PUCL QUYỂN 89 - CHƯƠNG THỤ GIỚI (tt)
01/01/2016
QUYỂN 89 Quyển này tiếp theo chương Thụ giới. 87. CHƯƠNG THỤ GIỚI (tt) 87.6. THẬP THIỆN 87.6.1. Lời dẫn Thánh đạo xa nên khó mong cầu, tâm tịnh gần nhưng dễ mê muội. Tạo thành ngọn núi cao do đắp từ sọt đất thứ nhất, chứ...

QUYỂN 89
Quyển này tiếp theo chương Thụ giới.
87. CHƯƠNG THỤ GIỚI (tt)
87.6.1. Lời dẫn
Thánh đạo xa nên khó mong cầu, tâm tịnh gần nhưng dễ mê muội. Tạo thành ngọn núi cao do đắp từ sọt đất thứ nhất, chứng quả Phật cốt khởi từ niệm đầu tiên. Cũng thế, ngoài vạn dặm mà lìa bước đầu tiên thì không thể đến đích; công phu ba đời nếu chẳng nương sơ tâm thì đâu thể thành tựu. Vì thế hành giả tu tập luôn phải trải qua tâm ban đầu này. Khai thị người mới vào đạo nên dùng pháp thập thiện là hơn hết. Đời ngũ trược thời nay lắm điều hỗn tạp, người phạm lỗi càng nhiều, không tạo thì thôi, đã tạo liền phạm tội nặng. Nhân đây lượng xét, sao dám xem thường!
Theo kinh Quán Phật tam-muội, nếu người ngang bướng cố chấp, không tin Phật pháp thì phạm tội nặng không thê tính lường, không thê tiêu trừ hơn những tội giết tám vạn bốn ngàn cha mẹ v.v... Ngày nay, vào những ngày trai, chỉ thấy đạo tục thụ năm giới, tám giới, tam tụ tịnh giới... nhưng không thụ thập thiện. Bởi do chư tăng còn ân giấu thánh giáo, không truyền bá rộng rãi, dẫn đến thiếu sót một phần đạo lí. Nên kinh Vị tằng hữu ghi: “Hạ phẩm thập thiện là nghĩ đến mười điều thiện, dừng mười điều ác trong thời gian chừng một niệm. Trung phẩm thập thiện là nghĩ đến mười điều thiện, dừng mười điều ác trong thời gian một bữa cơm. Thượng phẩm thập thiện là nghĩ đến mười điều thiện, dừng mười điều ác trong thời gian từ sáng đến trưa. Loài dã can nhớ nghĩ mười điều thiện, bảy ngày không ăn, mạng chung sinh lên cõi trời Đâu-suất”.
Kinh Thượng sinh ghi: “Đức Phật dạy: ‘Sau khi Như Lai diệt độ, bốn chúng và tám bộ trời rồng... muốn sinh lên cõi trời thứ tư thì trong khoảng thời gian từ một ngày cho đến bảy ngày phải luôn nhớ nghĩ đến cõi trời này, trì giới cấm, nhớ nghĩ và thực hành mười điều thiện, hồi hướng công đức này nguyện sinh vào thời Đức Phật Di-lặc, thì sẽ được vãng sinh như sở nguyện”.
Nói bảy ngày, là chỉ thời gian ngắn mà còn cảm ứng được như vậy, huống là suốt một đời hành thiện, há lại không được như nguyện sao?
Hỏi: Quả báo thù thắng ở cõi trời không thể nghĩ lường, tại sao chỉ tu tập trong bảy ngày đã cảm được?
Đáp: Nhân thiện tuy nhỏ nhưng thâu được quả rất lớn. Thí như lửa của cây đuốc nhỏ có thể thiêu rụi một ngọn núi lớn. Một niệm thiện có thể diệt trừ được việc ác lớn. Cũng vậy, một ngọn đèn nhỏ có thể xua đi mọi tối tăm, ánh nắng ban mai cũng đủ phá tan giọt sương lớn, hạt giống tuy nhỏ nhưng có thể mọc thành đại thụ. Đó là lẽ thường trong thế gian, huống gì năng lực của việc thiện.
87.6.2. Sám hối
* Lời bàn
Gần đây thấy có người ngu không chịu sám hối lại nói dối: “Ta không làm ác thì đã là thiện, cớ sao lại bảo ta phải sám hối?”. Tôi liền đáp:
- Bậc Đại thánh hưng khởi chính giáo, cũng giống như phù ấn vậy. Nếu không hành trì thì không có gì để chứng nghiệm. Cho nên phải nguyện phải cầu, không tạo tội ác, y nguyện khởi tu mới mong được tiếp nhận. Thí như loài trâu, dù đủ sức kéo xe nhưng phải có người cầm cương mới đi đến đích. Lại nữa, nếu không dự tính hành trì, mà đột nhiên làm thiện, nội tâm không kiểm soát và quản lí, sau này gặp duyên xấu sẽ tạo tội không dừng. Đó là do từ trước không chịu lập nguyện hành thiện, nên mới dẫn đến tạo nhiều việc ác. Đức Phật biết rõ căn cơ chúng sinh nên mới bảo thụ thập thiện. Nếu nói “Ta không tạo ác tức là đã làm thiện”, như vậy ông không làm thiện là ông đã tạo ác. Vậy chẳng lẽ trâu, ngựa, la, lừa... cũng không sát sinh, há gọi đó là thiện ư? Đây chỉ là tâm vô kí, không tạo nghiệp tội phúc. Cho nên phải khởi niệm thiện, tâm ý sâu nặng nơi thiện thì mới mong thành tựu đạo nghiệp.
Kinh Vị tằng hữu ghi: -‘Bấy giờ, vợ của một bà-la-môn ngoại đạo tên là Đề-vi, chồng chết, nhà nghèo. Bà ta tự hận mình cô đơn, nghèo hèn, nên muốn thiêu thân tế trời để cầu xin được phúc báo ở đời sau. Khi ấy, có đạo nhân Biện Tài đến dạy:
- Thí như có con trâu vì chán ghét chiếc xe nên muốn phá hư. Nếu xe này bị hỏng thì người ta sẽ tiếp tục mắc vào ách nó một chiêc xe khác, vì tội vẫn chưa trả hết. Con người cũng như vậy, giả sử đời nay có tự đốt cháy trăm ngàn vạn thân thì nhân duyên nghiệp tội vẫn không thể diệt. Như trong địa ngục A-tỳ thiêu đốt các tội nhân chỉ trong một ngày tám vạn lần chết đi sống lại. Cứ như vậy, suốt một kiếp họ mới đền xong tội. Huống gì ngày nay bà chỉ thiêu thân một lần mà đã mong trả hết tội! Thật đâu có lí này!
Nghe vậy, Đề-vi liền hỏi:
- Vậy làm cách nào để tội được tiêu diệt?
Biện Tài đáp:
- Tâm trước tạo ác như mây che mặt trăng, tâm sau khởi thiện như ngọn đuốc xua tan bóng tối. Tôi có phương pháp diệt trừ tội chướng, giúp hiện đời được an ổn, đời sau sinh vào cõi lành.
Nghe xong, Đề-vi vô cùng vui mừng, không còn buồn khổ. Bà ta liền dẫn nô tì và quyến thuộc trong gia đình hơn năm trăm người đến vây quanh Biện Tài, khấu đầu đỉnh lễ, cung kính chắp tay thưa:
- Vừa rồi ngài nói về nguyên nhân diệt tội. Bây giờ xin ngài hãy dạy cho chúng con cách thức diệt tội. Chúng con nguyện sẽ thực hành theo!
Biện Tài dạy:
- Tội phát sinh từ thân, khẩu, ý. Thân tạo nghiệp bất thiện là sát, đạo, tà dâm. Miệng tạo nghiệp bất thiện là vọng ngôn, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ. Ý nghiệp bất thiện là tật đố, sân hận, kiêu mạn, tà kiến. Đó là mười nghiệp ác, ai tạo sẽ chịu tội báo xấu ác. Nay phải nhất tâm chí thành sám hối. Nếu quá khứ và hiện tại đã tạo những tội như thế thì ngày nay xin chí thành sám hối tất cả, tội mới được tiêu, cần phải lập thệ nguyện cứu độ quyến thuộc, thay họ sám hối. Tất cả phúc thiện mình đã tạo được, nên ban cho tất cả chúng sinh đang thụ khổ để họ được an vui, lại còn chịu khổ thay cho chúng sinh. Từ đó thụ thân mãi cho đến khi thành tựu quả Phật.
Sám hối xong, Đe-vị lại thưa:
- Xin ngài dạy cho chúng con các pháp lành khác, chúng con cũng sẽ siêng năng hành trì.
Biện Tài lại truyền pháp thập thiện cho Đề-vị”.
87.6.3. Pháp thụ thập thiện
Nếu muốn thụ giới cần phải đối trước một vị trong năm chúng xuất gia để lãnh thụ. Người thụ giới nên đầy đủ oai nghi, quì gối chắp tay thỉnh giới sư:
- Con tên là... nay thỉnh đại đức vì con mà làm giới sư a-xà-lê truyền thập thiên. Xin đại đức vì con mà làm giới sư a-xà-lê truyền thập thiện. Con nương đại đức để được thụ thập thiện. Xin đại đức từ bi thưong xót! (Thưa như thế ba lần. Pháp thụ thập thiện tuy không có văn thưa thỉnh, ở đây y theo cách thỉnh sư thụ đại giới mà làm thì cũng không sai. Không thỉnh cũng được, nhưng nên thỉnh để tăng trưởng việc thiện. Lại nữa, pháp thập thiện này là nền tảng của Tam thừa, là phương thuốc hay của trời người. Được quả vi diệu, thật sự phải nhờ vị thầy chỉ dạy. Như vậy há lại không thỉnh sư? Đối trước đại chúng, thỉnh cùng một lúc cũng được).
Pháp lãnh thụ này đại ý có hai trường hợp: đối trước người khác thụ lãnh và tự thụ lãnh.
1. Đối trước người khác thụ lãnh, xin lược dẫn hai đoạn kinh văn:
Thứ nhất, kinh Vị tằng hữu trình bày như sau:
* Giới sư nói: “Ông nay phải thành tâm qui y Phật, qui y pháp, qui y tì-kheo tăng, phải trọn đời thụ pháp thập thiện” (nói ba lần). Người thụ lãnh thưa: “Đệ tử tên là... từ nay đến trọn đời nguyện không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm là nghiệp thiện của thân. Không vọng ngữ, lưỡng thiệt, không ác khẩu, ỷ ngữ là nghiệp thiện của miệng. Không tật đố, sân hận, kiêu mạn, tà kiến là nghiệp thiện của ý”. Đây là giới pháp thập thiện.
- Thứ hai, theo kinh Văn-thù-sư-lợi vấn, pháp thụ thập thiện này đồng với văn thụ mười giới của sa-di.
Ý kinh này cũng cho phép bồ-tát tại gia đồng thụ thập thiện. Cho nên kinh ghi: “Bấy giờ Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Pháp qui y Phật phải thưa thỉnh như thế nào?
Phật bảo Văn-thù:
- Qui y Phật phải thưa: “Bạch đại đức! Đệ tử tên là... nguyện qui y Phật cho đến khi giác ngộ; qui y Pháp cho đến khi giác ngộ; qui y tăng cho đến khi giác ngộ (thưa ba lần). Đệ tử tên là... đã qui y Phật rồi, qui y pháp rồi, qui y tăng rồi (thưa ba
lần). Kế đến là thụ giới tướng. Pháp thưa thỉnh như sau:
2 Bạch đại đức! Đệ tử thụ trì giới Bồ-tát tên là... nguyện từ nay đến khi giác ngộ thệ không giết hại chúng sinh cũng không khởi niệm sát sinh, không trộm cắp cũng khồng khởi niệm trộm cắp, không tà hạnh cũng không khởi niệm tà hạnh, không vọng ngữ cũng không khởi niệm vọng ngữ, không uống rượu cũng dứt trừ niệm uống rượu, không thoa hương hoa cũng không khởi ý niệm muốn thoa hương hoa, không đàn ca hát xướng cũng không khởi niệm đàn ca hát xướng, không ngồi giường cao rộng cũng không khởi niệm ngồi giường cao rộng, không ăn quá ngọ cũng không khởi niệm ăn quá ngọ, không đeo vàng bạc châu báu cũng không khởi niệm đeo vàng bạc châu báu. Cho đến thụ đầy đủ sáu đại từ đại bi Ba-la-mật.
2. Tự thụ lãnh:
Nếu không có vị xuất gia nào truyền thụ thì vào những ngày trai, giới tử đối trước tượng Phật chí thành sám hối, phát thiện nguyện, cầu xin lãnh thụ. Pháp thụ như sau: “Đệ tử tên là... xin qui y Phật, qui y pháp, qui y tăng (thưa ba lần). Đệ tử tên là...qui y Phật rồi, qui y pháp rồi, qui y tăng rồi (thưa ba lần).
Kế đến là thụ giới tướng. Cách thụ như sau: Người thụ giới nói: “Đệ từ tên là... nguyện trọn đời này cho đến khi thành tựu bồ-đề, đối với chúng hữu tình, không phân biệt phàm thánh, luôn hành tâm đại bi không khởi tâm sát hại, không khởi tà kiến (nói ba lần). Đệ tử tên là... nguyện trọn đời này cho đến khi thành tựu bồ-đề, đối với chúng hữu tình, không phân biệt phàm thánh, luôn khởi tâm đại bi, không khởi tâm sát hại rồi, không khởi tà kiến rồi” (nói ba lần). Đối trước người khác lãnh thụ thì y theo cách này cũng được. Tuy không đúng văn, nhưng cũng đúng ý.
87.6.4. Giới tướng
Theo kinh Đại Bát-nhã quyển 473 ghi: “Tự mình thụ thập thiện nghiệp, khuyến khích người khác thụ thập thiện nghiệp, chân thật ca ngợi pháp thập thiện nghiệp, vui vẻ ca ngợi người thụ trì thập thiện nghiệp (năm giới, tám giới, giới xuất gia...cũng đều tự thụ lãnh và khuyến trì như thế).
Kinh Văn-thù vấn ghi: “Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Giới xuất thế gian có mấy loại?
Phật bảo:
- Nêu bồ-tát khởi tâm phân biệt là nam nữ, chẳng phải nam nữ... thì phạm tội ba-la-di. Nếu bồ-tát khởi tâm phân biệt súc sinh, quỉ thần, chư thiên nam nữ hoặc chẳng phải nam nữ... này phạm tội ba-la-di. Nếu thân khẩu không thể hành pháp Tam thừa, không khởi tâm từ bi thì bồ-tát phạm tội ba-la-di. Nếu thân khẩu không thể hành pháp Tam thừa, lại khởi tâm trộm đồ vật của người khác thì phạm tội ba-la-di. Nếu thân khẩu không thể hành pháp Tam thừa, lại khởi tâm vọng ngữ thì phạm tội ba-la-di”.
Kinh Phạm võng ghi: “Đức Phật bảo các vị bồ-tát:
- Cứ mỗi nửa tháng, Như Lai tự tụng giới pháp của chư Phật. Bồ-tát các ông dù là bồ-tát Thập địa cũng nên tụng giới pháp này. Giới này là bản nguyên của chư Phật, là nền tảng thực hành bồ-tát đạo. Người thụ giới, không kể là quốc vương, vương tử, quan lại, tể tướng, tì-kheo, tì-kheo ni, thập bát Phạm thiên, Lục Dục thiên, thứ dân, huỳnh môn, dâm nam, dâm nữ, nô ti, bát bộ quỉ thần, thần Kim Cang, súc sinh, cho đến người biến hóa... chỉ cần hiểu được lời giới sư nói thì vẫn được đắc giới, đều được gọi là người thanh tịnh đệ nhất.
Đức Phật lại bảo các đệ tử:
- Có mười giới trọng, nếu người nào thụ giới Bồ-tát mà không tụng giới này thì chẳng phải là bồ-tát, chẳng phải đệ tử Phật. Như Lai cũng tụng mười giới điều này. Tất cả bồ-tát cũng đã học, sẽ học và đang học mười giới này. Nay Như Lai sẽ lược nói tướng trạng của mười giới trọng này, các vị cần phải học và cung kính phụng trì.
Đức Phật dạy:
- Phật tử không được tự tay giết, bảo người khác giết, tìm cách giết, xúi giục cho chết, thấy người khác giết vui theo, cho đến nguyền rủa cho chết, tạo nghiệp giết, phương pháp giết, tạo nhân giết, tạo duyên giết. Cho đến không được cố ý giết tất cả những loài có mạng sống. Bồ-tát phải luôn có tâm từ bi, tâm hiếu thuận, phương tiện cứu giúp. Nếu tự buông lung tâm ý sát sinh thì bồ-tát tại gia này phạm tội ba-la-di thứ nhất.
Phật tử không được tự tay trộm, bảo người khác trộm, phương tiện trộm, bùa chú trộm, tạo nghiệp trộm, pháp trộm, nhân trộm, duyên trộm. Cho đến vật của quỉ thần, vật có chủ, vật của giặc cướp, tất cả những tài vật dù là một cây kim ngọn cỏ cũng không được cố ý trộm. Bồ-tát nên khởi tâm Phật, tâm hiếu thuận, tâm từ bi, luôn giúp đỡ tất cả chúng sinh được phúc tăng thiện. Trái lại, nếu trộm tài vật của người thì bồ-tát tại gia này phạm tội ba-la-di thứ hai.
Phật tử không được tự mình dâm, dạy người khác dâm, tạo nghiệp dâm, gây nhân dâm, duyên dâm, pháp dâm, hành dâm phi đạo, cho đến không được cố ý dâm đối với tất cả những người nữ, cho đến nữ súc sinh, nữ chư thiên, nữ quỉ thần v.v... Bồ-tát phải khởi tâm hiếu thuận, tâm cứu độ tất cả chúng sinh, tâm thanh tịnh với mọi người. Trái lại, nếu bồ-tát khởi tâm dâm dục với tất cả mọi loài, không kể là súc sinh hay mẹ, chị em trong lục thân quyến thuộc của mình, không có tâm từ bi, bồ-tát này phạm tội ba-la-di thứ ba.
Phật tử không được vọng ngữ, dạy người vọng ngữ, phương tiện vọng ngữ, tạo nhân vọng ngữ, duyên vọng ngữ, nghiệp vọng ngữ, pháp vọng ngữ, cho đến không thấy nói thấy, thấy nói không thấy, đều là thân tâm vọng ngữ. Bồ-tát lẽ ra phải có chính ngữ, giúp chúng sinh có chính ngữ, chính kiến mà ngược lại làm cho chúng sinh khởi tà ngữ, tà kiến, tà nghiệp, nên bồ-tát này phạm tội ba-la-di thứ tư.
Phật tử không được uống rượu, dạy người khác uống rượu, tạo nhân uống rượu, nghiệp uống rượu, pháp uống rượu, duyên uống rượu. Đối với tất cà các loại rượu đều không được uống. Ví uống rượu là nguyên nhân dẫn đến tạo tội lỗi. Bồ-tát lẽ ra phải phát khởi trí tuệ minh đạt cho tất cả chúng sinh, mà ngược lại làm cho chúng sinh khởi tâm điên đảo nên bồ-tát này phạm tội ba-la-di thứ năm.
Phật tử không được nói lỗi hoặc dạy người khác nói lỗi của tì-kheo, tì-kheo ni, bồ-tát tại gia, xuất gia, tạo nhân nói lỗi, nghiệp nói lỗi, pháp nói lỗi, duyên nói lỗi. Bồ-tát nghe ngoại đạo, người xấu ác, cho đến người xấu ác hàng Nhị thừa nói phi pháp, phi luật đối với Phật pháp, thì nên khởi tâm từ bi giáo hóa để những người này sinh niềm tin Đại thừa. Trái lại bồ-tát tự nói lỗi trong Phật pháp thì phạm tội ba-la-di thứ sáu.
Phật tử không được hủy báng người khác, cũng không được dạy người hủy báng, không tạo nhân hủy báng, nghiệp hủy báng, pháp hủy báng, duyên hủy báng người khác. Bồ-tát phải chịu thay cho tất cả chúng sinh, nhận mọi sự hủy nhục ghen ghét về mình và ban cho người khác những việc tốt lành. Nếu bồ-tát tự khoe đức hạnh của mình, che giấu điều tốt của người, khiến người bị hủy báng thì phạm tội ba-la-di thứ bảy.
Phật tử không được tham lam bòn xẻn, cũng không được dạy người khác tham lam bỏn xẻn. Không được tạo nhân xan tham, nghiệp tham lam bỏn xẻn, pháp tham lam bỏn xẻn, duyên tham lam bòn xẻn. Bồ-tát thấy những người nghèo khổ đến xin thì nên cung cấp tất cà những gì họ cần. Nếu bồ-tát khởi tâm sân, tâm ghét, không bố thí dù chỉ một đồng tiền, một cây kim, một ngọn cỏ, hoặc khi có người đến cầu pháp mà không thuyết giảng dù chỉ một câu, một bài kệ, một mảy trần giáo pháp, trái lại còn hủy nhục họ, bồ-tát này phạm tội ba-la-di thứ tám.
Phật từ không được sân giận, cũng không được dạy người khác sân giận, tạo nhân sân, nghiệp sân,pháp sân, duyên sân. Bồ-tát nên thường tăng trưởng căn lành, khởi lòng từ bi, không tranh cãi với tất cả chúng sinh. Trái lại, nếu bồ-tát ác khẩu chửi mắng tất cả chúng sinh, hay phi chúng sinh, hoặc đánh đấm, hoặc đâm chém, ôm lòng thù hận khôn nguôi, dù người kia đã hối cải, thành thật tạ lỗi mà vẫn sân giận không bỏ qua, bồ-tát này phạm tội ba-la-di thứ chín.
Phật tử không được hủy báng Tam bảo, dạy người hủy báng Tam bảo, tạo nhân hủy báng, nghiệp hủy báng, pháp hủy báng, duyên hủy báng. Bồ-tát thấy ngoại đạo hoặc người xấu ác hủy báng Phật dù chỉ một lời, thì đau đớn như ba trăm ngọn giáo đâm vào tim mình, huống gì mình hủy báng, đã không sinh tâm kính tín, tâm hiếu thuận, lại còn hỗ trợ kẻ xấu, kẻ tà kiến hủy báng Phật pháp. Bồ-tát này phạm tội ba-la-di thứ mười.
Là bồ-tát ưu-bà-tắc tu học xuất sắc, thì không được phạm một lỗi nhỏ dù chỉ bằng hạt bụi, huống gì phạm đủ mười giới. Nếu người nào phạm thì hiện đời không thể phát tâm bồ-đề, mất ngôi vị quốc vương, chuyển luân vương, tì-kheo, tì-kheo ni, cũng mất giai vị Thập phát thú, Thập trưởng dưỡng, Thập kim cang, Thập địa, diệu quả Phật tính thường trụ mà sẽ rơi vào ba đường ác, trải qua hai kiếp, ba kiếp không nghe được danh tự Tam bảo, cha mẹ. Vì thế bồ-tát không nên phạm, dù chỉ mảy may. Tất cả bồ-tát các ông đang học, sẽ học và đã học mười giới điều này thì nên dốc lòng cung kính phụng trì" (học mười giới trọng này xong, lại học thêm bốn mươi tám giới khinh. Vì văn rườm rà nên không tiện trình bày, hành giả nên xem trong kinh văn).
Còn tám vạn oai nghi sẽ trình bày sau.
87.6.5. Công năng
Kinh Đại tập ghi: “Đức Phật dạy:
- Này các nhân giả! Không sát sinh thì được mười công đức:
1. Không làm chúng sinh sợ hãi.
2. Có tâm đại từ bi đối với chúng sinh.
3. Đoạn được các tập khí xấu ác.
4. ít bị bệnh tật, công việc nhất định thành tựu.
5. Được trường thọ.
6. Được phi nhân hộ trì.
7. Ngủ nghỉ an ổn, không ác mộng.
8. Không có oán thù.
9. Không sợ rơi vào nẻo ác.
10. Sau khi mạng chung được sinh vào cõi lành. Này các nhân giả! Nếu người hồi hướng thiện
căn này về quả vị Vô thượng bồ-đề thì không bao lâu sẽ chứng Vô thượng trí. Khi thành tựu quả Vô thượng bồ-đề, vị ấy sẽ an trú trong cõi nước không có sự sát hại, những chúng sinh được trường thọ sẽ sinh sang nước ấy.
Đức Phật lại dạy:
- Không trộm cắp sẽ được mười công đức:
1. Có phúc báo lớn, làm việc nhất định thành tựu, không trở ngại.
2. Có của cải không chung với người khác.
3. Không bị năm nhà đoạt lấy.
4. Mọi người đều mến kính.
5. Đi khắp nơi không gặp khó khăn.
6. Đến đi không sợ hãi.
7. Ưa thích bố thí.
8. Không cầu mà tiền tài của báu tự nhiên có.
9. Của cải có được không bị mất.
10. Sau khi mạng chung được sinh vào cõi lành.
Này các nhân giả! Nếu người biết hồi hướng
thiện căn này về quả vị Vô thượng bồ-đề thì không bao lâu sẽ chứng Vô thượng trí. Khi thành tựu quả Vô thượng bồ-đề, vị ấy sế an trú trong cõi nước đầy đủ các loại vật dụng trang nghiêm như hoa quà, cây cối, y phục, chuỗi báu... các vật quí giá đều sung mãn.
Đức Phật lại dạy :
- Không tà dâm sẽ được mười công đức:
1. Các căn trang nghiêm, việc làm nhất định thành tựu.
2. An trú trong thanh tịnh li dục.
3. Không não hại người khác.
4. Người nhìn thấy, sinh tâm hoan hỉ.
5. Mọi người thích nhìn.
6. Phát tâm tinh tấn.
7. Thấy họa sinh tử.
8. Luôn thích bố thí.
9. Luôn thích cầu pháp.
10. Sau khi mạng chung, được sinh vào cõi lành Này nhân giả! Nếu người biết hồi hướng thiện
căn này về quả vị vô thượng bồ đề thì không bao lâu sẽ chứng Vô thượng trí. Khi thành tựu quả Vô thượng bồ-đề, vị ấy sẽ an trú trong cõi nước không có sinh cụ cũng không có nữ căn, không hành dâm dục, mọi thứ đều do hóa sinh.
Đức Phật lại dạy:
- Không vọng ngữ sẽ được mười công đức:
1. Mọi người đều xác nhận lời nói của ta đáng tin.
2. Ở bất cứ hội chúng nào, ngay cả cõi trời, nếu có phát biểu ý kiến gì đều xác thật.
3. Miệng tỏa hương thơm như hoa ưu-bát-la.
4. Làm người xác chứng trong cõi trời người.
5. Được mọi người kính mến, không nghi ngờ.
6. Luôn nói lời chân thật.
7. Tâm ý thanh tịnh.
8. Không dua nịnh, lời nói hợp thời cơ.
9. Luôn luôn vui vẻ.
10. Sau khi mạng chung, được sinh vào cõi lành. Này nhân giả! Nếu biết hồi hướng thiện căn này về quả vị Vô thượng bồ-đề thì không bao lâu sẽ chứng Vô thượng trí. Khi thành tựu quả Vô thượng bồ-đề, vị ấy sẽ an trú trong cõi nước không có sinh cụ đầy đủ các loại hương báu vi diệu
Đức Phật lại dạy: Không lưỡng thiệt sẽ được mười công đức:
1. Thân bình đẳng không thể hoại.
2. Quyến thuộc bình đẳng không thể hoại.
3. Bằng hữu bình đẳng không thể hoại.
4. Niềm tin bình đẳng không thể hoại.
5. Pháp bình đẳng không thể hoại.
6. Oai nghi bình đẳng không thể hoại.
7. Sự định tĩnh bình đẳng không thể hoại.
8. Tam-muội bình đẳng không thể hoại.
9. Nhẫn bình đẳng không thể hoại.
10. Sau khi mạng chung, được sinh vào cõi lành. Này nhân giả! Nếu biết hồi hướng thiện căn này
về quả vị Vô thượng bồ-đề thì khôrig bao lâu sẽ chứng Vô thượng trí. Khi thành tựu quả Vô thượng bồ-đề, vị ấy sẽ an trú trong cõi nước quyến thuộc không bị những người oán thù và bè đảng khác phá hoại.
Đức Phật lại dạy:
- Không ác khẩu sẽ được mười công đức:
1. Âm giọng nhẹ nhàng.
2. Ngôn từ lưu loát.
3. Ngôn từ hợp đạo lí
4. Lời hay đẹp.
5. Nói ra điều gì đều xác thật.
6. Nói lời ngay thẳng.
7. Nói ra không gây sợ sệt cho người.
8. Nói những lời không khinh chê người.
9. Thuyết pháp hay và rõ ràng.
10. Sau khi mạng chung, được sinh vào cõi lành:
Này nhân giả! Nếu biết hồi hướng thiện căn này về quả vị Vô thượng bồ-đề thì không bao lâu sẽ chứng Vô thượng trí. Khi thành tựu quả Vô thượng bồ-đề, vị ấy sẽ an trú trong cõi nước không có lời xấu ác, khắp mọi nơi đều vang tiếng thuyết pháp.
Phật dạy:
- Không ỷ ngữ được mười công đức:
1. Trời người thương kính.
2. Người trí tùy hỉ.
3. Thường thích sự thật.
4. Người trí không chê ghét, thường ở chung.
5. Dễ lãnh hội lời người nói.
6. Thường được tôn trọng kính yêu.
7. Thường được ở nơi thanh tịnh vừa ý mình.
8. Yêu thích sự tịch mặc của bậc thánh.
9. Xa lìa người xấu, gần gũi bậc hiền thánh.
10. Khi thân hoại mạng chung được sinh vào đường lành.
Này các nhân giả! Nhờ dứt trừ lỗi ỷ ngữ mà được mười loại công đức như thế. Nếu hay hối hướng thiện căn này về quả Vô Thượng Bồ-đề, không bao lâu sẽ chứng Vô thượng trí. Khi thành tựu quả Vô thượng bồ-đề, vị ấy sẽ an trú trong cõi nước trang nghiêm, chúng sinh đoan chính đồng sinh về, họ đều có trí nhớ lâu, thích sống cảnh li dục.
Phật dạy không tham dục sẽ được mười công đức:
1. Các căn không khiếm khuyết.
2. Khẩu nghiệp thanh tịnh.
3. Ý không tán loạn.
4. Được quả báo thù tháng.
5. Vô cùng giàu sang.
6. Mọi người thích nhìn.
7. Quyến thuộc bền vững.
8. Thường gặp người trí.
9. Thường được nghe pháp.
10. Sau khi thân hoại mạng chung được sinh vào đường lành.
Này các nhân giả! Nếu hồi hướng thiện căn này về quả vị Vô Thượng bồ-đề, không bao lâu người này sẽ chứng được Vô thượng trí. Khi đạt đến quả Bồ-đề, vị ấy sẽ an trú trong cõi nước không có ma oán và các ngoại đạo.
Phật dạy:
- Không sân hận sẽ được mười công đức:
1. Không còn sân giận.
2. Không thích cất giữ tài sản.
3. Các bậc thánh hoan hỉ.
4. Thường được gặp hiền thánh.
5. Luôn gặp những điều lợi ích.
6. Dung mạo đoan chính.
7. Thấy chúng sinh vui, tâm hoan hỉ.
8. Chứng tam-muội.
9. Thân, miệng tươi nhuận, ý nhu hòa.
10. Sau khi thân hoại mạng chung được sinh vào đường lành.
Này các nhân giả! Nếu hồi hướng căn lành này về quả vị Vô thượng bô-đề, không bao lâu người này sẽ chứng được Vô thượng trí. Khi đạt đến quả Bồ-đề chúng sinh trong cõi nước của vị này đều chứng tam-muội, tâm hoàn toàn thanh tịnh.
Phật dạy:
- Không tham dục sẽ được mười công đức:
1. Tâm tính nhu hòa, thuần thiện, bạn bè hiền lương.
2. Tin có nghiệp báo, dù bị giết chết cũng không khởi niệm ác.
3. Kính tin Tam bảo, thà chết chứ không vì được sống mà tin thiên thần.
4. Có chính kiến, không lấy làm lạ bởi những việc kì quái, cũng như không chọn lựa ngày giờ tốt xấu.
5. Được sinh cõi trời người, xa lìa đường ác.
6. Thích làm những việc phúc đức, được người trí khen ngợi.
7. Từ bỏ những lễ nghi thế tục, luôn cầu thánh đạo.
8. Lìa kiến chấp đoạn thường, thâm nhập pháp nhân duyên.
9. Luôn gần gũi những người phát tâm chân chính, hướng đến đạo.
10.Sau khi thân hoại mạng chung được sinh vào đường lành.
Này các nhân giả! Nếu hồi hướng thiện căn này về quả vị Vô thượng bồ-đề, người này sẽ chóng thành tựu sáu ba-la-mật, ở cõi Phật thanh tịnh thành tựu Chính giác. Chứng quả Bồ-đề rồi, cõi Phật mà vị ấy an trú toàn là những chúng sinh có đầy đủ công đức trí tuệ, căn lành trang nghiêm, không tin thiên thần, xa lìa nỗi lo rơi vào đường ác, sau khi mạng chung, được sinh về cõi lành”.
87.7. TAM TỤ
87.7.1. Lời dẫn
Thụ thập thiện, năm giới ắt phải nương vào hình tướng; còn tịnh giới của bồ-tát chỉ cốt ở tâm thành. Vì giới pháp lí sự rộng sâu, hàng xuất gia, tại gia đều bình đẳng lãnh thụ. Nhờ giới này mà mầm tuệ thành tựu, nước định viên mãn. Giới trang nghiêm sáu độ, tô điểm bốn tâm vô lượng. Như ngôi nhà, tuy chưa có nóc mái mà nền móng đã vững chắc. Tất cả đều nhờ giới bản này.
Giới bồ-tát và pháp ưu-bà-tắc bát đầu lưu truyền đến đất Hán vào cuối đời Tấn, do sa-môn Đàm-vô-sấm người Trung Thiên Trúc mang từ Thiên Trúc sang. Sau đó, sư trích chọn những điều chương cốt yếu, rồi sao chép thành giới bản.
Bấy giờ, ở Lương châu có pháp sư Đạo Tiến là bậc đạo tâm siêu tuyệt, tuệ lực dũng mãnh. Nghe giới kinh này đã truyền sang đất Hán, liền đến tận Đôn Hoàng đích thân tiếp nhận. Tuy giới pháp đã truyền đến, nhưng không có giới sư truyền trao, nên pháp sư chí thành nương theo văn kinh tự lập thệ nguyện mà thụ lãnh giới pháp. Khi ấy, đạo tục ở Lương châu đều chưa biết. Đến khi ngài Đạo Lãng ở cùng chừa với pháp sư Đạo Tiến mộng thấy Đạo Tiến được Phật thụ kí, đồng thời hơn mười tăng ni, tín sĩ cũng mộng thấy như vậy. Không bao lâu, Đạo Tiến trở về thì đúng là đã thụ giới bồ-tát.
Pháp sư Đạo Lãng là bậc trưởng lão đạo cao đức trọng nổi tiếng ở Trường An. Ngài rất mến mộ pháp Đại thừa, nay có mộng lành chứng nghiệm, nên tâm rất hoán hỷ, liền theo pháp sư Đạo Tiến thụ giới. Ngài nhận thấy giới Bồ-tát thù thắng vượt hẳn Tam thừa nên không kể niên cao lạp trưởng, tự hạ mình xin làm pháp đệ. Bấy giờ, hơn nghìn tăng ni danh đức và thiện nam tín nữ đều lần lượt theo pháp sư Đạo Tiến thụ pháp. Thứ sử Lương châu nghe pháp sư là bậc giới hạnh nên cũng thờ làm thầy. Từ đây, giới Bồ-tát được lưu truyền khắp kinh thành, tăng tục thụ trì nhiều vô lượng.
Nguyện cầu giới pháp cam lồ rưới khắp đại thiên thế giới, kính soạn văn này thuật rõ từ đầu đến cuối!
87.7.2. Đắc giới và mất giới
Kinh Anh lạc ghi: “Phật dạy:
- Này Phật tử! Nay Như Lai sẽ kết tất cả giới căn bản cho các bồ-tát thành tam tụ tịnh giới.
Này Phật tử! Người thụ mười vô tận giới, sẽ thoát khỏi bốn ma và các cảnh khổ của ba cõi. Giới này đời đời không mất, luôn theo người cho đến khi thành Phật.
- Này Phật tử! Nếu trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai, tất cả chúng sinh không thụ giới bồ-tát này thì không được gọi là người có tình thức, chẳng khác gì súc sinh. Người này lìa biển Tam bảo, chẳng phải bồ-tát, chẳng phải nam, chẳng phải nữ mà là súc sinh, là người tà kiến, ngoại đạo, chẳng hợp lòng người. Nên biết, giới bồ-tát có pháp thụ mà không có pháp xả, dù có phạm nhưng không mất, còn mãi đến tận đời vị lai.
Nếu có người muốn thụ giới bồ-tát, trước tiên giới sư phải giải thích, khiến họ ưa thích, sau đó mới truyền giới. Trong mọi quốc độ, nếu có pháp sư nào giáo hóa một người xuất gia thụ giới bồ-tát thì được phúc đức thù thắng hơn người xây dựng tám vạn bốn nghìn chùa tháp. Huống lại giáo hóa được hai, ba, cho đến trăm người, nghìn người v.v..., phúc báo ấy không thể tính đếm, Vị pháp sư này được làm thầy của lục thân quyến thuộc. Người thụ lãnh được dự vào hàng bồ-tát trong các cõi Phật, thoát khỏi cảnh khổ sinh tử trong ba kiếp, vì thế phải lãnh thụ. Người đã thụ giới dù có phạm giới, vẫn hơn người không thụ giới mà không phạm. Vì người thụ giới tuy phạm vẫn được gọi là bồ-tát, người không thụ giới dù không phạm vẫn bị xem là ngoại đạo. Vì vậy thụ một phần giới gọi là nhất phần bồ-tát, cho đến hai, ba, bốn phần. Thụ mười phần thì gọi là cụ túc thụ giới. Thế nên tâm có giới hạn thì giới có giới hạn, tâm không giới hạn thì giới cũng vô hạn. Chúng sinh trong sáu đường nếu thụ đều được đắc giới, chỉ cần hiểu lời pháp sư nói”.
Kinh Thiện Sinh ghi: “Có hai nguyên nhân làm mất giới bồ-tát.
1. Thoái thất tâm bồ-đề.
2. Tăng trưởng tâm ác.
Ngoại trừ hai điều trên, dù thụ sinh vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh cũng không mất giới này. Nếu đời sau thụ lại giới bồ-tát, thì không gọi là mới đắc giới, mà gọi là khai thị để sáng tỏ”,
Kinh Phạm võng ghi: “Bấy giờ, giới sư vì người thụ giới hướng về mười phương chư Phật mà thuyết yết-ma. Mười phương chư Phật và các bồ-tát từ xa thấy người này, liền nghĩ tưởng như con em mình, đều rủ lòng thương xót hộ niệm. Nhờ được chư Phật và bồ-tát từ xa hộ niệm, nên giới tử tăng trưởng công đức, không mất pháp lành, lông trên toàn thân từ đầu đến chân đều dựng đứng, như bị gió lạnh nhập, toàn thân rét run. Nên biết, trong tâm giới tử này đã đầy đủ giới tướng. Bấy
giờ, mười phương chư Phật dùng chính pháp nhãn quán biết hành giả này có tâm chân thật, Phật Thích-ca Mâu-ni ở trong hàng thánh sẽ xướng: ‘Báo cho đại chúng biết, ở thế giới kia, trong cõi nước... có bồ-tát ... xin thụ giới bồ-tát từ người trí .... Người này không có thầy, nay Ta vì thương xót mà làm thầy cho người này!’.
Đức Phật lại dạy:
- Này Phật tử! Người phạm bảy tội nghịch không được thụ giới Bồ-tát. Còn tất cả mọi người, từ quốc vương, vương tử, đại thần, trăm quan, tì-kheo, tì-kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nư, dâm nam, dâm nữ, mười tám Phạm thiên, người không căn, hai Căn, huỳnh môn, nô tì, tất cả quỉ thần, thần Kim Cang, súc sinh và người biến hóa v.v... chỉ cần hiểu được lời pháp sư là được thụ giới. Bảy tội là năm tội nghịch cộng với tội giết hòa thượng, giết a-xà-lê. Nên dạy giới tử đắp ca-sa hoại sắc để khác với ngoại đạo.
Đức Phật lại dạy:
- Này Phật tử! Khi thái tử sắp kế vị quốc vương, chuyển luân vương, hay trăm quan nhậm chức thì nên thụ giới bồ-tát trước. Như vậy, vị này sẽ được tất cả quỉ thần theo bảo vệ, chư Phật đều hoan hỉ.
Đã thụ giới rồi, phải có tâm hiếu thuận, tâm cung kính. Nếu bô-tát này không thực hành đúng pháp, khi thấy thượng tọa, hòa thượng, a-xà-lê, bạn đồng học đồng kiến, đồng hành mà lại sinh tâm kiêu mạn, tâm ngu si, tâm ngã mạn, không đứng dậy tiêp đón lễ lạy thì phạm tội khinh cấu. Khi muốn cúng dường thì nên bán thân mình, đất nước, nam nữ, bảy báu, trăm vật để cúng dường. Nếu không thì phạm khinh cấu tội”.
87.7.3. Nghi thức thụ giới
(Từ đây trở xuống đều y cứ vào luận Địa Trì để soạn ra giới pháp này)
Tôi đã nghiên cứu kĩ thánh giáo, nghi thức truyền thụ có vạn cách, nhưng thiết nghĩ luận Địa trì là quan trọng nhất, nên kính cẩn y theo đó soạn thành một nghi thức chung, chỉ mong tự thân áp dụng, đâu dám cho mình hơn người.
Pháp thụ giới có hai trường hợp:
1. Đệ tử và giới sư: trong vòng một nghìn dặm, bảy chúng đồng như vậy. Trong bảy chúng, tì-kheo là lớn nhất. Trong hàng tì-kheo, bậc tuổi cao đức trọng là đứng đầu. Đức hạnh của trưởng lão lại có ba bậc:
- Bồ-tát đồng pháp, biết rõ trọn vẹn các chủng tính.
- Bồ-tát đã phát nguyện, tức là phát tâm đầy đủ.
- Bồ-tát có trí tuệ, có nội lực, khéo nói, khéo thuyết, giỏi tụng, giỏi trì.
Người có đủ ba đức này mới xứng đáng làm thầy, nếu không thì không xứng đáng. Giới tử cũng phải đầy đủ chủng tính và phát tâm mới được thụ giới.
2. Thỉnh sư: kinh Phổ Hiền ghi: “Khi chuẩn bị truyền giới Bồ-tát, trước phải thỉnh Đức Phật và bồ-tát làm thầy. Văn thỉnh như sau:
Đệ tử chúng con tên là... cùng tất cả chúng sinh trong pháp giới, phụng thỉnh đức Thích-ca Như Lai làm hòa thượng, phụng thỉnh bồ-tát Văn-thù-sư-lợi làm a-xà-lê, phụng thỉnh bồ-tát Di-lặc làm giáo thụ sư, phụng thỉnh chư Phật trong mười phương làm chứng minh sư, phụng thỉnh bồ-tát trong mười phương làm bạn. Con nay nương theo nghĩa Đại thừa sâu xa vi diệu, qui y Phật, qui y pháp, qui y tăng (đọc ba lần).
Thỉnh thầy xong, kế đến là phần cho phép thụ. Người muốn thụ giới phải đầy đủ oai nghi, đỉnh lễ giới sư xong, sau đó thưa:
- Cúi xin đại đức truyền giới bồ-tát cho con. Đại đức đã vì chúng con mà không ngại lao nhọc, xin thương xót cho phép chúng con được thụ lãnh giới pháp (đọc ba lần).
Giới sư đáp:
- Tốt lắm!
Sau khi đã cho phép, giới sư phải dạy giới tử học kinh Phương quảng, luận Ma-đức-lặc-già, luận Ngũ minh v.v... để họ biết được điều phạm, điều nào không phạm, thế nào là ô nhiễm, thế nào là không ô nhiễm, hạ trung thượng và bốn mươi hai giới, tất cả đều phải thấu hiểu tường tận. Sau đó, giới sư đối trước tượng Phật truyền giới. Nếu trước đó giới tử đã học kinh Đại thừa, thì được phép thụ giới liền, không cần những điều kiện trên.
Khi đã được giới sư hứa khả, trong khoảng thời gian ba năm, hoặc một trăm ngày, hoặc một ngày sau, giới tử đến đạo tràng đắp ca-sa bày vai phải, đỉnh lễ tất cả chư Phật trong mười phương ba đời, đỉnh lễ tất cả bồ-tát trong đại địa. Lễ chư Phật và bồ-tát rồi, giới tử lại nhớ nghĩ đến công đức tam tụ tịnh giới của chư Phật và các bồ-tát, sau đó quì xuống đỉnh lễ giới sư và thưa:
- Cúi xin đại đức truyền giới bồ-tát cho con (thưa ba lần).
Thưa xong, nhất tâm thanh tịnh, chỉ nghĩ đến việc đắc giới, không nghĩ đến việc khác”.
87.7.4. Sám hối
Muốn lãnh thụ giới pháp thanh tịnh, giới tử cần phải tẩy rửa nội tâm. Những cấu bẩn làm tâm ô nhiễm là mê và chướng. Vì mê nên hủy báng nói không có Tam bảo. Vì chướng nên tạo đủ mười ác. Nay dạy sám hối, chính là sám hối hai lỗi này.
Kinh Phạm võng ghi: “Pháp sư dạy giới phải dạy giới tử thỉnh hai sư, một vị làm hòa thượng và một vị làm a-xà-lê. Hai vị này phải hỏi giới tử:
- Ngươi có phạm bảy già tội không?
Nếu hiện đời có phạm, thì giới sư sẽ không cho thụ giới, không phạm thì được thụ. Nếu người nào phạm mười giới, thì dạy phải đối trước tượng Phật và bồ-tát chí thành sám hối, mỗi ngày sáu thời tụng mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh. Hoặc thành tâm lễ lạy một nghìn vị Phật trong ba đời cho đến khi thấy tướng lành, hoặc trong bảy ngày, mười bốn ngày, hai mươi mốt ngày cho đến một năm. cần phải thấy được tướng lành, như Phật đến xoa đầu, ánh sáng rực rỡ thì tội mới tiêu. Nếu không có những tướng lành xuất hiện thì sám hối cũng vô ích, dù sám trọn đời này cũng không đắc giới. Nếu đã thụ giới, nhưng phạm bốn mươi tám giới khinh, thì phải đối thú sám hối, tội mới tiêu, không giống như phạm bảy tội.
Khi có người muốn thụ giới, giới sư phải hỏi:
- Đời này ông không tạo bảy tội nghịch chứ?
Không được cho người phạm bảy tội nghịch thụ giới. Bảy tội nghịch là:
1. Làm thân Phật chảy máu.
2. Giết cha.
3. Giết mẹ.
4. Giết hòa thượng.
5. Giết a-xà-lê.
6. Phá yết-ma của pháp luân tăng.
7. Giết thánh nhân.
Nếu người phạm bảy tội nghịch thì không được thụ giới, còn những người khác đều được thụ giới, chỉ cần hiểu được lời pháp sư nói. Người xuất gia không được lễ bái quốc vương, cha mẹ, lục thân, quỉ thần. Khi có người từ trăm dặm, nghìn dặm đến cầu pháp mà pháp sư bồ-tát khởi tâm ác, tâm sân, không truyền giới cho họ thì phạm tội khinh cấu.
Văn sám hối như sau:
- Kính bạch các Đức Phật trong mười phương, đệ tử tên là... từ vô thỉ kiếp cho đến ngày nay hoặc không tin Tam bảo, dạy người không tin Tam bảo, vui mừng khi thấy người không tin. Hoặc khinh khi Tam bảo, xúi người khinh khi Tam bảo, vui mừng khi thấy người khinh khi Tam bảo. Hoặc chính mình làm tổn hại Tam bảo, dạy người khác làm tổn hại Tam bảo, vui mừng khi thấy người gây tổn hại. Chính mình sát sinh, trộm cắp, tà dâm, xúi người sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vui mừng khi thấy người khác làm. Chính mình vọng ngôn, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, dạy người vọng ngôn, lường thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, vui mừng khi thấy người khác tạo. Chính mình tham sân si, dạy người tham sân si, vui mừng khi thấy người khác như vậy. Đệ tử đã từng tạo tội như thế mà không biết hổ thẹn, mất giới bồ-tát mà không tự biết. Nay đối trước Phật, đệ tử xin chí thành sám hối, mong các tội chướng đều được tiêu trừ. Đệ tử thành kính đỉnh lễ tất cả chư Phật (phát nguyện một lần cũng được, ba lần càng tốt).
87.7.5. Phép tắc truyền giới
Có bốn việc:
1. Giới sư hỏi họ tên của giới tử:
- Này thiện nam, thiện nữ tên... hãy lắng nghe! Pháp tỉ, pháp muội của các vị là bồ-tát phải không?
- Thưa vâng!
Khi hỏi, giới sư ngồi hoặc đứng đều được. Sở dĩ ngồi vì giới sư già không có sức khỏe, còn đứng là vì giới sư còn trẻ có sức khỏe. Nên đọc tên của cha mẹ hoặc thầy tổ đã đặt cho mình, chẳng phải xưng tên do vua hay những hào tộc ban cho. Dù có xưng, thân cũng không đắc giới, vì trái với pháp, chạy theo thường tình, chẳng kính phép tắc của đạo.
2. Giới sư hỏi về phát tâm:
- Ông đã phát hạnh nguyện bồ-tát chưa?
- Đã phát nguyện.
Nguyện bồ-tát là tên gọi khác của Đạo tâm.
3. Giới sư hỏi về đốn, tiệm: kinh Bồ-tát thiện giới ghi: “Ngài Ưu-ba-li hỏi về giới pháp bồ-tát. Bồ-tát ma-ha-tát muốn thành tựu giới pháp làm lợi ích chúng sinh thì trước phải học giới ưu-bà-tắc, giới sa-di, giới tì-kheo. Nếu không học giới ưu-bà-tắc thì không thề được giới sa-di, không học đủ giới sa-di thì không thế được giới tì-kheo. Nếu không học ba giới này thì không thể được giới bồ-tát. Thí như tòa lầu bốn tầng, nếu không bắt đầu đi từ tầng thứ nhất thì không thể lên được đến tầng hai, không nhờ tầng thứ hai thì không thể lên tầng ba, không nương tầng ba thì không thể lên được tầng bốn”.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Nếu muốn thụ giới sa-di, trước tiên phải thụ năm giới ưu-bà-tắc; muôn thụ giới Tì-kheo, trước tiên phải thụ mười giới Sa-di. Cũng như người ra biển, phải từ chỗ cạn dần đến chỗ sâu; vào biển lớn Phật pháp cũng như thế. Nếu có nạn không được tiệm thụ, thì được đốn thụ, tì-kheo này cũng phải đủ có ba loại giới trên, nhưng giới sư phải chịu phạm một lỗi nhỏ. (y cứ theo pháp thụ giới bồ-tát ở trước cũng được. Theo luận Địa trì, đốn phát tâm Đại thừa, ngay lúc đó thụ giới bồ-tát cũng được). 4. Chính thức truyền giới
Giới sư hỏi:
- Này thiện nam, thiện nữ! Nay các vị muốn theo ta thụ tất cả giới bồ-tát, là Luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới, Nhiếp chúng sinh giới. Tất cả bồ-tát trong ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai đều an trụ trong giới này. Tất cả bồ-tát trong quá khứ đã học, tất cả bồ-tát đời vị lai sẽ học, tất cả bồ-tát hiện tại đang học. Các vị lãnh thụ được không?
Đáp: Mô Phật! Con giữ được! (Giới sư nói ba lần, giới tử cũng đáp ba lần).
Nói thiện nam, thiện nữ là chỉ cho một người, nhiều người thì đọc ‘các thiện nam, thiện nữ’.
Kế đến là trình bày pháp Tâm niệm thụ giới. Nếu không có bậc đức hạnh truyền giới, thì hành giả phải chỉnh đốn oai nghi đối trước tượng Phật, đỉnh lễ, rồi quì xuống thưa:
- Đệ tử tên là... Ngưỡng bạch chư Phật trong mười phương và các vị bồ-tát Đại địa. Nay con đối trước chư Phật và bồ-tát thụ trì tất cả giới Bồ-tát, đó là thụ Luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới, Nhiếp chúng sinh giới. Tất cả bồ-tát trong ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai đều an trụ trong giới này. Tất cả bồ-tát trong quá khứ đã học, tất cả bồ-tát đời vị lai sẽ học, tất cả bồ-tát hiện tại đang học (nói ba lần).
Kinh Phạm võng ghi: “Nếu nương giới sư thụ thì không cần phải thấy tướng lành, vì giới sư tiếp nối truyền thụ nên có lực. Còn tự mình đối trước tượng Phật lập thệ thụ giới, thì cần phải xin thấy được tướng hảo mới đắc giới. Do không nương giới sư thụ, tự mình không có lực, nên phải thỉnh cầu các bậc thảnh gia hộ. Hoặc trong lúc định, hoặc trong giấc mộng, trong khi thức, cảm ứng được tướng tốt đúng với thánh giáo, mới đắc giới. Đồng thời giới tử phải tự mình lập thệ nguyện định ra kì hạn thụ giới.
87.7.6. Thỉnh Phật và bồ-tát chứng minh
Đã thụ giới rồi phải thỉnh chứng minh, trước thỉnh chư bồ-tát, sau thỉnh chư Phật. Thỉnh bồ-tát tức là thỉnh bồ-tát Đại địa. Đại địa nghĩa là Chủng tính địa, Giải hạnh địa, cho đến bồ-tát Thập địa, Phổ Hiền, Hiền Thủ. Giới tử quì, giới sư vì giới tử đỉnh lễ bồ-tát mười phương rồi đọc:
- Đệ tử tên là... ngưỡng bạch mười phương chư bồ tát Đại địa như số vi trần, bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bồ-tát Kim Cương Tràng, bồ-tát Công Đức Lâm V.V... Nay bồ-tát ưu-bà-tắc tên... hiện đối trước tượng... tai già-lam... nước... ba lần cầu thụ giới bồ-tát. Con vì họ làm chứng minh (nói ba lần).
Lại dạy: Thỉnh chư Phật là thỉnh chư Phật trong mười phương, như Phật Thiện Đức ở phương đông cho đến Phật Minh Đức ở phương hạ v.v... Tất cả chư Phật là đệ nhất Đại sư hiện tri giác kiến, đối với tất cả chúng sinh mà hiện tri giác kiến. Hôm nay có bồ-tát ưu-bà-tắc tên... đối trước tượng... của già-lam... tại đất nước... ba lần cầu thụ giới bồ-tát nơi con. Con làm chứng minh cho các vị ấy, con vì họ mà tác bạch (nói ba lần).
Nếu vô lượng chư Phật, bồ-tát Đại địa ứng hiện những điềm lành như ánh sáng xuất hiện, hoặc có gió mát, hoặc nghe hương lạ, thì chư Phật trong mười phương đã xem giới tử này như con, bồ-tát Đại địa thương giới tử này như em mình. Vì nhớ nghĩ như thế, nên sinh lòng từ thương xót. Nhờ vậy, sau khi thụ giới, giới tử này nếu có phạm liền biết sám hối, chuyên tâm giữ vững giới không để phạm, cho đến khi chứng quả Bồ-đề, trọn không thoái chuyển, đầy đủ ba mươi hai tướng quí, tám mươi vẻ đẹp, mười lực, bốn vô úy, tất cả thanh tịnh, ba niệm xứ, ba bất hộ đại bi, bất vọng pháp, đoạn trừ tất cả tập, đẩy đủ nhất thiết chủng trí và một trăm bốn mươi pháp bất cộng; nương sức đại từ, đại bi dạo khắp mười phương, độ kháp chúng sinh không nề khó nhọc để tất cả chúng sinh đều được lợi ích này.
87.7.7. Giới tướng
Đức Phật độ người lấy giới làm trọng. Giới có ba loại chính yếu:
1. Giới tại gia: Năm giới, tám giới.
2. Giới xuất gia: Mười giới, hai trăm năm mươi giới.
3. Giới chung cho cả tại gia và xuất gia là tam tụ tịnh giới. Tam tụ tịnh giới lại có ba loại:
• Chủng giới: Tính giới
• Tâm giới: Bồ-đề tâm, tứ vô lượng tâm.
• Hạnh giới: Lục độ, tứ nhiếp. Lục độ, tứ nhiếp này nếu theo oai nghi thì gọi là Tam tụ, còn nếu theo hạnh vị thì gọỉ là Thất hạnh, theo đức vị thì gọi là Thất địa và Thập tam trụ. Nói như vậy là nêu giới pháp bất đồng.
Trên đã lược nói tông yếu của giới thể, dưới đây xin trình bày rõ hơn. Sau khi thụ giới, hành giả cần phải biết giới tướng, biết thời gian thụ giới, hiểu rõ công năng khinh trọng thế nào, đồng thời nên trì tụng chớ để lãng quên.
Theo luận Trì địa, giới tử nên đọc: “Đệ tử bồ-tát giới tên là... từ giờ... ngày... tháng... năm... đã được giới sư... truyền bồ-tát tam tụ tịnh giới”. Tam tụ tịnh giới là:
- Nhiếp luật nghi giới: từ bỏ các việc ác, khởi hạnh chứng đạo, đó là nhân của Đoạn đức, để thành tựu pháp thân. Chỉ tức là trì, tác thì phạm. Thuận giáo tu trì không được vi phạm.
- Nhiếp thiện pháp giới: tích lũy mọi điều thiện, khởi hạnh trợ đạo, đó là nhân Trí đức để thành tựu báo thân. Tác là trì, chỉ tức là phạm. Phụng hành theo giáo pháp để thành tựu Hạnh đức.
- Nhiếp chúng sinh giới: độ tất cả chúng sinh, khởi hạnh bất trụ đạo, đó là nhân của Ân đức, thành tựu ứng thân. Tác tức là trì, chỉ thì phạm.
Nhiếp luật nghi giới có bốn điều trọng yếu:
• Không được vì lợi dưỡng mà khen mình chê người, không biết hổ thẹn. Nếu không thì phạm tội ba-la-di.
• Không được bỏn xẻn, phải bố thí, biết hổ thẹn. Nếu không thì phạm tội ba-la-di.
• Sân giận mắng chửi, đánh đập chúng sinh, hổ thẹn mà không biết sám hối, không biết tàm quí thì phạm tội ba-la-di.
• Ngu si, chê bai pháp Đại thừa, không biết hổ thẹn thì phạm tội ba-la-di.
Hiểu như thế để tránh phạm tam tụ tịnh giới.
Nói về thể năng li, đó là tư nghiệp của thân khẩu ý. Trong đó Nhiếp thiện pháp giới là tích chứa mọi điều thiện, từ thân khẩu ý thiện cho đến ba tuệ: văn, tư, tu, mười ba-la-mật, tám vạn bốn ngàn tế hạnh đều hỗ trợ đạo, y theo giáo pháp phụng hành để thành tựu hạnh đức.
Nhiếp chúng sinh giới là lấy tứ vô lượng làm tâm, tứ nhiếp làm hạnh. Tứ vô lượng là từ, bi, hỉ, xả; bi hay cứu khổ; từ khéo ban vui; hỉ tức là vui mừng khi thấy chúng
sinh thoát khổ, đầy đủ pháp lạc, còn dạy chúng sinh hành theo những gì Phật đã hành, đạt được điều Phật đã đạt mới sinh tâm xả. Tứ nhiếp là bố thí, trì giới, lợi ích, đồng sự. Bố thí nhiếp nghĩa là bồ-tát muốn nhiếp phục chúng sinh, trước hết phải dùng của cải để cứu chúng sinh hết thân khổ, sau đó mới từ ái chỉ dạy để tâm họ được tỉnh thức rồi tin hiểu mà hành trì. Lợi nhiếp nghĩa là y theo điều đã tin hiểu mà bảo họ hành trì. Hành nghĩa là hành trì giới, đinh, tuệ... Đó là hành lợi nhiếp. Đồng sự nghĩa là tu hành trọn vẹn, đoạn trừ tất cả phiền não, chuyển y rốt ráo thành tựu ba thân, đồng với sở chứng của bậc thánh. Thế nên luận Trì địa ghi: “Bố thí, ái ngữ là giúp người chưa phát tâm được phát tâm. Hành lợi là giúp người chưa thành thục được thành thục. Đồng lợi là khiến người chưa giải thoát được giải thoát”.
Trình bày những việc trên để người thụ giới tụng đọc, biết thời gian thụ giới, nương theo thầy học giáo pháp để biết được trì và phạm.
* Lời bàn
Khi thụ và đắc giới rồi, theo giới kinh thì bồ-tát cần phải biết sáu giới trọng, tám giới trọng.
- Sáu giới trọng, kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Nếu ưu-bà-tác thụ trì giới rồi thì không được sát hại từ trời người dưới đến loài kiến nhỏ. Nếu người nào thụ giới rồi mà miệng nói giết, hay tự mình giết thì đã phá giới ưu-bà-tắc. Người như vậy thì một pháp nhỏ còn không đắc, huống là bốn quả sa-môn. Đó là giới trọng đầu tiên. Kế đến là không được trộm cắp, không được nói dối rằng ta đã được Bất tịnh quán; không được tà dâm; không được nói lỗi của bốn chúng; không được uống rượu. Nếu người phá những giới này tức đã mất giới ưu-bà-tắc, một pháp nhỏ còn không đắc huống là bốn quả sa-môn. Đó là sáu giới trọng.
- Tám giới trọng, kinh Bồ-tát thiện giới ghi: “Bồ-tát giới có hai loại, đó là sáu giới trọng của bồ-tát tại gia và tám giới trọng của bồ-tát xuất gia. Nếu bồ-tát nào phạm một trong những giới trọng này thì hiện tại không thể trang nghiêm vô lượng Vô thượng bồ đề, tâm không được tịch tĩnh, đó chỉ là bồ-tát danh tự, là bồ-tát chiên-đà-la, chẳng phải bồ-tát đích thực. Tâm của bồ-tát có thượng, trung và hạ. Nếu phạm bốn giới trọng sau với tâm trung và hạ thì không gọi là phạm. Nếu phạm bằng tâm thượng, tâm xấu ác thì mới gọi là phạm, tâm xấu ác bậc thượng chính là bốn tâm: không biết tàm quí, không biết sám hối, không nhận tội mình đã phạm, khen ngợi người phá giới. Bô-tát tuy phạm bốn giới trọng này nhưng vẫn không mất giới bồ-tát (Trong tám giới trọng, bốn giới đầu giống bốn giới trọng của tì-kheo, cộng với bốn giới: không được tham lợi dưỡng, không được tự khen mình v.v... như bốn ba-la-di đã nói ở trước.).
Theo kinh Phạm võng và luận Địa trì, người thụ Bồ-tát giới rồi thì không được phạm bốn mươi hai giới khinh cấu. Ở đây chỉ lược nói vài giới trọng yếu, những giới khác xin xem trong kinh văn.
Kinh ghi: “Phật tử thường phải nhất tâm thụ trì và đọc tụng giới này, lột da làm giấy, chích máu làm mực, lấy tủy làm nước, chẻ xương làm bút để chép giới của Phật. Lại nên dùng vỏ cây, giấy tốt, lụa đẹp... để chép giới mà hành trì; thường dùng bảy báu vô giá, tất cả các loại hoa hương và những loại báu làm rương để đựng giới kinh này. Nếu không cúng dường đúng pháp thì phạm tội khinh cấu.
Phật tử không được cất chứa đao gậy, cung tên, buôn bán cân non đong thiếu, cậy thế quan để lấy tài vật của người, rắp tâm phá hoại sự thành công của người, nuôi dưỡng mèo gà, heo, chó v.v... Nếu Phật tử cố tình tạo những nghiệp trên thì phạm tội khinh cấu.
Phật tử không được dùng tâm xấu ác nhìn tất cả người nam người nữ, quân lính chiến đấu v.v..., cũng không được nghe các loại âm nhạc, chơi các trò vui, đánh sư bồ, làm sứ giả cho giặc. Nếu Phật tử nào cố tình làm thì phạm tội khinh cấu.
Phật tử không được dùng tâm xấu ác, vì lợi dưỡng mà mua bán tài sắc của người nam người nữ, tự tay làm thức ăn, tự tay xay giã, xem tướng kiết hung, tụng đọc chú thuật, nuôi dạy chim ưng, pha chế thuốc độc; đó là những việc làm không có lòng từ. Nếu cố tạo thì phạm tội khinh cấu.
Nếu Phật tử dùng tâm xấu ác hủy báng Tam bảo, giả vờ thân cận Tam bảo, miệng dối nói lí “không” nhưng hành lại chấp “có”; hoặc thấy ngoại đạo, những kẻ xấu ác hay giặc cướp buôn bán hình tượng Phật, bồ-tát, cha mẹ, kinh luật, tăng ni mà không tìm cách giáo hóa chuộc lại thì phạm khinh cấu tội.
Phật tử đã biết trì phạm thì nên đỉnh lễ rồi lui ra.
Luận Địa trì ghi: “Dạy người thụ giới lễ Phật một lễ, lễ bồ-tát Đại địa một lễ”.
Không dạy cách lễ, vì y theo cách lễ chung, nếu đủ ba lễ càng tốt.
87.7.8. Khuyến thỉnh
* Lời bàn
Khi thăng tòa xướng tụng cúng dường xong, pháp sư sẽ giảng pháp yếu cho đại chúng. Bấy giờ phải nhờ chư Phật gia hộ rồi mới tuyên thuyết. Đại chúng cũng đồng thời nhất tâm thỉnh chư thánh gia bị. Tất cả phàm thánh mười phương, hai chúng thuyết và nghe tăng thêm quán tâm để bên trong tăng thắng trí, bên ngoài tăng ngôn biện, mới có thể biết dục tri căn, những điều nói ra không sai lầm, lại thêm người nghe nhất tâm cung kính, nên việc nghe biết không điên đảo.
Kinh A-hàm có bài kệ:
Người nghe chăm chú như khát nước
Nhất tâm thâm nhập trọn nghĩa ngôn
Nghe pháp phấn khởi xen bi hỉ
Những người như thế thật đáng thuyết.
Lại đồng thỉnh chư Phật chuyển chính pháp luân. Chư Phật hiện thành trú khắp mười phương, trong mỗi niệm đều xuất hiện ở đời, vượt qua số lượng, niệm trước cũng vậy, niệm sau cũng thế, nhưng đều đợi thỉnh mới thuyết. Mười phương phàm thánh đồng đến Pháp giới đường, thỉnh Phật trụ mãi ở đời để chuyển chính pháp luân. Nhờ các phàm thánh kính người trọng pháp, có tâm chí thành nên chư Phật tùy cơ nhận thỉnh chuyển chính pháp luân. Khi Phật nhận sự thỉnh cầu chuyển chính pháp luân thì ta và thánh chúng luôn dự vào hàng khuyến thỉnh, không bỏ ai. Vì sao? Do niệm niệm luôn thỉnh cầu nên khiến chúng sinh nghe pháp được tỏ ngộ, cải tà qui chính, vượt phàm chứng thánh, đối trị vô lượng nghiệp chướng đã tạo từ vô thỉ đến nay, như dạy người làm ác, phá hoại việc thiện của người, chiếm đoạt lợi ích của người, hủy báng Phật, pháp, tăng v.v... Chúng sinh nhờ nghe pháp nên được chứng đác, lần lượt hướng dẫn cho những chúng sinh khác, mãi đến đời vị lai vẫn không đoạn tuyệt.
Luận Thập trụ tì-bà-sa có kệ tụng:
Các Đức Phật mười phương
Hiện tại đã thành đạo
Con thỉnh chuyển pháp luân
Giúp chúng sinh an lạc.
Tất cả Phật mười phương
Như muốn xả thọ mạng
Con nay cúi đầu lễ
Xin chư Phật trụ mãi.
Bốn câu kệ trước là thỉnh Phật chuyển chính pháp luân, giúp ta tăng trưởng trí tuệ, đối trị ác nghiệp hủy bắng giáo pháp, bảo người hủy báng giáo pháp. Bốn câu kệ sau là thỉnh Phật trụ lâu để thụ nhận cúng dường của ta, giúp ta tăng trưởng phúc báo, đối trị ác nghiệp hủy báng Phật, bảo người hủy báng Phật. Đó là phúc trí song hành.
Có bài kệ:
Nay nguyện thân tâm ta
Giống như tấm gương sáng
Cõi nước Phật mười phương
Tự tại hiện trong đó.
Mỗi mồi cõi nước kia
Chư Phật hiện đủ khắp
Quán xét thân chư Phật
Chân thật không đến đi.
Mỗi mỗi phóng ánh sáng
Vi diệu khó nghĩ bàn
Chiếu phá mọi phiền não
Như nắng chiếu sương tan
Phiền não đã tiêu trừ
Sẽ thấy Phật mười phương.
Ở trước mỗi một vị
Khuyên thỉnh được cúng dường
Nếu thân tâm chưa tận
Không ngừng việc khuyến thỉnh.
Lại nguyện thân tâm ta
Giống như pháp giới tịnh
Trong mỗi lỗ chân lông
Tuôn ra mây chư Phật.
Mây Phật không nghĩ bàn
Che phủ khắp chúng sinh
Tùy theo sự thấy nghe
Được an lạc như ý.
Cõi chúng sinh nếu tận
Tâm nguyện kia mới cùng
Nguyện trong tịnh tâm ta
Phật mãi mãi xuất hiện.
87.7.9. Tùy hỉ
Trộm nghĩ pháp ta tu
Các thiện căn như thí...
Đều từ pháp giới sinh ?
Là pháp chư Phật hành
Nghĩ ta quá ngu si
Cần phải trừ các ác
Đâu ngờ tuổi sắp già
Mới phát tâm bố thí...
Vui được điều hi hữu
Phấn khởi không thể lường
Vì thấy các chúng sinh
Tu hành phàm phu thiện
Dù chỉ bằng móng tay
Tâm ta cũng tùy hỉ
Huống gì đại bồ-tát
Thành tựu ba-la-mật
Đầy đủ quả Thập địa
Mà lại không ngưỡng mộ!
Cho nên ta hoan hỉ
Đỉnh lễ chư pháp tạng.
87.7.10. Hồi hướng
Tội lớn trong các tội
Ác lớn trong muôn ác
Trong hết thảy chúng sinh
Ta là người duy nhất
Nếu chẳng nương Phật lực
Và thiện căn chúng sinh
Thì những nghiệp ta tạo
Nếu muốn được tiêu trừ
Thật chẳng biết làm sao!
Tất cả các căn lành
Mà ta đã tạo được
Không dám vì riêng mình
Thảy hồi hướng chúng sinh
Rồi lại vì chúng sinh
Đem thiện căn đã thí
Hồi hướng Đại bồ-đề
Khiến họ được giải thoát
Chúng sinh thành Phật rồi
Sẽ đem lực tự tại
Thảy nhiếp thụ cho ta
Giúp hành đạo bồ-đề
Giúp vào cảnh giới Phật
Cho nên trong chúng sinh
Ta thành Phật cuối cùng
Vì thế thân tâm tịnh
Đỉnh lễ đại hồi hướng.
87.7.11. Phát nguyện
(Dưới đây, mười đại nguyên đầu trích trong Nhiếp luận, các nguyện sau đều do người thuật lại)
- Nguyện cúng dường pháp sư thắng duyên phúc điền.
- Nguyện thụ trì thụ trì chính pháp thắng diệu.
- Nguyện chuyển pháp luân chưa từng chuyển đến khắp hội chúng.
- Nguyên theo lời Phật, tu hành tất cả chính hạnh của bồ-tát.
- Nguyên giúp chúng sinh trong khí thế gian này thành thục thiện căn Tam thừa.
- Nguyên thừa sự: nguyện đến được cõi nước Phật, thường gặp chư Phật, cung kính hầu hạ lắng nghe chính pháp.
- Nguyên làm thanh tịnh cõi nước mình ở, an lập chính pháp và giúp chúng sinh tu hành.
- Nguyện ở bất cứ nơi nào cũng được gần gũi chư phật và bồ-tát, được hạnh đồng ý.
- Nguyện sinh ở bất cứ nơi nào cũng làm lợi ích cho chúng sinh, không để luống uổng.
- Nguyện cùng tất cả chúng sinh thành tựu Vô thượng bồ-đề, thường làm Phật sự.
Ta nguyện làm đại địa
Rộng lớn vô hạn lượng
Vì tất cả chúng sinh
Làm nơi nương tựa vững
Người nào khéo thụ trì
Thành tựu cách đối trị
Diệt được các vọng tưởng
Sinh trưởng tâm bồ-đề
Rộng sâu không chướng ngại
Thụ dụng không thể cùng.
Ta nguyện làm biển lớn
Chứa nước tám đặc tính
Gội rửa tâm chúng sinh
Phiền não, mọi cấu uế...
Thảy đều được thanh tịnh
Viên mãn Phật bồ-đề
Ta nguyện làm lửa lớn
Và mặt trời, trăng, sao...
Đốt chay ngục băng giá
Chiếu sáng cõi tối tăm
Chúng sinh trong cõi này
Được cứu vớt hét thảy
Khiến nhận ra đạo mầu
Tiêu trừ mọi tội lỗi.
Ta nguyện làm gió lớn
Thổi vào khắp hư không
Những nơi nào nóng bức
Đều giúp cho mát mẻ
Tự nhiên được an lạc.
Ta nguyện làm hư không
Rỗng lặng không chướng ngại
Nhiếp thụ các chúng sinh
Không bỏ sót người nào
Nếu ai biết thụ trì
Đều được nhị vô ngã
Dùng Không tam-muội lạc
Để cùng được an vui
Nguyện làm Dược thụ vương
Mọc khắp cõi chúng sinh
Ai thấy, nghe, Uống vào
Bệnh lành, tiêu các độc
Độc tiêu, bệnh đã trừ
Phiền não cũng dứt sạch
Lại đem vị Chân như
No đủ pháp thân Phật
Ta nguyện làm thức ăn
Đủ sắc hương mỹ vị...
Đều hiện bày tất cả
Ở trước các chúng sinh
Tùy sở thích mỗi người
Thảy đều được no đủ
Ngay cả trong sinh tử
Ăn vào liền được tiêu.
Ta nguyện làm y phục
Mềm mại và đẹp đẽ
Lớn nhỏ tùy hình lượng
Ấm mát hợp lòng người
Bình đẳng thí chúng sinh
Quyết định không để sót
Giúp họ được thanh tịnh
Đầy đủ diệu trang nghiêm.
Ta nguyện đem thiện căn đã gieo trồng từ đời trước đến đời hiện tại ban cho vô biên chúng sinh, rồi cùng hồi hướng Vô thượng bồ-đề, để thệ nguyện của ta luôn luôn tăng trưởng, đời đời sinh ra đều tồn tại trong tâm, trọn không quên mất, thường được đà-la-ni bảo vệ.
87.7.12. Thứ bậc
Tại gia trì giới có bốn trường hợp: hạ, trung thượng, thượng thượng.
- Người vì niềm vui hiện tại, sợ tiếng xấu, hoặc vì gia pháp mà làm theo ý người khác, hoặc vì trốn tránh nô dịch khổ nhọc mà trì giới là người trì giới bậc hạ.
- Người vì cầu phúc báo thế gian mà giữ vững cấm giới, là người trì giới bậc trung.
- Người trì giới vì rõ các pháp vốn vô thường, muốn cầu niết-bàn thường lạc vô vi thoát khổ, là người trì giới bậc thượng.
- Người trì giới vì thương xót chúng sinh, muốn cầu Phật đạo, thấu rõ các pháp, quán sâu thật tướng, không sợ ác đạo, đạt được niềm vui thù thắng, là người trì giới bậc thượng thượng.
Luận Trí độ ghi: “Người trì giới bậc hạ thì sinh trong loài người. Người trì giới bậc trung sinh vào Lục Dục thiên. Người trì giới bậc thượng hành tứ thiền, tứ không định thì sinh vào Thanh Tịnh thiên ở Vô Sắc giới. Lại nữa, người trì giới thanh tịnh bậc hạ được quả vị A-la-hán. Người trì giới thanh tịnh bậc trung được quả Bích-chi Phật. Người trì giới thanh tịnh bậc thượng được quả vị Phật”.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Nếu vì sợ thầy mà trì giới gọi là trì giới bậc hạ. Không sợ thầy mà trì giới là trì giới bậc trung. Sợ ác đạo mà trì giới là trì giới bậc thượng”.
Giới bồ-tát Đại thừa có ba loại đó là Tam tụ tịnh giới đã nói ở phần trước. Khi thụ giới rồi, giới này luôn ở nơi tâm, tâm không hạn lượng, nên giới cũng không mất.
Kinh Thiện giới ghi: “Có hai nhân duyên làm mất giới Bồ-tát:
- Lui sụt tâm bồ-đề
- Tăng trưởng tâm ác.
Ngoài hai điều này, dù có xả báo thân hay sinh vào các cõi khác như địa ngục, súc sinh cũng không bao giờ mất giới. Nếu sau này thụ lại thì không gọi là mới được giới mà gọi là khai thị để sáng tỏ giới thể đã đắc.
Kinh ưu-bà-tắc ngũ giới uy nghi ghi: “Các Đại đức nhất tâm lắng nghe! Nay Như Lai sẽ nói giới công đức mà ba đời chư Phật và các bồ-tát đã thành tựu, làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. Như vậy, trụ trong giới bồ-tát tức là giữ gìn bốn giới ba-la-di trước. Nếu người nào phạm, sẽ không được gọi là bồ-tát, hiện đời không thể trang nghiêm Bồ-đề, không thể an tịnh tâm. Người này tợ như bồ-tát, nhưng chẳng phải là bồ-tát.
Phạm giới có ba loại: thượng, trung và hạ. Nếu phạm trung và hạ thì không mất giới, nếu phạm bậc thượng thì mất giới. Thế nào là phạm lỗi bậc thượng?
Đó là phạm nhiều lần bốn Ba-la-di mà không có tâm xấu hổ, không tự hối trác
Tuy bồ-tát phạm bốn lỗi thuộc bậc thượng
nhưng không vĩnh viễn mất giới, khác với tì-kheo, nếu phạm bốn giới trọng thì vĩnh viễn mất giới. Vì sao? Vì tì-kheo khi đã phạm bốn giới trọng rồi thì không thể thụ lại, nhưng bồ-tát tuy phạm vẫn được thụ lại.
Giới bồ-tát Tiểu thừa cũng có bốn loại, đó là năm giới, tám giới tại gia, mười giới, hai trăm năm mươi giới xuất gia. Bốn loại giới này khi đã thụ trì thì đồng với thân, thân còn thì giới còn, thân chết giới cũng mất, nên ngắn hơn giới Đại thừa. Luận Tì-đàm ghi:
“Xả giới biệt giải thoát có bốn hường hợp: tác pháp xả, mạng chung xả, đoạn căn lành xả, hai hình sinh xả”.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Nếu thụ bát quan trai giới rồi mà gặp những duyên xấu bức ngặt, muốn xả giới thì không cần phải đến người xuất gia làm pháp xả, mà chỉ cần đối trước một người khác nói ‘Tôi muốn xả giới’ cũng được”.
* Lời bàn
Nếu do nạn duyên bức ép dẫn đến phạm giới mà không thể xả, sau đó mới xả thì không phạm lỗi. Trong luận ghi: “Nếu phạm một giới trọng trong năm giới, thì không được thụ tám giới. Nếu phạm một giới trọng trong tám giới, thì không được thụ mười giới xuất gia cho đến cụ túc giới. Bốn giới trọng là trộm đủ năm đồng tiền, hành dâm không đúng chỗ, giết người, tự nói đã chứng thánh. Phạm một trong bốn giới này tức là phạm trọng tội. Người phạm trọng tội, luật không cho sám hối, nhưng các kinh Đại thừa thì cho sám hối. Nhưng cũng có một số vị không chấp nhận nói cho ưu-bà-tắc nghe bốn tội trọng này, sợ họ sẽ hiểu lầm. Còn như không nói thì tại sao trước khi thụ giới đều lần lượt gạn hỏi. Khi muốn xả giới chỉ cần nói với một người: “Tôi muốn xả giới”, không luận tăng hay tục đều được.
Hỏi: Tại sao khi thụ giới cần phải đối trước người xuất gia, nhưng khi xả chỉ cần nói với người bạch y?
Đáp: Khi người phát tâm thụ giới cũng như người lên non tìm của báu, nên rất khó. Còn muốn xả giới cũng như người ném châu báu xuống sườn núi, vì vậy rất dễ.
Luật Tứ phần ghi: “Xả giới là đã chết trong Phật pháp. Thụ sinh thì rất khó, nhưng chết thì rất dễ. Khi xả giới nên thưa:
Kệ tụng:
Đại Bi gióng trống pháp
Thức tỉnh kẻ mê mờ
Luyện lọc tâm cấu uế
Kiếm bén chặt lỗi lầm
Cứu ngỗng không tiếc mạng
Thương cỏ tợ thương thân.
Ngũ thiên ngăn khinh trọng
Thất tụ rửa sạch tâm
Buổi sáng tuyên kệ báu
Chiều về lễ lòng thành
Gần, cầu thoát biển khổ
Xa, luôn nhớ Pháp thân
Thất chi tịnh ba nghiệp
Ngũ phần vẹn kim dung
Nguyện giữ giới kiên cố
Nơi cõi tịnh gặp nhau.
87.8. CẢM ỨNG
87.8.1. Điềm lành đắc giới: Truyện của sư Thượng Thống đời Tề ghi: “Từ khi Hán Minh đế cảm mộng lành, hai ngài Ma-đàng và Trúc Pháp Lan đến Trung Quốc. Lúc hai vị đến đây chúng tăng chưa được thụ giới cụ túc, chỉ cho đạo tục cạo tóc đắp y mạn điều, chỉ được thụ năm giới và mười giới mà thôi.
- Bạch đại đức nhất tâm niệm! Trước đây con đã thụ năm giới ưu-bà-tắc (ưu-bà-di). Hôm nay đối trước đại đức con xin xả giới, làm người tại gia (nói một lần là được. Đối với tám giới cũng như vậy). Nếu sau này phát tâm lãnh thụ giới lại, thì phải sám hối tội trước, rồi mới được thụ giới.
Kính nghĩ: Như Lai thành đạo, tám năm sau mới chế pháp yết-ma cho phép năm vị tăng trì luật truyền trao giới cụ túc tại vùng Đạch Mộc Điều, cách nước Trung quốc hai vạn bảy nghìn dặm về phía đông. Từ đó đến đời Hán Hoàn đế năm thứ mười (158) là trải qua hơn một trăm năm, vẫn còn truyền tam qui, ngũ giới, mười giới. Sau đó, có năm vị tăng ở Bắc Thiên Trúc đến đất Hán truyền giới cụ túc cho chư tăng là:
Chi Pháp Lĩnh, Chi Khiêm, Trúc Pháp Hộ, Trúc Đạo Sinh, Chi Lâu sấm. Thời ấy chưa có Đại luật bản nên ngài Chi Pháp Lĩnh tụng Giới bản một quyển và Yết-ma một quyển lưu truyền tại đây, ngày nay gọi là Cựu Yết-ma. Đến niên hiệu Hoàng Sơ thứ ba (222) đời Ngụy, ngài Đàm-ma-ca-la lại dịch Tăng-kì luật giới bản một quyển. Đến đời Hiếu Văn đế (471-500) nhà Nguyên Ngụy, luật sư Quang xem Cựu Yết-ma và Giới bản có thêm bớt nhiều chỗ, thấy giới văn chưa đầy đủ, bèn y theo Đại luật bản lần lượt san định lại và cho lưu truyền. Bản hiện đang được lưu hành gọi là Tân yết-ma.
Lúc ấy, ni chúng đến xin thụ giới cụ túc, Chi Pháp Lĩnh nói:
- Trong luật có dạy, chỉ khai cho vùng biên địa, chư tăng năm vị được truyền giới cụ túc, nhưng không đề cập đến ni.
Nghe vậy, ni chúng từ biệt trở về, buồn khóc như mưa không kiềm chế được.
Đến cuối đời Hán, đầu đời Tào Ngụy, có hai tì-kheo ni từ phía đông Thiên Trúc đến Trường An gặp chúng tì-kheo ni, liền hỏi:
- Các vị thụ giới với ai?
Chư ni đáp:
- Chúng con đến đại tăng cầu thụ giới cụ túc, nhưng chỉ được thụ năm giới, mười giới mà thôi.
Hai vị ni than:
- Chư ni ở biên địa đều chưa được thụ giới cụ túc!
Thấy vậy hai vị trở về Thiên Trúc, thỉnh được mười lăm vị đến Trung Quốc. Trên đường vượt qua Tuyết sơn, ba vị ni chết vì lạnh, hai vị rơi xuống khe sâu chết, chỉ còn mười vị đến kinh đô truyền giới cụ túc cho chư ni. Sau đó lại đến đất Ngô truyền giới cho các vị ni kia.
Vì nhớ quê hương, các vị ni Tây Trúc theo thuyền vượt Nam Hải trở về, đến khi lên thuyền chỉ còn bảy vị, ba vị mạng chung. Khoảng thời gian đi và về mất hơn mười bảy năm.
Đến năm thứ ba (223) đời Ngụy Văn đế, vua ban lệnh thiết lập đại hội Vô Già. Ngụy đế hỏi tăng ni về nguyên do đắc giới và khi đắc có ứng nghiệm gì?
Tất cả các đại đức đều im lặng. Bây giờ có một tì-kheo xin được đến nước Tây Vực hỏi thánh nhân nguyên do đắc giới. Vị ấy xuất phát từ Trường An, khi đến Thiên Trúc thì gặp một vị a-la-hán liền thưa:
- Bạch thánh tăng! Tăng ni ở Trung Quốc đắc giới chăng?
A-la-hán đáp:
- Tôi là tiểu thánh nên không biết được! Thầy hãy ở lại đây, tôi sẽ lên cõi trời Đâu-suất hỏi Đức Phật Di-lặc rồi về báo lại.
Nói xong vị ấy nhập định đến cõi trời Đâu-suất, đem sự việc ấy bạch lại. Phật Di-lặc đáp:
- Các tăng ni đã đắc giới!
Vị a-la-hán xin thấy được sự linh nghiệm. Phật Di-lặc liền lấy một hoa sen màu vàng và nói:
- Nếu tăng ni ở biên địa đắc giới thì nguyện hoa sen này ẩn vào bàn tay của a-la-hán, không đắc giới thì không ẩn.
Phật Di-lặc phát nguyện xong, ấn cành hoa vào bàn tay a-la-hán. Quả nhiên cành hoa ấy liền ẩn vào bàn tay, ánh hiện ra ngoài cao một thước. Ngài Di-lặc nói:
- Ông trở về, gặp tì-kheo ấy và làm theo như Ta!
Tì kheo a-la-hán trở về, thực hành như cách của Phật Di-lặc, cũng lấy hoa ấn vào bàn tay tì-kheo, hoa liền ẩn vào bên trong rồi ảnh hiện ra ngoài cao một thước, điềm lành ứng hiện rõ ràng. Bấy giờ, đạo tục từ phương xa tìm đến, tận mắt chứng kiến nên hết lòng kính ngưỡng, xin được thụ Tam qui, ngũ giới rất đông. Từ đó mọi người gọi vị ấy là tì-kheo Hoa Thủ.
Số chư tăng lên đường sang Tây Trúc có mười tám vị, nhưng một số vị mến đất nước Thiên Trúc nên ở lại. Một số vị qua đời vì phải vượt qua sa-mạc, gió rét. Chỉ còn một mình tì-kheo Hoa Thủ về được đất Hán. Trước ngày về, bỗng có thần Ca-tì-la hiện thân nói với Hoa Thủ:
- Đường xa vạn dặm lại nhiều gian nan nguy hiểm, đệ tử sẽ hộ tống thầy trở về bình an.
Khi Hoa Thủ sắp về đến, trước điện của Ngụy Văn đế xuất hiện cành sen vàng trong hư không. Thấy vậy Văn đế hỏi Thái sử:
- Sao lại có điềm lạ này?
Thái sử đáp:
- Chính pháp ở Tây Vực sắp đến đây!
Quả nhiên chưa đầy một tháng sau, tì-kheo Hoa Thủ với cành hoa sen trong bàn tay về đến. Lúc tì-kheo vừa đến, cành sen vàng trong hư không liền biến mất. Điềm lành đã ứng hiện, nên giới pháp được lưu truyền mãi.
87.8.2. Đời Tấn, sa-môn Tuệ Vĩnh: Sư họ Phan, người Hà Nội, Trung Hoa, trú ở Lô sơn. Bẩm chất sư trong sáng, tâm địa thuần chính, chế phục tự kỉ, miệng thường mỉm cười, lời nói không làm thương tổn người khác, rất giỏi kinh điển, giảng thuyết hay, quanh năm mặc áo thô, cơm rau đạm bạc. Vì mến phong cảnh Lô sơn nên sư đến ở cùng với ngài Tuệ Viễn. Sau, sư cất một am tranh trên đỉnh núi, mỗi khi muốn nhập định thì lên ở đó, người nào đến đây cũng nghe có mùi hương lạ. Trong thất sư thường có một con hổ, nếu ai sợ thì sư bảo nó tránh đi, bao giờ khách đi mới trở về lại.
Lần nọ sư vào trong làng hóa duyên, mãi đến chiều mới trở về núi. Khi ngang qua Ô Kiều, sư gặp doanh chủ say rượu, đang cỡi ngựa chặn đường, không cho sư qua. Lúc này trời sắp tối, nên sư liền lấy gậy từ xa chỉ vào con ngựa, ngựa giật mình phóng chạy, doanh chủ liền té xuống đất. Sư đến đỡ ông ta dậy, an ủi vào bảo về. Hôm đó doanh chủ bị bệnh.
Sáng hôm sau ông ta đến chùa xin lỗi. Sư nói:
- Chẳng phải bần đạo làm, chắc do giới thần!
Biết sự việc này, nhiều người hướng tâm về Phật pháp.
Niên hiệu Nghĩa Hy thứ mười (414) đời Tấn, sư lâm bệnh nặng. Tuy thế, sư vẫn dốc lòng trì giới, sắc diện vẫn tươi vui. Vài hôm sau, sư chỉnh y, chắp tay, rồi tìm dép muốn đứng dậy, như đang thấy điều gì. Đại chúng kinh ngạc hỏi, sư đáp:
- Đức Phật đến!
Nói xong, sư an nhiên thị tịch, thọ thế tám mươi ba tuổi. Đạo tục tại núi này đều nghe mùi hương lạ, suốt một tuần mới hết.
87.8.3. Đời Tấn, sa-môn Đàm Ưng: Sư họ Dương, quê Quan Trung, thân cao tám thước, uy dũng hơn người. Sư đến phương nam thờ Tuệ Viễn ở Lô sơn làm thầy. Sư thông suốt nội điển ngoại điển, dốc lòng truyền bá Phật pháp, không quản lao nhọc, về sau, sư dựng một am tranh phía tây nam núi, cùng với đệ tử Đàm Quả tu tập thiền định.
Một lần nọ, Đàm Quả mộng thấy sơn thần xin thụ năm giới. Quả nói:
- Thầy tôi đang ở đây, ông hãy đến cầu xin ngài.
Không lâu sau, sư thấy một người mặc áo đơn, đội mũ, dáng dấp thanh nhã, có khoảng hai mươi người theo sau, đến xin sư thụ năm giới. Nhờ Đàm Quả báo trước, sư biết đó là thần nhân, liền thuyết pháp truyền giới. Thần nhân cúng dường sư đũa muỗng nước ngoài rồi lễ bái từ biệt, thoáng chốc đã biến mất.
Sau, sư đến Kinh châu và viên tịch ở chùa Trúc Lâm.
87.8.4. Đời Tề, sa-môn Pháp Độ: Sư quê Hoàng Long, xuất gia từ nhỏ, từng đến các vùng ở miền bắc tham học, thông suốt tất cả kinh điển, chuyên tu khổ hạnh.
Cuối đời Tống, sư đến kinh đô. Lúc đó, có cao sĩ ở cùng quận là Minh Tăng Thiệu lánh chốn ồn náo, đang ẩn cư tại Nhiếp sơn, Lang Da. Tăng Thiệu kính trọng sư là bậc chân tu, nên tiếp đãi như thầy, đồng thời cúng dường nơi này xây dựng thành chùa Thê Hà, rồi thỉnh sư trụ trì. Trước đây, có một đạo sĩ đã từng chiếm đất chùa xây Đạo quán, nhưng không lâu thì chết. Sau đó, đạo quán được sửa thành chùa, nhưng ai đến ở cũng bị yêu ma quấy nhiễu. Từ khi sư đến tình trạng ấy không còn.
Khoảng một năm sau, bỗng nhiên sư nghe có tỉếng người ngựa, trống, tù và, không bao lâu thì thấy một người cầm danh thiếp đến trình với sư:
- Đệ tử tên Cận Thượng.
Sư bảo:
- Hãy đến đây!
Cận Thượng dung mạo tuấn tú trang nhã, người theo hầu rất đông, đến đỉnh lễ sư, rồi thưa:
- Đệ tử cai trị núi này hơn bảy trăm năm, thần linh có phép tắc riêng, loài khác không thể can dự. Từ trước đến nay, những người đến ở đều chẳng phải là bậc chân chính, nên lần lượt bị bệnh chết, đó cũng là số mệnh của họ vậy. Pháp sư là bậc có đạo đức, đệ tử xin cúng dường và phát nguyện thụ Tam qui, ngũ giới để kết duyên đời sau.
Sư đáp:
- Người và thần không giống nhau, không thể trao giới được. Vả lại, đàn việt ăn máu thịt tế cúng, đây là điều cấm kị nhất trong năm giới.
Cận Thượng đáp:
- Như vậy, đệ tử sẽ dặn đồ đệ bỏ việc sát sinh ngay.
Nói rồi thần từ biệt ra đi.
Sáng hôm sau, có một người đến trao sư một vạn tiền, hương đèn và đao rồi thưa:
- Đệ tử Cẩn Thượng dâng cúng.
Ngày mười lăm tháng đó, sư thiết lập trai đàn Cẩn Thượng cùng thuộc hạ đến lễ bái, kinh hành, thụ giới xong liền đi. Sau đó, những người đồng bóng ở miếu Nhiếp Sơn mộng thấy thần bảo:
- Ta đã thụ giới với pháp sư Độ. Từ nay về sau không được sát sinh để cúng tế!
Từ đó, trong miếu chỉ dâng cúng thức ăn chay mà thôi.
Có lần, sư làm việc mệt mỏi nên đã ngủ quên trên đất, thấy Cẩn Thượng từ ngoài đi vào, đưa tay sờ đầu và chân rồi đi, lát sau, quay trở lại bưng một bát lưu li đựng đầy nước, dâng sư. uống vào, sư cảm thấy nước ngọt và mát lạnh, tất cả mệt mỏi ngay đó đều tan biến. Sư cảm ứng đến như thế.
Đời Tề, Cánh Lăng vương Tiêu Tử Lương, Thỉ An vương v.v... đều kính sư như thầy, cúng dường tứ sự sáu thời đều đầy đủ.
Đời Tề, niên hiệu Vĩnh Nguyên thứ hai (500), sư thị tịch tại núi này, thọ thế sáu mươi bốn tuổi.
87.8.5. Đời Lương, sa-môn Trí Thuận: Sư họ Từ, người Lâm Nghi, Lang Da, ở chùa Vân Môn, Sơn Âm. Sư giữ giới rất thanh tịnh, nghiên cứu sâu rộng các kinh. Cánh Lăng Văn Tuyên vương đời Tề đặc biệt kính trọng sư.
Đến niên hiệu Thiên Giám thứ sáu (507), sư viên tịch tại chùa, thọ thế 61 tuổi.
Trước khi viên tịch, sư bệnh nặng, nhịn ăn nhiều ngày. Một hôm đã quá ngọ, sư bỗng nhiên bảo thị giả mang cơm lên. Đệ tử Đàm Hòa thầm nghĩ sư đã nhiều ngày không ăn, nên lén trộn hai loại gạo để nấu dâng sư. Sư vừa ăn vào liền nhổ ra, bảo lấy nước súc miệng và bảo Đàm Hòa:
- Kể từ nay ông phải rời khỏi chùa Vân Môn này, không được quay trở lại!
Sư vốn sống tiết kiệm và thanh bần như vậy. Ngày sư viên tịch, trong phòng thoảng ra mùi hương lạ, có người còn thấy hoa trời và bảo cái trời xuất hiện.
87.8.6. Đời Tùy, sa-môn Tịnh Nghiệp: Sư người đất Tùy, vùng Đông Hán, xuất gia trụ ở đạo tràng Ngộ Chân, núi Chung Nam. Sư chuyên nghiên cứu Luật tạng, học rộng biết nhiều, thấu suốt nội điển, tiếng tăm vang xa.
Niên hiệu Nhân Thọ thứ hai (602), sư được cử cung tiễn xá-lợi đến chùa Cảnh Tạng ở An châu. Lúc đầu, sư dự định an trí ở chùa Thập Lực, nhưng khi đi đến chùa Cảnh Tạng bỗng nghe mùi hương lạ xông khắp viện, đại chúng đều cho là việc hi hữu, nên quyết định an trí xá-lợi tại đây. Khi vừa hạ xuống, xá-lợi bỗng nhiên phóng ra ánh sáng đỏ rực, chiếu khắp mọi nơi. Đồng thời trên lầu gác của chùa nghe tiếng như có nhiều người đi lại, nhưng đến xem thì thấy cửa vẫn đóng, không có ai cả.
Phía bắc tháp có một cái ao, khi sa-môn Tịnh Phạm đang truyền giới bồ-tát cho đạo tục, thì có một đàn cá bơi đến nhảy vọt lên, đầu đều hướng về Phía nam như muốn được thụ Tam qui. Ngài Tịnh Phạm liền chèo thuyền ra truyền giới cho chúng. Cả đàn Cá đều bơi quanh thuyền và ngẩng đầu như đang nghe giới, không hề kinh sợ. Sư vô cùng hoan hỉ vì chứng kiến điều kì lạ này, liền thỉnh xá lợi an trí trên điện Phật. Trước đây, trên điện có một pho tượng bồ-tát không ai có thể di chuyển được, nhưng đến sáng hôm sau, mọi người thấy tượng bồ-tát quay đầu hướng về xá-lợi, hình dáng vẫn như trước không hề hư hoại.
Ngày mười tám tháng hai niên hiệu Đại Nghiệp thứ mười hai (614), sư viên tịch tại bản tự, thọ thế năm mươi ba tuổi.
87.8.7. Đời Đường, cư sĩ Trương Pháp Nghĩa: Pháp Nghĩa người huyện Trịnh, Hoa-châu. Thuở nhỏ gia đình ông nghèo khó, nên không được học lễ nghi phép tác. Niên hiệu Trinh Quán mười một (637), Nghĩa vào Hoa sơn đốn củi, thấy một vị tăng ngồi trong hang núi, liền đến thưa hỏi. Gặp lúc trời tối, ông ta không thể trở về, nên phải ngủ lại. Đêm đó, vị tăng mang đọt tùng mời Nghĩa ăn và nói:
- Bần đạo từ lâu không muốn người khác biết chỗ này, vì thế đàn việt trở về đừng kể với ai!
Nhân đây vị tăng dạy Pháp Nghĩa:
- Người đời tạo nhiều tội lỗi, sau khi chết phải đọa vào đường ác, chỉ có chí tâm sám hối thì tội mới tiêu trừ.
Nói xong, sư bảo Nghĩa tắm gội sạch sẽ, đưa tăng phục cho Nghĩa mặc và dạy hành lễ sám hối. Sáng hôm sau, Nghĩa từ biệt trở về.
Đến niên hiệu Trinh Quán thứ mười chín (645), Nghĩa bị bệnh chết. Vì nhà nghèo nên không có tiền mua quan tài để liệm, nên mọi người chỉ lấy gỗ thường, đóng sơ sài và liệm rồi đem chồn ngoài đồng. Nhờ vậy khi sống lại, Nghĩa đẩy ván chui ra, trở về nhà. Mọi người thấy Nghĩa trở về đều kinh ngạc hỏi kĩ. Biết Nghĩa thật đã sống lại, ai cũng vui mừng. Pháp Nghĩa kể:
- Lúc mới chết, tôi thấy có hai người đến bắt, mang tôi bay trong hư không. Đến quan phủ, tôi vào một cổng lớn, rồi đi về phía nam khoảng mười dặm. Hai bên đường đều là công sở cổng đối diện nhau, nhiều không tính hết. Tôi đến một nha sở, từ xa đã nghe một viên quan trách sứ giả:
- Trương Pháp Nghĩa ở Hoa châu, kì hạn trong ba ngày phải đến, tại sao kéo dài tới bảy ngày?
Sứ giả thưa:
- Nhà Pháp Nghĩa có chó dữ, lại có thầy pháp. Tôi bị thần chú đánh rất đau!
Sứ giả liền vạch áo ra, viên quan thấy vết thương trên lưng bầm xanh, bèn nói:
- Xét kĩ thì người này thật quá nhiều lỗi, hãy đánh hai mươi trượng!
Tôi bị đánh rất đau, máu chảy khắp đất. Viên quan lệnh sứ giả:
- Hãy dẫn đến trình Lục sự.
Lục sự phê và kí tên cho tống đạt văn thư, lệnh giao tôi cho phán quan. Phán quan triệu người quản lí sổ sách lấy án tội của tôi. Tôi thấy sổ sách rất nhiều, chất đầy một giá, người quản thư đứng đối diện tôi lật sổ tra xét rồi nói:
- Những việc trong sổ bộ này phần nhiều đã gạch bút đỏ hết rồi, còn nơi chưa gạch bỏ thì ghi: “Năm Trinh Quán thứ mười một (637), người cha sai đi cắt lúa mà Nghĩa trợn mắt, mắng cha thậm tệ. Thật là bất hiếu, đáng đánh tám mươi trượng”.
Mới đọc được một điều, tôi bỗng thấy vị tăng trong hang núi lúc trước xuất hiện. Phán quan đứng dậy chào và hỏi vị tăng đến đây có việc gì? Vị tăng đáp:
- Trương Pháp Nghĩa là đệ tử của bần đạo. Tội này đã sám hối rồi và đã tiêu trừ, trong án của Thiên tào đã gạch bỏ rồi. Nay bắt đến đây thật oan uổng, xét ra nó chưa đáng chết!
Chủ bạ nói:
- Những tội đã sám hối rồi thì trong án đã gạch bút đỏ. Nhưng tội trừng mắt mắng cha, tuy đã sám hối nhưng chưa gạch bút đỏ.
Vị tăng nói:
- Nếu không đúng như vậy, nên xét lại bản án, hy vọng sẽ có phúc lợi. Mong phán quan sai chủ bạ dẫn Pháp Nghĩa đến gặp Diêm vưomg.
Nghĩa thấy cung điện vua nguy nga tráng lệ nằm ở phía đông, có đến mấy nghìn người canh giữ. Vị tăng cũng theo đến. Vừa thấy vị tăng, vua liền đứng lên chào đón, rồi hỏi:
- Thầy cũng hạ cố đến đây ư?
Vị tăng đáp:
- Chưa đúng lúc tôi phải đến đây, nhưng vì đệ từ của bần đạo là Pháp Nghĩa bị bắt, nên phải đến. Những tội lỗi đời trước của người này đã được bần đạo chỉ dạy sám hối tiêu trừ rồi, chưa đáng tội chết.
Chủ bạ lại đem tội tôi trợn mắt chửi mắng cha tâu vua. Vua nói:
- Tội này dù sám hối cũng khó thoát! Nhưng niệm tình thầy đã đến xin, nên ta đặc biệt tha cho bảy ngày.
Pháp Nghĩa thưa với vị tăng:
- Bảy ngày rất ngắn ngủi. Sau này đệ tử sợ không gặp được thầy, xin thầy cho đệ tử đi theo.
Vị tăng nói:
- Bảy ngày tức là bảy năm, hãy mau về đi!
Tôi cố nài nỉ xin theo, vị tăng liền mượn bút của Biêm vương viết vào bàn tay của tôi một chữ “Nhất”, rồi mượn ấn của Diêm vương ấn vào và nói:
- Hãy mau trở về nhà! Nhờ vào phúc báo này, về sau nếu không gặp được ta, ngươi hãy đem dấu ấn trong tay trình Diêm vương, sẽ được tha.
Tôi đỉnh lễ từ biệt. Vị tăng cho người đưa về Vừa tới nhà thì trời đã tối, tôi không dám vào, sứ già đẩy tôi một cái, ngay đó liền tỉnh lại và thấy mình nằm dưới đất, bên trên phủ một lóp đất mỏng. Tôi liền đẩy ván và gạt đất để thoát ra ngoài.
Sau đó, Nghĩa vào núi tìm vị tăng, xin theo tu phúc. Ấn văn trong bàn tay Pháp Nghĩa không ai đọc được, nhưng vẫn hiện vết sẹo đến cuối đời vẫn không mất.
87.8.8. Đời Đường, cư sĩ Hạ Hầu Quân: Hầu Quân người Phụ Thành, Kí châu. Năm Hiển Khánh thứ hai (657) ông ta bị bệnh, hơn bốn mươi ngày mê loạn như chết. Sau đó tỉnh lại và kể:
- Tôi bị đày làm trâu, thường phải chịu nhiều khổ sở không thể nói hết, nên mới nhiều lần tố khổ: “Ta dã ba lần đến chỗ sư Ấn thụ giới và sám hối. Xét ta không có lỗi, nỡ nào đọa làm trâu chịu khổ như vầy”. Sau đó, tôi lại bị điều xuống làm ở nhà xay bột trải qua hai mươi ngày. Chịu khổ xong, Diêm vương xét lại, biết tôi thật có thụ giới, không nói dối. Vì vậy mà thoát tội.
Hạ Hầu Quân rất khỏe mạnh, trước đây thường uống rượu say, lại thích tranh cãi, thế nhưng bây giờ đoạn hẳn rượu thịt, trở thành cư sĩ thuần thành, làm dệ tử của sư Ân, giữ trai giới nghiêm mật.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
12/01/2016
PUCL QUYỂN 100 - CHƯƠNG TRUYỆN KÍ
QUYỂN 100 Quyển này có một chương Truyện kí. 100. CHƯƠNG TRUYỆN KÍ 100.1. LỜI DẪN Từng nghe: kinh điển của chín nhà chất đầy tại Linh Khâu, sách về phép tắc trong thiên hạ chất kín ở Quần Ngọc, lại cũng có văn khắc trên...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 99 - CHƯƠNG TẠP YẾU
QUYỂN 99 Quyển này có một chương Tạp yếu. 99. CHƯƠNG TẠP YẾU 99.1. LỜI DẪN Lí thể lìa âm thanh, nhưng nhờ vào ngôn từ để biểu ý nghĩa. Ngôn từ không dấu vết, nhưng nương vào văn tự để diễn phát âm thanh. Cho nên văn tự l...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 98 - CHƯƠNG PHÁP DIỆT
QUYỂN 98 Quyển này có một chương Pháp diệt. 98. CHƯƠNG PHÁP DIỆT 98.1 LỜI DẪN Trộm nghĩ: Chính pháp tượng pháp đã qua, giáo pháp chuyển sang thời mạt. Bởi người có tà chính, nên pháp cũng có lúc suy vi. Có người nương và...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 97 - CHƯƠNG TỐNG CHUNG
ỌUYỂN 97 Quyển này có một chương Tống chung. 97. CHƯƠNG TỐNG CHUNG 97.1. LỜI DẪN Bốn đại là đồ chứa chất độc, đầy dẫy dơ uế; sáu tên giặc là bọn chủ cuồng loạn, luôn tham đắm ngoại cảnh, không có ngày biết ngược dòng sin...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 96 - CHƯƠNG XẢ THÂN
QUYỂN 96 Quyển này có một chương Xả thân. 96. CHƯƠNG XẢ THÂN 96.1. LỜI DẪN Tính của sắc vô hình, thì xúc cũng sẽ trở về không; ba thời hư giả thì tám vi cuối cùng cũng tan hoại. Tuy có uy lực làm chuyển càn khôn, rốt cuộ...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 95 - CHƯƠNG BỆNH KHỔ
QUYỂN 95 Quyển này có một chương khổ. 95. CHƯƠNG BỆNH KHỔ 95.1. LỜI DẪN Ba cõi mênh mông, sáu đường đông đúc, tất cả các loài chúng sinh đều nhờ vào bốn đại phò trì, năm căn tạo thành hình thể. Thế nên, khi bốn đại tích...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 94 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT
QUYỂN 94 Quyển này gồm chương Uống rượu ăn thịt (tiếp theo), chương uế trược. 93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT (tt) 93.4. CẢM ỨNG 93.4.1. Đời Hán, Lạc Tử Uyên: Vào niên hiệu Hiếu Xương đời Hán, dũng sĩ Lạc Tử Uyên, người Lạc...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 93 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT
QUYỂN 93 Quyển này có một chương uống rượu ăn thịt. 93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT 93.1. LỜI DẪN Uống rượu là mở toang cánh cửa buông lung, các Đức Phật biết rõ đó là gốc khổ. Vì thế nên tránh những quán rượu, lìa bỏ những...
