Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 86 - CHƯƠNG SÁM HỘI

01/01/2016

QUYỀN 86 Quyển này có một chương Sám hối 86. CHƯƠNG SÁM HỐI 86.1. LỜI DẪN Kính nghĩ: Mặt trời Phật sắp lặn, chính pháp và tượng pháp đã dần qua, lòng người gian trá, thói đời bạc bẽo. Bởi cách Đức Phật một nghìn bảy trăm...

PUCL QUYỂN 86 - CHƯƠNG SÁM HỘI
Phần 1

QUYỀN 86
Quyển này có một chương Sám hối
86. CHƯƠNG SÁM HỐI

86.1. LỜI DẪN
Kính nghĩ: Mặt trời Phật sắp lặn, chính pháp và tượng pháp đã dần qua, lòng người gian trá, thói đời bạc bẽo. Bởi cách Đức Phật một nghìn bảy trăm năm, nên tâm tính chúng sinh mờ mịt, căn lành cạn mỏng; lại thêm chính pháp suy yếu, tà kiến tăng trưởng, bên trong không có thắng giải, thường bị ngũ cái trói buộc; bên ngoài mất nhân lành, nên bốn ma có cơ hội quấy phá. Do đó, chúng sinh buông lung theo ba độc, rong ruổi cùng sáu trần; đêm ngày phan duyên gây nên lầm lỗi; tạo nghiệp sát hại, tội ác chất chồng. Ngày nay tỉnh ngộ, cần phải chí thành sám hối. Nhưng nghi thức sám hối cần phải y cứ theo thánh giáo, về giáo thì có Đại thừa và Tiểu thừa; về tội thì có nặng nhẹ, thông tắc không đồng, khai già sai khác. Vì vậy, trước tiên dẫn chứng rộng thánh giáo để nói pháp sám hối có thành tựu không. Đối với bảy chúng đã từng thụ các giới như năm giới, tám giới, mười giới, cụ túc giới, tam tụ tịnh giới. Nếu người phạm bốn giới trọng đầu của giới Thanh văn mà không che giấu thì sẽ y theo luật, khai cho sám hồi, nhưng phải sám hối suốt đời, không kì hạn thời gian. Nếu cố ý che giấu, theo luật, dù có sám hối, cũng không chấp huân.
Từ thiên thứ hai trở xuống, tùy theo phạm lỗi nặng hay nhẹ, có tâm che giấu hay không, chí cần biết tên tội và loại tội, y theo luật sám hối thì tội sẽ tiêu trừ. Điều này có nói đầy đủ trong giáo pháp, ở đây không trình bày hết. Nếu phạm Tam tụ tịnh giới Đại thừa, ngoài các tội tà kiến như hủy báng kinh điển Phương đẳng... là nghiệp sâu nặng, đánh mất giới thể dù chí thành sám hối, tội cũng khó tiêu trừ, cần phải khẩn cầu tha thiết, dốc hết lòng thành mới mong được thoát. Còn phạm những tội khác thì nhẹ, chỉ cần sám hối, sẽ được tiêu trừ.
Nay y cứ theo kinh Phương đẳng và kinh Phật danh, không luận là tặi gia hay xuất gia, nếu ai phạm giới Đại thừa hay Tiểu thừa, không biết tên và chủng loại tội đều cho sám hối. Chỉ có sám hối như vậy mới trừ được tộỉ chướng. Mong thoát khỏi tội lỗi, muốn đến chỗ cao xa cần phải ngưỡng cầu Đức Phật. Đây là việc lớn không được xem thường. Nếu không thông đạt thánh giáo thì không biết lấy gì để tiêu tội. Biết tội thật là vọng, nhiễm tịnh rỗng rang, tâm cảnh khai họp, luôn giữ tâm ý, không được phan duyên thì tộỉ mới tiêu trừ.
86.2. DẪN CHỨNG
Kinh Tối diệu sơ giáo ghi: “Phật nói với ngài Xá-lợi-phất:
- Ta nhớ thuở xưa, có tì kheo Hân Khánh phạm bốn tội trọng liền đến trước chúng tăng, ăn năn sám hối suốt chín mươi chín đêm. nhờ thế tội nghiệp tiêu trừ, khôi phục giới thể, như lúc mới thụ. Như người chuyển cây đến trồng nơi khác, chẳng những cây không chết mà ngày càng cao lớn sum suê. Người phá giới mà biết sám hối cũng như thế. Bấy giờ, tì-kheo ấy tự biết mình phạm tội, sinh tâm hổ thẹn, nồ lực tu tập khổ hạnh, trải qua bảy năm, liền chứng được quả vị A-la-hán. Khi Đức Thế Tôn thuyết phẩm này, năm trăm tì-kheo phá giới nhờ sinh tâm hổ thẹn mà giới thể khôi phục như xưa”.
Kinh Đại trang nghiêm ghi: “Người có hiểu biết tuy phạm giới, nhưng không bao lâu giới thể sẽ phục hồi. Do vậy phải siêng năng học tập.
Thuở xưa, ta từng nghe có một tì-kheo đa văn ở nơi thanh vắng. Bấy giờ, có một quả phụ thường lui tới nghe thầy thuyết pháp. Không bao lâu tì-kheo này khởi tâm ái nhiễm với quả phụ. Do tâm ái nhiễm nên tất cả pháp lành dần dần yếu kém, liền bị tâm phàm phu và kết sử sai kiến, nên thầy ấy ước hẹn sống cùng thiếu phụ. Cô ta nói:
- Nếu thầy chịu bỏ đạo hoàn tục, tôi sẽ ưng thuận!
Nghe vậy, vị tì-kheo liền hoàn tục. Nhưng sau khi hoàn tục, thầy ấy không chịu nổi những khổ cực ở thế gian, thân thể ngày càng gầy ốm, lại không có nghề nghiệp gì, chẳng biết làm cách nào ít phí sức mà thu lợi nhiều, bèn suy nghĩ: ‘Ta phải làm nghề gì để kiếm sống?’, liền nhớ chỉ có làm nghề mổ dê thuê là tốn sức ít mà cũng có chút tiền.
Nghĩ rồi, anh ta liền tìm đến lò mổ dê. Vì tâm phàm phu dễ gây nghiệp xấu ác nên mới khiến anh ta làm nghề này, lại còn kết bạn với con trai của đồ tể.
Một hôm, vị đạo nhân quen biết trước đây khất thực trên đường, trông thấy anh ta đang bán thịt, đầu tóc rối bời, mặc áo màu xanh, thân dính đầy máu như quỉ sứ chốn Diêm-la. La-sát cầm miếng thịt đầy máu, cân bán cho mọi người. Thấy vậy, vị đạo nhân thở dài suy nghĩ:
- Đức Phật dạy thật đúng! Tâm phàm phu luôn luôn loạn động, rất dễ đổi thay. Trước đây ta thấy người này siêng năng tu học, giữ gìn cấm giới, sao bây giờ lại làm việc này! Đạo nhân bèn nói kệ:
Ông không điều phục tâm
Buông lung tạo lỗi lầm,
Sao không biết hổ thẹn,
Lại bỏ pháp điều phục?
Oai nghi và cử chỉ
Mọi người đều thích nhìn
Chim muông và cầm thú
Thấy vẫn không kinh hãi
Đi sợ dẫm trùng kiến
Lòng từ thương chúng sinh.
Tâm bi mẫn như thế
Nay đã ở chỗ nào?
Phàm phu tâm không an định, nhưng nếu được kiến đế mới đáng gọi là sa-môn. Đạo nhân lại nói kệ:
Dũng mãnh tự xưng mình
Chính thật là sa-môn
Nhưng không biết điều tâm
Nên làm việc Cực ác:
Nói kệ xong, đạo nhân lại suy nghĩ:
- Nay ta phải dùng cách gì để giúp anh ta tỉnh ngộ? Phật dạy: ‘Nếu muốn giáo hóa người, trước phải dạy họ quán xét Tứ đế’. Nay ta sẽ nói cho anh ta về nguồn gốc tạo tội
Thế là, đạo nhân đến nói với anh ta:
- Hôm nay ông cân rất đúng!
Anh ta suy nghĩ: ‘Vị tì-kheo này không mua thịt, sao bảo ta cân rất chính xác liền nói kệ:
Vị này có lòng từ
Mới đến cứu độ ta
Như vị tì-kheo này
Đã lìa nghiệp buôn bán
Nhưng thấy ta tạo ác
Nên muốn đến cứu độ
Thật là bậc hiền thánh
Làm lợi ích cho ta.
Nói kệ rồi, anh ta liền nhớ lại những việc làm lúc còn là tì-kheo, đồng thời nghĩ đến trong kinh điển đã tụng: ‘Đây là sự tập hợp của khổ, đây là lỗi lầm của dục, là vị của dục’. Nhờ tư duy như vậy, anh ta liền ném hết thịt và cân xuống đất, khởi tâm nhàm chán sinh tử, rồi gọi vị đạo nhân:
- Bạch đại đức! Bạch đại đức! Anh ta nói kệ:
Vị dục và lỗi dục
Thật là nhiều vô số
Tôi nhờ dây tàm quí
Buộc giữ cân trí tuệ.
Suy xét sự việc này
Phần 2

Tâm liền được thông đạt
Dục chẳng có lợi ích
Người ngu bị dục hại
Vì thế, từ hôm nay
Tôi quyết lìa bỏ dục
Đi đến gặp chư tăng
Xin xuất gia trở lại.
Nói kệ xong, anh ta từ bỏ những nghiệp ác ở thế tục, quyết chí xuất gia, tinh tiến tu tập và chứng quả vị A-la-hán.
Lấy việc này làm chứng, dù người phá giới phạm trọng tội nếu biết hồi tâm học đạo, tinh tiến tu tập thì tội được tiêu trừ. Chiếu theo lí thì cần phải tinh chuyên, khởi tâm dũng mãnh không tiếc thân mạng, luôn tự xét mình không khởi tà niệm, lập thệ nguyện lớn không giới hạn kiếp số, dù đến tận đời vị lai cũng nguyện độ thoát, dứt khổ ban vui cho tất cả chúng sinh, biết tâm vọng động, xa lìa trần cảnh, ngăn ngừa nghiệp mới, dứt trừ nghiệp cũ. Được vậy, dù có phạm những tội trọng, cũng có thể thành nhẹ. Nghiệp ác tuy nặng không bằng thiện tâm”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Ví như gom cả nghìn bông vải cũng không thể sánh bằng một lạng vàng ròng. Như đem một thăng muối bỏ vào sông Hằng, nước vẫn không mặn. Từ đó cho thấy, nếu tâm năng quán mạnh thì tội nặng sẽ được tiêu trừ”.
Kinh Hư Không Tạng ghi: “Có các ưu-bà-tắc, ưu-bà-di phá năm giới, phạm bát quan trai giới; các tì-kheo, tì-kheo ni, sa-di, sa-di ni, thức-xoa-ma-na phạm bốn giới trọng; các bồ-tát tại gia phạm sáu giới trọng. Những kẻ ngu như thế, theo luật Phật chế trước kia thì quyết định trục xuất, vì như viên đá lấy lửa đã bị hư. Nhưng trong kinh này, Thế Tôn nói bồ-tát Đại Bi Hư Không Tặng có thể cứu tất cả khổ và nói chú diệt trừ Các tội lỗi. Vậy lấy gì để chứng minh có vị bồ-tát này?
Phật nói với ngài Ưu-ba-li:
- Có ba mươi lăm Đức Phật, đấng Đại bi cứu đời, ông phải nên kính lễ. Khi kính lễ phải đắp y tàm quí.
Như mắt bị mụt nhọt thật là xấu hổ, như người bệnh nan y phải làm theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc. Cũng vậy, ông phải biết khởi tâm hổ thẹn, từ một ngày đến bảy ngày đỉnh lễ mười phương Phật, xưng danh hiệu ba mươi lăm Đức Phật này và danh hiệu bồ-tát Đại Bi Hư Không Tạng. Trước lúc lễ sám phải tắm gội sạch sẽ, đốt các loại hương thơm như kiên hắc, trầm thủy. Khi sao vừa mọc, nên quì xuống chắp tay, cảm thương rơi lệ, xưng danh hiệu bồ-tát Hư Không Tạng và thưa:
- Bồ-tát đại bi đại đức! Xin Ngài vì thương xót con mà hiện thân!
Lúc ấy nên quán tưởng trên đỉnh bồ-tát Hư Không Tạng có hạt châu như ý, hạt châu này có sắc vàng tía. Nếu thấy được châu như ý là thấy được mũ báu. Trong mũ ấy có ba mươi lăm tượng Phật hiện. Trong hạt châu như ý có chư Phật mười phương hiện ra. Bồ-tát Hư Không Tạng cao hai mươi do-tuần, nếu hiện thân lớn thì đồng với thân bồ-tát Quán Thế Âm. Bồ-tát ngồi kết già, tay cầm châu như ý. Hạt châu này có công năng diễn thuyết tất cả pháp âm, khế hợp giới luật. Nếu cảm ứng được bồ-tát thương xót, sẽ hiện hình tướng tì-kheo và tất cả những hình tướng khác. Hoặc hiện ra trong giấc mộng, hoặc lúc tọa thiền, nếu được bồ-tát dùng châu ma-ni ấn lên cánh tay, trên dấu ấn có chữ “trừ tội”. Sau đó người này trở về trong tăng, thuyết giới như trước. Nếu ưu-bà-tắc nào được chữ này, sẽ không bị ngăn cản xuất gia. Nếu không được chữ này thì phải được nghe trong hư không có tiếng nói lớn: “Tội diệt! Tội diệt!’'. Nếu trong hư không vẫn không có tiếng nói ấy và là người biết tì-ni, thì mộng thấy bồ-tát Hư Không Tạng. Lúc này phải bạch:
- Bồ-tát Tì-ni! Con tì-kheo tên là..., con ưu-bà-tắc tên là...!
Bồ-tát liền dạy sám hối, từ một ngày cho đến bảy ngày, lễ ba mươi lăm danh hiệu Đức Phật. Nhờ từ lực của bồ-tát Hư Không Tạng mà tội người ấy được giảm nhẹ.
Nếu là người hiểu biết pháp thì bồ-tát dạy họ quét dọn nhà vệ sinh. Trải qua tám trăm ngày, mỗi ngày đều nhắc nhở:
- Ngươi đã làm những việc sai lầm, hôm nay phải hết lòng tẩy rửa tất cả nhà vệ sinh, không cần để mọi người biết! Sau khi làm xong, phải tắm gội sạch sẽ, xưng danh và đỉnh lễ ba mươi lăm Đức Phật và xưng danh bô-tát Hư Không Tạng; hướng về mười hai thể loại kinh, thành kính lễ lạy, trình bày những tội lỗi của mình. Sám hối như thế trong hai mươi mốt ngày.
Bấy giờ, người trí nên thỉnh các bậc tôn đức, đối trước tôn tượng Đức Phật đỉnh lễ ba mươi lăm Đức Phật, xưng danh bồ-tát Hư Không Tạng, bồ-tát Văn-thù-sư-lợi và các bậc bồ-tát trong Hiền kiếp, xin các ngài chứng minh cho sự sám hối này. Sau đó làm pháp yết-ma như lúc thụ giới. Nhờ nỗ lực sám hối, tội báo được tiêu trừ, không chướng ngại ba nghiệp bồ-tát. Phật lại bảo ưu-ba-li:
- Ông ghi nhớ giừ gìn pháp quán Hư Không Tạng này rồi phân biệt giảng thuyết cho các chúng, sinh không biết tàm quí, phạm nhiều lỗi lầm trong đời vị lai. Khi nói những lời này, sẽ thấy bồ-tát Hư Không Tạng ngồi kết già phóng ánh sáng màu vàng ròng. Trong hạt châu như ý hiện ra ba mươi lăm vị Phật.
Bồ-tát Hư Không Tạng bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Bảo châu như ý này của con từ Thủ-lăng-nghiêm sinh. Vì thế, chúng sinh nào thấy hạt châu này sẽ được tự tại như ý.
Bấy giờ Thế Tôn bảo Ưu-ba-li:
- ông giữ gìn kinh này, không được cho nhiều người giảng thuyết, chỉ dành cho người trì giới, khai mở mắt tuệ cho chúng sinh ngu tối ở đời vị lai. Chớ quên lời Ta!
Ngài Ưu-ba-li nghe Phật giảng thuyết, hoan hỉ phụng hành.
Kinh Phật danh ghi: “Bấy-giờ, Phật bảo Xá-lợi-phất:
- Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào phát tâm cầu quả vị Vô thượng bồ-đề, trước tiên phải sám hối tất cả tội chướng. Nếu tì-kheo phạm bốn tội trọng, tì-kheo ni phạm tám giới ba-la-di, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di ni phạm giới căn bản của người xuất gia, hoặc ưu-bà-tắc phạm giới trọng với ưu-bà-di, hoặc ưu-bà-di phạm trọng giới với ưu-bà-tắc, khi hành sám hối, phải tắm gội sạch sẽ, mặc áo mới, không ăn ngũ tân, ở nơi thanh vắng, dọn sạch nhà cửa, dùng hoa hương trang hoàng đạo tràng, lấv bùn thơm trét lên đất. treo bốn mươi chín lá phướn, trang trí tòa Phật, an vị tượng Phật, đốt hương, rải hoa. Lúc bấy giờ phải phát khởi lòng từ bi nguyện hóa độ những chúng sinh khổ chưa được độ. Luôn có tâm khiêm nhường đối với tất cả chúng sinh như tâm kẻ nô bộc. Nếu tì-kheo phạm bốn tội trọng ba-la-di, thực hành pháp sám hối như thế, trong bốn mươi chín ngày đêm, đối trước tám vị tăng thanh tịnh, tỏ bày tất cả tội lỗi; cứ bảy ngày một lần, chí thành khẩn thiết sám hối những lỗi mình đã tạo, nhất tâm qui kính mười phương chư Phật, xưng danh hiệu và lễ bái, tùy theo sức khỏe và thời gian thì mọi tội lỗi nhất định sẽ tiêu trừ.
Lúc người này được thanh tịnh, sẽ có những tướng lành xuất hiện, hoặc trong lúc thức hoặc trong giấc mộng, thấy được mười phương chư Phật thụ kí, hoặc thấy được bồ-tát thụ kí, hoặc các ngài đến đạo tràng làm bạn với mình, hoặc được bồ-tát xoa đầu. Được như vậy thì tướng tội được tiêu. Hoặc thấy mình đi vào pháp hội, được ở trong đại chúng, hoặc thấy mình thuyết pháp cho mọi người, hoặc thấy pháp sư, sa-môn thanh tịnh đến đạo tràng chỉ dạy như chư Phật.
Này Xá-lợi Phất! Nếu lúc tì-kheo sám hối tội lỗi mà thấy những tướng lành như vậy, thì tội người này sẽ được tiêu diệt, trừ những người không chí thành. Nếu tì-kheo ni sám hối tám tội ba-la-di cũng áp dụng như pháp sám hối của tì-kheo, mãn bốn mươi chín ngày sẽ được thanh tịnh, trừ người không có lòng chí thành. Nếu ưu-bà-tắc, ưu-bà-di sám hối phạm giới trọng, phải chí tâm cung kính Tam bảo. Nếu thấy sa-môn, phải cung kính lễ bái, khởi ý niệm khó được gặp, thỉnh đến đạo tràng, bày biện thức ăn và phẩm vật cúng dường. Thỉnh một vị tì-kheo mà mình hết lòng kính trọng đến đạo tràng, tỏ bày những tội mình đã phạm và chí thành sám hối trước vị này; chí tâm qui kính mười phương chư Phật, xưng danh hiệu và lễ bái. Trọn bốn mươi chín ngày như vậy, nhất định sẽ được thanh tịnh, trừ người không có lòng chí thành.
Xá-lợi Phất! Nếu có tì-kheo, tì-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di nào muốn sám hối các tội lỗi, trước tiên phải tắm gội sạch sẽ, mặc y phục mới, dọn dẹp phòng ốc, bày tòa cao đẹp an trí tượng Phật, treo bốn mươi chín lá phan, cúng dường các loại hoa hương, xưng tụng danh hiệu ba mươi lăm vị Phật, ngày đêm sáu thời sám hối. Mãn hai mươi lăm ngày, những vị này sẽ trừ được bốn trọng tội hoặc tám trọng tội v.v... Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni phạm thì cũng thực hành như trên.”.
Kinh Phương đảng Đà-la-ni ghi: “Bấy giờ, Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Sau khi Đức Thế Tôn nhập niết-bàn, nếu có tì-kheo phạm bốn tội trọng, tì-kheo ni phạm tám giới trọng, hay giới bồ-tát, hoặc sa-di, sa-di ni, hoặc ưu-bà-tắc, ưu-bà-di cũng phạm giới trọng, phải làm cách gì để trừ được tội lỗi?
Phật dạy:

Phần 3

- Hay thay Văn-thù! Chỉ có ông mới thưa hỏi những sự việc như thế. Vì ông có lòng từ bi vô hạn mới có thể hỏi điều này. Nếu ông không hỏỉ, Ta cũng không nói. Nay ông hãy lắng nghe! Ta sẽ giảng cho ông rõ! Sau khi Ta nhập niết-bàn, có tì-kheo xấu ác phạm bốn giới trọng mà mặc nhiên nhận phẩm vật cúng dường, không biết hối cải thì tì-kheo này nhất định phải chịu quả báo chốn địa ngục. Nay ta trao lương dược để cứu tì-kheo kia. Ông hãy lắng nghe thần chú này!
Li bà li bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà la li đế, ni ha la đế, tì ma li đế, sa ha.
Này Văn-thù-sư-lợi! Đà-la-ni này do không thể tính kể, không thể nói hết bảy Đức Phật quá khứ tuyên nói. Hiện tại số lượng bảy Đức Phật trong mười phương không thể tính đếm cũng đọc tụng đà-la-ni này cứu giúp chúng sinh. Đà-la-ni này giúp cho tì-kheo xấu ác ở đời vị lại an trụ vững chãi nơi thanh tịnh địa. Nếu có tì-kheo nào hủy phạm bốn giới trọng, nhưng chí tâm nghĩ tưởng và tụng một nghìn bốn trăm biến đà-la-ni này, sau đó sám hối, thỉnh một vị tì-kheo chứng minh, đối trước tôn tượng bộc bạch tội lỗi của mình, suốt tám mươi bảy ngày như vậy, thì các giới căn bản chắc chắn sẽ khôi phục và tâm A-nậu bồ-đề kiên cố.
Văn-thù-sư-lợi lại bạch Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Làm sao biết được đã đác giới thanh tịnh?
Thiện nam! Nếu trong mộng thấy được sư trưởng xoa đỉnh mình, hoặc thấy cha mẹ, bà-la-môn, các bậc lớn tuổi có đức độ cho thực phẩm, y phục, ngọa cụ, thuốc men, thì đã trụ trong giới thanh tịnh.
Nếu thấy được một tướng như vậy, nên đúng pháp nói cho sư trưởng biết, sẽ trừ được tội chướng.
Nếu tì-kheo ni phạm tám giới trọng, muốn trừ diệt, phải thỉnh một tì-kheo am tường nội ngoại luật, trình bày tội của mình. Tì-kheo nên như pháp mà chỉ dạy những điều nội ngoại luật đã ghi, đó là thần chú:
A lệ li bà kì la đế, la đế bà, ma la đế, ha ma la đế toa ha.
Thiện nam! Người nào thụ trì đọc tụng đà-la-ni này, như pháp tu hành, thì cứ tụng bốn mươi chín biến, sám hối một lần, suốt chín mươi bảy ngày như thế, theo sự chỉ dạy của sư trưởng. Nếu hành như vậy mà các nghiệp ác không tiêu trừ thì thật vô lí.
Nếu trong giấc mộng thấy những việc như trên, thì người kia đã được ở trong cõi thanh tịnh, đầy đủ giới thanh tịnh. Nếu sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tác, ưu-bà-di phạm các giới cấm, cũng nên thỉnh một vị tì-kheo am tường nội ngoại luật, đối trước hình tượng Phật hoặc tôn kinh Bát-nhã, tự trình bày tội với vị tì-kheo. Vị tì-kheo ấy cũng nên dạy pháp tịnh luật đã ghi:
Y già la đế, mộ già la đế, a đế ma la đế, uất già la đế, bà la đế bà, tọa la già kiệt đế, tọa la kiệt đế, đậu la xa kiệt đế, tì xa kiệt đế, li bà kiệt đế, bà la lệ a lệ, kì la lệ a lệ, trì la lệ a lệ, kì lan lệ a lệ, đề lan lệ a lệ, tì la lệ a lệ toa ha.
Này thiện nam! Như Lại vì thương xót tất cả chúng sinh mà nói thần chú này. Nếu sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di nào căn cơ thấp kém, cũng đọc tụng hành trì được. Cứ tụng bốn trăm biến thì một lần sám hối, lần lượt suốt bốn mươi bảy ngày như thế. Lúc sám hối, phải tự trình bày những tội lỗi đã phạm, tai nghe được những lỗi mình nói ra. Như trên đã nói, khi trong mộng thấy được những hình tướng ấy thì vị sa-di này đã an trụ trong cõi thanh tịnh, đầy đủ giới thanh tịnh.
Đức Phật bảo ngài Văn-thù-sư-lợi:
- Theo như ông nói, hành giả phải tu năm việc, để giữ gìn tính giới:
1. Không trái phạm nghĩa Đà-la-ni.
2. Không chê bai kinh Phương đẳng.
3. Không thấy lỗi người khác.
4. Không khen Đại thừa, không chê Tiểu thừa.
5. Không xa rời bạn tốt, thường ca ngợi những hạnh tốt của mọi người.
Lại phải thực hành năm việc để không mất tính giới:
1. Không nói điều mình thấy ở cõi trời.
2. Không nói những việc tốt xấu mà mình đă làm.
3. Mỗi ngày phải ba lần trét nền đất, rải hương hoa.
4. Mỗi ngày phải tụng một biến kinh.
5. Mỗi ngày một thời sám hối.
Lại có năm việc, từ tì-kheo cho đến cư sĩ phải thực hành, tức đã hộ trì giới:
1. Không cúng tế quỉ thần.
2. Không khinh chê quỉ thần.
3. Không phá miếu thờ quỉ thần.
4. Nếu có người cúng tế quỉ thần cũng không được khinh chê họ.
5. Cũng không được giao du với họ.
Lại có năm việc:
1. Không được giao du với người khinh chê kinh Phương đẳng.
2. Không được giao du với tì-kheo phá giới.
3. Không được giao du với ưu-bà-tắc phá năm giới.
4. Không được giao du với thợ săn.
5. Không được giao du với những người chuyên nói lỗi của tì-kheo.
Lại có năm việc:
1. Không được giao du với gia đình buôn bán thịt.
2. Không được giao du với gia đình làm nghề nhuộm.
3. Không được giao du với gia đình nuôi tằm.
4. Không được giao du gia với đình ép dầu.
5. Không được giao du với gia đình đào hang chuột.
Lại có năm việc:
1. Không được giao du với kẻ cướp.
2. Không được giao du với kẻ trộm.
3. Không được giao du với kẻ đốt trụ xứ của chúng tăng.
4. Không được giao du với kẻ trộm cắp vật dụng của chúng tăng.
5. Cũng không được giao du với kẻ trộm vật dụng của một vị tì-kheo.
Lại có năm việc:
1. Không được giao du với người nuôi heo, dê, gà, chó.
2. Không được giao du với người xem tinh tú
3. Không được giao du với dâm nữ
4. Không được giao du với với quả phụ
5. Không được giao du với gia đình bán rượu
Như vậy, có bảy trường hợp để một hành giả thực hành, hầu bảo vệ giới pháp.
86.3. THUẬN NGHỊCH
Người phạm bốn tội nặng và năm tội nghịch ác thì giống như thây chết giữa biển Phật pháp. Trong kinh luật Tiểu thừa người này bị xem như kẻ bị chém đầu. Người như vậy, luật không tha, dẫu có sám hối thì giới thể cũng không được như xưa. Nhưng trong kinh Đại thừa thì cho phép được gội rửa. Thí như chú nguyện cho cây khô đơm hoa kết trái trở lại. Tuy cho sám hối, nhưng phải phát tâm dũng mãnh hành trì giáo pháp, như người chết được sống lại, như việc làm của bậc đại sĩ, không bao giờ luống uổng. Lại luôn tu tập thân giới, tâm tuệ; thường biết hổ thẹn, thân tâm siêng năng. Tâm tưởng còn không thật thì tội đâu có tính nhất định?
Nay xin căn cứ theo hành nghiệp mà phân định thuận nghịch. Trong đó, tội phúc, thiện ác đều có hai loại.
Đầu tiên luận về thuận nghịch của nghiệp ác, đó là nghịch với niết-bàn, thuận với sinh tử.
Trình bày thuận nghịch của nghiệp ác, lược nói có mười loại tâm. Hành giả phạm tội phải biết tướng của nghiệp để lượng định sự việc mà hành trì.
1. Do vô minh điên đảo, phiền não mê hoặc, nên đối cảnh sinh tâm đắm trước, mê muội không tỉnh thức, nên tạo tội.
2. Nơi tâm đã mê muội, ngoại duyên lại bị bạn xấu xúi giục làm điều sai trái, tâm ác tăng mạnh, nên tạo tội.

Phần 4

3. Do nội tâm và ngoái duyên hội đủ, dẫn đến phá hoại tâm thiện của mình và của người khác, không có tâm tùy hỉ với những việc thiện, nên tạo tội.
4. Không biết tu thiện, chỉ làm theo điều ác, buông lung ba nghiệp, tạo đủ mọi Việc ác, cho nên gây tội.
5. Làm việc ác tuy không nhiều, nhưng tâm ác đã đầy dẫy, cướp tất cả niềm vui của người, đem đến khổ đau cho người, do đó tạo tội.
6. Trong tâm toàn là niệm ác, niệm ác luôn dấy khởi không lúc nào dừng, do đó tạo tội.
7. Che đậy vết nhơ, giấu đi tội lỗi, trong ôm lòng gian trá, ngoai hiện tướng hiền lương, nên tạo tội.
8. Thân thể tráng kiện nghĩ mình sẽ sống mãi, mặc sức làm ác không sợ nhân quả, vì vậy mà tạo tội.
9. Ngu si cứng đầu, hung dữ hỗn xược, không biết tàm quí, liêm sỉ, nên tạo tội.
10. Bác bỏ nhân quả, không tin căn lành, đoạn dứt căn lành, làm kẻ nhất-xiển-đề, không ai cứu giúp, nên mới tạo tội.
Mười tâm trên lấy vô minh làm căn bản. Việc ác tăng trưởng mãi, thành kẻ nhất-xiển-đề, thuận theo đường sinh tử, từ tối vào chỗ tối, dệt muôn ác nghiệp không có ngày ra. Đó gọi là tâm thuận nghịch vô minh. Người biết được sinh tử tội ác, được Phật từ bi thương xót cứu giúp, định ra pháp sám hối, mở cửa giải thoát, giúp thiện căn của họ sinh trưởng trở lại. Giống như vua lên triều, xá tội, hoãn hình, cho sám hối, tu thiện sửa ác.
Thuận nghịch của tâm thiện cũng có mười trường hợp. Phải siêng năng dụng tâm đối trị tội đã tạo, sau đó lập phép tác chuẩn mực, mỗi mỗi quán sát để diệt trừ. Đây chính là nền tảng lập hạnh sám hôi. Mười trường hợp:
1. Tin lí nhân quả, không mê lầm, đó là làm thiện được phúc, gây ác bị tội. Tuy không hiện tướng, nhưng quả báo không mất, tuy niệm niệm diệt nhưng nghiệp vẫn còn mãi. Tín là nguồn của đạo, trí là chủ thể vào đạo. Nhờ vậy trí và tín là nền tảng muôn thiện. Dùng chính tín này phá trừ tâm bât tín của hàng nhât-xiển-đề. Nhờ có tâm này mới có thể sám hối.
2. Điều cốt yết của việc sám tội là phải lấy hổ thẹn làm căn bản. Ta hổ vì tội này không được người khen, ta thẹn vì tội này không được trời ủng hộ. Đó chính là pháp lành, cũng là Đệ nhất nghĩa thiên của hành giả tu Tam thừa, là pháp thiện xuất thế. Chính nhờ tàm quí mà phá trừ được tâm xấu ác. Người có đây đủ tâm này mới có thể thực hành phép tắc sám hối.
3. Lo sợ vô thường. Mạng sống như bọt nước, một hơi thở ra không hít vào thì theo nghiệp lưu chuyển. Nhờ biết vô thường, nên ăn uống ngủ nghỉ cũng không ngăn ngại. Đó là vô thường diệt trừ được chấp thường, không sợ rơi vào đường ác.
4. Phát lồ sám hối tất cả tội lỗi nặng nhẹ của mình trước mọi người, nhờ vậy tội được tiêu trừ. Như cây bật gốc thì cành lá héo tàn. Đó là, phát lồ sẽ phá trừ tâm che giấu, hiển bày tâm thanh tịnh.
5. Chặt đứt tâm tương tục thì không còn tạo ác. Quyết chí dũng mãnh tợ như đao cứng và sắc bén. Nhờ tâm quyết định dứt ác mà phá trừ tâm tương tục xấu ác.
6. Phát tâm bồ-đề giúp trừ tất cả khổ, ban tất cả niềm vui cho chúng sinh. Nhờ tâm bồ-đề rộng lớn mà diệt trừ được tâm ác rộng lớn.
7. Tu công đức, sửa tội lỗi, tinh tấn răn nhắc giữ gìn ba nghiệp. Đó là tu công lập đức, nên phá được tâm ác không tu ba nghiệp.
8. Bảo vẹ chính pháp, không theo ngoại đạo thầy tà phá hoại Phật pháp. Nguyện xiển dương rộng lớn khiến Phật pháp trường tồn. Đó là do bảo vệ Phật pháp mà phá trừ tâm niệm xấu ác.
9. Nhớ nghĩ đến vô lượng công đức, thần thông trí tuệ của chư Phật ở khắp mười phương, mong các ngài luôn gia hộ, thương xót, cứu khổ cho ta, ban cho ta thuốc hay để dứt trừ tội chướng, tâm được thanh tịnh. Đây là phá trừ tâm nghĩ nhớ đến ác tri thức.
10. Quán tính tội vốn không, tội từ tâm sinh. Nếu tâm đã có thì tội chẳng thể không, tâm đã rỗng không, tội từ đâu có.
Thiện tâm cũng vậy, tội phúc không có chủ thể, chẳng trong chẳng ngoài, cũng chẳng ở giữa, vốn không thật có, chỉ là danh tự. Cái gọi là tâm chỉ là danh tự, gọi là tội phúc cũng chỉ là danh tự. Danh tự tức không, phản bản hoàn nguyên, rốt ráo thanh tịnh. Đây là quán tội tính không, phá trừ tâm vô minh điên đảo chấp trước, Nếu vô minh diệt thì các hành diệt, hành diệt thì sinh tử diệt, dẫn đến gốc đại thụ mười hai nhân duyên đổ gãy. Cũng gọi là nhân quả trói buộc khổ và tập được tháo bỏ, nhân quả giải thoát đạo và diệt được hiển bày. Đó là Phương đẳng quán tuệ, như mặt trời mặt trăng chiếu soi. Chúng sinh gặp ân đức lớn này sẽ được thấy mười phương Phật. Đại ý này, trong kinh đã trình bày đầy đủ.
86.4. DUNG THÔNG CÁC NGHĨA
Hỏi: Trong kinh nói sám hối sẽ diệt được tội. Nhưng vì sao lại nói “quán lí đạt được tâm mới diệt được các nghiệp”?
Đáp: Sám hối có hai trường hợp:
1. Mê tâm thì theo sự để hành sám hối. Đó là phải tụng kinh, lễ lạy, phát nguyện trước tượng Phật, mong câu tiêu trừ việc ác đã tạo.
2. Đạt được tâm thì theo lí mà sám hối. Đó là quán sát thân tâm để đoạn trừ các kết sừ.
Dù vậy, nghiệp mình tạo có nặng có nhẹ. Nếu nghiệp nhẹ thì sám hối theo sự, tội cũng diệt. Nếu nghiệp nặng, sám hối cũng có thể chuyển thành nhẹ. Như tạo nghiệp rơi vào ba đường ác, sám hối có thể chuyển sinh vào cõi người chịu tội nhẹ.
Luận Thập trụ bà-sa ghi: “Như Lai dạy:
- Nếu sám hối thì tội sẽ nhẹ, lại chỉ chịu tội trong chốc lát".
Nên biết, sám hối theo sự thì chuyển tội nặng thành nhẹ, dẫn đến thụ quả báo bất định. Nhưng do chưa đoạn trừ kết sử và hữu lậu vi tế, nên nghiệp cũ không thể đoạn tận. Vì thế đời sau nhất định chịu quả báo, chằng phải hoàn toàn bất định. Cho nên nay chỉ nói nương về quán lí đoạn trừ kết sử, không còn nghiệp phiền não nhuận sinh. Tùy theo sự đoạn trừ mà nghiệp cũ sẽ đoạn sạch và nghiệp hiện tại cũng không chiêu cảm thụ sinh, Như vậy thì nghiệp thiện ác đã tạo ở quá khứ và hiện tại mới là nhân cuối cùng dẫn đến quả báo bất định.
Nay căn cứ vào nghĩa này, nên chỉ trình bày một khía cạnh mà thôi. Nếu người trí muốn đoạn trừ nghiệp ba đường dữ đã tạo ở quá khứ và hiện tại, thì nên tu theo pháp quán lí, sẽ thoát khỏi nẻo ác. Cho nên người chứng Sơ quả gọi là Đê trái.
Nhiếp luận ghi: “Nếu không có khổ thì vô minh và các hành không sinh. Nếu hành đã sinh khởi mà không tu đạo thì vô minh và các hành không tiêu. Vì sao? Vì người chứng quả Tu-đà-hoàn sẽ không tạo nghiệp chiêu cảm thụ báo đời sau. Người chứng quả A-na-hàm không bị quả báo thụ sinh hạ giới.
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Nếu người đã tạo nghiệp sinh vào cõi Dục mà chứng quả A-na-hàm thì có thể chuyển nghiệp báo đời sau, trả ngay trong hiện tại. Người chứng quả A-la-hán cũng vậy”. Thế nên biết, quán lí chính là chân sám hối. Kinh Hoa nghiêm có kệ tụng:
Hết thảy biển nghiệp chướng
Đều do vọng tưởng sinh
Nếu ai muốn sám hối
Phải cầu chân thật tướng.
Kinh Đại bảo tích ghi: “Dù nghiệp đã gieo kết từ trăm ngàn vạn kiếp lâu xa, nhưng biết tu Nhất thật quán liền tiêu trừ tất cả”.
Kinh Chư pháp vô hành ghi: “Nếu bồ-tát thấy tính chúng sinh tức là tính niết-bàn, thì diệt trừ được tất cả nghiệp chướng”.
Kinh Phổ Hiền bồ-tát ghi: “Quán tâm vốn không có tâm, chỉ do vọng tưởng điên đảo sinh khởi; tướng tâm như vậy từ vọng tưởng sinh, như gió giữa hư không, đâu có chỗ nương gá. Nên biết, chấp tính tướng thiện ác là do chưa ngộ lí, đều là vọng nghiệp. Nếu ngộ lí rồi, nghiệp trước sẽ đoạn diệt. Không có pháp nào trụ, nên không chiêu cảm thụ sinh. Lúc quán lí, phải tư duy các nghiệp chướng vốn rỗng lặng, đồng một chân tính với chư Phật, không khác với pháp giới hàng sa vạn đức. Chỉ vì vô minh sâu dày không nhìn thấy; vì không thấy, nên đối trước Đức Phật mà phá giới trái đạo, phạm đủ các tội ngũ nghịch, thập ác. Ví như có một gia đình mời phàm tăng và thánh tăng đến cúng dường. Bấy giờ, có nhiều người mù vì không thấy gì, nên làm những việc xấu ác trước chúng tăng. Người trí thấy vậy sinh lòng thương xót, nói với bọn họ:
- Nơi đây hiện diện đầy đủ chúng tăng phàm thánh. Vì sao các ông ngang nhiên làm ác?

Phần 5

Nghe vậy, những người mù lo sợ và hổ thẹn, lạy tạ hối lỗi rồi thưa:
- Kính bạch chư tăng! Chúng đệ tử thật vô phúc, từ nhỏ đã mù lòa. Tuy cùng ở một nhà với quí ngài mà chúng con không trông thấy, nên đã tạo nhiều tội lỗi! Nay nhờ có thiện hữu chỉ dạy mới biết được. Chúng con vô cùng hổ thẹn và lo sợ. Nay chúng con đến trước quí ngài xin sám hối, cầu mong quí ngài chứng minh lòng thành sám hối của chúng con.
Như vậy, những người mù này tuy không nhìn thấy được chúng tăng, nhưng biết chúng tăng đều đã chấp thuận sự sám hối của mình. Cũng vậy, chúng ta từ xưa đã từng tạo tội trước Đức Phật, nay muốn sám hối, nên biết chư Phật thảy đều đã ghi nhận. Bởi chư Phật có tam đạt thấu suốt, ngũ nhãn chiếu soi, biết hết tất cả, bất luận gần xa, trong ngoài, tối sáng, như nhìn hạt minh châu trong lòng bàn tay, tùy căn cơ đúng thời mà cứu giúp.
Lại nữa, nên biết tội vốn không có tự tính, chỉ do vọng tưởng, nên luống thụ khổ này. Kinh Duy-ma ghi “Tâm nhơ nên thấy chúng sinh nhơ, tâm tịnh sẽ thấy chúng sinh tịnh. Vọng tưởng là nhơ, không vọng tưởng là tịnh. Tính tội vốn không trong, không ngoài, cũng chẳng ở giữa. Tâm cũng không trong, không ngoài, cũng chăng ở giữa. Tâm đã như vậy, tội cấu cũng thế thôi”. Từ đó suy ra tính tội đều không.
Đốt lửa trí tuệ soi sáng vô minh tăm tối. Những nghiệp ác đã tạo từ vô thỉ đến nay tợ như ngôi nhà tối tăm, sám hối giải trừ. Giống như đèn vừa sáng thì bóng tối liền tan. Chẳng nên cho bóng tối có từ vô thỉ có thể làm tắt đèn.
Tối sáng, ngộ mê cũng vô thủy như thế. Do mê nhân lầm quả nên tạo nhiều tội lỗi, dụ như u tối. Nay muốn sám hối, phải nương oai lực Phật, khai mở ngọn đèn chính kiến, như ngọn đèn sáng. Khi ngọn đèn sáng sẽ trừ hết tối tăm, ngộ đến thì mê đi, mọi tối tăm đều hết. Như mặt trời xuất hiện mới xua tan sương tuyết, thầy thuốc giỏi sẽ trị lành bệnh tật, như lầm đường phải đợi người chỉ dẫn. Các việc xấu ác ví như đống củi, sám hối ví như ngọn lửa trong chốc lát thiêu rụi tất cả. Nên kinh Niết-bàn ghi: “Thí như ngàn cân bông vải không bằng một lạng vàng ròng, tạo tội tuy nhiều không bằng làm một chút việc thiện”. Người tạo tội và sám hối trước Đức Phật, cũng như người mù kia tạo tội và sám hối trước tăng chúng. Tội không có tự tính, sẽ theo duyên mà tiêu trừ. Nên kinh Nghiệp báo sai biệt có bài kệ tụng:
Nếu người tạo tội nặng
Thường ăn năn tự trách
Sám hối, không tái phạm
Sẽ trừ cội gốc nghiệp.
Biết được đúng sai, tức biết được nguyên nhân tạo nghiệp đều từ sự mà sinh khởi. Như mê tâm thì chướng ngại trí giải, mê không thức tỉnh nên mới tạo tội, như mây che mặt trời, như ngôi nhà tối tăm. Nay ngộ tâm nhờ lí mà có. Ngộ đến thì mê đi, ánh sáng đến thì tối tăm không còn. Tâm trước tuy tạo tội nặng, nhưng niệm sau biết quán lí thì vọng tâm liền diệt, vọng cảnh cũng không sinh, những nghiệp nặng đã huân tập từ lâu thảy đều tự diệt.
Kinh Vị tằng hữu ghi: “Tâm trước làm ác như mây che mặt trời, tâm sau khởi thiện như ngọn đuốc trừ tối tăm’’.
Kinh Đại tập ghi: “Như chiếc áo bẩn trăm năm, chỉ trong một ngày có thể giặt sạch”.
Như vậy, dù các nghiệp bất thiện đã huân tập từ trăm ngàn kiếp, nhưng nhờ oai lực cùa pháp Phật, khéo tư duy quán chiếu thì chỉ trong một ngày, một giờ, tất cả sẽ được tiêu trừ.
86.5. PHÉP TẮC SÁM HỐI
Muốn sám hối, người hành sám phải đối trước Tam bảo, đắp mặc ý phục đúng pháp, cởi bỏ khăn mũ, giày dép, chắp tay thỉnh một vị hòa thượng đạo cao đức trọng mà mình hết lòng tôn kính làm chứng minh. Kế đến phụng thỉnh mười phương Tam bảo để làm duyên tốt, sau đó đọc bài kệ tụng:
Kính lễ mười phương tất cả Phật Lễ bậc biển giác tịnh vô biên Kính lễ Diệu pháp không nghĩ bàn Chân như, tự tính thanh tịnh tạng Trụ ở Cực ái nhất tử địa Các bậc thánh đắc đạo chứng quả Con nay thanh tịnh thân khẩu ý Mỗi mỗi cúi đầu xin kính lễ.
Sau đó thỉnh vị chủ sám hối:
- Xin đại đức một lòng thương xót! Đệ tử pháp danh... Nay thỉnh đại đức vì đệ tử mà làm sám hối a-xà-lê. Xin đại đức vì đệ tử mà làm sám hối a-xà-lê. Đệ tử nương đại đức mà được sám hối, xin đại đức từ bi thương xót (một lần cũng được, ba lần càng tốt).
Vị chủ sám hối trước tiên nói cho người ấy biết tính tội đã tạo nặng hay nhẹ, đầy đủ như đã nói ở trên.
Căn cứ theo luận, sám hối có bốn trường hợp:
1. Canh tướng dị thoát sám: pháp sám hối bậc hạ của hàng phàm phu.
2. Vĩnh đoạn tương tục sám: pháp sám hối bậc thượng của hàng phàm phu.
3. Tiêu nghiệp, sám: pháp sám của hàng hiền nhân.
4. Diệt nghiệp sám: pháp sám của thánh nhân.
Hai trường hợp đầu thuộc sự sám, chỉ đối trị mà trừ tội, chưa thể hoàn toàn diệt hết nghiệp, tội vẫn tạm tiềm ẩn, chưa phát khởi. Do không nương lí quán, nên chưa vào được quả vị thánh. Tuy được khỏi tội. vị lai không đọa vào đường ác, nhưng tính nghiệp này vẫn còn và huân thành chủng tử. Như người chặt cây, chỉ đốn cành nhánh, gốc cây vẫn còn.
Hai trường hợp sau, sám hối cần phải nương vào không mà ngộ được lí, tâm cảnh rỗng rang, nhưng thường phải tác ý, dần dần tu tập để đạt kiến đế thì tội mới diệt.
Nay nếu tu theo pháp sám thứ hai là vĩnh đoạn tương tục sám của hàng phàm phu thì cũng khiến nghiệp tiềm ẩn, không hiện hành. Nhưng thường phải nương bạn tốt, phát đại thệ nguyện, đến lúc mạng chung cũng được tùy nguyện vãng sinh Tịnh độ mười phương, xa lìa ba đường ác. Vì đang ở cõi Ta-bà, sợ tâm yếu hèn không kiên cố, muốn thoái lui, nên cần phải dùng năm pháp hỗ trợ sẽ được quả Bất hối. Năm pháp:
1. Tín: nguồn của đạo, là mẹ của công đức, tất cả pháp lành đều từ đây sinh khởi.
2. Tàm: tự mình không tạo tội.
3. Quí: không bảo người khác tạo tội. Tàm là bên trong thẹn với người, quí là thẹn với trời. Nhờ có tàm quí mới biết cung kính cha mẹ, thầy tổ và tất cả các bậc thánh phàm.
4. Thiện tri thức: những người Phạm hạnh trọn vẹn.
5. Tôn kính giới: vì giới là thầy của ta, Tam bảo là chỗ phàm thánh nương theo, Vì thế phải qui kính.
Lúc giới sư chỉ dẫn khai thị là giúp ta phát tâm dũng mãnh, vĩnh viễn không còn phạm lỗi. Những điều giới sư khuyên dạy không thể thuật lại hết.
86.6. SÁM HỐI TẨY TRỪ TỘI LỖI
Kinh Xá-lợi-phật hối quá ghi: “Đức Phật dạy: ,
- Nếu có người thiện nam, thiện nữ nào muốn cầu quả vị A-la-hán, Bích-chi phật và quả vị Phật, muốn biết việc quá khứ, vị lai... thì mỗi ngày vào buổi sáng, buổi trưa, buôi chiều, đâu đêm, giữa đêm và lúc gà gáy canh khuya phải thức dậy chải răng, chỉnh trang y phục, chắp tay lễ bái mười phương Phật, hướng về chư Phật tỏ bày tội lỗi cầu xin sám hối:
- Con tên là... từ vô thỉ kiếp đến nay đã phạm rất nhiều tội lỗi. Đời nay lại phạm các tội như dâm dục, sân giận, ngu si... Khi chưa biết Phật, pháp, tăng, không phân biệt được thiện ác, hoặc thân, miệng, ý phạm lỗi, khởi tâm muốn hại Phật, chê bai kinh điển, tranh cãi với tì-kheo; hoặc giết a-la-hán, hoặc giết cha mẹ, phạm ba lỗi của thân, bốn lỗi của miệng, ba lỗi của ý. Chính mình sát sinh, dạy người sát sinh, thấy người giết sinh tâm vui. Chính mình trộm cắp, dạy người trộm cắp, thấy người trộm cắp sinh tâm vui. Chính mình dối gạt người, dạy người dối gạt, thấy người dối gạt sinh tâm vui. Chính mình nói lưỡi đôi chiều, dạy người nói lưỡi đôi chiều, thấy người nói lưỡi đôi chiều sinh tâm vui. Chính mình mắng chửi, dạy người mắng chửi, thấy người mắng chửi tâm vui theo. Chính mình nói dối, dạy người nói dối, thấy người nói dối lòng vui theo. Chính mình ganh tị, dạy người ganh tị, thấy người ganh tị sinh tâm vui. Chính mình tham lam, dạy người tham lam, thấy người tham lam sinh tâm vui. Chính mình bất tín, dạy người bất tín, thấy người bất tín sinh tâm vui. Không tin làm thiện được quả thiện, làm ác gặp ác, thấy người làm ác sinh tâm vui. Chính mình trộm tài vật trong chùa, hoặc tài vật của tì-kheo, dạy người trộm cắp, thấy người trộm cắp sinh tâm vui. Vật của mình chỉ nhẹ, nhỏ và ngắn, lại tự cho là nặng, lớn, dài để dối gạt người; thấy người khác gạt cũng vui theo. Chính mình cướp đoạt, dạy người cướp đoạt, thấy người cướp đoạt sinh tâm vui. Chính mình làm điều ác nghịch, dạy người làm điều ác nghịch, thấy người làm điều ác nghịch sinh tâm vui...

Phần 6

Vì vậy mà từ quá khứ đến nay, khi thân trôi lăn trong năm đường: địa ngục, cầm thú, ngạ quỉ, làm người, cõi trời, đã tạo các tội lỗi bất hiếu với mẹ cha, bất hiếu với thầy tổ, xem thường bạn tốt, chẳng kính sa-môn, không trọng trưởng lão, khinh lờn cha me thầy tổ, khinh thường người cầu quả vị A-la-hán, Bích-chi Phật hoặc phỉ báng, ganh ghét, gặp Phật đạo cho là sai, gặp ác đạo nói là đúng, thấy việc chính nói bất chính, gặp việc bất chính cho là chính.
Những tội lỗi con đã gây tạo như thế, nguyện mười phương chư Phật thương xót cho con sám hối, để đời này và đời sau con không còn tái phạm những lỗi lầm ấy. Sở dĩ con cầu xin mười phương chư Phật thương xót, là vì các Đức Phật thấy khắp nghe cùng, đâu ai dám dối gạt Ngài. Những tội lỗi đã phạm, con không dám che giấu, nguyện từ nay về sau không dám tái phạm.
Phật lại bảo Xá-lợi-phất: “Nếu thiện nam, thiện nữ nào không muốn đọa vào tam đồ, thì phải sám hối những lỗi lầm đã phạm, không được che giấu. Cũng vậy, nếu không muốn sinh vào nơi biên địa không có Tam bảo, thì phải sám hối những tội lỗi đã phạm, không được che giấu. Muốn chứng quả vị Tam thừa cũng phải như thế”.
Đức Thế Tôn lại bảo:
- Này Xá-lợi-phất! Giả sử thiện nam, thiện nữ khắp trong thiên hạ đều chứng được quả vị A-la-hán và Bích-chi-phật, có người nào phát tâm cúng dường tất cả các vị a-la-hán và bích-chi-phật ấy cả nghìn năm, cũng không băng người hành trì kinh Hối quá. Ngày đêm đọc tụng sáu lần. Phúc của người này hơn người kia trăm nghìn vạn ức”.
Kinh Phổ Hiền quán ghi: “Sở dĩ sám hối sáu căn là do nghiệp chướng làm cho sáu căn bất tịnh, tạo đủ mười điều ác, tham đắm mọi nơi mọi thứ. Từ sáu căn này, sinh ra cành nhánh hoa lá lan rộng khắp nơi trong ba cõi, làm tăng trưởng cội gốc vô minh. Nay muốn sám hối phải thỉnh khắp chư Phật và bồ-tát, tụng kinh Đại thừa, nhất tâm chí thành, phát nguyện diệt trừ tất cả nghiệp chướng của thân tâm. Trong từng niệm, mong được thấy ngài Phổ Hiền và mười phương chư Phật. Cho nên nói kệ:
Người nhãn căn xấu ác
Các nghiệp đều bất tịnh
Chỉ cần tụng Đại thừa
Tư duy Đệ nhất nghĩa
Là sám hối tội mắt
Dứt sạch nghiệp bất thiện.
***
Tại nghe lời tạp loạn
Phá hoại nghĩa hòa hợp
Từ đây khởi cuồng loạn
Như vượn khỉ ngu si
Nếu biết tụng Đại thừa
Quán pháp không, vô tướng
Sẽ dứt mọi xấu ác
Thiên nhĩ thấu mười phương.
***
Mũi tham đắm mùi hương
Theo nhiễm khởi các xúc
Do căn mũi dối gạt
Theo nhiễm sinh các trần
Nếu tụng kinh Đại thừa
Quán thật tính các pháp
Dứt sạch mọi ác nghiệp
Đời sau không thụ khổ.
Lưỡi nếm đủ năm thứ
Miệng tạo nghiệp bất thiện
Nếu muốn tự điều phục
Phải siêng tu tâm từ
Tư duy nghĩa chân tịch
Không còn tướng phân biệt.
***
Tâm như loài khỉ vượn
Leo trèo không dừng nghỉ
Muôn đều phục tâm này
Phải tụng kinh Đại thừa
Phật thành bậc Đại giác
Là nhờ sức vô úy.
***
Thân là chủ Cơ quan
Như bụi theo gió bay
Buông lung theo sáu giặc
Tự do không ngăn ngại
Muốn diệt nghiệp ác nay
Phải lìa hẳn trần lao
An trú thành niết-bàn
Tâm an lạc thanh thoát
Chỉ cần tụng Đại thừa
Niệm danh hiệu bồ-tát
Vô lượng phương tiện hay
Từ tư duy thật tướng.
***
Như vậy sáu pháp này
Tên gọi là sáu căn
Tất cả biển nghiệp chướng
Đều từ vọng tưởng sinh
Muốn hành pháp sám hối
Nhất tâm quán thật tướng
Tội lỗi như sương móc
Mặt trời tuệ chiếu tan
Vì thế phải chí thành
Sám hối lỗi sáu căn.
Tôi tự nỗ lực nghiên cứu nhiều kinh luận, tuy muốn dạy mọi người tất cả pháp sám tội, nhưng văn tự tản mác, không thể ghi lại đầy đủ, nên chỉ lược nêu hai đoạn văn sám hối trong hai kinh trên mà thôi.
Trộm nghĩ, từ vô thỉ đến nay, chúng sinh đã tạo vô số tội lỗi, nhiều như cát bụi. Nếu y cứ theo pháp sám hối trước đã nói thì sợ không thể rửa sạch tội lỗi. Nên từ nay trở về sau lại nương theo pháp sám hối của hai pháp sư đời Tùy là Đàm Thiên và Linh Dụ để sám hối chung tội thập ác, hy vọng đạt kết quả tốt. Tuy pháp sám do hàng phàm phu biên soạn, nhưng văn nghĩa đều chọn lọc những thánh ý trong kinh Địa trì. Nếu nương theo đây tu tập sẽ khế hợp với ý Phật. Từ xưa đến nay văn sám hối của các bậc tôn đức rất nhiều, nhưng về mặt hoàn mĩ thì chưa thấy ai vượt qua hai văn sám dưới đây.
* Văn sảm hối tội thập ác do pháp sư Đàm Thiên soạn:

Phần 7

Đệ tử tên là... nguyện vì tất cả chúng sinh trong pháp giới, thành tâm tỏ bày những tội lỗi đã tạo từ vô thỉ kiếp đến nay. Đó là tội giết hại vua, cha mẹ và bậc a-la-hán. Tội khởi binh chinh phạt, gây chiến tranh, giết người, săn bắn cầm thú, giăng bắt cá chim. Tội từng làm hôn quân vô đạo, lạm hình giết oan, cho đến tội giết hại ăn thịt tất cả loài động vật, từ những loài côn trùng nhỏ nhặt, đến mãnh thú chim muông. Tội trộm tài vật của Phật, pháp, tăng và tiền bạc của mọi người; hoặc tội lúc làm quan thì nhận của hối lộ, hoặc gian dâm với chồng, vợ người khác, không phân biệt thân thuộc, chẳng kể tăng ni, mặc tình khởi tâm yêu ghét, đố kị lẫn nhau. Tội gian trá vọng ngữ dối gạt vua và cha mẹ; không thấy không biết lại nói thấy nói biết; hoặc nương dựa quỉ thần lừa đảo người đời; hoặc nịnh hót, đâm thọc khiến hai bên tranh cãi nhau, đem lời nói xấu của người này nói cho người kia, đem lời người kia nói cho người này, li gián nghĩa vua tôi, ngăn cách tình cốt nhục, phá hoại mọi sự hòa hợp; hoặc thốt lời thô lỗ, chê bai người khác, tùy tiện mắng chửi, hoặc không nói chân thật, chỉ nói thêu dệt, thiện thì bảo là ác, hôi bảo là thơm, dài nói là ngắn, nói trắng là đen, dối gạt mọi người; hoặc tham đắm vị ngon, đòi hỏi không biết chán. Tính nhiều sân hận nên bị phẫn nộ trói buộc; hoặc không biết chính đạo, mê lầm tin theo tà kiến, phỉ báng Phật, pháp, tăng, cho rằng không có nhân quả, không tin tu thiện sẽ hưởng được niềm vui ở trời người, không tin làm ác phải chịu khổ báo ở địa ngục; hoặc bảo thân này không nhờ nhân duyên mà có, hoặc bảo không có nhân quả ở đời sau, phá hủy chùa tháp, thiêu đốt kinh điển, nung chảy tượng Phật để lấy vàng, đồng, hủy phạm cấm giới làm ô uế chốn già-lam; hoặc uống ăn rượu thịt và năm thứ cay nồng, ngu si tà kiến tạo vô số tội.
Mười việc ác đã trình bày trên, là chính mình làm, hoặc xúi người khác, hoặc thấy người khác làm mà vui theo. Từ vô thỉ đến nay đệ tử nhất định có phạm những lỗi như vậy. Vì nhân duyên tạo tội này, nên chúng sinh phải đọa vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh. Nếu được làm người thì tuổi thọ ngăn ngủi, nhiều tật bệnh, thân phận thấp hèn cho đến phải chịu cảnh nghèo cùng; hoặc chung tài sản với người khác không được tự do sử dụng; vợ không hiền thiện, hai vợ tranh cãi nhau, bị người chê bai, dối gạt, lại gặp quyến thuộc xấu ác phá hoại. Không được nghe những lời tốt, luôn nghe những lời ác. Những điều nói ra đều bị bác bỏ, nói lời chân thật cũng không ai tin, nói lời khiêm hạ cũng không ai thích. Tham mê tiền của không chán, nhưng chẳng được toại ý, thường bị người khác xét nét lỗi lầm. Thường gặp bạn xấu não hại; thường sinh vào nhà tà kiến, tâm tính tà vạy nịnh hót.

Từ vô thỉ đến nay, mười điều bất thiện thảy do phiền não tà kiến phát sinh. Nay nương năng lực chính kiến của Phật tính, phát lộ sám hối thì mọi tội chướng đều được tiêu trừ. Giống như viên minh châu thả vào dòng nước đục, nhờ năng lực của hạt châu, nước trở nên trong sạch. Năng lực của Phật tính cũng vậy, nếu đặt vào dòng nước ô trọc phiền não với bốn tội trọng, năm tội nghịch của chúng sinh thì nước này sẽ được trong sạch.
Đệ tử tên là.... cùng tất cả pháp giới chúng sinh, kể từ ngày nay mãi đến khi thành Phật, nguyện không bao giờ tái phạm những lỗi lầm trên. Xin qui mạng kính lề thường trú Tam bảo.
Phần sám hối đã xong, kế đến là tụng kệ nói về công đức của việc lễ sám và lời phát nguyện:
Nguyện tận đời vị lai
Gặp Phật Vô Lượng Thọ
Thân công đức vô biên
Con và các thiện tín
Được gặp Đức Phật rồi,
Mong lìa được trần cấu
Nguyện khắp các chúng sinh
Đều chứng quả Vô thượng.
Kệ Sám hối tội thập ác do pháp sư Đàm Dụ soạn:
Tự nghĩ mình sinh tử
Từ vô lượng kiếp số
Mãi tận đến đời nay
Tương tục không giản đoạn.
Vĩ ngu si che lấp
Lửa ba độc thường đốt
Tuy có thân và tâm
Mà không thể giác ngộ.
Không được các Đức Phật
Phóng ánh sáng trí tuệ
Soi hai thân của con
Mà cũng chưa giác ngộ
Mê mờ sinh các nảo
Thụ thân đủ mọi loài _
Quán sát nhân duyên này
Thày đều là quyến thuộc
Lại nghĩ đến chúng sính
Vốn đồng một biển tâm
Do sóng thức vọng tưởng
Huyễn khởi sinh các đường.
Tuy thụ thân các loài
Cùng ta đồng chân tính
Chỉ vì thường thất niệm
Sinh phân biệt ta, người.
Do đây khởi yêu ghét
Thường tranh đấu lẫn nhau
Đêm ngày ôm sầu hận
Chỉ nghĩ việc báo thù.
Đối với loài hàm linh
Không loài nào chẳng hại
Cướp đoạt tài vật người
Tham đắm vật kẻ khác
Nói lời không chân thật
Mặc tình buông lời ác
Đâm thọc phá hòa hợp
Dối gạt đùa cợt người.
Biển tham thật không đáy
Lửa sân lại lẫy lừng
Tà kiến trái chính pháp
Dua nịnh không thành thật.
Vi phạm giới thanh tịnh
Của các đức Như Lai
Hiềm giận cùng thương ghét
Mãi ôm ấp trong lòng.
Nếu không sám tội này
Huân mãi vào tâm mình
Tích chứa ngày càng nhiều
Biến thành chốn địa ngục.
Chịu muôn vàn đau khổ
Nếu lúc đó gặp Phật
Cũng đều không cứu được.

Phần 8

Chỉ tự mình tỏ bày
Những lỗi lầm đã tạo
Cảm ứng Phật, bồ-tát
Thuận theo tính thanh tịnh
Vô minh từ vô thỉ
Từ đây dần cạn mỏng.
Vì thế phải tàm quí
Thành tâm sám hối tội
Nguyện Phật phóng từ quang
Chiếu soi chúng sinh khổ
Những phiền não tích chứa
Đều tiêu trừ hết thảy
Tự tính thanh tịnh tâm.
Từ đây đến cứu cánh
Pháp giới chân bình đẳng
Ngay đây được viên mãn.
Dưới đây là mười tám hàng kệ do luật sư Huyền Uyển ở chùa Diên Hưng, Trường An biên soạn:
Hại mình vô thỉ thảy từ tâm
Thuận vào cõi Dục, đọa luân hồi
Sống đời cô độc không ai giúp
Chịu đủ vô biên khổ muôn vàn
Ấy là quả báo đã định sẵn
Oai thần chư Phật chẳng cứu xong
Bức bách khốn cùng oán khổ đến
Mới hay có chút tỉnh ngộ này,
Nhưng vì vô minh quả dày sâu
Lửa dữ ba độc hừng hực cháy
Dẫu muốn chạy xa, nào thoát được
Như mụn nhọt chín đợi vỡ trào.
Nguyện cầu chư Phật phóng từ quang
Chiếu soi đến kẻ đầy đau khổ
Lỗi lầm ba nghiệp từ nhiều kiếp
Đời nay lại tạo bao nghiệp ác
Vị lai sẽ chịu nhiều phiền não
Đỉnh lễ sảm hối, nguyện tiêu trừ.
Có bài tụng:
Sáng, năm vóc sám hổi
Chiều, chí thành lễ lạy
Tiếng chuông răn mỗi sớm
Thương ta khổ nhọc nhằn
Chú tâm vào lời kinh
Xót thương chứa nghiệp trần
Ôi! Thân nào phải ta
Xưa nay luôn chìm đắm
Quanh quẩn lối hiểm nguy
Đưa tay chào vĩnh biệt,
Chí thành cầu sám hối
Trong sáng như mây tan
Sợi dây nghiệp khổ đứt
Tùy duyên làm lợi người
Tuy chưa được cao xa
Nhưng thoát chốn u đồ.
86.7. CẢM ỨNG
86.7.1. Đời Tấn, sa-môn Tuệ Đạt: Sư họ Lưu, tên Tát Hà, người Li Thạch, Tây Hà. Lúc chưa xuất gia, sư làm thủ lĩnh trong quân lữ, đã không biết Phật pháp, lại có tính ưa săn bắn. Năm ba mốt tuổi, sư bị bệnh nặng qua đời, nhưng cơ thể vẫn còn ấm, nên mọi người không tẩn liệm. Bảy ngày sau, sư sống lại, kể với mọi người:
- Lúc sắp qua đờỉ, tôi thấy có hai người cầm dây đến trói mình dẫn đi về hướng tây bắc. Đường đi càng lúc càng lên cao, càng bằng phẳng, hai bên là những hàng cây. Có một người cầm cung, mang kiếm đứng giữa đường, chỉ tay bảo hai người dẫn tôi đi về hướng tây. Nơi đây có rất nhiều nhà cửa vách trắng cột đỏ. Bước vào một ngôi nhà, tôi thấy một cô gái dung mạo xinh đẹp, liền đến xin cơm. Bỗng trong hư không có tiếng nói:
- Không được cho!
Ngay lúc đó, có một người từ dưới đất vọt lên, cầm chày sắt lao đến đánh, nhưng tôi kịp thời chạy thoát. Vào khoảng mười nhà, mọi vĩệc đều xảy ra giống như vậy, nên tôi không xin được chút gì.
Đi tiếp về hương tây bắc, tôi được một bà già kéo xe, trao cho một quyển sách. Tôi nhận và đi tiếp về hướng tây. Đến một ngôi nhà trang nghiêm đẹp đẽ, có một bà già ngồi ngoài cửa, có hàm răng cọp, màn trướng trong nhà sáng đẹp rực rỡ, chiếu tre, ghế trúc, lại có một cô gái bước ra hỏi:
- Ông có mang sách đến không?
Tôi lấy quyển sách đưa cho cô ấy. Cô ta đón lấy, rồi cầm một quyển sách khác lên so. Chốc lát, lại có hai vị sa-môn đến hỏỉ:
- Ông biết chúng tôi không?
Tôi đáp:
- Không biết!
Hai vị sa-môn nói:
- Nay ông nên qui y Đức Phật Thích-ca!
Nghe lời, tôi phát tâm qui hướng, rồi đi theo hai vị sa-môn. Xa xa thấy một tòa thành rất giống thành Trường An, nhưng màu rất đen, vì đây là thành sắt. Người ở đây to cao, da đen như dầu hắc, tóc dài chấm đất. Vị sa-môn nói:
- Đây là quỉ ở địa ngục!
Nơi đây rất lạnh, có những tảng băng lớn bằng chiếc chiếu, bay đến chém người, trúng đầu thì đầu rụng, trúng chân thì chân lìa. Hai vị sa-môn lại nói:
- Đây là địa ngục Hàn Băng.
Lúc này, tôi nhớ được túc mạng, nên nhận ra hai vị sa-môn đều là thầy của mình trong thời Đức Phật Duy-vệ. Bấy giờ, tôi là một sa-di, vì phạm tội nên không được thụ giới, tuy sống thời có Phật, nhưng không được gặp. Sau đó, trong một kiếp thụ sinh làm người thuộc dân tộc Khương. Đời nay lại sinh nhằm đời Tấn.
Tôi gặp người bác họ cũng đang ở trong địa ngục. Ông ấy nói với tôi:
- Trước đây, lúc còn ở đất Nghiệp, ta không biết thờ phụng Phật pháp. Thấy mọi người tắm Phật ta cũng học theo, nhưng không chịu trả công thụ học, nay phải chịu tội. May nhờ phúc tắm Phật ta sẽ được sinh lên cõi trời.
Kế đến, tôi thấy địa ngục Núi đao và rất nhiều địa ngục khác, nhưng không cùng ở một thành. Người bị tội nhiều không thể tính kể, hình phạt rất tàn khốc cảnh tượng đúng như trong kinh đã nói. Từ khi tôi bước vào địa ngục, đến bây giờ mới thấy ánh sáng. Chốc lát chợt thấy một vầng ánh sáng màu vàng ròng chiếu rực rỡ và một người cao khoảng hai trượng, tướng hảo trang nghiêm, toàn thân săc vàng. Mọi người đều reo lên:

Phần 9

- Bồ-tát Quán Thế Âm!
Và họ cùng nhau hướng về đỉnh lễ. Có hai vị sa-môn hình tướng giống nhau, cùng nhau đi về phía đông. Tôi đỉnh lễ xong, lại nghe bồ-tát thuyết pháp khoảng hơn ngàn lời. Đoạn cuối, bồ-tát có dạy:
- Nếu biết thiết trai cúng dường tại chùa hoặc tại nhà để tạo phúc, hồi hướng cho người quá cố như cha mẹ, anh em cho đến thân quyến nội ngoại bảy đời, hoặc bạn bè, hoặc người xa lạ, thì những người này sẽ
• được thoát tội khổ chốn địa ngục. Vào ngày rằm tháng bảy, chúng tăng vừa thêm tuổi hạ, là lúc tốt nhất để thiết lễ cúng dường. Nếu tạo ra các vật dụng để dâng cúng, thì trên mỗi phẩm vật nên ghi: ‘Vì hồi hướng cho... con xin cúng dường Tam bảo’.
Phúc cúng dường càng nhiều thì niềm vui càng mau đến. Nếu có sa-môn hoặc cư sĩ nào thấy mình có tội, hay đời trước mình đã tạo nhiều nghiệp ác, nên đến trước chúng tăng chí thành sám hối tất cả tội lỗi, tội nhất định tiêu trừ. Nếu cảm thấy hổ thẹn khi đứng trước đại chúng trình bày lỗi của mình, cũng có thể ở chỗ vắng im lặng tự trình bày lỗi với chính mình, không được quên sót, tội cũng được tiêu. Nếu còn sót lỗi, mà không cố tình che giấu, dù tội không được tiêu trừ, nhưng quả báo cũng giảm nhẹ. Nếu không biết sám hối, không có tâm tàm quí, đó gọi là có lỗi mà không chịu hối cải, sau khi mạng chung sẽ rơi vào địa ngục.,
Nếu vì người quá cố mà làm phúc như xây chùa, dựng tháp hay phòng xá cho tăng,-dù chỉ góp một nắm đất, một khúc gồ, hoặc vải, hoặc đá, nhưng nếu thành tâm trợ cúng cũng được công đức rất lớn.
Nếu thấy cỏ mọc nhơ bẩn chốn chùa tháp nhưng không nhổ bỏ, lại còn đi dẫm lên, thì công đức lễ bái do đây mà mất kết..
Bồ-tát lại dạy:
- Kinh là sách tôn quí, là phương tiện giáo hóa. Trong đó kinh Bát-nhã Ba-la-mật có công đức thù thắng nhất, kế đó là kinh Thủ-lăng-nghiêm. Nếu nơi nào có thiện nhân tụng kinh thì đất nơi ấy đều là kim cương, chỉ vì chúng sinh mắt thịt không nhìn thấy mà thôi. Nếu biết siêng năng trì tụng hai bộ kinh này, sẽ không đọa địa ngục. Bản kinh Kim cang bát-nhã và bình bát của đức Như Lai về sau được truyền đến đất Hán. Nếu có người làm một diều thiện đối với bản kinh và bình bát này sẽ được phúc báo sinh thiên, công đức gấp bội.
Bồ-tát chỉ dạy rất nhiều, Ở đây chỉ trình bày nhừng điều chính yếu mà thôi.
Lúc tôi đến từ biệt, bồ-tát bảo:
- Lẽ ra ông phải chịu tội trong nhiều kiếp, nhưng nhờ phúc nghe kinh sinh tâm hoan hỉ, nên ngày nay tội báo giảm nhẹ, chỉ trả một lần sẽ hết. Sau khi ông sống lại, hãy làm sa-môn. Tại năm vùng Lạc Dương, Lâm Truy, Kiến Nghiệp, Mậu Am, Thành Đô đều có tháp do vua A-dục xây dựng, ở Ngô Trung cũng có hai tượng Phật bằng đá, do vua A-dục sai quỉ thần kiến tạo, rất giống Phật thật. Nếu ông đến đó đỉnh lễ cũng khỏi đọa địa ngục!
Nói xong, bồ-tát liền đi về phía đông. Tôi đỉnh lễ từ biệt, rồi đi theo hướng nam, đến một con đường rộng hơn trăm bộ. Trên đường có rất nhiều người, không thể tính hết. Bên đường có một tòa cao khoảng mấy mươi trượng, một vị sa-môn ngồi trên đó, chúng tăng đứng xếp hàng hai bên. Một vị tăng cầm bút, đứng quay mặt về hướng bắc, nói với tôi:
- Lúc ở Tương Dương, tại sao ông giết con nai?
Tôi quì xuống đáp:
- Người khác bắn chết, còn con chỉ làm bị thương! Con không ăn thịt nó, nhưng tại sao lại chịu tội báo?
Vừa dứt lời, tôi liền thấy có cây, núi rừng, suối khe tại vùng đất mình đã giết nai lúc ở Tương Dương hiện ra trước mắt. Lại thấy con ngựa ô mà mình cỡi nói tiếng người, tất cả đều làm chứng cho việc tôi giết nai vào ngày tháng năm đó. Tôi lo sợ, không biện bạch được. Bỗng chốc có một người lấy chỉa xiên tôi bỏ vào chảo nước sôi, khiến toàn thân rã nát. Sau đó có một cơn gió thổi, thân dạt vào một bờ sông nhỏ. Tôi tỉnh lại, thấy thân thể nguyên vẹn như cũ. Bấy giờ, người cầm bút lại hỏi:
- Ông hay bắn chim, lại thường giết nhạn!
Dứt lời, lại xỉa tôi ném vào chảo nước nóng, toàn thân rã nát như trước. Tôi chịu tội báo xong, liền có người dẫn đi tiếp. Đến một thành lớn, một người ở đó nói:
- Ông chỉ thụ tội báo nhẹ, sẽ được sống lại. Đó là nhờ phúc đức của ông đã tạo. Từ nay về sau còn dám tạo tội nữa không?
Nói xong, bèn cho người đưa tôi trở về dương gian. Xa xa, tôi nhìn thấy thân cũ, nhưng không muốn nhập. Người dẫn cố lôi tôi đi. Lát sau thần thức nhập xác và sống lại.
Từ đó, sư dốc lòng phụng trì Phật pháp, phát tâm xuất gia, pháp tự Tuệ Đạt.
Niên hiệu Thái Nguyên cuối cùng (397), sư còn trụ tại kinh đô, sau đó lại đến Hứa Xương, rồi không rõ viên tịch ở đâu.
86.7.2. Đời Lương, sa-môn Pháp Sủng: Sư họ Phùng, người Quán Quân, Nam Dương, ở chùa Tuyên Vũ, tại kinh đô Lạc Dương. Năm sư ba mươi tám tuổi, ngài Pháp Nguyện trụ chùa Chính Thắng, là người tinh thông thuật Phàn Hứa, nói với sư:
- Hết năm này ông sẽ chết, không thể tránh được! Chỉ có chí thành lễ Phật sám hối, mới hi vọng thoát được tội đã tạo trước đây.
Nghe vậy, sư lấy gương ra soi, thấy mặt mình đúng là có khí sắc u tối. Thế là sư đem y bát và vật dụng còn lại bán hết, đổi lấy hương hoa cúng dường. Sau đó, sư dong thuyền về hướng đông, thẳng đên Hải Diêm, trụ trong một căn phòng trống vắng tại chùa Quang Hưng, dốc lòng lễ Lạy sám hối, không tiếp bất cứ người nào, ngày quên ăn nghỉ, đêm không giải y. Cuối năm bốn mươi tuổi, đêm nọ sư bỗng thấy hai tai sưng phù, đau buốt, nên rất lo sợ. Đêm đó, sư lạy sám hối đến canh tư, bỗng nghe ngoài cửa có người nói vọng vào:
- Ông đã thoát được nghiệp chết sớm!
Sư liền ra mở cửa xem, nhưng không thấy ai Đến sáng, sư nhờ mọi người kiểm nghiệm, họ đều nói sắc diện của sư không còn u tối, hai tai cũng bình phục như thường. Đây chính là nhờ sự chí thành sám hối gột rửa, nên mới kéo dài tuổi thọ.
Ngày mười sáu, tháng ba, niên hiệu Phổ Thông thứ năm (524), sư viên tịch tại chùa Tuyên Vũ, thọ thế bảy mươi bốn tuổi.
86.7.3. Đời Đường, sa-môn Đức Mỹ: Sư họ Vương, người huyện Lâm Thanh, Thanh Hà, trụ tại chùa Hội Xương ở kinh đô.
Từ thuở bé, sư đã có bẩm tính thích làm việc thiện, miệng thường ngâm nga tán tụng. Những khi vọc cát đùa giỡn, sư thường tạo hình chùa tháp, thấy tượng Phật đều biết lễ kính. Vì vậy cha mẹ thầm ngạc nhiên và biết sư không bao giờ chịu nối dõi, nên cho phép sư tùy ý tìm thầy học đạo.
Năm mười chín tuổi, sư xuất gia. Tuy thông đạt tất cả kinh luận, nhưng sư đặc biệt chú trọng giới luật, vì thế mà thấu suốt bộ luật Tứ phần.
Sau, sư đến núi Thái Bạch, tụng trọn bộ kinh Phật danh gồm mười hai quyển, mỗi khi sám hối đều tụng và lễ lạy. Sư mặc y phục thô sơ, ăn uống đạm bạc. Ban đầu sư đến thụ học với thiền sư Tăng Ung ở Thái Bạch, Cửu Lũng. Sau đó sư lại đến trụ chùa Tuệ Vân tại kinh đô. Tại đây sư gặp thiền sư Tịnh Mặc và cũng theo thụ học. Mỗi mùa an cư, sư đều dốc lòng lễ sám. Bảy ngày trước khi giải hạ, sư càng nỗ lực tu tập, mỗi ngày lạy một vạn năm nghìn danh hiệu Phật, tinh tấn khó ai bì, nên thường cảm ứng được điềm lành. Từ nhỏ đến lúc mạng chung, sư lễ hơn nghìn lần như vậy. Do có phúc đức rộng lớn, nên sư được thừa kế tôn chỉ của thiền sư Tịnh Mặc.
Lúc trụ tại chùa Hưng Thiện, mỗi năm sư đều thỉnh ngàn vị tăng đến dự khóa tu bảy ngày. Mãn kì, sư thiết lễ cúng dường chúng tăng rất trọng hậu, mỗi người nhận được mười xấp lụa. Ngày giải hạ, thí chủ lại đến cúng dường gấp bội. Từ cuối niên hiệu Khai Hoàng (604) đến niên hiệu Đại Nghiệp thứ mười (614), mỗi năm sư đều tổ chức hội bố thí lớn như vậy.
Lúc sắp viên tịch, ngài Tịnh Mặc đem toàn bộ vật phúc điền của chúng tăng giao phó cho sư. Sư đỉnh lễ phụng hành. Bi điền, và kính điền mỗi năm tổ chức một hội. Lại cuối mỗi mùa an cư, sư tổ chức lễ hội cúng dường Vu-lan-bồn.
Vào mùa an cư cuối niên hiệu Đại Nghiệp (607), sư thỉnh ngàn vị tăng đến dự khóa tu bảy ngày, chợt cảm ứng có một người tướng mạo khác thường, mặc y phục đẹp đẽ đến nói với sư:
- Trời nóng bức, sao không làm bánh cúng dường?
Thế là sư cho người ngâm hai mươi hộc bột mì, đủ để làm bánh trong hai ngày và dự định sáng mai sẽ bắt tay làm. Nhưng mới nửa đêm hôm đó, người ấy thức dậy, nhồi bột trên bàn, kinh động mọi người, nên tất cả đều thức dậy cắt bột nấu cháo cúng dường đại chúng. Chỉ trong chốc lát bột đã cắt xong, thả vào nước sôi nấu.
Ngàn người ăn no đủ, ai cũng hoan hỉ. Bánh vừa mềm lại vừa dai, không cái nào hư. Sau đó mọi người tìm vị ấy, nhưng không thấy tung tích. Đại chúng xúc động trước sự cảm ứng này.
Niên hiệu Vũ Đức thứ nhất (618), triều đình xây dựng chùa Hội Xương, rồi thỉnh sư về trụ tại đây. Phía tây viện, sư cho xây viện sám hối, thiết trí tôn tượng trang nghiêm, phòng ốc rộng rãi và tráng lệ. Sư phát nguyện cùng chúng sinh dứt trừ mọi nghiệp ác, tinh chuyên lễ sám theo pháp Phương đẳng sám hối. Mỗi khi giới tử muốn đăng đàn thụ giới cụ túc, đều phải nương sư hành lễ sám hối.
Có lần giếng nước trong chùa bỗng nhiên khô cạn, đồ chúng không có nước sinh hoạt nên không thể lễ sám. Sư bèn bưng lư hương đến bên giếng chí thành cầu nguyện, lập tức mạch nước tuôn chảy như trước. Mọi người đều ca ngợi, cho là nhờ phúc lực của sư.
Sư an trí xá-lợi Phật trong một hộp báu, đi đến đâu cũng mang theo. Nơi nào có xây tháp, nếu chí thành cầu khẩn có cảm, thì sư đều hiến cúng. Đến mùa thu và hạ, sư thường đi chân trần vì sợ dẫm trùng kiến, tổn hại chúng sình. Có năm, sư tu Bán-chu tam-muội, không ngồi suốt mùa hạ; hoặc tịnh khẩu suốt ba năm; hoặc tu hạnh Thường Bất Khinh, lễ khắp bảy chúng; hoặc tiết kiệm ăn mặc, chỉ dùng một phần tư. Những việc khổ hạnh của sư như thế rất nhiều.
Suốt đời sư luôn chuyên tâm nơi cảnh giới Tây phương Cực Lạc, miệng tụng danh hiệu đức Phật A-di-đà cho đến lúc viên tịch.
Ngày hai mươi sáu tháng hai niên hiệu Trinh Quán mười một (637), sư chắp tay niệm danh hiệu Phật, rồi viên tịch tại Hội Xương, thọ thế sáu mươi tuổi. Nhục thân sư được đến làm lễ trà-tì ở ngọn đồi Si Minh tại Nam sơn. Chúng đệ tử thâu xá-lợi xây tháp và lập bia phụng thờ tại Hội Xương. Thị trung Vưu Chí Ninh viết văn bia.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục