PUCL QUYỂN 91 - CHƯƠNG THỤ TRAI, PHÁ TRAI, THƯỞNG PHẠT
04/01/2016
QUYỂN 91 Quyển này gồm ba chương: Thụ trai, Phá trai, Thưởng phạt. 89. CHƯƠNG THỤ TRAI 89.1. LỜI DẪN Sở dĩ chính pháp được lưu truyền rộng rãi là nhờ kinh điển; phúc điền sở dĩ được tăng trưởng là do giữ gìn trai giới. V...

QUYỂN 91
Quyển này gồm ba chương: Thụ trai, Phá trai, Thưởng phạt.
89. CHƯƠNG THỤ TRAI
Sở dĩ chính pháp được lưu truyền rộng rãi là nhờ kinh điển; phúc điền sở dĩ được tăng trưởng là do giữ gìn trai giới. Vì thế, nhịn một bữa ăn để cúng dường thì được phúc giàu sang; giúp người một đồng thì được quả báo thù thắng hơn cõi trời. Do đó, nên quí trọng ruộng phúc, xem nhẹ tiền tài, cùng nhau lập hội Vô già sẽ được phúc đức vô lượng.
89.2. DẪN CHỨNG
Kinh Cựu tạp thí dụ ghi: “Ngày xưa, có một người giàu sang thỉnh Phật đến nhà thụ trai. Lúc ấy, một người đàn ông đến nhà ấy bán sữa bò, được chủ nhà mời ở lại ăn cơm và dạy cách thụ trì trai giới. Sau khi thụ trai và nghe pháp xong, ông trở về nhà. Người vợ nói:
- Thiếp chờ chàng từ sáng sớm đến giờ nên chưa ăn cơm!
Nói xong, cô cố ép buộc người chồng ăn, phá tâm giữ trai giới của chồng. Tuy vậy, sau khi chết ông ấy vẫn được bảy lần sinh lên cõi trời, bảy lần sinh xuống nhân gian”.
Đức Phật dạy:
- Một ngày trì trai thì được sáu mươi vạn năm giàu sang, lại có năm phúc: ít bệnh, thân thế được an ổn, tâm dâm nhẹ mỏng, ít ngủ, sau khi chết được sinh lên cõi trời và biết được việc làm đời trước của mình.
Lại nữa, một hôm vua Ba-tư-nặc muốn ban thưởng cho phu nhân Mạt-lợi chuỗi báu thơm, nên vua cho triệu bà đến. Gặp ngày trai nên phu nhân mặc y phục giản dị vào cung. Thế nhưng, trong sáu vạn phu nhân, Mạt-lợi lại rực rỡ như mặt trời, mặt trăng, xinh đẹp hơn hẳn ngày thường. Vua trông thấy, vô cùng kinh ngạc và càng yêu quí, liền hỏi:
- Phu nhân tu công đức gì mà dung mạo rạng rỡ khác thường như vậy?
Phu nhân thưa:
- Thiếp tự nghĩ mình kém phúc nên mới thụ thân người nữ, hình thể dơ bẩn, mạng sống ngắn ngủi. Vì sợ đọa vào ba đường ác, nên hằng ngày thiếp lễ Phật, thụ trai, lìa bỏ tình ái, tu theo chính đạo, để đời đời được phúc. Xin bệ hạ cho phép thiếp dâng chuỗi báu thơm này cúng dường Đức Phật”.
Kinh Trung A-hàm ghi: “Vào lúc sáng sớm Lộc tử mẫu Tì-xá-khư tắm gội, mặc áo trắng sạch, dẫn con, dâu và quyến thuộc đến chỗ Đức Phật đỉnh lễ và bạch rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn! Nay con muốn thụ trì trai pháp!
Đức Phật hỏi:
- Này nữ cư sĩ! Hôm nay bà muốn trì pháp trai nào? Có ba loại trai:
1. Trì trai như mục đồng: Như buổi sáng đứa trẻ thả trâu ra đầm, buổi chiều dẫn trâu về thôn. Khi dẫn trâu về thôn, nó lại suy nghĩ: ‘Ngày nay ta thả trâu ở nơi này, ngày mai thả trâu ở chỗ khác. Hôm nay ta cho trâu uống nước ở nơi này, ngày mai cho trâu uống nước ở chỗ khác. Ngày nay ta cột trâu nghỉ ở nơi này, ngày mai cột trâu nghỉ ở chỗ khác’. Cũng thế, có người lúc trì trai mà lại suy nghĩ: ‘Hôm nay ta ăn thức ăn này, ngày mai ăn thức ăn khác. Hôm nay ta uống nước này, ngày mai uống nước khác. Hôm nay ta dùng thuốc này, ngày mai ta dùng thuốc nọ’. Người này ngày đêm luôn tham dục. Đó lá trì trai như mục đồng. Nếu người trì trai như thế thì không được nhiều lợi ích, không có quả báo tốt, không được công đức lớn và cùng khắp.
2. Trì trai như ni-kiền: Người xuất gia theo ngoại đạo Ni-kiền, luôn khuyên người khác rằng: ‘Để bảo vệ chúng sinh ngoài một trăm do-tuần về phía đông, ngươi hãy buông bỏ đao gậy. Đối với phương nam, tây, bắc cũng như thế.’; hoặc họ cởi bỏ y phục để lõa thể và nói: ‘Ta không có cha mẹ, vợ con’. Họ khuyên mọi người bằng lời nói giả dối như thế mà cho là chân đế. Hoặc họ hành các tà pháp như khổ hạnh nhịn đói... Nếu người trì trai giới như vậy, cũng không được nhiều lợi ích, không có hiệu quả lớn, không được nhiều công đức và cùng khắp.
3. Trì trai như tám chi thánh trai: thánh đệ tử đa văn khi trì trai, nên suy nghĩ: ‘Bậc a-la-hán trọn đời xa lìa nghiệp sát sinh, buông bỏ đao gậy, biết tàm quí, có tâm từ bi, làm lợi ích tất cả chúng sinh, đã trừ sạch nghiệp sát dù là đối với loài côn trùng. Suốt đời vị ấy không ăn phi thời, chỉ ăn ngày một bữa, không ăn ban đêm, thích ăn đúng giờ. Ta thực hành chi này cũng giống như bậc A-la-hán, cho nên nói là trai’. Người ấy đã tu tám chi thánh trai rồi, phải luôn nghĩ nhớ: ‘Trên đây là pháp thanh tịnh xuất thế của Đức Như Lai, Vô Sở Trước v.v.., giúp xa lìa pháp bất thiện cấu uế'
Nếu thiện nữ tu tám chi thánh trai, khi mạng chung được sinh vào sáu tầng trời cõi Dục, sau đó chứng quả A-la-hán”.
Luật Tăng-kỳ ghi: “Lúc Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, ở phía nam có ấp Đại Lâm. Bấy giờ, một thương nhân dẫn tám con trâu đi về phía bắc đến nước Câu-đa, thương nhân thả trâu trong một cái đầm. Lúc đó, có một người Li-xa bắt được một con rồng nữ muốn giết ăn thịt. Do rồng này đã thụ giới Bồ-tát, không có tâm sát hại, nên để cho người Li-xa xỏ mũi dẫn đi. Thương nhân thấy vậy, liền khởi lòng từ, hỏi. người Li-xa:
- Ông bắt con rồng này để làm gì?
Người Li-xa đáp:
- Tôi muốn giết nó ăn thịt.
Thương nhân nói:
- Xin ông đừng giết! Ta cho ông một con trâu để đổi lấy con rồng kia.
Người Li-xa không chấp nhận, thương nhân dần dần dùng đến tám con trâu để đồi rồng. Bấy giờ người Li-xa nói:
- Thịt rồng ngon hơn, nhưng nay ta vì ông mà thả nó.
Lúc sắp thả rồng đi, thương nhân suy nghĩ: ‘Bọn họ rất hung ác, nếu ta thả rồng đi, e rằng họ đuổi theo bắt lại’. Thế rồi, thương nhân thả rồng trong một đầm khác và đi theo xem. Rồng biến thành người và nói với thương nhân:
- Ngài đã cứu tôi, nay tôi muốn báo ơn. Ngài hãy vào cung để tôi đền đáp.
Thương nhân đáp:
- Bản tính của loài rồng vốn hung dữ, sân giận vô chừng, có thể giết hại ta bất cứ lúc nào.
Rồng đáp:
- Không đúng! Vừa rồi người kia bắt tôi, sức của tôi có thể giết họ, nhưng vì tôi đã thụ giới Bồ-tát nên hoàn toàn không còn tâm giết hại. Huống gì ngài cứu sống tôi mà tôi lại giết sao? Nếu ngài không muốn đi liền, hãy ở đây đợi giây lát, để tôi vào trước sắp xếp.
Nói xong, rồng liền vào cung. Lát sau, thương nhân đến cổng thấy hai con rồng bị trói vào cột, liền hỏi:
- Tại sao các ngươi bị trói ở đây?
Hai con rồng đáp:
- Mỗi nửa tháng, long nữ trì trai ba ngày, anh em tôi có trách nhiệm bảo vệ long nữ, nhưng vì không canh giữ cẩn thận để long nữ bị người Li-xa bắt. Do đó, chúng tôi bị phạt trói ở đây. Xin ngài thương xót nói giúp để long nữ thả anh em chúng tôi!
Long nữ sắp xếp xong, liền mời thương nhân vào cung, ngồi trên giường báu. Long nữ thưa:
- Trong cung rồng có nhiều thức ăn, có loại ăn vào suốt đời mới tiêu hết, có loại ăn vào hai mươi năm mới tiêu hết, có loại ăn vào bảy năm mới tiêu hết, cũng có thức ăn của người ở cõi Diêm-phù-đề. Chẳng hay ngài thích dùng loại nào?
Thương nhân đáp:
- Tôi muốn dùng thức ăn của cõi Diêm-phù-đề.
Long nữ liền mang nhiều thức ăn, nước uống ra dâng cho thương nhân.
Thương nhân hỏi long nữ:
- Tại sao hai con rồng này bị trói?
Long nữ đáp:
- Chúng phạm tội nên tôi muốn giết.
Thương nhân nói:
- Ngươi đừng giết!
Long nữ nói:
-Không được! cần phải giết chúng!
Thương nhân nói:
- Nếu ngươi tha chúng, ta mới ăn!
Rồng nói:
- Tôi không thể tha bổng như thế, phải phạt đuổi xuống nhân gian sáu tháng.
Thương nhân thấy cung điện loài rồng được trang hoàng vô số bảy báu, liền hỏi:
- Ngươi có nhiều châu báu đẹp như thế, thụ giới Bồ-tát làm gì?
Long nữ đáp:
- Loài rồng chúng tôi có năm việc phải chịu khổ.
Đó là: lúc sinh, khi ngủ, khi dâm dục, khi sân giận, khi chết. Trong một ngày có ba lần da thịt rơi xuống đất, cát nóng bám đầy thân.
Thương nhân hỏi:
- Ngươi muốn cầu điều gì?
Long nữ đáp:
- Tôi thích sinh vào loài người. Vì loài súc sinh rất khổ sở, lại không biết Phật pháp. Vì thế tôi muốn theo Phật xuất gia.
Nói xong, long nữ liền mang cho thương nhân tám chiếc bánh bằng vàng và nói:
- Số vàng này đủ cho cha mẹ, quyến thuộc của ngài dùng suốt đời không hết.
Long nữ lại nói:
- Ngài hãy nhắm mắt lại.
Long nữ liền vận thần thông đưa thương nhân về quê nhà. Thương nhân đem tám chiếc bánh bằng vàng trao cho cha mẹ. Vì đó là vàng của loài rồng, nên cát dùng rồi lại sinh, tiêu xài suốt đời cũng không hết”.
Kinh Bồ-tát thụ trai ghi: “Con tự quy y Phật, tự quy y pháp, tự quy y tăng. Thân con đã tạo nhiều nghiệp ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ điều ác, từ nay đã từ bỏ. Bao nhiêu ngày, bao nhiêu đêm, con xin thụ trì Bồ-tát trai; con xin tự quy y bồ-tát.
Đức Phật bảo Tu-bồ-đề: ‘Vào ngày trai của bồ-tát có mười điều:
- Không được thoa phấn sáp, ướp nước hoa vào thân.
- Không được ca múa, đánh trống, đàn hát, trang sức.
- Không được nằm giường cao rộng.
- Không được ăn sau giờ Ngọ.
- Không được cất giữ vàng bạc, châu báu.
- Không được ngồi xe bò, xe ngựa.
- Không được đánh trẻ em, nô tì, súc sinh.
- Dùng trai này bố thí để được phúc. Khi đi ngủ bồ-tát phải đến trước bàn Phật chắp tay bạch rằng: ‘Hôm nay tất cả mười phương, nếu có người trì trai, thực hành lục độ, con đều giúp người ấy được an ổn, vui vẻ thực hành bố thị. Trong khắp mươi phương, tất cả nhân và phi nhân V .v.. nào ở nơi nguy khốn, khổ sở, con đều giúp được hưởng phúc, thoát khỏi sầu khổ, đời sau sinh lại làm người sẽ được an ổn, vui vẻ, giàu có vô cùng”.
- Không được dùng hết thức ăn trong bát.
- Không được gần gũi, cười đùa hoặc ngồi cùng chiếu với người nữ. Người nữ cũng như vậy.
Đây là mười giới, không được vi phạm và dạy người khác phạm, cũng không được xúi người cố phạm.
Khi thực hiện pháp giải bồ-tát trai, phải nói:
- Nam-mô Phật, nam-mô pháp, nam-mô tì-kheo tăng, suốt mấy ngày đêm con trì trai giới của bồ-tát, nhờ tu bố thí, sệ thành tựu sáu pháp ba-la-mật, cũng như lục độ vạn hạnh của bồ-tát.
Một ngày một đêm trì trai được phân làm ba thời, ngồi thiền, tụng kinh, ngủ nghỉ.
Những ngày trì trai bồ-tát; tháng giêng, từ ngày 14 trì trai đến ngày 17 thì giải; tháng tư, từ ngày mùng 8 trì trai đến ngày 15 thì giải; thảng bảy, từ ngày mùng 1 trì trai đến ngày 16 thì giải; tháng chín, từ ngày 14 trì trai đến ngày 16 thi giải.
* Lời bàn
Đã trì trai rồi, nếu muốn giải trai thì phải đợi minh tướng xuất hiện mới được ăn cháo. Nếu không làm đúng như vậy là phá trai. Minh tướng là gì? Như luận Tát-bà-đa ghi: “Minh tướng có ba màu: khi mặt trời chiếu vào thân cây diêm-phù-đề thì có màu đen, chiếu trên lá thì có màu xanh; chiếu qua ngọn cây thì có màu trắng. Trong ba màu này, màu trắng là chính, nên lúc ánh mặt trời màu trắng mới được xả giới và ăn cháo”.
Có bài tụng:
Tháng này thiết lập trai đàn,
Chọn giờ thích hợp thỉnh hàng xuất gia,
Bốn bộ đến đúng thời gian,
Bảy chúng nhóm họp cùng sang trai đường. Lời kinh tiếng kệ du dương,
Thiết tha, như tiếng cung thương bỗng trầm, Hương thơm xông thẳng trời không,
Gió đưa lan tỏa khắp cùng mười phương.
Cao dày giới đức tán dương,
Ngôn từ ca ngợi khôn lường đạo sâu,
Diệt phiền, văn cú nhiệm mầu,
Đúng thời phân tích đoạn câu tận tường.
Giúp cho đạo tục gả nương,
Tài pháp hưng thịnh thần quang rạng ngời.
Phúc điền nay mãn nguyện rồi,
Ân huệ dẫn dắt người còn kẻ vong.
89.3. CẢM ỨNG
89.3.1. Tượng Thái tử thiền định: Vào đời Tấn, sa-môn Pháp Hiển quyết chí du hành đến Tây Thiên chiêm bái các thánh tích. Một hôm sư đến một ngôi chùa, tất cả mọi người đều ra đón tiếp. Một hôm sư bị bệnh, vị thượng tọa trụ trì đích thân chăm sóc, đồng thời sai một sa-di đi tìm thức ăn chay bản xứ của vị khách tăng. Lát sau sa-di trở về, chân bị thương chảy máu, thưa rằng:
- Con đến nhà Ngô Thương Ưng ở Bành Thành xin thức ăn thì bị chó cắn.
Sư Pháp Hiển nghe lấy làm lạ, vì trong chớp mắt mà sa-di đã vượt ra ngoài mấy vạn dặm. Bấy giờ sư mới biết các vị tăng nơi đây đều là thánh tăng. Sau, sư theo thuyền trở về nước, đến Bành Thành tìm đến nhà Ngô Thương Ưng dò hỏi. Ngô Thương Ưng xác nhận có việc ấy, rồi chỉ vết máu còn dính nơi cửa. Sư nói:
- Đây là máu của bậc thánh a-la-hán, lúc ấy xin thức ăn cho tôi, sao lại bị tổn thương chứ?
Ưng nghe thế lòng sợ hãi sám hối, liền đổi nhà làm chùa, đến Dương Đô thỉnh kinh và tượng Phật. Đang lúc đi giữa dòng thì thuyền bị nghiêng sắp lật, bỗng có hai khúc xương, mỗi khúc dài một trượng, theo sóng vọt lên vào thuyền. Nhờ vậy thuyền được an toàn cho đến lúc cập bến. Ưng đem sự việc tâu lên vua. Sau mới biết được khúc xương đó là răng rồng.
Ưng thỉnh tượng mà chưa được, lại ngược dòng lên Giang Tây. Lúc tạm nghỉ trong rừng thì gặp được vị bà-la-môn tăng mang theo pho tượng, bảo là muốn đến Từ châu trao cho Ngô Thương Ưng.
Ưng thưa:
- Nếu đúng như vậy, con chính là Ngô Thương Ưng!
Vị tăng liền trao tượng, Ưng đưa về kinh đô. Vua lệnh phỏng theo tượng này đúc mười tượng nữa, dưới đế mỗi tượng đều khắc một bài minh, khiến mọi người
không thể phân biệt được tượng chính, rồi bảo Ưng tìm chọn. Tượng lại báo mộng chỉ cho Ưng tượng chính. Ưng nhận ra tượng của mình, mang về Từ châu. Tượng thường phóng ánh sáng lạ.
Hiếu Văn đế đời Nguyên Ngụy thỉnh tượng vào Bắc Đài. về sau Hậu chủ Cao Tề sai sứ giả Thường Bưu thỉnh tượng trở về đất Nghiệp. Khi nhà Tề bị diệt, nhà Chu phế bỏ Phật giáo, tượng được chư tăng cất giấu. Đến đời Tùy, giáo pháp được xiển dương, tượng lại phóng ánh sáng. Hiện nay, tượng lưu giữ tại chùa Đại Từ ở Tương châu.
89.3.2. Đời Tống, sa-môn Tăng-già-đạt-đa: Sư trụ tại chùa Đạo Lâm ở kinh đô, làu thông kinh luận, chuyên tu Thiền định. Khoảng niên hiệu Nguyên Gia thứ nhất (424), sư đến Trung Hoa, vào núi tọa thiền. Đến ngọ, vừa nghĩ đến việc thụ thực thì tự nhiên chim ngậm quả bay đến trao cho. Sư suy nghĩ: “Ngày xưa khỉ dâng mật, Đức Phật cũng nhận, nay chim trao quả cho ta, tại sao không thể!”. Thế là sư thụ nhận.
89.3.3. Đời Tống, Quách Thuyên: Thuyên tự Trọng Hàm, người Thuận Dương, làm thứ sử ích châu triều Tấn. Sau khi chết ba mươi năm, vào niên hiệu Nguyên Gia thứ tám (431), Thuyên hiện hình đến nhà con rể là Lưu Ngưng Chi ở Nam Dương với ngựa xe, thị vệ rầm rộ như lúc còn sống. Thuyên nói với con rể:
- Ta có tội, hãy vì ta lập hội cúng dường ba mươi vị tăng, thì sẽ thoát!
Nói xong liền biến mất. Ngưng Chi cho là loài võng lượng, nên không lưu tâm. Sau đó Thuyên lại báo mộng cho con gái:
- Ta có tội, đã nói với con rể lập hội cúng dường, không thương xót ta sao?
Sáng sớm, con gái thấy cha mình đi ngang qua nhà, mặt lộ vẻ tức giận nói:
- Không thể cứu được nữa, ta phải đi chịu tội đây!
Người con gái khóc lóc, giữ lại và hỏi:
- Nên lập trai hội nơi nào?
Ông đáp: “Trở về nhà của ta”. Nói xong biến mất. Ngưng Chi nghe lời cấp tốc lập trai hội. Trai hội hoàn tất, có một người tự xưng là Thuyên đến báo cho Ngưng Chi: “Cảm ơn ông cúng dường trọng hậu tôi mới được tha thứ”. Nói xong liền biến mất, từ đó về sau Quách Thuyên không còn hiện hình nữa.
89.3.4. Đời Cao Tề, sa-môn Bảo Công: Sư ẩn cư ở Tung Sơn. Một hôm, từ Lâm Lự sư lên núi Bạch Lộc, do lạc đường, nên trời sắp trưa mà vẫn còn ở trong núi. Bỗng nghe tiếng chuông, sư liền đi theo hướng đó. Vượt qua núi non hiểm trở, sư nhìn thấy một ngôi chùa sừng sững trong rừng sâu, mặt quay về phía nam, uy nghiêm rực rỡ. Sư bước đến cửa, thấy tấm bảng đề “chùa Linh Án”. Ngoài cửa có năm sáu con chó rất lớn, lông trắng mõm đen, con chạy con nằm, lườm mắt nhìn. Sư sợ hãi định quay trở ra, thì thấy một vị tăng người Hồ từ ngoài đi vào. Sư gọi, nhưng vị ấy không đáp, cũng chẳng quay lại mà đi thẳng vào cửa, bầy chó cũng theo sau. Một hồi lâu, sư không thấy ai vào nữa, sư mới dần dần đi vào cửa bên. Phòng nhà bố trí bốn phía, nhưng đều đóng kín, sư đi vào giảng đường thấy nhiều tòa cao, sư đi đến ngồi trên tòa ở phía tây nam. Không lâu, chợt nghe trên nóc nhà có tiếng động, sư ngước lên thì thấy một lỗ hổng bằng miệng giếng, khoảng năm sáu mươi vị tì-kheo lần lượt từ đó bay vào, thứ tự an tọa. Sau đó, mọi người hỏi nhau:
- Hôm nay quí vị thụ trai ở nơi nào mà đến đây?
Có người nói từ Dự Chương, người thì nói từ Thành Đô, hoặc Trường An, Lũng Hữu, Kế Bắc, Lĩnh Nam Ngũ Thiên Trúc v.v... khắp cả mọi nơi. Hễ có việc thì xa cả ngàn vạn dặm cũng đến.
Sau cùng, một vị tăng từ hư không bay xuống mọi người cùng hỏi:
- Sao ngài đến muộn vậy?
Vị tăng đáp:
- Hôm nay, chùa Bỉ Ngạn phía đông thành Tương Châu có buổi thuyết pháp của thiền sư Giám, nhiều người luận biện. Có một thiếu niên thông minh tài trí, gạn hỏi lời lẽ sắc bén, rất xuất sắc, tôi mải nghe nên quên mất thời gian!
Trước đây, sư là đệ tử của thiền sư Giám, khi nghe vậy, liền muốn tham dự hội này, nên sửa sang y phục, đứng lên bạch chúng tăng:
- Thiền sư Giám là thầy của bần tăng!
Chư tăng đều nhìn sư, bỗng chốc chùa Linh Ẩn và chư tăng đều biến mất, chỉ còn một mình sư ngồi dưới gốc cây tạc, không một bóng người, chỉ thấy hang núi, chim muông bay liệng hót vang. Sư trở về, đem chuyện này kể lại cho pháp sư Thượng Thống. Pháp sư nói:
- Ngôi chùa đó do ngài Phật Đồ Trừng thời Thạch Triệu xây dựng, trải qua nhiều năm, chỉ các bậc thánh hiền ở. Chư vị ấy lúc ẩn lúc hiện, đổi dời vô định.
Ngày nay, hành giả đến núi này còn nghe văng vẳng tiếng chuông.
90. CHƯƠNG PHÁ TRAI
90.1. LỜI DẪN
Nghĩ đến vô thường, khổ, không mà buồn; nhớ đến sinh già bệnh chết mà lo; thương cho nỗi khổ treo ngược trong đêm dài, xót cho mối nguy đắm chìm trong dòng sinh tử. Càng nghĩ đến thì càng bi thương, mà cũng thật đáng sợ! Bởi phúc điền nhẹ mỏng, nên vật của tín thí khó tiêu; trai giới không bền, như chiếc bình gốm dễ vỡ khó giữ gìn, giống như sương sớm mau tan. Lại thêm tâm nhân ngã ngày càng tăng, dính chặt còn hơn cả keo sơn. Chúng sinh chẳng sợ họa nhiều kiếp, mà chỉ lo cho mạng sống một đời. Vì thế, chỉ biết ăn no ngủ kĩ, khác nào heo chó; phá trai ăn đêm, thật giống quỉ ma. Cho nên thí chủ phải mất phúc cúng đúng thời, chúng tăng tổn hoại hạt giống ruộng tốt.
90.2. DẪN CHỨNG
Kinh Xá-lợi-phất vấn ghi: “Xá-lợi-phất bạch Đức Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Có các đàn việt xây dựng tăng-già-lam, cung cấp đầy đủ những thứ cần dùng. Sau đó có người xuất gia, phi thời đến gặp vị tăng quản lí về ăn uống xin cơm. Vị tăng kia cho, người ấy thụ dụng. Vậy hai người này bị tội gì? Đàn việt cúng dường được phúc không?
Đức Phật dạy:
- Người ăn phi thời là người phạm giới, phạm tội trộm cắp. Người cho phi thời cũng là phá giới, phạm tội trộm cắp. Trộm vật của đàn việt là lấy vật mà thí chủ không cho, hoặc lấy mà không được thí chủ đồng ý. Như vậy, thí chủ không có phúc, vì bị mất vật, nhưng vẫn được thiện lợi do phát tâm tạo chùa, cúng dường tứ sự.
Xá-lợi-phất bạch Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Khi thụ nhận thức ăn và ăn đúng thời mà không hết, đến lúc phi thời lại ăn tiếp; hoặc thức ăn nhận đúng thời, nhưng để đến phi thời mới ăn thì được phúc không?
Đức Phật dạy:
- Người ăn đúng giờ là thanh tịnh, tức là phúc điền, là người xuất gia, là tăng-già, là bạn tốt, là thày của trời và người. Người ăn phi thời là bất tịnh, là phá giới, là trộm cắp, là ngạ quỉ, phạm tội đào tường, khoét vách.
Khi có người, phi thời đến xin, nếu người quản lý thức ăn cho thì người đó thoái tâm đạo, là ác ma, là tam ác đạo, là vật bị bể, là người bị bệnh hủi. Vì như vậy là phá hoại quả lành, trộm cắp tự nuôi sống bản thân. Các bà-la-môn còn không ăn phi thời, hàng ngoại đạo Phạm chí cũng không kiếm ăn bằng nghề phi pháp, huống gì đệ tử của Ta, hiểu biết và thực hành theo chính pháp mà làm như vậy sao? Những người phạm như thế chẳng phải đệ tử của Ta; là người không biết phép tắc, trộm pháp lợi của ta; là người hành không đúng pháp, trộm thức ăn. Trộm cho và trộm lấy, dù một nắm nhỏ, hoặc một nhúm muối hay một ngụm rượu đều phạm tội trộm, khi chết đều bị đọa vào địa ngục Tiêu Trường, nuốt hòn sắt nóng; khi ra khỏi địa ngục, sinh vào loài heo chó, ăn các thứ bất tịnh; lại sinh làm loài chim dữ có tiếng kêu khiến người ghê sợ, sau đó sinh vào loài ngạ quỉ, trở lại chốn già-lam, ở trong nhà xí ăn những thứ phân dơ, trải qua trăm nghìn năm. Chịu tội xong, được sinh vào loài người, nhưng làm kẻ nghèo cùng, hạ tiện, bị người ghét bỏ, không ai tin dùng. Trộm vật của một người thì tội còn nhẹ, cướp đoạt vật của nhiều người thì ruộng phúc tiêu tan, đoạn mất con đường xuất thế”.
Kinh Kiền-đà quốc vương ghi: “Lúc Đức Phật còn tại thế, có vị quốc vương tên Kiền-đà phụng thờ bà-la-môn. Các bà-la-môn ở trong núi trồng nhiều cây trái. Một hôm, có tiều phu chặt phá cây trái, bà-la-môn trông thấy, liền bắt người ấy đưa đến vua, tâu rằng: ‘Người này vô cớ chặt phá cây trái của tôi, đại vương hãy giết ông ta’. Vì kính thờ bà-la-môn, nên vua không dám trái ý, liền giết người kia. Sau đó
không lâu, có một con trâu ăn lúa, bị người chủ ruộng đuổi theo đánh gãy một sừng, máu chảy đầy mặt, đau đớn vô cùng. Trâu chạy đến chỗ vua tâu ràng:
- Tôi chỉ vô ý ăn một ít lúa của người kia, mà chủ ruộng đánh gãy sừng của tôi.
Lúc ấy, người kia cũng vừa đuổi đến. Vua hiểu được tiếng của chim thú, nên nói với trâu ràng:
- Ta sẽ giết người này giúp ngươi.
Trâu liền thưa:
- Nay dù đại vương giết chết người này, thì cũng không thể làm cho tôi hết đau. Xin vua ra lệnh cho mọi người từ nay về sau không nên đánh những con trâu nữa!
Vua liền suy nghĩ: ‘Những bà-la-môn mà ta phụng thờ, chỉ vì mấy gốc cây bị đốn mà bảo ta giết người. Họ thật không bằng con trâu này. Ta thờ đạo này mà không thoát khỏi sinh tử thì đâu cần phải theo nữa?’.
Vua liền đến chỗ Phật, năm vóc gieo sát đất đỉnh lễ Đức Phật, xin thụ ngũ giới và thập thiện.
Đức Phật dạy:
- Người nào bố thí, trì giới thì ngay đời hiện tại được phúc đức; còn tu nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ thì công đức vô lượng, sau khi mạng chung được sinh lên cõi trời.
Khi nghe Đức Phật nói xong, vua vô cùng hoan hỉ, liền đắc quả Tu-đà-hoàn.
A-nan bạch Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Vua và con trâu này vốn có nhân duyên gì với nhau?
- Thuở xưa, vào thời Đức Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, vua và con trâu này là hai anh em ưu-bà-tắc cùng thụ trì trai giới một ngày một đêm. Người anh giữ giới tinh tiến, không dám lười biếng, đến lúc mạng chung được sinh lên cõi trời; thụ mạng ở cõi trời hết, sinh xuống nhân gian làm quốc vương. Người em phạm trai giới ăn đêm, nên khi chết phải chịu tội. Chịu tội xong, lại sinh làm thân trâu năm trăm kiếp, nhưng vẫn biết được việc đời trước của mình, nên đến khai ngộ cho vua. Bảy ngày sau, trâu chết, liền được sinh lên cõi trời.
Đức Phật lại dạy:
- Bốn chúng đệ tử phải thụ trì trai giới, không được trái phạm!
Kinh Pháp cú dụ ghi: “Bấy giờ, Đức Phật ở Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên thuộc nước Xá-vệ, thuyết pháp cho hàng trời, rồng, quỉ thần nghe, về phía đông, tại nước Ưất-đa-la-bà-đề, có năm trăm bà-la-môn v.v... cùng nhau đến ba cái ao thần bên bờ sông Hằng tắm gội sạch sẽ, khỏa thân để cầu phép tiên như pháp của ni-kiền-tử. Khi đi qua khu đầm lớn, họ bị lạc lối, lại hết lương thực. Từ xa họ trông thấy một cây lớn tỏa thần khí, lầm tưởng có người ở, bèn đi về đó, nhưng khi đến nơi thì không thấy ai. Các bà-la-môn khóc gào thảm thiết, đói khát khổ sở, sắp chết tại đầm ấy.
Thụ thần hiện đến hỏi các Phạm chí:
- Các đạo sĩ từ đâu đến và muốn đi đâu?
Các Phạm chí cùng đáp:
- Chúng tôi muốn đến ao thần tắm rửa mong được thành tiên, nay bị đói khát. Xin ngài thương xót cứu giúp!
Thụ thần liền đưa tay ra thì trăm món ăn thức uống từ tay tuôn ra, mọi người chẳng những ăn uống no đủ mà còn có lương thực đi đường.
Lúc sắp ra đi, họ đến hỏi vị thần:
- Ngài tạo công đức gì mà có điều kỳ diệu như vậy?
Thụ thần kể :
- Ngày xưa, tôi ở nước Xá-vệ, lúc ấy trong nước có một vị đại thần tên Tu-đạt cúng dường thức ăn cho Đức Phật và chúng tăng. Tu-đạt ra chợ mua sữa, nhưng không có người mang về, ông nhờ tôi mang đến dâng cúng Phật và chúng tăng. Khi đến tinh xá, ông sai tôi pha sữa, sau đó múc nước rửa tay, nên nghe được giáo pháp. Tôi vô cùng vui mừng, hết lòng ca ngợi, phát tâm trì trai, nên đến chiều về nhà không ăn. Vợ tôi ngạc nhiên hỏi:
- Chẳng hay chàng hờn giận điều gì mà không ăn cơm?
Tôi nói không giận điều gì, đồng thời kể lại chuyện gặp trưởng giả Tu-đạt dâng cơm cúng Phật ở trong vườn, ông ấy mời tôi đến thụ Bát quan trai. Vợ tôi nghe xong, nổi giận nói rằng: ‘Cù-đàm phá hoại tập tục, đâu đáng để nghe nhận? Ông bỏ đạo đó ngay, nếu không sẽ mang họa vào thân!’. Vợ tôi cứ ép buộc mãi, nên bất đác dĩ tôi phải ăn cơm, nửa đêm đó mạng chung. Do người vợ ngu si ép tôi phá trai giới và nghiệp chướng chưa dứt, nên thần thức tôi sinh làm thụ thần ở đầm này. Nhưng nhờ phúc mang sữa đến tinh xá mà nay tay tôi tuôn ra nhiều thức ăn như vậy. Nếu thụ trì trai giới trọn vẹn thì tôi được sinh lên cõi trời, hưởng phúc tự nhiên.
Thụ thần nói cho các Phạm chí nghe bài tụng rằng:
Cúng tế gieo gốc họa,
Ngày đêm cành nó lớn,
Luống khổ hại thân mình,
Pháp trai độ tiên nhân
Kinh Bách duyên ghi: “Đức Phật trú tại Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên thuộc nước Xá-vệ. Đầu đêm, có năm trăm thiên tử, toàn thân tỏa ánh sáng rực rỡ, mang hương hoa đến cúng dường Phật. Sau khi đỉnh lễ Đức Phật xong, các thiên tử lui lại ngồi một bên nghe Đức Phật thuyết pháp. Tất cả đều đắc quả Tu-đà-hoàn, họ nhiễu quanh Đức Phật ba vòng rồi trở về thiên cung.
Đến sáng hôm sau, A-nan bạch Đức Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà chư thiên đến cúng dường như thế?
Đức Phật bảo A-nan:
- Vào thời quá khứ, khi Phật Ca-diếp còn trụ thế, có hai vị bà-la-môn theo quốc vương đến đỉnh lễ, thăm hỏi Đức Phật. Trong đoàn có một ưu-bà-tắc khuyên hai vị bà-la-môn cùng thụ trai pháp. Người thứ nhất trì trai để cầu sinh lên cõi trời ngươi thứ hai cầu sinh làm quốc vương.
Thụ trai pháp xong, hai người trở về trú xứ. Các bà-la-môn nói:
- Chắc hai ông đã đói khát, hãy ăn uống cùng chúng tôi!
Họ ân cần mời mãi, nên vị cầu sinh lên cỗi trời bất đắc dĩ phải ăn. Do phá trai, nên sở nguyện không thành tựu, sau khi mạng chung ông ta bị đọa vào loài rồng. Còn người giữ giới, thì sinh làm quốc vương. Do đời trước hai người cùng thụ trai, nên con rồng sinh vào cái ao trong vườn của quốc vương.
Người giữ vườn hằng ngày thường đem các loại rau quả dâng lên cho vua. Một hôm, người giữ vườn nhặt được trong ao một loại trái cây, màu sắc rất đẹp, hương vị thơm ngon. Ông suy nghĩ: ‘Ta ra vào nơi đây, thường được người gác cửa sắp xếp, ta nên mang quả này biếu cho ông ấy’. Nghĩ thế rồi, ông ta liền đem quả ấy biếu cho người gác cửa. Người gác cửa đươc quả ngon, lại suy nghĩ: ‘Ta ra vào hoàng cung, thường được thái giám sắp xếp, ta nên đem quả này biếu cho ông ấy’. Nghĩ thế rồi, ông ta liền mang quả ấy biếu cho thái giám. Thái giám được quả ngon, lại suy nghĩ: ‘Phu nhân thường khen ngợi công lao của ta trước vua, ta sẽ đem quả này dâng cho phu nhân’. Nghĩ vậy rồi, ông ta liền đem quả ấy dâng cho phu nhân. Phu nhân được quả ngon, liền dâng lên vua Vua ăn cảm thấy rất thom ngon, liền hỏi phu nhân:
- Từ đâu ái khanh có quả này?
Phu nhân đáp:
- Thái giám biếu cho thần thiếp!
Vua lần lượt tra hỏi, biết được quả này xuất phát từ người giữ vườn. Vua liền cho gọi người giữ vườn đến hỏi:
- Trong vườn có trái ngon như vậy, tại sao ngươi không dâng lên cho trẫm mà lại đem cho người khác?
Người giữ vườn trình bày rõ ngọn ngành, nhưng vua không tin, lại bảó rằng: ‘Từ nay về sau, ngươi phải thường xuyên dâng quả này cho ta. Nếu trái lệnh, ta sẽ giết ngươi’.
Người giữ vườn trở về khóc lóc sầu thảm, than thở: ‘Quả này không trồng thì làm sao có được!’.
Khi ấy, rồng sống trong ao nghe tiếng khóc, liền hóa thành người đến hỏi rằng:
- Tại sao ngươi khóc?
Người giữ vườn trình bày đầy đủ sự việc. Rồng nghe xong, liền xuống nước lấy quả ấy đặt trên mâm vàng, trao cho người giữ vườn và bảo:
- Ngươi mang quả này dâng lên cho vua và thuật lại ý của ta rằng: ‘Vào thời quá khứ, lúc Đức Phật còn tại thế, ta và quốc vương vốn là bạn thân, cả hai đều là Phạm chí, cùng tu bát quan trai. Mỗi người có một ý nguyện. Do vua giữ giới trọn vẹn nên nay được làm quốc vương, còn ta phạm giới nên sinh làm long vương. Nay ta lại muốn tu pháp bát quan trai để mong xả bỏ thân này. Mong ngươi hãy nói vua tìm cho ta một bản văn Bát quan trai, rồi mang đến đây, nếu vua trái ý ta, ta sẽ biến đất nước này thành biển cả’.
Bấy giờ, người giữ vườn nhận mâm trái cây dâng lên cho vua và tâu trình đầy đủ lời dặn dò của rồng. Vua nghe xong, trong lòng lo lắng, suy nghi: ‘Làm sao có thể tìm được. Hiện giờ, ngay cả danh từ Phật pháp cũng không có, huống gì văn Bát quan trai! Nếu tìm không được bản văn ấy, e rằng đất nước sẽ gặp tai ương’. Vua suy nghĩ mãi mà vẫn không thể tìm được cách giải quyết.
Bấy giờ, trong nước có một vị đại thần rất được vua quan kính trọng. Vua cho gọi đến và bảo:
- Rồng muốn xin trẫm bản văn Bát quan trai, khanh hãy tìm giúp trẫm!
Vị đại thần tâu:
- Đời nay không có Phật pháp thì làm sao tìm ra bản văn đó?
Vua lại bảo:
- Nếu khanh tìm không được, trẫm sẽ giết khanh.
Vị đại thần nghe xong, liền trở về nhà, sắc mặt lo lắng buồn rầu khác thường. Người cha của vị đại thần tuổi tác đã cao, thấy con từ triều trở về nét mặt khác thường, nên hỏi lý do. Vị đại thần liền trình bày rõ mọi việc cho cha nghe.
Người cha nói:
- Cha thấy cây cột trong nhà mình thường có ánh sáng phát ra. Con hãy chẻ ra xem thử.
Vị đại thần chẻ cột nhà ra thì quả thật có hai quyển kinh Thập nhị nhân duyên và văn Bát quan trai. Đại thần tìm được kinh, vô cùng vui mừng, liền đặt trên mâm vàng dâng lên cho vua. Vua có được quyển kinh, vui mừng khôn xiết, liên mang đến cho long vương. Long vương được bản văn Bát quan trai cũng rất vui mừng, liền đem châu báu tặng cho vua. Hai người từ biệt nhau, ai nấy trở về nơi ở của mình. Sau đó long vương cùng năm trăm rồng con siêng năng tu tập pháp Bát quan trai, sau khi mạng chung đều được sinh lên cõi trời Đao-lợi. Nay họ bay xuống cúng dường ta, nên có ánh sáng rực rỡ như vậy.
Đức Phật bảo A-nan:
- Ông nên biết, năm trăm rồng con thụ bát quan trai lúc đó, nay chính là năm trăm thiên tử này.
Lúc Đức Phật nói nhân duyên này, có người đắc bốn quả Sa-môn, có người phát tâm Vô thượng bồ-đề.
Đại chúng nghe Đức Phật nói xong, đều hoan hỉ vâng theo”.
Di giáo pháp luật ghi: “Nếu người xuất gia ngồi xe, cưỡi ngựa một ngày thì mất công đức của năm trăm ngày trì trai; nếu ngồi xe, cưỡi ngựa một năm thì trừ mất mười tám vạn ngày trai. Xá-lợi-phất thưa: ‘Vì sao tì-kheo ngồi xe, cưỡi ngựa thì mất năm trăm ngày trai?'. Đức Phật dạy: ‘Vì tì-kheo là người biết giới luật, chúng sinh thấy hành vi này thì khinh chê, khiến họ phải phạm tội. Nếu người già và bệnh tạm ngồi xe, cưỡi ngựa thì không phạm”.
Hỏi: Vì sao không nói đến người thế tục?
Đáp: Người xuất gia tâm thanh tịnh, rỗng lặng, từ bi thương xót muôn loài. Nếu cưỡi ngựa, ngồi xe kéo, thì mọi người sẽ lấy làm lạ, mà chê trách. Còn hàng thế tục thân tâm ô trược, luôn gây tội ác, ví như giết người ...là chuyện bình thường, đâu cần nói tội nặng nhẹ. Nếu đi xe cười ngựa, mọi người cũng đâu lấy làm lạ.
Có bài tụng:
Lòng tham thật không đáy
Chẳng lo tạo phúc lành
Chỉ mong thức ăn ngon
No bụng chằng biết thẹn
Bụi dơ chưa từng quét
Tâm cấu há dẹp trừ
Phá trai, đêm ăn uống
Cô phụ lòng đàn-na
Khổ đau, mạng ngắn ngủi
Nghiệp đẩy đến u đồ
Nổi trôi biển Tứ lưu
Khó gặp thuyền Lục độ
Ác nhỏ mà không sửa
Thiện lớn đâu thể làm
Giống như rồng ao nhỏ
Đâu bằng rồng biển sâu.
90.3. CẢM ỨNG
90.3.1. Đời Tấn, Tôn Trĩ: Tôn Trĩ tự là Pháp Huy, người ở huyện Bàn Dương, nước Tề, cha tên là Tộ, làm quan đến chức Thái trung đại phu. Lúc nhỏ Tôn Trĩ kính tin Phật pháp, vào tháng tám niên hiệu Hàm Khang thứ nhất (335), ông bị bệnh mà qua đời. về sau Tộ dời nhà đến Vũ Xương, ngày mồng tám tháng tư, niên hiệu Hàm Khang thứ ba, sa-môn Vu Pháp Giai thỉnh tôn tượng đi ngang qua nhà Tộ, cả nhà lớn nhỏ đều ra xem. Bỗng thấy Trĩ cũng đi theo đoàn rước tượng.
Gặp cha mẹ, Trĩ liền đến quì lạy thăm hỏi rồi cùng về nhà. Thấy cha bị bệnh, Trĩ nói:
- Không có họa gì lớn, chỉ chẳng tự lo bảo vệ mình mà sinh bệnh. Đến tháng năm sẽ lành.
Nói xong liền từ biệt; đến ngày mười lăm tháng bảy năm ấy Trĩ lại trở-về, quì lạy thăm hỏi cha mẹ giống như lúc còn sống. Trĩ kể:
- Ông ngoại là Thái sơn Phủ quân, khi nghe con nói tên họ của mẹ, liền hỏi: “Ngươi là con của người tên đó họ đó ư? Chưa phải lúc đến nơi đây, tại sao lại đến?”. Con đáp: “Bác con dẫn đến để trả lời thay”.
Khi có người đến tra xét, thẩm vấn bác, sắp bị đánh đập, con liền cứu giải, nên được tha”.
Anh của Trĩ tền là Dung tự là Tư Uyên, lúc ấy đang đứng bên cạnh, Trĩ nói:
- Tuy em đã bỏ thân xưa, nhưng bây giờ được ở nơi vui sướng, chi có việc đọc sách, chứ không làm gì khác, xin anh chớ lo buồn. Anh nên siêng năng, chuyên tâm tu thiện, thì phúc sẽ tùy thân. Con học hai năm thì xong, sẽ sinh trong gia đình quốc vương. Còn bạn bè con, khoảng năm trăm người đang ở tại phúc đường, học thành họ sẽ sinh lên cõi trời thứ sáu. Con cũng muốn sinh lên đó, nhưng vì nhân duyên phải giải cứu tổ tiên trói buộc, nên một mình con sinh vào nhà Vương gia.
Đến ngày mồng bảy tháng bảy Trĩ lại trở về nói: “Chu thành sẽ có loạn lạc...”. Trĩ kể rất nhiều, những việc xảy ra đều đúng như vậy. Người nhà giữ bí mật, cho nên không ai truyền ra ngoài. Trĩ lại nói:
- Tổ tiên tạo rất nhiều tội, nên vì họ mà tạo phúc. Con nay sinh làm người, không cần lo việc sinh sống, chỉ lo cứu giúp tổ tiên mà thôi. Xin cha và anh siêng năng tu phúc, tạo nhiều công đức. Khi cúng thức ăn chỉ cần thanh tịnh. Nếu mỗi mỗi đều làm đúng pháp thì được phúc bậc thượng, làm kém hơn thì được phúc cũng kém hơn. Nêu không như thế thì chỉ uổng phí công sức và tiền của mà thôi. Lại nên khởi tâm bình đẳng, không phân biệt đây kia, thì phúc càng lớn hơn.
Trong nhà Tộ có một tớ gái, lúc Trĩ chưa về, bỗng nhiên bị bệnh sắp chết, toàn thân đau đớn. Trĩ nói:
- Đứa tớ gái này muốn bỏ trốn, hôm trước ta đã đánh nó, nên nó không thể trốn được.
Trĩ hỏi, nó đáp: “Lúc trước thật tôi muốn bỏ trốn, đã hẹn ngày giờ với người khác rồi, nhưng khi sắp đến ngày đi lại thôi”.
90.3.2. Đời Nam Tề, Vương Tứ nương: Vào niên hiệu Vĩnh Minh thứ ba (485), bà qua đời, người nhà đặt tử thi trên đất, người trang điểm cho bà cảm thấy nơi ngực còn ấm, nên không liệm. Qua hai đêm, cơ thể ấm dần, có hơi thở nhẹ. Lát sau thì bà nói được và kể:
- Có hai người đến bắt và dẫn tôi đến một cổng thành lớn. Một vị sa-môn ngồi trên Hồ sàng thấy tôi đến, vô cùng kinh ngạc hỏi: “Vì sao lại đến đây?”, rồi mắng hai người dẫn đi: “Các ngươi bắt lầm người rồi! Mỗi người phải bị phạt bốn mươi gậy”. Vị-sa môn bảo tôi: “Tứ nương có thể đi được!”. Tôi đáp: “Lúc nãy thần trí tôi mơ hồ, nên không nhớ đường đi, xin ngài cho người chỉ đường”. Sa-môn sai một người dẫn tôi đi, được một đoạn, thì gặp đứa con trai của một gia nhân chết trước kia đang đứng tựa vào lầu cao. Thấy tôi, nó vô cùng kinh ngạc và hỏi: “Sao bỗng nhiên lại đến đây, muốn gặp nàng dâu mới không?”. Bà đáp: “Không biết đường đi. Có thể dẫn ta đi được chăng?”. Đáp: “Không thể dẫn được. Tứ nương cứ đi về phía truớc, nhất định sẽ gặp”. Nó lại ném cho tôi một con roi ngựa và nói: “Chỉ cầm con roi này, thì tự biết đường đi!”. Được mấy dặm thì gặp nàng dâu mới, tức chị dâu của Tứ nương đang chịu hình phạt, chân tay bị trói chặt, giống như buộc ngỗng vịt treo bên đường. Gặp tôi, cô ây buồn khóc và nói: “Lúc sống tôi tạo tội, nên nay phải chịu khổ đau này. Muốn co tay che mặt cầu xin cứu giúp, nhưng hay tay bị trói chặt không thể đưa đến mặt. Lại nghe chung quanh có tiếng kêu la thống khổ, nhưng không thấy hình. Tứ nương hỏi là tiếng của ai, thì chị dâu đáp: “Đây là tiếng kêu la chịu khổ của các tăng không có đức hạnh, phá giới phạm trai”.
Sau đó tôi theo đường trở về, trong chớp mắt thì đến nhà. Bấy giờ thấy thân thể của mình, tôi rất ghét, không muốn nhập thân. Nhưng bất giác, có người đẩy tôi té dính vào đó, thế là tôi sống lại.
Lúc kể câu chuyện này, Vương Tứ nương vẫn còn sống khỏe mạnh.
90.3.3. Đời Đường, Lí Tư Nhất: Tư Nhất người Lũng Tây, hiện cư trú tại huyện Phủ Dương, Tương châu. Tháng giêng, niên hiệu Trinh Quán hai mươi (646), ông qua đời, nhưng một ngày sau sống lại (đã ghi trong Minh báo kí). Đến tháng năm niên hiêu Vĩnh Huy thứ ba (652), ông lại chết, qua một đêm thì sống lại và kể:
- Năm nay tôi chưa đến lúc chết, nên Diêm vương cho về. Trước điện Diêm vương, tồi thấy tăng Biện Khuê trụ chùa Pháp Quán huyện Phủ Dương ở Tương châu, tăng Hoàng Lượng và Tuệ Thật trụ tại chùa Hội Phúc. Cả ba đều đối đáp trước Diêm vương. Tôi nghe Minh quan nói: “Tuệ Thật chưa đến lúc chết, nên trở về tu công đức. Biện Khuê, Hoàng Lượng năm nay nhất định qua đời”.
Năm ấy, quả thật hai vị tăng ấy lần lượt thị tịch, về sau chư tăng trong chùa mời một đồng cốt đến phòng cũ của Biện Khuê, Hoằng Lượng hỏi. Biện Khuê mượn thân đồng cốt nói: “Tôi phá trai, nay phải chịu khổ lớn”. Khuê dặn dò đệ tử: “Các ông nên vì ta thiết trai cúng dường, để cứu ta thoát khổ nạn”. Các đệ tử lập tức thiết trai cúng dường. Đồng cốt lại nói: “Biện Khuê đã thoát tội”. Hoằng Lượng cũng nói: “Ta không những đã phá trai mà còn nói bậy những chuyện tốt xấu của người trì trai giữ giới. Cho nên ngày nay bị tội kéo lưỡi, đau đớn, không thể nói nhiều”.
Tăng Tuệ Vĩnh ở chùa Trí Lực, Tương châu đã thuật lại việc này.
91. CHƯƠNG THƯỞNG PHẠT
91.1. LỜI DẪN
Loài hàm linh đều ham sống sợ chết, bậc trí nhân cũng thích lợi ghét hại. Vì thế suốt đời hành nhân nghĩa thì tinh thần an vui, trái thiên tính tổn hòa khí thì khiến người oán hận. Sử Thiên ghi: “Có cái chết nhẹ như lông hồng”. Trang Chu nói: “Có cái sống nặng hơn cả thiên hạ”. Cho nên sống chết trái tình thì oán hận đến u đồ; thưởng phạt không phân minh thì tiếng bi ai uất nghẹn. Như hình thanh đối với tai mắt, thức ngủ đối với tinh thần, khồng bao giờ có việc vay mà không trả. Than ôi! Thật đáng sợ, đáng thương thay! Mong những kẻ quyền hào nhìn vào gương sáng mà bớt ra uy, những người tham dục mở Nguyên qui mà chế tâm ý. Người không tạo tội thì thân thể vẹn toàn, người tu phúc thiện thì tuổi thọ đồng kiếp thạch.
91.1 DẪN CHỨNG
Kinh Bách dụ ghi: “Thuở xưa, có hai người trồng mía kết giao: "Mía của ai ngon thì người đó được thưởng, còn mía của ai không ngon thì người đó sẽ bị phạt nặng"
Khi ấv, có một người nghĩ: ‘Cây mía rất ngot nếu ta ép lấy nước rồi tưới lại cây mía, thì cây mía của mình chắc chắn sẽ ngon hơn mía của anh kia’. Nghĩ vậy, anh ta liền ép lấy nước đem tưới, hy vọng cây mía có mùi vị ngon hơn. Không ngờ, ngược lại tất cả mầm của mía đều hư hết.
Cũng vậy, chuyện này dụ cho người đời muốn cầu phúc lành, mà ỷ vào sự giàu sang của mình, dùng quyền thế ức hiếp dân lành, chiếm đoạt tài sản của người, để cầu thiện quả, mà không biết tương lai, sẽ chuốc lấy tai ương; giống như người ép mía kia, làm mất hết tất cả”.
Kinh A-dục vương ghi:
- Phu nhân Liên Hoa của vua A-dục sinh được một thái tử khôi ngô tuấn tú, đặt tên là Câu-na-la, vì đôi mắt thái tử giống mắt loài chim này. Thái tử được nhà vua vô cùng yêu quí. Đến tuổi trưởng thành, thái tử cưới một người vợ tên là Chân Kim Man. Một hôm thái tử cùng vua cha đến gặp các vị thượng tọa ở chùa Kê-đầu-ma. Thượng tọa Dạ-xa biết nhất định về sau thái tử sẽ mù mắt, nên thường thuyết giáo nghĩa ‘mắt là vô thường’ cho thái tử nghe. Bấy giờ đại phu nhân của vua tên là Đế-thất-la-xoa thấy đôi mắt thái tử xinh đẹp, nên dục tâm phát khởi, ép thái tử làm việc bất chính. Thái tử nghe những lời ấy liền bịt tai, không thuận theo ý muốn của bà ta. Từ đó đại phu nhân oán hận, luôn tìm những lỗi lầm của thái tử, mong móc lấy đôi mắt ấy. Lúc ấy, nhân dân đô thành Đắc-xoa-thỉ-la nước Càn-đà-la ở phương bắc phản nghịch, vua sai thái tử đến yên định. Một thời gian sau nhà vua bệnh nặng, trong miệng toàn là phân dơ, các lỗ chân lông trên thân cũng tiết ra nước phân hôi thối như thế, không ai dám đến gần. Vua biết vậy nến ban chiếu triệu thái tử về, để kế thừa vương vị.
Đại phu nhân nghe việc này, liền nghĩ: “Nếu thái tử làm vua, ta hết đường sống”. Thế là bà tìm cách tâu: “Thần thiếp có thể chữa lành bệnh cho đại vương!”.
Bà xin vua ban lịnh cho nhân dân cả nước, những ai có bệnh giống như vua thì đưa đến cho bà chữa trị. Ngày kia có một người nam bị căn bệnh giống như vua, vợ người này đến hỏi thầy thuốc, thầy thuốc bảo dẫn bệnh nhân đến. Thế là ông theo lệnh của đại phu nhân, đưa người này vào gặp bà. Bà cho người giết chết người bệnh. Khi mổ bụng ra xem, bà thấy có một con trùng rất lớn, khi nó đi lên thì mang phân lên, khi nó đi xuống thì mang phân xuống. Dù cho nó uống nhiều loại thuốc, nhưng vẫn không chết; cuối cùng đổ hành vào thì nó liền chết. Thế là bà khuyên nhà vua ăn hành. Vua nghe theo, thì trùng chết, bệnh lành hẳn.
Sau khi lành bệnh, vua ban cho bà một ước nguyện. Bà xin được làm vua bảy ngày. Vua chấp thuận. Thế là bà ngụy tạo chiếu thư của vua A-dục nói với dân thành Đắc-xoa-thi-la rằng thái tử có tội lớn, phải nhanh chóng móc đôi mắt. Viết xong, thừa lúc vua ngủ, bà lén lấy ấn định đóng vào. Nhưng vua tỉnh giậc, nói với đại phu nhân: “Ta mộng thấy có hai con chim ưng đến mổ mắt thái tử Câu-na-la”. Nói vừa Xong, vua nằm ngủ tiếp; rồi lại tỉnh giấc nói: “Ta mộng thấy tóc thái tử rất dài, đang ngồi trên đất”. Đai phu nhân giả vờ an ủi vua, vua lại ngủ tiếp. Lúc này bà lấy ấn đóng vào chiếu thư, sai sứ mang đi. Bấy giờ vua mộng thấy răng mình tự rụng, sáng sớm thức dậy triệu thầy tướng đên đoán mộng. Thầy tướng nói: “Mộng này là điềm thái tử nhât định mù mắt”. Vua nghe vậy liền chắp tay đỉnh lễ cầu xin những vị thần hộ trì Phật đạo, những bậc tin pháp, tin tăng khắp mười phương bảo vệ thái tử.
Khi chiếu thư đến, Câu-na-la liền tin, bèn bảo một người thuộc dòng Chiên-đà-la móc mắt mình, người này không chịu. Nhưng do nhân duyên nghiệp báo nhiều đời, nên lúc ấy có tự nhiên một người diện mạo hung ác đến xin móc mắt thái tử. Thái tử bảo: “Trước hết ngươi hãy móc một mắt đặt vào tay ta!”. Khi người ấy đưa dao đến mắt thái tử, thì nhân dân trong thành đều oán than, gào lớn: “Lạ thay! Đau xót thay!”. Tất cả đều đau buồn khóc lóc, không thể kềm lòng”.
(Phó pháp tạng truyện ghi: “Tìm một người ác móc mắt phải của mình, đặt vào lòng bàn tay rồi quán sát. Bây giờ thái tử nhớ lại lời thượng tọa Da-xá răn dạy lúc trước mà nói: ‘Mắt là vô thường, giống như huyễn hóa. Khi xưa thật là đẹp, nay có gì đáng ưa. Nên bỏ pháp mục nát này mà cầu đôi mắt thanh tịnh tối thắng Khi tư duy như thế, thái tử liền được quả Tu-đà-hoàn. Lại móc mắt trái, thái tử cũng tư duy quán sát như thế, thì tâm nhàm lìa đã cùng tột, liền chứng quả Tư-đà-hàm. Bấy giờ thái tử phi Kim Man nghe chồng bị móc mắt, trong lòng đau đớn, khóc lóc kêu gào đến thăm. Khi thấy thái tử như vậy, Kim Man chết giấc, hồi lâu mới tỉnh. Thái tử nói kệ giải thích:
Xưa ta tạo nghiệp ác
Ngày nay phải nhận lấy
Thế gian đều đau khổ
Ân ái rồi cũng lìa
Nàng nên tư duy kĩ
Đâu cần phải khóc than!
Kinh ghi tiếp:
- Thái tử đáp lời vợ: “Ngày xưa ta gây tạo, ngày nay phải nhận lấy, ân ái rồi cũng biệt li, đâu cần phải khóc lóc”; Bị sứ giả đuổi, vợ chồng dắt nhau ra đi, hằng ngày đàn ca kiếm tiền nuôi sống. Tháng ngày trôi qua, hai người dần dần về đến cố hương, muốn vào cung, nhưng lính canh ngăn cản. Hai người bèn trú đêm tại chuồng ngựa bên ngoài, gần sáng gảy đàn bày tỏ nỗi oan khổ.
Vương nghe tiếng đàn, lòng rất nhớ con, liền cho người gọi vào gặp. Vua thấy một người mù hai mắt, thân hình gầy ốm, áo quần dơ bẩn rách nát, nên không nhận ra. Nhưng nhìn vóc dáng hao hao thái tử, nhà vua vội hỏi: “Ngươi là thái tử Câu-na-la, phải chăng?”. Đáp: “Chính là con đây!”. Vua vừa nghe lời này, liền mê ngất, té ngã trên đất. Sau khi vẩy nước lạnh lên mặt, vua mới tỉnh dậy. Vua vội ôm lấy đầu gối thái tử, sờ vào hai hốc mát mà khóc lóc và nói: “Đôi mát của con vốn giống mắt chim câu-na-la, nên mới có tên như thế. Nay đôi mắt không còn, thì lấy gì mà đặt tên! Ai đã móc mắt con, khiến con phải chịu khổ đau, tiều tụy thế này? Hãy mau nói cho ta biết! Thấy hình hài con tiều tụy, khô gầy như thế, thân tâm ta như bị lửa đốt cháy tan!”. Thái tử thưa: “Xin phụ vương chớ buồn phiền, tự con tạo nghiệp, thì phải nhận lấy, không nên oán người khác. Con nhận được chiếu thư móc mắt có đóng ngọc tỉ của phụ vương”. Vua lập thệ: “Nếu ta ban sắc móc mắt con, thì ta sẽ tự cắt lưỡi; nếu ta trao ngọc tỉ để đóng, thì ta sẽ tự rút lưỡi mình. Nếu ta thấy qua sắc lịnh này thì ta cũng tự móc mắt”.
Sau đó vua suy xét biết là do la-sát giả tạo chiếu thư ấy, cho nên gọi đến mắng: “Kẻ độc ác xấu xa kia! Mặt đất nào mà dung chứa ngươi? Sao hôm nay ngươi không tự chôn mình đi? Ngươi là oán gia của ta, dối trá tỏ lòng yêu thương gần gũi”.
Vua dùng nhiều ngôn từ trách mắng, rồi bảo bôi keo thiêu chết bà ta.
Phó pháp tạng truyện ghi: “Bấy giờ thái tử Câu-na-la khởi lòng từ bi, thưa phụ vương: ‘Nếu hôm nay giết đại phu nhân, nhất định oán thù nhiều kiếp trả vay, thí như do tiếng mà có vang. Như đứa bé chưa hiểu biết đạo lí, có lòng bất kính, mắng chửi cha mẹ, lẽ nào cha mẹ lại giận đứa con này sao? Tất cả chúng sinh cũng như vậy, luôn bị phiền não che lấp tâm tính, ngu si vô trí, giống như đứa bé kia, làm sao mà giận họ được’. Nhưng vua cùng cực phẫn nộ, không nghe những lời này, sai người chất củi, tưới dầu thiêu chết đại phu nhân.
Kinh lại ghi:
- Bấy giờ các tì-kheo hỏi tôn giả ưu-ba-cúc-đa: “Vì những nhân duyên gì mà như thế?”. Tôn giả đáp: “Ngày xưa Câu-na-la là một thợ săn ở nước Ba-la-nại. Một hôm bắt được năm trăm con nai đang sống trong hang núi, thợ săn này nghĩ: “ Nếu giết hết một lần thì thịt sẽ hư thối, nên ông ta móc hết mắt để chúng không thể chạy thoát, rồi mỗi ngày chỉ ăn thịt một con. Do nhân duyên này, cho nên từ đó đến nay, trải qua năm trăm đời luôn bị người móc mắt. Lại vào thời quá khứ, sau khi Đức Phật Câu-lâu-tôn nhập niết-bàn, quốc vương Đoan Nghiêm xây dựng tháp đá, trang hoàng bảy báu để an trí xá-lợi Phật. Sau khi vua băng, bạo chúa Bất Tín phá tháp, lấy hết báu vật, chỉ còn lại gỗ và đất. Bấy giờ Câu-na-la là một trưởng giả, đã dùng bảy báu trùng tu tháp, tạo tượng Phật lớn, thiết trai cúng Phật và phát nguyện: ‘Với công đức này, giúp cho con đời sau giống như Đức Phật Câu-lâu-tôn, được giải thoát tối thắng’. Nhờ tạo tháp mà được sinh vào gia đình tôn quí; do tạo tượng Phật mà dung mạo luôn đoan chính; nhờ phát nguyện nên hôm nay được Đạo tích”.
Tây quốc hành kí của Vương Huyền Sách ghi: “Vua biết kế thất gian ác, nên vô cùng phẫn nộ, lập tức gia hình, đồng thời đày tất cả thuộc hạ của bà đến vùng hoang vắng, đất đai khô cằn, nhiễm mặn ở đông bắc núi Tuyết. Bây giờ tại chùa Ma-ha Đề-bà có một vị Thánh tăng là đại a-la-hán Yến Sa. Vua nghe đức hạnh cao vời của ngài, liền đưa đứa con mù đến kể rõ sự tình, đồng thời cầu ngài rủ lòng xót thương chữa trị Nhận lời cầu thỉnh của vua, a-la-hán thông báo cho mọi người trong nước:
- Sáng sớm mai ta sẽ thuyết giáo pháp sâu mầu, mỗi người hãy mang bát theo để chứa nước mắt!
Sáng hôm sau, đạo tục ùn ùn kéo đến. Khí nghe giảng mười hai nhân duyên, mọi người đều vô cùng bi thương, đến nỗi máu lệ tuôn trào. Sau đó mọi người thâu lấy tất cả máu lệ ấy chứa vào mâm bằng vàng. Bấy giờ a-la-hán lập thệ nguyện: ‘Giáo pháp mà con thuyết lúc nãy, nêu đúng lí thì xin dùng nước mắt của đại chúng rửa mắt cho vương tử, mắt lập tức sáng tỏ. Nếu không đúng lí thì mắt vẫn mù như xưa’. Thế là a-la-hán lấy nước ấy rửa mắt cho vương tử, mắt liên bình phục. Vua và vương tử vô cùng vui mừng, mọi người đều cất tiếng ca ngợi:
- Hay thay, hay thay! Chỉ có Thánh lực mới như thế!
Vương tử tức thái tử Câu-na-la. Ngôi tháp kỉ niệm nơi ấy vẫn còn”.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Đã đến giờ khất thực, Thế Tôn đắp y ôm bát đi một mình đến thôn Đại Binh Tướng, vào nhà bà-la-môn Binh Tướng trải đệm ngồi.
Bà-la-môn này có hai cô con gái là Nan-đà và Ba-la, hai cô đi đến đỉnh lễ nơi chân Phật rồi đứng qua một bên. Thế Tôn biết nơi qui hướng của tâm hành và kết sử của hai cô này đã nhẹ mỏng, biết rõ mười tám giới và mười hai nhập. Phật nói pháp tứ đế cho hai cô. Nghe xong, cả hai liền chứng quả Tu-đà-hoàn. Họ đã thấy thật tướng của các pháp, nên xin Phật thụ tam qui, ngũ giới. Đã đắc giới, hai cô nhận bát của Phật sớt đầy thức ăn ngon dâng lên Ngài. Thụ thực xong, Thế Tôn từ biệt thôn ấy ra đi.
Bà-la-môn Đề-bà nghe có Đại sa-môn đến, nghĩ thầm: “Khi xưa ta đã thỉnh Đại sa-môn đến nhà cúng dường thức ăn, nay cảnh nhà sa sút, nghèo khó biết tính sao đây?”. Bà-la-môn vội vàng về nhà bảo vợ:
-Trước kia khi Đại sa-môn tu khổ hạnh ở thôn Ưu-lâu-tần-loa, tôi nguyện cúng dường thức ăn cho ngài. Hôm nay Ngài đến, mình biết làm sao?
Người vợ nói:
-Xin nghe thiếp nói, chưa biết như thế được chăng. Thiếp nhớ lúc còn bé, Đại bà-la-môn Binh Tướng trêu ghẹo và muốn tư thông, nhưng lúc ấy thiếp không chịu, chỉ đụng chạm tí thôi. Bây giờ nếu chàng cho phép thiếp cùng ông ấy tư thông, chắc sẽ kiếm được tiền mua thức ăn cúng dường Đại sa-môn.
Bà-la-mồn Đề-bà đáp:
-Việc này không nên, bà-la-môn ta không thích hợp làm việc này.
Đề-bà đến nhà bà-la-môn Binh Tướng bảo rằng:
- Hay thay Binh Tướng! Làm ơn cho tôi mượn năm trăm tiên, nếu tôi trả được thì không sao. Nếu tôi không trả được thì hai vợ chồng tôi vui vẻ đến nhà ông ra sức làm thuê trả nợ.
Đại bà-la-môn Binh Tướng cho Đề-bà vay năm trăm tiền và bảo:
- Ngươi hãy đem đi tùy ý sử dụng. Việc này nếu xong, người không được mượn người khác trả. Như lời giao kết, ông phải dốc sức kiếm tiền trả tôi.
Đề-bà nhận năm trăm tiền, mang về nhà giao cho vợ và bảo:
-Nàng hãy sắm sửa các thức ăn ngon.
Còn Đề-bà vào rừng, đến chỗ Phật thưa hỏi rồi đứng qua một bên thỉnh Phật:
- Hay thay ! Đại đức sa-môn Cù-đàm, sáng mai xin ngài nhận sự cúng dường của con!
Thế Tôn im lặng nhận lời. Đề-bà biết Phật đã nhận lời, liền đứng lên nhiễu Phật ba vòng rồi trở về nhà.
Khi ấy, tất cả con đường lớn nhỏ trong thành đều có bán thức ăn đã nấu chín. Ngay đêm ấy, Đề-bà chuẩn bị nhiều thức ăn ngon. Rạng sáng, Đề-bà quét dọn nhà cửa sạch sẽ, trải chỗ ngồi rồi đến chỗ Phật, quì thưa:
- Bạch sa-môn! Đã đến giờ, thức ăn đã được chuẩn bị, xin Ngài đến nhà con.
Bấy giờ, Thế Tôn đắp y ôm bát, đi chậm chậm đến nhà Đề-bà, đến tòa đã trải mà ngồi. Hai vợ chồng Đề-bà tự tay dâng những thức ăn hảo hạng lên Thế Tôn, rồi đứng một bên hầu Phật và thưa:
- Xin mời Thế Tôn tùy ý thụ thực.
Hầu Đức Phật thụ thực xong, Đề-bà trải tòa ngồi qua một bên, Thế Tôn thuyết pháp chỉ dạy khiến cho Đề-bà sinh tâm hoan hỉ, rồi đứng lên xin Phật lui ra. Sau đó Đề-bà tiễn Phật về trụ xứ. Hôm ấy vợ của Đề- bà đi mượn áo để mặc hầu cơm Phật. Nàng thấy Phật ra về liền cởi áo treo ở một nơi rồi đi quét nhà. Chợt có tên trộm đến lấy áo mang đi, vợ Đề-bà vì mất áo nên buồn rầu. Đề-bà trở về nhà thấy vợ hơi- buồn bèn hỏi vợ:
- Vì sao nàng buồn như vậy?
Người vợ đáp:
- Chàng nghĩ xem chiếc áo em mượn bỗng nhiên biến mất, không biết ai lấy!
Nghe xong, Đề-bà cũng không biết làm sao, chỉ nói:
- Ta đi vay năm trăm tiền để cúng dường, nàng đi mượn áo lại bị mất, nhà ta nghèo khó lấy gì trả nợ, vậy phải làm thế nào?
Đề-bà định tự tử, bèn đi vào rừng Thi-đà trèo lên cây cao, định gieo mình xuống đất, nhưng lại không thể, chàng lại càng sầu não. Bỗng nhiên tên trộm, từ đâu đến chỗ Đề-bà định tự tử, đào đất chôn cái áo, phủ đất lên và đại tiện lên đó rôi bỏ đi. Đề-bà từ trên cây nhìn thấy, chờ tên trộm đi rồi, liền từ trên cây leo xuống, đào đất lấy áo đem về nhà.
Vợ Đề-bà đang quét dọn nhà cửa, khi đến góc nhà, thấy đất bỗng nhiên sụp xuống, nàng cúi đầu nhìn vào thì thấy một chiếc bình đồng đầy ắp vàng, lại thấy bình thứ hai, bình thứ ba, bình thứ tư đầy vàng. Nhìn xuống nữa, lại thấy một cái chum đồng đỏ cũng đầy vàng, nàng kinh ngạc kêu chồng đến chỉ và nói:
- Anh ơi! Mau lên, mau lên! Thiếp đã được rồi!
Đề-bà nghe vợ gọi thầm nghĩ: ‘Vợ ta thật đáng thương, sao lại loạn tâm nói càn là thiếp đã được rồi? Được vật gì? Trước đây nàng đánh mất chiếc áo đã mượn, nay ta đã tìm được áo đây rồi, sao nàng lại nói mình đã được?’. Đề-bà đem áo vào nhà hỏi vợ:
- Nàng ở nhà giỏi quá, đã được cái gì?
Vợ bèn chỉ bình vàng và nói:
- Em được cái này!
Đề-bà bảo vợ:
- Anh đã tìm được chiếc áo bị mất.
Người vợ cầm chiếc áo đem trả cho lại người chủ. Đề-bà tự nghĩ: ‘Ta không thể âm thầm tiêu xài số vàng quá nhiều này, phải đem năm trăm "tiền trả lại cho bà-la-môn Binh Tướng’. Thế là ông ta mang đủ số vàng đến nhà Binh Tướng và nói: - Nay tôi xin trả lại năm trăm tiền cho ngài.
Binh Tướng nói:
- Trước đây tôi có nói, ông không được vay tiền người khác trả cho tôi, phải dùng sức mình làm kiếm tiền trả nợ.
Đề-bà nói:
- Của này tôi không vay mượn người.
Binh Tướng lại hỏi:
- Vậy từ đâu mà được?
Đề-bà đáp:
- Nhà tôi được kho vàng từ dưới đất.
Binh Tướng không tin. Đề-bà đưa Binh Tướng đến nhà, chỉ cho thấy kho vàng. Khi ấy, Binh Tướng chỉ thấy một đống than, ông bảo Đề-bà:
- Ông điên sao lại nói than là vàng?
Đề-bà bảo Binh Tướng:
- Đây vàng thật không phải là than.
Nói đôi ba lần, rồi sờ vào kho vàng, Đe-bà nói to: ‘Đây là vàng không phải than’, ông nguyện: ‘Nếu nhờ nghiệp lành cúng dường mà tôi được kho vàng thì xin cho bà-la-môn Binh Tướng thấy than tức là vàng’.
Bấy giờ, Binh Tướng mới thấy chỗ ấy đều là vàng, lại hỏi Đề-bà:
- Nhân giả cúng dường ai, là trời, là tiên, là thiện nhân mà được quả báo như thế?
Đề-bà nói:
- Hôm nay tôi chỉ cúng dường Đại sa-môn. Ngài đến nhà tôỉ, tôi cúng dường thức ăn thức uống, có lẽ nhờ công đức ấy mà thành tựu quả báo thế này.
Binh Tướng bảo Đề-bà:
- Kho vàng là do nhân duyên thiện nghiệp của ông mà hiện, không ai có thể cướp đoạt, chớ nghi ngờ cứ yên tâm thụ dụng.
Đề-bà suy nghĩ: ‘Ta cúng dường đại sa-môn một bữa ăn mà được quả báo lớn thế này’. Nên thân tâm tràn ngập niềm vui, liền đến chỗ Phật, rồi ngồi qua một bên.
Sau đó Đề-bà bạch Phật:
- Xin Đại sa-môn ngày mai nhận sư cúng dường của con
Thế Tôn lặng im nhận lời. Đề-bà đứng lên nhiễu Phật ba vòng rồi trở về nhà.
Sau khi cúng dường Phật, hai vợ chồng trải tòa ngồi trước Phật để nghe pháp. Phật biết thể tính tâm hành của họ, cũng biết các kết sử đã nhẹ mỏng, Ngài bèn thuyết tứ đế. Nghe xong, họ dẹp trừ hai mươi lớp núi ngã kiến liền chứng quả Tu-đà-hoàn. Đã thấy thật tướng của các pháp, họ liền cầu thụ tam qui và năm giới.
Bấy giờ tì-kheo bạch Đức Phật:
- Bà-la-môn Đề-bà cùng vợ đời trước tạo nghiệp gì mà được quả báo này, lại từ nơi Như Lai mà chứng được thánh pháp? Lại tạo nghiệp gì đời nay bần cùng rồi bỗng nhiên giàu có?
Đức Phật dạy:
Các ông nên biết, vị ưu-bà-tắc thụ tam qui ngũ giới mà không bố thí thời Đức Phật Ca-diếp, nay là bà-la-môn Đề-bà. Do khi mạng chung nguyện được gặp ta, nên nay được gặp ta. Do khi đó ông ta không bố thí, nên ngày nay bị quả báo bần cùng. Đề-bà tùy nghi cúng dường thức ăn cho ta, nay ta được thành vô thượng bồ-đề lại thỉnh ta đến nhà cúng dường. Do nhân duyên ấy nên được quả báo hiện tại.
Vì thế, nếu các tì-kheo khởi tâm hi hữu cung kính Phật, pháp, tăng thì sẽ được quả báo như Đề-bà, đời hiện tại được hưởng phúc lành. Còn nếu tham lam bỏn xẻn, không chịu bố thí thì đời này phải chịu nghèo hèn khốn khồ”
Có bài tụng:
Có nghĩa thì hòa hợp
Vô nghĩa thì lìa tan
Quẻ Li chẳng cát tường
Tượng hợp thành qui củ
Có công ắt được thưởng
Phạm tội sẽ bị trừng
Chớ nên xử oan uổng
Nếu không, báo xấu theo
91.2. CẢM ỨNG
91.2.1. Đời Chu, Đỗ Bá: Ông tên là Hằng, được phong tước Bá của nước Đỗ, làm quan Đại phu cho nhà Chu, nên thường gọi là Đỗ Bá. Có lần ái thiếp của Chu Tuyên vương là Nữ Cưu muốn thông dâm với ông, ông không chịu. Nữ Cưu hỗ thẹn, oán hận nên tâu với Tuyên vương:
- Hằng bức ép thiếp thông gian với hắn!
Tuyên vương tin, nên bắt Đỗ Bá giam tại đất Tiều, rồi sai Tiết Phủ và Tư Công Kì giết chết. Bạn của Đỗ Bá là Tá Nho nhiều lần can gián nhưng vương không nghe, nên Tá Nho tự vẫn. Đỗ Bá chết rồi lại hiện làm người về gặp Tuyên vương và hỏi:
- Hằng có tội gì?
Vương cho gọi Chúc đến thuật lại việc của Đỗ Bá. Chúc nói:
- Đầu tiên, ai đã bày mưu cho đại vương giết Đỗ Bá?
Vương nói: “Tư Công Kì”. Chúc nói:
- Sao không giết Kì để tạ tội với Đỗ Bá!
Vương bèn giết Công Kì, rồi sai Chúc đến tạ tội
với Đỗ Bá. Nhưng Đỗ Bá vẫn còn hiện hình về nói mình vô tội. Sau đó Tư Công Kì cũng hiện về nói-“Thần đâu có tội gì!”. Tuyên vương lại cho gọi Hoàng Phủ đến và nói:
- Chúc bày mưu cho ta giết người. Những người mà ta giết đều hiện hình về gặp. Nên làm thế nào đây?
Hoàng Phủ tấu: “Giết Chúc để tạ tội họ”. Thế là vương giết Chúc để tạ tội với cả hai. Nhưng thật vô ích, Chúc cũng hiện hình người về nói: “Thần đâu biết gì, sao lại cho đó là tội mà giết thần?”,
Ba năm sau, một hôm Chu Tuyên vương đi săn ở Phủ Điền, người ngựa theo rất đông. Đến trưa, bỗng thấy Đỗ Bá cưỡi ngựa trắng, mặc áo trắng; Tư Công Kì bên trái, Chúc bên phải mặc áo đỏ đội mũ đỏ, tay cầm cung đỏ lắp tên đỏ, xuất hiện
bên trái đường đi, bắn một phát trúng ngay tim Tuyên vương xuyên qua lưng, rơi xuống đất mà chết.
91.2.2. Đời Hán, Vương Tế: Một thuộc hạ của Vương Tế thường lén đến chỗ tớ gái để lấy áo quần, vật dụng. Cô tớ gái này muốn gian dâm với anh ta, nhưng anh ta không dám. Cô tớ gái bảo nếu không thuận thì sẽ la lớn cho mọi người biết. Nhưng anh ta vẫn nhất quyết không chịu. Cô tớ gái kia liền la:
- Người này muốn cưỡng bức tôi!
Vương Tế liền sai người giết anh ta. Anh ta phân trần, biện bạch mọi sự việc, nhưng Tế không tin. Lúc dẫn đi chém, anh ta quay lại nói với Tế:
- Tôi không nhẫn chịu nỗi oan ức này, sẽ kiện lên Phủ quân trên trời!
Sau đó Vương Tế bị bệnh, một hôm bỗng nhiên thấy một người đến bảo:
- Lúc trước ta đã nói thật, nhưng ngươi không biết lí lẽ, nay phải theo ta! Mấy ngày sau Vương Tế qua đời.
91.2.3. Đời Hán, Du Ân: Ân tự là Ấu Tề, làm Vũ Lâm Trung lang tướng. Do lúc trước ông đã có hiềm khích với Tư lệ hiệu úy Hồ Chẩn, nên nay Hồ Chẩn vu oan giết chết ông. Sau khi ông chết hơn một tháng, thì Chẩn bị bệnh đôi mắt lộ ra ngoài, luôn miệng nói: “Chịu tội! Chịu tội! Du Ấu Tề dẫn quỉ đến!”, cứ thế mà qua đời.
91.2.4. Đời Tấn, Vương Phạm: Phạm làm huyện lịnh Phú Dương, có một người thiếp tên là Đào Anh, dung nhan rất xinh đẹp. Nhưng cô này lại thông gian với hai thuộc hạ của Phạm là Đinh Phong và Sử Hoa Kì. Một hôm Phạm ra ngoài chưa về, đô đốc Tôn Nguyên Bật đang ở trong trướng nghe trong phòng của Đinh Phong có tiếng bội ngọc va chạm, liền nhìn vào thì thấy Đào Anh đang nằm chung chăn với Phong, Nguyên Bật gõ cửa quát lớn. Đào Anh vội ngồi dậy, nắm lấy quần, vén lại tóc, mang dép rồi trở vào trong nhà. Nguyên Bật lại thấy Hoa Kì đeo túi thơm của Đào Anh. Hai người sợ Nguyên Bật tố cáo với Phạm, nên cùng hùa nhau vu khống Bật tư thông với Đào Anh. Vương Phạm không tra xét kĩ, vội giết Nguyên Bật. Bấy giờ có Trần Siêu ngồi đó chứng kiến còn xúi dục Phạm định tội Nguyên Bật.
Sau Vương Phạm chinh phạt trở về, Trần Siêu cũng về kinh gặp Phạm. Khi Siêu đi đến chân núi Xích Đình thì gặp trời mưa, sấm sét nổi lên. Đến chiều tối bỗng nhiên có một người xốc hai nách của Siêu lôi vào vùng đầm vắng. Trong ánh chớp sáng, Siêu nhận ra đây là một con quỉ, mặt mày xanh đen, mắt không có con ngươi. Quỉ nói:
- Ta là Tôn Nguyên Bật, đã kêu oan lên hoàng thiên, sẽ sớm thấy các ngươi chịu tội. Ta đợi ông đã lâu, nay mới gặp được!
Siêu dập đầu tuôn máu tạ tội. Quỉ lại nói:
- Vương Phạm là kẻ chủ mưu, phải giết trước. Giả Cảnh Bá, Tồn Văn Độ đang ngồi tại Huyền đường ở Thái sơn, cùng xác định danh sách sinh tử. Hồn phách của Đào Anh cũng bị bắt vào Nữ Thanh đình, đó là địa ngục thứ ba ở u minh, chuyên trị tội quỉ nữ”.
Đến sáng thì quỉ biến mất, Siêu về đến Dương Đô, đến gặp Vương Phạm, nhưng chưa dám nói lại việc này, bỗng nhiên thấy quỉ từ bên ngoài xông thẳng vào phòng Vương Phạm. Đến tối Vương Phạm vừa đi ngủ, bỗng nhiên hôn mê, kêu nhiều tiếng mà không tỉnh. Người nhà bèn dắt con trâu đen đến bên Phạm, lại đặt thêm hình nhân bằng gỗ đào nắm dây đứng bên trái. Đến sáng Vương Phạm hơi tỉnh, khoảng mười ngày sau thì chết, người thiếp kia cũng đột nhiên qua đời. Siêu sợ hãi trốn vào chùa Trường Can, đổi tên là Hà Qui. Ngày ba tháng ba năm năm sau, Siêu ra bờ sông uống rượu, trong lức cao hứng nói: “Từ nay ta không sợ con quỉ ấy”. Vừa nói xong, Siêu cúi đầu nhìn xuống sông, thì thấy hình quỉ trong nước đưa tay đánh vào mũi Siêu, máu tuôn ra hơn một thăng. Mấy ngày sau Siêu qua đời.
91.2.5. Đời Tấn, Trương Tuấn: Trương Tuấn chiếm cứ Lương châu; bấy giờ có Trấn tướng tướng quân Vũ uy âm Giám có công lao to lớn, gia tộc cường thịnh. Tuấn đố kị nên dụ dỗ quan chủ bạ Ngụy Toàn vu cáo Giám mưu phản. Lấy cớ ấy, Tuấn bức ép Giám tự sát. Ba năm sau Toản bị bệnh, thấy Giám hiện về đứng bên giường, qua vài hôm Toản chết.
91.2.6. Đời Tấn, Dương San: Dương San tự là Ý Bành Tổ, làm Thái thú Lô Lăng, bản tính thô bạo, ngang bướng, hiếu thắng. San cậy mình là quốc thích nên mặc tình tác oai, tác quái. Chỉ cần hiềm giận ai một tí là tùy tiện giết chết. Bấy giờ Chinh tây dại tướng quân Dữu Lương bắt San tống giam, đồng thời viết tấu văn về triều. Hữu ti tâu:
- San giết chết hai trăm chín người, trong đó có cả quan lại lớn nhỏ trong quận và nhân dân như Giản Lương... lại bắt đi đày hơn một trăm người. Tội này của San đáng chém đầu, nhưng căn cứ theo Bát nghị xin miễn hành hình.
Hiển tông hạ chiếu ghi:
- Việc này xưa nay chưa từng có, việc này thị làm được, thì có việc gì mà không làm được, đâu cần Bát nghị, trẫm hạ chỉ tống giam vào ngục.
Bôn là cháu kêu San bằng bác ruột, trước có cưới công chúa Nam Quận, tự dâng biểu xin từ hôn nhưng không được vua chấp nhận. Sơn thị là Vương phi của Lang Da vương Hiếu, cũng là cháu kêu San bằng cậu ruột, khổ cầu vua tha mạng cho San. Bấy giơ Tư đồ Vương Tuân, vạch rõ tội của San không thề dung thứ, cần phải khép vào hình phạt nặng nhất. Sơn thái phi lo buồn, đến nỗi sinh bệnh: Có người tâu:
- Ân của bệ hạ thật vô cùng, hãy cho San được toàn tính mạng.
Bấy giờ vua hạ chiếu:
- Sơn thái phi chỉ có một người cậu này, nói ra cũng thật đau xót, lồng lo lắng u sầu, đến nỗi thổ huyết. Lúc trẫm cô độc, gian khổ đã nhận ân chăm sóc nuôi dưỡng của Thái phi, đồng như ân từ mẫu. Nếu Thái phi không qua được căn bệnh khó nhẫn chịu này, phải ra đi thì trẫm biết nương tựa vào đâu. Nay tha cho San toàn tính mạng, để an ủi Thái phi đáp ân cậu cháu.
Thế là phế hết chức tước của San, cho làm thứ dân. Không bao lâu San bị bệnh, lại thường thấy Giản Lương... hiện về nói:
-Đâu thể chịu được nỗi oan này, nên hôm nay chúng ta đến bắt ngươi dẫn đến hoàng tuyền. Sáng hôm sau thì San chết.
91.2.7. Đời Tấn, Khổng Cơ: Cơ là người hiếu học, có chí khí, kết giao với một người trong tộc là Khổng Tệ. Khổng Tệ bảo hai con mình nhận Cơ làm thầy. Nhưng con của Tệ tính tình hung bạo, không đồng chí hướng. Vì thế nhiều lần Cơ nói cho Tệ biết, khiến hai người con này oán hận. Không bao lâu Tệ qua đời, sau khi mãn tang, Cơ mang dê và rượu đến nhà thăm. Vì còn hận Cơ chuyện ngày trước, nên hai tên này sai gia nô chặn đường giết chết. Trong lúc các gia nô chưa về, thì Cơ đã hiện đến, trừng mắt, chộp áo lớn tiếng bảo:
- Đồ tiểu tử gian ác thối tha các ngươi! Ngày trước Ta được cha ngươi giao phó, một đời thuần hậu, có oán thù gì mà đón đường giết chết ta. Các ngươi thật là khinh trời dối cha, người thần không thể dung thứ. Ta sẽ đoạn dứt dòng họ các ngươi!
Từ đó về sau, Cơ nhiều lần hiện về, khiến họ Khổng không còn hi vọng gì, đứa lớn đi nhà xí, bỗng nhiên hôn mê té ngã, mọi người đến xem thì đã chết trên đất rồi. Còn đứa nhỏ bỗng nhiên bị bạo bệnh cũng chết luôn.
91.2.8. Đời Tấn, Dữu Lượng: Sau khi Dữu Lượng giết Đào Xứng, vào niên hiệu Hàm Khang thứ năm (339), trong lúc đang dự lễ hội cuối đông, bỗng nhiên mấy mươi quan văn võ đều đứng dậy hướng về bậc thềm vái lạy. Dữu Lượng kinh ngạc hỏi nguyên do, tất cả đều trả lời; “Đào công đến!”, Đào công là chính là Đào Khản, cha của Đào Xứng. Dữu Lượng cũng đứng dậy đón tiếp. Lúc ấy Đào công dìu hai người, đều là cừu oán của Lượng ngày trước. Đào công truyền chiếu mấy mươi thuộc hạ đến, tất cả đều cầm giáo. Đào công lại nói với Dữu Lượng:
- Lão bộc đây tiến cử ông đi chinh phạt, đã không đáp ân này, trái lại giết chết con trai ta. Cho nên hôm nay ta đến hỏi ông thử Đào Xứng có tội gì! Ta đã kêu oan lên thiên đế rồi!
Dữu Lượng không nói được một lời. Không bao lâu, Lượng bị bệnh, đến niên hiệu Hàm Khang thứ tám thì qua đời.
91.2.9. Đời Tề, Chân Tử Dung: Tử Dung từng làm quan khai kiểm thuế ở huyện Tĩnh Kinh, nhận hối lộ rất nhiều, bị người tra xét. Tề chúa muốn theo pháp luật điều tra đến cùng, mới giao cho Thành cục tham quân Thôi Viện ở Tinh châu và Trung thư xá nhân Thái Huy cùng tra án. Tội của Tử Dung đáng được tha, nhưng Viện... đoán biết ý vua, nên không tha. Đến lúc sắp bị hành hình, Tử Dung dùng mọi lời để kêu oan, nhưng không được xem xét, nên thề rằng: “Nếu các ngươi vẫn sống tốt lành, thì thật không có đạo trời”. Sau khi Tử Dung chết mười lăm ngày, Viện không bệnh mà chết; còn Thái Huy bị bệnh nan y, da thịt thối rữa, vô cùng thống khổ, khoảng trăm ngày thì chết.
91.2.10. Đời Tề, Cao Diễn: Sau khi Văn Tuyên đế Cao Dương băng, thái tử Ân kế vị, đổi niên hiệu thành Càn Minh. Em cùng mẹ với Văn Tuyên đế là Thường Sơn vương Cao Diễn, quyền thế cực cao tai vùng Tinh châu. Nhân lo việc lăng tẩm của Văn Tuyên đế, nên ông theo linh cữu của Văn Tuyên đến Nghiệp đô. Bấy giờ Càn Minh thấy ông có thế lực lớn lòng nghi ngờ, nên giữ lại Nghiệp đô làm Lục thượng thư sự. Ông vô cùng tức giận, âm thầm mưu phản. Khi các quan trong ngoài triều đã nhóm họp đầy đủ ông bắt trói năm người tâm phúc của Càn Minh là Thượng thư lịnh Dương Tuân Sản..., sau đó dâng sớ kể tội rồi chém đầu, đồng thời phế Càn Minh, tự lập làm vua lấy hiệu là Hiếu Chiếu đế. Sau đó tại Tinh châu có người xem khí vận tâu: “Tại Nghiệp đô có khí tương thiên tử”. Do đó Bình Thái vương Cao Qui Ngạn khuyên giết Càn Minh. Hiếu Chiếu nghe theo, bèn đưa tất cả đến Tinh châu giết hết. Trong năm ấy, Hiếu Chiếu nhiều lần thấy Văn Tuyên đế hiện làm yêu quái đến đòi con. Ông cầu cúng mọi cách, nhưng vẫn không xua đuổi được, cuối cùng quá lo sợ, nên bị bệnh mà qua đời.
91.2.11. Đời Lương, Nguyên Huy: Khi Giang Lăng bị vây hãm, Lương Nguyên Huy người ở Quan nội bắt được sĩ đại phu họ Lưu. Họ Lưu khóc lóc nói mình người Tân Thành, nhưng quên mất tên. Gia đình người này trước kia gặp loạn Hầu Cảnh, nên li tán hết, chỉ còn lại đứa con nhỏ mới mấy tuổi. Ngày hôm nay lại bị bắt dẫn đi, tay Lưu ôm con, chân lại bị xích liền với nhiều người, gặp đường đi bùn tuyết trơn trợt, họ Lưu không thể bước tiếp. Nguyên Huy ép họ Lưu ném bỏ đứa bé, nhưng ông thương yêu con, nên liều chết cầu xin. Nguyên Huy bèn đoạt lấy đứa bé ném trên tuyết, dùng gậy đánh đập xua đuổi ông đi theo. Lưu vừa đi vừa quay đầu nhìn, khóc lóc thật bi thảm. Do quá gian khổ, lại thêm đau thương, mấy ngày sau, Lưu qua đời. Từ đó Nguyên Huy hằng ngày đều thấy Lưu hiện về kéo tay đòi con, nên sinh bệnh. Dù đã tạ tội, nhưng oan hồn Lưu vẫn cứ đến đòi không thôi, nên bệnh Huy ngày càng nặng, về đến nhà thì chết.
91.2.12. Đời Trần, Bá Tiên: Vũ đế Trần Bá Tiên sau khi hại Đại tư mã Vương Tăng Biện của triều Lương, thì trừ khử hết các tướng. Thái thú Nghĩa Hưng là Vi Đới, vốn là con thứ tư của Hoàng môn lang Vi Phóng thấy thế, đã vì các vương công triều Lương mà cố thủ. Bá Tiên nhiều lần cho quân công phá mà vẫn không thắng. Sau Bá Tiên lại đem quân chinh phạt, ông chiêu dụ Vi Đới:
- Tất cả vương công, thân tộc triều Lương đều bị tiêu diệt, một tòa thành cô độc này có hi vọng gì mà ngươi cố chống cự ta như thế? Nếu qui hàng thì không mất công danh phú quí.
Vi Đới đáp:
- Tướng sĩ đều biết, vốn vì vương công tiền triều mà kháng cự đại quân, dẫn đến hai bên thành thù địch. Nay cũng biết ngài đã bình định hết vùng Giang Tả, tôi cố thủ tại biên thành này, ắt không còn đường sống. Ngặt vì hai bên giao chiến, chết chóc quá nhiều, khiến quân sĩ phẫn nộ, một khi qui hàng, e rằng quân dân trong thành không toàn mạng. Hơn nữa mẹ già lại càng sợ tai họa ập đến, vì thế mà miễn cưỡng kéo dài ngày tháng, chưa thể qui hàng. Nếu có thệ ước, sẽ không dám để nhọc uy thần lâu hơn nữa!
Trần Bá Tiên liền bảo chém ngựa trắng lập thệ.
Vi Đới bèn mở cửa thành qui hàng. Trần chúa cũng giữ chữ tín, tha chết cho tất cả. Sau khi về Dương Đô, Trần Bá Tiên lên ngôi, sai Vi Đới theo quân xuất chinh. Lần nọ do Vi Đới chậm trễ việc quân, lại còn nhớ thù xưa, nên Bá Tiên giết Vi Đới. Không lâu, một hôm đang nghị sự trên đại điện, Bá Tiên thấy Vi Đới đến, sợ hãi chạy vào nội cung, rồi đến ngồi tại điện Quang Nghiêm, lại thấy Đới đến. Bá Tiên hỏi mọi người chung quanh, nhưng không ai thấy. Do đó Bá Tiên bị bệnh mà qua đời.
91.2.13. Cân lường định tội: Vương Huyền Sách hành truyện: Truyện ghi: “Theo phép nước Ma-già-đà, muốn biết người phạm tội hay không, thì chỉ cần dùng cân thần mà cân lường, chứ không cần tra khảo. Cách cân người như sau: dùng một vật có trọng lượng bằng người tội, đặt ở một đầu cân, người tội đặt ngồi ở một đầu. Hai đầu ngang bằng thì làm một thẻ. Lại dùng một vật khác trọng lượng cũng bằng như trên thêm vào vật đã nói trước, rồi buộc thẻ vào cổ người tội. Bấy giờ, nếu là người vô tội thì hai đầu cân ngang bằng; nếu có tội thì đâu có vật nhẹ hơn. Căn cứ theo nặng nhẹ bao nhiêu để biết thiện ác khinh trong mà định tội, hoặc khoét mắt, hoặc cắt cổ tay, hoặc chặt ngón tay, chặt chân... Nếu phạm tội nhẹ như thiếu nợ thì cùm hai chân để trị phạt.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
12/01/2016
PUCL QUYỂN 100 - CHƯƠNG TRUYỆN KÍ
QUYỂN 100 Quyển này có một chương Truyện kí. 100. CHƯƠNG TRUYỆN KÍ 100.1. LỜI DẪN Từng nghe: kinh điển của chín nhà chất đầy tại Linh Khâu, sách về phép tắc trong thiên hạ chất kín ở Quần Ngọc, lại cũng có văn khắc trên...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 99 - CHƯƠNG TẠP YẾU
QUYỂN 99 Quyển này có một chương Tạp yếu. 99. CHƯƠNG TẠP YẾU 99.1. LỜI DẪN Lí thể lìa âm thanh, nhưng nhờ vào ngôn từ để biểu ý nghĩa. Ngôn từ không dấu vết, nhưng nương vào văn tự để diễn phát âm thanh. Cho nên văn tự l...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 98 - CHƯƠNG PHÁP DIỆT
QUYỂN 98 Quyển này có một chương Pháp diệt. 98. CHƯƠNG PHÁP DIỆT 98.1 LỜI DẪN Trộm nghĩ: Chính pháp tượng pháp đã qua, giáo pháp chuyển sang thời mạt. Bởi người có tà chính, nên pháp cũng có lúc suy vi. Có người nương và...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 97 - CHƯƠNG TỐNG CHUNG
ỌUYỂN 97 Quyển này có một chương Tống chung. 97. CHƯƠNG TỐNG CHUNG 97.1. LỜI DẪN Bốn đại là đồ chứa chất độc, đầy dẫy dơ uế; sáu tên giặc là bọn chủ cuồng loạn, luôn tham đắm ngoại cảnh, không có ngày biết ngược dòng sin...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 96 - CHƯƠNG XẢ THÂN
QUYỂN 96 Quyển này có một chương Xả thân. 96. CHƯƠNG XẢ THÂN 96.1. LỜI DẪN Tính của sắc vô hình, thì xúc cũng sẽ trở về không; ba thời hư giả thì tám vi cuối cùng cũng tan hoại. Tuy có uy lực làm chuyển càn khôn, rốt cuộ...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 95 - CHƯƠNG BỆNH KHỔ
QUYỂN 95 Quyển này có một chương khổ. 95. CHƯƠNG BỆNH KHỔ 95.1. LỜI DẪN Ba cõi mênh mông, sáu đường đông đúc, tất cả các loài chúng sinh đều nhờ vào bốn đại phò trì, năm căn tạo thành hình thể. Thế nên, khi bốn đại tích...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 94 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT
QUYỂN 94 Quyển này gồm chương Uống rượu ăn thịt (tiếp theo), chương uế trược. 93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT (tt) 93.4. CẢM ỨNG 93.4.1. Đời Hán, Lạc Tử Uyên: Vào niên hiệu Hiếu Xương đời Hán, dũng sĩ Lạc Tử Uyên, người Lạc...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 93 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT
QUYỂN 93 Quyển này có một chương uống rượu ăn thịt. 93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT 93.1. LỜI DẪN Uống rượu là mở toang cánh cửa buông lung, các Đức Phật biết rõ đó là gốc khổ. Vì thế nên tránh những quán rượu, lìa bỏ những...
