PUCL QUYỂN 94 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT
11/01/2016
QUYỂN 94 Quyển này gồm chương Uống rượu ăn thịt (tiếp theo), chương uế trược. 93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT (tt) 93.4. CẢM ỨNG 93.4.1. Đời Hán, Lạc Tử Uyên: Vào niên hiệu Hiếu Xương đời Hán, dũng sĩ Lạc Tử Uyên, người Lạc...

QUYỂN 94
Quyển này gồm chương Uống rượu ăn thịt (tiếp theo), chương uế trược.
93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT (tt)
93.4.1. Đời Hán, Lạc Tử Uyên: Vào niên hiệu Hiếu Xương đời Hán, dũng sĩ Lạc Tử Uyên, người Lạc Dương, đóng quân ở cổ Thành. Một hôm, Phàn Nguyên Bảo sống cùng một quân doanh được phép về kinh sư, Tử Uyên gửi cho ông ta một phong thư nhờ mang về nhà và dặn: “Nhà tôi ở phía nam Linh Đài gần sông Lạc, ông cứ đến đó, người nhà của tôi tự đến găp ông”. Nguyên Bảo theo lời dặn đên phía nam Linh Đài, nhưng thấy không có ngôi nhà nào cả. Nguyên Bảo trong lòng lưỡng lự muốn đi, bỗng nhìn thấy một ông lão. Ông lão hỏi: “Ông từ đâu đến mà quanh quẩn ở đây?”.
Nguyên Bảo trình bày mọi việc cho ông lão nghe. Ông lão nói: “Nó là con ta”. Rọ^ộng lão nhận thư và dẫn Nguyên Bảo vào bên trong. Nguyên Bảo thấy lầu đài cao rộng, phòng ốc tráng lệ. Vừa ngồi xuông, ông lão liền bảo tì nữ lấy rượu. Trong chôc lát, thấy tì nữ ôm xác một đứa trẻ ngang qua. Nguyên Bảo thấy vậy rất lấy làm lạ. Bỗng chốc lại có người mang rượu đến, rượu màu đỏ sẫm, mùi rất thơm, dọn thức ăn, đủ sơn hào hải vị. Sau khi dùng xong, Nguyên Bảo xin về. Ông lão tiễn Nguyên Bảo ra veef và noi; “Saự này khó có cơ hội gặp lại, thật đáng tiếc”. Họ ân cân từ biệt nhau.
Khi ông lão vừa quay trở vào thì Nguyên Bảo không còn nhìn cổng và đường đi đâu nữa, chỉ thấy non cao vách dựng và biển xanh sóng vỗ mà thôi. Trong chốc lát lại thấy một đứa bé khoảng mười lăm tuổi vừa mới chết đuối, mũi tuôn máu tươi. Lúc ấy, Nguyên Bảo mới biết rượu mà mình uống chính là máu. Khi Nguyên Bảo quay về cổ Thành thì Tử Uyên đã qua đời. Ở chung ba năm mà Nguyên Bảo không biết Tử Uyên là thần sông Lạc.
93.4.2. Đời Tấn, sa-môn Pháp Ngộ: Sư ở chùa Trường Sa, Kinh châu, không biết người xứ nào. Thuở nhỏ, sư rất hiếu học, dốc lòng nghiên cứu sách vở cổ. Sư thờ ngài Đạo An làm thầy, có khả năng hiểu biết phi thường. Sau đó, sư đi về phía đông, đến trụ tại chùa Trường Sa, Giang Lăng giảng thuyết các kinh, thường có hơn bốn trăm người đến thụ học. Bấy giờ, trong chúng có một vị tăng, vì uống rượu nên ban đêm quên đốt hương. Sư chỉ trách phạt mà không đuổi. Ngài Đạo An ở xa nghe được việc ấy, lấy một cây roi bỏ vào ống trúc, tự tay niêm kín và đề là gửi cho Sư. Sư mở niêm thấy cây roi, liền nói: “Đây là do đệ tử uống rượu. Vì ta dạy bảo không nghiêm, để thầy ở xa phải lo láng”. Rồi sư bảo thầy duy-na đánh kiền chùy tập chúng và đặt cái ống trúc đựng cây roi lên hương án. Sau khi hành xong, sư đứng dậy ra trước chúng hướng về ống trúc kính lễ, rồi nằm xuống đất và bảo thầy duy-na đánh ba trượng xong, đặt roi vào ống rơi lệ tự trách. Bấy giờ, tăng tục trong vùng đều ca ngợi việc này, Nhân đó, các đệ tử càng siêng nàng tu học và người đến cầu học cũng rất đông.
Không lâu sau, sư viết thư báo cho sư huynh là Tuệ Viễn: “Đệ ngu muội không đủ sức lãnh đạo đồ chúng, hòa thượng của chúng ta dù ở cách xa tận phương trời, mà còn rủ lòng thương tưởng đến, tội của đệ thật sâu nặng”.
Sau đó, sư tịch ở Giang Lăng, thọ sáu mươi tuổi.
93.4.3. Đời Tấn, Dữu Thiệu Chi: ông tự là Đạo Phú người Tân Dã. Vào đời Tấn, ông làm thái thú Tương Đông, kết giao rất thân với Tông Hiệp ở Nam Dương, là anh em cô cậu với ông.
Niên hiệu Nguyên Hưng cuối cùng (404) đời đông Tấn, Thiệu Chi mắc bệnh qua đời. Khoảng niên hiệu Nghĩa Hi (405-418), ông hiện hình đến chỗ của Tống Hiệp, hình dáng y phục đầy đủ giống như lúc còn sống, nhưng hai chân đều bị cùm. Vừa đến nơi, cùm chân liền mở ra và ông ngồi xuống đất, Tống Hiệp hỏi:
- Làm sao ông quay lại được?
Thiệu Chi đáp:
‘Chỉ được về trong chốc lát, vì nghĩ đên chỗ thân thiết, nên ghé qua thăm ông.
Tống Hiệp hỏi việc quỷ thần. Thiệu Chi liền trả lời đại khái, chứ không nói rõ ràng.
Ông nói với Tống Hiệp:
- Phải siêng năng tu tập chớ sát sinh, nếu không thể dứt hẳn thì chớ giết trâu, khi ăn thịt đừng khởi tâm là ăn Loài vật.
Tống Hiệp nói:
- Ngũ tạng và thịt khác nhau sao?
Thiệu Chi đáp:
- Tâm là nhà của thiện thần. Ăn thịt, sát sinh phạm tội rất nặng.
Rồi Thiệu Chi lại hỏi thăm những bà con thân thích và cũng bàn luận việc đời. Cuối cùng ông lại xin rượu, Tống Hiệp thường ngày uống rượu thù du, nên dọn lên mời Thiệu Chi. Nhưng khi nâng ly, Thiệu Chi không uống mà nói:
- Có mùi cây thù du.
Tống Hiệp hỏi:
- Ghét mùi này ư?
Thiệu Chi đáp:
- Tất cả quan cõi u minh đều sợ mùi cây đó, chứ chẳng phải riêng gì tôi!
Thiệu Chi là người có âm giọng lớn tiếng, nói sang sảng, hôm nay nói chuyện cũng chẳng khác gì ngày xưa. Lát sau con của Tống Hiệp là Thúy đi đến. Thiệu Chi nghe tiếng dép, sắc mặt vô cùng sợ hãi nói với Tống Hiệp: “Sinh khí bức ép tôi, không thể ở lại đây được nữa. Xin từ biệt ông, ba năm sau gặp lại”.
Rồi Thiệu Chi đeo cùm vào chân và đi. Vừa ra khỏi cửa liền biến mất. Sau đó, Tống Hiệp làm chức Chính viên lang và đúng ba năm thì qua đời.
93.4.4. Đời Tống, Tưởng Tiểu Đức: Ông người Giang Lăng, làm Thính sự giám sư cho Thứ sử Nhạc châu Chu Tuần. Tuy còn trẻ nhưng đã có lòng kính tín Tam bảo và siêng năng hơn người. Chu Tuần rất thích ông. Vì thế, mỗi khi có pháp sự, Chu Tuần đều giao cho ông trông coi tất cả mọi việc.
Niên hiệu Đại Minh cuối cùng (464) đời Tống, ông mắc bệnh, qua đời. Canh ba đêm đó, khi sắp nhập liệm, bỗng ông sống lại và kể: “Có sứ giả vâng lệnh Diêm vương đến gọi, tôi liền đi theo. Khi vừa đến, Diêm vương nói:
- Ngươi siêng năng cần mẫn, kính phụng đại pháp, nên Thiên đế ban chỉ: ‘Ngươi một lòng phụng sự Phật pháp, đáng được sớm sinh về cõi lành’. Nhưng thọ mạng của ngươi vẫn còn dài, nên Thiên đế bảo ta gọi riêng ngươi đến đây, cho ngươi thụ hưởng sự vui sướng ở cõi trời’. Tôi vui vẻ nhận lời. Diêm vương nói tiếp: ‘Bây giờ ngươi nên trở về nhà, mau dặn dò, gửi gắm người thân và tạo các công đức rồi bảy ngày sau quay lại đây’. Tôi vâng lời quay trở về
Trên đường trở về tôi đi ngang qua một ngôi nhà rất nhỏ, dột nát, gặp Nan công trụ tại chùa Tân đang ở trong đó. Vì đã quen biết nên khi gặp nhau chúng tôi nói chuyện rất thân mật.
Nan công nói:
- Bần đạo từ khi xuất gia đến nay chưa từng uống rượu, sáng sớm nay đến nhà Lan công, bị ép uống gần một thăng rượu. Vì uống rượu nên bị Diêm vương gọi đến đây. Nếu bần đạo không mắc tội này thì đã sinh lên trời rồi. Nay bần đạo phải ở trong ngôi nhà dột nát này, ba năm sau mới được sinh lên trời”.
Tiểu Đức về đến nhà, vì muốn kiểm nghiệm lại, nên ngay đêm hôm đó vội sai người đến hỏi thăm thì quả đúng như vậy. Vào ngày ấy, Nan công nằm ngủ ở chỗ Lan công, đến tối thì qua đời.
Sau khi lành bệnh,,Tiểu Đức mở hội bố thí, làm phúc lớn suốt bảy ngày. Đến kì hạn, ông nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng. Chu Tuần là người ở làng bên cạnh, còn Nan công và Lan công là hai vị tăng ở chùa Tân. Nan công đạo hạnh rất tinh chuyên, không giống như những vị tăng khác.
93.4.5. Đời Tống, sa-môn Trúc Tuệ Xí: Sư người Tân Dã, trụ ở chùa Tứ Tằng, Giang Lăng. Sư tịch vào niên hiệu Vĩnh Sơ thứ hai (421) đời Tống. Đệ tử vì sư mà thiết hội bảy ngày.
Một hôm, trời vừa tối, sau khi đốt hương xong
sa-môn Đạo Hiên đên thăm đệ tử của Tuệ Xí. Khi đến trước phòng, Đạo Hiền bỗng thấy có một cái bóng lờ mờ như hình người, nhìn kĩ thì thấy sư, hình dáng phục chẳng khác gì khi còn sống.
Sư hỏi Đạo Hiền:
- Sáng nay ông ăn thịt ngon không?
Đạo Hiền đáp:
- Ngon.
Sư nói:
- Tôi phạm tội ăn thịt, nên nay bị đọa vào địa ngục Ngạ cẩu.
Đạo Hiền nghe nói vậy, sợ hãi chưa kịp nói gì thì sư lại nói tiếp:
- Nếu ông không tin, thử nhìn sau lưng tôi xem!
Rồi Tuệ Xí quay lại cho Đạo Hiền xem. Đạo Hiền xem thấy có ba con chó vàng, nhưng nửa thân giống lừa, mắt đỏ rực, chiếu sáng khắp phòng, như muốn cắn xé Tuệ Xí, nhưng dừng lại không cắn. Đạo Hiền trông thấy sợ hãi ngất xỉu một hồi lâu mới tỉnh; sau đó thuật lại việc ấy cho mọi người nghe.
93.4.6. Đời Ngô, Gia Cát Khác: Ngô Tôn Lượng lên ngôi khi còn rất nhỏ, nên Gia Cát Khác làm Phụ chỉnh, Tôn Tuấn làm Thị trung đại tướng quân. Cát Khác cố chấp, kiêu ngạo, còn Tôn Tuấn nham hiểm, lại ham quyền thế.
Niên hiệu Phượng Hoàng thứ ba (274) Cát Khác dẫn binh đánh thành Tân bị thất bại trở về. Tôn Tuấn cùng ấu chúa Tôn Lượng âm mưu triệu Cát Khác vào cung để giết. Ngày hôm ấy, tinh thần Cát Khác rối loạn, nên suốt đêm không ngủ được. Trương Ước, Đằng Duệ nói cho Cát Khác biết âm mưu của Tôn Tuấn. Cát Khác nói:
- Kẻ nô bộc ấy đâu có thể làm vậy! Chẳng qua chỉ vì rượu thịt mà hành xử độc ác thế thôi!
Rồi Cát Khác dẫn các người thân tín và mang theo rượu thuốc vào cung. Khi Cát Khác sắp vào cung, ba con chó săn của ông nuôi chạy theo cắn vạt áo kéo lại không cho đi. Ba lần như vậy, Cát Khác quay lại vỗ đầu chúng, nói: “Sợ à? Không hề gì đâu!”. Khi Cát Khác vào đến cung thì bị Tôn Tuấn mai phục giết chết.
Sau đó, Tôn Tuấn mắc bệnh, mộng thấy Cát Khác hiện đến đánh, ông thường nói mê sảng là thấy Cát Khác, ít hôm sau thì qua đời.
93.4.7. Chu Vũ đế: Ông rất thích ăn trứng gà, mỗi lần ông ăn mấy quả trứng. Bấy giờ, Giám thiện nghi đồng tam ti Bạt Hổ thường dâng thức ăn, nên được Vũ đế rất sủng ái.
Khoảng niên hiệu Khai Hoàng (581-587) đời Tùy, ông mắc bệnh nặng, qua đời, nhưng ngực vẫn còn ấm; vì thế, người nhà không nỡ liệm. Ba ngày sau, Bạt Hổ sống lại, trước tiên ông nói: “Đưa tôi đến gặp vua để tôi chuyển lời của Vũ đế”. Bạt Hổ đến cung và xin vào gặp vua. Văn đế cho gọi vào hỏi cặn kẽ.
Bạt Hổ kể: “Hôm ấy, bỗng nhiên hạ thần thấy một người đưa hạ thần đến nơi có con đường nhỏ dẫn vào một huyệt đạo lớn. Vừa đến miệng huyệt đạo, xa nhìn về phía tây thấy cả trăm binh lính cưỡi ngựa, nghi vệ giống như vua, tiến về phía hạ thần. Chẳng mấy chốc đoàn quân đến miệng hang, đúng là Chu Vũ đế. Hạ thần vái lạy Vũ đế. Vũ đế nói: ‘Diêm vương gọi ông đến để làm chứng việc của tôi, chứ ông không có tội’. Nói dứt lời, sứ giả dẫn hạ thần vào trong cung và chỉ xem cảnh cung môn, lại dẫn hạ thần đến trước điện, Vũ đế và Diêm vương đã ngồi sẵn ở đó, trông rất nghiêm nghị. Sứ giả bảo hạ thần lạy Diêm vương. Diêm vương hỏi:
- Ngươi làm thức ăn cho Vũ đế, đã dâng cho ông ấy tất cả bao nhiêu cái ‘bạch đoàn’? Hạ thần không biết ‘bạch đoàn’ là gì, nên quay sang nhìn những người xung quanh, họ nói: ‘Bạch đoàn chính là trứng gà’.
Hạ thần đáp:
- Vũ đế đã ăn ‘bạch đoàn’ rất nhiều không nhớ là bao nhiêu!
Diêm vương nói với Vũ đế:
- Người này không nhớ, ông hãy nhả chúng ra.
Vũ đế buồn rầu đứng dậy, bỗng thấy trước diện có một chiếc giường sắt và mấy mươi ngục tốt, đều là bọn đầu trâu thân người. Khi Vũ đế đã nằm trên giường, ngục tốt dùng đòn sát đè lên người ông ấy khiến hai bên sườn bị toác và gà con từ đó chui hết ra ngoài, trong chốc lát đầy cả giường, ước khoảng hơn mười hộc. Hạ thần vâng lệnh Diêm vương tính số gà con ấy xong thì giường và ngục tốt đều biên mất. Ha thần thấy Vũ đế ngồi lại chỗ cũ. Vũ đế bảo hạ thần' ‘Ông về giúp tôi tâu lại cho vua nước Đại Tùy biết. Ngày xưa ông ấy cùng ăn với tôi, ngọc lụa trong kho cũng đo tôi tích chứa. Vì tôi hủy diệt Phật pháp, nên nay phải chịu muôn vàn khổ đau. Ông hãy nói ông ấy tạo công đức để hồi hướng cho tôi”.
Nghe Bạt Hổ kể xong, Văn đế ban lệnh khắp trong thiên hạ, mỗi người bỏ ra một tiền để tạo công đức, hồi hướng cho Vũ đế.
93.4.8. Đời Tùy, Triệu Văn Nhược: Ông quê ở huyện Trường An, Ung châu. Khoảng niên hiệu Đại Nghiệp (605-616) đời Tùy, ông qua đời được bảy ngày, người nhà đại liệm thì bỗng một chân ông co rút, người nhà sợ hãi không dám nhập quan. Văn Nhược sống lại, mọi người vui vẻ hỏi nguyên nhân, Văn Nhược kể: “Trong thời gian chết, tôi được một người dẫn đến Diêm-la vương. Diêm vương hỏi:
- Lúc sống ngươi tạo được phúc nghiệp gì?
Tôi đáp:
- Thụ trì kinh Kim cang Bát-nhã.
Diêm vương khen:
- Quý thay! Đây là phúc bậc nhất! Tuy ngươi đã tạo phúc thiện, nhưng ta sẽ chỉ cho ngươi xem những nơi mà tội nhân chịu hình phạt.
Diêm vương sai một người dẫn tôi đi về hướng bắc, khoảng mười bộ thì bảo tôi chui qua lỗ một bức tường. Bên kia tường có một người đưa tay nắm lấy đầu tôi kéo ra ngoài, rất đau đớn. Qua khỏi tường rồi thấy địa ngục lớn, có vạc nước sôi và rất nhiều những khí cụ hành hình tội nhân. Cũng có các loài như heo, dê, gà, cá, ngỗng, vịt v.v... tranh nhau đến bên tôi đòi mạng. Tôi nói:
- Ta không ăn thịt các ngươi, vì sao các người bức ép ta?
Các loài súc sinh kia nói:
- Ngày xưa vào ngày, tháng, năm, nơi đó... ông đã ăn đầu, chân, tứ chi; mổ xẻ phân chia cho mọi người cùng ăn, sao nay còn che giấu?
Tôi nghe bọn chúng dẫn chứng rõ ràng nên không dám cãi lại, chỉ biết nhất tâm niệm Phật, sám hối các tội đã làm, không dám nói lời nào, chỉ xin các loài súc sinh cho tôi sống thêm một thời gian tạo phúc thiện để tạ tội với chúng. Chúng nghe tôi hứa tạo phúc thiện một thời gian, nên liền bỏ đi.
Người sứ kia lại dẫn tôi đến chỗ Diêm vương và nói: ‘Người này đã xem hết những nơi chịu tội rồi’.
Diêm vương đưa một chén đinh bảo tôi ăn hết lại đùng năm cây đinh khác đóng lên đỉnh đầu, cổ và tay chân của tôi. Sau đó mới thả ra và tôi sống lại”.
Sau khi sống lại, đầu và tay chân của ông vẫn còn đau. Ông siêng năng tạo phúc một thời gian lâu thì đầu và tay chân mới dần bớt đau. Từ đó về sau Văn Nhược siêng năng tụng kinh Kim cang Bát-nhã không dám xao lãng phút giây nào. Cứ gặp tăng tục, người lạ, người quen ông đều khuyên họ trì tụng kinh Bát-nhã.
về sau, nhân đi sứ, ông nghỉ lại trên sảnh đường của một dịch trạm. Vừa ngủ, ông mộng thấy một phụ nữ mặc đồ màu xanh vội vàng chạy đến xin ông cứu mạng. Văn Nhược giật mình thức giấc, liền gọi người dịch trưởng đến hỏi :
- Có phải ngươi vì ta mà định sát sinh không?
Dịch trưởng đáp:
- Dạ đúng! Tôi định giết một con dê nhỏ để đãi ngài.
Văn Nhược hỏi:
- Con dê màu gì?
Dịch trưởng đáp:
- Là con dê màu xanh.
Văn Nhược nói:
- Ta trả tiền con dê đó, ngươi hãy thả nó đi!
Oai lực của kinh Kim cang bảt-nhã âm thầm
cảm ứng như thế, 93.4.9. Đời Đường, Tôn Hồi Phác: Điện trung thị y Tôn Hồi Phác, quê ở Tế Âm. Niên hiệu Trinh Quán thứ mười ba (629) đời Đường, ông theo vua dạo đến hang Tam Thiện, cung Cửu Thành gần bên nhà của Ngụy Thái sư.
Một đêm nọ vào canh hai, ông nghe bên ngoài có tiếng người gọi “Tôn thị y”. Ông thức dậy ra xem, cứ nghĩ rằng đó là mệnh lệnh của Thái sư. Nhưng khi ông ra ngoài thì thấy hai người, họ nói:
- Quan gọi ông đó!
Hồi Phác nói:
- Tôi không đi bộ được.
Họ liền dắt con ngựa của ông đến để ông cưỡi. Hồi Phác thúc ngựa đuổi theo hai người ấy mà có cảm giác như đang đi dưới ánh sáng mặt trời ban ngày. Ông rất lấy làm lạ, nhưng không dám nói.
Hai người ấy dẫn ông ra khỏi hang, đi ngang qua phía đông triều đường, rồi đi về hướng đông bắc khoảng sáu bảy dặm thì đên hang Mục Túc, từ xa trông thấy hai người dắt Hàn Phụng Phương đi. Hai người kia nói với hai người dẫn Hồi Phác:
- Các ngươi đã bắt nhầm rồi, người ta cần bắt chính là người này, hãy thả người đó đi!
Hai người ấy liền thả Hồi Phác. Hồi Phác lần theo con đường cũ quay trở về nhà, rõ ràng giống như những nơi ông đi qua lúc sống.
về đến nhà, ông cột ngựa và nhìn thấy đứa tớ gái đang ngủ bên cửa, ông gọi mãi mà nó không đáp. Ông bước qua người đứa tớ gái đi vào nhà, thấy thân mình đang nằm ngủ bên vợ, ông muốn đến, nhưng không được. Ông đứng tựa vách phía nam gọi vợ thật lớn, nhưng người vợ vẫn không đáp. Trong nhà sáng trưng, ông nhìn thấy trong góc tường có mạng nhện, bên trong có hai con ruồi, một con lớn, một con nhỏ, cũng thấy dược vật treo trên xà nhà. Ông thấy tất cả mọi thứ, nhưng không thể đến bên giường được. Lúc ấy, ông mới biết mình đã chết, nên rất buồn rầu và ân hận vì không kịp từ biệt vợ con.
Ông đứng tựa bức tường phía nam một hồi lâu rồi ngủ thiếp. Bỗng ông tỉnh giấc thì đã thấy mình nằm trên giường, trong nhà tối tăm, không nhìn thấy gì. Ông vội vàng gọi vợ dậy, đốt đèn, mồ hôi như tắm. Ông đến xem tổ mạng nhện thì thấy vẫn như cũ. Ông ra xem con ngựa thấy nó cũng toát mồ hôi ướt đẫm. Đêm hôm đó Hàn Phụng Phương mắc bệnh nặng, qua đời.
Niên hiệu Trinh Quán mười bảy (633) ông phụng sắc cưỡi ngựa trạm đến Tề châu để trị bệnh cho Tề vương Hựu. Khi ông về đến dịch trạm Hiếu Nghĩa phía đông Lạc châu bỗng gặp một người.
Người ấy đến hỏi:
- Ông có phải là Tôn Hồi Phác không?
Hồi Phác đáp:
- Phải! Nhưng ông hỏi để làm gì?
- Người kia đáp:
- Tôi là quỷ. Ngụy thái sư có văn thư mời ông làm Kí thất.
Rồi người kia mở văn thư chỉ Hồi Phác xem. Hồi Phác xem văn thư thấy có chữ kí của Trịnh Quốc công đời Ngụy.
Hồi Phác kinh hãi nói:
- Trịnh công chưa chết làm sao sai ngươi đưa thư?
Con quỷ đáp:
- Ông ấy đã chết rồi, hiện đang giữ chức Thái dương đồ lục đại giám, nên mới sai tôi đến mời ông.
Hồi Phác dẫn quỷ vào dịch trạm cùng ngồi dùng bữa. Quỷ rất vui vẻ cảm tạ. Nhân đó Hồi Phác nói với quỷ:
- Tôi phụng sắc đi sứ chưa về, Trịnh công không nên gọi tôi lúc này, để tôi trở về kinh tấu trình sự việc xong rồi đến phụng mệnh, được không?
Quỷ nói:
Được.
Kể từ hôm đó, ban ngày họ cùng đi, ban đêm cùng ngủ. Khi đến làng Văn, quỷ nói: “Tôi lấy văn thư rồi qua cửa ải đợi ông”. Khi Hồi Phác vượt qua cửa ải, ra khỏi cửa tây thì thấy quỷ đã đợi sẵn ở bên ngoài, họ cùng nhau đi đến Tư Thủy. Quỷ lại từ biệt Hồi Phác: “Đợi ông tấu trình mọi việc xong chúng ta gặp lại, nhưng ông nhớ đừng ăn những thứ cay nông”. Hồi Phác đồng ý.
Sau khi tấu trình công việc xong, Hồi phác hỏi thăm Trịnh công thì biết ông ấy đã chết. Tính lại, Trịnh công chết trước khi ông đến dịch trạm Hiếu Nghĩa một ngày. Hồi Phác biết chắc mình sẽ chết, ông từ biệt người nhà và thỉnh chư tăng tụng kinh, bái sám, tạo tượng, viết kinh trong khoảng sáu bảy ngày.
Một đêm nọ, ông mộng thấy quỷ đến gọi ông và dẫn lên một ngọn núi cao. Trên đỉnh núi có cung điện rất lớn, bước vào bên trong ông thấy toàn là người nam. Họ đón tiếp ông và nói: “Người này tu phúc, không được giữ lại đây, hãy thả người ấy ra”. Rồi quỷ xô Hồi Phác rơi xuống núi. Ngay lúc ấy Hồi Phác tỉnh dậy. Từ đó về sau không bệnh hoạn gì cả.
93.4.10. Đời Đường, bà lão họ Lý: bà ở huyện Đốn Khâu, Kí châu, khoảng bảy mươi tuổi, không cổ con cháu, chỉ có hai người giúp việc. Nhà bà ở thị trấn chuyên nấu và bán rượu; nhưng thường đong lường non thiếu, tính toán chi li
Khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-648) đời Đường, bà mắc bệnh qua đời. Bà chết hai ngày, quan quách, vải liệm v.v... đã chuẩn bị đầy đủ, nhưng ngực vẫn còn chút hơi ấm. Sau đó bà sống lại và nói: “Trước đó, tôi thấy có hai người đều mặc đồ xanh đứng ở trước cửa gọi tôi. Một người cầm tín phù bảo đi theo. Tôi liền đi theo người ấy đến một tòa thành giống như thành ở các châu quận, rồi lại đến bên một ngôi nhà lớn bên cạnh. Nơi đây tôi thấy một vị quan áo mão rộng dài đang ngồi ở bàn; rất nhiều người đứng hầu hai bên, dưới thềm có một người mang cùm lớn và có lính canh giữ như ở dương gian. Vị quan hỏi tôi:
- Tại sao ngươi bán rượu, đong lường non thiếu mà lấy nhiều tiền của mọi người? Tại sao ngươi hứa in kinh Pháp hoa mà đã hơn mười năm rồi vẫn chưa in?
Tôi đáp:
- Việc nấu và bán rượu thì tôi sai hai đày tớ của tôi làm, còn việc in kinh tôi đã gửi một nghìn tiền đồng cho sư Ẩn rồi.
Quan liền sai người gọi hai người giúp việc đến. Quan tra xét rõ nguyên do và xử phạt đánh hai người này bốn mươi roi thả về. Quan lại sai người đến hỏi sư Ẩn. Sư Ẩn nói: "thật có việc đó"
Sau khi tra hỏi ba người kia xong, Quan nói Với tôi: ‘Tha cho bà trở về, bảy ngày sau quay lại đây sẽ được sinh về chốn lành’. Ngay lúc ấy, tôi sống lại”.
Có người nghe việc ấy dò hỏi lại bà lão, biết lúc bà chết hai đứa tớ gái cũng mê man, lâu sau đó tỉnh lại trước bụng và sau lưng có những lằn bầm xanh, đó là bốn mươi dấu roi.
Thiền sư Ân vốn là một vị tăng du phương, trụ tại một ngôi chùa ở Đốn Khâu, khoảng sáu, bảy mươi tuổi. Từ khi xuất gia, thiền sư tu hạnh đầu-đà, thường đi khất thực, ngày ăn một bữa, chưa từng tạm bỏ. Những vị đại đức gần xa đều tôn kính, ngưỡng mộ thiền sư. Sau khi bà lão qua đời, vào một đêm nọ, thiền sư mộng thấy có một người mặc đồ đỏ đến hỏi thiền sư. Trong giấc mộng thiền sư đáp: “Việc tạo kinh là thật”.
Sau khi sống lại, bà lão liền mời những người thân thuộc trong làng và Ân thiền sư cùng nhau tụng niệm, bái sám. Đồng thời bà lão còn thuê rất nhiều người chép kinh để chép kinh. Khi chép xong kinh là đúng bảy ngày.
Bà lão lại thấy hai người dẫn bà đi lúc trước đã đến đứng đợi ở trước nhà. Bà lão nói với mọi người: “Sứ giả đã đến rồi, mọi người ở lại mạnh khỏe!”. Nói dứt lời, bà liền trút hơi thở cuối cùng.
93.4.11. Đời Đường, Tham quân Trịnh Sư Biện: Đông cung hữu giám môn Binh tào tham quân Trịnh Sư Biện chưa được hai mươi tuổi mắc bệnh nặng qua đời. Ba ngày sau ông sống lại và nói: “Lúc đầu có mấy người bắt tôi dẫn vào một phủ lớn. Tôi thấy có hơn trăm tù nhân đứng xếp thành sáu hàng, mặt đều quay về hướng bắc. Người đứng đầu hàng thân hình trắng mập, y phục đẹp đẽ giống như người giàu sang. Những người đứng ở cuối hàng thì ốm yếu xấu xí, có người mang gông cùm, có người bị tháo mão và thắt lưng; tất cả đều bị cột liền nhau, có quân lính canh giữ.
Khi đến nơi họ xếp tôi đứng thứ ba của hàng thứ ba, phía đông, cũng tháo bỏ mão, thắt lưng và cũng bị cột liền nhau. Tôi vô cùng sợ hãi nên chuyên tâm niệm Phật. Bỗng tôi thấy vị tăng mà tôi quen trước đây đi vào giữa vòng vây của binh lính, nhưng không bị chặn lại. Vị ấy tiến thẳng đến chỗ tôi và nói: ‘Lúc sống không lo tu phúc, nay biết làm sao?’. Tôi khẩn thiết cầu xin vị ấy cứu giúp. Vị tăng nói: ‘Nay tôi cứu ông, khi ra khỏi đây ông chịu giữ giới không?’. Lúc ấy, tôi bằng lòng ngay.
Bỗng chốc sứ giả dẫn các tù nhân đến trước quan để tuần tự xét hỏi. Khi tôi ra ngoài cửa, vị tăng truyền cho tôi năm giới, rồi lấy nước rưới lên trán và nói: ‘Khi mặt trời ngả về phía tây ông sẽ sống lại’. Vị tăng đưa cho tôi một tấm khăn choàng màu vàng và dặn: ‘Ông choàng tấm khăn này lên người sẽ về đến nhà, khi về đến nhà nhớ đặt nó ở một nơi sạch sẽ’. Vị tăng không quên chỉ tôi đường trở về.
Khi về đên nhà, tôi gỡ tấm khăn choàng ra treo trên góc giường. Không lâu sau, mắt mở ra, thân cử động, người nhà sợ hãi bỏ chạy, cho rằng sắp biến thành quỷ khởi thi. Chỉ có mẹ tôi không bỏ chay bà hỏi:
- Con sống lại sao?
Tôi đáp:
- Khi nào mặt trời ngả về tây con sẽ sống lại.
Lúc ấy, tôi cứ nghĩ là đang giữa trưa nên hỏi mẹ, mẹ tôi nói: ‘Bây giờ là nửa đêm’. Nhờ thế tôi mới hiểu ra sinh tử đối nghịch nhau, ngày đêm trái ngược.
Khi mặt trời vừa ngả về hướng tây tôi bắt đầu ăn được và bệnh cũng hết. Lúc ấy, tôi nhìn thấy chiếc khăn choàng vẫn còn treo trên đầu giường. Đến khi tôi đứng dậy đi lại được thì chiếc khăn mờ dần và biến mất, nhưng ánh sáng vẫn còn, bảy ngày sau mới mất hẳn. Từ đó, tôi giữ năm giới.
Vài năm sau, có người bạn mời ăn thịt heo, bất đắc dĩ tôi phải ăn một miếng. Ngay đêm hôm đó, tôi nằm mộng thấy mình biến thành la-sát, móng và nanh nhọn dài vài thước, bắt heo sống ăn thịt. Sáng hôm sau, thức dậy miệng vẫn còn mùi tanh và nhổ ra máu. Tôi bảo người nhìn xem trong miệng thì thấy toàn máu đông. Tôi vô cùng sợ hãi không dám ăn thịt nữa.
Vài năm sau tôi cưới vợ, nhà vợ ép ăn thịt. Tuy ngay sau đó không có triệu chứng gì lạ, nhưng năm sáu năm sau thân phát ra mùi hôi thối và thường có mụn độc lớn sưng to, đến lúc chết cũng không lành. Có lẽ vì phá giới, nên mới bị như vậy”.
93.4.12. Đời Đường, Vi Tri Thập: Khoảng niên hiệu Vĩnh Huy (650-655) đời Đường, ông làm Hữu kim ngô Binh tào Kinh Triệu. Một hôm, ông sai người luộc một cái chân dê, nhưng luộc nửa ngày mà vẫn không chín. Tri Thập nổi giận bảo: “Dùng củi hơn gấp mười lần ngày thường”. Nhưng những người kia không biết vì lí do gì mà ông lại bảo nấu một lần nữa. Nhưng chân dê vẫn như cũ, không chín. Ông bảo cắt ra thì thấy bên trong có một tượng Phật bằng đồng, cao một tấc, ánh sáng rực rỡ, đầy đủ tướng hảo. Từ đó cả nhà ông suốt đời không dám ăn thịt.
93.4.13. Đời Đường, phụ nữ họ Tạ: Bà quê ở thôn Diêm, huyện Vạn Niên, Ung châu; được gả cho người họ Nguyên ở cùng huyện. Hai người lại sinh được cô con gái. Cô gái ấy sau này gả cho Lai A Chiếu ở thôn Hồi Long.
Niên hiệu Vĩnh Huy cuối cùng (655) đời Đường, người họ Tạ qua đời. Đến tháng tám niên hiệu Long Sóc thứ nhất (661) bà gá mộng vào con gái của Lai, nói: “Lúc còn sống làm nghề bán rượu, bà có một cái thăng nhỏ, đong ít rượu mà lấy tiền nhiều. Do phạm tội ấy, nên nay bà sinh làm trâu của một nhà ở chân núi phía bắc. Con trâu vừa bị bán cho gia đình Hạ Hầu Sư gần chùa Pháp Giới. Nay họ đã dẫn bà đến thành nam cày ruộng vô cùng khổ sở”. Sau khi thức dậy đứa cháu gái khóc lóc kề lại việc đó cho A Chiếu nghe.
Đến tháng giêng niên hiệu Long Sóc thứ hai (662), có tì-kheo ni chùa Pháp Giới đến thôn Hồi Long, cô gái hỏi tì-kheo ni về việc ấy. Tì-kheo ni nói “Gần chùa thật có người tên Hạ Hầu Sư”. Cô cháu gái liền đến chùa Pháp Giới dò hỏi, có người cho biết “Gần đây có một gia đình ở chân núi phía bắc mua được một con trâu hiện đang cày ruộng ở nam thành”. Cô cháu gái khóc lóc cầu xin chư ni trong chùa giúp đỡ. Chư ni cho người dẫn cô gái đến chỗ con trâu. Con trâu ấy ngày thường chỉ một người chăn dắt được, nếu gặp người lạ nó liền nhảy chồm lên và húc mạnh, nhưng khi thấy cô gái đến nó liền đưa lưỡi liếm khắp người cô gái và rơi nước mắt. Cô gái liền theo năn nỉ Hạ Hầu Sư chuộc lại con trâu ấy và dắt về.
Từ đó, con trâu ấy được nuôi ở nhà A Chiếu; cô gái thường gọi nó là A nương và chăm sóc rất kĩ lưỡng. Các phi tần của vương hầu ở kinh đồ nhiều lần bảo đem trâu đến để xem, mọi người tranh nhau bố thí tiền lụa.
93.4.14. Đời Đường, Nhâm Ngũ nương: Niên hiệu Long Sóc thứ nhất (661) đời Đường, có tì-kheo-ni ở chùa Cảnh Phúc, Lạc châu siêng năng tụng kinh, ngồi thiền. Trong phòng của tì-kheo-ni có một cô thị giả là Nhâm Ngũ nương mới qua đời. Sau khi tụng niệm xong, tì-kheo-ni lập linh tòa cho Ngũ nương.
Hơn một tháng sau, vào nửa đêm, chị và em của Ngũ nương bỗng nghe ở trên linh tòa có tiếng rên rỉ. Lúc đầu, người em rất sợ hãi, nhưng sau đó, người em mạnh dạn hỏi, có tiếng đáp: “Khi sống ở chùa, chị đã nhiều lần ăn thịt, vì thế nên phạm tội và nay phải chịu quả báo vô cùng đau khổ. Trên thân chị có mụn độc, sợ sẽ làm dơ linh sàng, em lấy tro, rải một lớp trên bàn thờ cho chị”. Người em làm theo lời chị dặn lấy tro rải lên đó. Sau đó, xem lại thấy trên bàn thờ có dính máu mủ. Ngũ nương lại nói: “Chị cả bị bệnh nên không may y phục được, y phục của em cũ rách quá, em đem vải lại đây chị may áo lót và vớ cho em”. Người em lấy vải đặt lên bàn thờ, sáng hôm sau thì thấy áo lót và vớ đã may xong.
Ngũ nương nói với người chị:
- Lúc em còn nhỏ bị bệnh truyền nhiễm, nên giết một con cua giã lấy nước xoa lên vết thương thì lành. Nay rơi vào địa ngục Đao Lâm bị bảy con dao nhỏ cắm vào thân, xin chị thương tình tạo công đức để cứu giúp em. Biết chị trong lúc gấp rút nên không chuẩn bị đầy đủ, chỉ liệm một vài bộ y phục. Nhưng y phục mang theo thân cũng không có lợi ích gì cho người chết; những y phục ấy hiện vẫn còn nguyên không hư rách, xin chị lấy dùng làm chi phí.
Người chị chưa kịp nói gì thì Ngũ nương nói tiếp:
- Để em đi lấy đã!
Một lúc lâu, Ngũ nương lại nói:
- Y phục đã đem đến, hiện ở trên linh tòa.
Người chị đến xem thử thì thấy đó đúng là những y phục mà mình đã liệm cho người em. Người chị đem những y phục đó đến gặp sư Bảo Hiến ở chùa Tịnh Độ, xin làm chi phí chép kinh Kim cang Bát-nhã Cứ chép xong một quyển, Ngũ nương về báo: “một con dao đã rớt ra”. Khi chép đủ bảy quyển, Nga nương về báo: “Bảy con dao đều không còn trong thân nữa. Nay nhờ phúc lành trợ giúp nên sẽ sinh vào cõi lành”. Rồi Ngũ nương khóc lóc từ biệt người chị và em trai.
Thẩm Huyền Pháp ở Ngô Hưng kể lại. Sư Trí Chỉnh ờ chùa Tịnh Độ cũng kể lại đúng như vậy.
93.4.15. Lời thuật của một vị trời.
Luật sư Đạo Tuyên cảm ứng kí ghi: “Tứ Thiên vương nói với luật sư Đạo Tuyên:
- Khi Đức Phật còn trụ ở đời, Ngài phóng ánh sáng rực rỡ và bảo trời, người, rồng, quỷ thần: ‘Sau khi chính pháp của Ta bị diệt, phần nhiều các tì-kheo đều chấp vào giáo pháp Tiểu thừa, không hiểu ý nghĩa của tì-ni, cho rằng Ta cho phép tì-kheo ăn thịt rồi sát hại chúng sinh trong tăng già-lam, giống như lò mổ của thợ săn. Hoặc có tì-kheo chỉ mặc y phục may bằng các loại lụa quý rồi đi vào nhà chứa, quán rượu, không học tập nghiên cứu ba tạng, không giữ giới cấm. Đau thay! Khổ thay! Các ác tì-kheo này phỉ báng giáo pháp của Ta, tại sao lưỡi không rơi khỏi miệng!
Phật bảo các tì-kheo: ‘Từ vô lượng kiếp trở lại đây, Ta thường xả bỏ đầu, mắt, tủy, não; hoặc gặp lúc thế gian mất mùa đói kém, Ta làm thân cá lớn để cung cấp cho những người bị đói; hoặc bố thí tất cà tài sản mà không hề tiếc. Từ khi mới phát tâm cho đến lúc thành Phật, Ta há lại dạy chúng đệ tử ăn thịt chúng sinh sao?
Sau khi Ta nhập niết-bàn, các ác tì-kheo lần lượt thay Ta làm thầy của trời người, khai đạo chúng sinh, giúp chúng đắc đạo quả. Vậy có vị thầy của trời người nào lại ăn thịt chúng sinh?
Khi Ta mới thành đạo, tuy trong tì-ni có cho phép ăn ba thứ tịnh nhục, nhưng cũng chẳng phải thịt của bốn loại sinh. Đó là thịt các thiền định, là thịt bất tư nghì, chẳng phải là điều mà các ông biết được, sao phỉ báng Ta?
94. CHƯƠNG UẾ TRƯỢC
94.1. LỜI DẪN
Ngũ ấm không thật, tứ đại mong manh, nhân thân thể giả tạm này giống như bình vẽ, mang hình hài nhơ uế này giống như chén đất, trong ngoài đều không thật, bụi nhơ liền bám dính. Lại thêm thân nhơ uế ở cõi Diêm-phù chứa đầy chất bất tịnh; như thường ăn thịt, uống rượu và những thứ cay nồng, mùi tanh hôi xông lên làm rách các loại áo trời, thiện thần lánh xa, không bảo vệ, ác quỷ đến gần xâm hại. Tăng ni phàm phu còn không thích đến gần, huống gì các bậc thánh hiền! Lại thêm thân này bị tám khổ nung nấu, cửu hoạnh cắt đứt tuổi thọ; niệm niệm đổi dời, tâm tâm sinh diệt, luống nhiễm lục tình, cuối cùng rơi vào ba đường ác. Xin mọi người hãy tu thân, làm thanh tịnh tâm và miệng của mình.
94.2. NĂM THỨ CAY NỒNG
Kinh Lăng-già ghi: “Đức Phật dạy: Này Đại Tuệ! Đúng như vậy, hành, hẹ, tỏi đều hôi hám bất tịnh, đã chướng ngại Thánh đạo, còn cản trở con đường đưa đến cõi người cõi trời, nói gì đến việc sinh về cõi nước thanh tịnh của chư Phật. Rượu cũng như thế”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Ăn hành, hẹ, tỏi, nén đều như thế, sẽ sinh vào những nơi đau khổ, ô uế, chướng ngại Thánh đạo, cũng cản trở đường dẫn đến cõi người cõi trời, nói gì đến việc sinh về cõi nước thanh tịnh của chư Phật. Rượu cũng như vậy, hay chướng ngại Thánh đạo, tổn hại nghiệp thiện, phát sinh ra những tội lỗi”.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Không được ăn ngũ tân: hành, kiệu, tỏi, nén, hưng cừ”.
Kinh Phạm võng ghi: “Đệ tử Phật không được ăn năm thứ cay nồng: hành, kiệu, tỏi, nén, hưng cừ”.
Kinh Ngũ tân bảo ứng ghi: “Bảy chúng không được ăn thịt, uống rượu và những thứ cay nồng. Nếu ăn mà đọc tụng kinh luận thì sẽ phạm tội. Nếu người nào có bệnh cần phải ăn thì Phật cho dùng, nhưng phải ra khỏi đất già-lam hoặc đến nhà của cư sĩ. Khi hết bệnh rồi, phải dùng nước thơm tắm rửa đủ bốn mươi chín ngày, sau đó đọc tụng kinh, luận thì không phạm”.
Luật Tăng-kì, Thập tụng, Ngũ phần đều ghi: “Nếu không có cách nào khác để trị bệnh thì cho phép được dùng ngũ tân trong vòng bảy ngày, nhưng phải ở riêng một căn phòng nhỏ bên cạnh. Không được nằm lên giường chiếu của chúng tăng, không được đến giảng đường, vào nơi tiểu tiện của đại chúng, cũng không được nhận lời thỉnh và cũng không được thụ thực chung với chúng tăng; không được đến lễ Phật, phải ở dưới gió, từ xa lễ lạy. Sau khi mãn bảy ngày thì tắm rửa sạch sẽ, xông ướp y phục mới được vào chúng. Nếu bị mụt ghẻ lở loét, thầy thuốc bảo phải dùng hương điều trị, thì trước hết phải đem hương ấy cúng Phật, sau đó đến chỗ thanh vắng để thoa và làm giống như trước” (Người xuất gia thanh tịnh còn thực hiện như vậy, huống gì kẻ thế tục ô uế lại tu tự ý ăn sao?).
94.3. HẮT HƠI
Luật Tăng-kì ghi: “Trong già-lam, không được hắt hơi phát ra tiếng lớn. Nếu cảm thấy muốn hắt hơi phải cố kiềm chế, dùng tay bịt mũi. Nếu không thề nhịn được thì dùng tay che mũi rồi hắt hơi, đừng để cho nước bọt, nước mũi văng ra làm dơ người bên cạnh. Nếu người ở trên pháp tòa hắt hơi thì nên nói ‘xin kính lễ’, còn ở dưới thì im lặng”.
Luật Tứ phần ghi: “Lúc đức Thế Tôn hắt hơi, các tì-kheo nguyện ‘Trường thọ’ ! Bấy giờ, cư sĩ đang lễ bái tì-kheo thì hắt hơi, Đức Phật dạy các tì-kheo nên chú nguyện ‘Trường thọ’”.
Luật Tăng-kì ghi: “Đức Phật dạy:
- Người nào sắp đánh rắm phải kiềm chế, nếu không thể thì phải ra phía sau, không được ở trước mà tự ý xả hơi. Nếu cùng người đi trên đường, nếu đánh rắm bức ép quá không thể kiềm chế, thì phải ra lề đường, phía dưới gió mà xả”.
Kinh Ti-ni-mẫu ghi: “Có hai trường hợp thoát hơi là ợ và đánh rắm. Khi sắp ợ, không được há miệng trước mặt người khác mà phải xoay về phía không có người. Khi sắp đánh rắm không được ở trong chúng, phải tìm cách đi ra ngoài, chỗ không có người. Sau đó mới được vào, không được để cho chúng chê là dơ uế. Khi vào tháp, ở trong tháp, dưới gốc cây, trong đại chúng cũng không được hạ khí; ở trước bổn sư, đại đức, thượng tọa cũng không được hạ khí phát ra tiếng. Nếu trong bụng có bệnh bức bách thì nên ra ngoài đừng để mọi người khởi tâm nhờm gớm”.
94.4. ĐẠI TIỂU TIỆN
Kinh ưu-bát-kỳ vương ghi: “Người nào tùy ý đại tiểu tiện trong đất già-lam thì năm trăm đời đọa vào địa ngục Bạt-ba. Trải qua hai mươi tiểu kiếp tay thường nắm chỗ đất ô uế đã tiểu tiện, cho đến khi chết”.
Kinh Tì-ni-mẫu ghi: “Trước phòng các tì-kheo và những nơi vắng vẻ, chỗ nào cũng bị tiểu tiện, mùi hôi thối bốc lên không thể chịu được. Phật biết việc ấy dạy các tì-kheo:
- Từ nay về sau, các tì-kheo không được tiểu tiện bừa bãi trong chốn già-lam, nên tập trung đến một chỗ khuất mà tiểu, hoặc tiểu vào bình sành, ống tre, ống trúc, trong hầm đất. Sau khi tiểu xong phải dậy kĩ, chớ để bốc mùi hôi”.
Kinh Tì-ni-mẫu ghi: “Khi đi nhà xí, trước hết ta phải lấy thẻ tre, cỏ, rồi đến trước cửa nhà xí khảy móng tay ba lần, để cho người hoặc phi nhân trong biết. Nếu không có thẻ tre thì không được chà lên trên vách, cũng không được chà lên trên ván, trên cột nhà xí, không được dùng đá, cỏ tươi, cho đến đất nhuyễn, vỏ cây mềm, lá cây và các loại cây lạ. Chỉ được dùng các loại thẻ bằng gỗ, tre, lau đây, kích thước dài nhất là một gang tay, ngắn là bốn lóng tay. Cái nào đã sử dụng rồi thì không được vung làm dơ bẩn thẻ sạch, cũng không được treo chung với thẻ sạch. Đây làcách dùng thẻ đi vệ sinh.
Nhà xí được phân làm hai nơi: nơi đại tiểu tiện và nơi dùng nước rửa ráy. Tại nơi dùng nước, khi ngồi xuống và đứng lên phải vén áo quần gọn gàng, tất Cả cách thức đều giống như nơi đại tiểu tiện.
Trước cửa nhà xí, phải đặt một bình nước sạch và treo thêm một cái bình nhỏ. Nếu người nào có bình riêng thì tự dùng. Nếu người nào không có bình thì dùng cái bình nhỏ bên cạnh nhà xí. Không được dùng trực tiếp vào cái bình nước lớn khiến dơ bẩn. Đây là cách dùng nước lúc đi nhà xí.
Trước tháp, trước chúng tăng, hòa-thượng, a-xà-lê không được hỉ mũi, khạc nhổ khiến nước bọt, nước mũi văng trên đất. Nếu muốn nhổ nước bọt, hỉ mũi thì phải đến chỗ khuất, đừng để người thấy nhờm ghớm. Đây là cách nhổ nước bọt và hỉ mũi”.
Tam thiên oai nghi ghi: “Tì-kheo nào đại tiểu tiện rồi mà không rửa sạch thì phạm tội Đột-cát-la, cũng không được ngồi lên tọa cụ sạch sẽ của chúng tăng và lễ Tam bảo, dẫu có lễ Tam bảo cũng chẳng có phúc”.
Cần phải biết, trước và sau đi khi nhà xí có hai mươi lăm điều:
1. Khi muốn đại tiểu tiện thì phải đi ngay, trên đường đi không được lễ bậc thượng tọa.
2. Không nhận người lễ lạy.
3. Đi nên cúi đầu nhìn xuống đất.
4. Đến nơi thì phải khảy móng tay ba tiếng.
5. Nếu có người khảy móng tay đáp thì không được hối thúc.
6. Khi đã vào, đứng thẳng khảy móng tay rồi mới ngồi xuống.
7. Khi ngồi cũng phải ngay ngắn đúng vị trí.
8. Không được ngồi chân trước chân sau.
9. Khi ngồi, thân không được tựa.
10. Phải vén áo quần gọn gàng, không được để phủ xuống nhà xí.
11. Không được cố rặn khiến đỏ mặt.
12. Phải nhìn thẳng về phía trước, không được chú ý lắng nghe.
13. Không được làm dơ vách.
14. Không được cúi xuống nhìn lỗ cầu.
15. Không được nhìn chỗ kín.
16. Không được lấy tay cầm chỗ kín.
17. Không được lấy cỏ vẽ lên đất.
18. Không được lấy cỏ viết chữ trên vách.
19. Dùng nước, không được phung phí.
20. Không được vẩy nước làm dơ bẩn.
21. Dùng nước, không được tay trước vướng ty sau.
22. Nếu dùng đất thì phải qua ba lần.
23. Phải dùng xà phòng rửa tay.
24. Được dùng nước ba lần.
25. Nếu thấy nước, cỏ và đất hết thì phải nói vói người trực nhật, hoặc tự mình làm thì tốt”.
Luật Tăng-kì ghi: “Tì-kheo nào đại tiểu tiện xong, không dùng nước rửa sạch mà sử dụng toạ cụ và mền chiếu của chúng tăng thì phạm tội”.
Luật Thập tụng ghi: “Nếu đại tiểu tiện xong mà không rửa sạch thì không được ngồi hay nằm lên tọa cụ của chúng tăng. Nếu nằm lên thì phạm tội”.
Luận Ma-đức-lặc-già ghi: “Nếu đại tiểu tiện xong mà không rửa sạch sẽ thì không được lễ lạy, trừ khi chỗ đó không có nước, hoặc là phi nhân nổi giận, hoặc là thần nước nổi giận, hoặc vì đang dùng thuốc trị bệnh thì Phật cho phép, không phạm”.
Kinh Tam thiên oai nghi ghi: “Sau khi đại tiểu tiện mà không rửa tay sạch sẽ và lễ Phật cũng không được công đức”.
Kinh Tạp thí dụ ghi: “Có một vị tì-kheo, không khảy móng tay báo trước, liền vào đại tiểu tiện, làm dơ bẩn mặt quỷ thần, quỷ thần tức giận, muốn giết vị tì-kheo ấy, nhưng vị ấy trì giới tinh nghiêm, quỷ bèn rình tìm chỗ sơ hở để làm hại, nhưng không được”. (Đã biết như thế, nên khi đi đến nhà xí, trước cần phải khảy móng tay ra tiếng ba lần để báo trước).
Kinh Hiên ngu ghi: “Thuở xưa, khi Đức Phật còn tại thế, ở trong thành Xá-vệ có người tên là Ni-đề. Người này nghèo khổ, làm nghề gánh phân. Đức Phật biết Ni-đề căn cơ đã thuần thục nên muốn độ, liền dẫn tôn giả A-nan đến đó, gặp lúc ông đang gánh phân ra thành để đổ. Do chậu bị vỡ, phân tung tóe dính dơ cả thân, nên dù từ xa nhìn thấy đức Thế Tôn, lòng ông hổ thẹn không dám gặp. Đức Phật biết được đi thẳng đến chỗ Ni-đề nói pháp. Nghe xong, Ni-đề sinh tín tâm muôn được xuất gia. Đức Phật bảo tôn giả A-nan dẫn xuống sông tắm rửa sạch sẽ, rồi đưa về tinh xá Kì-hoàn. Đức Phật lại nói pháp cho Ni-đề nghe. Nghe xong, ông chứng quả Tu-đà-hoàn. Sau khi xuất gia, ông chứng quặ A-la-hán.
Bấy giờ, vua và dân trong nước nghe tin tôn giả Ni-đề xuất gia đều rất tức giận, họ nói: ‘Vì sao Đức Phật cho phép người ấy xuất gia?’. Vua Ba-tư-nặc liền đến chỗ Đức Phật để ngăn cản. Khi vua đến, tôn giả Ni-đề đang ngồi vá áo trên tảng đá lớn trước cửa tinh xá Kì-hoàn, có bảy trăm chư thiên rải hoa cúng dường. Thấy thế vua hoan hỷ, xin tôn giả Ni-đề được vào gặp Đức Phật. Tì-kheo Ni-đề tự tại ấn thân, hiện thân từ tảng đá, sau đó vào bạch Phật rồi quay trở ra nói với vua Ba-tư-nặc. Vua liền vào gặp Phật và thưa:
- Bạch Đức Thế Tôn! Vị tì-kheo kia họ gì, tên gì? Đức Phật bảo:
- Đó chính là người bần cùng làm nghề gánh phân tên là Ni-đề ở trong nước của đại vương.
Vua nghe Đức Phật nói như thế, không còn tâm khinh thường phỉ báng, liền đến chỗ tôn giả Ni-đề đỉnh lễ sám hối và bạch Đức Phật:
Bạch Đức Thế Tôn! Tì-kheo Ni-đề kiếp trước đã tạo nghiệp gì mà nay phải chịu thân hèn hạ như thế? Đức Phật bảo:
- Vào thuở xa xưa, sau khi Đức Phật Ca-diếp nhập niết-bàn, có một tì-kheo lo việc của tăng. Một hôm mới bị bệnh nhẹ mà lười đi nhà xí, nên đã tiểụ tiện trong chậu rồi sai đệ tử mang đi đổ. Người đệ tử này đã chứng quả Tu-đà-hoàn, vì nhân duyên như thế, nên ông bị lưu chuyển trong sinh tử, thường làm kẻ hạ tiện, năm trăm đời làm nghề gánh phân. Do thuở xưa xuất gia có công đức trì giới, nên nay gặp Phật xuất gia tu hành và đác đạo”.
(Vì ý nghĩa này nên không được tiểu tiện ở trong phòng, nếu không sẽ chiêu cảm quả bảo. Thường thấy người đời vì lười biếng, không chịu đi lại, nên đã đặt cái chậu ở trong phòng để tiểu tiện rồi ngày khác đem đổ; người này đời sau nhất định sẽ bị đọa vào địa ngục. Khi được ra khỏi địa ngục vẫn còn phải bị đọa làm heo, chó, bọ hung, trùng ăn phân dơ ở trong nhà xí).
Kinh Phật thuyết tiêu trừ tai hoạn ghi: “Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
- Vào thời Đức Phật Ca-diếp ở quá khứ, con người thọ đến hai vạn tuổi. Khi nhân duyên giáo hóa của Đức Phật đã mãn, Ngài nhập niết-bàn.
Bấy giờ, vua Thiện Cảnh muốn tôn thờ xá-lợi nên xây tháp bảy báu cao một do-tuần. Tất cả chúng sinh đều đến tháp đốt đèn, dâng hoa hương, tơ lụa cúng dường, lễ bái.
Lúc đó, có nhóm người nữ muốn cúng dường tháp, nên cùng nhau đến quét dọn. Khi đến, thấy phân chó làm ô uế, một người nữ dùng tay hốt bỏ, người nữ khác thấy vậy liền nhổ nước bọt, cười chê:
- Tay của ngươi đã dơ uế, không được đến gần tháp!
Người nữ này mắng lại:
- Ngươi là dâm nữ xấu xa! Nước có thể rửa sạch tay ta, Đức Phật là thầy của trời người, phải luôn kính trọng.
Sau khi hốt bỏ phân dơ xong, người nữ dó rửa tay, đi nhiễu tháp cầu nguyện: ‘Nay con đã quét sạch đất tháp, nguyện cho phiền não trần lao nhiều đời của con điều được tiêu trừ, thanh tịnh không dơ uế’.
Nhóm người nữ quét tháp lúc ấy, nay chính là những người nữ ở trong hội này, vì lúc quét đất tháp đã phát nguyện dẹp bỏ những trần lao, được uống vị cam lồ. Còn người nữ hốt bỏ phân chó lúc ấy, nay chính là Nại nữ. Khi ấy người nữ này đã phát nguyện lìa nơi dơ uế sinh vào nơi thanh tịnh, do phúc báo này nên không sinh vào bào thai dơ uế, mà thường sinh từ hoa. Nhưng vì lúc ấy đã mắng người kia là dâm nữ, nên nay phải chịu mang tên Dâm Nữ, sau đó được gặp Phật nghe pháp và đắc quả Tu-đà-hoàn”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Theo tục lệ của Nam Thiên Trúc, người nữ phải thức dậy thật sớm quét dọn nhà cửa.
Bấy giờ có một cô gái con ông trưởng giả, sáng sớm đang quét rác thì gặp Đức Phật đi qua, cô sinh tâm hoan hỷ chăm chú nhìn Phật. Ngay đó thọ mạng của cô hết, liền được sinh lên cõi trời.
Thông thường, hễ người nào được lên cõi trời thì nhớ lại ba việc. Vì thế, người nữ kia liền nhớ lại trước đó mình làm thân gì thì liền tự biết là thân người. Hiện giờ sinh ở đâu thì liền biết mình đang ở cõi trời. Trước kia mình đã tạo nghiệp gì mà được sinh đến đây, cô liền biết mình do thiện nghiệp gặp Đức Phật sinh tâm hoan hỷ, mới được sinh ở đây. Thiên nữ cảm đến ân đức của Phật, nên đến cúng dường Ngài. Đức Phật liền nói pháp cho thiên nữ nghe. Nghe xong, thiên nữ chứng được quả Tu-đà-hoàn”.
Luận Tân-bà-sa ghi: “Xưa kia, ở nước Đức-xoa-thi-la có một người nữ đến chỗ xả nghìn đầu của vua Nguyệt Quang lễ lạy, tình cờ thấy trước tượng Phật trong linh miếu do vua Vô Ưu xây dựng có bãi phân chó, người nữ suy nghĩ: ‘Chỗ này thanh tịnh vì sao để phân chó làm ô uế?’. Rồi cô dùng tay hốt dọn, rải hương bột lên. Nhờ thiện nghiệp này, nên nay khắp thân người nữ đều tỏa ra mùi thơm như gỗ chiên-đàn, hơi thở thơm như hương sen xanh.
Các chúng sinh do không biết gìn giữ ba nghiệp thanh tịnh, nên bị phiền não bên trong chiêu cảm ra các thứ ô uế bên ngoài.
Vì thế có bài tụng:
Cỏ dại trên thế gian,
Làm ruộng tốt bạc màu,
Cũng như tâm tham lam,
Làm nhiễm ô chúng sinh.
Cỏ dại trên thế gian,
Làm ruộng tốt bạc màu,
Cũng như tâm sân hận,
Làm nhiễm ô chúng sinh ”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Khi Đức Phật còn tại thế, ở bên thành La-duyệt có một hồ nước sâu, bùn lầy và phân tiểu của người dân đều đổ xuống, nên rất dơ uế. Trong đó có một sinh vật lớn, thân như rắn, có bốn chân, bơi quanh hồ, có lúc thì lặn xuống có khi thì nổi lên, trải qua nhiều năm chịu vô lượng khổ đau. Bấy giờ, đức Thế Tôn dẫn các tì-kheo đến hồ sâu ấy và hỏi:
- Các ông biết con vật này kiếp trước đã tạo nghiệp gì không?
Các vị tì-kheo đều bạch:
- Bạch Thế Tôn! Chúng con không biết.
Đức Phật dạy:
- Vào thời Đức Phật Tì-bà-thi, có một đoàn thương nhân ra biển tìm của báu, họ tìm được rất nhiều và bình an trở về. Họ chọn ra những báu vật quý giá cúng dường chúng tăng để lo việc ăn uống. Chư tăng nhận rồi trao cho vị tri sự. về sau, hết lương thực, chư tăng liền đi đến xin vị tri sự, nhưng vị này không cho, chúng tăng cố nài nỉ. Vị tri sự tức giận nói: ‘Các ông ăn phân đi, của báu này thuộc về tôi, vì sao cứ đòi mãi thế?’. Do nói lời ác, mắng chửi, khinh thường chúng tăng, sau khi mạng chung bị đọa vào địa nguc Phí thỉ, trong chín mươi mốt kiếp. Sau khi thoát khỏi địa ngục thì bị đọa vào hồ sâu này từ thời Thất Phật đến nay và mang thân hình này mãi đến nghìn Đức Phật kiếp Hiền ra đời cũng còn chịu như vậy”.
Kinh Bách duyên ghi: “Khi Đức Phật ở vườn tre Ca-lan-đà tại thành Vương Xá, tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên trước khi thụ thực thường quán sát ba cõi: địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh, rồi sau đó mới dùng.
Một hôm, tôn giả Mục-kiền-liên quán sát thấy một ngạ quỷ thân như cột đồng cháy, bụng lớn như núi Thái, cổ nhỏ như cây kim, tóc như đao bén quấn quanh thân, các khớp xương đều phát ra lửa. Quỷ ấy rên rỉ gào thét chạy khắp nơi tìm phân để ăn, nhưng tìm cầu cực khổ cả ngày mà vẫn không được. Tôn giả Mục-kiền-liên hỏi quỷ:
- Ngươi đã tạo nghiệp gì mà nay phải chịu khổ như vậy?
Quỉ đáp:
- Nơi có mặt trời thì đâu cần phải nhọc công đốt đuốc. Nay đức Thế Tôn đang hiện hữu trên đời, ông có thể đến đó hỏi. Tôi đang đói khát, không thể trả lời ông.
Lúc ấy, tôn giả Mục-kiền-liên liền đến chỗ đức Thế Tôn thưa:
- Con quỷ kia đã tạo nghiệp gì mà phải chịu khổ như thế?
Đức Thế Tôn bảo:
- Ông hãy lắng nghe, Ta sẽ nói cho ông rõ! Vào kiếp Hiền, tại thành Xá-vệ có một ông trưởng giả rất giàu, của cải vô số, không thể tính hết, ông thường sai người hầu ép nước mía để biếu cho những nhà giàu. Khi đó, có vị bích-chi phật bị bệnh ôn, thầy thuốc bảo phải uống nước mía thì bệnh mới thuyên giảm. Vị bích-chi phật liền đến nhà ông trưởng giả xin. Trưởng giả nhìn thấy vị này đến, sinh tâm hoan hỷ, liền bảo vợ tên Phú-na-kỳ:
- Tôi có việc gấp phải đi ra ngoài, bà ở nhà hãy lấy nước mía cúng dường cho vị bích-chi phật này!
Người vợ đáp:
- Ông cứ đi, tôi sẽ cúng!
Khi người chồng vừa bước ra khỏi nhà, người vợ lấy bát của vị bích-chi phật đem vào chỗ khuất, tiểu tiện vào trong đó rồi phủ nước mía lên trên, đem ra trao cho vị bích-chi phật. Vị bích-chi phật biết, nên đổ hết xuống đất, mang bát không trở về. Sau khi qua đời, người vợ bị đọa vào địa ngục, thường bị đói khát bức bách. Vì nghiệp ác đó mà phải chịu khổ như thế.
Người vợ của ồng trưởng giả lúc đó nay chính là ngạ quỷ Phú-na-kỳ.
Nghe Đức Phật dạy xong, các tì-kheo đều bỏ hết xan tham, nhàm chán sinh tử, có vị chứng được bốn quả sa-môn, có người phát tâm Bích-chi phật, có người phát tâm Vô thượng bồ-đề. Tất cả các tì-kheo đều hoan hỷ phụng hành”.
Có bài tụng:
Ăn máu thịt chúng sinh
Tham, ác không xót lòng
Nuôi thân nhơ uế này
Để vi trùng hưởng dụng
Làm dơ uế bát tăng
Làm trùng trong nhà xí
Sau chịu báo địa ngục
Chịu khổ thật vô cùng.
94.5. CẢM ỨNG
94.5.1. Đời Tống, Thích Tuệ Quả: Sư người Vụ châu, trụ trì chùa Ngõa Quan, kinh đô. Lúc còn nhỏ sư chỉ ăn rau quả và tu hành khổ hạnh. Đầu đời Tống (420-479) sư đến kinh đô trụ tại chùa Ngõa Quan tụng kinh Pháp hoa, Thập địa. Có lần sư thấy một con quỷ ở trước nhà xí, con quỷ kính cẩn thưa:
- Ngày xưa con là một vị tăng duy-na, vì phạm lỗi nhỏ nên bị đọa vào trong loài quỷ ăn phân. Pháp sư là bậc đức độ, cao minh, lại có lòng từ bi, xin ngài tìm phương cách cứu giúp con. Ngày xưa con có ba nghìn tiền đồng chôn ở dưới gốc cây thị, xin ngài lấy lên làm phúc”.
Sư liền sai người đào dưới gốc thị, quả nhiên được ba nghìn tiền đồng. Sư dùng số tiền ấy ấn tống một bộ kinh Pháp hoa và thiết trai cúng dường.
Sau đó, sư mộng thấy con quỷ ấy đến thưa:
- Con đã sinh vào nơi lành rồi!
Sư thị tịch vào niên hiệu Thái Thỉ thứ sáu (470) đời Tống, thọ bảy mươi sáu tuổi.
94.5.2. Đời Đường, người đàn bà Hứa: Bà người Cao Dương, là vợ của Ngô vương Văn Học Tạ Hoằng Kính, ở quận Trần. Niên hiệu Vũ Đức thứ nhất (618) đời Đường, mắc bệnh qua đời, bốn ngày sau sống lại, kể:
Tôi bị hai ba mươi người bắt đến địa ngục, chưa thấy quan phủ, nhưng đã nghe tiếng gọi tôi. Tuy không thấy mặt, nhưng nghe như tiếng của dượng Thẩm Cát Quang.
Tôi hỏi:
- Nghe tiếng thì giống như tiếng của dượng Thẩm, nhưng sao không có đầu?
Cát Quang liền nhấc đầu mình đặt lên trên bắp tay và dặn bà Hứa; “Cháu đứng ở đây, đừng đi đến viện tây, đợi dượng vào xin, chắc sẽ được tha”. Tôi nghe lời đứng một chỗ cũng chằng dám nhìn đông nhìn tây. Cát Quang đi rất lâu hình như có việc gì phải xử lý, nên đến hai đêm mới quay trở lại nói với tôi:
“Cháu đã đến đây, Diêm vương muốn cháu làm ca kĩ cho ông ấy, nếu có ai dẫn đến gặp Diêm vương, thì nên nói không biết đánh đàn, thổi sáo. Nếu như Diêm vương không tin, cháu có thể chỉ dượng làm chứng”,
Một lát sau, có một sứ giả cầm án lệnh đến dẫn tôi gặp Diêm vương. Quả nhiên Diêm vương hỏi tôi:
- Ngươi biết đánh đàn, thổi sáo không?
Tôi đáp:
* Tôi không biết. Nếu không tin ngài có thể hỏi Thẩm Cát Quang sẽ biết.
Diêm vương hỏi Cát Quang:
- Người kia có biết đàn, sáo không?
Cát Quang đáp:
- Không biết.
Diêm vương nói:
- Hãy mau mau thả người kia đi không cần giữ lại!
Lúc sắp dẫn đi, tôi thấy Cát Quang cùng với sứ giả cầm bản án trù tính gì đó mà tôi không hiểu họ nói gì. Sứ giả nói với tôi:
- Dù cô đã tạo được công đức lớn, nhưng vì trước kia phạm phải tội nhỏ, nếu nay tiện thể chịu tội báo ấy đề trừ hết nghiệp ác của thân, như vậy há không tốt sao?
Nói rồi, sứ giả dẫn tôi đến một ngôi nhà lớn khác. Nhà thì lớn nhưng cửa rất nhỏ, trong đó có rất nhiều người đang chịu tội. Lúc ấy, tôi vô cùng sợ hãi nên van xin người quản ngục:
- Khi còn sống tôi tu phúc, chẳng biết vì mắc lỗi gì mà đến chốn này?
Người quản ngục nói:
- Cô từng lấy bát dơ đựng thức ăn dâng cho cha mẹ, nên phải chịu tội này rồi mới ra khỏi nơi đây.
Nói dứt lời, sứ giả lấy nước đồng sôi rót vào miệng tôi, đau đớn vô cùng. Khi tôi sống lại, trong miệng đều bị phỏng hết. Lúc ấy, Cát Quang nói với tôi:
- Nhớ lấy bản kinh chỗ người cầm án này đem về thụ trì, chớ lười biếng. Như vậy, nhất định cháu sẽ thọ hơn tám mươi tuổi.
Khi sống bà họ Hứa chưa hề tụng kinh, sau khi sống lại bà liền tụng một quyển. Bà đi khắp nơi hỏi thăm, nhưng không nơi nào có kinh này. Đến nay bà vẫn thường xuyên trì tụng không dám xao lãng. Kinh ấy đến nay vẫn còn, vì văn kinh dài nên không chép ra đây.
Sau khi bà sống lại, Cát Quang vẫn còn, hai năm sau mới bị hại chết. Những người thân trước khi chết, bà có thể thấy họ ở địa ngục.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
12/01/2016
PUCL QUYỂN 100 - CHƯƠNG TRUYỆN KÍ
QUYỂN 100 Quyển này có một chương Truyện kí. 100. CHƯƠNG TRUYỆN KÍ 100.1. LỜI DẪN Từng nghe: kinh điển của chín nhà chất đầy tại Linh Khâu, sách về phép tắc trong thiên hạ chất kín ở Quần Ngọc, lại cũng có văn khắc trên...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 99 - CHƯƠNG TẠP YẾU
QUYỂN 99 Quyển này có một chương Tạp yếu. 99. CHƯƠNG TẠP YẾU 99.1. LỜI DẪN Lí thể lìa âm thanh, nhưng nhờ vào ngôn từ để biểu ý nghĩa. Ngôn từ không dấu vết, nhưng nương vào văn tự để diễn phát âm thanh. Cho nên văn tự l...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 98 - CHƯƠNG PHÁP DIỆT
QUYỂN 98 Quyển này có một chương Pháp diệt. 98. CHƯƠNG PHÁP DIỆT 98.1 LỜI DẪN Trộm nghĩ: Chính pháp tượng pháp đã qua, giáo pháp chuyển sang thời mạt. Bởi người có tà chính, nên pháp cũng có lúc suy vi. Có người nương và...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 97 - CHƯƠNG TỐNG CHUNG
ỌUYỂN 97 Quyển này có một chương Tống chung. 97. CHƯƠNG TỐNG CHUNG 97.1. LỜI DẪN Bốn đại là đồ chứa chất độc, đầy dẫy dơ uế; sáu tên giặc là bọn chủ cuồng loạn, luôn tham đắm ngoại cảnh, không có ngày biết ngược dòng sin...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 96 - CHƯƠNG XẢ THÂN
QUYỂN 96 Quyển này có một chương Xả thân. 96. CHƯƠNG XẢ THÂN 96.1. LỜI DẪN Tính của sắc vô hình, thì xúc cũng sẽ trở về không; ba thời hư giả thì tám vi cuối cùng cũng tan hoại. Tuy có uy lực làm chuyển càn khôn, rốt cuộ...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 95 - CHƯƠNG BỆNH KHỔ
QUYỂN 95 Quyển này có một chương khổ. 95. CHƯƠNG BỆNH KHỔ 95.1. LỜI DẪN Ba cõi mênh mông, sáu đường đông đúc, tất cả các loài chúng sinh đều nhờ vào bốn đại phò trì, năm căn tạo thành hình thể. Thế nên, khi bốn đại tích...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 93 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT
QUYỂN 93 Quyển này có một chương uống rượu ăn thịt. 93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT 93.1. LỜI DẪN Uống rượu là mở toang cánh cửa buông lung, các Đức Phật biết rõ đó là gốc khổ. Vì thế nên tránh những quán rượu, lìa bỏ những...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 92 - CHƯƠNG LỢI HẠI
QUYỂN 92 Quyển này có một chương Lợi hại. 92. CHƯƠNG LỢI HẠI 92.1. LỜI DẪN Hàm thức trong ba cõi, chúng sinh nơi bốn loài đều do sáu căn phan duyên, bảy thức tạo nghiệp mà bị lửa dục đốt thiêu, khởi lòng tham không đáy,...
