PUCL QUYỂN 87 - CHƯƠNG THỤ GIỚI
01/01/2016
QUYỂN 87 Quyển này có một chương Thụ giới. 87. CHƯƠNG THỤ GIỚI 87.1. LỜI DẪN Tam giới không an, giống như nhà lửa, muốn cứu khổ ban vui, cần phải tôn kính giới. Kinh đưa ra rất nhiều thí dụ, nhưng ở đây chỉ trình bày đôi...

QUYỂN 87
Quyển này có một chương Thụ giới.
87. CHƯƠNG THỤ GIỚI
Tam giới không an, giống như nhà lửa, muốn cứu khổ ban vui, cần phải tôn kính giới. Kinh đưa ra rất nhiều thí dụ, nhưng ở đây chỉ trình bày đôi điều. Giới như đôi chân có khả năng đi xa; giới như đại địa có công năng giữ gìn tất cả; giới như mưa đúng mùa nuôi lớn vạn vật; giới như thầy thuốc giỏi khéo trị bệnh chúng sinh; giới như cam lồ dứt trừ sự đói khát; giới như cây cầu cứu vớt người chìm đắm; giới như phao nổi đưa người vượt qua biển lớn; giới như đèn sáng phá tan sự u tồi; giới như căn lành trì giới ngăn lỗi dứt ác. Hướng tới giải thoát hoàn toàn nhờ vào giới. Giới như chuỗi báu trang nghiêm pháp thân. Có vô lượng ví dụ như thế, nên phải cung kính giới và dốc lòng thụ trì.
87.2. KHUYÊN TRÌ GIỚI
Kinh Niết-bàn ghi: “Muốn thấy Phật tính, chứng đại Niết-bàn, cần phải dốc lòng trì giới thanh tịnh. Nếu phá giới thanh tịnh là quyến thuộc của ma, người này chẳng phải là đệ tử ta.” Kinh Đại phẩm ghi: "Nế ta không trì giới ắt phải đọa vào ba đường ác, đã không được làm người huống gì đến cứu giúp chúng sinh, làm thanh tịnh cõi Phật, đầy đủ Nhất thiết chủng trí!”.
Kinh Tát-già Ni-kiền-tử ghi: “Nếu ta không trì giới, ngay đến thân dã can ghẻ lác cũng không làm được, huống là thân công đức!”.
Kinh Hoa nghiêm có bài kệ:
Giới là gốc Vô thượng bồ-đề
Phải nên thụ trì giới thanh tịnh
Nếu người nghiêm trì các giới cấm
Chư Phật Như lai sẽ khen ngợi.
Kinh Nguyệt đăng tam-muội, Đức Phật có nói kệ:
Dù có tướng tốt và học rộng
Nếu không trì giới, như cầm thú
Tuy dòng thấp hèn lại ít học
Nghiêm trì tịnh giới xứng đại sĩ.
Kinh Di giáo ghi: “Giới là nền tảng đưa đến giải thoát. Nhờ trì giới mà phát sinh thiền định. Vì thế phải phụng thờ giới này như đại sư của ông. Nếu Như Lai còn trụ thế, cũng chỉ như vậy”.
Luận Trí độ ghi: “Muốn được lợi ích lớn, thì phải giữ gìn giới cấm như quí tiếc vật báu, như bảo vệ thân mạng, vì giới là nơi tất cả pháp lành nhóm họp. Nếu người không có chân mà muốn bước đi, không cánh mà muốn bay, không thuyền mà muốn qua sông thì không bao giờ được. Không giữ tịnh giới mà mong chứng được diệu quả, cũng như vậy. Người hủy giới cấm, dù ẩn cư trong chốn thâm sơn ăn rau cỏ, uống đan dược cũng chẳng khác gì cầm thú. Còn người giữ vững giới, thì hương đức hạnh lan tỏa mười phương, thanh danh lưu truyền rộng khắp, trời người kính mến, mọi ước nguyện đều thành tựu. Người trì giới khi lâm chung dù bị gió lạnh như đao thổi vào thân, cắt đứt các gân mạch, vẫn không lo sợ”.
Luận Địạ Trì ghi: “Có được ba mươi hai tướng tốt là nhờ trì giới. Nếu không trì giới dù sinh làm người hạ tiện cũng không được, huống là thân bậc đại nhân!”.
Luận Thành thật ghi: “Lầu quán Đạo phẩm lấy giới, làm tường vách. Bức thành thiền định lấy giới làm trụ cột. Vì thế phải mang ấn giới mới dự được vào chúng hiền thiện”.
Trong luận Tát-bà-đa ghi: “Phật dạy các tì-kheo:
- Vì giới có bốn nghĩa nên quan trọng hơn các giáo khác; đó là:
1. Giới là mảnh đất bằng phẳng của Phật pháp, muôn pháp lành nương vào đây sinh trưởng.
2. Tất cả Phật tử đều nương vào giới mà an trụ, không có giới thì không có chỗ nương. Tất cả chúng sinh do giới mà có.
3. Giới là cửa đầu tiên để đến niết-bàn, không có giới thì không có cơ hội vào thành Niết-bàn.
4. Giới là chuỗi báu Phật pháp, vì hay trang nghiêm Phật pháp.
Vì sao lần kết tập kinh điển thứ nhất, giới luật được cho là thù thắng, là bí yếu? Vì khế kinh không chọn thời gian và đối tượng để giảng thuyết. Luật thì khác, chỉ do Đức Phật thuyết và chỉ nói cho chúng tăng”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Người giữ giới trọn vẹn, dù phải hy sinh, tính mạng cũng không hủy phạm. Đức Phật nêu ví dụ:
Có một la-sát theo người vượt biển xin phao. Người ấy trả lời:
- Dù có chết tôi cũng không thể cho.
La-sát lại nói:
- Nếu không thể cho nguyên cái thì cho phân nửa vậy!
Người ấy vẫn không chấp thuận. La-sát cứ lần lượt xin như vậy, cho đến xin một phần như vi trần, người ấy cũng không cho.
Khi bồ-tát trì giới cấm cũng nên như vậy. La-sát phiền não dụ dỗ bồ-tát phạm bốn giới trọng, chỉ giữ các giới khinh, bồ-tát không thuận theo; xúi dục phạm tăng tàn, bồ-tát không chấp nhận, cho đến xúi dục phạm ba-dật-đề, đề-xá-ni, đột-kiết-la, bồ-tát cũng không nghe theo”.
Kinh còn ghi: “Bồ-tát ma-ha-tát thụ trì bốn giới trọng cho đến đột-kiết-la, cũng phải giữ vững không khác và phát thệ nguyện: ‘Thà thân này bị ném vào hầm lừa sâu bốc cháy hừng hực, quyết không bao giờ cùng nữ cư sĩ v.v... làm hạnh bất tịnh, hủy phạm cấm giới của chư Phật trong ba đời’. Lại phát nguyện: ‘Thà lấy vòng sắt nóng quấn vào thân, cũng không bao giờ đem thân phá giới, thụ nhận y phục của đàn việt tín tâm. Thà nuốt hòn sắt nóng, quyết không: bao giờ dùng miệng phá giới, nhận thức ăn uống của đàn việt. Thà nằm trên giường sắt nóng, quyết không bao giờ đem thân phá giới nhận giường nằm, tọa cụ của đàn việt, tín tâm. Thà chịu ba trăm mũi đao nhọn đâm vào thân, quyết không bao giờ đem thân phá giới nhận thuốc thang của đàn việt. Thà bị ném vào chảo sắt nóng, quyết không bao giờ đem thân phá giới nhận phòng nhà của tín tậm đàn việt. Thà dùng chày sắt đập thân nát như vi trần, quyết không bao giờ đem thân phá giới nhận sự lễ bái của đàn việt tín tâm. Thà lấy sắt nóng móc đôi mắt mình, quyết không bao giờ đem tâm nhiễm ô mà đắm nhìn sắc đẹp. Thà lấy dùi sắt đâm thủng hai tai, trọn không đem tâm ô nhiễm mà nghe các tiếng hay. Thà lấy dao nhọn cắt bỏ mũi mình, quyết không đem tâm nhiễm ô mà trước đắm trước mùi thơm. Thà dùng dao bén cắt lưỡi, quyết không đem tâm nhiễm ô mà đắm trước vị ngon. Thà dùng rìu bén chém nát thân này, cũng không đem tâm nhiễm ô ham thích sự xúc chạm. Vì sao? Vì những nhân này khiến cho hành giả đọa vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh.
Bồ-tát giữ gìn những giới Cấm như thế, được bao nhiêu công đức nguyện ban phát cho tất cả chúng sinh; mong họ được giới thanh tịnh, giới bất chiết, giới bất thoái, giới tùy thuận, giới rốt ráo, thành tựu đầy đủ giới ba-la-mật. Khi đại bồ-tát tu trì giới thanh tịnh như thế là đã trụ vào quả vị Bất động địa.
Bồ-tát giữ gìn nghiêm mật những giới cấm, đạt được quả Bất thoái như thế. Nay khuyên đạo tục hãy noi gương ấy, thụ trì những giới chung của hàng xuất gia và tại gia như: Tam tụ tịnh giới, mười vô tận giới, hai mươi bốn giới, và giới xuất gia như hai trăm năm mươi giới, năm trăm giới.... thảy đều giữ gìn trọn vẹn. Đó là Phật tử chân chính mở cửa Phật tính, vào đạo niết-bàn”.
Kinh Thập luân ghi: “Nếu có người phá giới, nhưng chính kiến không hoại, cũng được cho là bậc pháp khí trong Phật pháp; việc này có bốn câu, tự suy nghĩ cũng cố thể biết”.
Kinh Niết-bàn ghi: Thừa hoãn gọi là hoãn, giới hoãn thì không gọi là hoãn, cũng có bốn câu”.
Kinh Biện Ý trưởng giả tử ghi: “Đức Phệt dạy trưởng giả Biện Ý:
- Nếu người thực hành được năm việc sau đây sẽ được sinh thiên:
Không sát, được trường thọ
Chẳng bệnh, luôn giải thoát
Được sinh vào cõi trời
Thân an, hào quang tỏa.
Không trộm, thường giàu sang
Tiền tài luôn sung mãn
Cung điện bằng bảy báu
Lòng luôn được an vui
Nam nữ không dục nhiễm
Thân thể thơm thanh khiết
Dung mạo rất đoan nghiêm
Đức hạnh tự tỏa sảng.
Không dối, hơi thở thơm
Ngôn từ thường sảng tỏ
Luận đàm luôn lưu loát
Ai nấy đều tin tưởng.
Người không phạm giới rượu,
Tâm ý không mê loạn
Dù sinh ở nơi đâu
Được trời người ủng hộ
Đến lúc thân mạng chung
Hai mươi lăm thần đón
Năm phúc vốn đầy đủ
Ánh sáng thường rực rỡ
Luận Đại Trang nghiêm ghi: “Thuở xưa, có gia đình Chiên-đà-lợi sinh được bảy người con trai. Sáu người anh đều chứng quả Tu-đà-hoàn, chỉ có người em út là còn phàm phu. Người mẹ cũng chứng được quả A-na-hàm. Bảy anh em đều thụ trì năm giới. Đất nước này có tục lệ bắt người Chiên-đà-la phải hành hình những người phạm các tội nặng như sát, đạo dâm v.v...
Bấy giờ, vua hạ lệnh gọi người anh cả của bảy anh em kia đến bảo:
- Có kẻ đáng tội chết, ngươi phải lãnh tránh nhiệm hành hình hắn.
Người anh thi lễ, tâu:
- Xin bệ hạ lượng thứ, thần đã thụ trì năm giới, bảo vệ thân mạng các loài rất cẩn mật, ngay cả loài trùng kiến cũng không dám tổn hại, không thể làm điều lầm lỗi. Thà chết, hạ thần nhất quyết không phạm giới!
Nghe vậy, vua vô cùng phẫn nộ, liền truyền lệnh đem ra pháp trường chém đầu. Người anh liền tâu:
- Thân này là thần dân của bệ hạ, nhưng tâm là tâm của thần. Dù cho bệ hạ giết chết thân này, nhưng không thể giết được tâm này, Thần chấp nhận chết theo ý bệ hạ!
Vua liền sai người chém chết, bêu đầu để thị chúng. Lần lượt vua cho gọi các người em. Năm người em đều tâu là mình đã thụ trì giới pháp, nên không thể giết người. Nghe vậy, vua vô cùng tức giận và ra lệnh giết hết. Cuối cùng vua cho gọi người em út. Nhưng khi thấy cả hai mẹ con đều đến, vua bèn nổi giận hỏi:
- Tại sao sáu người con trước bị giết, bà không đưa tiễn. Nay đến lượt người con út, bà lại đến?
Người mẹ tâu:
- Xin bệ hạ hãy lắng nghe lão đây tỏ bày đôi điều. Đó là sáu người con trước của lão đều đã chứng quả vị Tu-đà-hoàn. Giả sử bệ hạ làm cho thân thể sáu đứa nó nát như cát bụi, chúng nó cũng không bao giờ khởi một niệm oán hận. Nhưng đứa con út này, tuy thân tu thiện nhưng chưa chứng thánh quả. Lão nghĩ, chưa chứng thánh thì sẽ dễ đánh mất tâm, sợ lệnh vua, tiếc mạng sống của mình mà phá giới, phạm tội giết người, sau khi chết phải đọa vào đại địa ngục. Vì thương con như vậy mà lão này phải đưa tiễn đến đây. Vua lại hỏi:
- Sáu người con của bà đều đắc quả Tu-đà-hoàn rồi ư?
Bà đáp:
- Đúng vậy! Thưa bệ hạ.
Vua hỏi tiếp:
- Vậy bà đã chứng quả vị gì?
Bà lão đáp:
- Quả vị A-na-hàm.
Nghe vậy vua vội phủ phục xuống đất, ăn năn tự trách:
- Ta đã tạo tội nặng, tâm thật bất an!
Bấy giờ, vua đích thân chuẩn bị đầy đủ dầu thơm, củi tô để làm lễ trà-tì thi thể sáu anh em kia và xây sáu tháp phụng thờ. Vua sám hối suốt ba ngày, lại xuất tiền của ban cho người mẹ. Vào những ngày trai, vua thường sám hối mong được tiêu tội, thoát khỏi quả báo địa ngục”.
Thế nên, kinh Niết-bàn ghi “Người đắc quả vị Tu-đà-hoàn tuy sống trong đất nước có điều lệ khắt khe, nhưng nhờ đạo lực nên giữ vững giới cấm, không tạo các lỗi sát, đạo, dâm, vọng, uống rượu v.v...”
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Thuở xưa, sau khi Đức Thế Tôn niết-bàn bảy trăm năm, có a-la-hán Kì-dạ-đa đến nước Kế-tân. Lúc ấy tại nước nước Kế-tân có một con rồng dữ tên A-lợi-na thường làm hại người. Bấy giờ, hai nghìn vị a-la-hán dốc hết thần thông đuổi con rồng này ra khỏi biên cương. Trong số ấy, một trăm vị a-la-hán dùng thần thông chấn động cõi đất, năm trăm vị phóng ánh sáng rực rỡ, năm trăm vị nhập thiền định, kinh hành. Tất cả đều vận hết thần thông của mình, nhưng vẫn không thể lay động được nó.
Cuối cùng tôn giả Kì-dạ-đa đến bên ao rồng, Ngài chỉ khảy móng tay ba lần và nói với rồng:
- Ngươi hãy đi khỏi nơi này!
Rồng liền dời đi, không dám chậm trễ.
Lúc ấy, hai nghìn vị a-la-hán đều nói với tôn giả:
- Chúng tôi đều chứng Pháp thân, các lậu đã tận, được giải thoát như ngài. Nhưng tại sao tất cả chúng tôi vận hết thần lực của mình vẫn không làm cho con rồng ấy lay động. Còn tôn giả chỉ cần khảy móng tay ba lần thì rồng chịu trở về biển cả?
Tôn giả đáp:
- Lúc còn là phàm phu cho đến nay, khi lãnh thụ giới pháp, từ Đột-kiết-la v.v... cho đến bốn giới trọng, tôi đều hết lòng giữ gìn như nhau. Sở dĩ hôm nay tất cả các vị không thể lay động được nó là do thần lực bất đồng vậy”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Thuở xưa, có một tì-kheo chuyên khất thực và trì giới thanh tịnh, một đệ tử sa-di cũng giữ giới vô cùng miên mật. Vi thế gia đình ưu-bà-tắc nọ phát tâm mỗi ngày đều mang thức ăn đến cúng dường.
Một hôm cả nhà ưu-bà-tac đều đi vắng, chỉ còn cô con gái ở lại trông nhà, nhưng cô quên mang cơm đi cúng dường. Bấy giờ, đã đúng ngọ mà không thấy người mang cơm đen, vị thầy sợ trễ nên bảo sa-di:
- Con hãy đến nhà ấy nhận cơm.
Sa-di giữ vững oai nghi đến nhà ấy gõ cửa. Cô gái nghe tiếng gõ liền hỏi:
-Ai vậy?
Sa-di đáp:
- Tôi là sa-di, nghe lời thầy đến nhận thức ăn cúng dường!
Nghe vậy cô rất vui mừng vì nghĩ rằng mình đã toại nguyện, liền ra mở cửa. Cô gái này dung mạo rất xinh đẹp, năm nay vừa tròn đôi tám, lòng dục rất mạnh. Nên vừa gặp sa-di, cô biểu hiện những tướng nhiễm dục như liếc mắt đưa tình, làm duyên làm dáng để quyến rũ. Thấy vậy, sa-di thầm nghĩ: ‘Cô gái này mắc bệnh phong hay bệnh điên chăng. Lẽ nào cô ta bị lòng dục sai khiến mà phá hoại hạnh thanh tịnh của ta?’.
Sa-di vẫn giữ vững oai nghi, sắc mặt không biến đổi.
Bấy giờ cô gái liền phủ phục sát đất thưa:
- Tôi luôn muốn gặp chú để tỏ bày nỗi lòng, nhưng chưa cố cơ hội thuận tiện, nay thật là đúng lúc. Tôi nghĩ chú cũng có tình ý, sẽ thuận theo mong cầu của tôi. Nhà tôi có rất nhiều châu báu, như kho tàng của Tì-sa-môn ở thiên cung, nhưng chưa có chủ. Chú hãy đồng ý làm chủ nhà này, tôi xin được làm người hầu hạ. Xin chớ phụ lòng, hãy thỏa mãn ý nguyện của tôi
Nghe xong, sa-di suy nghĩ: ‘Ta đã tạo tội gì mà phải gặp chướng duyên này. Ta thà chết, quyết không bao giờ phá giới'. Lại nghĩ: ‘Bây giờ ta bỏ chạy cũng được. Nhưng cô gái này lòng dục quá mạnh sẽ bất chấp sự xấu hổ, chạy theo níu kéo và vu oan ta. Người đi đường trông thấy thì thật là xấu hổ. Ta chỉ còn cách bỏ thân mạng tại đây!’. Nghĩ vậy, sa-di liền giả vờ nói:
- Cô hãy đi đóng kín các cửa, tôi vào phòng trước!
Cô gái liền làm theo. Lúc này, sa-di vội vào phòng đóng chặt cửa. Tìm được con dao nhỏ, sa-di rất vui mừng, liền cởi y treo lên giá, chắp tay quỳ xuống, hướng về nơi Thế Tôn nhập Niết-bàn lập nguyện:
- Hôm nay, con không bỏ Phật pháp tăng, không bỏ hòa thượng a-xà-lê, cũng không bỏ giới hạnh mà chính vì trì giới mới bỏ thân này. Con nguyện sinh ra ở nơi nào cũng xuất gia tu đạo, giữ gìn Phạm hạnh, các lậu dứt sạch, thành tựu đạo quả.
Phát nguyện xong, sa-di lấy dao cắt cổ tự sát, máu chảy khắp thân. Cô gái thấy lâu, bèn đến phòng xem, nhưng thấy cửa phòng đóng kín, gọi cũng không trả lời. Cô tìm cách phá cửa ra thì thấy sa-di đã chết. Chứng kiến cảnh tượng ấy cô kinh hãi biến sắc, tâm dục liền dứt. Lúc này cô rất hối hận và buồn rầu, tự bứt tóc, cào cấu mặt mày, lăn lộn trên đất, buồn thương khóc lóc đến ngất xỉu.
Người cha trở về gõ cửa gọi con gái. Cô im lặng không đáp. Thấy vậy người cha ngạc nhiên, liền sai người đạp cửa bước vào. Thấy bộ dạng con như vậy? liền hỏi:
- Tại sao con ra nông nỗi này?
Cô gái lặng thinh không đáp, tự nghĩ: ‘Nếu ta kể sự thật thì vô cùng xấu hổ, còn như nói sa-di hủy nhục ta, là hủy báng người lương thiện, phải đọa địa ngục, chịu tội cùng cực. Vì thế ta không nên nói dối’. Thế là, cô kể rõ sự thật mọi việc. Nghe xong, người cha không tỏ vẻ lo sợ, bảo con gái:
- Tất cả các pháp đều vô thường, con không nên quá lo sợ.
Ông vào phòng, thấy toàn thân sa-di nhuộm máu đỏ như gỗ chiên-đàn, liền đến trước thi thể đỉnh lễ tán thán:
- Lành thay! Vì giữ gìn giới của Phật mà xả bỏ thân mạng!
Ông cho người đưa thi hài sa-di đến vùng đất trống, chất các loại củi thơm cúng dường lễ trà-tì. Sau đó, ông thỉnh vị thầy thuyết pháp nhiệm mầu cho đại chúng. Mọi người nghe xong, đều phát đạo tâm”.
87.3. TAM QUI
87.3.1. Lời dẫn
Tam bảo ứng hóa khắp nơi, tùy thuận căn cơ mà cảm nhận lợi ích; Thế Tôn dùng một âm thanh thuyết pháp mà chúng sinh tùy loại đều nghe hiểu. Vì thế trong luận ghi:
- Qui y Phật nghĩa là nương tựa ngũ phần pháp thân của bậc Nhất thiết trí. Qui y pháp là trở về niết-bàn tịch diệt. Qui y tăng là qui y công đức của các bậc hiên thánh hữu học và vô học đã đạt được tận xứ của tự thân và tha nhân. Tận xứ nghĩa là những mê hoặc của mình và người đều đoạn diệt. Thế nên kinh Bát-nhã ghi: “Tất cả các bậc thánh nhân đều nhờ pháp vô vi mà thành tựu đạo nghiệp. Vô vi là nhân khác của vô lậu. Do đây mà Tam bảo thường trụ ở đời, không bị pháp thế gian xem thường, nên gọi là báu. Cũng như trân bảo được người thế gian xem trọng. Vì Tam bảo được bảy chúng Tam thừa và tất cả chúng sinh qui hướng, nên gọi là tam qui”.
87.3.2. Công năng của tam qui
Kinh Hy hữu giảo lượng công đức ghi: “Trưởng lão A-nan bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Như có thiện nam, thiện nữ nào phát nguyện: ‘Nay con nguyện qui y Phật, qui y pháp, qui y tăng’ thì họ được bao nhiêu công đức? Con thật chưa hiểu, cúi mong đức Như Lai chỉ dạy để con và tất cả chúng sinh nhận biết đúng đắn?
Thế Tôn bảo:
- Này A-nan! Hãy lắng nghe và suy nghĩ kĩ, ta sẽ giảng thích cho ông rõ.
Giả sử người khắp cõi Diêm-phù này đều chứng quả Tu-đà-hoàn, có một thiện nam, thiện nữ nào đem tất cả vật dụng vui chơi ở thế gian và tứ sự cúng dường cho các vị ấy suốt một trăm năm. Sau khi các vị ấy diệt độ, lại thâu xá-lợi xây tháp bảy báu tôn thờ và cũng cúng dường. Ông nghĩ sao, người này được phúc nhiều chăng?
A-nan thưa:
- Rất nhiều! Thưa Thế Tôn!
Phật dạy:
- Cúng dường như thế cũng không bằng người nào với tâm thanh tịnh phát nguyện: ‘Nay con nguyện qui y Phật, qui ỵ pháp, qui y tăng’. Công đức của người này hơn phúc đức của người cúng dường kia gấp trăm nghìn, vạn lần, cho đến không thể tính đếm, thí dụ mà biết được.
Phật lại bảo A-nan:
- Giả sử người khắp cõi Tây Cù-đà-ni đều chứng quả Tư-đà-hàm, có người cũng phát tâm cúng dường như trước trọn hai trăm năm, phúc đức của người này cũng không thể sánh kịp người thụ trì Tam qui. Cũng vậy, nếu người khắp cõi Đông Phất-ba-đề đều chứng quả A-na-hàm, có người cũng phát tâm cúng dường như trước trọn ba trăm năm, phúc đức của họ cũng không thể sánh với công đức của người thụ trì Tam qui. Giả như người khắp bắc uất-đơn-việt đều chứng quả A-la-hán, có người cũng phát tâm cúng dường như đã nói trên suốt bốn trăm năm, phúc của người này cũng không bằng người kia. Giả sử các vị bích-chi Phật đầy khắp bốn thiên hạ, có người cũng phát tâm cúng dường như trên, suốt mười nghìn năm, phúc đức của người này cũng không bàng người thụ Tam qui. Cho đến người cúng dường các đức Như Lai đầy khắp ba nghìn đại thiên thế giới các phẩm vật như trên trọn hai vạn năm, tuy được phúc đức vô lượng vô biên không thể tính đếm, cũng vẫn không bằng người với tâm thuần tịnh phát nguyện: ‘Hôm nay con qui y Phật, qui y pháp, qui y tăng’. Công đức của người này hơn phúc đức của người kia gấp trăm nghìn, vạn lần, cho đến không thể tính đếm được, không thể dùng ngôn từ thí dụ mà biết được.
Bấy giờ, Thế Tôn lại bảo A-nan:
- Nếu người nào đã qui y Phật, pháp, tăng, sau đó thụ trì thập thiện chỉ trong khoảnh khắc, sẽ được vô lượng vô biên công đức. Nếu lại có người thụ bát quan trai giới trọn một ngày một đêm, tu hành đúng như vậy, thì công đức của người này hơn phúc đức của người cúng dường kia gấp nghìn, vạn, trăm nghìn vạn lần cho đến tính đếm, thí dụ cũng không thể tính biết. Nếu người thụ trì năm giới, đúng như pháp tu hành đến trọn đời, công đức của người này hơn phúc đức của người kia gấp trăm nghìn vạn ức lần chẳng phải toán số, thí dụ có thể tính biết. Nếu lại có người thụ trì sa-di, sa-di-ni giới thì công đức lại hơn trước. Nếu người thụ trì giới thức-xoa-ma-na, tì-kheo, tì-kheo-ni trọn đời tu hành không khiếm khuyết, các công đức kia lần lượt thù thắng hơn trước.
Ngài A-nan nghe Phật dạy suốt đời thụ trì Tam qui được công đức vô lượng như thế, liền ca ngợi:
- Thật là hi hữu!
Đức Phật lại bảo A-nan:
- Kinh này nhiệm mầu không thể nghĩ bàn, nghĩa lí sâu xa, công đức rộng lớn, khó có thể so lường. Thế nên Như Lai đặt tên là kinh Hi hữu hi hữu. Các ông phải nên phụng hành”.
Kinh Thiện Sinh ghi: “Người nào thụ tam qui sẽ được vô lượng phúc báo. Như bốn kho báu lớn, nhân dân cả nước vận chuyển trong bảy năm cũng không hết, phúc đức của người thụ tam qui còn nhiều hơn như vậy, không thể tính đếm”.
Kinh Giảo lượng công đức ghi: “Giả sử người trong bốn đại châu đều chứng quả Nhị thừa, có người phát tâm cúng dường suốt đời, đến khi các vị ấy thị tịch lại xây tháp cúng dường. Phúc đức ây vẫn không bằng thiện nam, thiện nữ phát lời nguyện sau: ‘Con tên là... phát nguyện qui y Phật, qui y pháp, qui y tăng’. Công đức của người này không thê nghĩ lường.
Vì thế trong tất các các phúc báo chỉ có phúc báo thụ trì Tam bảo là thù thắng nhất. Nếu khởi tâm hủy báng Tam bảo sẽ chịu vô lượng tội, vì năng lực thiện ác đồng nhau. Như Kì-vực và Điều-đạt tuy đều làm thân Phật chảy máu, nhưng với tâm thiện, ác không đồng, nên dẫn đến thọ mạng đồng nhau mà khổ vui khác nhau”.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Có người kết giao với Tu-đạt, Tu-đạt khuyên thụ Tam qui, người này mạng chung được sinh thiên. Nếu người phụ nữ nào đang mang thai, vì thai nhi mà thụ trì Tam qui, đứa trẻ sinh ra, lại cho thụ Tam qui rồi dạy cho biết Tam qui, thì đứa bé sẽ có chính tri kiến. Giả sử có tì nữ hay bất cứ người phụ nữ nào đang mang thai, cũng bảo họ thụ trì Tam qui như thế. Nếu muốn mua nô tì, nên hỏi họ có thể thụ Tam qui và Ngũ giới được không, nếu được thì mới mua. Nếu có người đến vay mượn tiền, cũng khuyên họ thụ Tam qui, sau đó mới cho mượn. Nếu có người dâng phẩm vật cúng dường Tam bảo, nên hướng về Thế Tôn, xưng tên mình và cầu nguyện, sẽ được sinh thiên”.
Đức Phật nói:
- Hay thay! Như Lai có tri kiến vô thượng, thấu rõ phương tiện, giúp chúng sinh đều được sinh thiên.
Nên biết, Tam qui có công đức rất lớn. Vì thế, chúng ta cần phải thụ trì”.
Kinh Pháp cú thí dụ ghi: “Xưa kia, Thiên Đế Thích biết năm đức của mình đã lìa thân, mạng chung sẽ gá vào thai lừa trong nhà thợ gốm. Biết phúc đã hết, Đế Thích lo buồn, thầm nghĩ: ‘Trong ba cõi này chỉ có Đức Phậi mới cứu được khổ nạn của chúng sinh’. Thế là, Đế Thích liền đến trụ xứ của Thế Tôn cúi đầu đỉnh lễ, quì gối chí thành qui y Phật, pháp, và thánh chúng. Ngay lúc ấy, thần thức Đế Thích lìa khỏi xác thân, gá vào thai lừa mẹ tại nhà họ Đào. Bị kích động, lừa mẹ chạy dẫm lên những chậu gốm, làm bể nát. Thấy vậy, chủ về nhà tức giận chạy đến đánh, làm lừa mẹ hư thai. Bấy giờ, thần thức Đế Thích trở về gá vào thân cũ. Năm đức cũng phục hồi đầy đủ, nên ông ta trở lại làm Đế Thích như trước. Bấy giờ, Đức Phật xuất định biết được, khen ngợi:
- Rất tốt, Đế Thích! Lúc sắp mạng chung mà ông biết qui y Tam bảo, nhờ đổ tội lỗi được tiêu, không còn thụ khổ báo nữa!
Thế Tôn lại nói kệ:
Hành nghiệp chẳng thường
Là pháp hưng suy
Có sinh ắt tử
Tịch diệt là vui.
Thí như thợ gốm
Nhồi đất làm chậu
Tất cả đều hoại
Mạng người cũng thế.
Nghe Phật nói kệ, Đế Thích nhận ra định luật vô thường, thấu lẽ đổi thay của tội phúc, rõ lí cội gốc hưng suy và quí kính hạnh tịch diệt. Ông ta hoan hỉ tin nhận và chửng quả Tu-đà-hoàn”.
Kinh Tăng Hộ ghĩ: “Thế Tôn nói với tì-kheo Tăng Hộ:
- Ông biết chăng! Long vương trong biển tuy thụ thân rồng, nhưng nhờ nghe pháp, nên sau khi mạng chung sẽ sinh vào cõi trời Đâu-suất. Hết thọ mạng cõi trời, long vương lại được thụ thân người, làm đại trưởng giả trong thời Phật Di-lặc, vô cùng giàu có, làm đại thí chủ cúng dường Phật Di-lặc và chúng tì-kheo đày đủ tứ sự. Các long vương này còn được công đức như thế, huống là đệ tử Như Lai, xuất gia đúng pháp, tọa thiền, tụng kinh, giữ gìn ba nghiệp thanh tịnh, nhất định sẽ đắc Niết-bàn.
Sau đó, Thế Tôn tự nói kệ:
Người qui y Phật
Được lợi ích lớn
Đêm ngày trong tâm
Không quên niệm Phật.
Người qui y Pháp
Được lợi ích lớn
Đêm ngày trong tâm
Không quên niệm pháp.
Người qui y Tăng
Được lợi ích lớn
Đêm ngày trong tâm
Không quên niệm tăng”.
Kinh Cựu Tạp thí dụ ghi: “Thuở xưa, Đức Phật Thích-ca lên cõi trời Đao-lợi lần thứ hai để giảng kinh cho mẹ nghe. Bấy giờ, có một vị trời thọ mạng sắp hết, nên hiện ra bảy tướng trạng:
- Ánh sáng nơi cổ bị tắt.
- Hoa trang sức trên đầu héo úa.
- Sắc mặt thay đổi.
- Trên áo có bụi bẩn.
- Nách tiết mồ hôi.
- Thân thể gầy yếu.
- Không thích tòa ngồi của mình.
Vị ấy tự quán sát, biết được sau khi mình mạng chung sẽ lìa những thú vui cõi trời, thần thức phải gá vào thai heo mẹ ghẻ lở tại nước Câu-di-na-kiệt. Cho nên vị trời rất đau buồn, không biết cách nào để thoát khỏi nghiệp báo này. Khi ấy, có một vị trời khác đến mách:
- Đức Phật đang giảng kinh cho mẹ ngài ở tại đây. Phật luôn cứu giúp chúng sinh trong ba cõi, chỉ có Ngài mới cứu được tội nặng của ông. Sao ông không đến qui y?
Nghe vậy, vị trời liền đến bên Phật, cúi đầu đỉnh lễ. Vị trời chưa kịp trình bày, Đức Phật đã dạy:
- Tất cả vạn vật đều vô thường, ông đã biết vậy sao còn buồn khổ?
Vị trời thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! vẫn biết phúc cõi trời không bền lâu, nhưng con lo buồn vì sau khi mạng chung sẽ gá vào thai heo mẹ. Nếu được làm người thì con không lo buồn!
Đức Phật dạy:
- Muốn thoát thân heo, ông phải biết xướng tam tự qui; ‘Nam-mô Phật, nam-mô pháp, nam-mô tì-kheo tăng. Qui mạng Phật, qui mạng pháp, qui mạng tì-kheo tăng’. Ông phải làm như thế mỗi ngày ba thời,
Vị trời làm theo lời Đức Phật, sớm tối qui y Tam bảo. Bảy ngày sau, ông ta mạng chung, thác sinh làm con trai của một trưởng giả tại nước Duy-da-li. Lúc còn trong thai mẹ, ông ta cũng mỗi ngày ba lần qui y Tam bảo. Lúc người mẹ sinh lại không có chút nhơ uế, như phụ nữ bình thường, còn đứa bé vừa mới lọt lòng cũng biết quì xuống qui y Tam bảo. Thấy vậy, các nữ tì hầu cận sợ hãi bỏ chạy. Người mẹ cũng rất kinh ngạc vì con mình vừa sinh ra đã biết nỗi. Bà nghĩ 'là quỉ thần, định giết chết, nhưng nghĩ lại: ‘Con ta còn quá nhỏ, nếu giết chết thì cha nó sẽ hỏi tội ta!’. Thế rồi, bà đến kể hết mọi việc cho ông trưởng giả. Trưởng giả nói:
- Đừng giết! Đứa bé này là người phi phàm! Người sống trăm tuổi còn chưa biết qui y, huống đứa bé này mới chào đời đã biết niệm Phật. Bà hãy nuôi dưỡng nó cẩn thận, không được xem thường!
Năm lên bảy, một hôm, bé trai này đang cùng vui đùa với chúng bạn ở bên đường, thấy ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đi ngang qua, bèn chạy đến thưa:
- Con xin đỉnh lễ!
Ngài Xá-lợi-phất và Mục-kỉền-liên hết sức kính ngạc, thầm nghĩ: ‘Đứa bé này sao lại biết đỉnh lễ ta?.
Đứa bé lại hỏi:
- Ngài không biết con ư? Lúc Phật lên trời giảng kinh cho mẹ mình, thì con là vị trời sắp đọa làm heo. Nhưng nhờ con biết qui y Tam bảo theo lời Phật dạy, nên nay được làm người. Ngài không biết sao?
Ngài Xá-lợi-phất nhập định mới biết, bèn chú nguyện cho đứa bé. Nhân đây, đứa bé thỉnh Phật và tăng chúng đến nhà để cúng dường. Sau khi cúng dường xong,
Phật thuyết pháp cho gia đình nghe. Cha mẹ, con cái và quyến thuộc nội ngoại đều chứng quả vị A-duy-việt-trí. Đó đều là nhờ phúc qui y Tam bảo.
87.3.3. Thần hộ vệ
Kinh Thất Phật ghi: ‘‘Người qui y Tam bảo được chín vị thần hộ vệ. Trong đó qui y Phật được ba vị: Đà-ma-tư-na, Đà-ma-bà-lạ-na, Đà-ma-lưu-chi; qui y pháp có ba vị thần hộ vệ: Pháp Bảo, Ha Trách, Biện Ý; qui y tăng có ba vị thần hộ vệ: Tăng Bảo, Hộ Chúng, An Ổn.”
Kinh Quán đỉnh ghi: “Lúc Đức Phật đang giảng pháp cho đại chúng tại nước Xá-vệ, có một Phạm chí Lộc Đầu đến đỉnh lễ, quì gối, chắp tay bạch Phật:
- Từ lâu con đã nghe danh tiếng Cù-đàm. Nay con muốn từ bỏ dị thuyết, để thụ Tam qui, ngũ giới.
Xin ngài từ bi hứa khả!
Phật nói:
- Rất tốt, Phạm chí! Ông đã từ bỏ đường tà để qui y Ta. Nay ông nên sám hối tội lỗi từ vô lượng kiếp sinh tử không thể tính kể đến nay!
Phạm chí đáp:
- Vâng, con xin làm theo lời đức Thế Tôn!
Thế là Phạm chí làm theo lời dạy của Thế Tôn, thân miệng ý liền thanh tịnh!
Phạm chí lại thưa:
- Xin đức Thế Tôn truyền trao giới pháp. Con nguyện trọn đời phụng hành, không dám trái phạm!
Phật nói với Phạm chí:
- Ông đã nhất tâm thụ Tam qui rồi. Bấy giờ ta sẽ vì ông và chúng sinh trong mười phương, mà bảo trời Đế Thích sai chúng quỉ thần hộ vệ những thiện nam tín nữ thụ trì Tam qui.
Phạm chí liền bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Việc này thế nào? Con xin được nghe, hầu chỉ cho người thụ Tam qui trong mười phương được biết?
Phật đáp:
- Thiện thần quán đỉnh có ba mươi sáu vị. Nay Như lai sẽ nêu lên cho ông rõ.
1. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Bất-la-bà (Hán dịch Thiện Quang), chủ về bệnh tật.
2. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Bà-ha-sa (Hán dịch Thiện Minh), chủ về bệnh đau đầu.
3. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Sa-la-ba (Hán dịch Thiện Lực), chủ về bệnh nóng lạnh.
4. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Chiên-đà-la (Hán dịch Thiện Nguyệt), chủ về bệnh sình bụng.
5. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Đà-lợi-sa (Hán dịch Thiện Hiện), chủ về bệnh ung nhọt phù thũng.
6. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Ha-lâu-ha (Hán dịch Thiện Củng), chủ về bệnh điên cuồng.
7. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Già-sa-đế (Hán dịch Thiện Xả), chủ về ngu si.
8. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Chí-nê-xỉ (Hán dịch Thiện Tịch), chủ về sân hận.
9. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Đề-bà-tát (Hán dịch Thiện Giác), chủ về dâm dục.
10. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Đề-ba-la (Hán dịch Thiện Thiên), chủ về tà ma.
11. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu A-bà-đế (Hán dịch Thiện Trụ), chủ về thương vong.
12. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Bất-nhã-la (Hán dịch Thiện Phúc), chủ về mồ mả.
13. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Bật-xà-già (Hán dịch Thiện Thuật), chủ về bốn phương.
14. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Già-lệ-bà (Hán dịch Thiện Đế), chủ về oan gia.
15. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu La-xà-giá (Hán dịch Thiện Vương), chủ về trộm cắp.
16. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Tu-càn-đà (Hán dịch Thiện Hương), chủ về chủ nợ.
17. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Đàn-na-ba (Hán dịch Thiện Thí), chủ về giặc cướp.
18. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu-chi-đa-na (Hán dịch Thiện Ý), chủ về dịch bệnh.
19. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu La-bà-na (Hán dịch Thiện Hỷ), chủ về ngũ ôn.
20. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Tam-bát-ma (Hán dịch Thiện Sơn), chủ về việc chết nước.
21. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Tam-ma-đà (Hán dịch Thiện Điểu), chủ về chú liên.
22. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Lệ-đế-đà (Hán dịch Thiện Bị), chủ về chú phục.
23. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Ba-lợi-đà (Hán dịch Thiện Phóng), chủ về dẫn dắt.
24. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Ba-lợi-na (Hán dịch Thiện Tịnh), chủ về bè đảng xấu ác.
25. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Kiền-già-địa (Hán dịch Thiện Phẩm), chủ về độc dược.
26. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Tì-lê-đà (Hán dịch Thiện Kết), chủ về sợ hãi.
27. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Chi-đà-na (Hán dịch Thiện Thọ), chủ về những việc nguy nan.
28. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Già-lâm-ma (Hán dịch Thiện Du), chủ về việc sinh sản.
29. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu A-lưu-già (Hán dịch Thiện Nguyện), chủ về huyện quan.
30. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Xà-lợi-đà (Hán dịch Thiện Nhân), chủ về miệng lưỡi.
31. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu A-già-đà (Hán dịch Thiện Chiếu), chủ về những việc sầu não.
32. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đàu A-ha-sa (Hán dịch Thiện Sinh), chủ về những việc bất an.
33. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Bà-hòa-la (Hán dịch Thiện Chí), chủ về những điều quái dị.
34. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Ba-lợi-na (Hán dịch Thiện Tạng), chủ về những việc đố kị.
35. Tứ thiên thượng khiển thần Di-lật-đầu Điều-đà-na (Hán dịch Thiện Âm), chủ về nguyền rủa.
36. Tứ thiên thựợng khiển thẫn Di-lật-đầu Vi-đà-la (Hán dịch Thiện Diệu), chủ về tà thuật cầu cúng quỉ thần.
Phật nói vớỉ Phạm chí:
- Đó là ba mươi sáu bộ thần vương. Những thiện thần này có vạn ức hà sa quỉ thần quyến thuộc, luôn âm thầm thay nhau bảo hộ những thiện nam tín nữ thụ trì Tam qui. Vì vậy, chỉ cần ghi tên thần vương đeo vào thân thì đến đi ra vào không còn sợ hãi, tránh được tà ác, tiêu trừ điều bất thiện.
Phạm chí đáp:
- Vâng, bạch đấng Thiên Trung Thiên!
87.3.4. Ý nghĩa qui y
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Trưởng giả Thiện Sinh bạch Phật:
- Theo lời Thế Tôn dạy, nếu có người đến xin, trước tiên phải khuyên thụ Tam qui sau đó mới bố thí cho họ. Vì sao? Tam qui là gì?
Phật dạy:
- Này thiện nam tử! Muốn diệt khổ, đoạn trừ phiền não, được niềm vui tịch diệt vô thượng thì phải thụ Tam qui. Tam qui là qui y Phật, qui y Pháp và qui y tăng. Phật là bậc thuyết nhân phá trừ phiền não được chính giải thoát. Pháp là nhân phá trừ phiền não, đưa đến giải thoát chân thật. Tăng là người thực hiện nhân phá trừ phiền não, được chính giải thoát.
Có người cho rằng nếu như vậy thì chỉ là “nhất qui”. Nghĩa này không đúng. Vì sao? Vì Như Lai ra đời hay không ra đời thì chính pháp vẫn luôn hiện hữu, nhưng không có người nhận được. Khi Như Lai ra đời thì có người nhận được chính pháp, cho nên phải qui y Phật. Như Lai ra đời hay không ra đời thì chính pháp vẫn luôn hiện hữu, nhưng không có người giữ gìn. Còn khi Như Lai ra đời thì chính pháp có người giữ gìn, cho nên phải qui y Pháp. Như Lai ra đời hay không ra đời thì chính pháp vẫn luôn hiện hữu, nhưng không có người lãnh thụ, nhưng khi Như Lai ra đời, thì chính pháp được chúng đệ tử Phật lãnh thụ, thế nên phải qui y tăng. Đạo chân chính giải thoát gọi là pháp. Không thầy chỉ dạy mà tự mình giác ngộ gọi là Phật. Người thụ trì đúng pháp gọi là tăng. Nếu không qui y Tam bảo thì sao nói có bốn niềm tin bất hoại”.
Trong luận Tát-bà-đa có người hỏi:
- Thế nào là qui? Thế nào là thú?
Đáp: Qui là một phần nhỏ của Diệt đế và Đạo đế; thủ là ngôn luận. Cũng có thuyết cho rằng thủ là tâm phát khởi ngôn luận. Lại có thuyết cho rằng thú là tin nhận giáo pháp này.
Hỏi: Qui là qui y sắc thân hay qui y pháp thân?
Đáp: Qui y pháp thân.
Hỏi: Nếu vậy, tại sao hủy hoại sắc thân Phật lại phạm trọng tội?
Đáp: Sắc thân là nơi ẩn chứa pháp thân, nếu phá hoại sẽ phạm trọng tội.
Hỏi: Qui y Phật là chỉ qui y một vị Phật, hay là thông cả chư Phật ba đời?
Đáp: Chư Phật đồng một pháp thân cho nên qui y tất cả, không chỉ qui y một Đức Phật Thích-ca. Tuy chỉ nêu một vị Phật làm biểu tượng, nhưng khi phát nguyện, theo lí phải qui tất cả chư Phật. Qui y pháp và tăng, về lí cũng qui y tất cả.
Hỏi: Cảnh giới Phật pháp vô lượng vô số. Vì sao chỉ nói qui y Phật, pháp và tăng mà không thêm hoặc bớt?
Đáp: Nếu bỏ ba mà nói cảnh thì cảnh vô lượng; nếu bỏ cảnh mà nói ba thì ba gồm thâu tất cả. Vì thế nói tam qui là bao trùm pháp giới.
Luận Đại trang nghiêm kinh ghi: “Ta từng nghe, thuở xưa, có một vị tì-kheo thường bị mất trộm. Hôm nọ, mặc dù vị tì-kheo đã đóng chặt cửa, nhưng tên trộm lại đến gõ cửa gọi. Vị tì-kheo liền nói:
- Nhìn thấy ông là tôi hoảng sợ. Vì vậy ông hãy đưa tay qua cửa sồ, tội sẽ đưa đồ vật cho.
Tên cướp bèn đưa tay qua cửa sổ. Vị tì-kheo liền lấy dây trói tay hắn vào cây cột, rồi cầm gậy ra mở cửa đánh tên cướp một gậy và bảo nói theo: ‘Qui y Phật!’. Tên cướp sợ hãi vội vàng nói theo: ‘Qui y Phật’. Vị tì-kheo đánh gậy thứ hai, bảo nói tiếp: ‘Qui y Pháp’. Tên cướp sợ chết nên nói theo: ‘Qui y pháp’. Đánh gậy thứ ba, vị ti-kheo lại bảo nói: ‘Qui y tăng’. Tên cướp sợ quá vội nói theo: ‘Qui y Tăng’. Lúc ấy hắn suy nghĩ: ‘Không biết đạo nhân này có bao nhiêu qui y đây? Nếu nhiều thì chừng nào ta mới được tha!’. Toàn thân đau đớn, tên cướp bèn xin xuất gia. Bây giờ, có người hỏi tên cướp:
- Trước đây huynh là tên cướp, làm nhiều việc xấu, vì sao nay lại xuất gia tu đạo?
Vị ấy đáp:
- Tôi thấy được lợi ích của Phật pháp nên mớỉ xin xuất gia. Nhờ trước đây tôi gặp được thiện tri thức đánh tôi ba gậy và bảo đọc Tam qui, may là ít nên tôi vẫn còn sống. Đức Như Lai là bậc Nhất Thiết Trí, nếu ngài dạy đệ tử tứ qui y thì mạng sống của tôi đã không còn. Đức Phật biết trước sự việc này nên bảo tì-kheo đánh ba gậy để tôi giữ được mạng sống. Vì thế ngài chĩ dạy Tam qui chứ không nói tứ qui.
87.3.5. Thụ giới pháp
Theo Luận Tì-ni mẫu thì tam qui có năm trường họp: Phiên tà, năm giới, tám giới, mười giới, đại giới.
(Năm giới tam qui, tám giới tam qui và mười giới tam qui thì theo văn thụ giới ở sau sẽ tự rõ. Còn đại giới tam qui, là thời gian đầu khi độ chúng, Phật chưa chế pháp yết-ma, có người chỉ thụ Tam qui là đã đắc giới, có người Phật chỉ nói “thiện lai ” liền thành tì-kheo. Nay trong tông này chỉ nói chúng sinh tin theo tà thuyết lâu ngày, hôm nay vừa chuyển tâm qui y chính pháp, nên Phật dạỵ trước hết phải cho thụ Tam qui, sau đó mới sám hối. Đây gọi là phiên tà tam qui. Vì thê luận Trí độ ghi: “Trước tiên cho thụ Tam qui, sau đó mới sám hối. Nếu người có niềm tin Phật pháp đã lâu thì không cần thụ Tam qui trước, chỉ y theo trường hợp năm giới tam qui, tám giới tam qui. Nghĩa là trước phải sám hối, kế đến cho thụ Tam qui, sau đó mới thuyết giới tướng”),
Theo luận Trí độ, khi muốn thụ giới cần phải đầy đủ oai nghi đến trước một vị xuất gia cầu thụ. Bấy giờ giới sư phải giảng hai pháp thiện và ác, giúp họ nhận rõ để cải tà qui chính, tâm được khai mở, sau đỏ mới trao giới pháp. Giới sư bảo giới tử đọc theo mình:
Con tên là... nguyện suốt đời qui y Phật, qui y pháp, qui y tăng (đọc ba lần). Con tên là... nguyện suốt đời qui y Phật rồi, qui y Pháp rồi, qui y tăng rồi (đọc ba lần). Vừa thụ tam qui là đã sinh .pháp lành. Khi nói tam kết xong thì chỉ có thân khẩu vô giáo. Cho nên luận Tát-bà-đa ghi: “Nếu lãnh thụ bằng tâm tha thiết thì có đủ giáo và vô giáo. Nếu lãnh thụ với tâm khinh mạn thì chỉ có giáo, không có vô giáo (ở đây nói giáo và vô giáo cũng như nói tác giới và vô tác giới vậy).
87.3.6. Được và không
Luận Tát-bà-đa ghi:
Hỏi: Thụ qui giới thay cho người khác, người đó có đắc qui giới không?
Đáp: Có trường hợp được, có trường hợp không được. Như ở nước Ca-thi có cô gái câm, nếu có người thụ tam qui thay, thì cô ấy cũng đắc. Trái lại, trường hợp thụ thay cho người nói được thì không đắc giới.
Kinh Đại tập ghi: “Nếu có phụ nữ mang thai sợ thai nhi không an, thì nên thụ tam qui, thai nhi sẽ được an ổn. Đứa bé sinh ra thân tâm đầy đủ, có thiện thần bảo hộ”.
Hỏi: Tổng và biệt thì thế nào?
Đáp: Cả hai trường hợp đều được!
Cho nên, luận Thiện Kiến ghi: “Thụ tam qui có hai trường hợp:
1. Biệt thụ: y thẹo nghi thức sau: Con tên là...xin qui y Phật, qui y Phật rồi. (qui y pháp và tăng cũng đọc như vậy).
2. Tổng thụ: Cũng theo nghi thức trên.
Khi truyền giới, giới sư bảo đọc “qui y Phật”, đệ tử lại đọc “qui y Phất”. Vì đọc không đúng, nên không đắc giới. Nếu giới sư và đệ tử đều đọc không đúng thì không thành tựu tam qui. Nếu giới sư bảo đọc “qui y Phật”, đệ tử đọc theo y như vậy thì mới thành tựu tam qui. Trường hợp vị đệ tử đọc không ra tiếng, hoặc đọc không đầy đủ theo giới sư, hay không xưng tên của mình thì đều không thành tựu tam qui. Nếu giữa hai đất nước ngôn ngữ bất đồng, nên thầy trò không hiểu nhau, cũng không thành tựu tam qui. Nếu giới sư mượn sự vật để dạy mà đệ tử hiểu được, thì qui y mới thành. Thí như dân tộc Di thường sát sinh. Giới sư cầm con dao diễn đạt theo với ý dạy: ‘‘Từ nay về sau, ông không được sát sinh như vậy. Ông giữ giới này được không?”. Dân tộc Di hiểu được và gật đâu đáp lạỉ, thì việc thụ giới cũng thành tựu.
Hỏỉ: Thứ tư trước sau thế nào?
Đáp: Theo luận Tát-bà-đa, nếu đệ tử xưng pháp trước, xưng Phật sau thì không thành tựu Tam qui, vì khác với thứ tự Tam bảo. Đối với người ngu si, thiếu hiểu biết, không cố ý nói sai thứ tự, tự thân không có tội, thì tam qui cũng thành tựu. Nếu đã biết trước, nhưng cố tình nói đảo lộn thì phạm tội, dẫn đến không thành tựu tam qui..
Hỏi: về các cõi chúng sinh thì thế nào?
Đáp:
- Luận Tảt-bà-đa ghi: “Về các cõi thì chúng sinh trong năm đường đều được thụ tam qui, trừ chốn địa ngục tội nặng. Còn chúng sinh những nơi như núi non, gốc cây, đồng vắng, bờ biển hay trong địa ngục tội nhẹ, đều được phép thụ qui y, nhưng không thụ giới pháp.
Luận Thành thật ghi:
Hỏi: Chúng sinh trong nẻo khác có được thụ giới luật nghi không?
Đáp: Được! Vì trong kinh có nói loài rồng cũng được thụ giới một ngày.
Luận Thiện kiến ghi:
Hỏi: Thần, rồng v.v... được thụ tam qui, ngũ giới không?
Đáp: Theo luận Tát-bà-đa, do nghiệp báo nên loài rồng và các loài súc sinh khác không hiểu biết vì vậy mà thụ giới không thành. Tuy trong kinh nói những loài này được thụ bát quan trai, nhưng chỉ tăng trưởng việc thiện, chứ không thành trai giới. Trong luật Tứ phần nói rồng được thụ tam qui. Như anh em thương buôn v.v... chỉ được thụ phiên tà Tam qui chứ không được thụ giới. Trong luật nói, rồng và chúng quỉ thần được thụ tam qui, vì những rồng thần này hiểu lời nói của người, biết được ý nghĩa, nên mới cho thụ giới, còn những loài ngu si như heọ, dê, mọt, hến... đều không cho thụ tam qui.
Hỏi: Tam qui có được đốn thụ và tiệm thụ không?
Đáp: Theo luận Tát-bà-đa, đốn thụ và tiệm thụ đều không được.
Hỏi: Vậy thì vì sao trong kinh và luận đều nói đến nhất ngữ, nhị ngữ ưu-bà-tắc?
Đáp: Đó là theo phép tắc đã định trước đây, sau này thì không chấp nhận.
Hỏi: Có thể theo vị giới sư thứ nhất thụ qui y Phật, theo vị thứ hai qui y pháp, theo vị thứ ba qui y tăng được không?
Đáp: Không được!
Hỏi: Được phép lãnh thụ tam qui trong thời gian một năm, hoặc hai năm không?
Đáp: Tùy theo ngày nhiều ít, đều được thụ.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
12/01/2016
PUCL QUYỂN 100 - CHƯƠNG TRUYỆN KÍ
QUYỂN 100 Quyển này có một chương Truyện kí. 100. CHƯƠNG TRUYỆN KÍ 100.1. LỜI DẪN Từng nghe: kinh điển của chín nhà chất đầy tại Linh Khâu, sách về phép tắc trong thiên hạ chất kín ở Quần Ngọc, lại cũng có văn khắc trên...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 99 - CHƯƠNG TẠP YẾU
QUYỂN 99 Quyển này có một chương Tạp yếu. 99. CHƯƠNG TẠP YẾU 99.1. LỜI DẪN Lí thể lìa âm thanh, nhưng nhờ vào ngôn từ để biểu ý nghĩa. Ngôn từ không dấu vết, nhưng nương vào văn tự để diễn phát âm thanh. Cho nên văn tự l...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 98 - CHƯƠNG PHÁP DIỆT
QUYỂN 98 Quyển này có một chương Pháp diệt. 98. CHƯƠNG PHÁP DIỆT 98.1 LỜI DẪN Trộm nghĩ: Chính pháp tượng pháp đã qua, giáo pháp chuyển sang thời mạt. Bởi người có tà chính, nên pháp cũng có lúc suy vi. Có người nương và...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 97 - CHƯƠNG TỐNG CHUNG
ỌUYỂN 97 Quyển này có một chương Tống chung. 97. CHƯƠNG TỐNG CHUNG 97.1. LỜI DẪN Bốn đại là đồ chứa chất độc, đầy dẫy dơ uế; sáu tên giặc là bọn chủ cuồng loạn, luôn tham đắm ngoại cảnh, không có ngày biết ngược dòng sin...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 96 - CHƯƠNG XẢ THÂN
QUYỂN 96 Quyển này có một chương Xả thân. 96. CHƯƠNG XẢ THÂN 96.1. LỜI DẪN Tính của sắc vô hình, thì xúc cũng sẽ trở về không; ba thời hư giả thì tám vi cuối cùng cũng tan hoại. Tuy có uy lực làm chuyển càn khôn, rốt cuộ...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 95 - CHƯƠNG BỆNH KHỔ
QUYỂN 95 Quyển này có một chương khổ. 95. CHƯƠNG BỆNH KHỔ 95.1. LỜI DẪN Ba cõi mênh mông, sáu đường đông đúc, tất cả các loài chúng sinh đều nhờ vào bốn đại phò trì, năm căn tạo thành hình thể. Thế nên, khi bốn đại tích...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 94 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT
QUYỂN 94 Quyển này gồm chương Uống rượu ăn thịt (tiếp theo), chương uế trược. 93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT (tt) 93.4. CẢM ỨNG 93.4.1. Đời Hán, Lạc Tử Uyên: Vào niên hiệu Hiếu Xương đời Hán, dũng sĩ Lạc Tử Uyên, người Lạc...
11/01/2016
PUCL QUYỂN 93 - CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT
QUYỂN 93 Quyển này có một chương uống rượu ăn thịt. 93. CHƯƠNG UỐNG RƯỢU ĂN THỊT 93.1. LỜI DẪN Uống rượu là mở toang cánh cửa buông lung, các Đức Phật biết rõ đó là gốc khổ. Vì thế nên tránh những quán rượu, lìa bỏ những...
