời Phật Ca-diếp, nhưng đều biếng nhác. Họ nói với nhau: ‘Để đúng pháp, hôm nay chúng ta nên thỉnh một vị tì-kheo trì luật cùng thực hiện pháp sự’. Thế là họ thỉnh một vị tì-kheo có hạnh thanh tịnh đến ăn ở và sinh hoạt chung. Nhưng vị tì-kheo này lại tìm đến thêm những người đồng hạnh. Dần dần số lượng tì-kheo thanh tịnh ngày càng đông, vì thế các tì-kheo biếng nhác đuổi họ ra khỏi chùa. Lúc ấy có tì-kheo phá giới, trong đêm phóng hỏa đốt chùa, giết chết các tì-kheo. Do nhân duyên này, nên sau khi chết họ người ấy rơi vào địa ngục, tay luôn cầm dùi sắt nóng đâm xiên lẫn nhau, chịu đau khổ cùng tột, cho đến hôm nay vẫn chưa dứt.
Ngôi chùa thứ tư cũng chẳng phải là chùa và tăng mà là địa ngục và chúng sinh trong đó. Những người này, vào thời Phật Ca-diếp đã xuất gia làm tì-kheo, thường trụ trong chùa. Có đàn việt cúng các loại thức ăn cho tăng hiện tiền. Bấy giờ có một khách tăng đến, các tăng cựu trụ vì tâm bọn xẻn, nên đợi vị này đi khỏi mới phân chia. Nhưng chưa kịp chia thì trong thức ăn đã thối rửa, xuất hiện giòi bọ, thế là đành phải ném bỏ. Do nhân duyên này, sau khi chết họ phải rơi vào địa ngục ăn phân, uống nước tiểu, cho đến hôm nay vẫn chưa thôi dứt.
Ngôi chùa thứ năm cũng chẳng phải là chùa và tăng mà là địa ngục và chúng sinh trong đó. Những người này, vào thời Phật Ca-diếp đã xuất gia làm tì-kheo, trong giờ ngọ trai không thụ thực đúng pháp, miệng luôn mắng chửi. Do nhân duyên này, sau khi chết họ rơi vào địa ngục, nằm trên giường sắt nóng, gân thịt tiêu tan, bộ xương như tim đèn cháy rực, đến nay vẫn chưa thôi.
Ngôi chùa thứ sáu cũng chằng phải là chùa và tăng mà là địa ngục và chúng sinh trong đó. Những người này, vào thời Phật Ca-diếp đã xuất gia làm tì-kheo. Khi có người cúng dường thức uống, không chịu đánh kiền chùy, mà im lặng cùng dùng thức uống của chúng tăng, vì sợ tăng bên ngoài đến. Do nhân duyên bỏn xẻn, nên sau khi chết những người này rơi vào địa ngục uống nước đồng sôi, đến hôm nay vẫn chưa đứt.
Đức Phật lại bảo Tăng Hộ:
- Những chúng sinh ông thấy trong địa ngục thứ nhất là những người đã xuất gia vào thời Phật Ca-diếp. Vì gieo trồng trong ruộng đất của tăng đế dùng riêng mà không trả giá trị thuê đất, cho nên sau khi chết phải rơi vào địa ngục đến nay vẫn chưa thoát.
- Những chúng sinh ông thấy trong địa ngục thứ hai là những cư sĩ vào thời Phật Ca-diếp. Vì gieo trồng trong ruộng đất của tăng để dùng riêng mà không trả giá trị thuê đất, cho nên sau khi chết phải rơi vào địa ngục làm vùng đất bàng thịt, chịu đau vô lượng khổ đau, đến nay vẫn chưa thoát.
- Cái hũ bằng thịt thứ nhất mà ông thấy đó, thật chẳng phải là hũ thịt mà là một người tội. Vào thời Phật Ca-diếp, người này là một vị thượng tọa trong tăng, nhưng không tọa thiền, không hiểu giới luật, chỉ biết ăn no ngủ kĩ, luận bàn những điều vô ích. Có những món ăn ngon thí chủ cúng dường thì tự tiện dùng trước. Do nhân duyên này, sau khi chết họ rơi vào địa ngục, biến thành một cái hũ thịt, bị lửa thiêu đốt thống khổ vô cùng, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Cái hũ bằng thịt thứ hai mà ông thấy, thật chẳng phải là hũ thịt mà là một người tội. Ngày xưa người này đã xuất gia làm tì-kheo, khi làm quản trù cho tăng, nếu có người cúng dường món ngon thì tùy tiện thụ dụng trước, những món dở thì chia cho tăng. Do đó phải làm cái hũ thịt bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đến nay vẫn chưa thoát,
Cái hũ bằng thịt thứ ba mà ông thấy, thật chẳng phải là hũ thịt mà là một người tội. Ngày xưa người này là cư sĩ, khi làm quản trù cho tăng, nếu gặp món ngon thì tùy tiện thụ dụng trước, hoặc cho vợ con mình, còn những món dở thì chia cho tăng. Do nhân duyên này, sau khi chết, họ phải rơi vào địa ngục làm cái hũ thịt lớn, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khồ đến nay vẫn chưa thoát.
Cái bình bằng thịt thứ nhất mà ông thấy chẳng phải là bình thịt mà là một người tội trong địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp, người này xuất gia, khi làm quản trù tăng, món ăn này đáng lẽ cho tăng dùng vào buổi sáng thì lại để qua hôm sau; thức ăn cho hôm sau lại chuyền qua ngày sau nữa. Do nhân duyên này, sau khi chết, họ phải rơi vào địa ngục làm cái bình thịt, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đến nay vẫn chưa thoát.
Cái bình bằng thịt thứ hai mà ông thấy, thật chẳng phải là bình thịt mà là một người tội. Ngày xưa người này đã xuất gia làm tì-kheo, khi có đàn việt cúng dường sữa tô cho tăng hiện tiền, lẽ ra phải phân chia cho mọi người, nhưng tì-kheo này thấy có khách tăng đến, vội để lại, đợi sau khi vị khách tăng ra đi mới phân chia. Do nhân duyên này, sau khi chết, những người này phải rơi vào địa ngục làm cái bình thịt lớn, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đến nay vẫn chưa thoát.
Người mà ông thấy đứng trong dòng suối là môt vị tì-kheo lo việc cung câp nước cho chư tăng vào thời Phật Ca-diếp. Người này thấy chư tăng dùng nước nhiều quá, nên thấy nơi nào vừa ý thì cung cấp đầy đủ, còn những nơi khác thì không cho. Do nhân duyên này, sau khi chết, những người này phải rơi vào địa ngục, một mình đứng trong dòng suối mà kêu gào: Nước! Nước!’ chịu vô lượng thống khổ, đến nay vẫn chưa thoát.
Cái vò bằng thịt lớn mà ông thấy cũng là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người nạy đã xuất gia làm tì-kheo lo về hoa quả cho tăng. Nếu đàn việt cúng dường trái thơm ngon thì tự tiện dùng trước, những quả đắng chát thì chia cho tăng, hoặc chọn những quả ngon cho những người thuận ý mình. Vì tâm không bình đẳng, nên sau khi chết, người này phải rơi vào địa ngục biến thành vò thịt lớn, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ, đến nay vẫn chưa thoát.
Người cầm dao tự cắt mũi mình cũng là một người xuất gia vào thời Phật Ca-diếp. Ngày ấy người này khạc nhổ trong vùng đất thanh tịnh của Phật và tăng. Cho nên
sau khi chết, người này phải rơi vào địa ngục tự cắt mũi mình, lại còn bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ, đến nay vẫn chưa thoát.
Tì-kheo cầm búa tự cắt lưỡi mình mà ông thấy chính là tội nhân trong địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp, người này là một sa-di có nhiệm vụ phân chia đường cho chúng tăng. Khi cắt được vài miếng, có chút đường dính trên dao, sa-di bèn liếm. Do nhân duyên này, sau khi chết, sa-di rơi vào địa ngục, chịu nỗi khổ tự cát lưỡi mình, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Một suối thịt mà ông thấy là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này đã xuất gia làm sa-di có nhiệm vụ phân chia mật đường cho tăng, nhưng sa-di này thường ăn trước, phần còn lại mới chia cho tăng, vì còn ít nên chia không đủ khắp. Do nhân duyên này, sau khi chết, sa-di rơi vào địa ngục, làm một con suối thịt lớn, bị lửa đốt nấu sôi sùng sục, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Tì-kheo đứng trên rừng gai mà ông thấy là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này đã xuất gia, nhưng dùng lời ác mắng chửi các tì-kheo. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, đứng trên rừng gai, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Tòa sảnh bằng thịt mà ông thấy, là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này đã xuất gia, nhưng không đủ năm đức. Khi làm thức ăn thức uống cho tăng, nếu gặp món ngon thì tùy tiện thụ dụng trước, hoặc đem cho các cư sĩ, còn dư mới chia cho tăng. Do nhân duyên này, sau khi chết, họ phải rơi vào địa ngục làm tòa sảnh thịt lớn, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đến nay vẫn chưa thoát.
Một que thịt hình dáng giống như ngà voi mà ông thấy, là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này đã xuất gia, nhưng trên tường vách trong chùa của tăng thường trụ, hay tùy tiện đóng que để móc treo y bát của riêng mình. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, biến thành que thịt, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát
Con lạc đà thứ nhất bị lửa đốt thân mà ông thấy là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này đã xuất gia, là một vị thượng tọa trong chúng, luôn nhận nhiều thức ăn, bằng phần của hai ba người. Có vị tì-kheo trì luật như pháp khuyên: ‘Phép tắc của một vị thượng tọa không nên làm như vậy’. Người ấy đáp: ‘Ông thật không biết gì, giọng nói như lạc đà. Ta là thượng tọa trong tăng, phải chú nguyện, thuyết pháp, có khi còn phải tán tụng nữa. Tính công lao khổ, xứng đáng được như vậy . Tại sao ông cứ giận trách ta?’. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm thân lạc đà, bị lửa thiêu đốt, kêu la thảm thiết, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Con ngựa mà ông thấy là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này làm công quả cho tăng, nhưng lại thụ dụng của cúng dường, ăn uống quá phần, hoặc lấy cho quyến thuộc, các cư sĩ quen biết. Khi các tì-kheo quở trách, bảo không nên làm như thế, thì người này ác khẩu mắng: ‘Các ông giống như ngựa, ăn mãi mà không no, ta vì tăng mà quá lao khổ, tính công thì đáng được hưởng như vậy’. Do đó, sau khi chết, người này rơỉ vào địa ngục, làm thân ngựa, bị lửa thiêu đốt, -kêu la thảm thiết, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Con voi trắng mà ông thấy là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này xuất gia, làm quản trù cho tăng. Có đàn việt mang phẩm vật đến cúng dường chư tăng, sau khi thụ thực, lại có đàn việt khác đến thưa: ‘Đại đức nên gõ kiền chùy tập họp tăng để cúng dường’, vị tì-kheo này nói lời ác với đàn việt: ‘Các tì-kheo này giống như voi, ăn không no sao? Mới vừa ăn xong đó!’. Tì-kheo nói thế, rồi giữ thức ăn này lại cho ngày hôm sau. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm thân voi trắng, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Con lừa mà ông thấy là một ngươi tội ỡ địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này xuất gia, làm quản trù cho tăng, nhưng không đủ năm đức. Khi phân chia thức ăn cho tăng, thường tự lẩy phần mình bằng phần của hai ba người. Có vị tì-kheo trì luật như pháp quở trách, người này trả lời: ‘Tôi vì tăng đảm nhiệm quản trù và chăm sóc hoa quả trong vườn, luôn lo lắng việc tăng, vô cùng lao khổ. Tì-kheo các ông không biết ơn ta, giống như con lừa chỉ biết lo cho thân mình, sao không im cái miệng đi!’. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm thân con lừa, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Con dê đực mà ông thấy, là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này xuất gia, làm chủ một ngôi chùa tăng, đảm nhiệm việc kiểm tra ruộng vườn trong ngoài, nhưng không biết sai bảo các đệ tử tì-kheo nhỏ tuổi gõ kiền chùy đúng pháp. Các vị tì-kheo trì luật thưa: ‘Sao tự chủ không đúng thời gõ kiền chùy để nhóm họp chúng tăng?’. Tự chủ này đáp: ‘Ta lo quản lí việc của tăng vô cùng lao khổ, tì-kheo các ông như con dê đực chỉ biết đứng đó ăn. Sao không tự đánh lấy?’. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm thân con dê đực, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Đài thịt mà ông thấy thật chẳng phải là đài thịt mà là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này xuất gia, quản lí phu cụ và phòng tăng, Nhưng lại đóng cửa phòng, mang chìa khóa du phương, khiến chư tăng không thể vào phòng và không có phu cụ. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm đài thịt, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Đài thịt thứ hai mà ông thấy thật chẳng phải là đài thịt mà là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này xuất gia, cậy mình làm chủ một ngôi chùa tăng, nên chọn phòng tốt cho mình và những người quen thân, không tuân giới luật, theo thứ tự trong tăng mà phân chia. Vì không công bằng, nên sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm đài thịt cao lớn, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Gian phòng bằng thịt mà ông thấy cũng là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này xuất gia, an trú trong phòng tăng, cho rằng của riêng mình, nên suốt đời khồng di chuyển sang phòng khác, không tuân theo luật phòng xá được phân chia theo thứ tự trong tăng. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm phòng thịt cao lớn, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Thằng sàng bằng thịt mà ông thấy cũng là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này xuất gia, sử dụng mãi thằng sàng của tăng, xem như của riêng mình, mà không theo giới luật. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm thằng sàng bằng thịt cao lớn, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Thằng sàng bằng thịt thứ hai mà ông thấy, cũng là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này xuất gia, phá thằng sàng của tăng để nhúm lửa. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm thằng sàng bằng thịt cao lớn, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Phu cụ bằng thịt mà ông thấy cũng là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này xuất gia, sử dụng phu cụ của tăng, xem như của riêng mình, dẵm đạp lên đó, không theo giới luật. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm phu cụ bằng thit bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Móc bằng thịt mà ông thấy cũng là một người tôi ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này xuất gia, sử dụng móc của tăng, xem như của riêng mình, hoặc phá hư hỏng, không theo giới luật. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm cái móc bằng thịt, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Thằng sàng bàng thịt khác mà ông thấy cũng là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này xuất gia cậy thế lực của vua chúa, tự cho mình có Thánh đức, bốn chúng độ tử ca ngợi Thánh tâm. Người này im lặng thụ nhận những lời tán dương ấy. Có người cúng dường thằng sàng tốt đẹp và thức ăn uống ngon bổ thì khởi tâm thánh tiếp nhận. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm thằng sàng bằng thịt, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Tường vách bằng thịt khác mà ông thấy cũng là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này xuất gia, nhưng đóng que trên tường vách của chúng tăng đê treo y bát của mình, làm cho hư hoại. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm cái vách bằng thịt, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Sợi dây bằng thịt khác mà ông thấy cũng là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này xuất gia, giữ luồn những sợi dây của tăng chúng để riêng mình sử dụng. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm sợi dây bằng thịt, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Hầm xí bằng thịt mà ông thấy cũng là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp, người này xuất gia, làm một tì-kheo sống trong chùa. Trên đất thanh tịnh của Phật và tăng, người này phóng uế bừa bãi, không chọn nơi chốn, mùi hôi thối xông vào phòng chúng tăng Các vị tì-kheo trì luật quở trách thì không vâng theo. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm làm hầm xí bằng thịt, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Một vị pháp sư ngồi trên tòa cao mà ông thấy cũng là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp, người này xuất gia, nhưng không hiểu Luật tạng, tội nặng nói là nhẹ, nhẹ nói là nặng; người có căn nói là không căn, không căn nói là có căn; phạm tội đáng phải sám hối nói là không cần sám hối, không cần sám hối nói là phải sám hối. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, ngồi trên tòa cao, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Một vị pháp sư thứ hai ngồi trên tòa cao mà ông thấy cũng là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp, người này xuất gia, làm một đại pháp sư, nhưng lại thuyết pháp để kiếm sống. Khi gặp lúc có lợi dưỡng thì thuyết pháp đúng nghĩa lí. Nếu không thì pháp nói là phi pháp, phi pháp nói là pháp. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, ngồi trên tòa cao, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Một chiếc kiền chùy thịt bị lửa dữ đốt cháy, đang phát ra tiếng kêu la thống thiết mà ông thấy cũng là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp, người này xuất gia làm tăng. Vì muốn dùng vật của Tam bảo mà gõ kiền chùy không đúng pháp, giả dối làm phép yết-ma mưu giữ vật của Tam bảo để sử dụng riêng. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm một chiếc kiền chùy thịt, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Một y tăng-kì-chi bằng thịt mà ông thấy thật chẳng phải là tăng-kì-chi, mà là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này xuất gia, làm chủ một ngôi chùa tăng, bán thức ăn trong nhà bếp lấy tiền may y phục, đoạn mât phần cúng dường của tăng. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm một y tăng-kì-chi bằng thịt, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Một y tăng-kì-chi bằng thịt thứ hai mà ông thấy thật chẳng phải là tăng-kì-chi, mà là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp người này xuất gia, làm duy-na phân phát vật dụng cho tăng. Nhưng duy-na này không phân phát đúng thời, như vật dùng cho mùa xuân lại chuyển qua phát vào mùa hạ, vật dùng cho mùa hạ lại chuyển qua phát vào mùa đông. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm một y tăng-kì-chi bằng thịt, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Tòa núi thịt mà ông thấy là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp, người này xuất gia, làm Điển tọa trong tăng, nhưng không đủ năm đức, không có oai nghi, trộm vật của chúng tăng, cắt xén vải vóc của đại chúng. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm một tòa núi thịt, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Một trụ hoa tu-mạn-noa thứ nhất bị lửa dữ đốt cháy mà ông thấy, thật chảng phải là hoa tu-mạn-noa, mà là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp, người này xuất gia, quản lí trụ cờ phướn nơi Phật địa. Khi bốn chúng đệ tử rải hoa tu-mạn-na cúng dường Phật, sau khi hoa khô, tì-kheo này quét lấy rồi bán lấy tiền chi dụng riêng. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm trụ hoa tu-mạn-noa thịt, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Một trụ hoa tu-mạn-noa thứ hai bị lửa dữ đốt cháy mà ông thấy, thật chẳng phải là trụ hoa tu-mạn-noa, mà là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp, người này xuất gia, quản lí trụ cờ phướn nơi Phật địa. Khi bốn chúng đệ tử cúng dường dầu tu-man-na lên Phật, tì-kheo này lấy bớt để chi dụng riêng. Đo đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm trụ hoa tu-mạn-noa thịt, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Một cây hoa thịt bị lửa dữ đốt cháy mà ông thấy là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp, người này xuất gia, quản lí vườn hoa cho tăng. Nhưng khi trong vườn có hoa đẹp thì tự ý hái dùng riêng, hoặc cho các cư sĩ. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm cây hoa thịt, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Một cây ăn quả bằng thịt bị lửa dữ đốt cháy, mà ông thấy, là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp, người này xuất gia, quản lí vườn rau quả cho tăng. Nhưng khi trong vườn có quả ngon ngọt thì tự ý hái ăn, hoặc cho các cư sĩ. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm cây ăn quả bằng thịt, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Một cội cây bằng thịt bị lửa dữ đốt cháy mà ông thấy, là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp, người này xuất gia, quản lí củi cho tăng, nhưng lại tự ý lấy mang về phòng mình dùng riêng, hoặc cho hàng cư sĩ. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm một cội cây thịt, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Một cây trụ bằng thịt thứ nhất mà ông thấy, thật chẳng phải là cây trụ mà là một người tội ở địa ngục.
Vào thời Phật Ca-diếp' người này xuất gia, thường trụ trong chùa, nhưng lại chặt phá trụ cột của Phật để dùng riêng. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm một cây trụ thịt cao lớn, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Một cây trụ bằng thịt thứ hai mà ông thấy, thật chẳng phải là cây trụ mà là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp, người này là cư sĩ; Vị cư sỹ này đã dùng dao gọt lấy lớp vàng thếp trên tượng Phật. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm mệt cây trụ thịt cao lớn, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Một cây trụ bằng thịt thứ ba mà ông thấy, thật chẳng phải là cây trụ mà là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp, người này xuất gia lo việc cho tăng, tự ý lấy cột trụ của tăng cho hàng cư sĩ. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm một cây trụ thịt cao lớn, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Một cây trụ bằng thịt thứ tư mà ông thấy, thật chẳng phải là cây trụ mà là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp, người này xuất gia làm một vị Đại chúng chủ, nhưng không đủ năm đức. Khi phân xử cho tăng, thì tùy tâm thương ghét, giận si mà xử đoán không công bằng. Do đó, sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm một cây trụ thịt cao lớn, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Các cây trụ bằng thịt mà ông thấy, thật chẳng phải là cây trụ mà là một người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp, người này xuất gia thường trụ trong chùa, nhưng không tuân giới luật, khi phân chia phu cụ thì dành cái tốt về phần mình, hoặc tùy người thương ghét mà phân tốt xấu khác nhau. Nhưng trong Phật pháp, dù có trần sa tì-kheo thì cũng phải phân chia theo thứ tự hạ lạp. Vì không công bằng, nên sau khi chết, người này rơi vào địa ngục, làm mười bốn cây trụ thịt cao lớn, bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ đau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Hai vị tì-kheo đánh đấm nhau mà ông thấy, cũng là những người tội ở địa ngục,. Vào thời Phật Ca-diếp, những người này đã xuất gia ở trong chúng, nhưng hay tranh cãi và đánh nhau. Cho nên sau khi chết, rơi vào địa ngục, đã bị lửa dữ thiêu đốt, lại chịu nỗi khổ đánh đấm nhau, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Hai sa-di mà ông thấy, cũng là những người tội ở địa ngục. Vào thời Phật Ca-diếp, những người này đã xuất gia, nhưng lại đắp chăn chung và ôm nhau ngủ. Cho nên sau khi chết, rơi vào địa ngục, ôm nhau nằm trong chăn bị lửa thiêu đốt, chịu vô lượng khổ, đến hôm nay vẫn chưa thoát.
Thế Tôn lại bảo Tăng Hộ:
- Nay Ta nói cho ông biết, vì những nhân duyên như vậy, cho nên trong địa ngục, rất nhiều người xuất gia thụ tội, còn người tại gia rất ít. Vì sao? Vì người xuất gia rất dễ phạm giới, không tuân thủ tì-ni, lừa dối lẫn nhau, tùy tiện dùng riêng vật của tăng, hoặc phân chia thức ăn uống không công bằng. Cho nên hôm nay, một lần nữa Ta bảo ông nên siêng năng trì giới, cung kính vâng giữ. Những người tội này đều là những người xuất gia phá giới ở quá khứ. Tuy họ không tinh tấn tu tập, nhưng bốn chúng đàn việt thấy họ có oai nghi tựa tăng, vì cung kính tăng bảo, nên cúng dường bốn nhu cầu cần thiết. Như thế mà vẫn có được vô lượng phúc báo, không thể nghĩ bàn. Nếu người nào cúng dường cho vị tì-kheo vâng giữ tì-ni, trụ trong tăng-già-lam, như pháp tu tập, đúng thời gõ kiền chùy thì được vô lượng vô biên phúc báo, không thể tính kể, huống gì cúng dường bốn nhu cầu cần thiết cho tăng bốn phương!
Thế Tôn lại dạy:
- Nếu người xuất gia phải lo liệu việc cho tăng, khó giữ gìn tịnh giới, thì tì-kheo này lúc mới xuất gia phải phát tâm ưa thích thụ trì tịnh giới, cầu niết-bàn. Nếu đàn việt cúng dường thì nên thụ nhận, nhưng phải giữ vững tịnh giới, để sau không sinh phiền não.
Bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên, nên thuyết kệ:
Trì giới vui bậc nhất
Thân không chịu các khổ
Lúc ngủ được an ổn
Khi thức ngập niềm vui
Thế Tôn dạy:
Có chín hạng người thường rơi vào địa ngục A tì: một, dùng thức ăn của chúng tăng; hai, dùng thức ăn của Phật; ba, giết cha; bốn, giết mẹ; năm, giết a-la-hán; sáu, phá hòa hợp tăng; bảy, phá tịnh giới của tì-kheo; tám, ô phạm tì-kheo-ni tịnh hạnh; chín, làm nhất-xiển-đề.
Lại có năm hạng người thường bị thụ báo, hai nơi là địa ngục và ngạ quỉ: cắt xén vật cúng cho tăng, cắt xén thức ăn cúng dường cho tăng, cướp đoạt vật cúng cho tăng, lẽ ra được lại làm cho không được, pháp thuyết là phi pháp. Sau khi thụ báo ở hai nơi, còn phải chịu dư nghiệp không cùng tận trong năm đường.
Đức Thế Tôn thuyết kệ:
Gây ác đọa địa ngục
Làm thiện, vui cõi trời
Nếu tu tập Không định
Dứt lậu thành la-hán
An vui nhận vật cúng
Tri túc, chỉ ba y
Ba nghiệp tu định tuệ
An lạc chốn núi rừng
Thà nuốt hoàn sắt nóng
Nóng đốt như lửa thiêu
Chứ không thể phá giới
Thụ thức ăn của người.
Sau khi nghe Thế Tôn nói về các nhân duyên như thế bốn chúng vui mừng và cung kính hành trì”.
Kệ tổng kết các người thụ tội
Phật thuyết nhân duyên xưa
Phòng tắm và sáu chùa
Hai vùng đất, ba hũ
Hai bình và suối thịt
Một vò, người cắt mũi
Cắt lưỡi, đứng trong nước
Đứng trên gai, sảnh, cọc
Lạc đà, ngựa, voi, lừa
Dê đực, hai đài thịt
Một phòng, hai thằng sàng
Cái cân và móc treo
Giường, vách, thằng sàng, dây
Nhà xí, hai tòa cao
Kiền chùy, hai y, núi
Hai cây trụ Tu-mạn
Cây hoa, cây quả thịt
Một cội, ba trụ thịt
Hai hàng mười bốn cây
Hai tăng, hai sa-di
Tổng cộng năm mươi sáu.
Có bài tụng:
Người ngu tham thế lợi
Kẻ tục chuộng hư danh
Tam không đã khó thành
Tám gió thổi dễ bay
Ta, vật vốn không tính
Sắc tâm vẫn buộc ràng
Tuối trẻ ưa rực rỡ
Già chết tại gò hoang
Ngôi cao chẳng lo họa
Giữ đầy chẳng lo đầy
Lợi danh chịu đao cắt
Lẽ nào mãi tốt lành
Phàm ngu vọng cầu lợi
Như chó thấy phân dơ
Chẳng biết họa sắp đến
Nào hay tiếng oán hờn.
92.3. CẢM ỨNG
* Lời bàn
Từng thấy có những cư sĩ và kẻ thế tục không hiểu biết, khi nghe Thế Tôn quở trách các đệ tử, vội cho rằng mình là người tốt, rồi chỉ thấy lỗi của tăng mà thôi. Theo kinh dạy, tội của hàng cư sĩ, như mặc chiếc áo đen, dù đã quá bẩn, nhưng vẫn không thấy. Còn tội của hàng xuất gia, như tấm lụa trắng, dù một vết phân ruồi rất nhỏ dính vào cũng thấy rõ, nên cũng dễ trừ. Vì thế hàng cư sĩ tạo tội, rơi vào địa ngục như viên đá chìm xuống đáy, không bao giờ nổi lên. Người xuất gia tạo tội, rơi vào địa ngục như đánh trái banh chạm đất liền nẩy lên. Vì sao? Vì người xuất gia khi tạo tội, tâm vô cùng hổ thẹn, nên liền sám hối; giống như nhỏ một giọt nước lên tấm sắt nung đỏ, giọt nước liền khô, do sức của lửa nung đốt vậy. Ngươi đời tạo tội rơi vào địa ngục, như mũi tên bắn ra không thể quay trở lại, cũng như chùy sắt ném vào vũng lầy không thể nào trôi lên. Vì sao? Vì tâm ác sâu nặng. Lại người đời tạo tội vào địa ngục như voi già sa lầy, không còn sức lực để tự thoát.
Như người giàu sang thì tâm hay sinh ngã mạn, xem thường Tam bảo, buông lung tâm sát, tham đắm tài sắc ngày đêm không biết chán; không sinh tâm hổ thẹn, chẳng khác gì súc sinh, lại họ còn phỉ báng bậc hiền lương, khinh chê Phật pháp. Lắng tâm suy nghĩ việc này, thật quá đau lòng!
Còn như kẻ nghèo hèn thì luôn mong cầu y thực, việc lao dịch của triêu đình bức ép, công tư quây nhiễu, sớm tối chăm chăm; nếu thêm bất tín, một khi không có cơm ăn áo mặc, khổ sở bức thân, sẽ cướp đoạt của Tam bảo, trộm cắp của lục thân mang về nuôi sống vợ con và bản thân mình. Do đó, từ chỗ khổ lại vào chỗ khổ, khổ khắp mười phương; từ chốn tối tăm lại vào chốn tối tăm, tối tăm khắp cùng pháp giới. Do đây mà bồ-tát chau mày, chư Phật tuôn máu lệ. Chợt nghĩ đến điều này, lòng càng vô cùng đau xót!
Đời Hậu Ngụy, tăng Tuệ Nghi: Sư ở chùa Sùng Đạo. Có lần sư thị tịch đã bảy ngày, cùng với năm vị tì-kheo theo thứ tự đến chỗ Diêm-la vương thâm định tội lỗi. Vì bắt lầm, nên sư được trả về, nhân đó sư thuật lại việc xét xử trước điện Diêm vương cũng giống như các quan trên dương gian vậy.
Năm vị tì-kheo đều là tăng nhân tại các chùa ở kinh đô, cùng một văn thư triệu tập với sư mà đến trước điện. Một tì-kheo tên là Trí Thông ở chùa Bảo Minh tự nói:
- Cả đời tôi chỉ khổ hạnh, tọa thiền.
Diêm vương phán:
- Được lên cõi trời.
Vị tì-kheo thứ hai tên là Đạo Phẩm tự nói:
- Tôi tụng kinh Niết-bàn bốn mươi quyển.
- Được lên cõi trời.
Vị tì-kheo thứ ba tên là Đàm-vô-tối ở chùa Dung Giác, trong văn thự có ghi:
- Thường giảng kinh Hoa nghiêm, Niết-bàn, dẫn chúng hơn nghìn người giải thích nghĩa lí.
Diêm vương nói:
- Tăng giảng kinh hay cống cao ngã mạn, tâm phân biệt đây kia, tôn mình hạ người, là hạnh thô nhất trong hàng tì-kheo.
- Từ khi thành người đến nay, thật không khởi tâm kiêu mạn, chỉ thích giảng kinh_Vô-tối đáp.
- Giao cho Hữu ti!_Diêm vương ban lịnh.
Thế là có mười người mặc áo xanh đưa Vô-tối đi về hướng tây bắc, vào trong một ngôi nhà tối đen. Hình như chẳng phải là nơi tốt đẹp.
Tì-kheo thứ tư là Đạo Hoằng ở chùa Thiền Lâm nói:
- Tôi khuyến hóa bốn chúng đàn việt tạo Nhất thiết kinh, mười pho tượng Phật bằng vàng.
Diêm vương nói:
- Theo phép của sa-môn, cần nhiếp tâm nơi đạo tràng, chỉ lo việc tọa thiền tụng kinh, không nên can dự vào việc đời, siêng năng tu giới, không tạo những nghiệp hữu vi. Còn như khuyến hóa cầu tài, tâm tham liền khởi, không dứt trừ được ba độc. Giao cho Hữu ti y chiếu theo phép định tội!
Lại có những người áo xanh đưa Đạo Hoang vào cùng một ngôi nhà với Vô-tối.
Vị tì-kheo thứ năm là tăng Bảo Chân chùa Linh Giác nói:
- Trước khi xuất gia, tôi là thái thú Lũng Tây, tự ngộ được lí khổ không, nên qui y Tam bảo, gom hết tài sản xây chùa Linh Giác. Sau khi chùa hoàn thành, từ quan nhập đạo. Tuy chẳng tọa thiền tụng kinh, nhưng ngày đêm lễ lạy, siêng năng chẳng bỏ.
Diêm vương nói:
- Ngày ông làm thái thú, vì tình riêng mà bẻ cong pháp luật, cướp đoạt của người về cho mình. Dù có tạo ngôi chùa này, thì cũng chẳng phải do sức của ông, kể đến làm gì cho nhọc! Cũng giao cho Hữu ti y phép định tội.
Lại thấy những người áo xanh đưa Bảo Châu vào một ngôi nhà tối đen, hình như chẳng phải nơi tốt đẹp gì.
Đến phiên Tuệ Nghi, vì bắt lầm, nên không tra vấn gì, chỉ ban lệnh cho trở về. Sau đó sư kể lại việc này. Có người tâu lên hoàng hậu, bà nghe xong cho là việc linh dị, bèn sai Hoàng môn thị lang chiếu theo lời kể của sư, đến năm ngôi chùa của các tì-kheo nói trên thăm hỏi, thì đều được trả lời là có và họ đã tịch cách đây bảy ngày. Tất cả hành nghiệp tu tập của họ lúc còn sống cũng đúng như lới sư kể, không sai mảy may
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
12/01/2016
PUCL QUYỂN 100 - CHƯƠNG TRUYỆN KÍ
QUYỂN 100 Quyển này có một chương Truyện kí. 100. CHƯƠNG TRUYỆN KÍ 100.1. LỜI DẪN Từng nghe: kinh điển của chín nhà chất đầy tại Linh Khâu, sách về phép tắc trong thiên hạ chất kín ở Quần Ngọc, lại cũng có văn khắc trên...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 99 - CHƯƠNG TẠP YẾU
QUYỂN 99 Quyển này có một chương Tạp yếu. 99. CHƯƠNG TẠP YẾU 99.1. LỜI DẪN Lí thể lìa âm thanh, nhưng nhờ vào ngôn từ để biểu ý nghĩa. Ngôn từ không dấu vết, nhưng nương vào văn tự để diễn phát âm thanh. Cho nên văn tự l...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 98 - CHƯƠNG PHÁP DIỆT
QUYỂN 98 Quyển này có một chương Pháp diệt. 98. CHƯƠNG PHÁP DIỆT 98.1 LỜI DẪN Trộm nghĩ: Chính pháp tượng pháp đã qua, giáo pháp chuyển sang thời mạt. Bởi người có tà chính, nên pháp cũng có lúc suy vi. Có người nương và...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 97 - CHƯƠNG TỐNG CHUNG
ỌUYỂN 97 Quyển này có một chương Tống chung. 97. CHƯƠNG TỐNG CHUNG 97.1. LỜI DẪN Bốn đại là đồ chứa chất độc, đầy dẫy dơ uế; sáu tên giặc là bọn chủ cuồng loạn, luôn tham đắm ngoại cảnh, không có ngày biết ngược dòng sin...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 96 - CHƯƠNG XẢ THÂN
QUYỂN 96 Quyển này có một chương Xả thân. 96. CHƯƠNG XẢ THÂN 96.1. LỜI DẪN Tính của sắc vô hình, thì xúc cũng sẽ trở về không; ba thời hư giả thì tám vi cuối cùng cũng tan hoại. Tuy có uy lực làm chuyển càn khôn, rốt cuộ...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 95 - CHƯƠNG BỆNH KHỔ
QUYỂN 95 Quyển này có một chương khổ. 95. CHƯƠNG BỆNH KHỔ 95.1. LỜI DẪN Ba cõi mênh mông, sáu đường đông đúc, tất cả các loài chúng sinh đều nhờ vào bốn đại phò trì, năm căn tạo thành hình thể. Thế nên, khi bốn đại tích...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 94 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT
QUYỂN 94 Quyển này gồm chương Uống rượu ăn thịt (tiếp theo), chương uế trược. 93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT (tt) 93.4. CẢM ỨNG 93.4.1. Đời Hán, Lạc Tử Uyên: Vào niên hiệu Hiếu Xương đời Hán, dũng sĩ Lạc Tử Uyên, người Lạc...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 93 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT
QUYỂN 93 Quyển này có một chương uống rượu ăn thịt. 93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT 93.1. LỜI DẪN Uống rượu là mở toang cánh cửa buông lung, các Đức Phật biết rõ đó là gốc khổ. Vì thế nên tránh những quán rượu, lìa bỏ những...
