PUCL QUYỂN 97 - CHƯƠNG TỐNG CHUNG
11/01/2016
ỌUYỂN 97 Quyển này có một chương Tống chung. 97. CHƯƠNG TỐNG CHUNG 97.1. LỜI DẪN Bốn đại là đồ chứa chất độc, đầy dẫy dơ uế; sáu tên giặc là bọn chủ cuồng loạn, luôn tham đắm ngoại cảnh, không có ngày biết ngược dòng sin...

ỌUYỂN 97
Quyển này có một chương Tống chung.
97. CHƯƠNG TỐNG CHUNG
Bốn đại là đồ chứa chất độc, đầy dẫy dơ uế; sáu tên giặc là bọn chủ cuồng loạn, luôn tham đắm ngoại cảnh, không có ngày biết ngược dòng sinh tử, cứ chuyển theo thế tuần hoàn của nó. Thậm chí có người bỏn xẻn, không chịu chia một mảnh vải để làm lợi ích chúng sinh; quí tiếc, không sớt bớt một bữa ăn để tiếp lương thực cho người khác. Cho nên, họ chìm đắm mãi trong sinh tử, chấp chặt pháp hữu vi. Vì thế mà các Đức Phật chau mày, bồ-tát tuôn máu lệ,
Trộm nghĩ: Những người giàu sang quyền quý ở đời, khi cha mẹ mạng chung, bày ra nhiều lễ nghi tống táng, giết nhiều sinh mạng, nhóm họp họ hàng, thiết đãi quan khách. Chỉ vì cầu danh tiếng hiện tại mà không tránh nghiệp nhân, hoặc sợ người ngoài chê cười mà không làm theo chính pháp. Vì việc này mà cha chết chất chồng thêm tội khổ, mẹ mất càng nhiều nỗi lầm than, để rồi mãi trôi lăn trong ba cõi, ở mãi nơi sáu đường. Thật là, bốn nẻo dễ vào, muôn kiếp khó thoát ra. Đau đớn thay cho vong linh của mẹ hiền, cha kính; xót xa thay sự báo đáp bằng việc ác của người con bất hiếu!
Hạn hán kéo dài, ắt mong được mưa thấm ướt dịch bệnh nhiều hẳn phải đợi đến thuốc của lương Y. Cha mẹ đã là phàm phu, đâu thể không tạo nghiệp ác.
Nếu không diệt nhân của tội thì nghiệp báo khó trừ.
Nếu không nhờ vào phúc đức thù thắng thì quả vui làm sao có được! Giá như lúc sắp mạng chung mà phát nguyện đưa thân vào rừng Thi-đà, mong giúp loài cầm thú trừ đói khát, dùng tiền của vun bồi công đức thì sẽ tránh khỏi mối nợ đời sau.
97.2. HẾT THỌ MẠNG
Kinh Thập nhị phẩm sinh tử ghi: “Đức Phật dạy:
- Người chết, có mười hai phẩm:
1. Vô dư: bậc A-la-hán không còn chấp trước.
2. Độ dư: bậc A-na-hàm không còn sinh trở lại.
3. Hữu dư: bậc Tư-đà-hàm sau khi qua đời sẽ một lần sinh trở lại nhân gian.
4. Học độ: bậc Tu-đà-hoàn thấy được lý đạo.
5. Vô khi; hàng bát đẳng.
6. Hoan hỷ: tu hành nhất tâm.
7. Sác sác: người phá giới.
8. Hối: hàng phàm phu.
9. Hoạnh tử: người khổ cô đơn.
10. Phược trước: loài súc sinh.
11. Thiêu chước: chúng sinh ở địa ngục.
12. Cơ khát: ngạ quỷ.
Tì-kheo nên biết rõ các phẩm bậc này, chớ nên buông lung!”.
Kinh Tịnh độ tam-muội ghi: “Người tạo nghiệp thiện hoặc ác, được sinh lên trời hay đọa địa ngục, lúc sắp mạng chung, mỗi mỗi đều có người đến rước. Nếu là người được sinh lên trời thì thấy chư thiên cầm y phục của trời và trỗi âm nhạc đến rước. Còn người sinh vào phương khác thì thấy người tôn quý đến nói lời hay. Nếu người tạo nghiệp ác bị rơi vào địa ngục, sẽ thấy binh sĩ cầm đao kiếm, mâu kích đến vây quanh mình. Cảnh tượng mỗi người trông thấy đều khác nhau, khi ấy miệng họ không nói được, chỉ tùy theo nghiệp đã tạo mà thụ quả báo. Phép trời bình đẳng không xử oan ai, theo nghiệp đã tạo mà trị”.
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Người sắp mạng chung thấy thân trung ấm hiện ra. Nếu tạo nghiệp ác, sẽ thấy chịu khổ trong ba đường ác, hoặc thấy vua Diêm-la cầm các binh khí bắt tội nhân dẫn đi, hoặc nghe tiếng rên xiết đau khổ. Nếu tạo nghiệp thiện, sẽ thấy những việc thù thắng như cung điện cõi trời, các thiên nữ trang sức rực rỡ, nô đùa vui vẻ”.
Kinh Pháp cú dụ ghi: “Ngày xưa, Đức Phật ở tại tinh xá Kì-hoàn thuyết pháp cho trời và người nghe. Bấy giờ, có vị trưởng giả sống ở bên đường gần tinh xá; ông rất giàu, của cải vô số, nhưng chỉ có một người con trai vừa tròn hai mươi tuổi, mới cưới vợ chưa được bảy ngày. Hai vợ chồng rất thương yêu nhau. Vào tháng ba, hai vợ chồng đến khu vườn sau nhà ngắm cảnh dạo chơi. Trong khu vườn ấy có môt cây táo lớn, trổ hoa rất đẹp. Người vợ muốn có hoa đó mà không có ai hái giúp, nên người chồng leo lên cây mới bước ra một cành nhỏ thì cành gãy, rơi xuống đất chết. Cả nhà. trưởng giả chạy đến kêu gào khóc lóc thảm thiết, ngất xỉu một hồi lâu mới tỉnh lại. Mọi người nghe thấy đều đau lòng. Sau khi liệm xong đưa về nhà mà mọi người vẫn khóc mãi không thôi.
Đức Thế Tôn thương xót họ ngu muội, nên đến hỏi thăm và an ủi. Cả nhà ông trưởng giả trông thấy Đức Phật, xúc động buồn thương, đỉnh lễ và trình bày hết nỗi khổ đau.
Đức Phật bảo:
- Thôi đừng khóc nữa! Hãy lắng lòng nghe pháp! Vạn vật đều vô thường, không thể bền lâu, có sinh thì có tử, tội và phúc đắp đổi nhau. Người con này chết đi khiến ba nơi đều khóc lóc, sầu thương không kiềm chế được. Rốt cuộc nó là con ai? Ai là cha mẹ của nó?
Bấy giờ, Đức Thế Tôn liền nói kệ:
Mạng như hoa, trái chín,
Luôn lo sợ rụng rơi,
Sinh ra ắt có khổ,
Có ai không chết đâu?
Đầu tiên ưa ải dục,
Mong được gá vào thai,
Thụ thân như điện chớp,
Ngày đêm chuyển không dừng.
Thân này là vật chết,
Tinh thần vốn vô hình,
Thân chết rồi lại sinh,
Tội phúc không tan mất.
Trước sau chẳng một đời,
Do si ái dài lâu,
Tự mình thụ khổ vui,
Thân chết, thần không mắt.
Trưởng giả nghe kệ, tâm ý thông suốt, không còn lo buôn, quỳ xuông bạch Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Đứa con này kiếp trước tạo tội gì mà nay đang mạnh khỏe lại bị chết yểu? Cúi xin Đức Thế Tôn dạy cho con biết!
Đức Phật bảo:
- Ngày xưa có một đứa bé cầm cung tên đến chơi cạnh cây thần, gần đó cũng có ba người đứng xem. Trên cây có một con chim sẻ, đứa bé muốn bắn, ba người kia khuyến khích: ‘Nếu bắn trúng con chim đó, ngươi là đứa bé giỏi nhất thế gian’. Nghe nói thế thích quá, nó liền giương cung bắn, chim bị trúng tên chết. Ba người kia cùng nhau cười vui theo đứa bé, rồi mỗi người đi một nơi. Trải qua nhiều kiếp trong sinh tử, sinh vào nơi nào cũng tụ hội mà thụ tội. Trong đó, một người có phúc, nay ở cõi trời; một người sống dưới biển làm long vương; một người nay chính là ông trưởng giả vậy. Ngày trước, đứa bé này sinh làm con của trời, sau khi mạng chung sinh làm con trưởng giả và lại rơi trên cây xuống chết; sau đó sinh làm con của long vương, vừa mới sinh ra bị chim đại bàng cánh vàng chúa bắt ăn thịt Hôm nay ba nơi ấy đều khóc lóc buồn thảm, không thể tả xiết. Vì ba người này đời trước vui theo việc sát sinh của đứa bé, nên phải chịu quả báo như thế.
Đức Thế Tôn liền nói kệ:
Thần thức đến ba cõi,
Thiện, bất thiện năm đường
Thầm làm thiện thầm đến
Chỗ sinh về như vang,
Cõi Dục, Sắc, Vô Sắc;
Thảy do nhân đời trước,
Gieo nhân như hình tượng,
Cảm quả như bóng theo.
Trưởng giả nghe Đức Phật nói kệ rồi, tâm ý thông suốt, cả nhà đều vui vẻ, đắc quả Tu-đà-hoàn.”
Luật Tứ phần ghi: “Bấy giờ, đức Thế Tôn vì làm lợi ích chợ những chúng sinh sắp mạng chung mà nói kệ;
Tất cả sẽ về không,
Lên cao sẽ phải rơi,
Có sinh phải có chết,
Thân mạng đều vô thường,
Chúng sinh rơi vào Hữu,
Thảy đều là hữu vi,
Tất cả các thế gian,
Đều phải có già chết,
Lẽ thường của chúng sinh,
Đời đời đều phải chết,
Tùy theo nghiệp đã tạo,
Tội phúc có quả bảo,
Nghiệp ác đọa địa ngục,
Nghiệp thiện sinh lên trời,
Thanh cao sinh đường lành,
Được niết-bàn vô lậu
97.3. ĐƯA TIỄN
* Lời bàn
Sinh tử xoay vần không lìa tục đế. Tuy là người xuất gia chí cầu đạo thù thắng, nhưng Phần đoạn sinh tử chưa dứt, Biến dịch sinh tử chưa trừ thì vẫn cứ trôi lăn trong ba cõi, lưu chuyển theo thế gian. Cho đến sống chết đều nương vào tứ đại bên trong và các duyên bên ngoài. Lúc sắp mạng chung, nên an trí nơi thuận tiện, nghi thức lễ tang được nói đầy đủ dưới đây.
Người chết, phải đặt nằm theo hướng nam bắc, hồn và phách không giống nhau, nay chỉ trình bày ngắn gọn.
Chương Lễ vận trong Lễ ký ghi: “Thể phách (thân hình) thì đi xuống, tri khí (linh hồn) bay lên. Do đó, người chết thì đặt đầu xoay về hướng bắc, người sống thì nằm đầu quay về phía nam.”
Chương Giao đặc sinh trong Lễ ký ghi: “Hồn khí trở về trời, hình phách trở về đất, cho nên cúng tế để mong thuận lẽ âm dương”.
Chương Tế nghĩa trong Lễ kí ghi: “Khí là thần đầy đủ nơi thân, phách là quỉ sung mãn nơi thể”.
Chương Lỗ Chiêu công năm thứ bảy trong Tả truyện ghi : “Tử Sản nói với Triệu Cảnh Tử:
- Con người lúc sinh ra, vừa hiện thành thì gọi là phách, đã sinh phách thì dương khí của phách ở nơi thân gọi là hồn. Người dùng nhiều thức ăn ngon thì hồn phách họ mạnh, do đó mà tinh thần đạt đến chỗ sáng suốt. Đàn ông hay đàn bà tầm thường bị chết oan, hồn phách của họ có thể dựa vào người khác để tác oai; huống gì Lương Tiêu là đời sau của Mục công, tiên vương chúng ta, là cháu của Tử Lương, là con của Tử Nhĩ...
Hoài Nam Tử ghi: “Khí trời là hồn, khí đất là phách. Phách hỏi Hồn:
- Đạo lấy gì làm thể? Lấy vô hình hay hữu hình?
Hồn đáp:
- Hữu hình! Nếu vô hình thì cần gì phải hỏi! Tôi đã gặp nó rồi, nhìn thì không thấy hình, lắng nghe thì chẳng có âm thanh, gọi đó là u minh. Nói U minh là để dụ cho đạo mà chẳng phải là đạo.
- Đã biết Hồn và Phách khác nhau, hiện nay tại sao khi người thế gian chết, lại dùng áo của người chết ấy để gọi hồn mà không gọi phách?
- Hồn là linh hồn, phách là thi thể. Cho nên kinh Lễ ghi: ‘Người mới chết, lấy áo lúc sống họ thường mặc trùm lên, vì hồn đã ra khỏi xác, mang cái áo đó đi gọi hồn, để hồn biết cái áo của mình mà trở về nhập vào phách. Nếu hồn trở về nhập vào phách thì miệng của thây chết máy động, nếu hồn không về nhập vào phách thì miệng không máy động. Theo lý này, nên nói là gọi hồn, chứ không nói gọi phách’”.
Bộ Tiêu táng phục yếu ký ghi: “Lỗ Ai công an táng cha, Khổng Tử hỏi:
- Không làm áo hồn ư?
Lỗ Ai công đáp:
- Áo gọi hồn này xuất phát từ ông Bá Đào. Bá Đào đến núi Kinh, trên đường đi bị chết rét, người bạn tên Dương Giác Ai đến đưa thi thể bạn về chôn cất và cũng thưong xót linh hồn bị lạnh, nên chế ra áo hồn. Còn cha ta, lúc còn sống thì mặc gấm vóc lụa là, lúc chết vẫn mặc áo đầy đủ, đâu cần dùng áo hồn?”.
Hỏi: Tại sao phải viết tên họ của người chết lê lá phan?
Đáp: Phan chiêu hồn đặt phía tây bắc để hồn biết tên của mình tìm về nhập vào phách, hoặc vào nhà tối. Trong nhà đó sắp đặt đầy đủ các thức ăn để cúng tế. Vì người sống và người chết khác nhau, thấy tối và sáng không đồng. Quỷ thần ăn trong tối, người sống ăn ngoài sáng, cho nên dùng nhiều lớp chiếu cỏ để bọc thức ăn đặt trong nhà tối tại phía tây nam.
Ở Ấn Độ có bốn cách xử lí thây người chết:
1 . Thủy táng: thả trôi theo dòng nước.
2. Hỏa táng: dùng lửa đốt.
3. Địa táng: chôn dưới đất.
4. Lâm táng: đặt tử thi trong rừng.
Luật Ngũ phần ghi: “Nếu dùng lửa đốt thì phải đặt tử thi trên đá, không được đốt trên đất cỏ, vì sợ làm tổn thương loài côn trùng”.
Luật Tứ phần ghi: “Đức Như Lai và Chuyển luân thánh vương đều được hỏa táng. Những người khác đều dùng các cách còn lại”.
Luật Ngũ phần ghi: “Nên chôn cất thi thể (Theo phép nước, không cho bỏ tử thi trong rừng. Lại sợ mùa hạ hỏa táng, làm tổn thương côn trùng, cho nên phải chôn cất. Ngoài ra, những nơi không có nạn thì cho phép thả xuống nước hoặc đặt trong rừng)
Luật Tứ phần và Ngũ bách vấn sự ghi: “Nếu thấy tháp miếu thờ Đức Như Lai và lăng mộ của năm chúng xuất gia lớn hơn mình, đều phải viếng thăm và căn cứ theo tuổi hạ lúc còn sống mà lễ bái. Tất cả hàng cư sĩ thấy tháp của năm chúng xuất gia, không luận lớn hay nhỏ, đều phải cung kính đỉnh lễ”.
* Lời bàn
Đã biết điều đó, thì đạo hay tục mà biết mẹ của sư tăng qua đời, đến thăm viếng, nếu nhỏ hơn người chết thì đến trước quan tài thiết lễ như thường lệ, rồi đến gặp các người con chia buồn an ủi, sau đến gặp đại đức tỏ lòng thương tiếc, chia buồn và đỉnh lễ. Lại thấy những cư sĩ mê muội, thực hành sai lầm, dạy người khác không được đỉnh lễ vong linh cha mẹ, chú, bác, bà con. Họ nói: “Ta đã thụ giới, những người kia là quỷ thần, cho nên không đỉnh lễ, vì sợ phá giới.” Điều này đã không phù họp với ý Phật, chuốc lấy tội không hiểu biết.
Kính nghĩ: thày tổ nuôi dưỡng pháp thân tuệ mạng của ta. Cha mẹ, chú bác nuôi dưỡng xác thân ta, nhờ vao sữa mẹ mà ta lớn khôn thành người. Nghĩ đến ân đức này như trời cao, khó báo đáp. Phải trả ân này nhiều kiếp, đâu thể một đời mà trả hết được? Có những người không biết tôn trọng ân đức đó mà lại khởi tâm kiêu mạn, noi theo những kẻ ngu hèn, làm sao mà thành người con hiếu thảo được?
Đức Thế Tôn là bậc Thánh cao tột còn tự mình khiêng kim quan của phụ vương đưa đi, huống gì chúng ta là hàng phàm phu ngu muội mà lại sinh tâm lười biếng, ngã mạn? Cho nên, kinh Niết-bàn ghi: “Biết ân là nền tảng của đại bi. Người vô ân thì tệ hơn loài cầm thú”.
Kinh Tịnh Phạn vương nê-hoàn ghi: “Bấy giờ, vua Bạch Tịnh ở tại nước Xá-di, bệnh nặng sắp mạng chung, muốn gặp đức Thế Tôn và Nan-đà V.V.... Khi ấy, Đức Thế Tôn đang ở trong núi Kỳ-xà-quật thuộc thành Vương Xá, cách hoàng cung năm mươi do-tuần. Đức Thế Tôn ở trên núi Linh Thứu, do thiên nhĩ thanh tịnh nên biết được suy nghĩ của phụ vương, liền cùng A-nan v.v... bay trên hư không đến. Khi đến nơi, Ngài lấy tay đặt lên trán của vua và an ủi, sau đó nói kinh Ma-ha Ba-la bản sinh cho vua nghe. Nghe xong, vua liền chứng A-na-hàm. Vua cầm tay Phật đặt lên tim mình. Đức Phật lại thuyết pháp cho vua nghe, vua liền chứng A-la-hán.
Vô thường chợt đến, vua mạng chung, bỗng chốc qua đời sau. Đến lúc hỏa táng, Phật và Nan-đà v.v... cung kính đứng phía đầu, A-nan và La-hầu-la đứng sang một bên.
Bấy giờ, A-nan-đà quỳ xuống bạch Đức Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Xin cho con khiêng kim quan của bác!
La-hầu-la bạch:
- Bạch đức Thế Tôn! Cho phép con khiêng kim quan của ông nội!
Đức Phật dạy:
- Người đời sau phần nhiều hung ác, không báo đáp công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ. Ta vì những chúng sinh bất hiếu đó mà lập ra pháp giáo hóa. Vì thế Như Lai muốn tự mình khiêng kim quan của phụ vương.
Ngay lúc ấy, ba nghìn đại thiên thế giới chấn động sáu cách, tất cả núi đều trồi sụt như thuyền bập bềnh trên sóng.
Bấy giờ, hết thảy các vị trời, rồng, quỷ thần đều đến dự lễ tang, buồn thảm gào khóc. Tứ thiên vương dẫn trăm nghìn ức chúng quỷ thần đến dự lễ tang và bạch Phật:
- Đức Như Lai khởi tâm đại từ bi thương xót, vì những chúng sinh đời sau bất hiếu với cha mẹ mà tự mình khiêng kim quan của phụ vương!
Tứ thiên vương lại bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Chúng con là đệ tử, theo Ngài nghe pháp mà đắc qủa Tu-đà-hoàn. Do đó, Ngài nên để chúng con khiêng kim quan của phụ vương.
Đức Phật chấp nhận. Tứ thiên vương liền biến thành người, khiêng kim quan đi, tất cả nhân dân đều thương xót gào khóc. Đức Thế Tôn bưng lư hương đi trước đến nơi hỏa táng. Đồng thời, Ngài sai một nghìn vị a-la-hán ra một hòn đảo ngoài biển khơi lấy các thứ gỗ thơm như Ngưu Đầu chiên-đàn mang về hỏa táng phụ vương.
Bấy giờ, Đức Phật dạy:
- Các hành khổ, không, vô thường cũng giống như bóng trong gương, trăng đáy nước, đều là huyễn hóa.
Khi thiêu xong, vua các nước, mỗi người cầm năm trăm bình sữa rưới lên dập tắt lửa. Dập lửa xong họ đua nhau thâu gom hài cốt đựng trong hộp kim cương rồi xây tháp phụng thờ ngay tại đó, đồng thời treo tràng phan, bảo cái cúng dường.
Đức Phật nói với hội chúng:
- Vua Tịnh Phạn là người thanh tịnh, được sinh lên cõi trời Tịnh Cư”.
Kinh Phật mẫu nê-hoàn ghi: “Tì-kheo ni Đại Ái Đạo là di mẫu của Phật. Bà không nỡ thấy Đức Phật diệt độ, nên muốn diệt độ trước. Bà cùng năm trăm Trừ cẩn nữ (Trừ cẩn nữ tức là tì-kheo ni. Khương Tăng Hội chú giải kinh Pháp Cảnh: Hàng phàm phu tham đắm sáu trần, giống như người tham ăn không biết đủ. Nay bậc thánh đã đoạn tâm tham và trừ sự đói khát của sáu căn, cho nên gọi hàng xuất gia ni là Trừ cẩn vậy.) đến chỗ Phật, đỉnh lễ nơi chân Ngài rồi đứng qua một bên. Bà lấy tay xoa chân Phật, nhiễu quanh ba vòng, rồi đỉnh lễ và lui ra. Đại Ái Đạo hiện sức thần thông biến hóa, ở trên tòa tự nhiên biến mất. Sau đó từ phương đông đi lại, trụ giữa hư không hiện ra mười tám thứ thần biến, tám phương, trên dưới cũng biến hiện như thế, phóng ánh sáng rực rỡ chiếu đến các nơi tối tăm và đến các cõi trời. Năm trăm vị tì-kheo-ni biến hóa cũng như thế, rồi cùng nhập niết-bàn trước Đức Phật.
Bấy giờ, Đức Phật bảo những người quản lí gia nô làm năm trăm cỗ xe chở quan tài, năm trăm cỗ xe chở các thứ gỗ thơm, dầu mè, hoa hương, trỗi nhạc hay để cúng dường. Tất cả phàm thánh trông thấy đều thương cảm rơi lệ. Sau khi thiêu xong, các tì-kheo mang xá-lợi đến chỗ Đức Phật. Khi ấy, ở bốn phương, mỗi phương có hai trăm năm mươi vị a-la-hán dùng thần túc thông bay đến, đỉnh lễ dưới chân Phật, rồi đến chỗ an trí xá-lợi. Sau khi một nghìn vị tì-kheo an tọa xong, Đức Phật bảo A-nan đặt xá-lợi vào bình bát, rồi trao cho Ngài. A-nan vâng lời. Đức Phật nói với các tì-kheo:
- Xá-lợi này vốn là thân uế trược, hung bạo, xấu xa, ngu muội, ganh tị, mưu mô xảo quyệt, phá đạo hoại đức. Nay di mẫu đã trừ sạch, thực hành hạnh đại trượng phu, chứng quả A-la-hán, tâm thức vốn không. Thật dõng mãnh thay!
Nói xong, Đức Phật bảo xây tháp cúng dường”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Đức Phật bảo A-nan-đà và La-hầu-la:
- Các ông hãy khiêng nhục thân của Đại Ái Đạo đến đây, Ta sẽ đích thân cúng dường.
Bấy giờ, Thích-đề-hoàn-nhân và Tứ thiên vương bạch Đức Phật:
- Xin Ngài chớ nhọc sức, chúng con sẽ cúng dường!
Đức Phật bảo:
- Thôi thôi! Vì sao? Vì cha mẹ đã sinh con, lại làm nhiều điều lợi ích cho con; ân sâu nuôi dưỡng, bú mớm, ẵm bồng, chúng ta cần phải báo đáp. Khi mẹ của các Đức Phật trong quá khứ và vị lai diệt độ, các Ngài đều hỏa táng, cúng dường xá-lợi.
Bấy giờ, Tỳ-sa-môn thiên vương sai quỷ thần đến rừng chiên-đàn lấy gỗ về chất nơi đồng trống. Đức Phật, A-nan, La-hầu-la, Nan-đà mỗi người khiêng một chân giường bay trên hư không đến nơi hỏa táng. Đức Phật tự tay lấy gỗ chiên-đàn đặt lên thân tì-kheo ni Đại Ái Đạo.
Đức Phật dạy:
- Có bốn bậc nên xây tháp cúng dường: Phật, bích-chi phật, a-la-hán lậu tận và chuyển luân thánh vương. Vì bốn bậc này đều dùng mười điều thiện giáo hóa chúng sinh.
Bấy giờ, nhân dân thỉnh xá-lợi và tự xây tháp cúng dường”.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Di mẫu Đại Ái Đạo là mẹ của Nan-đà”.
Lại nữa, Tăng nhất A-hàm ghi: “Trong bốn chúng đệ tử, mỗi chúng chọn ra hai người đắc đạo trước tiên và sau cùng:
* Tì-kheo:
1. Người đắc đạo đầu tiên là tì-kheo Câu-lân khéo giáo hóa chúng sinh, không mất uy nghi.
2. Người đắc đạo sau cùng là Tu-bạt-đà-la, ngày ông đắc đạo thì Đức Phật sắp nhập Niết-bàn.
* Tì-kheo-ni:
3. Người đắc đạo đầu tiên là tì-kheo-ni Đại Ái Đạo.
4. Người đắc đạo sau cùng là tì-kheo-ni Đà-la-câu-di-quốc.
* Ưu-bà-tắc:
5. Người đầu tiên đắc đạo là một nam thương nhân.
6. Người đắc đạo sau cùng là Câu-di-na-ma-la.
* Ưu-bà-di:
7. Người đắc đạo đầu tiên là Nan-bà nữ.
8. Người đắc đạo sau cùng là Ưu-bà-di Lam-bà”.
97.4. THỤ SINH
Con người khi sống thì tám thức giữ gìn, chết thì bốn đại phân tán. Dù sống đến trăm tuổi rốt cuộc cũng phải chết, luân hồi trong ba cõi, lưu chuyển không dừng. Cho nên trong kinh ghi: “Có đầu tiên thì sẽ có cuối cùng, có sinh ắt có diệt”. Giáo pháp của Đức Phật dạy thật không hư dối mà rõ ràng trước mắt. Do đó, trong đoạn này trình bày sơ lược sáu môn:
* Môn thứ nhất: người sắp mạng chung, kiểm tra trên thân thể nóng hay lạnh thì biết được quả báo của họ đời sau thụ sinh vào đường lành hay dữ.
Luận Du-già ghi; “Loài hữu tình là phi sắc phi tâm, thân giả tạm lớn nhỏ đều giống nhau, nhưng chết có nhanh chậm. Các luận sư cho ràng người làm điều thiện, khi
chết nếu sờ thấy lạnh từ dưới chân lên đến rốn, từ rốn lên vẫn còn hơi ấm, sau đó mới hết hẳn, người ấy sẽ sinh trở lại trong cõi người. Nếu sờ thấy lạnh từ dưới lên, đầu và mặt ấm, sau đó mới hết, người này được sinh lên cõi trời. Còn người làm ác thì ngược lại. Nếu sờ thấy người này lạnh từ trên đầu xuống đến thắt lưng còn hơi ấm, sau đó mới hết hẳn thì người này sẽ đọa vào loài ngạ quỷ. Nếu sờ thấy lạnh từ trên xuống, đến đầu gối còn hơi ấm, người này chết sinh vào loài súc sinh. Nếu chỉ từ đầu gối xuống đến chân có hơi ấm, người này chết bị đọa vào địa ngục. Bậc Vô học khi nhập niết-bàn thì ấm ở tim hoặc trên đỉnh đầu”.
Luận Du-già ghi: “Yết-la-lam là chỗ nương gá đầu tiên của thức, còn gọi là nhục tâm. Lúc mới gá sinh, thức đến nơi này, cũng là nơi cuối cùng thức lìa thân”.
Giải thích: Theo luận Du-già, do tạo nghiệp thiện được sinh lên các cõi trên. Nếu người chết lạnh dần từ dưới lên đến tim, gọi là thượng xả. Do tạo nghiệp ác thì sinh xuống các cõi dưới, nên người chết lạnh từ trên xuống đến tim, gọi là hạ xả.
Luận Câu-xá ghi:
Hỏi : Khi người chết, thì ý thức đoạn diệt trong phần nào của thân?
Đáp: Có hai trường hợp, nếu toàn thân chết liền thì căn và ý thức cùng diệt một lúc. Nếu chết lần lượt từng phần thì như bài kệ này:
Nếu người chết dần dần,
Từ chân lên đến rốn,
Đến tim, ý thức diệt,
Hạ, nhân, thiên, bất sinh.
Trong luận giải thích: Nếu người chết thụ sinh vào các đường ác và trời người, thì chết thứ tự từng chi phần từ chân lên đến rốn; còn bậc a-la-hán tức bất sinh, ý thức chấm dứt ở tim. Các bộ phái khác nói ý thức diệt trên đỉnh đầu. Vì sao? Vì thân căn và ý thức đều diệt cùng một lúc nơi đỉnh đầu. Nếu người chết liền thì thân này như vài giọt nước trên tảng đá nóng, nước dần dần khô, sau đó khô hẳn, ý thức và thân căn lần lượt đoạn diệt ở nơi chân, ở các chi phần khác cũng thế.
Giải thích: Luận Câu-xá trình bày quan điểm Tiểu thừa cho là người chết thì thân và ý thức đều diệt tại các phần trên thân. Theo Đại thừa thì thân và Bản thức đều diệt tại các chỗ trên thân.
* Môn thứ hai: Cách thức thụ sinh.
Luận Câu-xá ghi: “Để đi đến các đường phải thụ sinh, nên có thân trung ấm. Chúng sinh do sức mạnh của nghiệp đời trước, nên dù ở nơi rất xa, nhưng nhãn căn có thể trông thấy chỗ thụ sinh thích hợp. ở đó thân trung ấm thấy cha mẹ giao hợp. Nếu thân trùng ấm sẽ thành con trai thì đối với mẹ liên khởi tâm dâm dục của người nam. Nếu sẽ thành con gái, đối với cha liền khởi tâm dâm dục của người nữ; đồng thời cũng khởi tâm sân hận. Do khởi hai tâm điên đảo ấy, nên trung ấm mong muốn đến chỗ thụ sinh, tức là mong muốn nơi ấy thuộc về mình. Lúc khởi ý bất tịnh là đã vào trong thai, tâm liền sinh vui mừng, gá vào đó để thụ sinh. Từ sát-na này, thân năm ấm của chúng sinh hòa hợp bền chắc, thân trung ấm liền diệt, như vậy gọi là thụ sinh.
Nếu thai nhi là nam thì ở bên hông trái và ngồi chôm hôm tựa vào hông trái, xoay mặt về lưng của người mẹ. Nếu thai nhi là nữ thì tựa vào hông phải và mặt hướng về bụng của người mẹ. Nếu thai chẳng phải nam, chẳng phải nữ thì cũng tùy theo thân gá sinh mà trụ. Không có thân trung ấm nào khác ngoài nam nữ, tất cả đều đầy đủ các căn. Thế nên, dù nam hay nữ khi thác sinh vào thai thì ở trong thai dần dần lớn lên, có khi trở thành huỳnh môn. Chúng sinh thác vào loài thai sinh và noãn sinh, cách thức cũng như thế.
Nếu chúng sinh muốn thụ sinh vào loài thấp sinh, chỉ cần ưa thích mùi hương thì liền sinh đến. Mùi hương này sạch hay dơ, tùy theo nghiệp của mình đã tạo kiếp trước mà cảm nhận. Nếu là loài hóa sinh thì tùy theo chỗ ưa thích mà sinh đến.
Như vậy, tại sao chúng sinh ở trong địa ngục ưa nơi đó? Do tâm điên đảo, nên những chúng sinh này luôn thấy gió rét, mưa lạnh hành hạ thân thể. Khi thấy lửa địa ngục cháy mạnh thì ưa thích, muốn tiếp xúc, cho nên thụ sinh vào địa ngục. Có chúng sinh lại thấy thân bị gió nóng và lửa cháy thiêu đốt, đau buốt khó chịu, lại thấy địa ngục giá lạnh rất mát mẻ, ưa thích tiếp xúc, cho nên sinh vào.
Hai loài thai sinh và noãn sinh thì khi cha mẹ giao hợp liền gá vào. Hai loài hóa sinh và thấp sinh, không nhờ vào tinh cha huyết mẹ để làm thân, nên không cần sự giao hợp. Loài thấp sinh chỉ thích ngửi mùi hương, liền gá. Tùy theo nghiệp thiện hoặc ác mà thích ngửi mùi hương sạch hay dơ. Loài hóa sinh chỉ ưa thích nơi gá sinh thì liền sinh đến.
Địa ngục tuy là nơi đau khổ, nhưng người có tội lại ưa thích sinh vào. Vì sao? Vì không ưa thích thì không thụ sinh.
Luận ghi: Nếu kiếp trước tạo nghiệp thế nào thì nay thường chiêu cảm quả báo thụ sinh thế ấy. Trung ấm thích thấy thân mình ở vị trí như thế, thấy các chúng sinh kia cũng giống vậy, nên sinh đến đó.
Các luận sư xưa đã giải thích: Nếu những người ba mươi tuổi, tạo nghiệp sát sinh, giăng lưới vây bắt chúng sinh. Lúc làm việc này, người ấy chắc chắn có bạn bè của mình, do nghiệp này chiêu cảm đọa vào địa ngục. Sau khi chết, thân trung ấm tự thấy mình giăng bẫy vây bắt chúng sinh giống như ba mươi năm trước. Cho nên nói là vị trí.
Thân trung ấm lại thấy các bạn bè ngày xưa Và việc làm trước kia không khác. Khi thấy cảnh địa ngục, thân trung ấm như thấy các bạn chài lưới ở sông hồ cũng như ngày xưa, cùng nhau lũ lượt kéo vào trong ấy, do đó khởi tâm ưa thích, nên thụ sinh.
Sau này biết rõ ngày xưa tuy tạo nhiều nghiệp, nhưng chỉ cần một nghiệp là đủ lôi kéo vào địa ngục. Lúc hai mươi tuổi hoặc ba mươi tuổi tạo nghiệp này, sau khi chết thì thân trung ấm tự thấy mình tạo nghiệp lúc hai mươi hoặc ba mươi tuổi như xưa, lại thấy chúng sinh trong địa ngục bằng tuổi mình. Tuổi đã giống nhau, nên chúng sinh khởi tâm luyến ái nơi đó, liền đến chỗ đó thụ sinh. Do sự yêu thích ấy mà đến thụ sinh. Các sư Kinh Bộ giải thích như thế.
Lại nữa, luận Du-già ghi: “Nếu người phúc mỏng, sẽ sinh vào nhà bàn cùng thấp hèn. Khi chết và lúc gá thai, tai người này nghe những âm thanh hỗn tạp, lại vọng thấy vào trong rừng tre trúc, cỏ lau rậm rạp. Nếu người nhiều phúc, sẽ sinh vào nhà giàu sang quyền quý. Bấy giờ người này nghe những âm thanh hay đẹp, trong lắng vừa ý và vọng thấy các cảnh hợp ý hiện ra, như thấy mình lên các cung điện lộng lẫy”,
Luận Câu-xá ghi: “Nếu người sắp mạng chung mà khởi tâm tà kiến thì đọa vào địa ngục, vì người này lấy nghiệp bất thiện trước đó làm nhân, tà kiến làm duyên. Có một luận sư cho rằng, tất cả pháp bất thiện đều là nhân của địa ngục. Ngoài pháp bất thiện này ra còn có các ác pháp khác là nhân sinh vào loài ngạ quỷ hay súc sinh”. ,
Lại do ngày xưa tạo nhiều nghiệp ác nên bị đọa vào loài súc sinh. Nếu dâm dục nhiều thì sinh làm chim bồ câu, se sẻ, uyên ương. Nếu tâm nhiều sân hận thì sinh làm loài rắn hổ mang, bò cạp. Nếu nhiều ngu si thì sinh làm loài heo, dê, ong, sò. Tâm nhiều kiêu mạn thì sinh làm loài sư tử, hổ, sói. Nếu tâm nhiều vong động, đùa cợt thì sinh làm loài khỉ vượn. Nếu tâm bỏn xẻn, ganh tị thì sinh làm loài chó đói. Nếu có chút phúc thiện còn sót lại, tuy sinh vào loài súc sinh, nhưng vẫn có chút niềm vui.
Hai nghiệp của thân và miệng, tuy do tâm làm chủ, nhưng khẩu nghiệp chiêu cảm quả báo rất nặng. Nếu mắng hay khinh khi người khác, cho họ như khỉ, vượn thì liền sinh làm loài khỉ vượn. Nếu mắng người khác tham lam như quạ, tiếng nói giống chó sủa, lừa rống, ngu ngốc như loài heo, dê, đi như lạc đà, tự cao như voi, hung dữ như trâu hoang, dâm dục như chim sẻ, khiếp sợ như loài mèo hoang, nịnh hót như con cáo, theo khẩu nghiệp đó mà chịu quả báo y như vậy. Nhưng nguồn gốc là do ba độc, trong đó tham ái là nặng nhât, nó lôi kéo tất cả các nghiệp khác, như nắm một đầu của tấm vải thì những phần còn lại đều kéo theo”.
Luận Trí độ ghi: “Nếu không chấm dứt được tham ái thì theo tham ái mà thụ sinh. Cho nên, bốn loài đều do ái mà sinh ra. Như nói, nhiều dâm dục thị sinh làm chim se sẻ, quá tham mùi vị thì sinh vào hầm xí. Lại do ái dục nên sinh vào loài mang thai, đẻ trứng. Tham ngửi mùi hương nên thụ thân vào loài thấp sinh. Tùy theo nơi ưa thích mà tạo nghiệp sâu nặng thì thụ thân vào loài hóa sinh. Nếu tâm ưa thích tạo tội nghiệp quá sâu nặng, lúc chết vọng thấy cảnh địa ngục, liền hóa sinh vào đó. Nếu tâm ưa thích tạo phúc sâu dày thì được hóa sinh lên cõi trời”.
Cho nên, luận Thành thật ghi: “Nếu không nhổ tận gốc rễ thì cây vẫn còn sống, không nhổ sạch gốc tham thì cây khổ còn mãi”.
Luận Du-già ghi: “Thế nào là sinh? Đó là do ngã ái đã sinh khởi liên tục, do từ vô thỉ ưa thích huân tập các nhân hí luận và nghiệp nhân tịnh hoặc bất tịnh. Thân sở y kia, do sức tăng trưởng của hai nhân này và từ chủng tử mà thân trung ấm dị thục thụ sinh liên tục ở nơi ấy. Sinh tử đồng thời giống như đòn cân, hai đầu bằng nhau. Thân trung ấm này đầy đủ các căn. Người tạo nghiệp ác thì màu sắc của thân trung
ấm như bóng dê đen, hoặc như đêm tối. Người tạo nghiệp thiện thì màu sắc của thân trung ấm sáng như áo trắng, hoặc như ánh sáng trong đêm tối”.
Luận Câu-xá ghi: “Thân trung ấm này đầy đủ năm căn, các thứ kim cương... cũng không thể ngăn ngại được. Như có con ếnh ương thụ sinh ở trong lớp kim cương dưới núi Tu-di. Thân trung ấm thuộc sắc chất vi tế, kim cương không thể ngăn ngại nó, chỉ người có thiên nhãn mới thấy được việc này”.
Lại nêu lên việc đã nghe được để chứng minh. Từng nghe có người nói: “Nung thanh sắt nóng, phá vỡ ra thì thấy con trùng”.
* Môn thứ ba: Thụ mạng dài ngắn.
Luận Câu-xá ghi: “Nếu thân trung ấm chưa xác định thụ sinh vào nơi nào thì đều có thể sinh vào loài khác của cõi ấy. Như loài trâu giao phối vào mùa hạ, loài chó thì mùa thu, loài gấu thì mùa đông, ngựa thì mùa xuân, còn các loài khác như chồn... không theo mùa. Lẽ ra chúng sinh ấy thụ sinh vào loài trâu, nhưng không trúng mùa hạ thì sẽ sinh vào loài chồn, lẽ ra thụ sinh vào loài chó mà không trúng mùa thu thì sẽ sinh vào loài chồn”.
Các luận sư Câu-xá có bốn cách giải thích:
1. Lúc mới chết thì thân trung ấm liền thụ sinh.
2. Qua bốn mươi chín ngày mà vẫn còn mang thân trung ấm, thì không hạn cuộc thời gian.
3. Trong vòng bốn mươi chín ngày, nếu nhân duyên thụ sinh chưa đủ thì thân trung ấm phải chết đi sống lại nhiều lần, không hạn cuộc thời gian.
4. Thân trung ấm theo duyên mà thụ sinh, cho đến trải qua nhiều kiếp thụ sinh, thân trung ấm vẫn không chết”.
5. Luận Du-gỉà ghi: “Nếu thân trung ấm chưa đủ duyên lập tức thụ sinh, nó sống tối đa là bảy ngày, sau đó chết đi sống lại, cho đến hết bốn mươi chín ngày. Từ đây trở về sau, thân trung ấm nhất định được duyên thụ sinh”.
* Môn thứ tư: Sức thần thông nhanh hoặc chậm.
Luận Câu-xá ghi: “Thân trung ấm này đi trên hư không. Khi người chết, nếu thân trung ấm muốn thụ sinh ở vô số thế giới, chỉ trong thoáng chốc liền đến. Trong khi thần thông của hàng Nhị thừa chưa vượt khỏi một thế giới, thân trung ấm đã vượt ra ngoài vô lượng thế giới. Do nghiệp lực quyết định, nên dù sức thần thông của Đức Phật cũng không thể ngăn nó thụ sinh hoặc khiến nó thụ sinh vào các đường khác”.
Nói thân trung ấm nhanh hơn thần thông, đó là nói thần thông của hàng Nhị thừa và phàm phu.
Luận Tỳ-bà-sa ghi: “ Nói thần thông nhanh hơn thân trung ấm, đó là nói thần thông của Đức Phật”.
* Môn thứ năm: Thân trung ấm thấy nhau không đồng.
Luận Câu-xá ghi: “Nếu thân trung ấm cùng sinh vào một cõi thì nhất định sẽ thấy nhau. Nếu người có thiên nhãn thanh tịnh, do tu pháp tứ đế mà chứng được Đạo loại trí, thì sẽ thấy chỗ thụ sinh của thân trung ấm. Nếu là thiên nhãn do phúc báo mà có được thì không thấy, vì sắc chất của thân trung ấm rất vi tế”.
Tát-bà-đa bộ chủ trương: Nếu thân trung ấm cùng thụ sình trong cõi người thì sẽ thấy nhau. Điều này là chắc chắn. Nhưng nó không thấy được thân trung ấm ở cõi khác. Nếu người tu tập mà có thiên nhãn thuộc Đạo loại trí, thì có thể thấy thân trung ấm. Còn thiên nhãn do phúc báo mà có thì không thể thấy được thân trung ấm, vì nó vi tế hơn loại sắc chất khác.
Chính lượng bộ chủ trương: Thân trung ấm ở cõi trời đều thấy được thân trung ấm của năm đường. Thân trung ấm ở cõi người thì thấy được thân trung ấm bốn đường dưới, trừ thân trung ấm cõi trời. Cứ như thế, lần lượt trừ các cõi cao hơn, cho đến thân trung ấm của địa ngục, không thấy thân trung ấm của bốn cõi trên, chỉ thấy thân trung ấm ở địa ngục mà thôi.
* Môn thứ sáu: Thân trung ấm có lớn nhỏ.
Luận Câu-xá ghi: “Thân trung ấm như đứa trẻ sáu bảy tuổi, nhưng hiểu biết lanh lợi. Thân trung ấm của bồ-tát giống như vị thiếu niên khỏe mạnh, đầy đủ các tướng lớn nhỏ. Thế nên, tuy mang thân trung ấm, nhưng khi vào thai thì ánh sáng chiếu khắp vạn câu-chi cõi Diêm-phù-đề”.
Nhà lớn là quán trọ,
Mang nghiệp ắt bị lôi,
Hộp ngọc không nhìn đến,
Đài vàng cũng chẳng cần!
Lời hiếu vang xa tít,
Bóng la trên thân tùng,
Đâu thể giữ mười niệm,
Chỉ chạy theo bốn duyên,
Ao thuật tạo muôn trạng,
Khéo biến thành nhiều thân,
Người ngu tranh nhân ngã,
Ai chẳng thế, là hiền
Người mê nghi càng chặt,
Kẻ trí biết huyễn thân,
Thân sơ không nhất định
Nhọc gì, khóc trời xanh.
97.5. CẢM ỨNG
97.5.1. Đời Hán, Điền Vô Nhất: Tháng tư niên hiệu Kiến Bình thứ tư (3BC) đời vua Ai Đế nhà Hán, tại Sơn Dương có một cô gái tên Điền Vô Nhất mang thai. Đến tháng thứ hai nghe tiếng em bé khóc trong bụng. Sau khi sinh ra, người mẹ không chịu nuôi nấng lại đem chôn ngoài bờ ruộng. Ba ngày sau, có người đi ngang qua nghe tiếng em bé khóc. Người mẹ biết được liền đến đào lên đem con về nuôi.
97.5.2. Đời Hán, con gái của Quảng Mục: Tháng hai niên hiệu Nguyên Thỉ thứ nhất (1) đời Binh Đế nhà Hán, con gái của Quảng Mục ở Sóc Phương bỗng nhiên bị bệnh chết, tẩm liệm đã sáu ngày. Bỗng nhiên cô ta đẩy nắp quan tài bước ra và nói:
- Tôi thấy người chồng đã chết bảo: “Nàng mới hai mươi bảy tuổi không đáng chết!”.
Thái thú Đàm nghe việc ấy liền nói: “Cực âm là dương, đó là điềm kẻ thấp hèn làm người tôn quí”, về sau, Vương Mãn soán ngôi.
97.5.3 Đời Hán, Lý Yêu: Khoảng niên hiệu Kiến An (196-220) đời Hán, Lý Yêu bị chết, mười bốn ngày sau thì sống lại, nhưng những lời ông ta nói đều như quỉ thần. Khoảng niên hiệu Sơ Bình (190-194) đời Hiến đế, một thiếu phụ họ Hoàn ở Trường Sa bị chết. Hơn một tháng sau, mẹ của cô ta nghe trong quan tài có tiếng động, liền mở ra thì cô ta sống lại”.
97.5.4. Đời Hán, Sử Hủ: Ông tự Uy Minh, người Khảo Thành, Trần Lưu. Thời niên thiếu ông bị bệnh, lúc sắp lâm chung nói với mẹ:
- Con chết sẽ sống lại! Vì thế khi chôn con, mẹ hãy cắm cây gậy trúc trên mộ. Nếu cây gậy tự nhổ lên thì mẹ hãy đến quật mộ.
Đên khi Sử Hủ chết, bà cũng cắm một cây trúc như lời con dặn. Bảy ngày sau bà đến xem, quả nhiên cây gậy trúc tự nhổ lên, bà liền cho người quật mộ thì thấy ông đã sống lại, liền đến giếng tắm gội xong thì bình phục như trước.
Sau đó, ông cùng người láng giềng chèo thuyền đến Hạ Phi bán những chiếc cày, nhưng không ai mua, có ý muốn trở về nhà, nên nói với người bạn:
- Tôi muốn trở về nhà một lúc !
Người bạn không tin nói:
-Đường xa cả nghìn dặm sao có thể về nhanh được?
Đáp: Một đêm tôi sẽ trở lại!
Người bạn không tin, bèn viết thư về nhà và cần thư phúc đáp với đầy đủ tin tức để làm minh chứng.
Quả thật chỉ trong một đêm Khảo Thành trở về, đồng thời có cả thư phúc đáp đầy đủ tin tức.
Huyện lệnh Khảo Thành là Giả Hòa có người chị đang lâm bệnh tại quê nhà, gấp muốn biết tin tức, nên nhờ ông đến xem. Đường xa khoảng ba nghìn dặm, nhưng hai đêm ông đã trở lại với thư báo, mọi việc đều được kể lại tường tận.
97.5.5. Đời Hán, quí nhân họ Phùng: Họ Phùng chết đã một trăm năm. Lần nọ bọn trộm đào mộ lên để trộm vàng bạc thì thấy dung mạo vẫn xinh đẹp như lúc sống, chỉ có da thịt là hơi lạnh. Bọn trộm liền gần gũi, dẫn đến ganh tị nhau, do đó bị phát hiện.
97.5.6. Đời Hán Linh đế, quan tài nổi trên sông: Niên hiệu Quang Hòa thứ nhất (178), ở thành Cô Trúc, huyện Linh Chi người dân Liêu Tây thấy trong dòng sông Liêu có một quan tài nổi lên, muốn mở ra xem. Bỗng nghe trong quan tài có tiếng người nói:
- Ta là vua nước Cô Trúc, em của Bá Di! Do nước biển làm hư áo quan của ta nên mới trôi dạt đến đây, sao các ngươi lại phá quan tài ta?
Nghe thế mọi người đều sợ không dám phá, nhân đây lập miếu thờ cúng. Từ quan đến dân, ai muốn phá quan tài để xem đều bị chết một cách vô cớ.
97.5.7. Đời Hán, đạo nhân ở Doanh Lăng, Bắc Hải: Đạo nhân có khả năng làm cho người sống và người đã chết gặp nhau. Có một người nọ sống cùng quận với đạo nhân, vợ ông ta chết đã mấy năm. Nghe đạo nhân có tài như thế liền đến gặp và thưa:
- Xin ngài hãy làm cho tôi gặp vong hồn của vợ tôi một lần, dù chết cũng không hối hận!
Đạo nhân nói:
- Được! Ông có thể gặp vợ ông, nhưng nếu nghe tiếng trống thì phải mau ra khỏi không được ở lại.
Đạo nhân đưa ra những quy định khi gặp nhau. Sau đó ông ta gặp được vong hồn vợ, cả hai tâm sự buồn vui lẫn lộn, ân tình vẫn như lúc sinh thời. Không bao lâu ông nghe tiếng trống nổi lên, lòng rất nuối tiếc không ở lại lâu hơn, nên đành phải đi ra. Lập tức cửa đóng lại, vạt áo trước của ông kẹt trong khe cửa, ông giật mạnh khiến tà áo bị đứt. Hơn một năm sau ông chết, gia đình mở nhà mồ để an táng ông, thấy dưới nắp quán tài của vợ ông có vạt áo trước của ông.
97.5.8. Đời Hán, gia đình Đỗ Hỗ: Gia đình Đỗ Hỗ có người chết, khi đưa quan tài đến khu huyệt mộ an táng, có tì nữ bị lạc không ra được. Mười mấy năm sau người nhà ông Đỗ lại mở huyệt mộ an táng tiếp thì thấy người tì nữ vẫn còn sông. Lúc đầu cô ta có vẻ tức giận, nhưng một lúc sau lần hỏi thì cô nói:
- Từng ngủ ở đây một hai đêm mà thôi. Lúc tì nữ bị lạc trong huyệt chỉ mới mười lăm tuổi, sau khi ra khỏi huyệt mộ cô lấy chồng sinh con và còn sống thêm mười lăm, mười sáu năm.
97.5.9. Đời Hán, sa-môn Đạt-đa ở Lạc Dương: Sư người Tây Vực dựng lập chùa Bồ-đề, tại làng Mộ Nghĩa. Khi ngài quật mộ để lấy gạch thì thấy một người còn sống, bèn đưa đến triều đình. Bấy giờ thái hậu cùng Hán Minh đế đang ngự tại Hoa Lâm đô đường, thấy sự việc này cho là quái dị, liền hỏi Hoàng môn lang Từ Hột:
- Từ xưa tới nay đã từng có sự việc như thế chăng?
Từ Hột đáp:
- Vào thời Ngụy có người bốc mộ cũng gặp gia nhân của Phạm Minh Hữu, rể của Hoắc Quang; người này nói về sự thay đổi triều Hán, rất phù hợp với sử sách. Cho nên hôm nay có việc này cũng chẳng gì lạ.
Thái hậu bảo Từ Hột hỏi tên họ của ông ta, đã chết bao lâu, ăn uống ở đâu?
Người ấy đáp:
- Thần họ Thôi tên Hàm, tự Tử Hồng, người An Bình, Bác Lăng, cha tên Sướng, mẹ họ Ngụy, nhà ở làng Phụ Tài, phía tây thành. Lúc mất ông mới mười lăm tuổi, đến nay đã hai mươi mươi bảy tuổi, tính ra đã nằm dưới lòng đất mười hai năm. Hàm kể thường thấy mình nằm như người say, không ăn uống, hoặc có lúc như đang du hành, có lúc như gặp thức ăn thức uống, nhưng tất đều như đang ở trong mộng, không thể phân biệt rõ.
Thái Hậu liền sai Môn hạ lục sự Trương Tuấn đến làng Phụ Tài tìm cha mẹ của Hàm, quả đúng có ông Thôi Sướng và vợ là Ngụy thị. Trương Tuấn hỏi ông Sướng:
- Ông có người con nào chết không?
Sướng đáp:
- Tôi có người con tên Tử Hồng, mất năm mười lăm tuổi.
Trương Tuấn nói:
- Nó được người ta tìm thấy, bây giờ đã sống lại, đang ở trong vườn Hoa Lâm, chúa thượng sai ta đến hỏi ông.
Nghe xong Sướng kinh sợ thưa:
-Thật ra tôi không có đứa con này, những lời vừa rồi chỉ là xàng bậy.
Trương Tuấn trở về tâu lại tường tận mọi việc với thái hậu. Thái hậu sai Trương Tuấn đưa Hàm trở
nhà. Ông Sướng nghe Hàm về đế cửa liền đốt lửa, tay câm dao, còn bà Ngụy thì cầm cây gậy đào ngăn
Hàm lại. Ông Sướng nói:
- Ngươi không được vào đây! Ta chẳng phải là cha ngươi, ngươi chẳng phải là con ta! Hãy đĩ mau thì mới được thoát họa.
Nghe vậy Hàm liền bỏ đi, lang thang khắp kinh thành, đêm đến thường ngủ dưới cổng chùa.
Nhữ Nam vương có tặng cho Hàm một chiếc áo dài màu vàng. Hàm thường sợ ban ngày, không dám nhìn lên trời; lại sợ nước, lửa và các thứ thuộc binh khí; lại thường chạy trên đường, lúc mệt thì dừng nghỉ, chứ không chịu đi chậm. Người đương thời đều gọi Hàm là quỉ.
Ở phía bắc chợ lớn của Lạc Dương có làng Phụng Chung, người trong làng này phần nhiều bán những vật dụng đám tang và các loại quan tài. Hàm nói:
- Khi làm quan tài bằng gỗ bách, chớ dùng gỗ dâu làm lớp lót bên trong.
Mọi người hỏi nguyên nhân, Hàm đáp:
- Lúc ở dưới lòng đất, tôi thấy khi phát quỉ binh, trong số đó có một con quỉ nói quan tài nó là cây bách có thể miễn làm quân. Sứ giả liền bảo:
- Quan tài ngươi tuy bằng cây bách, nhưng lại dùng cây dâu đóng lớp bên trong, do đó không được miễn.
Người dân ở kinh đô nghe vậy đều cho làm quan tài bằng gỗ bách là quí nhất. Mọi người nghi người bán quan tài muốn bán được nhiều, mới nhờ Hàm nói như thế.
97.5.10. Đời Tấn, Đường Tuân: Ông tự là Bảo Đạo, người Thượng Ngu. Vào niên hiệu Thái Nguyên thứ tám (383), ông bị bệnh nặng qua đời, trải qua một đêm thì sống lại, tự kể:
-Có người gọi tôi và dẫn đến trước một quan phủ, một lúc sau thấy chú họ của tôi từ trong thành đi ra. Thấy tôi, ông kinh ngạc hỏi:
- Sao cháu lại đến đây?
Tôi đáp:
- Mấy năm rồi cháu không gặp cô, nên muốn đến thăm, tính sáng hôm sau sẽ đi, nhưng đêm đó có mấy người gọi cháu đến đây. Bây giờ được trở về, nhưng lại không biết đường.
Người chú nói:
- Cô của cháu đã chết hai năm rồi! Con của chị cả cháu là Đạo Văn cũng bị bắt đến đây, tuy được ân xá, nhưng nó không chịu về ngay, ở lại dạo chơi. Vài ngày sau trở về thì gia đình đã tẩn liệm, nó liền lay dộng quan tài, hy vọng gia đình nghe thấy mà mở ra. Khi quan tài được đưa ra đường thì nó làm cho quan tài rơi xuống xe. Gia đình thấy thế muốn mở ra xem, nhưng hỏi thầy tướng, thầy tướng nói, nếu mở sẽ gặp điều chẳng lành. Nghe vậy gia đình không dám mở, vì thế nó không sống lại được, nay bị làm phục dịch ở đây rất cực khổ. Cháu hãy đi mau chớ ở đây lâu. Vả lại chị kế của cháu cũng đã chết, hiện nay đang cùng với cô của cháu ngày đêm chịu khổ trong địa ngục, không biết khi nào mới ra khỏi được. Cháu hãy mau trở về bảo với con của chị cháu, siêng tu tạo công đức thì chị cháu mới thoát khổ.
Nói rồi, người chú chỉ đường cho Tuân trở về lúc sắp từ biệt, chú lại dặn thêm:
- Cháu được sống lại, thật là một việc hết súc vui mừng, cuộc đời này thật ngắn ngủi, như gió thoảng; thiên đường, địa ngục, khổ vui đều có báo ứng. Lúc trước ta nghe được lời này, nay tận mắt tận chứng kiến thật rõ ràng. Cháu phải siêng năng tu tâp các việc thiện, làm người con hiếu kính, thụ trì trai giới, đừng để sai phạm. Một khi mất thân này phải chịu tội nơi địa ngục tối tăm vô cùng đau khổ, khi hối hận thì đã muộn màng. Cháu phải luôn nhớ điều này. Giòng họ nhà ta lúc sống
không tin tội phúc, để ngày nay phải chịu cực hình trong địa ngục, bị lửa thiêu đốt đau đớn không giây phút nào dừng nghỉ. Lúc này dù muốn được một ngày để bỏ ác tu thiện thì nào có được. Điều gì ta biết đều chỉ bảo cho cháu, cháu hãy khuyến hóa gia đình cùng nhau siêng năng tu thiện.
Nói xong, ông rơi lệ từ biệt ra đi. Tôi theo đường trở về, không bao lâu thì đến nhà. Trong nhà đóng hòm sắp xong, đang chuẩn bị tẩn liệm. Thần thức tôi liền nhập vào thi thể, trong chốc lát thở lại như bình thường, vài hôm sau thì lành bệnh. Sau đó, Tuân khuyên bảo thân quyến phụng trì chính pháp.
Trước đây cô của Tuân có chồng tên là Từ Hán ở Nam quận, người chị cả có chồng tên là Lạc Du ở Giang Hạ, người chị kế có chồng tên là Nghiêm Vãn ở Ngô Hưng. Vì đường xá xa xôi đã lâu không có tin tức. Sau khi lành bệnh, Tuân liền đến ba quận ấy tìm thăm, mới biết cô, chị kế và con của chị cả đều chết. Người chị cả cũng kể lại, sau khi liệm Đạo Văn thì nghe tiếng động trong quan tài, ra đến đường thì quan tài rơi xuống xe, giống như lời của người chú nói. Nghe Tuân nói Đạo Văn chết oan, người chị cả càng thêm đau khổ hối hận, để tang con thêm lần nữa.
97.5.11. Đời Tấn, sa-môn Ha-la-kiệt: Sư vốn người ở Tương Dương, xuất gia từ thuở nhỏ, tụng thông thuộc đến hai trăm vạn lời kinh. Bản tính sư trầm lặng, giới hạnh tinh nghiêm, dung mạo tuấn tú, đầy đủ oai nghi, chuyên tâm hành hạnh đầu-đà, một mình ở trong núi hoang đồng vắng.
Niên hiệu Thái Khang thứ chín (288), sư đến Lạc Dương. Bấy giờ, dịch bệnh lan tràn, người chết liên tục, nhờ sư chú nguyện và chữa trị mà mọi người đều lành bệnh.
Niên hiệu Nguyên Khang thứ nhất (291), sư vào núi Lâu Chí tọa thiền tại một thạch thất, nơi đây cách xa dòng nước, mọi người dự định khai cho sư một khe dẫn nước. Thấy vậy, sư bèn nói:
- Các vị không cần khổ sở vì tôi!
Sư bèn dùng chân trái đạp lên vách đá phía tây thất, vách đá thủng một lỗ sâu băng ngón chân cái; sư vừa nhấc chân lên thì nước phun ra. Dòng nước vừa trong thơm lại mát ngọt, chảy mãi không ngớt, những người đến uống đều hết đói khát, dứt bệnh tật.
Đến niên hiệu Nguyên Khang thứ tám (299) sư ngồi ngay thẳng thâu thần viên tịch. Đệ tử trà-tì sư theo phép tắc nước ngoài, lửa cháy nhiều ngày mà nhục thân sư vẫn còn nguyên vẹn. Mọi người thỉnh nhục thân sư về lại thất đá. Khoảng niên hiệu Hàm Hòa (326-335), Trúc Định tự An Thế người Tây Vực đến đây chiêm lễ, thấy nhục thân sư vẫn trong tư thế tọa thiền trang nghiêm. Lúc này sư đã viên tịch đã hơn ba mươi năm. Sau Trúc Định đến kinh đô kể lai việc ấy cho đạo tục biết.
97.5.12. Đời Tấn, sa-môn Trúc Pháp Tuệ: Sư người Quan Trung, tính tình ngay thẳng, có giới hạnh, vào núi Tung Cao xin làm đệ tử ngài Phù-đồ mật.
Niên hiệu Kiến Nguyên thứ nhất (343), sư đến ở chùa Dương Thúc Tử tại Tương Dương. Sư không nhận thỉnh thụ trai riêng mà hàng ngày đi khất thực, mang theo thằng sàng, hễ gặp đường vắng thì bày ra mà ngồi. Gặp lúc trời mưa, sư dùng áo choàng đề che. Khi mưa tạnh, người ta chỉ thấy thằng sàng mà không thấy sư đâu. Mọi người hỏi nhau chưa dứt lời thì sư đã xuất hiện.
Có lần sư nói với đệ tử Pháp Chiêu:
- Đời trước ông chặt chân gà, quả báo nay sắp đến rồi!
Không bao lâu, Pháp Chiêu bị người ném, đôi chân tàn tật suốt đời.
Sau đó sư nói với đệ tử:
- Ở cánh đồng kia có một ông lão sắp qua đời, ta muốn độ ông ấy!
Nói xong, sư đến bên bờ ruộng, quả thấy một ông lão đang dẫn trâu cày. Sư đi theo ông lão xin con trâu, ông lão không cho. Sư đến phía trước tự tiện xỏ mũi trâu dắt đi. Ông lão lo sợ bởi hành động lạ kỳ này bèn đưa trâu cho sư. Sư dẫn trâu đi và chú nguyện, đi được bảy bước rồi trở lại trả trâu cho ông lão. Vài ngày sau, ông lão qua đời.
về sau, Chinh tây Dữu Trĩ Cung trấn giữ Tương Dương. Người này không tin Phật pháp, nghe sư có những điều phi thường nên đem lòng đố kị. Sư nói với đệ từ:
- Nợ kiếp trước của ta đã tìm đến rồi!
Sư khuyến khích mọi người siêng năng tu tập phúc thiện.
Hai ngày sau, quả nhiên sư bị bắt và bị hành hình, thọ năm mươi tám tuổi. Lúc sắp mạng chung, sư dặn dò mọi người:
- Ba ngày sau khi ta chết, sẽ có một trận mưa lớn.
Đến kỳ, quả có một trận mưa lớn, nước ngập cửa thành sâu đến một trượng, quyến thuộc của Cung và người dân chết chìm rất nhiều.
97.5.13. Đời Tống, Tuệ Viễn: Sư ở chùa Trường Sa tại Giang Lăng. Thầy của sư là ngài Tuệ Ấn rất giỏi pháp thiền, nên mọi người xưng la Thiền sư. Sư tên là Hoàng Thiên, vốn là người hầu của ngài Tuệ Ấn. Năm ngài Tuệ Ấn hai mươi tuổi, mỗi khi nhập định đều nhớ lại việc đời trước, quán biết Hoàng Thiên chính là thầy mình, nên độ làm đệ tử ban pháp danh là Tuệ Viễn.
Sư thường tá túc tại nhà của Dương Đạo Sản ở phía tây chợ Giang Lăng, hơn một năm khổ công tu tập thiền định, nhân đây có nhiều cảm ứng. Trong ngày sư có thể đến mười mấy nơi để thụ trai. Hoặc cả ngày lẫn đêm sư vẫn ở nơi đạo tràng tụng kinh, hành thiền, mà mỗi người đều thấy sư hiện diện nơi nhà của mình. Đại chúng cho là sư đã đắc đạo, nên rất kính trọng.
Niên hiệu Hiếu Kiến thứ hai (452), một hôm sư nói thời hạn mình thị tịch. Sau đó bảo Đạo Sản:
- Tối mai ta sẽ thị tịch tại nhà ông!
Đúng ngày, Đạo Sản thiết bát quan trai, đốt đèn suốt đêm. Sư vẫn cùng với đại chúng lễ Phật và đi nhiễu như thường, không có gì khác lạ. Sau canh tư, sư nói không được khỏe, muốn nằm nghỉ, sắc diện hơi biến đổi, một lúc sau thì sư an nhiên thị tịch. Đạo tục nơi đây thiết trai cúng dường suốt hai mươi mốt ngày, xây tháp phụng thờ, tháp sư đến nay vẫn còn. Sư thị tịch một thời gian lâu, lại hiện thân đến chùa Đa Bảo nói với đạo nhân Đàm Tuân:
- Ngày hai mươi ba tháng hai sang năm, tôi và chư thiên sẽ đến đón thầy!
Nói xong liền ra đi. Nghe vậy, Đàm Tuân liền thiết trai cúng dường suốt mười chín ngày tại chùa Trường Sa, xả thân bố thí. Đúng thời hạn, Tuân cảm thấy hơi mệt, biết mình sắp thị tịch, nên thiết đại pháp hội mời tất cả đạo tục đến cúng dường. Khoảng canh ba, Tuân hỏi đại chúng:
- Các vị có thấy gì chăng?
Đại chúng đáp:
- Chúng con không thấy gì khác lạ!
Tuân nói:
- Ta nghe trong hư không có tiếng nhạc, mùi hương lạ phảng phất, thật là hợp với lời sư Tuệ Viễn, có lẽ hôm nay là đúng kì hẹn.
Lúc này chúng tăng đều trở lại thiền đường thì thấy ngài Đàm Tuân đã an nhiên thị tịch trên tòa.
97.5.14. Đời Tống, người chồng xuất hồn: Có vợ chồng gia đình nọ, đêm kia khi trời vừa sáng, người vợ thức dậy đi ra ngoài. Sau đó không lâu, người chồng cũng ra ngoài. Nhưng người vợ trở vào phòng vẫn thấy chồng vẫn còn đắp mền nằm ngủ. Một lúc sau, người giúp việc từ ngoài đi vào nói với người vợ:
- Ông chủ muốn tìm cái gương!
Người vợ cho rằng con bé giúp việc dối gạt, liền chỉ cho nó thấy chồng bà đang ngủ trên giường. Thấy vậy, nó ngạc nhiên nói:
- Rõ ràng vừa ở chỗ ông chủ đến đây mà!
Nghe vậy bà gọi chồng, ông liền hốt hoảng đi vào. Cả hai vợ chồng đều thấy người nằm trong mền gối đầu cao, ngủ say, hình dáng giống hệt chồng mình. Nghĩ đây là thần hồn của chồng, bà không dám kinh động, bèn từ từ đưa tay vỗ nhẹ vào giường, ông nhẹ nhàng nằm lên, thế là thần hồn dần dần biến mất. Nhân sự việc ấy, hai người rất lo sợ. Sau đó không lâu người chồng lâm bệnh, tâm thần hỗn loạn và qua đời.
97.5.15. Đời Tống, một nho sinh: Có một nho sinh đi học xa nhà. Một đêm nọ cha mẹ của anh ta chong đèn làm việc, thấy người con đến trước than:
- Bây giờ con chỉ là hồn phách, không phải người sống!
Cha mẹ hỏi nguyên nhân, người con thưa:
- Con mới phát bệnh đầu tháng này, hôm nay đã chết tại nhà của Nhâm Tử Thành ở Lang Da, ngày mai sẽ tẩn liệm, nên con đến đây đón cha mẹ!
Cha mẹ nói:
- Chỗ đó cách nhà ta cả nghìn dặm, dù cha mẹ muốn đến nhưng đâu kịp!
Người con nói:
- Bên ngoài đã có xe sẵn, ba mẹ cứ đi, sẽ đến kịp!
Hai ông bà theo con lên xe, có cảm giác như mình ngủ thiếp một lúc, gà gáy thì đến nơi. ông bà nhìn lại chiếc xe chở mình chính là xe hồn, ngựa gỗ. Ông bà theo chủ nhà đến bên xác con than khóc, sau đó hỏi bệnh tình của con mình, thì chủ nhà kể lại đúng như lời người con nói.
97.5.16. Đời Tùy, sa-môn Thích Huỵền Cảnh: Sư họ Thạch người Thương châu. Sư hiểu thấu lí nhiệm màu, chuyên giảng kinh Đại thừa. Có lần bị bệnh ba ngày, sư nói với thị giả:
- Ta muốn gặp Phật Di-lặc, tại sao lại làm Dạ-ma thiên chủ? Người rất đông, hãy nhìn xem!
Có người-hỏi nguyên nhân, sư đáp:
- Thức tưởng của phàm phu đâu thể biết được! Vừa rồi thiên chúng muốn đến đón ta.
Từ đó trở về sau mọi người nghe hương lạ phảng phất khắp phòng.
Một hôm, Sư nói:
- Ta sắp đi đây! Nguyện đời sau sẽ làm thiện tri thức cho các ông!
Nói xong sư an nhiên thị tịch. Lúc ấy nhằm tháng sáu niên hiệu Đại Nghiệp thứ hai (606). Sinh thời sư nguyện sau khi thị tịch hài cốt sư sẽ được thả xuống dòng sông. Khi sư thị tịch, mọi ngươi thả hài cốt sư xuống sông Tử Mạch trong xanh. Ba ngày sau mọi người đến xem thì thấy nơi ấy biến thành ngôi mộ cát rất cao, nước rẽ thành hai dòng. Đạo tục chứng kiến đều lấy làm lạ trước điềm lành này.
97.5.17. Đời Đường, cư sĩ Bùi Tắc Nam: Tằc Nam người Li Hồ, Tào châu. Ngày hăm mốt, niên hiệu Trinh Quán cuối cùng (649), ông chết. Ba ngày sau, sống lại, tự kể:
Lúc mới chết, có một người dân tôi đến gặp vua Diêm-la. Diêm vương mặc áo rất sạch đẹp, lệnh tôi phải làm trâu cày ruộng. Tôi thưa:
- Xin ngài ân xá, vì anh em tôi còn rất nhỏ, không có người phụng dưỡng song thân!
Nghe vậy Diêm vương động lòng thương xót, bèn sai sứ dẫn tôi đi về hướng nam, đến tầng cửa thứ ba. Bước vào, tôi thấy những cảnh tượng như vạc nước sôi, cho đến núi đao, rừng kiếm; lại thấy mấy nghìn người đều bị chặt đầu nằm la liệt trên đất. Những đầu người này đều than rất đói. Tôi lại thấy một bà lão cùng thôn đã bảy mươi tuổi rôi, lúc đó bà chưa chết, nhưng tôi lại thấy bà ngồi trước vạc nước sôi đun lửa. Xem xong, tôi lại trở lại gặp Diêm vương, lại gặp một người cùng thôn là Trương Thành. Bấy giờ Thành cũng chưa chết.
Có một người tố cáo với Diêm vương, Thành phá mộ của ông ta. Diêm vương sai sứ kiểm tra hư thật. Sứ giả tâu:
- Việc này là có thật.
Thành phân trần:
- Hôm đó tôi đang cày ruộng, bỗng nhiên con trâu chạy đến phá mộ ông ấy, nào phải tôi cố ý.
Diêm vương nói:
- Tuy ngươi không cố ý, chung qui là do lỗi bất cẩn.
Nói rồi, vương sai ngươi đánh vào hông Thành bảy gậy. Một lúc sau vương bảo tôi:
- Ngươi đã được vô sự, hãy mau trở về.
Sau đó, vương sai người đưa tôi trở về. Sứ giả dẫn tôi đi về hướng bắc, thì gặp một tường thành, vừa leo lên tường đã thấy nhà của mình. Tôi nghe có tiếng khóc, liền leo xuống tường thì bỗng thấy mình ngồi dậy.
Sau khi sống lại, Tắc Nam kể lại toàn bộ sự việc cho người trong làng nghe. Có người cũng xác nhận là thấy trên lưng Thành có bảy lằn roi bầm đen. Nam hỏi Thành về việc phá mộ. Thành đáp:
- Hoàn toàn đúng như vậy.
Bà lão kia không bao lâu cũng bị bệnh rồi qua đời.
97.5.18. Đời Đường, Vương Chi Hoàng: Khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-650) ông từng làm huyện lệnh Hòa Xuyên, Thấm châu. Ông có người con gái gả cho Thôi Quĩ ở Bát Lăng. Quĩ bị bệnh và chết ở Hoà Xuyên. Thôi Quĩ chết đã mấy mươi ngày, nhưng cứ nửa đêm cả nhà đều nghe tiếng Quĩ nói chuyện. Lúc đầu, cả nhà rất sợ hãi, sau đó mọi người quen dần nên bớt sợ, nghe anh ta nói:
- Tôi là rể, tuy lập linh vị ở nhà vợ là không hợp, nhưng vì quá khổ, lại không có nơi nương tựa, nên hãy lập linh vị cho tôi.
Người vợ làm theo nguyện vọng của chồng, sớm chiều đều bày cợm cúng, nhưng linh không cho bày biện thịt cá, chỉ bảo cúng cơm chay. Vong linh của chồng thường khuyên vợ lễ Phật không nên biếng nhác, đồng thời còn kể rõ những việc trong địa ngục. Ông khuyên vợ:
- Sống trong đời, khó ai tránh nghiệp sát sinh và tội bất hiếu, những tội khác đều là nhỏ. Ta tuy vô tội, nhưng rất cần phúc đức để trợ giúp. Hãy vì tôi thường thiết trai cúng dường và sao chép các bộ kinh như Pháp hoa, Kim cang, Bát-nhã, Quán Ấm V.V.. mỗi loại hai ba bộ, cộng với các công đức trước đây mới có thể thoát khổ.
Từ đây về sau ta không về nữa. Cả nhà Vương Chi Hoằng theo lời của Quĩ, chép kinh cúng dường. Sau đó Quĩ lại đến cảm tạ và chào từ biệt. Cả nhà đều khóc tiễn đưa. Khi Quĩ mất, vợ anh ta đang mang thai, đến nay đứa bé đã bốn năm tuổi. Trước khi từ biệt, anh ta nói: “Con của chúng ta sau này chắc chắn sẽ làm quan, nàng hãy khéo nuôi dưỡng nó”. Từ đó về sau Thôi Quĩ không bao giờ về nữa.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
12/01/2016
PUCL QUYỂN 100 - CHƯƠNG TRUYỆN KÍ
QUYỂN 100 Quyển này có một chương Truyện kí. 100. CHƯƠNG TRUYỆN KÍ 100.1. LỜI DẪN Từng nghe: kinh điển của chín nhà chất đầy tại Linh Khâu, sách về phép tắc trong thiên hạ chất kín ở Quần Ngọc, lại cũng có văn khắc trên...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 99 - CHƯƠNG TẠP YẾU
QUYỂN 99 Quyển này có một chương Tạp yếu. 99. CHƯƠNG TẠP YẾU 99.1. LỜI DẪN Lí thể lìa âm thanh, nhưng nhờ vào ngôn từ để biểu ý nghĩa. Ngôn từ không dấu vết, nhưng nương vào văn tự để diễn phát âm thanh. Cho nên văn tự l...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 98 - CHƯƠNG PHÁP DIỆT
QUYỂN 98 Quyển này có một chương Pháp diệt. 98. CHƯƠNG PHÁP DIỆT 98.1 LỜI DẪN Trộm nghĩ: Chính pháp tượng pháp đã qua, giáo pháp chuyển sang thời mạt. Bởi người có tà chính, nên pháp cũng có lúc suy vi. Có người nương và...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 96 - CHƯƠNG XẢ THÂN
QUYỂN 96 Quyển này có một chương Xả thân. 96. CHƯƠNG XẢ THÂN 96.1. LỜI DẪN Tính của sắc vô hình, thì xúc cũng sẽ trở về không; ba thời hư giả thì tám vi cuối cùng cũng tan hoại. Tuy có uy lực làm chuyển càn khôn, rốt cuộ...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 95 - CHƯƠNG BỆNH KHỔ
QUYỂN 95 Quyển này có một chương khổ. 95. CHƯƠNG BỆNH KHỔ 95.1. LỜI DẪN Ba cõi mênh mông, sáu đường đông đúc, tất cả các loài chúng sinh đều nhờ vào bốn đại phò trì, năm căn tạo thành hình thể. Thế nên, khi bốn đại tích...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 94 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT
QUYỂN 94 Quyển này gồm chương Uống rượu ăn thịt (tiếp theo), chương uế trược. 93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT (tt) 93.4. CẢM ỨNG 93.4.1. Đời Hán, Lạc Tử Uyên: Vào niên hiệu Hiếu Xương đời Hán, dũng sĩ Lạc Tử Uyên, người Lạc...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 93 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT
QUYỂN 93 Quyển này có một chương uống rượu ăn thịt. 93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT 93.1. LỜI DẪN Uống rượu là mở toang cánh cửa buông lung, các Đức Phật biết rõ đó là gốc khổ. Vì thế nên tránh những quán rượu, lìa bỏ những...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 92 - CHƯƠNG LỢI HẠI
QUYỂN 92 Quyển này có một chương Lợi hại. 92. CHƯƠNG LỢI HẠI 92.1. LỜI DẪN Hàm thức trong ba cõi, chúng sinh nơi bốn loài đều do sáu căn phan duyên, bảy thức tạo nghiệp mà bị lửa dục đốt thiêu, khởi lòng tham không đáy,...
