Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 90 - CHƯƠNG PHÁ GIỚI

04/01/2016

QUYỂN 90 Quyển này có một chương Phá giới. 88. CHƯƠNG PHÁ GIỚI 88.1. LỜI DẪN Nhờ giới đức này mà bản nguyện rộng sâu, cứu người lợi vật. Hợp với điều này mới là bậc nhất. Bởi thế, lãnh thụ thì dễ, nhưng giữ gìn lại rất k...

PUCL QUYỂN 90 - CHƯƠNG PHÁ GIỚI
Phần 1

QUYỂN 90
Quyển này có một chương Phá giới.
88. CHƯƠNG PHÁ GIỚI

88.1. LỜI DẪN
Nhờ giới đức này mà bản nguyện rộng sâu, cứu người lợi vật. Hợp với điều này mới là bậc nhất. Bởi thế, lãnh thụ thì dễ, nhưng giữ gìn lại rất khó. Nếu chẳng dốc lòng gìn giữ thì quả lớn đâu dễ chứng đắc. Chỉ sai mảy may là cách xa nghìn dặm, nếu cố tình che đậy những lỗi nhỏ thì tội lớn khó trừ, chỉ có tỏ bày sám hối mới mong tiêu diệt. Vì thế người có tội thì phải sám hối mới được dự vào bảy chúng. Nếu cứ ngu si không sám hối thì mãi đọa ba đường ác. Do đó tôi xin soạn một chương này, trình bày chung để đạo tục biết được lợi và hại của trì-phạm.
Là cư sĩ tại gia có chút lòng tin chính pháp, đã thụ giới, nhưng không tránh nổi lợi danh, tâm chợt mê lầm phạm lỗi thì chương này có nói đến. Nếu là phàm phu tầm thường, nghiệp thức dong ruổi, đam mê tài sắc, ưa thích lợi danh, tham đắm ngũ dục, không tin Phật pháp, nhất định là kẻ có nhiều tội lỗi thì ở đây không đề cập. Chỉ sợ tăng ni xuất gia và hàng ưu-bà-tắc v.v... trái phạm lời Phật dạy, luống nhiễm danh cho nên mới nói riêng như thế. Nếu là cư sĩ bậc thượng, khi thấy Đức Phật quở trách lỗi lầm của người xuất gia liền tự răn nhắc bản thân, tự tâm suy xét không để phạm. Đồng thời suy nghĩ: “Hàng xuất gia thanh tịnh, rỗng rang, mến mộ đạo mầu, mà vẫn còn mê lầm vi phạm giới pháp để Phật phải quở trách. Thế mà hàng cư sĩ chúng ta lại không biết hổ thẹn ngang nhiên tạo tội ngày đêm không dừng, chưa từng hối cải. Có lẽ vì thế mà chúng ta bị Đức Phật bỏ mặc, không được Ngài chỉ dạy”. Nhờ nghĩ vậy nên tự hối lỗi, tâm không dám phạm. Thí như người trí, trước phải răn chính mình, thấy người bị quở trách, bản thân cũng tự hối cải. Nên Luận ngữ ghi: “Thấy người hiền, liền nghĩ phải bằng họ. Thấy kẻ ác thì phải tự xét lại mình”.
Nếu hàng phàm phu bậc hạ, thiếu hiểu biết, thấy Phật quở trách chúng tăng phạm lỗi, liền khinh chê, đánh mất thiện tâm, không tự suy xét. Như vậy thật quá ngu muội, khác nào súc sinh!
Như người say, rơi vào hầm phân, nôn mửa tràn lan, phẩn tiểu dính đầy thân, vậy mà ngước mặt thấy người trên bờ liền chửi mắng không ngớt. Người ngu si cũng vậy, dù Như Lai muốn cứu thì cũng không có cách nào. Thế nên kinh ghi: “Thí như có người rơi vào hầm phân, toàn thân chìm ngập, không còn thấy gì, dù muốn cứu cũng biết làm sao?”.
88.2. DẪN CHỨNG
Kinh Đại phẩm ghi: “Phật bảo các tì-kheo:
- Nếu Ta không trì giới sẽ phải đọa vào ba đường ác, dù làm thân người hèn hạ cũng không được, huống là được thân Phật đầy đủ Nhất thiết chủng trí, làm thanh tịnh cõi Phật, giúp chúng sinh thành tựu Phật đạo”.
Kinh Tát-già Nì-kiền ghi: “Nếu không trì giới thì ngay cả thân dã can ghẻ lở cũng không được, huống gì là được thân công đức!”.
Kinh Phạm võng ghi: “Nếu Phật tử tín tâm xuất gia thụ giới cấm của Phật, nhưng lại khởi tâm hủy phạm giới pháp, thì không được nhận sự cúng dường của tất cà đàn việt, cũng không được sinh sống trong cõi nước quốc vương. Năm ngàn quỉ lớn thường cản trước mặt và gọi người này là ‘giặc dữ’. Khi người này vào tăng phòng, thành ấp hay xóm làng đều bị quỉ theo quét sạch dấu chân, mọi người mắng là ‘giặc trong nhà Phật’. Tất cả chúng sinh đều không muốn nhìn thấy. Người phá giới như thế khác nào súc sinh, cây cỏ”.
Kinh Bảo lương ghi: “Nếu tì-kheo phá giới nhận người trì giới lễ lạy cúng dường mà không biết xấu hổ, sẽ bị tám điều đáng khinh:
1. Ngu si.
2. Câm ngọng.
3. Thân hình lùn xấu.
4. Hình dáng thô xấu, mặt méo lệch, mọi người trông thấy đều chê cười.
5. Thụ thân nữ nghèo hèn, phải làm nô tì.
6. Thân thể gầy yếu, thọ mạng tổn giảm.
7. Mọi người chẳng kính, luôn bị tiếng xấu.
8. Không được gặp Phật xuất thế.
Phật lại dạy:
- Nếu chẳng phải sa-môn mà tự xưng là sa-môn chẳng có phạm hạnh mà tự xưng phạm hạnh thì trong cõi nước này, ngay cả chỗ khạc nhổ còn không có, nói gì đến có chỗ cho kẻ ấy cất chân hạ chân, đến đi, co duỗi. Vì sao? Vì từ thời quá khứ, đại vương đã đem cõi nước này cúng dường người trì giới có đức hạnh để vị này hành Trung đạo. Còn đối với tì-kheo phá giới thì bất cứ tài vật gì cũng không cho, huống là nhà cửa, tăng phòng. Y bát, ngọa cụ, thuốc thang của tín thí, tì-kheo phá giới đều không nên nhận; nếu nhận, dù chỉ bằng mảy lông cũng nặng như nhận trăm phần.
Nếu tì-kheo phá giới mà nhận tài vật của người dù bằng mảy lông cũng gây tổn hại đến thí chủ. Thí như sư tử là vua trong muôn thú, nếu nó chết thì không loài nào dám ăn thịt, chỉ có loài trùng bọ sinh ra từ thân sư tử trở lại ăn thịt sư tử mà thôi. Trong giáo pháp của Như Lai, những tì-kheo xấu ác, tham tiếc lợi dưỡng, bị tâm tham che lấp, không biết việc xấu này làm tổn hại đến pháp của Như Lai. Nên biết, hàng tì-kheo xấu ác như thế có đủ bốn tâm: không kính Phật, không kính pháp, không kính tăng, không kính giới. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói kệ:
Tâm luôn cầu lợi dưỡng
Miệng tuy nói 'biết đủ ’
Tà mạng cầu lợi dưỡng
Chẳng bao giờ an vui
Trong lòng đầy gian trá
Chuyên lừa gạt mọi người
Người có tâm như thế
Không bao giờ thanh tịnh,
Chư thiên và long thần
Những người có thiên nhãn
Các Đức Phật Thế Tôn
Đều thấy biết tất cả.
Đức Phật bảo Ca-diếp:
- Thế nào là sa-môn Chiên-đà-la? Này Ca-diếp! Ví như các Chiên-đà-la thường đi tìm tử thi nơi nghĩa địa, không có tâm từ bi đối với chúng sinh, nhưng thấy tử thi lại rất vui mừng. Cũng vậy, sa-môn Chiên-đà-la không có tâm từ bi, đến nhà thí chủ với tâm bất thiện, được sự cúng dường liền sinh tâm quí tiếc, nhận lợi dưỡng của thí chủ nhưng lại không dạy Phật pháp cho họ. Thường thân cận hàng tại gia, nhưng không vì tâm từ bi, mà chỉ biết cầu lợi dưỡng.
Hạng Chiên-đà-la này bi mọi người xa lánh, họ không bao giờ đến nơi tốt lành. Vì sao? Vì họ thường làm những điều ác. Cũng vậy, sa-môn Chiên-đà-la cũng không đến nơi tốt lành, do họ tạo nhiều nghiệp ác, không ngăn chặn pháp ác. Ví như hạt giống hư thì không thể nẩy mầm, hàng sa-môn bại hoại cũng thế, tuy ở trong Phật pháp, nhưng không có thiện căn thì không thể đắc quả Sa-môn”.
Kinh Niểt-bàn ghi: “Như biển lớn không dung chứa thây chết, chim uyên ương không đậu trong nha xí, Thích-đế-hoàn-nhân không ở chung với loài quỉ chim cưu-xí-la không đậu trên cây khô héo. Cũng vậy Phật pháp không dung chứa người phá giới”.
Kinh Ca-diếp ghi: “Đức Phật bảo Ca-diếp:
- Người xuất gia trong chính pháp phải luôn tư duy: ‘Các Đức Phật hiện tại trong mười phương thế giới đều biết tâm ta. Ta chớ làm giặc sa-môn trong Phật pháp’. Có bốn loại giặc sa-môn:
1. Mặc pháp phục trang nghiêm giống một vị tì-kheo, nhưng lại phá giới cấm, làm những việc bất thiện.
2. Lúc chiều tối, tâm thường nghĩ những pháp bất thiện.
3. Chưa đắc thánh quả, tự biết mình là phàm phu, nhưng vì lợi dưỡng mà tự xưng đã chứng quả A-la-hán.
4. Khen mình chê người.
- Ca-diếp! Thí như người cậy mình có thế lực lớn, đánh đập giết hại chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới, cướp đoạt hết tất cả trân bảo và vật dụng quí báu của họ. Theo ông người này phạm tội lớn không?
Phần 2

- Rất lớn, bạch Thế Tôn!
Phật bảo ngài Ca-diếp:
- Nếu còn phàm phu chưa chứng thánh quả, nhưng vì lợi dưỡng mà tự xưng mình đã đắc quả Tu-đà-hoàn, dù chỉ thụ một bữa cơm của tín thí cũng phạm tội nhiều hơn thế. Như Lai quán xét, trong pháp sa-môn không có tội nào nặng hơn tội vọng xưng chứng quả thánh.
Đức Phật lại nói với ngài Ca-diếp:
- Người xuất gia có bốn loại phiền não rất nhỏ nhiệm:
1. Thấy người khác được lợi, liền sinh tâm tật đố.
2. Nghe kinh điển và giới cấm, nhưng lại hủy phạm
3. Làm trái lời Phật dạy, che giấu không sám hối.
4. Biết mình phạm giới mà vẫn nhận phẩm vật của người.
Người xuất gia nào có những phiền não trên, khác nào vác vật nặng, sa vào địa ngục. Ca-diếp! Nếu người xuất gia có bốn loại phóng dật, cũng sẽ rơi vào địa ngục:
1. Đa văn phóng dật: cậy mình hiểu biết nhiều nên sinh tâm buông lung.
2. Lợi dưỡng phóng dật: do được lợi dưỡng, nên sinh tâm buông lung.
3. Thân hữu phóng dật: nương cậy bạn bè, sinh tâm buông lung.
4. Đầu-đà phóng dật: cậy mình tu khổ hạnh, nên sinh tâm tự cao, chê bai người khác.
Bấy giờ ngài Ma-ha Ca-điếp bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Sau thời mạt pháp năm trăm năm, có hạng tương tự sa-môn đắp ca-sa lại hủy diệt quả Vô thượng chính đảng giác mà Như Lai đã tu tập từ vô lượng a-tăng kì kiếp không?
Đức Phật bảo:
- Ca-diếp! Ông chớ hỏi như vậy! Vì sao? Vì hạng người ngu si kia thật có tội lỗi, tin nhận tất cả những ma sự. Như Lai không nói những kẻ này sẽ đắc đạo. Vì sao? Vì giả sử có ngàn Phật thị hiện ở đời dùng mọi thứ thần thông để thuyết pháp giáo hóa, thì hàng tì-kheo xấu ác kia cũng không sửa đổi.
Ca-diếp bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Con thà đội tất cả chúng sinh và núi sông làng mạc trong bốn thiên hạ suốt một kiếp, hoặc gần một kiếp, chứ không muốn nghe tiếng của chúng sinh ngu muội không có niềm tin chính pháp. Con thà ngồi trên đống gai suốt một kiếp hoặc gần một kiếp, chứ không muốn nghe tiếng của người ngu si, không tin Phật pháp và phá giới. Con thà đi đứng ngồi nằm trong đại kiếp hỏa suốt trăm ngàn ức năm, chứ không muốn nghe tiếng của người ngu không tin chính pháp và phá giới. Con thà chịu tất cả chúng sinh sân hận mắng chửi, sỉ nhục, đánh đập giết hại, chứ không muốn nghe tiếng của kẻ giặc để phá giới, trộm cắp, ngu si, không tin Phật pháp”.
Luận Trang nghiêm có kệ:
Người dối trá dua nịnh
Chỉ nghĩ đến lợi dưỡng
Vì quá tham lợi dưỡng
Không ưa chốn thanh nhàn.
Thường chạy theo lợi dưỡng
Ngày đêm không biết dừng
Nơi kia có ăn mặc
Người này là bạn ta.
Ắt cầu xin lợi lộc
Tâm ỷ luôn phan duyên
Hủy hoại tâm tịch tịnh
Không thích chốn thanh nhàn.
Thường ưa chốn đông người
Vì lợi dưỡng hủy hoại
Nên đọa ba đường ác
Chướng ngại đạo xuất thế.
Bài kệ trên minh chứng rằng người ngu trái đạo, chỉ cầu danh lợi, chuyên tạo ác nghiệp, thì thuận đường sinh tử, nơi nơi tối tăm. Nếu nghe nói đến giới cấm, học rộng hiểu nhiều, họ liền bảo: “Ta là hạng phạm phu căn cơ thấp kém, chẳng phải bậc thánh, làm sao có thể nương theo!”. Nhưng khi nghe vua đưa ra những công việc khó nhọc, bắt ép phải lao dịch như người thế tục, thì lại bảo: “Ta là sa-môn thanh tịnh, cao hơn trời người, quí như vàng ngọc, đâu lại làm việc đó!”.
Kinh Phật tạng ghi: “Thí như loài dơi, khi có người muốn bắt thì nó chui vào hang giả làm chuột khi có kẻ muốn bắt chuột thì nó bay lên trời giả làm chim, nhưng thật ra nó không có năng lực của loài chim lớn, vì thân hình nhơ uế, chỉ thích chốn tối tăm. Xá-lợi-phất! Tì-kheo phá giới cũng như thế, đã không dự bố-tát tự tứ, cũng không phục vụ cho đất nước, không phải cư sĩ, cũng không phải xuất gia, khác nào đống củi thiêu tử thi đã tàn, thì không sử dụng lại được”.
Luận Thành thật ghi: “Người không biết tu thiện mà nhận thức ăn của thí chủ, chẳng khác gì thí chủ đang nuôi kẻ oán tặc. Người này sẽ làm tổn hại phúc báo cúng dường của thí chủ. Vì thế, họ không nên thụ thức ăn của người”.
Kinh Phật tạng ghi: “Người xuất gia tự xưng sa-môn mà không thực hành đúng những lời Phật dạy, không biết tu tâm, không được pháp vị, đến lúc chết sẽ rơi vào đường ác, như đứa bé phải từ bỏ giường nệm đẹp. Tì-kheo phá giới trong trăm nghìn vạn ức kiếp phải chịu cắt thịt mình trả nợ thí chủ, hoặc đọa làm súc sinh mang nhiều, chở nặng. Vì sao? Ví như chẻ sợi tóc thành một nghìn ức phần, tì-kheo phá giới nhận phẩm vật cúng dường bằng một phần như thế, còn không thể tiêu được, huống là tiêu được y phục, ẩm thực, ngọa cụ, thuốc thang của thí chủ. Những người xuất gia cầu đạo trong giáo pháp của Như Lai mà phạm tội nặng như thế gọi là giặc trong Phật pháp, là kẻ lừa đảo dối gạt, chỉ tham cầu cơm áo để nuôi thân, cũng gọi là kẻ nô lệ cho dục lạc ở đời”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Có tì-kheo được cúng dường y phục, ẩm thực, giường nệm, ngọa cụ, thuốc thang, nhưng không khởi tâm đắm nhiễm, cũng không có tâm mong cầu, không khởi vọng tưởng, thấu rõ pháp xuất li sinh tử. Tì-kheo này dù không được lợi dưỡng, cũng không loạn tâm, cũng không khởi ý niệm thêm bớt. Giống như vua sư tử, khi ăn thịt loài thú nhỏ, chúng không khởi niệm cho rằng món này ngon hay không ngon, không đắm nhiễm, không mong cầu, cũng không khởi các ý niệm khác. Chẳng giống với người thụ nhận vật phẩm cúng dường với tâm nhiễm trước, không biết pháp xuất li. Nếu không được nhận cúng dường, họ cũng khởi niệm tưởng như vậy. Khi được cúng dường, người này tỏ thái độ khinh thường các tì-kheo khác và nói ‘Ta có nhiều lợi dưỡng, các tì-kheo kia không được như thế’. Như có một con lợn tách ra khỏi đàn, đến đống phân lớn ăn no nê rồi trở về đàn, lại cao ngạo nói: ‘Chỉ có ta được thức ăn ngon này, các con khác không được' Tì-kheo cũng vậy, nên học theo hạnh sư tử, chớ bắt chước con lợn kia”.
Luận Trí độ ghi: “Nếu người xuất gia thích bào chế thuốc thang, trồng trọt hoa màu v.v... để nuôi mạng, gọi là Hạ khẩu thực. Nếu quan sát tinh tú, mặt trời, mặt trăng, gió mưa, sấm sét v.v... rồi đoán định cát hung để sinh sống, gọi là Ngưỡng khẩu thực. Nếu nịnh hót những người quyền quí, hoặc làm sứ giả đi khăp nơi, xảo biện tham cầu để nuôi thân mạng, đó gọi là Phương khẩu thực. Hoặc với tâm bất chínhh các loại chú thuật, bói toán kiết hung v.v... như gọi là Duy khẩu thực. Ngoài ra có năm loại tà mạng khác, đó là:
1. Vì lợi dưỡng dối hiện những tướng kì đặc.
2. Vì lợi dưỡng mà nói công đức của mình.
3. Vì lợi dưỡng mà xem tướng kiết hung cho mọi người.
4. Vì lợi dưỡng nên lớn tiếng, hiện oai làm cho người sợ mà kính.
5. Vì lợi dưỡng nên cố ý nêu ra những vật được cúng dường để động tâm người.
Nên biết, người xuất gia làm các nghề trái chính pháp để được lợi dưỡng nuôi sống bản thân thì gọi là phá giới, không thoát khỏi đường ác. Người xuất gia phải xa lìa chấp trước. Nếu nghiêng một bên tức là dính mắc nặng, tức là những ai đối tốt với mình thì kết thân, đối tốt với người khác thì ganh ghét”.

Phần 3

Kinh Ma-hơ Ca-diếp ghi: “Đức Phật nói với ngài Di-lặc:
- Năm trăm năm sau có người tự xưng là bồ-tát mà làm theo cách của loài chó. Như con chó được chủ nhà nuôi từ trước. Khi thấy một con chó khác đến, nó tức giận, nhe răng trợn mắt sủa vang, vì nó nghĩ: ‘Đây là nhà của ta’. Tì-kheo cũng vậy, đến nhà thí chủ rồi khởi nghĩ là nhà mình. Đã có ý niệm tham này, nên khi thấy tì-kheo khác đến liền trừng mắt nhìn, khởi tâm ganh ghét, phỉ báng và nói với thí chủ: ‘Tì-khe đó có những lỗi như thế, ông đừng nên gần gũi” Khởi tâm đố kị như vậy là đã gieo nhân ngạ quỉ nhân nghèo cùng, người này đã rơi vào gia xan trong ngũ xan”.
Kinh Bồ-tát tạng ghi: “Lại nữa, Xá-lợi-phất! Nếu bồ-tát xuất gia có đủ năm pháp dưới đây thì không được gặp Phật, không gần gũi bạn hiền, thường gặp hoạn nạn, mất hết căn lành, không được học chính pháp và an trụ trong luật nghi của bồ-tát, cũng không giác ngộ Vô thượng bồ-đề Năm pháp đó là:
1. Hủy phạm giới cấm.
2. Phỉ báng chính pháp.
3. Tham đắm danh lợi.
4. Cố chấp vào sự thấy biết của mình.
5. Đối với nhà thí chủ, khởi tâm bỏn xẻn đố kị.
Xá-lợi tử! Bồ-tát xuất gia có đủ năm tập khí xấu trên thì không được gặp Phật, cho đến không được quả Vô thượng bồ-đề.
Xá-lợi tử! Thí như con chó đói hoảng loạn đi trên đường, vừa gặp một khúc xương khô chẳng còn tí thịt mỡ nào, liền cho đó là vị ngon nên đến ngoạm lấy, rồi chạy đến ngã tư đường chỗ đông người để ăn. Do tham nên nước dãi chảy đầy trên khúc xương, lại đó là vị ngon nên vừa gặm vừa liếm quanh khúc xương, mải mê không muốn rời. Bấy giờ, các vi sát-đế-lợi, bà-la-môn và trưởng giả dòng dõi cao quí đi qua. Từ xa, con chó đói thấy họ đi đến, lòng rất tức giận, suy nghĩ: ‘Những người kia đến đây, lẽ nào để đoạt thức ăn ngon mà ta thích?’. Thế là nó giận dữ sủa vang, mắt long lên, nhe hàm răng nhọn hoắc muốn lao đến cắn những người ấy. Xá-lợi-tử! Ông nghĩ sao? Những người kia vì việc khác mà đến, chứ đâu vì mẩu xương chẳng còn tí thịt này.
Xá-lợi-phất thưa:
- Bạch Thế Tôn! Đúng như vậy! Bạch Thiện Thệ, đúng như vậy!
Phật bảo Xá-lợi-tử:
- Nếu vậy thì con chó đói bỏn xẻn kia vì sao lại sủa lên giận dữ, nhe răng muốn cắn họ?
Xá-lợi-tử thưa:
- Theo con nghĩ, vì nó sợ những người kia cũng tham đắm vị ngon, đoạt mất món ăn ngon của nó, nên mới biểu hiện những thái độ như thế!
Phật bảo Xá-lợi-tử:
- Ông nói rất đúng! Ở đời sau cũng có các tì-kheo đối với nhà thí chủ sinh tâm gia xan, tham đắm những thứ dơ bẩn và bị trói chặt trong đó. Tuy thường được gặp Như Lai, nhưng lại bỏ phế không chịu tu tập. Như Lai nói việc làm của những tì-kheo này giống như con chó ngu si kia. Xá-lợi tử! Như Lai xuất hiện ở đời vì thương xót chúng sinh, muốn họ dừng nghiệp ác, nên luôn tư duy việc này, luôn vì các tì-kheo xấu ác mà nói thí dụ như thế.
Lại nữa, Xá-lợi tử! Các bồ-tát ma-ha-tát vì muốn lợi ích an lạc cho vô lượng chúng sinh mà cầu Phật trí, thực hành tinh tấn ba-la-mật-đa. Các đại bồ-tát còn bố thí thịt thân mình, há lại mong cầu thứ thịt nhơ uế, chấp trước nhà thí chủ! Xá-lợi-tử! Các tì-kheo tham đắm lợi dưỡng của nhà thí chủ, Như Lai nói những người đó là ngu si. Vì nuôi sống thân mạng mà họ phải làm nô bộc trông coi của cải, lúa thóc, bị của cải quí báu trói buộc, chỉ biết chuộng cơm áo, vì tham ăn thịt mà khởi tâm xan tham, tật đố.
Xá-lợi-tử! Nay Như Lai giảng thuyết chính pháp. Những tì-kheo đến nhà thí chủ trước không nên thấy các tì-kheo đến sau mà sinh tâm đố kị. Như có tì-kheo trái giáo pháp của Như Lai thấy các tì-kheo khác đến liền nói: ‘Nhà thí chủ này tôi quen biết trước, các vị từ đâu mà đến đây? Tôi rất thân thiết với nhà nàỵ, thường qua lại vui chơi. Các vị từ đâu đến, lại muốn chiếm đoạt của tôi’, thì tì-kheo này đã gây ra ba lỗi tại nhà thí chủ. Đó là:
- Lỗi bỏ trụ xứ: thấy các tì-kheo khác đến liền khởi tâm sân giận nói: ‘Hôm nay ta sẽ rời khỏi chỗ này’.
- Khi thấy những tì-kheo khác đến những nơi mình thân cận, thì tì-kheo ấy nói với thí chủ: ‘Chưa biết có nên cho đến hay không?’.
- Nếu thấy tì-kheo đến một nhà thí chủ nào khác tì-kheo này thường gây lỗi.
Xá-lợi-tử! Tì-kheo bỏn sẻn kia nói ba lỗi của tì kheo đến sau:
- Nói lỗi của trụ xứ, kể các việc xấu của nhà thí chủ, để các tì-kheo đến sau bỏ đi.
- Tì-kheo đến sau nói lời chân thật, ti kheo này bảo đó là lời dối trá.
- Giả hiện tướng ôn hòa hiền thiện để thân cận, rồi rình tìm những lỗi nhỏ nhặt để cử tội trước chúng.
Xá-lợi-tử! Vì sao các tì-kheo bỏn xẻn kia thấy các tì-kheo khác đến lại sinh tâm tật đố? Xá-lợi-tử! Vì nhà thí chủ ấy hứa cúng dường cho họ y bát, ẩm thực, ngọa cụ, thuốc thang trị bệnh v.v... đủ mọi của cải vật dụng, nên tì-kheo sợ thí chủ sẽ đem những vật đã hứa cúng dường mình đi cúng dường cho người đến sau.
Xá-lợi từ! Hạng tì-kheo bỏn xẻn tật đố như thế, sẽ nhanh chóng mất tất cả pháp lành, không còn sót lại mảy may”.
Kinh Tối diệu thắng định ghi: “Sau một nghìn năm, trong ba trăm năm kế tiếp, loạn lạc nổi lên khắp nơi, nước mất nhà tan, khiến các nô bộc, tì nữ trốn chạy, không nơi nương tựa, mạng sống khó giữ, cho nên họ gia nhập vào giáo pháp của ta, giống như giặc dữ cướp đoạt tài vật của người lương thiện. Lúc này, mười hai bộ kinh bị chôn vùi dưới đất, không ai đọc tụng kinh điển. Nếu có người tu hạnh đầu-đà thì phần nhiều cũng không hành đúng pháp, thường đi vào làng xóm, không ở yên nơi núi rừng. Thậm chí pháp sư giảng thuyết lời Phật, vạn điều không thực hành đươc một, bị nam nữ cư sĩ giữ giới thanh tịnh trở lại trách mắng. Khi họ đi rồi mới nói với nhau: ‘Những điều chúng ta hiểu hôm nay, như Phật nói, đó là lời tà vạy, ỷ ngữ vô nghĩa mà tự cho là lời có nghĩa, như người mù chỉ mặt trời rồi bảo là lớn, là nhỏ v.v...”
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Tì-kheo hiện tướng giữ giới để đàn việt phát tâm kính tin, sau đó cùng các bạn đồng tu thường xuyên đến nhà ấy. Hiểu được ít Phật pháp, tì-kheo nọ liền cùng bạn bè nói cho đàn việt kia nghe, cố ý làm như vậy để thí chủ cúng dường phẩm vật cho mình. Hạng tì-kheo này, tuy hình tướng sa-môn mà chẳng khác gì giặc dữ. Họ đến nhà thí chủ tìm cách cướp đoạt tài vật lợi dưỡng của họ. Khi thấy thí chủ đem tài vật cúng dường người khác, tì-kheo này liền khởi tâm ganh ghét, chưa từng có một phút giây nghĩ đến pháp thiện. Họ là hạng sa-môn phá giới, bỏ bê việc tụng kinh, tọa thiền v.v... luôn tạo nhân địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh”.
Điều này minh chứng rằng tham lợi dưỡng là tự chuốc khổ. Vì thế, chớ dối trá hiện tướng hiền thiện để cầu danh lợi. Thế nên, người xuất gia dù khéo trì giới mà không rõ nghĩa kinh thì chưa hẳn đoạn được phiền não. Bởi không quán lí thì không thể đoạn kết sử. Dối hiện các tướng hiền thiện rồi cho là mình hơn người. Dù nghe những người có trí tuệ nói về vô ngã chân thật cũng không tin, còn bảo chẳng phải chính pháp. Do phỉ báng pháp, nuôi lớn ngã mạn, nên sau khi chết kẻ ấy phải rơi vào địa ngục. Vì thế, người ngu si dù giữ giới mà không có trí tuệ vẫn tạo nhiều tội lỗi.
Kinh Đại bảo tích ghi: “Người xuất gia thường bị hai loại trói buộc: kiến chấp trói buộc, lợi dưỡng trói buộc. Lại thêm hai pháp chướng: thân cận bạch y và ganh ghét người tốt. Bị hai loại ung nhọt: ưa tìm lỗi của người khác, che giấu tội mình. Lại có hai hành động xấu: đọc tụng kinh sách của ngoại đạo, cất chứa nhiều y bát tốt đẹp.”
Kinh Niết-bàn ghi: “Người xuất gia thường có bốn căn bệnh nặng, đó là bốn sự ham muốn xấu: ham muốn y phục, ham ăn uống, ham ngọa cụ, ham sở hữu. Vì thế mà không chứng được bốn quả Sa-môn.
Có bốn loại thuốc hay, trị lành bốn chứng bệnh này:
1. Mặc y phấn tảo, sẽ trị được bệnh ham muốn y phục.
2. Đi khất thực, sẽ trị được bệnh ham ăn uống.
3. Ngủ dưới gốc cây, sẽ trị được bệnh ham muốn ngọa cụ.
4. Thân tâm tịch tịnh, sẽ trị được bênh ham muốn truy cầu lợi lộc thế gian.

Phần 4

Đó là bốn phương thuốc hay, cũng gọi là Thánh hạnh. Người hành được Thánh hạnh này thì gọi là người thiểu dục tri túc”.
Kinh Đại tập ghi: “Người phá giới sẽ không được vô lượng các Đức Phật trong mười phương hộ niệm, tuy gọi là tì-kheo nhưng không dự vào hàng tăng, bởi họ đã lạc vào cảnh giới của ma. Như Lai không cho phép tì-kheo phá giới nhận phẩm vật của thí chù, dù chỉ mảy may. Vì sao? Vì người này đã xa lìa pháp của Như Lai”.
Kinh Chính pháp niệm có bài kệ:
Không đọc tụng kinh điển
Không thiền, không đoạn lậu
Tuy thân tướng tì-kheo
Mà chẳng phải tì-kheo.
Thà ăn rắn trùng độc
Hay uống nước đồng sôi...
Không bao giờ phá giới
Để dùng đồ chúng tăng.
Đại trang nghiêm kinh luận có bài kệ:
Nếu hủy phạm giới cấm
Hiện đời mang tiếng xấu
Bị mọi người khinh chê
Mạng chung đọa đường ác.
Luận Trí độ ghi: “Kẻ phá giới bị người khác xem thường, nhà họ vắng vẻ như nghĩa địa, vì chẳng ai muốn đến. Người phá giới mất các công đức, ví như cây khô, không ai ưa thích. Người phá giới ví như hoa sen héo úa, không ai muốn nhìn. Người phá giới tâm xấu đáng sợ, giống như la-sát.
Tì-kheo phá giới, tuy giả làm người tốt, nhưng bên trong không tu pháp lành, tuy cạo đầu đắp ca-sa ôm bát khất thực, nhưng thật chẳng phải tì-kheo Người phá giới mà mặc pháp phục thì khác nào đang quấn lá đồng, lá sắt cháy đỏ. Nếu ôm bát thì bát đựng đầy nước đồng sôi. Nếu dùng thức ăn tức là nuốt hòn sắt nóng, uống nước đồng sôi. Nếu nhận phẩm vật của người cúng 'dường thì bị ngục tốt địa ngục bắt giữ. Nếu vào tinh xá thì như vào địa ngục lớn, nếu ngồi trên giường chiếu của chúng tăng, cũng như đang ngồi trên giường sắt nóng. Người phá giới lòng luôn lo sợ, như người bệnh nặng sợ chết, sau khi chết sẽ đọa đường ác. Nếu đọa địa ngục Đồng Quyết thì lính ngục và la-sát sẽ đến hỏi:
- Ông từ đâu đến?
Đáp: Tôi thật thống khổ và mê muội không biết mình từ đâu đến, tôi đang đói khát!
Vừa nói khát thì lính ngục liền xua đến ngồi trên cọc đồng nóng, lấy kềm sắt cạy miệng, đổ nước đồng sôi vào. Nếu than đói thì cho ngồi trên cọc đồng nóng, nuốt hòn sắt nóng, vào đến miệng thì miệng phỏng, đến cổ họng thì cổ họng cháy, trôi vào bụng thì bụng tan rã, thiêu đốt ngũ tạng, rồi tuột luôn xuống đất. Người bị quả báo này là do đời trước tạo nghiệp trộm cướp tài vật của người khác để nuôi miệng mình.
Những người xuất gia giả bệnh để xin dầu tô, đường; hoặc kẻ không tu thiền định, không giữ giới, không có trí tuệ mà thụ dụng nhiều vật dụng do tín thí cúng dường; hoặc kẻ ác khẩu làm tổn thương người khác... Do những nghiệp duyên như thế, nên theo nghiệp lực đọa vào địa ngục Đồng Quyết, nhiều không tính kể. Vì thế hành giả phải dốc lòng gìn giữ giới luật”.
Kinh Vị tằng hữu ghi: “Hạng tì-kheo chỉ biết giảng thuyết mà không thực hành, ý nghĩ và lời nói trái nhau, hoặc vì lợi dưỡng, tiền tài, ăn uống; hoặc vì danh dự mà kết tập phe phái; hoặc vì chán ghét phục dịch vương pháp mà xuất gia v.v... đều là những người không có tâm hướng đến ba cửa giải thoát, vượt ba cõi khổ. Do tâm không thanh tịnh mà tham thụ nhận phẩm vật của tín thí, không biết mai sau họ phải trả nợ đời trước đến bao giờ mới hết. Nếu có tu thiện, được sinh cõi trời, nhưng nợ trước chưa hết thì vẫn phải trả tiếp”.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Nếu một vị trời đời trước tạo nghiệp trộm cắp, đời nay bị các thiên nữ lấy những vật dụng trang nghiêm của mình để dâng cho các thiên tử khác”.
Kinh Tượng pháp quyết nghi ghi: “Trong đời vị lai, sẽ có những kẻ khinh chê Tam bảo. Đó là các tì-kheo, tì-kheo ni không hành đúng pháp, thân đắp pháp phục nhưng lại lo việc thế gian, như ra chợ buôn bán để kiếm sống; hoặc buôn bán xu để kiếm lời; hoặc làm các nghề như họa sĩ, sao chép kinh điển, tạc tượng, nghệ nhân; hoặc đoán kiết hung như xem tướng nam nữ, nhà cửa, ruộng vườn; hoặc uống rượu say sưa, ca múa đàn hát, đánh cờ vây, lục bác; hoặc tham tài cầu lợi v.v... quanh năm suốt tháng không đọc tụng kình điển. Hoặc dùng bùa chú trị bệnh, giả mượn kinh kệ tọa thiền, đoán sự để nuôi sống. Hoặc làm thầy thuốc châm cứu, bào chế thuốc thang, chẩn mạch, bốc thuốc, tiếp xúc nam nữ...Do vậy, dẫn đến thân tâm nhiễm ô, giảm thiện tăng ác, bị thế tục chê cười. Là người xuất gia, lập chí cầu giải thoát, trước nên dứt tội, lấy giới làm trọng. Nếu không nương giới thì muôn việc thiện chẳng sinh, như người không đầu, các căn cũng hoại, ấy là người chết”.
Luận Giải thoát đạo ghi: “Như người không đầu, không có các căn, sẽ không thể nhận biết trần cảnh, gọi đó là người chết. Vì thế tì-kheo phải lấy giới làm đầu, nếu mất đầu thì các thiện pháp cũng không còn, tức là kẻ đã chết trong Phật pháp, như biển lớn không dung nạp tử thi”.
Luật Tứ phần có kệ:
Cũng giống như tử thi
Biển lớn không dung nạp
Bị gió mạnh cuốn thổi
Đẩy nó tấp vào bờ.
Luận Trí độ có bài kệ:
Chúng tăng là biển lớn
Giới luật là bờ mé
Nếu người nào phá giới
Trọn không dự hàng tăng.
Luật Tăng kì ghi: “Bấy giờ có vị tì-kheo dẫn một sa-di về thăm quê hương. Khi băng qua một cánh đồng rộng, một phi nhân hóa thành con rồng đến nhiễu quanh chú sa-di theo chiều bên phải, rải hoa khen ngợi:
- Hay thay! Được lợi ích lớn, bỏ nhà xuất gia, không giữ tiền của, vàng bạc!
Vị tì-kheo về đến quê, thăm hỏi quyến thuộc xong và chuẩn bị trở về. Khi ấy, một phụ nữ trong làng nói với chú sa-di:
- Nay chú trở về, đường sá xa xôi sẽ thiếu thốn nhiều thứ. Chú hãy cầm số tiền này ra chợ để mua những vật cần dùng.
Chú sa-di nhận số tiền, buộc vào áo rồi ra đi. Trên đường trở về, phi nhân kia thấy chú sa-di mang tiền đi sau vị tì-kheo, nên hóa làm rồng như trước, đến lượn quanh theo chiều bên trái, lấy bụi đất tung lên đầu sa-di và chê trách:
- Ông mất hết lợi lành! Xuất gia tu đạo mà còn nắm giữ tiền bạc!
Nghe vậy, chú sa-di liền gào khóc. Vị tì-kheo bèn quay đầu nhìn và hỏi sa-di:
- Sao chú lại khóc?
- Con không nhớ mình có lỗi gì, tự nhiên lại bị quấy nhiễu! Sa-di đáp.
“ Con có nắm giữ gì không? Vị thầy hỏi.
- Con có giữ tiền!
- Hãy vứt đi! Thầy bảo.
Sa-di nghe lời thầy vứt số tiền xong, liền được phi nhân kia đến rải hoa cúng dường như trước”.
Bộ luật này cũng ghi: “Sau khi thụ trai xong, Đại Mục-kiền-liên và sa-di Chuyên Đầu đến tọa thiền bên hồ A-nậu tại Diêm-phù-đề. Bây giờ, sa-di thấy bên hồ có cát bằng vàng, liền khởi niệm: ‘Nay ta sẽ mang cát này về rải chỗ tắm gội của Thế Tôn’. Tôn giả Mục-kiền-liên nhập định biết được, liền dùng thần túc bay trên hư không trở về, còn sa-di Chuyên Đầu bị phi nhân bắt giữ, không thể bay lên hư không. Tôn giả Mục-kiền-liên nhìn thấy, liền gọi sa-di đến, nhưng sa-di đáp:

Phần 5

- Con không thể đến được!
Tôn giả hỏi:
- Chú có nắm giữ vật gì không?
Đáp:
- Con có giữ cát vàng.
Tôn giả Mục-kiền-liên bảo:
- Chú nên vứt đi!
Sa-di ném số cát vàng xong, liền bay được trên hư không. Sau đó sa-di thưa sự việc này lên Thế Tôn, Ngài dạy:
- Kể từ hôm nay, sa-di không đựợc cất giữ tiền và vàng bạc”.
Kinh Bách dụ ghi: "Xưa, có một người ngu nuôi bảy đứa con, không may có một đứa chết. Người này muốn cất giữ xác con mình trong nhà, còn mình đi nơi khác. Thấy vậy, người trong xóm góp ý:
- Người sống khác với người chết. Ông hãy mau tẩm liệm, rồi đưa đi an táng ở một nơi xa!
Người ngu nghe nói vậy, bèn suy nghĩ: ‘Nếu không được giữ trong nhà mà phải đem đi chôn cất thì nên giết thêm một đứa nữa để gánh cho đủ hai đầu, đây là cách hay nhất’. Thế rồi người ngu giết thêm một đứa con và gánh đến một khu rừng xa để chôn cất. Thấy thế, mọi người chê cười và cho là chuyện lạ đời. Thí như tì-kheo phạm một giới, vì sợ sám hối nên thản nhiên che giấu, tự cho là thanh tịnh. Nếu có người trí đến bảo: ‘Người xuất gia phải giữ giới cấm như giữ hạt minh châu, không để bị tì vết. Vì sao huynh đã phạm giới lại không chịu sám hối?’, thì lại đáp: ‘Nếu phải sám hối thì nên phạm thêm rồi sau đó sám luôn’. Vì thế người này lại càng phạm giới, làm nhiều việc bất thiện rồi mới sám hối. Vị tì-kheo phá giới này khác nào người ngu kia, một đứa con đã chết, lại giết thêm một đứa”.
Kinh Niết-bàn, Phật nói kệ:
Chớ khinh điều ác nhỏ
Cho là không hại gì
Giọt nước tuy nhỏ bẻ
Nhưng sẽ đầy bình lớn.
Kinh Bách dụ ghi: “Xưa, có một vị vua có trồng một cây quí, thân rất cao lớn, cho quả ngon, hương thơm vị ngọt. Bấy giờ có một người đến chỗ vua, vua bèn hỏi:
- Trên cây này có quả ngon, khanh ăn không?
Người kia đáp:
- Cây này cao lớn, dù muốn ăn cũng không biết làm sao hái?
Vua liền cho người đốn cây để hái quả. Làm vậy đã không được quả lại uổng công lao nhọc, sau muốn trồng lại thì cây đã chết khô. Người thế gian cũng như vậy, Như Lai Pháp vương có cây trì giới, tu các công đức, nhưng không khéo hành trì, lại hủy phạm cây giới cấm này. Như cây bị chặt, muốn nó sống lại cũng không thể được. Người phá giới cũng như vậy”.
Kinh Giới tiêu tai ghi: “Lúc Phật còn tại thế, ở một huyện nọ, người dân đều hành trì năm giới và mười điều thiện, không ai nấu rượu. Trong huyện có con trai của một gia đình nọ sắp đi buôn bán phương xa. Lúc chuẩn bị lên đường, cha mẹ anh ta căn dặn:
- Con phải cố giữ gìn năm giới và mười điều thiện, không được uống rượu mà phạm vào giới trọng.
Khi sang nước khác, anh ta gặp bạn học cũ. Người bạn vui mừng đem rượu ngon ra thết đãi. Anh ta cố từ chối, nhưng người bạn tha thiết mời mọc nên bất đắc dĩ chiều theo. Sau đó anh ta trở về nhà trình bày sự việc, cha mẹ anh bảo:
- Ngươi đã không nghe lời ta dặn, lại phạm giới cấm, đó là khởi đầu cho việc loạn pháp, thật là bất hiếu!
Ông bà liền cho anh ta những vật dụng đã mua bán được, rồi đuổi ra khỏi nước. Sang một nước khác, anh ta đến ở trong một quán trọ. Ba vị thần mà chủ quán trọ này tôn thờ có thể biến thành người, đến cùng ăn uống và trò chuyện với chủ quán. Ông ấy phụng sự ba con quỉ này được vài năm thì của cải cạn sạch, thân quyến bệnh hoạn và chết chóc liên tục. Trước tình cảnh này, gia đình than thở với nhau, bọn quỉ biết được ý của người chủ, nên cùng nhau bàn bạc:
- Người này tài sản đã cạn kiệt, chỉ vì chúng ta chưa từng giúp. Nay ông ấy gặp hoạn nạn, chúng ta nên tìm châu báu giúp ông ấy !
Thế rồi, bọn quỉ liền đi trộm châu báu quí giá trong kho tàng cùa vua nước khác, đem về giấu trong vườn, rồi nói với ông chủ nhà:
- Ông phụng sự chúng tôi nhiều năm nay, khổ nhọc đã nhiều. Nay chúng tôi muốn giúp ông được giàu sang.
Chủ nhà vui mừng ra vườn mang châu báu về, cảm tạ quỉ thần. Sáng hôm sau, ông chủ dọn cơm mời, bọn quỉ vừa đến cửa, thấy thanh niên nước Xá-vệ ở trong nhà ông chủ, chúng liền bỏ chạy hết. Thấy vậy, chủ nhà đuổi theo hỏi:
- Các vị đã đến đây rồi, vì sao lại bỏ đi?
Quỉ thân đáp:
- Nhà ông có khách quí, làm sao tôi dám đến!
Chủ nhà suy nghĩ: ‘Trong nhà ta không có ai khác ngoài người này!’. Nghĩ thế, chủ nhà liền ân cần trò chuyện, thăm hỏi anh thanh niên:
- Anh có công đức gì mà các quỉ thần tôi thờ cúng vừa trông thấy đều sợ hãi bỏ chạy?
Chàng thanh niên khách liền kể công đức trì giới của Phật. Nghe xong, chủ nhà nói:
- Tôi muốn vâng giữ năm giới.
Nhân đó, chủ nhà theo chàng thanh niên xin thụ tam qui ngũ giới, nhất tâm tinh tấn giữ gìn, không dám lơi lỏng. Người chủ liền hỏi:
- Hiện giờ Đức Phật ở đâu, tôi muốn diện kiến Ngài?
- Phật đang ở trong vườn cấp Cô Độc tại nước Xá-vệ. Anh thanh niên đáp.
Nghe thế, người chủ quyết tâm tìm đến gặp Phật. Trên đường đi ngang qua một ngôi đình, ông ta thấy có một cô gái dung mạo đoan chính, đó là vợ của con quỉ ăn thịt người. Vì lộ trình còn xa, mà trời đã tối nên người chủ xin ngủ nhờ một đêm. Cô gái bảo:
- Ông mau rời khỏi nơi này, không nên ở lại!
Người chủ suy nghĩ: ‘Anh thanh niên ở Xá-vệ thụ trì bốn giới của Phật mà bọn quỉ còn sợ hãi, huông gì ta đã thụ cả Tam qui ngũ giới, nhất tâm giữ gìn thì sao phải sợ nó!’. Thế rôi, ông ta bèn ngủ lại đây. Bấy giờ con quỉ ăn thịt người thấy uy lực của thần hộ giới đang ở trong đình nên không dám về, phải ngủ cách đinh bốn mươi dặm. Sáng hôm sau, người chủ lại lên đường, thấy xương người bị quỉ kia ăn vung vãi khắp nơi, bèn sợ hãi thoái tâm và suy nghĩ: ‘Chi bằng ta dẫn cô gái này về nhà sinh sống như trước đây’ Người chủ bèn quay trở lại ngôi đình, xin cô gái ngủ lại một đêm. Cô gái liền hỏi:
- Sao ông còn quay lại?
- Mưu tính của tôi không thành, nên phải quay lại. Ông đáp.
- Ông ở lại đây chắc chắn sẽ chết thôi, vì chồng tôi là quỉ ăn thịt người. Hắn mới ra đi không lâu. ông hãy mau đi đi!
Người chủ không tin, cứ một hai xin ngủ lại. Bị sắc đẹp mê hoặc, anh ta khởi lòng dâm, sinh tâm bất tín, không tin Tam qui ngũ giới của Phật. Thiên thần biết được tâm niệm này nên không hộ vệ. Bấy giờ, con quỉ lại trở về. Cô gái sợ người chủ bị ăn thịt, nên bảo nấp trong cái chum lớn. Quỉ ngửi thấy hơi người bèn hỏi vợ:
- Trong nhà có thịt ư? Tôi muốn ăn.
Cô gái đáp:
- Tôi không đi ra ngoài, làm sao kiếm được thịt?
Cô gái lại hỏi quỉ:
- Sao hôm qua ông không về nhà?
- Do cô đã cho khách quí ngủ trong nhà, nên tôi
bị đuổi đi. Quỉ đáp.
Ông ta trong chum nghe được điều này, càng thêm lo sợ. Cô gái lại hỏi quỉ:

Phần 6

- Sao ông khồng kiếm được thịt?- Chỉ vì trong nhà cô có đệ tử Phật, nên thiên thần đuổi tôi đi xa bốn mươi dặm, phải ngủ ngoài trời Trong lòng tôi lo sợ đến bây giờ còn bất an, nên chẳng tìm được thịt.
Cô gái liền hỏi quỉ:
- Giới của Phật thế nào?
Quỉ nói:
- Tôi đang đói lắm, hãy mang thịt đến, không cần hỏi việc này. Vì đây là giới vô thượng chính chân, tôi không dám nói.
Cô gái năn nỉ:
- Ông nói cho tôi nghe đi, tôi sẽ cho ông ăn thịt.
Nghe vậy, quỉ liền nói Tam qui ngũ giới. Quỉ nói giới thứ nhất cho đến giới thứ năm, cô gái đều nhất tâm thụ lãnh, miệng tụng theo. Người chủ đang ở trong chum được nghe năm giới cũng phát tâm thụ lại. Thiên Đế Thích biết hai người này tâm đã qui y Phật, liền lệnh năm mươi thiện thần xuống hộ vệ. Nhờ có oai lực của thần hộ giới nên quỉ bèn chạy xa. Đến sáng, cô gái hỏi người chủ kia:
- Ông có sợ không?
- Rất sợ! Nhưng nhờ ân của cô mà tôi tỉnh ngộ, nhớ đến Phật.
- Sao ông quay lại đây?
- Vì tôi thấy xương người chết vung vãi khắp nơi, sợ quá nên quay về.
- Xương đó do tôi ném. Tôi vốn là con gái nhà hiền lương, bị quỉ bắt về làm vợ, đau buồn không thể nói hết. Nay nhờ ông mà tôi được nghe giới của Phật, thoát khỏi con quỉ này!
Trên đường đến trú xứ của Đức Phật, hai người lai gặp thêm bốn trăm chín mươi tám người, họ đều xin đi theo. Khi được gặp Thế Tôn, họ chí thành nghe kinh, tâm ý khai ngộ, phát tâm xuất gia, sau đó đều đắc quả A-la-hán. Hai người này đời trước là thầy của bốn trăm chín mươi tám vị kia. Người cầu đạo cần phải có bổn sư và bạn lành dạy dỗ mới thấu hiểu”.
Kinh Quán đỉnh ghi: “Đức Phật bảo Phạm chí:
- Thuở xưa, tại đại quốc Ba-la-nại có bà-la-môn Chấp Trì, gia tộc rất giàu sang, nhưng không kính tin Tam bảo. Ông thờ chín mươi lăm loại ngoại đạo để cầu phúc. Một thời gian sau, trưởng giả bà-la-môn này nghe trong nước có các vị như Hiền trưởng giả v.v... hết lòng phụng thờ và thực hành theo lời dạy của Phật pháp tăng, nên đều được giàu sang, trường thọ, an ổn, thoát khỏi sinh lão bệnh tử, lãnh thụ vô tận các pháp, đời này đời sau không đọa ba đường ác. Trưởng giả Chấp Trì bèn suy nghĩ: ‘Ta nên bỏ các đạo khác, thờ kính Tam bảo’. Thế là ông ta liền đến tinh xá kính lễ Đức Phật và bạch:
- Bạch Thế Tôn! Trước đây con tin theo tà thuyết ngoại đạo, nay con trở về nương tựa Đức Phật xin Phật thương xót! Con quyết từ bỏ những tà hạnh xấu ác để lãnh thụ giảo pháp thanh tịnh của Ngài.
Bấy giờ, Thế Tôn truyền tam qui, ngũ giới cho trưởng giả. Lãnh thụ giới xong, ông ta đỉnh lễ Đức Phật rồi trở về. Một thời gian sau, trưởng giả Chấp Trì đến nước khác, thấy người sát sinh, trộm cướp, ông cùng muốn làm theo; thấy nữ sắc liền sinh tâm đắm nhiễm; thấy người làm việc ác, muốn đến luận bàn; thấy người uống rượu cũng muốn uống theo; tâm ý rong ruổi không phút giây an định. Trưởng giả lại suy nghĩ: ‘Ta thật hối hận đã phát nguyện sâu nặng thụ pháp tam qui và ngũ giới của Phật, nay ta nên trả lại cho Người’. Nghĩ rồi, Chấp Trì liền đến gặp Phật và thưa:
- Pháp tam qui ngũ giới mà con đã lãnh thụ quá nhiều ràng buộc, không thể làm theo ý mình, nên con muốn xả bỏ, không phụng trì. Ngài có cho phép chăng? Vì con nghĩ, Phật pháp rât tôn quí, hàng phàm phu chẳng thể tu tập, nên con xin hoàn lại giới pháp!
Đức Phật lặng im không đáp. Trưởng giả nói chưa dứt lời, bỗng thấy các quỉ thần tự nhiên từ miệng mình vọt ra, cầm chày sắt đánh vào đầu, lại có qui thần lột y phục, có quỉ lấy móc sắt chọc vào miệng kéo lưỡi ra, còn quỉ dâm nữ cầm dao cắt nam căn, quỉ khác lại lấy nước đồng sôi rót vào miệng. Các quỉ thần vây quanh, tranh nhau xé thân, uống máu, ăn thịt trưởng giả. Trưởng giả Chấp Trì vô cùng sợ hãi, toàn thân run rẩy, không biết nương tựa vào đâu, mặt vàng như nghệ. Lửa bỗng phực lên đốt cháy thân ông, muốn sống cũng không được, cầu chết cũng không xong. Các quỉ thần nắm chặt làm cho trưởng giả không thể cử động được.
Đức Phật thấy vậy, khởi lòng thương xót, hỏi trưởng giả:
- Bây giờ ông thấy thế nào?
Trưởng giả bị cấm khẩu không thốt nên lời, chỉ đưa cánh tay ra dấu, xin Phật thương xót, sám hối tội lỗi, quay về đường thiện. Phật dùng thần lực cứu độ trưởng giả. Thấy Đức Phật dùng thần lực cứu trưởng giả, các quỉ thần đứng sang một bên. Trưởng giả vừa bình phục, liền đỉnh lễ Đức Phật, bạch:
- Bạch đức Thế Tôn! Trong thân con có năm tên giăc dẫn con vào ba đường ác. Do tham dục mà con tạo tội, trái phạm giới cấm, xin Phật thương xót cho con sám hối!
Phật dạy:
- Ai gánh lấy những tội lỗi do khẩu, ý của ông tạo ra?
Trưởng giả bạch Phật:
- Từ nay con sẽ sửa đổi lỗi trước, tu thiện mai sau’ vâng giữ tam qui ngũ giới, trì sáu ngày trai trong tháng, ba tháng trai của năm, đốt hương, rải hoa, treo tràng phan bảo cái, cúng dường thờ phụng Tam bảo Từ nay trở đi, con không bao giờ dám tái phạm, phá Tam qui ngũ giới nữa!
Phật nói:
- Ông nói như thế thì quá tốt! Lần này ông thụ tam qui ngũ giới không giống như giới pháp lần thụ trước. Nếu phá qui giới này gọi là tái phạm, nếu phạm ba lần thì ngũ quan sẽ có cơ hội, tể quan, tiểu thần, đô lục, giám ti, sứ giả ngũ đế cũng có cơ hội thâu hồn bắt mạng, rồi y theo tội mà phán xử.
Vậy nên Như Lai nói những lời này để khích lệ những người thụ qui giới. Thiện nam tín nữ nào giữ giới sẽ được quỉ thần hộ vệ, chư thiên hoan hỉ, vô lượng Đức Phật, các bồ-tát và a-la-hán trong mười phương khen ngợi. Khi lâm chung được các Đức. Phật phân thân đến đón tiếp, không để cho thiện nam tín nữ trì giới phải đọa đường ác. Nếu giới có suy giảm thì phải tạo phúc nhiều thêm”.
Có bài tụng:
Mờ mờ và mịt mịt
Sớm tối mãi ruổi rong
Sắc tâm mãi nhiễm trước
Bất giác ngày càng sâu.
Thân ngụy trong từng khắc
Sớm tối luôn đổi dời
Bình giới đức đã vỡ
Phúc bảo tịnh nào bày.
Bày chi không giữ vững
Ba nghiệp trái oai nghi
Hiền thánh đều xa lánh
Quỉ thần thảy khinh khi
Tăng thanh tịnh không nhận
Xua đuổi, như thây ma
Một khi đọa u đồ
Vạn kiếp mãi trầm luân.
88.2. CẢM ỨNG
88.2.1. Đời Tấn, sa-môn Đàm Toại: Sư là người thông minh, dung mạo đẹp, thuộc gia đình quí tộc, nhưng là một sa-môn tầm thường không tu giới hạnh.
Vào một ngày khoảng niên hiệu Thái Nguyên (376-397) đời Tấn, khi sư vừa hơn hai mươi tuổi, nhân đi ngang qua miếu Thanh Khê, sư vào xem, đến chiều mới về. Đêm đó, sư mộng thấy một thiếu phụ đến nói:
- Mai sau đồng ý làm thần trong miếu của tôi không?
Đêm sau lại mộng thấy như trước, sư liền hỏi:
- Cô là ai?
Thiếu phụ đáp:

Phần 7

- Tôi là thần cô trong miếu Thanh Khê.
Khoảng một tháng sau, bỗng nhiên sư bị bệnh. Khi sắp tịch, sư nói với các vị bạn đồng học trẻ:
- Tôi không có phúc, nhưng cũng không phạm tội nặng. Sau khi mất, tôi sẽ làm thần ở miếu Thanh Khê. Nếu đi ngang, các huynh nhớ ghé thăm tôi!
Sau khi sư mất, các bạn đồng môn trẻ tuổi đến miếu. Thần liền hiện ra thăm hỏi, giọng nói vẫn như lúc sinh thời. Lúc sắp từ biệt, thần nói:
- Đã lâu không được nghe tán tụng, nay tôi muốn nghe lại một lần.
Tuệ Cẩn, bạn sư, liền tán tụng tặng sư một bài, sư cũng họa lại một bài:
Lời dặn dò li biệt
vẫn còn lắm bi thương
Huống gì nay khác đường
Thân tâm đều phân tán
Than ôi xa mờ mịt
Lòng này nói sao cung.
Thế rồi, sư không nén được, rơi lệ bi thương. Các bạn đồng môn cũng xúc động rơi lệ theo.
88.2.2. Đời Tống, sa-môn Trí Đạt: Sư ở chùa Sách, tại ích châu, hành vi tuy giống thế tục, nhưng tụng kinh rất hay. Tháng sáu, niên hiệu Nguyên Huy thứ ba (475) đời Tống, lúc mới hai mươi ba tuổi, sư bị bệnh và qua đời, nhưng thân thể vẫn còn ấm nên mọi người không dám liệm. Hai ngày sau, sư sống lại, sáng ngày thứ ba thì nói chuyện được. Sư kể:
- LÚC đầu, tôi thấy hai người mặc y phục màu vàng, một người đứng ngoài cửa, một người đến bên giường, thưa:
- Thượng nhân! Xin hãy bước xuống đất và theo tôi!
Sư nói:
- Bần đạo rất mỏi mệt, không bước nổi!
Người ấy lại nói:
- Vậy ngài hãy đi xe.
Vừa dứt lời thì xe đến. Tôi lên xe, ý thức bỗng mơ hồ, không còn thấy gia nhân, nhà cửa và xe cộ của mình đâu nữa, khắp phía chỉ thấy đồng hoang. Đường đi rất hiểm trở, nhưng người dẫn đường cứ bước và đốc thúc đi nhanh không được dừng nghỉ. Xe dừng lại trước một tòa nhà sang trọng, tường vách và cửa nẻo đều rất lộng lẫy. Bước vào nhà, tôi thấy giữa công đường có một quí nhân mặc áo đỏ, đội mũ, dung mạo uy nghiêm đang ngồi trên tòa. Có hơn trăm binh sĩ hộ vệ xung quanh, tất cả đều mặc áo đỏ, cầm đao đứng thẳng hàng nghiêm chỉnh. Thấy tôi, quí nhân liền nghiêm sắc mặt nói:
- Người xuất gia đâu được gây nhiều tội lỗi!
Tôi nói:
- Bần đạo biết! Nhưng từ trước đến nay, bần đạo không biết đã tạo những tội gì!
Quí nhân lại hỏi:
- Thầy có tụng giới không?
- Lúc mới thụ giới cụ túc, bần đạo thường tụng giới, nhưng gần đây thường giảng pháp và tụng kinh vì thế mà bỏ bê việc tụng giới.
Quí nhân lại hỏi:
- Sa-môn mà không tụng giới, chẳng phải là tội nặng sao? Thầy hãy tụng kinh cho tôi nghe.
Tôi liền tụng kinh Pháp hoa khoảng ba thiên rồi dừng. Quí nhân liền bảo vị sứ giả đã bắt tôi đến:
- Hãy đưa người này đến nơi nghèo cùng, nhưng không được quá khổ!
Hai người dẫn tôi đi khoảng mấy mươi dặm thì nghe văng vẳng như tiếng xe ồn náo và tiếng lửa cháy hừng hực, đường phía trước lại tối dần. Sau đó họ dẫn đến một cái cổng cao mấy mươi trượng, màu rất đen vì được làm bằng sắt, tường cũng như vậy. Tôi thầm nghĩ: “Trong kinh có nói đến địa ngục, chắc là ở đây!”.
Lúc này tôi rất lo sợ, hối hận khi còn sống không tu thiện nghiệp. Bước vào bên trong cửa, tiếng ồn náo ấy càng lớn, một lúc lâu mới yên tĩnh. Lúc này tôi mới biết đó là tiếng người kêu gào. Càng tiến vào trong càng tối không thấy rõ, dưới ánh lửa lập lòe, tôi thấy có mấy người bị trói ngược hai tay, họ đi trước, phía sau có mấy người cầm chia ba đâm họ, máu tuôn như suối. Trong số ấy, có một người là bác gái của tôi. Thấy tôi, bác ấy muốn nói chuyện, nhưng có người đến lôi bác ấy đi quá nhanh, không kịp nói gì. Vào bên trong cửa khoảng hai trăm bước, tôi thấy có một vật như cái bồ đựng thóc cao hơn một trượng, hai sứ giả nắm tôi ném lên trên ấy. Bên trong vựa lửa cháy hừng hực, đốt nửa thân tôi chín nhừ, đau đớn không chịu nổi. Lát sau, tôi rơi từ trên vựa xuống đất, bất tỉnh một lúc lâu, hai ngươi đó lại dẫn tôi đến một nơi khác. Tôi thấy có mười mấy cái vạc đang đun nấu tội nhân, họ chìm nổi trong nước sôi, bên cạnh có người cầm chỉa đâm họ. Có người leo ra khỏi vạc, hai mắt lồi ra ngoài, lưỡi dài hơn một thước, da thịt đều nứt rã mà vẫn không chết. Vạc nào cũng đầy tội nhân, chỉ có một vạc còn trống. Hai người nói với tôi:
- Bây giờ thượng nhân phải vào đây!
Nghe vậy, tôi bủn rủn chân tay, vội nói:
- Xin hai vị cho phép bần đạo lễ Phật lần cuối.
Lúc ấy tôi liền chí tâm đỉnh lễ Đức Phật, cầu thoát được cảnh khổ này. Tôi phủ phục dưới đất một lúc lâu, chí thành khẩn cầu sám hối, lát sau ngẩng nhìn quanh, thì không còn thấy những cảnh khổ ấy nữa, chỉ thấy đất bằng, cỏ cây tươi tốt, trời xanh gió mát. Hai sứ giả lại dẫn tôi đến dưới một tòa lầu rất cao, nhưng lại nhỏ hẹp, trên lầu có một người. Tôi vừa ngồi xuống thì ông ta bảo:
- Sa-môn chỉ thụ quả báo nhẹ, thật đáng mừng!
Tôi đang đứng dưới lầu, bất chợt thần thức nhập thân và sống lại.
Hiện nay, sư Pháp Đạt vẫn còn ở chùa Sách. Trải qua lần ấy, sư giữ trai giới cẩn mật, tinh chuyên tụng kinh, tọa thiền.
88.2.3. Đời Tống, sa-môn Đàm Điển: Khi còn cư sĩ, năm ba mươi tuổi bỗng nhiên sư phát bệnh nặng và chết, bảy ngày sau sống lại, tự kể: “Lúc mới chết, tôi thấy hai người đến lôi mình đi, cũng có mấy ngàn người bị bắt như tôi, đi suốt đêm ngày không dừng nghỉ. Bỗng tôi thấy có hai đạo nhân đến nói:
- Ta là thầy truyền năm giới cho con, nên đến đây thăm.
Sau đó hai đạo nhân dẫn tôi đến gặp một viên quan và nói:
- Đây là đệ tử của bần đạo, vốn không phạm tội nặng, tính ra chưa đến số chết.
Vị quan liền ra lệnh trả tự do. Hai đạo nhân đưa tôi về đến nhà, rồi đứng trên nóc nhà khuyên nhủ:
- Con nên xuất gia làm sa-môn, chuyên tu đạo nghiệp!
Nói xong, đạo nhân bước xuống đẩy tôi nhập vào thi thể. Ngay lúc ấy tôi sống lại.
Sau đó, Đàm Điển xuất gia tu tập được hai mươi năm, đến niên hiệu Nguyên Gia thứ mười bốn (437) mới thị tịch.
88.2.4. Đời Tùy, sa-môn Thích Tuệ Đàm: Không rõ quê quán, chỉ biết sư luận biện siêu xuất, thấu suốt giáo nghĩa Đại thừa và Tiểu thừa, trụ tại chùa Bảo Minh, chuyên nghiên cứu kinh điển.
Một hôm vào rằm tháng tư, lúc sắp thuyết giới, chư tăng đều tập họp tại chính điện. Sư là bậc thượng thủ trong chúng, bước ra thưa:
- Giới nhằm ngăn quấy dứt ác, ai ai cũng tụng được, sao phải nhọc đại chúng nghe đọc mãi. Chỉ cần cử một vị tăng lập nghĩa luận bàn, hầu giúp hàng hậu sinh khai ngộ là được!
Thấy phong cách mạnh mẽ của sư, đại chúng đều thuận theo không ai dám kháng cự. Từ đó đến cuối hạ, sư thường bỏ thuyết giới. Ngày mười lăm tháng bảy, lúc sắp thăng tòa thì sư mất tích. Đại chúng cho rằng chưa nhận tuổi hạ mới thì đâu thể bỏ Tự tứ, nên chia nhau đi tìm khắp, sau đó thấy sư nằm bên ngôi mộ cổ, cách chùa khoảng ba dặm, khắp thân máu chảy như bị dao chém. Mọi người hỏi nguyên do sư kể:
- Tôi thấy một người đàn ông cầm cây đao lớn và dài ba thước, trừng mắt nhìn tôi và nói: “Sao dám đổi ngày bồ-tát thành ngày đàm luận nghĩa lí?”. Thế là ông ấy lấy dao cắt thân tôi, đau đớn không chịu đựng nổi.
Đại chúng đưa sư về chùa. Từ đó sư dốc lòng sám hối. Suốt mười năm sau đó, sư tinh chuyên thuyết giới bố-tát, tụng đọc các kinh. Lúc sư sắp lâm chung có hương lạ xông khắp, thần sắc sư tươi vui, an nhiên thị tịch, điềm lành hiển hiện khắp nơi, làm gương cho người thời nay.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục