Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 99 - CHƯƠNG TẠP YẾU

11/01/2016

QUYỂN 99 Quyển này có một chương Tạp yếu. 99. CHƯƠNG TẠP YẾU 99.1. LỜI DẪN Lí thể lìa âm thanh, nhưng nhờ vào ngôn từ để biểu ý nghĩa. Ngôn từ không dấu vết, nhưng nương vào văn tự để diễn phát âm thanh. Cho nên văn tự l...

PUCL QUYỂN 99 - CHƯƠNG TẠP YẾU
Phần 1

QUYỂN 99
Quyển này có một chương Tạp yếu.
99. CHƯƠNG TẠP YẾU

99.1. LỜI DẪN
Lí thể lìa âm thanh, nhưng nhờ vào ngôn từ để biểu ý nghĩa. Ngôn từ không dấu vết, nhưng nương vào văn tự để diễn phát âm thanh. Cho nên văn tự là công cụ để diễn bày ngôn từ, ngôn từ là phương tiện để diễn đạt nghĩa lí. Âm nghĩa phù hợp, không sai lạc, nên văn tự được ứng dụng khắp nơi. Mặc dù dấu tích đầy khắp trong kinh điển, mà lí vẫn phù hợp với tâm thể. Nhưng vì kinh luận phong phú, nên khó ghi chép hết; truyện kí thì phức tạp, mỗi việc đều có rộng có lược. Sở dĩ đạo được truyền bá khắp nơi, khai thị cho hậu học, là bởi dấu tích của nhân duyên lập giáo vẫn rõ ràng đầy đủ, nguồn gốc của việc hóa độ thế gian vẫn còn nguyên vẹn. Cho nên sưu tầm nghiên cứu điều chương, tóm thâu chỗ cốt yếu để biên tập thành văn, được ghi chép đầy đủ ở các chương trước. Còn những vấn đề lặt vặt khác nhằm dẫn dắt giúp đỡ cho người, hiện tại có thể thực hành thì ghi chép sau đây. Mong sao vén được mây mờ hôn ám để ngọn đèn chính pháp rạng chiếu muôn nơi!
99.2. TỨ Y
Căn cơ đã thấp kém, lại gặp thời đại nhiễu nhương thì thật khó có niềm tin bền chắc; hạnh đã cạn đức lại mỏng thì dễ mê trí tuệ chân chính. Nên giáo pháp và căn cơ chúng sinh phải khế hợp, ngôn từ và nghĩa lí phải gồm thông. Thế nên, kinh ghi: “Tuy tụng ngàn chương kinh, nhưng không hành trì thì có ích gì!”. Nay lập chính nghĩa phải nương vào tông ý. Giáo pháp có quyền và thật, hành trì thì có kẻ ngu người trí. Cho nên thấy được mặt trăng ắt quên ngón tay, đạt ý nên quên lời, há ý đã đạt mà còn vướng mắc ư? Vì thế, kinh có trình bày tứ y, chia làm ba trường hợp:
- Nhân tứ y: tức Tứ y khai sĩ, đó là các bậc từ sơ hiền cho đến cực thánh. Tư chất con người vốn vô lậu, thể tính của pháp vốn không. Nương vào đây mà tu tập thì nhất định không bị điên đảo.
- Hạnh tứ y: mặc y phấn tảo, đi khất thực, hành hạnh đầu đà, ở nơi thanh vắng, ngồi dưới gốc cây.
- Pháp tứ y (sẽ trình bày đầy đủ ở phần dưới).
Lập ba pháp này để làm phép tắc cho chúng sinh thời mạt pháp. Niềm tin là bậc thầy của muôn hạnh, Đức Phật đã tận tình chỉ dạy, trọn không hư dối, hành trì theo giáo pháp tức là theo đường chính, chẳng lạc vào tà. Hai Tứ y trước, người đời nay không thường áp dụng, sẽ trình bày ở chương khác. Ở đây chỉ trình bày Pháp tứ y để nghiệm biết chính tà. Ngay cả vô tướng hảo Phật mà còn lầm hình tướng ma, huống gì hạng phàm phu chúng ta mà có thể không mê sao Vì thế lập Pháp y để xác định đúng sai vậy.
Pháp tứ y
1. Y theo pháp không y theo người: người là loài hữu tình, pháp là qui tắc. Chính lí thì tính không, thể lìa tức phi vọng. Tức dùng pháp này làm chỗ y cứ cho chính pháp. Kinh Niết-bàn là giáo cùng tột, chỉ dạy rất rõ pháp này, Thời nay, người hành sự thường tùy thuận tâm ý người khác mà giảng nói càn, phần nhiều bỏ pháp theo người, tức là từ người mà lập ra phép tắc, thật trái với di huấn của Phật, dìm lấp thân tâm. Nếu biết loại trừ tâm phàm, nương theo thánh giáo, tư duy tu tập, biết tội tính không, nương theo tâm này làm đường lối, thì một phần bỉết tội là thuận theo lí không, một phần là quán nhàm chán để lìa sự hữu. Thế mới gọi là đường lối chân chính để nhận ra pháp tính.
2. Y theo nghĩa không y theo ngữ: “Ngữ” là lời nói, được ví như cái nơm; “nghĩa” là lí sâu xa, cũng là đạo giáo hóa mọi loài. Sau khi đã liễu ngộ thì dứt suy nghĩ, bặt ngôn từ; chính pháp còn phải bỏ huống là phi pháp. Cho nên trong kinh có dụ “qua đến bờ sông thì bỏ thuyền bè”, Con người phần nhiều chỉ quan tâm lời nói trước mắt mà không biết lời nói dùng để diễn đạt ý nghĩa, nếu đã đạt ý thì hãy quên lời. Mặt trăng dụ cho yếu chỉ sâu xa vi diệu, cần phải biết rõ. Nay cho rằng vì hiểu nghĩa nên phải đọc lời, người chân chính tu đạo phải thường quán, thường phá; thường quán tức y vào ngôn ngữ, thường phá tức tùy thuận nghĩa lí, tức là vì lời thuận theo nghĩa lí, nên phải đọc lời. Chỉ vì tập khí kỉến chấp hư vọng từ vô thỉ quá bền chắc, cần phải tĩnh tâm quán sát tường tận mới biết lỗi này. Nếu không, cứ mãi đuổi theo âm thinh thì chẳng được gì. Hãy tự tư duy!
3. Y theo trí không y theo thức: thức hiện hành chạy theo trần cảnh vọng khởi phân biệt; mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, đam mê chẳng tỉnh, khác nào trâu dê, đồng với hạng phàm phu thấp hèn. Đức Phật dạy: “Cảnh từ tâm sinh”, bởi hạng phàm phu ngu muội, chấp cảnh ở ngoài thức, nên khó bề chỉ dẫn. Biết buông là người trí, nếu vướng mắc liền trở về phàm, trái với tâm thánh, mê mờ nguồn cội, chìm trong tam đảo. Nếu mạnh mẽ cố gắng vượt lên, niệm động liền biết, đó gọi là nương thức; biết dòng liền ngược, gọi là tùy phần trí. Gia công tu tập như thế sẽ dần được sáng tỏ. về sau, thấy trần cảnh biết chẳng phải ngoài tâm. Cảnh chẳng phải ngoài tâm mà là tướng của tự tâm, sao lại ngu mê vọng sinh thương ghét, nghĩ suy chọn lựa không dừng, khác nào trâu, dê!
Có người hỏi:
- Ngài lập luận như thế tức là trí khác ngu, tại sao đã thấu đạt mà còn gọi là thức phàm?
Đáp: Thánh trí không có ngằn mé, tích “không” hiển “đức”, há chỉ một lời liền được sáng tỏ! Ấy chỉ là hiểu lời, lại theo lời mà chấp chặt. Nên biết tâm chấp này vốn huân tập từ vô thỉ, phải trải qua ba a-tăng-kì kiếp không ngừng tu tập mới mong dứt sạch. Sữa lẫn lộn máu, không thế nói sai lời; tướng khởi phục của trí và thức, chính là chỗ này. Trong kinh nói: “Giai vị Sơ địa, chuyên thực hành bố thí, còn tất cả các độ khác thì tùy theo năng lực mà tu tập. Bậc đại thánh lập ra phép tắc là để giúp người tu học, đâu thể cho rằng vừa hiểu là đã đủ đạt đến tận cùng trí tuệ. Nếu trí mà có giới hạn thì chẳng thể gọi là cao xa thù thắng. Người thời nay, miệng tụng lí “không” nhưng tâm luôn chấp “có”, bay lên hư không thì chẳng nổi, vào trong lửa lại càng khó, đều do tâm tưởng mê lầm. về sau, nếu đã thấu đạt thì tùy tâm chuyển dụng; lúc ấy há chẳng như chim kia dạo trên hư không, luôn như tấm vải Hỏa hoán trong lửa, thật chẳng có gì lạ!
4. Y theo kinh liễu nghĩa, không y theo kinh chẳng liễu nghĩa: hai thể loại kinh này đều là lời dạy của Đức Phật. Người vào đạo, trước tiên phải hiểu rõ kinh thì mới thông suốt mọi sự, có nghi đều phải tháo gỡ. Chỉ vì căn tính chúng sinh có sâu cạn, nhanh chậm chằng đồng, nên Đức Phật đã tùy theo căn cơ để giảng nói, nhưng nếu nói theo chí đạo thì vẫn từ tự tâm. Thế nên kinh ghi:. “Tất cả các pháp khắp trong ba cõi đều từ tâm sinh”. Đây là căn cứ theo thế giới y báo mà nói về tâm. Phật dạy:
Như như và chân tế, niết-bàn và pháp giới, tất cả ý sinh thân đều chỉ từ tâm sinh.
Đây là căn cứ theo thể tính các pháp xuất thế gian mà luận về tâm. Tận cùng lẽ thật trọn đến nguồn này, tùy cơ phó cảm cũng tự về liễu nghĩa. Cho nên phải dùng pháp ước định quyền cơ.
Kinh Đại tập ghi: “Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát có pháp tứ y vô cùng tận: Y theo nghĩa không y theo ngữ, y theo trí không y theo thức, y theo kinh liễu nghĩa không y theo kinh không liễu nghĩa, y theo pháp không y theo người.
Thế nào là y theo nghĩa không y theo ngữ? Ngữ, tức phép tắc thế gian phải có ngôn từ để giảng nói; nghĩa, tức rõ pháp xuất thế vốn không có ngôn từ để diễn đạt. Ngữ, giảng nói về bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, điều phục, ủng hộ; nghĩa, thấy biết các pháp bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ đều dẫn vàọ bình đẳng. Ngữ, giảng nói về sinh tử; nghĩa, thấu rõ sinh tử vô tính. Ngữ, giảng thuyết vị niết-bàn; nghĩa, thấu rõ tính không của niết-bàn. Ngữ, nếu giảng thuyết các thừa, thì tùy thuận căn cơ mà lập; nghĩa, khéo nhận biết rõ các thừa đều nhập môn Nhất tướng trí. Ngữ, giảng nói các pháp xả; nghĩa, thấu biết tam chủng thanh tịnh. Ngữ, giảng nói thân khẩu ý thụ trì tịnh giới, công đức trang nghiêm; nghĩa, thấu biết thân khẩu ý đều không tạo tác mà có thể hộ trì tất cả tịnh giới. Ngữ, giảng nói nhẫn nhục đoạn trừ sân nhuế, cống cao ngã mạn; nghĩa, thấu rõ các pháp, chứng Vô sinh nhẫn. Ngữ, giảng nói siêng năng hành trì tất cả thiện căn; nghĩa, an trú tinh tấn không có trước sau. Ngữ, giảng nói các thiền giải thoát tam-muội, tam-ma-bạt-đề; nghĩa, thấu đạt Diệt tận định. Ngữ, nghe và ghi nhớ tất cả văn tự trí tuệ căn bản; nghĩa, thấu rõ tính trí tuệ không thể giảng nói. Ngữ, giảng nói ba mươi bảy phẩm trợ đạo; nghĩa, biết rõ tu hành các phẩm trợ đạo sẽ chứng quả vị. Ngữ, giảng nói về khổ, tập và đạo đế; nghĩa, chứng diệt đế. Ngữ, giảng nói vô minh căn bản cho đến sinh duyên lão, tử; nghĩa, thấu rõ vô minh diệt cho đến lão tử diệt. Ngữ, giảng nói pháp trợ định tuệ; nghĩa, thấu rõ Giải thoát trí. Ngữ, giảng nói tham sân si; nghĩa, thấu rõ bất thiện căn tức là giải thoát. Ngữ, giảng nói pháp chướng ngại; nghĩa, chứng đắc vô ngại giải thoát. Ngữ, giảng nói công đức vô lượng của Tam bảo; nghĩa, thấu rõ công đức Tam bảo và pháp tính li dục đồng một tướng vô vi. Ngữ, giảng nói từ phát tâm cho đến ngồi đạo tràng, tu tập công đức trang nghiêm bồ-đề; nghĩa, dùng Nhất niệm tuệ rõ biết tất cả pháp.
Xá-lợi-phất! Nói tóm lại, tám vạn bốn ngàn pháp gọi là ngữ. Thấu biết tất cả ngôn từ đều không thể giảng nói, gọi là nghĩa.
Phần 2

- Y theo trí không y theo thức là gì?
Thức là bốn thức trụ, đó là sác thức trụ, thụ thức trụ, tưởng thức trụ, hành thức trụ; trí là thấu rõ bốn thức trụ vốn không chỗ trụ. Thức, nhận biết bốn đại; đất, nước, gió, lửa. Trí, thấu rõ pháp tính bốn đại vốn không sai khác. Thức là nhãn thức trụ sắc, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý thức thì trụ vào pháp; trí, thấu rõ tính bên trong vắng lặng, bên ngoài không vận hành, biết rõ thức không có nhớ tưởng phân biệt. Thức, chuyên chấp lấy cảnh sở duyên mà tư duy phân biệt; trí, tâm không sở duyên, không nắm bắt hình tướng, không tìm cầu các pháp. Thức, hành pháp hữu vi; trí, thấu rõ không có pháp để hành, pháp tính vô vi không thể nhận biết. Thức, phân biệt tướng sinh, trụ, diệt; trí, thấu rõ không có tướng sinh, trụ, diệt.
Xá-lợi-phất! Đây gọi là y theo trí không y theo thức.
- Y theo kinh liễu nghĩa, không y theo kinh không liễu nghĩa là thế nào?
Kinh không liễu nghĩa nói về phân biệt tu đạo; kinh liễu nghĩa không nói về phân biệt quả vị. “Không liễu nghĩa” tin có quả báo từ những nghiệp mình đã tạo; “liễu nghĩa” đoạn tận mọi phiền não. “Không liễu nghĩa” quở trách phiền não; “kinh liễu nghĩa” khen ngợi pháp thiện. “Không liễu nghĩa” giảng thuyết về khổ não sinh tử; “kinh liễu nghĩa” giảng nói sinh tử, niết-bàn là một tướng chẳng phải hai. “Kinh không liễu nghĩa” nói về các ngôn từ trang nghiêm; “kinh liễu nghĩa” giảng nói kinh điển rộng sâu, khó trì thụ, khó thấu suốt. “Kinh không liễu nghĩa” phần nhiều vì chúng sinh giảng nói tội phúc, khiến người nghe sinh tâm vui mừng; “kinh liễu nghĩa” giảng nói những pháp giúp người nghe điều phục thân tâm. “Kinh không liễu nghĩa” giảng ;nói ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả..., vốn không có người cho và người nhận nhưng vì người mà lại giảng nói có cho và nhận; “kinh liễu nghĩa” nói không, vô tướng, vô nguyện, vô tác, không ngã, nhân, chúng sinh, người tạo tác và người lãnh thụ, giảng nói vô lượng các pháp giải thoát.
- Thế nào gọi là y theo pháp không y theo người?
Người, tức chấp trước nhân kiến, có người làm, có người nhận; pháp, thấu rõ không có nhân kiến, không có người tạo tác, không cò người nhận. Người, tức người thiện thế gian, người hiền thiện, hàng tín hành, hàng Bát nhân địa, người đạt bốn quả vị Thanh văn, Bích-chi phật và bồ-tát; mỗi một người xuất hiện ở đời đều đem lại lợi ích an vui cho nhiều người. Đức Phật khởi tâm đại bi thương xót thế gian, giúp trời người được nhiều lợi ích. Đó gọi là chư Phật y theo thế đế, vì giáo hóa chúng sinh nên mới nói như thế. Nếu chúng sinh nào chấp chặt thấy biết như thế thì goị là “y theo người”. Như Lai vì muốn giáo hóa những người chấp chặt Nhân kiến nên mới dạy chúng ta “y theo pháp không y theo người”. Tất cả các pháp đều bình đẳng, không sai biệt, giống như hư không. Nếu có pháp nào nương vào pháp tính này thì trọn không lìa pháp nhất tướng, đồng nhất pháp tính. Nên nói "y theo pháp không y theo người”.
Xá-lợi-phất! Đây gọi là bốn pháp y không cùng tận của bồ-tát ma-ha-tát.
99.3. BỐN QUẢ
1. Tư-đà-hàm: Kinh Tu hành đạo địa ghi: “Người tu hành chứng Sơ quả, tuy thấu rõ năm dục đều là vô thường nhưng không thể trừ diệt. Vì sao? Vì thấy sắc, thanh, hương, vị, tế hoạt liền khởi ái dục, nên chưa thể đoạn trừ. Thí như có vị Phạm chí đã được thanh tịnh tự vui, sau khi đến một nhà đàn việt trở về, thấy ngón tay bị dơ, bèn nói với thợ làm vàng:
- Ngón tay tôi dơ, nhờ ông lấy lửa đốt cháy!
Thợ vàng khuyên can:
- Ông đừng làm như vậy, có cách khác tẩy sạch vết nhơ này! Như dùng tro đất để xóa hoặc dùng nước rửa sạch là được. Nếu tôi đôt cháy ngón tay thì ông cũng không chịu đựng nổi, lửa dữ chạm vào thân thì đau đớn càng nhiều hơn trước.
Nghe vậy, Phạm chí rất tức giận, mắng thợ vàng:
- Ông chớ lấy bụng ta suy bụng người. Mình không chịu nổi, nên cho rằng người khác cũng không chịu nổi. Tôi đã lìa tham dục, vì ngón tay bẩn này mà không dám ra đường, sợ người khác chạm vào tôi. Nếu tôi vô tình chạm họ thì mất hết đạo đức của tôi. Tôi thông suốt các thuật, thiên văn địa lí và tất cả sách vở trong thế gian, cớ sao vì chất bất tịnh dính vào năm ngón tay mà chẳng được trụ lâu? Ông hãy làm theo lời tôi, sẽ trừ được sự nhơ bẩn của ngón tay này!
Nghe thế, thợ vàng liền nung cái kiềm đến đỏ rực, rồi áp lên ngón tay đó. Phạm chí bị đốt đau không chịu đựng nổi, liền ngậm ngón tay vào miệng. Thấy thế, thợ làm vàng cười lớn, nói với ông ấy như nói với một thiếu niên:
- Ông tự khen mình thông minh học rộng, thấu suốt cổ kim, thông đạt mọi việc, thanh tịnh không tì vết, nhưng lại không chịu đựng nổi, đã ngậm ngón tay bẩn trong miệng. Nên biết, ông còn vội vàng lắm, chưa làm thầy được đâu!
Phạm chí nói:
- Lúc chưa đau, tôi thấy ngón tay này nhơ bẩn, nhưng khi bị lửa đốt thì quên mất!
Người cầu đạo cũng thế, suốt đời tu tập mong lìa ái dục, nhưng vừa thấy săc đẹp liền khởi lòng dâm. Vì sao? Vì chưa chế ngự được các căn, chưa trừ các lậu chưa diệt tà căn, chưa phát chính định, chưa đoạn nghiệp ái, nên dục nhiễm vẫn còn sinh khởi.
Có bài kệ:
Vừa thấy sắc dục mong thân cận
Tuy đã thấu nghĩa, đạt đạo tích
Đầu đội hoa tưởng, lại nghe hương
Sông chảy ra biển, dục cũng thế.
2. Tư-đà-hàm: Người được quả vị này tự nghĩ: “Ta không nên quen gần dâm dục như những kẻ phàm phu khác”, nên cho tình dục là ô uế, ưa thích sống đời vô dục, đêm ngày tu tập quán chiếu bất tịnh. Nhờ vậy, dâm, nộ, si cạn mỏng, đạt đạo Vãng lai, một lần trở lại thế gian đoạn trừ căn nguyên khổ não. Ở quả vị thứ hai này, các ái dục vẫn chưa hoàn toàn thanh tịnh, dâm, nộ, si chỉ mới cạn mỏng, chưa được đoạn tận, nên vẫn còn khổ não. Thí như anh thanh niên nọ có cô vợ rất xinh đẹp, dung nhan không mảy may khiếm khuyết, đeo các chuỗi báu, nên anh ta vô cùng yêu mến. Tuy có nhan sắc, nhưng cô ta là dâm quỉ, chỉ biết ăn thịt uống máu người. Có người mách với chồng cô:
- Vợ anh là la-sát ăn thịt, uống máu người!
Người chồng không tin, nhưng khi nghe rất nhiều người đều nói như vậy bèn nghi ngờ, muốn thử xem thực hư thê nào. Đêm ây, anh ta giả vờ nằm ngáy như đã ngủ, vợ cho rằng chồng mình đã ngủ say nên lén ra khỏi thành, tìm đến một nghĩa địa. Người chồng âm thầm theo sau, thấy vợ cởi y phục và đồ trang sức để qua một bên, gương mặt biến thành hung ác, răng dài ra, đầu cháy rực, mắt đỏ như lửa rất đáng sợ. Cô ta tiến đến gần tử thi, đưa tay xé thịt bỏ vào miệng nhai. Thấy thế, người chồng mới tin vợ mình chính là quỉ, liền vội vàng trở về nhà giả vờ nằm ngủ. Ăn xong, cô vợ trở về và lên giường chồng mình nằm ngủ như trước. Người chồng đã biết vợ là quỉ, nhưng khi thấy vợ đeo chuỗi báu và dung mạo xinh đẹp nên lại gần gũi. Nếu nghĩ đến việc cô ta ăn thịt người chết ở ngoài nghĩa địa thì người chồng nhàm chán và sợ hãi, thế nhưng khi thấy vợ đẹp thì lại khởi lòng dục như trước.
Cũng vậy, người đắc quả Tư-đà-hàm vừa thấy người có ngoại hình xinh đẹp đoan chính thì lòng dục lại khởi, nhưng nếu cho đó là nhơ uế bất tịnh thì lòng dục liền dứt. Nên có bài kệ:
Biến hóa thân người như cởi giáp
Thành loài la-sát đến bên mồ
Thích thịt tử thỉ như cơm nước
Người chồng mới biết là quỉ dâm.
3. A-na-hàm: Người chứng quả vị này không còn trở lại thế gian, thấy người chứng Vãng hoàn trên, bèn tự tư duy: “Trong cõi Dục, ba kết sử của ta đã cạn mỏng, những thứ dục nhiễm khác còn ít, phải nên quán chiếu thánh đế, thấu rõ lầm lỗi của ái dục vui ít khổ nhiều, không nên quen theo dục như phàm phu, lòng nặng ái dục, khác nào con nhặng bám thây chết, sao ta không trừ diệt?” Vậy nên, người này đoan tận dâm, nộ, si, chứng Tận lậu thiên, được an ổn. Thí như có người ở vùng nắng gay gắt, không thể chịu đựng sự nóng bức, bèn tìm quạt để quạt, tìm nước để tắm gội. Quả vị Vãng lai cũng như vậy, thấy dâm, nộ, si như nhìn thấy sự nóng bức, không muốn lao vào, vì vậy mà tu quán bất tịnh, để thoát li sắc dục và các nộ si; thấy rõ chỗ khởi diệt của năm ấm, khi năm ấm diệt tận, tức an trú trong Diệt tận định. Nhờ thấy biết như thế, liền đoạn trừ được ngũ kết, không còn ấm cái, chứng quả Bất hoàn.
Người đắc A-na-hàm không còn trở lại thế gian, vì đã đoạn trừ ái dục, không còn các si. Họa dâm dục đã trừ diệt, thì thụ hưởng được sự mát mẻ, không còn nóng bức. Nếu thấy sắc dục mà biết quán bất tịnh, sẽ thấu rố được sự nhơ uế. Thí như có đoàn khách buôn từ phương xa vừa đến một thành nọ thì trời đã khuya. Đúng ngày

Phần 3

hai mươi chín, trời không trăng, tối đen như mực, ai nấy đều rất mệt mỏi, nhưng cửa thành lại đóng kín không vào được. Bấy giờ, họ đi vòng qua phía nam thành, thấy có một ao nước lớn do nước mưa đọng lại. Trong ao có gà, chó và đủ loại côn trùng; có con còn sống, có con đã chết, có con chìm, có con nổi, nhiều đến trăm ngàn vạn ức. Những con còn sống thì tung tăng vui đùa; lại có cả các thứ ô uế đưa từ trong thành ra, ngay đến lông tóc, phẩn tiểu v.v... cũng thải vào ao nước ấy. Khách buôn từ xa mới đến, chưa biết rõ điều này, vì quá mệt nhọc và đói khát nên đã múc nước dưới ao uống thỏa thích, lại cởi áo tắm gội để trừ nóng bức. Nhờ vậy, họ hết mệt nhọc và an ổn ngủ. Đến sáng, họ thức dậy, đi đến bên ao nước mình đã sử dụng tối qua, thấy ao nước vô cùng nhơ bẩn, họ vô cùng kinh hãi, người thì bỏ chạy, người thì bịt mắt, người thì bịt mũi, người thì nôn mửa v.v...
Có bài kệ:
Như ao nước bên thành
Chứa đủ thứ nhơ bẩn,
Gặp lúc thành đóng cửa
Mọi người đến bên ao.
Mới đến nên không biết
Quá khát bèn múc uống
Và tắm gội cho mát
Hết mệt, ngủ an ổn.
Trời sáng đến bên ao
Thấy nước quá nhơ bẩn,
Ai nấy đều ghê tởm
Đều muốn nôn mửa ra.
Người chứng quả thứ ba
Thấy dục lạc chẳng an,
Nhập thiền định quán chiếu
Dục như ao nước nhơ.
Người chứng quả A-na-hàm an vui trong thiền định, không còn ái dục. Như những khách buôn chán ghét ao nước bất tịnh kia, hoặc như đứa trẻ mê chơi đùa trên đất cát nhơ bẩn, nhưng đến tuồi trưởng thành thì chúng từ bỏ những trò vui trước đây đe vui với niềm vui khác, rồi đến lúc già lại từ bỏ trò vui trước để an vui trong Phật pháp. Người chứng quả A-na-hàm cũng vậy, thấy niềm vui trong năm đường sinh tử giống như trò vui của trẻ con, nên càng tinh tiến tu tập, mong cầu thoát li sinh tử.
Có bài kệ:
Thí như đứa trẻ con
Chơi đùa trên đất bẩn
Đến khi tuổi trưởng thành
Chuyển sang trò vui khác.
Người tu hành cũng vậy,
Cầu thoát khỏi ba cõi
Nên quyết tâm tinh tấn
Thành tựu được Tứ đạo.
4. A-la-hán vô học: Hành giả ở quả vị hữu học, không thích sinh tử, không có niềm vui, chẳng màng tam giới, đoạn trừ tất cả kết sử, dứt sạch ba độc; tâm chuyên niệm năm căn, năm lực và thất giác chi, thấy diệt là tịch và cho đây là thường định. Thí như vua thả con voi say, có ngà voi sác bén đáng sợ, voi húc nhầm ai thì người ấy chết; như loài rồng độc thường nhả khí độc, trúng ai thì người ấy mất mạng; như rắn hổ mang hung dữ, thấy người liền cắn. Ba độc tham sân si của con người cũng thế, khi đã phát khởi thì chuốc họa đọa ba đường ác, chỉ cố thập lực, giác ý, giải thoát mới có thể đoạn trừ. Hành giả tu tập tự nhớ nghĩ: “Nay ta đã thành tựu quả A-la-hán, không còn chấp trước, các lậu đã sạch, Phạm hạnh thanh tịnh, những việc cần làm đã làm, buông bỏ gánh nặng, đã được tự lợi, sinh tử đã đoạn, được trí tuệ bình đẳng, thành tựu vô học pháp, không còn phân biệt đây kia”.
Có bài kệ:
Như vua thả voi say
Ngà bén lại hung dữ
Các rồng rắn ngậm độc;
Ai gặp đều mất mạng.
Giáo hóa khiến điều phục
Lại thêm khéo nhiếp tâm
Các họa mới được trừ
Không lo sợ ba cõi.
Tu hành trụ học địa
Bất động, thành thánh đạo
Khi đã được tự lợi
Thoát khổ thường an lạc.
Đoạn tuyệt cả ngũ phẩm
Thành tựu đủ lục thông
Trừ sạch các trần lao
Như nước tẩy áo bẩn.
Đó gọi là chính sĩ
Vâng làm theo lời Phật
Rốt ráo không phiền não
Xứng là bậc vô học.
99.4. TỨ THỰC
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Bấy giờ Thế Tôn nói với các tì-kheo: ‘Có bốn loại thức ăn nuôi lớn mạng chúng sinh:
- Đoàn thực: thức ăn của người thế gian, tức là những thức ăn có thể cha vào miệng. Đoàn thực được chia làm hai loại là thô và tế.
- Cánh lạc thực: các thứ mà thân xúc chạm sẽ sinh niềm hỉ lạc, như y phục, dù lọng, hương hoa, lò sưởi, dầu thơm và thân cận phụ nữ...
- Niệm thực: những điều được nhớ nghĩ, tư tưởng, tư duy trong ý thức, rồi hoặc từ miệng nói ra, hoặc thân xúc chạm và các pháp được nắm giữ.
- Thức thực: những nhận biết của ý thức. Trên từ cõi Phạm thiên cho đến cõi Hữu tưởng, Vô tưởng đều lấy “thức” làm thức ăn.
Chúng sinh do bốn loại thức ăn này mà lưu chuyển mãi trong sinh tử”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Đức Thế Tôn dạy tôn giả A-na-luật:
- Tất cả các pháp đều nhờ ăn mà được tồn tại. Mắt lấy ngủ nghỉ làm thức ăn, tai lấy âm thanh làm thức ăn, mũi lấy mùi hương làm thức ăn, lưỡi lấy vị làm thức ăn, thân lấy xúc chạm làm thức ăn, ý lấy pháp làm thức ăn, cho đến niết-bàn lấy không phóng dật làm thức ăn.
Đức Phật lại dạy các tì-kheo pháp vi diệu như sau: “Xét kĩ, thức ăn có chín loại: bốn loại thức ăn thế gian và năm loại thức ăn xuất thế gian.
- Bốn loại thức ăn thế gian: đoàn thực, cánh lạc thực, niệm thực, thức thực.
- Năm loại thức ăn xuất thế: thiền thực, nguyện thực, niệm thực, bát giải thoát thực, hỉ thực.
Các tì-kheo phải luôn nghĩ nhớ từ bỏ bốn loại thức ăn thế gian, cầu thành tựu năm loại thức ăn xuất thế”.
Kinh Chính pháp niệm lại ghi: “Nếu chúng sinh nào có tín tâm, từ bi bố thí nhiều loại thức ăn cho người khác, sau khi qua đời sẽ được sinh về cõi trời Chất-đa-la, hưởng thụ nhiều niềm vui. Sau khi mạng chung ở cõi trời, sẽ tái sinh làm người giàu có, thường thực hành chính pháp”.

Phần 4

Kinh Chính pháp niệm ghi: “Nếu có chúng sinh nào thấy người bệnh, bố thí thuốc men chữa trị lành bệnh cho họ, sau khi qua đời sẽ được sinh về cõi trời Dục, hưởng thụ năm thứ dục lạc; ở cõi trời mạng chung sẽ tái sinh làm người giàu có. Nếu chúng sinh nào bố thí nước đường phèn, nước lạnh cho người bị khát nước sắp chết, thì sau khi qua đời sẽ được sinh về cõi trời Thanh Lương, hưởng thụ nhiều khoái lạc, ở cõi trời mạng chung sẽ tái sinh làm người, sẽ không bị nạn đói khát”.
Luật Ngữ phần ghi:“Người nấu, muốn nếm thức ăn mặn hay lạt, sống hoặc chín thì cho phép để thức ăn trong lòng bàn tay rồi dùng lưỡi nếm” (Theo kinh Trai pháp, thì không cho nếm thức ăn vì sợ khởi tâm tham mà phạm tội).
99.5. HỘ TỊNH
Luật Thập tụng ghi: “Súc miệng như thế nào?
Đức Phật dạy:
- Ngậm nước vào miệng đảo ba lần”.
Luật Tăng-kì ghi: “Đức Thế Tôn thuyết pháp trong pháp hội lớn, có một tì-kheo bị hôi miệng, ngồi ở dưới gió. Phật biết mà vẫn cố hỏi:
- Tì-kheo đó sao lại ngồi một mình?
- Bạch Thế Tôn! Vì Thế Tôn chế giới không cho dùng cây chà răng, vì thế miệng hôi, sợ ảnh hưởng đến người khác, nên con phải ngồi dưới gió.
Đức Phật dạy:
- Từ nay cho phép dùng cây chà răng, dài nhất là mười sáu lóng tay, ngắn nhất bốn lóng tay. Khi chà phải rửa tay sạch và ở chỗ vắng vẻ. Chà xong phải rửa cây chà rồi mới được bỏ. Không được nuốt nước chà răng. Nếu tì-kheo bị bệnh, thầy thuốc bảo phái nuốt thì cho phép. Nếu người không có răng thì dùng tro, muối, đất, gạch, gừng, cỏ, cây làm cho sạch miệng rồi mới ăn.
Khi ăn muốn rót nước, trước hết phải rửa tay, rửa bát, sau mới rót. Nếu tay bẩn thì phải dùng lá lót bát. Khi uống, không được ngậm miệng vào bát, không được để cho bát chạm vào trán, phải tựa môi vào uống, không được uống hết, phải chừa lại một ít nước để súc miệng rồi nhổ đi. Người rót nước phải khéo giữ bát nước cho sạch. Nếu thấy vành bát đã bị ngậm rồỉ hoặc đã đụng vào trán, thì phải để riêng một chỗ, lấy cỏ làm dấu để cho người khác biết là bát nước không sạch. Nếu rót nước phi thời thì cách thức cũng giống như trên”.
Luật Tăng-kì ghi: “Tì-kheo sáng sớm thức dậy phải rửa tay sạch sẽ, không được rửa qua loa, nên rửa năm đầu ngón tay trước, không được rừa tới nách mà chỉ rửa từ cổ tay trở xuống, không được rửa một cách vội vàng, không nên chà xát quá mạnh, khiến chảy máu. Nên dùng đá, cỏ hoặc tro mà rửa. Nếu dùng tro hoặc xà phòng thì phải kỳ cho ra tiếng. Sau khi đã rửa tay sạch, nếu hai tay lại chà xát nhau, thì trở thành bất tịnh, phải rửa lại. Tì-kheo trước bữa ăn phải giữ tay cho sạch. Nếu gãi đầu hoặc cầm y V.V.. thì phải rửa tay lại (Tì-kheo mà còn như vậy thì cư sĩ cũng phải làm như vậy). Khi tụng kinh, thụ trai cũng vậy, tay sạch mà vẫn làm như thế huống gì tay thường hay giết hại chúng sinh, ăn uống máu thịt, thân miệng hôi hám, buông lung mà truyền pháp, tâm chẳng được thanh tịnh!”.
Luật Tứ phần ghi: “Bấy giờ các tì-kheo sợ trong phòng có mùi hôi. Đức Phật dạy: “Nên rưới nước quét dọn, nếu còn hôi thì trét bùn thơm. Nếu vẫn còn hôi thì treo hương thơm ở bốn góc phòng”.
Luật Thập tụng ghi: “Bấy giờ có tì-kheo không chịu chà răng, nên miệng hôi, đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
- Cho phép tì-kheo chà răng. Vì chà răng có năm điều lợi ích: Miệng không đắng, miệng không hôi, trừ bệnh phong, trừ bệnh nhiệt, trừ đàm.
Lại có năm điều lợi ích: Trừ bệnh phong, trừ nhiệt, phân biệt được các vị, ăn ngon miệng, mắt sáng.
Luật Tứ phần ghi: “Không chà răng có năm lỗi: Miệng hôi, không phân biệt được mùi vị, bệnh nóng sốt không giảm, ăn không ngon miệng, mắt không sáng.
Luật Ngũ phần ghi: “Chà răng xong thì phải rửa cho sạch cây chà rồi mới bỏ, vì sợ trùng ăn vào sẽ chết”.
Tam thiên oai nghi ghi: “Có năm điều cần phải biết khi sử dụng cây chà răng: Đúng kích thước, đập nát đầu chà đúng như pháp, đầu chà không quá ba phân; răng thưa, nên chà trong kẽ ba lần; nên dùng các loại nước tro, nước táo đậu để chà răng.
Nạo lưỡi có năm việc: Không được nạo quá ba lần, trên lưỡi chảy máu thì phải ngừng; không vung tay, khiến vấy bẩn Tăng-già-lê và chân; không được bỏ cây nạo lưỡi nơi đường đi; phải bỏ ở chỗ khuất”.
99.6. HÔ CHUÔNG
Kinh Phó pháp tạng ghi: “Bấy giờ có vua Kế-ni-trá tham lam, bạo ngược, vô đạo, thường đem quân đi chinh phạt các nước, bắt dân chúng sai dịch khổ sở mà không biết dừng. Nhà vua muốn thống nhất thiên hạ, nên đem quân đóng ngoài biên ải, khiến cho thân thích bị chia lìa, nỗi khổ ấy không biết khi nào mới hết. Do đó, quan dân đồng tâm trừ diệt vị vua này đề được an vui. Nhân lúc nhà vua bị bệnh nặng, họ liền lấy mền trùm vua lại, rồi ngồi đè lên, lát sau vua tắt thở. Nhờ lúc trước vua đã từng nghe tì-kheo Mã Minh thuyết pháp, nên tái sinh vào trong biển lớn làm thân cá nghìn đầu. Cá này luôn bị vòng kiếm chém đứt đầu, đứt rồi lại mọc ra, rồi lại bị chém đứt, phải chịu vô số lần sinh ra rồi bị chém như thế, trong bỗng chốc thì đầu đầy cả biển lớn.
Một hôm, cá thưa với một vị a-la-hán duy-na trong chùa:
- Con nghe tiếng kiền chùy thì vòng kiếm chém con liền dừng lại, ngay lúc đó nỗi khổ tạm ngừng. Cúi mong đại đức rủ lòng thương xót, nếu đánh kiền chùy thì ngài hãy đánh cho thật dài.
Vị a-la-hán từ bi, nên đã đánh kiền chùy rất dàị trải qua bảy ngày cá liền thoát khỏi tội khổ. Do vị vua này, mà cách đánh kiền chùy thật dài của chùa này truyền cho đến ngày nay”.
* Lời bàn
Theo ý kinh, đánh chuông để cứu khổ chúng sinh, lại còn dùng để nhóm họp chúng tăng. Vị duy-na đánh chuông, chắp tay trang nghiêm phắt nguyện lợi ích chúng sinh. Chúng sinh nhờ nghe tiếng chuông liền nghĩ nhớ đến điều thiện, dứt hết các khổ đau.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Lúc đánh chuông, nên nguyện cho tất cả những đau khổ trong đường ác đều dứt. Nếu nghe tiếng chuông và bài kệ thì trừ được tội nặng sinh tử trong năm trăm ức kiếp.
Diệt trừ sức ma oán,
Dứt sạch mọi não phiền,
Đất trống đánh kiền chùy',
Tì-kheo nghe, vân tập.
Người được nghe pháp này,
Vượt qua biển sinh tử,
Nghe âm vi diệu này,
Hãy mau đến nhóm họp
Kinh Tạp thí dụ có bài kệ:
Nghe chuông, nằm không dậy,
Hộ pháp thiện thần giận,
Hiện đời phúc bảo mỏng,
Đời sau đọa làm rắn.
Ngay lúc nghe tiếng chuông,
Đang nằm phải ngồi dậy,
Chắp tay khởi tâm lành,
Hiền thánh đều hoan hỷ.
Hồng chung vang vọng khắp muôn nơi,
Thức tỉnh chúng sinh thoát cõi đời,
Sinh tử đêm dài bao tội khổ,
Nghe chuông phiền não thảy đều vơi.
Sáu thức mê mờ vô cùng khổ,
Vô minh che lấp vạn mê đồ,
Đêm ngày nghe chuông bừng giác ngộ,

Phần 5

Lòng vui cõi tịnh đắc thần thông.
Tuyên luật sư trụ trì cảm ứng kí ghi: “Trong viện Giới Luật ở Kì-hoàn có chiếc chuông đồng, nặng ba mươi vạn cân, do Tứ thiên vương đúc, dùng để triệu tập thánh chúng trong tam thiên thế giới. Ngài Mục-kiền-liên dùng sức thần thông đánh vào, tiếng chuông vang vọng, khắp nơi đều nghe. Đài chuông cao bảy trượng, hình dáng giống như chuông đất Ngô, bốn mặt có khắc rất nhiều hình tượng mặt trời, mặt trăng, sao, núi, sông, biển cả và hình cân thước, đấu hộc. Ngài Mục-kiền-liên đánh chuông, tùy theo sự việc mà âm thanh báo hiệu khác nhau, người nghe có thể nhận biết được. Phàm tăng đánh chuông thì chỉ nghe tiếng vang vọng mà thôi.
Trong viện Giới Tràng cũng có một chỉếc chuông lớn bằng vàng, đài cao bốn trăm thước, nặng mười vạn cân, hình dáng như cái cốc, trên có nghìn hình tượng Chuyển luân vương và nghìn hình thiên tử, lại có chín rồng phun nước tám đặc tính, tất cả các tướng đều rất trang nghiêm. Chiếc chuông này có từ thời kiếp sơ, do Chuyển luân vương đúc. Khi thánh nhân thụ giới, chúng tăng cử người chứng thần thông đánh chuông, âm thanh chấn động khắp tam thiên thế giới, tất cả thánh nhân nghe được đều chứng quả, chúng sinh trong địa ngục nghe liền biết được túc mạng.
Trong viện Luận Sư ở Kì-hoàn, cũng có một chiếc chuông đồng giống như cái trống cơm, do càn-thát-bà vương đúc, trên chuông có hình tượng Phạm vương, Đế Thích, ma vương, Tứ thiên vương, bát bộ và cạc nam tử. Nếu có ngoại đạo hay kẻ dị học nào đến tranh luận thì đại chúng cử một vị a-la-hán đắc thần thông đánh chuông, âm thinh chấn động đến ba ngàn thế giới. Khi muốn đối luận mà nghe tiếng chuông này, các căn của ngoại đạo ấy trở nên đần độn, không dám lên tiếng. Nếu người thành tâm muốn học đạo, khi nghe tiếng chuông này liền khai phát tâm bồ-đề, được quả Bất thoái chuyển.
Trong viện Tu-đa-la cũng có một quả chuông đá, hình dạng giống như quả chuông đất Ngô, xanh như ngọc bích, có thể chứa đựng đến mười hộc. Trên chóp chuông có hình tượng cõi trời Tam Thập Tam, bốn mặt đều có khảm vàng bạc lấp lánh, hai mặt đông tây đều có khảm viên đại bảo châu chìm vào bên trong, lớn bằng năm thăng, tám góc phóng ra những tia sáng như đóa hoa. Quanh chuông có hình tượng mới thành đạo của mười phương chư Phật. Khi mặt trời vừa ló dạng, trên chuông xuất hiện các Hóa Phật thuyết giảng mười hai thể loại kinh. Đồng nam đồng nữ ở thành Xá-vệ đến đây nghe pháp đều chứng thánh, kẻ còn tham dục thì không được nghe. Đại tướng Ma-ni cầm chày kim cang đánh chuông, âm thanh chấn động, vang khắp trăm ức thế giới, bảo châu ma-ni phát ánh sáng chiếu khắp muôn phương, trong đó có trăm ngàn Phật Thích-ca thuyết giảng Tu-đa-la.
Chiếc chuông này do Phật Câu-lâu-tần tạo, sau khi Ngài diệt độ, long vương Sa-kiệt mang về cung của mình. Mãi đến thời Đức Phật Thích-ca xuất thế, long vương mới mang trả lại. Khi Phật sắp diệt độ, từ chuông phát ra tiếng: “Ba tháng sau Thích-ca Như Lai sẽ nhập niết-bàn”, hình chư thiên khắc trên chóp chuông đều rơi lệ. Về sau, long vương lại đến mang chuông về long cung.
Trước phòng của tôn giả A-nan cũng có chiếc chuông đồng, dung tích khoảng năm thăng, bốn mặt chuông đều dát vàng có khắc lời giáo huấn đệ tử của Phật quá khứ. Trên chóp chuông có hình chín rồng được làm bằng vàng ròng, trên lưng có hình tượng các vị trời đang đứng. Khi chuông được đánh lên, âm thanh chấn động ba ngàn thế giới; trong âm vang có lời pháp các Đức Phật chỉ dạy chúng đệ tử. Chuông này do Phạm thiên vương đúc. Sau khi Đức Phật Thích-ca diệt độ, long vương Sa-kiệt cũng mang về long cung”.
99.7. NHẬP CHÚNG
Luật Tứ phần ghi: “Tì-kheo muốn nhập chúng, phải đủ năm pháp:
1- Có tâm từ.
2- Phải khiêm hạ, xem mình như khăn lau bụi.
3- Phải biết phép tắc ngồi đứng. Nếu thấy thượng tọa đến thì phải đứng dậy, còn thấy hạ tọa thì được ngồi yên
4- Vào trong tăng, không được nói chuyện tạp và bàn luận đến việc thế sự. Nên tự mình nói pháp hay thỉnh người nói pháp.
5- Nếu thấy trong tăng có việc không đúng, tâm không an nhẫn thì cũng nên im lặng ngồi đó”.
Luận Đại trí độ ghi: “Đệ tử của Phật sống hòa hợp, cần phải thực hiện hai pháp: nói như hiền thánh, im lặng như hiền thánh”.
(Ngày nay, thường thấy nơi trai hội, những kẻ hậu học đến trước chiếm chỗ ngồi sang trọng, khi nhìn thấy thượng tọa, giáo thụ đến mà không đứng dậy đón tiếp, không nhường chỗ ngồi. Nguyên nhân làm cho chính pháp suy đồi, quả thật là do tăng trẻ, họ đến nhà quyền quí, hoặc đến đám tang, đám giỗ, kẻ tăng người tục mặc tình buông lung cười nói, gây huyên náo cả đại chúng, khiến cho người thế gian chê bai luôn cả đến các vị tăng đạo hạnh).
Kinh Tam thiên oai nghi ghi:
Khi lên giường phải thực hiện đúng bảy việc:
1- Khoan thai ngồi lên giường.
2- Không được bò trên giường.
3- Không được khua động mạnh làm giường phát ra tiếng.
4- Không được lau quét mạnh làm giường phát ra tiếng.
5- Không được than thở, suy nghĩ việc thế tục.
6- Không được nằm chung nhiều người.
7- Nên tùy theo khí hậu từng mùa mà dậy sớm.
Luận Địa trì ghi: “Bồ-tát nhìn thấy chúng sinh thì phải hỏi thăm. Trước khi nói, đung mạo phải vui vẻ, sắc diện hài hòa, nhìn thẳng, giữ chính niệm. Nếu bồ-tát biết chúng sinh kia có công đức, nhưng hiềm giận họ, nên không nói cho người khác biết, cũng không ca ngợi, nếu có người khen thì cũng không nói là ‘rất tốt’, thì phạm Chúng đa phạm. Lỗi này từ tâm nhiễm ô sinh khởi”.
Nhiếp luận ghi: “Bồ-tát nhìn thấy chúng sinh, trước hết phải có thái độ vui vẻ, rồi mới nói chuyện”.
Luật Ngũ phần ghi: “Người không có tâm nhẫn nhục sẽ phạm năm lỗi:
1- Hung ác, bất nhẫn
2- về sau sẽ hối hận
3- Nhiều người không thích
4- Tiếng xấu đồn khắp
5- Chết bị rơi vào đường ác”.
99.8. CẦU PHÁP
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Nếu không xa lìa sáu điều này thì không thể dứt trừ trần cấu, được Pháp nhãn thanh tịnh, đó là:
1. Không thích nghe pháp
2. Tuy nghe pháp, nhưng không chú tâm.
3. Không vì sự hiểu biết mà nghe pháp
4. Không chịu khó tìm cầu những pháp chưa được nghe.
5. Không giữ gìn kĩ pháp đã được nghe
6. Không thành tựu Thuận nhẫn.
Ngược lại, xa lìa sáu điều này thì dứt trừ được trần cấu, đác Pháp nhãn thanh tịnh”.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Không có cư sĩ thành Phật, vì thành Phật cần phải có đủ ba mươi hai tướng, xuất gia, đắp pháp y, đầy đủ oai nghi”.
Tạp tâm luận ghi: “Tri túc thì ở đời hiện tại sinh khởi, thiêu dục thì ở đời vị lai mới sinh khởi. Hiện tại không nhận một đồng tiền thì khó, vị lai xả bỏ ngôi vị Chuyển luân vương thì dễ”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Không khởi tâm tham cầu tài vật mình chưa có, gọi là thiểu dục; không sinh tâm tham tài vật mình đã có, gọi là tri túc. Tri túc thuộc hiện tại, thiểu dục thuộc vị lai”.
99.9. TƯỚNG SUY
Kinh Phân biệt duyên khởi sơ thắng pháp môn ghi: “Đức Thế Tôn dạy, người già có năm suy tổn:
1- Râu tóc suy tổn: Do màu sắc biến hoại
2- Thân thể suy tổn: Do hình thể, sức lực đều hao mòn

Phần 6

3- Hành động suy tổn: Khi nói lấy hơi lên, thở dồn dập, thân thể run rẩy; đứng thì lưng còng, vì xương sống không đủ lực nâng đỡ; ngồi thì lưng cong sát đất vì thân thể suy nhược; đi đứng phải cần gậy vì thân đã yếu ớt; đầu óc suy nghĩ nhận biết chậm chạp, nhớ lộn xộn.
4- Thụ dụng suy tổn: Đối với các vật ưa thích vẫn không thể thụ dụng. Đối với trần cảnh, các căn chẳng thể xử lý một cách bén nhạy, sáng suốt, hay không còn hoạt động được nữa.
5- Thọ mệnh suy giảm: Tuổi thọ sắp hết, cái chết kề bên, gặp một duyên xấu, dù nhỏ cũng không thể chịu nổi”
Kinh A-hàm ghi: “Có bốn nguyên nhân mái tóc bị bạc trắng: nóng, lo nhiều, bệnh nhiều, di truyền.
Có bốn nguyên nhân khiến người bị gầy: ăn ít, lo, buồn, bệnh.
Có bốn việc mà con người không thể biết trước, không thể tránh, cũng chẳng thể chối từ: đầu bạc, già nua, bệnh tật, và chết,
Tất cả mùi vị không ngoài tám loại: đắng, chát, cay, mặn, nhạt, ngọt, chua, vị hỗn tạp”.
99.10. TẠP HẠNH
Luật Tứ phần ghi: “Tì-kheo Bạt-nan-đà đi trên đường, che lọng tròn lớn. Các cư sĩ từ xa nhìn thấy tưởng là vua hay đại thần nên sợ sệt tránh đường. Khi họ nhìn kĩ mới biết là tì-kheo Bạt-nan-đà. Các tì-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
- Tì-kheo đi đường không được che dù, lọng sang trọng, cũng không được cất chứa.
Lúc trời mưa vì bảo vệ y khỏi ướt, nên Đức Phật cho phép dùng dù lọng để che, qua lại trong khuôn viên chùa. Nhưng nên làm dù lọng bằng vỏ cây, lá, hoặc tre.
Không được cầm quạt lớn như vua. Tì-kheo đi đường gặp thời tiết nóng, bạch Đức Phật, Đức Phật cho phép dùng lá cây, cành cây hay các vật khác để làm quạt. Lúc đó, có các tì-kheo sợ bị trùng, bụi, cỏ, sương bay bám bẩn thân, nên bạch Phật.
Đức Phật dạy:
- Cho phép làm phất trần, hoặc làm bằng cỏ, vỏ cây, lá cây, hoặc dùng sợi kết lại, hoặc dùng lụa vụn cắt may.
Khi ấy, có tì-kheo nhặt được đuôi súc vật để phẩy bụi, Đức Phật cho phép dùng. Tì-kheo niên thiếu tân học tính toán mọi việc còn lẫn lộn, Ngài cũng cho phép dùng thẻ để tính”.
Luật Tứ phần ghi: “Lúc bấy giờ các tì-kheo trỗi nhạc, hoặc thổi tù và để cúng dường. Đức Phật dạy: ‘Không được làm như vậy’. Tì-kheo không dám, liền bảo các cư sĩ trỗi nhạc cúng dường, Đức Phật cho phép.
Bây giờ, mọi người không biết thức ăn đã cúng dường tháp, ai có thể dùng được.
Đức Phật dạy:
- Tì-kheo, sa-di, ưu-bà-tắc, hay người xây dựng tháp được ăn”.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Người xuất gia ra chợ mua đồ không được trả hạ giá. Nếu trả hạ giá thì phạm tội Đột-kết-la.
Y của tăng khi chưa rao giá ba lần thì được phép tăng giá, khi đã rao giá ba lần rồi thì không được tăng; chúng tăng cũng không được trao cho, vì y đã thuộc về người khác. Ba lần rao giá rồi, người được y không nên đổi ý, dẫu có hối tiếc cũng không cho trả lại và cũng không cho trả giá lại”.
Luận Tân Bà-sa ghi:
Hỏi: Phàm phu và thánh nhân, ai có nỗi lo sợ?
Đáp: Phàm phu có nỗi lo, còn thánh nhân thì không. Vì sao? Vì thánh nhân không có năm điều lo sợ:
1- Sợ túng thiếu
2- Sợ tiếng xấu
3- Sợ hãi khi đứng trước oai đức của đại chúng
4- Sợ chết
5- Sợ đọa vào đường ác.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Đức Phật dạy: Như ý bảo châu lấy từ não của cá Ma-kiệt. Thân cá dài hai mươi tám vạn dặm. Bảo châu này gọi là Kim cương kiên, có ba công dụng:
1- Người bị trúng độc, khi nhìn thấy, hoặc được ánh sáng của nó chiếu vào thân thì chất độc đều tiêu tan.
2- Người bệnh nhiệt, khi thấy hoặc được ánh sáng của bảo châu chiếu vào thân thì mọi bệnh nhiệt đều được tiêu trừ.
3- Người có nhiều oan gia, trái chủ, khi cầm được ngọc này thì những oan gia trái chủ trở thành thân thiện”.
Luật Tứ phần ghi: “Rắn bò vào phòng làm cho các tì-kheo chưa ly dục sợ hãi. Phật cho phép đuổi, hoặc dùng ống tre nhốt, hoặc lấy dây cột nó rồi đem đi thả.
Có chuột vào phòng tì-kheo. Đức Phật dạy: ‘Lấy lồng bắt đem thả’.
Có bò cạp, rít, sâu vào phòng tì-kheo. Đức Phật dạy: ‘Dùng vật hư bỏ hay bùn, bọc túm lại đem đi thả’.
Ban đêm, tì-kheo sợ dơi, còn ban ngày sợ chim én bay vào phòng, Đức Phật cho phép đan lưới thưa, hoặc làm song để ngăn.
Có tì-kheo lớn tuổi bị bệnh, bắt rận bỏ dưới đất, Phật dạy: ‘Khồng nên làm như vậy’. Phật cho phép dùng đồ để đựng, hoặc là dùng bông bọc nó. Nếu rận bò ra thì nên dùng ống để đựng và phải đậy lại (Tùy theo thời tiết nóng hay lạnh mà lấy thức ăn thích hợp để nuôi chúng).
Bấy giờ, lục quần tì-kheo tụng các loại thần chú cầu cát hung, an trí nhà cửa như: chú chi tiết, chú sát-lợi, chú biết sống chết, tốt xấu, chú hiểu rõ các thứ âm thanh. Phật dạy: ‘Không được tụng’. Các tì-kheo dạy cho người khác, Đức Phật bảo: ‘Không được, vì họ sẽ lấy đây làm kế sinh sống'.
Khi đức Thế Tôn ở tại nước Tỳ-xá-li, các Li-xa cỡi voi, ngựa, xe cộ, cầm đao kiếm để ngoài cửa chùa, rồi vào trong thăm hỏi đức Thế Tôn.
Bấy giờ, có bạch y đem đao kiếm đến gửi, nhờ các tì-kheo cất, các tì-kheo e ngại không dám nhận, liền bạch Phật. Đức Phật dạy: ‘Cho phép cất giữ kĩ cho đàn việt”’.
Kinh Ngũ bách vấn sự ghi: “Không được dùng miệng thổi bụi trên kinh tượng. Nếu kinh tượng cũ thì nên sửa lại, cho dù chẳng phải chính kinh cũng phải xem trọng. Không được đốt kinh sách, nếu đốt thì mắc tội nặng như tội đốt cháy cha mẹ của mình. Người không biết thì phạm tội nhẹ”.
Luật Tăng-kì ghi: “Đốt lửa có bảy sự tai hại:
1- Tổn thương mắt
2- Tổn hoại hình sắc
3- Thân khô gầy
4- Y phục bị dơ bẩn
5- Làm hỏng ngọa cụ
6- Nảy sinh cơ hội phạm giới
7- Luận bàn việc thế tục”.
Bài tụng:
Chỉ làm những việc cần thiết
Mong bỏ những mối hiểm nguy
Vạn hạnh gìn giữ tinh chuyên,
Lục trần mới mong chấm dứt.
Tâm trí thuần khiết sáng tỏ,
Nghi dung đẹp đẽ rỡ ràng,
Giống như viên ngọc quỳnh kia,
Trong sáng không một tì vết.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục