Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 85 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)

01/01/2016

QUYỂN 85 Quyển này tiếp theo chương Lục độ (tiếp theo) 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ 85.6. TRÍ TUỆ 85.6.1. Lời dẫn Trong hai loại trang nghiêm, tuệ là tối thắng; trong ba phẩm thứ đệ, trí không gì sánh bằng. Thế nên kinh ghi: “Năm đ...

PUCL QUYỂN 85 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)
Phần 1

QUYỂN 85
Quyển này tiếp theo chương Lục độ (tiếp theo)
85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ 

85.6. TRÍ TUỆ
85.6.1. Lời dẫn
Trong hai loại trang nghiêm, tuệ là tối thắng; trong ba phẩm thứ đệ, trí không gì sánh bằng. Thế nên kinh ghi: “Năm độ trước, nếu không có trí tuệ thì cũng như người ngu, kẻ mù. Sở dĩ Bát-nhã hơn hẳn trí thế gian là vì có công năng phá trừ chư hữu”.
Thích luận ghi: “Phật là mẹ của chúng sinh, bát-nhã là mẹ của chư Phật”. Thế thì, trí tuệ là tổ mẫu của tất cả chúng sinh. Cho nên, ngoại thư có ghi: “Thông minh, trí sáng, khiêm cung, xét rõ mới đúng là đức của Phóng Huân. Nhân, nghĩa, lễ, trí chính là đạo của Tuyên Ni .
Thế nên, pháp trí tuệ này không thể không tu học, nhân giải thoát ấy không thể không huân tập. Bởi vì trí tuệ có năng lực phá trừ sự ngu tối, như trăng tròn có khả năng chiếu sáng khắp ba đường ác, lại có công năng diệt trừ ba độc giống như thuốc ma-kì có khả năng chữa trị các chất độc. Như vậy, lẽ nào hành giả mặc tình đắm chìm trong đường mê sinh tử, để cho tâm chấp tướng buộc ràng, lòng chấp ngã trói chặt, ái dục dẫy đầy, vô minh dày đặc; đã không rõ lí nhân duyên, lại không tìm phương đối trị, khiến cho núi ngã mạn cao ngất như núi Tung núi Hoa, sông ái cuồn cuộn rộng sâu như biển cả hay sao!
Có người vọng chấp vào đoạn kiến hoặc thường kiến; hoặc chỉ bàn đến lí tức li; hoặc chấp thần vàng, thần trắng; hoặc khởi tưởng “ta thấy, ta biết”.
Có kẻ lại thực hành các pháp khổ hạnh của ngoại đạo như đứng một chân, phó hỏa, ăn cỏ như loài trâu, nuốt phân như loài chó. Có người chuyên bàn luận về tục đế, làm sao biết đến lí trung đạo? Có kẻ chấp chặt vào bốn bộ Vi-đà thì há có thể lĩnh hội được ý chỉ Đại thừa?
Lại có người cho rằng, minh sơ sinh ra giác... Ngoài hai mươi lăm đế này, không cần biết thêm gì nữa, vì đây là lí tối cao của thế gian. Có kẻ lại nói đạt đến Phi hữu tưởng là chứng Niết-bàn; hoặc cho rằng Tự Tại thiên có khả năng sáng tạo ra thế giới v.v...
Những hạng người như thế đều là kẻ ngu si, mê muội, ngông cuồng, khó bảo, chỉ biết ôm cây đợi thỏ, chấp ngón tay là mặt trăng. Đã chưa phân biệt được lạc đà và ngựa, thì làm sao phân định được đậu và lúa? Dù họ biết vui cười, nhưng khác nào dã nhân; dù biết nói năng nhưng đâu khác đười ươi. Bởi họ chẳng hiểu rõ lí không, thường sống trong vô minh. Hễ tâm còn điên đảo, đều gọi là kiến chấp sai lầm. Do trụ phiền não chưa từng giảm bớt, dù bằng mảy lông, nên một trăm lẻ tám kết sử dấy khởi mãi không ngừng.
Do đó, bậc đại sĩ vì mong được nghe tám chữ mà chẳng tiếc thân mạng, sợ ở trong cảnh đời gặp khổ mà lui sụt. Thế nên, mỗi người phải tự nhiếp phục tâm mình để ý chí càng thêm kiên định.
85.6.2. Dẫn chứng
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Nếu bồ-tát vì cầu pháp, nghe người bố thí pháp hỏi: ‘ông có thể nhảy vào hầm lửa sâu bảy nhận thì ta sẽ nói pháp cho ông!’. Bồ-tát nên hoan hỷ, suy nghĩ: ‘Ta vì pháp không tiếc thân mạng, đã từng chịu vô lượng khổ trong các đường dữ như địa ngục A-tỳ, thì sá gì vào một hầm lửa bé nhỏ ở nhân gian để được nghe pháp’”.
Kinh Y tập nhất thiết công đức tam-muội ghi: “Về thuở quá khứ lâu xa, có vị tiên nhân đắc ngũ thông, tên Tối Thắng, là tiền thân Đức Phật thích-ca”.
Luận Đại Trí độ lại ghi: “Phật Thích-ca Văn khi còn tu đạo bồ-tát, tên là Nhạo Pháp. Bấy giờ không có Phật ra đời, cũng không nghe nói đến pháp lành. Bồ-tát đi khắp nơi cầu pháp, tinh tấn không biếng trễ, nhưng hoàn toàn không gặp được. Lúc ấy, ma vương hóa làm một vị bà-la-môn, đến nói với bồ-tát:
- Tôi có một bài kệ do Đức Phật thuyết, nếu ông có thể lấy da làm giấy, chẻ xương làm bút, lấy máu làm mực để viết bài kệ này, thì tôi sẽ trao cho ông. Bồ-tát liền suy nghĩ: ‘Ta đã bỏ vô số thân mạng trong nhiều đời, nhưng vẫn không được lợi ích như vậy!’. Thế rồi, bồ-tát liền lột da phơi khô, lúc sắp ghi bài kệ thì ma vương biến mất. Lúc ấy, Đức Phật biết được tâm chí thành của Nhạo Pháp, từ phương dưới hiện lên thuyết pháp nhiệm mầu cho Nhạo Pháp. Nghe xong, Nhạo Pháp chứng Vô sinh pháp nhẫn”.
Kinh Niết-bàn lại ghi: “Bồ-tát cũng vì cầu pháp mà khoét thân làm đèn, dùng vải làm tim, đổ dầu vào và đốt lên. Trong lúc chịu sự nóng bức khổ sở như vậy, bồ-tát vẫn răn nhắc tâm mình: ‘Sự khổ này sánh với nỗi khổ ở địa ngục thì chưa bằng một trong trăm nghìn vạn lần. Ta chịu sự đau khổ cùng cực trong vô lượng trăm nghìn kiếp, nhưng chẳng được lợi ích gì. Nếu không chịu được một chút khổ này, làm sao thay thế chúng sinh đang chịu khổ trong địa ngục?’. Khi đại bồ-tát tư duy như thế, thân không còn cảm giác đau đớn nữa, tâm không lui sụt, không lay động, không đổi dời. Bồ-tát cũng tự biết rõ: ‘Ta nhất định sẽ chứng được quả vị A-nậu Bồ-đề\
Bấy giờ, tuy bồ-tát chưa đoạn tận phiền não, nhưng vì cầu pháp mà bố thí cho chúng sinh đầu, mắt, tủy, não, tay, chân, máu, thịt; đóng đinh vào thân, lao xuống núi, nhảy vào hầm lửa. Tuy chịu vô lượng khổ như thế, nhưng tâm bồ-tát vẫn không lui sụt, không dao động, không dời đổi. Bồ-tát cũng tự biết mình chắc chắn được tâm bất thoái, sẽ chứng quả A-nậu Bồ-đề”.
Kinh Đại tập ghi: “Bồ-tát vì muốn hiểu nghĩa của một chữ, một câu mà đem trân báu trong mười phương thế giới dâng cúng Pháp vương, lại vì một bài kệ mà xả bỏ thân mạng. Tuy thực hành bố thí trong vô lượng kiếp như số cát sông Hằng, cũng không bằng vừa nghe pháp bồ-đề mà sinh tâm hoan hỷ. Do thích nghe, thích giảng thuyết chính pháp nên thường được chư Phật, chư thiên gia hộ. Nhờ sức hộ trì ấy mà bồ-tát thông đạt tất kinh điển, luận thư trong thế gian”.
Kinh Đại phương tiện báo ân ghi: “Bồ-tát siêng năng tìm cầu bậc thiện tri thức để được nghe Phật pháp, dù chỉ được nghe một bài kệ, một câu, một nghĩa thì phiền não trong ba cõi thảy đều tiêu trừ. Khi chí tâm mong cầu Phật pháp, bồ-tát tha thiết không tiếc thân mạng, dù phải dẫm lên sắt nóng, đi vào lửa dữ, cũng không lo sợ. Bồ-tát vì một bài kệ mà không tiếc thân mạng như thế, huống là mười hai thể loại kinh, vì một bài kệ mà không tiếc thân mạng huống là của cải. Nhờ nghe chính pháp, thân được an vui, lòng tin kiên cô, tâm ý ngay thẳng, hiểu biết đúng đắn. Thấy người thuyết pháp, bồ-tát vui mừng như gặp cha mẹ, tâm không kiêu căng. Bồ-tát vì chúng sinh mà dốc lòng nghe pháp, chứ không vì lợi dưỡng, cũng không vì lợi ích riêng mình. Bồ-tát vì chính pháp, nên không sợ nạn vua, nóng lạnh, đói khát, thú dữ, giặc cướp v.v... Trước hết bồ-tát điều phục phiền não và các căn, sau đó mới nghe pháp”.
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Bồ-tát cầu pháp bằng cách như thế, không quí tiếc trân bảo, cũng không có ý niệm khó xả bỏ. Nếu nghe được một câu pháp chưa từng nghe, xem quí hơn được châu báu đầy khắp cả tam thiên đại thiên thế giới, quí hơn ngôi vị Chuyển luân thánh vương, Thích-đề-hoàn-nhân, Phạm thiên vương. Bồ-tát suy nghĩ: ‘Nếu ta nghe được một câu pháp, thì dẫu phải lao mình từ cõi Phạm thiên xuống tam thiên đại thiên thế giới cháy hừng hực ta còn làm được, huống là hầm lửa nhỏ. Dù lãnh chịu tất cả khổ đau trong các địa ngục thì ta vẫn phải cầu pháp, sá gì một chút khổ não trong cõi nhân gian’. Vì cầu pháp mà bồ-tát phát tâm như thế. Nhờ nghe pháp mà tâm thường an vui, đạt được chính quán”.
Kinh Vị tằng hữu ghi: “Thuở xưa, ở núi Tỉ-đà của nước Tì-ma, có một con dã can bị sư tử đuổi bắt, nên rơi vào một cái giếng ở gò hoang. Trải qua ba ngày, dã can vui vẻ chấp nhận cái chết, tự nói kệ:
Tất cả đều vô thường Hận không cho sư tử Để chết trong giếng khô Tham sống, chết vồ ích Vô ích thật đáng tiếc Lại dơ nước giếng người Con sám hối chư Phật Xin chứng giám lòng con Các ác nghiệp đời trước Đời này xin trả sạch Mong được gặp minh sư Tu đến khi thành Phật.
Đế Thích nghe được, liền cùng tám vạn chư thiên đến bên giếng nói:
- Đã từ lâu chúng tôi không được nghe thánh giáo, mãi ở trong chốn tối tăm. Bài kệ vừa rồi thật cao siêu, xin hãy giảng lại cho chúng tôi nghe!
Dã can đáp:
- Thiên đế thật vô lễ, không biết phép tắc! Pháp sư ở dưới, người nghe ở trên, hoàn toàn không có tâm cung kính mà muốn học hỏi pháp yếu sao?
Bấy giờ, Đe Thích dùng y trời đưa dã can lên khỏi giếng, đỉnh lễ sám hối và nhớ lại: ‘Thuở xưa, từng thấy người thế gian, lập tòa cao cung thỉnh pháp sư’. Thế là các chư thiên cởi y báu xếp thành tòa cao. Dã can liền thăng tòa thuyết:
- Có hai nhân duyên lớn: thứ nhất, thuyết pháp hóa độ trời người, được phúc báo vô lượng; thứ hai, thuyết pháp để báo ân bố thí thức ăn.
Thiên đế nói:
Phần 2

- Tôi cứu ngài thoát chết từ giếng, phúc báo rất lớn, vì sao ân ấy không bằng hai ân trên?
Dã can đáp:
- Việc sống chết mỗi người quan niệm khác nhau, có người tham sống, có người thích chết. Người ngu si không biết sau khi chết sẽ tái sinh, làm trái Phật pháp, không gặp minh sư, tham sống sợ chết, nên sau khi chết đọa vào địa ngục. Người có trí tuệ, biết kính ngưỡng Tam bảo, găp bậc minh sư, bỏ ác tu thiên. Người như thế ghét sống ưa chết, sau khi chết sẽ được sinh lên cõi trời.
Thiên đế nói:
- Như lời ngài dạy thì việc tôi cứu sống ngài không có công đức gì. Vậy chúng tôi xin được nghe về việc bố thí thức ăn và bố thí pháp.
Dã can đáp:
- Bố thí thức ăn cho người đói khát thì cứu được mạng sống trong một ngày; bố thí của cải sẽ giúp người thoát khỏi thiếu thốn trong một đời, nhưng chỉ kéo dài mạng sống sinh tử. Thuyết pháp giáo hóa sẽ giúp chúng sinh lìa xa thế gian, chứng quả vị Tam thừa, không rơi vào ba đường ác, thụ hưởng phúc báo nhân thiên. Vì thế Đức Phật dạy bố thí pháp, sẽ được vô lượng công đức.
Thiên đế thưa:
- Hiện tại ngài mang thân hình này là thân nghiệp báo hay thân ứng hóa?
Dã can đáp:
- Là thân nghiệp báo!
Thiên đế nói:
- Tôi nghĩ ngài là thánh nhân, nay biết ngài mang thân nghiệp báo, không rõ việc ấy thế nào, xin được nghe nguyên nhân.
Dã can nói:
- Xưa kia tôi là con một gia đình nghèo, thuôc dòng Sát-đế-lợi ở thành Ba-đầu-ma, nước Ba-la-nại. Từ nhỏ tôi đã thông minh lại rất hiếu học. Năm mười hai tuổi, tôi vào núi tìm thầy học đạo, siêng năng tu tập không phút giây biếng trễ. Trải qua năm mươi năm, tôi đã thông đạt chín mươi sáu loại kinh sách.
Tất cả đều nhờ ân của hòa thượng tôn sư, ân đức ấy thật khó báo đáp. Do quá khứ có tu tuệ, nên tôi biết được thân đời trước của mình. Đến khi làm hoàng đế tôi tham đắm dục lạc, phúc báo hết, mạng chung đọa vào địa ngục, mãn tội địa ngục làm thân súc sinh. Bấy giờ, thiên đế cùng tám vạn chư thiên, xin thụ trì thập thiện. Sau khi thụ giới xong, thiên đế thưa:
- Nay chúng tôi xin trở về thiên cung. Bao giờ hòa thượng xả thân nghiệp báo này để sinh lên cõi trời?
Dã can đáp:
- Bảy ngày sau ta sẽ xà báo thân này sinh lên cõi trời Đâu-suất. Các ông có thể nguyện sinh về cõi trời này, nơi đây có nhiều bồ-tát thuyết pháp giáo hóa.
Quả thật, bảy ngày sau dã can chết sinh vào cõi trời Đâu-suất, lại biết đời trước của mình đã từng tu tập mười điều thiện.”.
Kinh Hiền ngụ ghi: “Trong một khu rừng tại nước Ba-la-nại, lúc Đức Thế Tôn giảng nói diệu pháp cho chư thiên và bốn chúng nghe, có một bầy nhạn năm trăm con đang bay lượn trong không trung. Chúng nghe được âm thanh của Phật, lòng rất vui thích, liền sà xuống nghe, nhưng bị thợ săn giăng lưới bắt hết. Sau khi bị giết, bầy nhạn sinh vào cõi trời Đao-lợi, từ đầu gối chư thiên. Vừa sinh ra, họ đã lớn bằng đứa bé tám tuổi, thân tướng xinh đẹp, sáng rỡ như núi vàng, không ai sánh bằng. Những vị trời này bèn suy nghĩ: ‘Do nhân duyên gì ta được sinh vào cõi trời này?’, Biết được đời trước do ưa thích Phật Pháp mà được phúc báo hôm nay, do đó tất cả đều mang hoa bay xuống cõi Diêm-phù-đề, đến bên Thế Tôn cung kính đỉnh lễ dưới chân Ngài và thưa:
- Chúng con nhờ nghe pháp âm của Thế Tôn mà được sinh về. cõi trời. Xin Ngài thương xót chỉ dạy cho chúng con.
Đức Phật liền thuyết pháp tứ đế, tất cả đều chứng quả Tu-đà-hoàn, rồi từ biệt trở về”.
85.6.3. Lợi ích
Kinh Đại bảo tích ghi: “Thứ sáu, bồ-tát tụ tập trí tuệ, có mười pháp chẳng đồng với Nhị thừa:
1. Tư duy phân biệt được nguồn gốc của định tuệ
2. Tư duy không lìa nhị biên đoạn thường.
3. Tư duy nhân duyên các pháp sinh khởi.
4. Tư duy không có chúng sinh, ngã, nhân, thọ mạng.
5. Tư duy không có ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai.
6. Tư duy các hành không sinh mà chẳng đoạn nhân quả.
7. Tư duy pháp không mà siêng năng gieo trồng nhân thiện.
8. Tư duy vô tướng mà nguyện độ tất cả chúng sinh.
9. Tư duy vô nguyện, nhưng không lìa tâm nguyện đạt đến quả vị Bồ-đề.
10. Tư duy vô tác mà không xả thân hiện tại.
Bồ-tát tu trí tuệ ba-la-mật như thế, nên không đồng với thanh văn và bích-chi phật”.
Kinh Nguyện đăng tam-muội ghi: “Đức Phật dạy:
- Bồ-tát tu tập trí tuệ sẽ được mười điều lợi ích:
1. Buông xả tất cả mà không khởi ý niệm buông xả.
2. Giữ trọn vẹn giới pháp nhưng không nương vào giới.
3. Luôn an trụ trong pháp nhẫn, nhưng không trụ vào ý niệm về chúng sinh.
4. Thực hành tinh tiến, nhưng lìa thân tâm.
5. Tu tập thiền định, nhưng không có chỗ trụ.
6. Ma vương Ba-tuần không thể quấy phá.
7. Tâm không bị dao động trước ngôn luận của người khác.
8. Thấu đạt cùng tột biển sinh tử.
9. Tăng trưởng tâm từ bi đối với tất cả chúng sinh.
10. Không thích pháp Thanh văn và Bích-chi Phật.
- Nếu Bồ-tát nào ưa tu hạnh đa văn sẽ được mười điều lợi:
1. Biết phiền não trợ giúp cho việc tu đạo.
2. Biết thanh tịnh trợ giúp cho việc tu đạo.
3. Tâm không nghi hoặc.
4. Thấy biết chân chính.
5. Xa lìa tà đạo.
6. An trụ chính đạo.
7. Mở pháp môn Cam lồ.
8. Gần với quả vị Bồ-đề Phật.
9. Làm ánh sáng soi đường cho tất cả chúng sinh.
10. Không sợ đường ác”.
Lục độ tập kinh ghi: Có bốn tư duy đầy đủ trí tuệ:
1. Không trụ đoạn kiến.
2. Không chấp thường kiến.
3. Thấu rõ mười hai nhân duyên.
4. An nhẫn nơi hạnh vô ngã.
- Bồ-tát có bốn đối tượng để bảo vệ và giúp đỡ mà đầy đủ trí tuệ:
1. Bảo vệ, giúp đỡ pháp sư như vua của mình.
2. Bảo vệ, giúp đỡ các căn lành.
3. Bảo vệ, giúp đỡ thế gian.

Phần 3

4. Bảo vệ, giúp đỡ những người làm việc lợi ích.
- Bồ-tát lại có bốn hạnh vô yểm túc (VYT là mong cầu không biết đủ) đầy đủ trí tuệ:
1. Đa văn vô yểm túc.
2. Thuyết pháp vô yểm túc.
3. Tu tuệ vô yểm túc.
4. Tu trí vô yểm túc”.
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Đức Phật dạy:
- Này Phật tử! Tất cả chư Phật có mười điều chưa từng sai lệch thời gian:
1. Tất cả chư Phật thành tựu quả vị Đẳng chính giác chưa từng sai thời.
2. Tất cả thiện căn, nghiệp báo của chư Phật chưa từng sai thời.
3. Tất cả chư Phật thụ kí cho hàng bồ-tát chưa từng sai thời.
4. Tất cả chư Phật tùy sự mong cầu của chúng sinh mà thị hiện thần thông chưa từng sai thời.
5. Tất cả chư Phật hiện thân Như Lai chưa sai thời.
6. Tất cả chư Phật đều thực hành pháp xả chưa từng sai thời.
7. Tất cả chư Phật vào thành ấp, tụ lạc chưa từng sai thời.
8. Tất cả chư Phật nhiếp thủ những chúng sinh vui vẻ chưa từng sai thời.
9. Tất cả chư Phật không buông bỏ những chúng sinh khó giáo hóa, điều phục họ chưa từng sai thời.
10. Tất cả chư Phật thị hiện thần thông tự tại không thể nghĩ bàn chưa từng sai thời”.
Có bài tụng:,
Tam đồ thật gian nan
Lục độ làm nền tảng
Thí, giới, nhẫn, tinh tấn,
Thiền, trí độ kẻ mê
Tứ đẳng thường chiếu soi
Tam học luôn đau đáu
Như thế mới lợi ích.
Tất cả tạo từ tâm
Nhiễm tịnh do thức biến
Lấy bỏ cũng bởi ta
Giải thoát, hết lầm mê
Dứt vọng, an vui hiện
Lục tế che đã lâu
Bát chính mở thông đạt
Phúc trí đều cảm hiển
Lí lượng thảy dung thông.
85.6.4. Cảm ứng
85.6.4.1. Đời Tấn, miếu thần ở Đình Hồ: ở Dương châu, cạnh bờ sông có miếu Đình Hồ. Vị thần miếu này vô cùng hung bạo. Bấy giờ, có tăng Pháp Tạng rất giỏi chú thuật, có thể hàng phục tà ma, yêu quái. Có một vị tăng trẻ theo Pháp Tạng học chú thuật. Vài năm sau, khi việc học đã thành tựu, vị tăng cũng có khả năng trừ tà ma như thầy mình. Vì thế, vị tăng trẻ đến miếu Đình Hồ tụng chú hàng phục ác thần. Đêm đó, vừa thấy thần xuất hiện, vị tiểu tăng sợ quá mà chết. Hay tin đệ tử chết, Pháp Tạng rất tức giận, đêm ấy liền đến miếu thần tụng chú. Nhưng khi thần miếu xuất hiện, Pháp Tạng cũng chết.
Lúc ấy, có vị tăng tên Hải Thường, trú cùng chùa với thầy trò Pháp Tạng chuyên trì kinh Bát-nhã, nghe hai thầy trò Pháp Tạng chết, liền đến miếu thần tụng kinh Kim cương Bát-nhã. Đến giữa đêm, sư nghe tiếng gió hú rất lớn. Chốc lát, một quái vật xuất hiện, to lớn sừng sững thật đáng sợ, răng dài và bén nhọn, mắt sáng như điện chớp, biến hóa thiên hình vạn trạng không thể kể xiết. Sư vẫn ngồi ngay thẳng nhất tâm tụng kinh, điềm nhiên không chút lo sợ. Thần liền trở lại nguyên hình, thâu thần lực, đến trước sư, quì gối sát đất, chắp tay cung kính nghe kinh. Tụng kinh xong, sư hỏi thần:
- Đàn việt là thần gì? Lúc mới đến ta thấy ông rất hung dữ, sau đó lại ôn hòa vậy?
Thần đáp:
- Đệ tử là thần ở miếu này. Do tạo nhiều ác nghiệp nên phải chịu quả báo như vầy, nhưng đệ tử rất kính tin người tụng kinh!
Sư lại hỏi;
- Nêu biết kính tin Tam bảo, sao thần lại đánh chết hai vị tăng kia?
Thần đáp:
- Hai vị tăng ấy chết là vì không thụ trì kinh điển Đại thừa, tụng chú mà tâm sân giận. Thấy đệ tử đến, họ xông đến chửi mắng, tụng ác chú muốn hàng phục đệ tử, nhưng đệ tử không khuất phục. Vì thấy hình tướng hung dữ của đệ tử, hai vị tăng ấy sợ quá mà chết, chẳng phải đệ tử cố ý giết hại!
Đạo tục lân cận thấy hai vị tăng trước bị chết, nghĩ rằng sư cũng bị hại như vậy. Nên sáng hôm sau, họ kéo nhau đến xem, thấy sư vẫn bình an, dung mạo vui tươi, đều ngạc nhiên, tranh nhau hỏi nguyên do, sư kể lại tất cả sự việc.
Đây quả thật là nhờ oai lực của kinh Kim cương Bát-nhã. Lời Phật dạy không bao giờ hư dối, nhân đây mọi người đều phát tâm thụ trì kinh này.
85.6.4.2. Đời Ngụy, sa-môn Thích Chí Trạm: Sư ở chùa Hàm Thảo, núi Nhân Đầu, Thái Nhạc, người huyện Sơn Trang, Tề châu.
Sư là đệ tử hàng tăng tôn của ngài Pháp Lãng tính tình thuần hậu, hiểu biết mọi việc nhưng ít nói Sư xuất gia ở chùa Hàm Thảo, chùa này dọ ngài Cầu-na-bạt-ma thời Tống xây dựng. Sư đến gần muôn thú nhưng không làm chúng kinh sợ. Sư chuyên tâm trì tụng kinh Pháp hoa vấ lấy đây làm sự nghiệp tu tập,
Lúc sư sắp viên tịch, sa-môn Bảo chí tâu Lương Vũ đế:
- Tại huyện Sơn Trang phía bắc, có vị tăng ở chùa Hàm Thảo là thánh nhân đã chứng quà Tu-đà-hoàn, hôm nay sẽ nhập niết-bàn.
Nghe vậy, đạo tục khắp kinh độ Lạc Dương đều từ xa hướng về đỉnh lễ. Sư ngồi ngay thẳng an nhiên thị tịch, hai bàn tay mỗi bên duỗi ra một ngón. Có vị tăng ở Thiên Trúc giải thích: "Nếu là thánh nhân
chứng Nhị quả thì mỗi bên duỗi hai ngón, sư chỉ duỗi một, nhất định là chỉ chứng Sơ quả". Đồ chúng an táng sư tại núi Nhận Đầu và xây tháp phụng thờ, chim muông cầm thú không đến vấy bẩn, hiện tháp vẫn còn.
Ở Ung châu cũng có vị tăng chuyên tâm trì tụng kinh: Pháp hoa ẩn cự trong núi Bạch Lộc, cảm đến đồng tử ứng hiện mang vật phẩm đến cúng dường.
Lúc viên tịch, nhục thân vị tặng đươc ạn táng nơi sườn núi. Trải qua nhiều năm, toàn bộ thi hài vị tăng đều mục nát, chỉ cái lưỡi là vẫn còn nguyên vẹn.
vào đời Vũ Thành Đế (561 - 562) nhà Bắc Tề, tại vùng Khám sơn phía đông Tinh Châu có người phát hiện một khảnh đất màu vàng nhạt, khác với đất quanh đó. Người ấy liền đào lên thì thấy một vật hình dạng giống miệng người, bên trong có cái lưỡi đỏ hồng tươi nhuận, liền đem sự việc tâu lên vua. Vua hỏi khắp chúng tăng, nhưng không ai biết. Lúc đó sa-môn Đại thống pháp sư thưa:
- Thưa bệ hạ, đó là nhờ cộng đức trì tụng kinh Pháp hoa nên sáu căn chẳng hoại. Nếu người chuyên tâm trì tụng đến ngàn biến thì nhất định sẽ cảm được điềm lành này!
Nghe vậy, vua liền sắc lệnh cho quan. Trung quân xá nhân Cao Trân: “Khanh là người kính tin Phật Pháp, hãy đến xem xét. Nếu quả có việc linh dị đó thì nên - dời đến an trí nơi thanh tịnh, thiết trai cúng dường!"
Cao Trân phụng mệnh, đến nơi thỉnh tất cả các sa-môn chuyên trì kinh Pháp hoạ, mỗi vị bưng một lư hương, thanh tịnh nhiễu quanh và chú nguyện:

Phần 4

- Bồ-tát niết-bàn đã lâu, tượng pháp lựu bố rộng khắp, chúng đệ tử phụng, hành không dám sai lệch. Nay xin bồ-tat hiện linh cảm!
Vừa dứt lời, môi và lưỡi đều cử động, tuy không phát ra tiếng mà giống như đang tụng kinh, Mọi người tận mắt chứng kiến, thân tâm đều rúng động. Cao Trân đem sự việc tâu vua. Vua liền ban chiếu an trí linh vật vào hộp bằng đá, đưa đến sơn thất phụng thờ.
Nhà Ngụy, niên hiệu Thái Hòa thứ nhất (477) quan thái giám ở kinh đô Bắc Đại buồn khổ vì cơ thể mình không giống mọi người, nên khẩn thiết xin vua vào núi tu tập. Được vua chuẩn tấu, ông ta liền mang theo một bộ kinh Hoa nghiêm, sớm tối đọc tụng, lễ lạy sám hối không chút biếng trễ. Đầu mùa hạ, ông ta vào núi nhưng chỉ đến cuối tháng sáu thì râu mọc ra, âm tướng xuất hiện, tướng trượng phu trở lại bình thường như trước. Ông ấy liền tấu trình sự thật lên vua, Cao tổ càng kính tin Phật pháp, mọi người trong cung cũng kinh ngạc. Từ đó, kinh Hoa nghiêm được truyền bá hưng thịnh khắp nước Bắc Đại.
85.6.4.3. Đời Đường, sa-môn Thích Tuệ Nhân: Sư họ Vu, người Hải Diêm, Ngô quận, ở chùa Đại Trang Nghiêm, Tây Kinh. Bản tính sư ôn hòa, khoan dung, thông minh hơn người.
Sau, sư đến chỗ pháp sư Biện ở chùa Trường Can thụ học Tam luận, thấu đạt ngôn từ vi diệu của Thật tướng, thông suốt yếu chỉ sâu xa của Mãn tự, như rót nước từ bình này sang bình kia, như màu xanh xuất phát từ lam, lại xanh hơn lam.
Sau khi đã thụ học nơi pháp sư Biện, sư trở về ẩn cư chốn núi rừng, đem pháp yếu truyền trao lại cho đồ chúng. Đệ tử theo học có hơn năm trăm người, tiếp nối hoằng truyền trải suốt ba mươi năm.
Nhà Trần, niên hiệu Thái Kiến thứ tám (576), vào đầu mùa an cư, bỗng sứ giả chốn u minh đến thưa:
- Diêm vương thỉnh pháp sư!
Sư thấy có tùy tùng rầm rộ theo sau, âm nhạc hòa vang. Ngay lúc đó, sư tắt thở, nhưng cơ thể vẫn như còn sống. Bảy ngày sau, sư tỉnh lại, như vừa xuất định. Đồ chúng hỏi sự tình, sư chỉ nói:
- Xem thử có vật gì trong rương?
Đồ chúng tìm thấy có hai cuộn vải lụa. Sư nói:
- Đây là phẩm vật cúng dường!
Đồ chúng lại gạn hỏi duyên do, sư liền nói:
- Vọng tưởng điên đảo, biết để làm gì! Ta được Diêm-la vương mời, suốt mùa an cư giảng Đại phẩm Bảt-nhã ở chốn u minh, tính theo thời gian cõi u minh là đã trải qua ba tháng!
Sau, sư còn chứng kiến các tướng trạng địa ngục và thứ tự năm khổ. Nếu chẳng phải bậc trượng phu có lòng từ bi bao trùm cõi âm dương, đức hạnh cảm thông đến cùng khắp, thì làm sao đến được cõi u minh, thức thần dạo đi trong cõi khác!
Ngày mười hai tháng hai, niên hiệu Trinh Quán thứ nhất (627), sư an nhiên thị tịch tại chùa Đại Trang Nghiêm, thọ thế 89 tuổi.
85.6.4.4. Đời Đường, sa-môn Thích Tuệ Lăng: Sư họ Thân Đồ, ở chùa Tử Kim, Tương châu. Mỗi khi bàn luận Phật pháp, mọi người đều thỉnh sư, giảng thuật lại. Sư diễn đạt bằng ngôn từ chất phác, nhưng hàm chứa nghĩa lí sâu xa, nên người đương thời: đều gọi sư là Đắc Ý Lăng,
Rằm tháng giêng, niên hiệu Trinh Quán 14.(640), pháp sư Sưởng ở chùa. Cảm Thông tại Tương Châu, kể lại: “Ta mộng thấy Diêm-la vương đến thỉnh sự Tuệ Lăng giảng Tam luận và còn hỏi sư Lăng:
- Pháp sư Sưởng giảng kinh Pháp Hoa thế nào?
Tuệ Lăng đáp:
- Rất tốt!
Sư luôn phát nguyện vào địa ngục giáo hóa chúng sinh, giảng kinh Đại thừa. Nay đã có điềm linh ứng như vậy thì tâm nguyện sư đã thành tựu
Đến cuối tháng chín, Tưởng vương biết sức khỏe sư đã suy kiệt, nên cho người mang đến Thiều châu hai lạng sữa, ép sư uống. Đêm đố, sư mộng thầy một người mặc quan phục đến bảo:
- Đừng uống sữa này! Diêm-la vương đã trang nghiêm đạo tràng để nghinh đón sư, ở đó có nhiều thuốc quí!
Đến giữa tháng mười, vào lúc hoàng hôn, biết bênh tình không thuyên giảm, sư nói với các đệ tử:
- Ngũ tạng của ta đã hư hoại, nhưng không cảm thấy đau đớn Canh tư đêm ấy, sư ngồi dậy, nói với tự chủ Bảo Độ
- Ta nhớ lúc tám tuổi đến nương nhờ ngài Quán Âm ở chùa Long Tuyền; chưa đến Kì-xà quật đã giảng ba biến, tất cả hiện rõ ràng như ở trước mắt!
Sư nói chưa xong đã nghe bên ngoài có người nói:
- Thỉnh pháp sư hãy mau đến đốt hương!
Ngay lúc ấy, sứ giả đến, Bảo độ hỏi:
- Ông là ai
Đáp:
- Tối là sứ giả của Diêm Vương, đến đón pháp sư Lăng!
Sư liền đốt hương, tắm gội, lễ Phật, sám hối xong, sau đó trở về phòng từ biệt Bảo Độ. Ăn chưa xong bữa cháo, sự lại lấy sách ghi chép những việc trong một đời của mình đốt đi và nói
- Tập sách này để mọi người đọc cũng không ích lợi gì!
Vừa đến giờ ăn sáng, bổng có mùi hương lạ lan tỏa, sư ngồi ngay ngắn an nhiên thị tịch, thọ thế 65 tuổi, bấy giờ nhằm ngày mười sáu tháng mười niên hiệu Trinh Quán mười bốn (640).
85.6.4.5. Đời Đường, sa-môn Thích Pháp Mẫn: Sư họ Tôn; người Đơn Dương, xuất gia ở chùa Tịnh Lâm, Việt châu, thường giảng kinh Pháp hoa và Tam luận.
Niên hiệu Trinh Quán thứ nhất (627), sư trở lai Đơn Dương giảng kinh Hoa nghiêm và Niết-bàn. Đến niên hiệu Trinh Quán thứ hai (628), đô đốc Điền ở Việt châu thỉnh sư đến chùa Nhất Âm tiếp tục giảng thuyết. Tăng ni và cư sĩ vui mừng đến nghe pháp hơn mấy nghìn người.
Niên hiệu Trinh Quán thứ mười chín (645), các cư sĩ ở Cối Kê thỉnh sư đến chùa Tĩnh Lâm giảng kinh Hoa nghiêm. Cuối tháng sáu năm đó, lúc sư đang giảng kinh, bỗng nhiên có một con rắn dài khoảng bảy thước, màu vàng ròng, phun ánh sáng năm màu, treo nửa mình phía trên đầu sư, chờ giảng xong mới ẩn mất. Cuối mùa hạ năm ấy, sư trở lại chùa Nhất Âm. Đêm nọ, có hai người mặc áo đỏ đến đỉnh lễ sư và thưa:
- Pháp sư giảng bốn bộ kinh Đại thừa, công đức này thật vô lượng! Ngài nên đến nơi khác giáo hóa, chúng tôi từ phương đông đến đây cung thỉnh ngài.
Mấy mươi người đệ tử sư đều thấy như vậy.
Ngày mười bảy tháng tám năm ấy, trước đó ba ngày ba đêm, trời bỗng nhiên tối mịt. Đến ngày hai mươi ba, lúc sư sắp viên tịch thì trời sáng rực, đêm cũng như ngày. Bấy giờ sư an nhiên thác hóa, trụ thế sáu mươi bảy tuổi. Nhục thân sư để một tuần sau mới an táng, hương thơm phảng phất mãi.
85.6.4.6. Đời Đường, sa-môn Thích Không Tạng: Sư họ Vương, ở chùa Hội Xương, tại Kinh đô; tổ tiên ở Tấn Dương, nay là huyện Tân Phong, Ưng châu.
Từ lúc mang thai sư, tự nhiên người mẹ không ăn cá thịt, mọi người trong gia đình đều thầm kinh ngạc. Sư được sinh ra, tuy còn nhỏ mà trí tuệ đã hiển lộ, ý chí cao xa, chuyên tâm đọc tụng kinh luận, có hoài bão cứu đời. Sư thông minh và siêng năng hơn người, ngày tụng hơn vạn lời kinh, nên vừa đến tuổi trưởng thành đã thuộc hơn ba trăm quyển kinh luận. Sư cũng đã trích những câu cốt yếu trong các kinh Đại thừa biên tập thành hơn mười quyển, lưu hành ở đời. Mỗi ngày sư lễ một nghìn vị Phật Hiền kiếp; xuân hạ hành trì Phương đẳng sám pháp, thường ngồi không nằm, siêng năng tu tập không bỏ phí thời gian.
Ngày mười hai tháng năm, niên hiệu Trinh Quán mười sáu, sư viên tịch ở chùa Hội Xương, thọ thế bảy mươi bốn tuổi. Di thể được đưa đến trà-tì bên cạnh chùa Long Trì. Bốn chúng thâu xá-lợi của sư rồi nhập tháp phụng thờ. Xương đầu của sư hai tai thông nhau, đỉnh đầu có hai lỗ, mỗi vành mắt đều có ba lỗ. Chúng đệ tử nhớ lại công hạnh của sư trước đây, lập bia tưởng niệm ở chùa Hội Xương. Tả bộc xạ Yên quốc công Vu Chí Ninh đích thân soạn văn bia.
85.6.4.7. Đời Đường, sa-môn Thích Di Dụ: Sự trì tụng kinh Pháp Hoa hơn ngàn biếm Niên hiệu Trinh Quán thứ nhất (627) sư lâmbệnh, khi sắp viên tịch, dặn dò bằng hữu Tuệ Quách

Phần 5

- Xưa nay ta tụng kinh, tâm luôn mong cầu có sự linh nghiệm! Sau khi ta mất, huynh chôn cất thi thể ta kĩ lưỡng. Mười năm sau, huynh hãy đào lên xem lưỡi có bị hoại không. Nếu không, hãy xây tháp phụng thờ, để biểu thị sự lịnh nghiệm của việc tụng kinh!
Dặn dò xong, sư viên tịch, Tuệ Quách an táng theo như di chúc.
Đến niên hiệu Trinh Quán mươi một (637). Tuệ Quách và người bạn thân đến đào huyệt, thấy thi hài sư đều tan hoại, chỉ cổ lưỡi còn nguyên vẹn. Dân chúng khắp huyện chứng kiến, đều hết lòng kính ngưỡng. Tuệ Quách đặt lưỡi vào hòm đá, đưa về về Tính cốc phía bắc Dương Lục xây tháp và lập bia phụng thờ. Từ đó, những người hay biết đều phát niềm tin, dốc lòng trì tụng kinh này.
85.6.4.8. Đời Đường, tả bộc xạ Tống Quốc công và anh là Thái phủ tự đại khanh: Hai người này có địa vị tôn quí, sử sách còn truyền tụng. Hai anh em rất thích tu đạo, không bỏ phí thời gian, tụng làu kinh Pháp hoa được hơn vạn biến; Anh em mỗi người phát tâm tạo nghìn bộ Pháp hoa, yêu cầu người chép kinh phải trai giới thanh tịnh, còn các ông đích thân xem xét đối chiếu để tránh sai sót. Sau đò trang hoàng bìa bao, xếp kinh vào hòm, phân bổ lưu hành khắp nơi. Hai ông bảo mỗi người thỉnh kinh phải chép một chương. Còn mình đích thân ngày lễ một biến. Riêng Quốc công soạn kinh sớ hơn mười quyển, ông tập hợp các thuyết của hơn ba mươi nhà, rồi chọn lấy những tinh hoa để tư duy nghiên cứu.
Những lúc rảnh rỗi; Quốc công thường thăng tòa thuyết giảng. Mỗi khi khai đề giảng một Bộ kinh, ông đều đích thân mời thỉnh các bậc danh đức chốn kinh thành và những vị quan quyền cao chức lớn khắp trong nước tham dự, đích thân: ông đến tận nơi chào hỏi tỏ lễ khách chủ. Còn Thái Phủ khanh thì thích đọc tụng, phát tâm sao chép ngàn bộ kinh Pháp hoa, cũng tự thân xem xét đối chiếu.
Mỗi khi tham triều, ông đều bảo thị vệ thỉnh bộ kinh đi phía trước. Khi công việc có chút nhàn rỗi, liền lật kinh ra đối chiếu xem xét, thời khóa qui định ngày tụng một biến kinh. Những điềm lành hiển hiện của họ khó kể hết, gia mốn cao quí thật cũng khó thuật đủ.
85.6.4 9. Đời Đường, người phụ nữ họ Tiêu: Bà là vợ của Tư nguyên đại phu Thôi Nghĩa Khải và là con gái của Tiêu Khanh. Tiêu Khanh là cháu quan Tả bộc xạ Tống công Tiêu Vũ? Tính bá nhiều đố kị sân giận, hay đánh đập nô tì, lại không tin nghiệp báo.
Niên hiệu Lân Đức thứ nhất (664), bà theo vua đến Lạc Dương, tháng giêng năm sau bà ta qua đời, đọa vào địa ngục. Bà có một tì nữ khả ái là Nhuận Ngọc vừa tròn mười tám, tuy thân phận thấp hèn, nhưng dung mạo xinh đẹp đoan chính, bẩm chất thông minh, lại rất kính tin Phật pháp. Đến tháng hai, gia quyến thiết trai cúng hai mươi mốt ngày. Lúc tăng chúng thụ trai, phu nhân hiện về, cổ đeo gông, lưng bị trói, có lính ngục theo canh chừng, nhưng chỉ có tì nữ Nhuận Ngọc thấy còn những người khác thì không. Hồn phu nhân gá vào Nhuận Ngọc nói với tất cả mọi người trong gia đình, giọng nói không khác lúc bà còn sống:
- Từ lúc đến nhà họ Thôi, ta hay sân giận, ngang bướng đố kị, thường đánh nô tì, lại không tin nhân quả, nên nay đọa vào địa ngục chịu tội khôn cùng, bị đủ hình khổ, không thể kể xiết! Hôm nay biết mọi người trong gia đình đã vì ta mà thiết trai cúng hai mốt ngày, ta đã xin quan ngục tạm tha một bữa, đến đây xem.
Từ lúc ở chung với các người đến nay, ta tạo đủ ba nghiệp về thân, bốn nghiệp về miệng, ý đủ ba độc tham sân si, lại thường hung hăng đánh đập ngươi và ganh ghét những người tốt, đối xử tệ với những tì thiếp, tạo nhiều nghiệp ác, nên nay phải lãnh chịu quả khổ không thể kể xiết. Nay ta xin tất cả nam nữ lớn nhỏ trong nhà, quyến thuộc hai bên, cho ta được sám hối! Xin mọi người hoan hỉ! Giả như mọi người nhớ ân nuôi dưỡng của ta, thì hãy mau đem toàn bộ vật dụng và của cải lúc ta còn sống bố thí làm phúc. Như thế mới mong giúp ta thoát được khổ não chốn U minh! Đến bốn chín ngày, hãy vì ta thiết trai cúng đường chư tăng, mong nhờ công đức này, tâm nguyện ta sớm được thành tựu. Đến ngày thiết trai, ta sẽ xin quan ngục cho đến đây lần nữa!
Rồi lại nói với chồng và con cái:
- Phu quân! Tính ông vốn nóng nảy, nhưng cũng đừng sân giận quá mà đánh đập nô tì, phải biết kính tin Tam bảo, tôn trọng bậc trưởng thượng, siêng năng tu trì trai giới, luôn hành bố thí, nhẫn nhục.
Khi sắp về lại âm phủ, phu nhân nói với con cái:
- Ta dẫn theo Nhuận Ngọc đến địa ngục để chứng kiến cảnh ta chịu hình khổ thế nào. Năm sáu ngày sau, ta sẽ trả về, để nó kể lại cho con cái của chàng biết được việc ta thụ khổ.
Vừa dứt lời, Nhuận Ngọc ngã lăn ra đất chết, toàn thân lạnh ngắt chỉ nơi ngực vẫn còn ấm, nên không ai dám chôn cất. Đến địa ngục, Nhuận Ngọc thấy một đại điện, ngoài cổng có cắt đặt binh lính canh giữ cẩn mật, nghĩ là điện của vua nên không dám nhìn vào. Đến một viện ở phía đông, Nhuận Ngọc thấy trong sảnh đường có vị quan lớn, nghĩ đó là quan phán xét tội; đi qua phía đông của viện này, thấy đủ loại hình khổ chốn địa ngục, giống như tranh vẽ về địa ngục đã thành ở nhân gian. Bấy giờ, phu nhân nói với Nhuận Ngọc:
- Cô hãy xem khổ hình mà ta phải chịu!
Vừa nói xong, liền có rất nhiều lính ngục và la-sát đến đánh đập phu nhân, cắt da xẻ thịt, ném vào chảo nước sôi nấu chín rồi cho sống lại. Kế đó tiếp tục chịu hình phạt kềm sắt kéo lưỡi, chim sắt mổ mắt; lại nằm giường sắt, chim bay; lửa dữ đồng thời ập đến; chết đi sống lại, chịu muôn hình khổ, không thể kể hết.
Phu nhân vừa sống lại, liền thấy cha là Tiêu Khanh ngồi! tòa sen báu từ hư không bay đến. Lúc còn sống, Tiêu Khanh làm nhiều chức quan, nhưng không uống rượu ăn cá thịt, siêng năng trì tụng ngày, một biến kinh Pháp hoa, cung kính Tam bảo, ngày đêm sáu thời lễ lạy không bỏ phế, nên nay được sinh vào cõi lành. Nay thấy con gái chịu khổ, ta đến cứu, nói với con:
- Lúc con sống, cha đã hết lòng khuyên con kính tin Phật pháp, không nên sân giận, con không nghe lời, nện nay phải chịu khổ! Nhưng sao lại dẫn tì nữ này đến đây
Phu nhân đáp:
- Vì lúc còn sống con không tin Tam bảo nay phải chịu tội khổ, nên con đưa tì nữ này theo, chứng kiến con bị khổ báo, về kể lại cho mọi người trong gia đình, để họ phát sinh niềm tin!
Nghe vậy, người cha đồng ý , lại nói
- Tuy cha sống trong cõi lành, nhưng không thể cứu con hết tội khổ được. Bản thân con phải nỗ lực phát tâm dũng mãnh và nhờ gia đình làm việc phúc thiện để hộ trợ, thì nhất định sẽ được thoát khổ địa ngục, sinh vào cõi trời người Người cha vừa dứt lời, liền có vị sa-môn trẻ tuổi tướng mạo đoan chính cũng từ hư không bay xuống, nói với phu nhân:
- Do bà không tin nhân quả, nên nay phải chịu tội khổ. Không biết tì nữ này căn tính thế nào? Tôi muốn dạy cô ấy tụng kinh để cô ấy truyền đạt lại cho mọi người, giúp thế gian phát sinh niềm tin!
Phu nhân đáp:
- Xin thầy hãy chỉ dạy! Cô này rất thông minh, học kinh được!
Vị sa-môn liền dậy Nhuận Ngọc tụng kinh cang Bát-nhã. Ban đầu, dạy đọc hai ba hàng thì cô ấy quên một hai câu. Sa-môn dạy tiếp, dần dần cô thuộc được nửa trang rồi đến một trang, không bao lâu thì thuộc làu. Sau đó, Vị thầỵ dậy thêm kinh Dược Sư và Pháp hoa, lúc này cô ta chỉ đọc qua một lần đã ghi nhớ tất cả. Ba bộ kinh mà Sa-môn chỉ dạy và trao cho cô không phải chữ Hán mà đều là tiếng Phạn, văn từ tao nhã, âm vận rõ ràng câu cú thông suốt. Thế rồi, lúc cô sắp trở lại nhân gian; vị Sa-môn dặn thêm:
- Cô trở vế nhà, gặp bất cứ người nào cũng đọc cho họ nghe. Tăng tục đất Hán sẽ không hiểu tiếng cô đọc, hãy tìm một sa-môn giỏi tiếng Phạn đến dịch lại sẽ rõ thiện ác! Người thế gian phần nhiều tin vào đường tà, không tin Phật pháp, nhưng thấy người thấp hèn như cô lại biết tung ba bộ kinh bằng tiếng Phạn, há lại không phát sinh niềm tin sao? Nếu giúp được một ngươi cải tà quy chính, chẳng những phu nhân được phúc mà bản thân cô cũng được phúc báo không rơi vào ba đường dữ!
Nghe lời dặn dò xong, tì nữ trở về. Khi sống lại, cô làm theo lời dặn, tập hợp mọi người lớn nhỏ trong gia quyến, kể hết cảnh tình phu nhân chịu khổ chốn địa ngục. Sợ chủ nhân, công tử và mọi người không tin, cô nằm xuống đất diễn tả lại cảnh phu nhân chịu khổ ở địa ngục. Lúc thì cô kể thấy phu nhân nuốt hòn sắt nóng, miệng đỏ rực, bụng nóng như lửa đốt; lúc lại nói nhìn thấy phu nhân lưỡi dài ra hai ba thước bị cày sắt cày trên đó; lại bảo thấy phu nhân nằm giường sắt nóng, toàn thân đỏ rực, như lửa đốt, cứ thế liên tục chịu nhiều hình khổ khác nhau, sau đó sống lại.

Phần 6

Tì nữ lại kể: Thấy phu nhân gặp cha mình, được cha khuyên bảo. Lại nói mình được một sa-môn dạy tụng kinh để hồi hướng công đức này giúp phu nhân thoát cảnh địa ngục, sinh lên cõi trời. Thế rồi tì nữ ngồi ngay ngắn, tụng kinh cho mọi người trong gia đình nghe, mỗi chữ mỗi câu đều bằng tiếng Phạn, âm điệu rõ ràng thanh thoát làm mọi người ưa thích. Nhờ vậy, người lớn kẻ nhỏ trong gia đình biết được sự ứng nghiệm của thiện ác mà họ chưa từng nghe. Các con của phu nhân gieo mình xuống đất gào khóc thảm thiết, hơn cả lúc phu nhân mới qua đời. Người tăng kẻ tục và hàng quan lại nghe sự việc này, đều phát tâm kính tin Tam bảo, giữ gìn trai giới.
Niên hiệu Lân Đức thứ nhất (664), có bốn sa-môn từ Tây Vực sang Trung Quốc hiến cúng một viên xá-lợi đỉnh đầu của Phật. Nhân lúc thân quyến của phu nhân là tướng quân Tiết Nhân Quỹ thiết trai cúng dường, mọi người đều đến đông đủ. Bấy giờ các vị quan luận bàn với nhau:
- Tuy tì nữ Nhuận Ngọc tụng kinh tiếng Phạn, nhưng chúng ta không thể hiểu và phân biệt đúng sai! Nên phải cố nài thỉnh bốn sa-môn ấy đến phủ tướng quân thụ trai.
Sau đó cho gọi tì nữ Nhuận Ngọc đến, nhưng họ không kể với bốn thầy sa-môn chuyện cô học được kinh này ở địa ngục mà chỉ nói:
- Chúng tôi nghĩ chỉ có sa-môn mới tụng được ba bộ kinh này, nhưng nghe cô tì nữ này cũng tụng được. Nay muốn thử xem có đúng như vậy không!
Nói xong, liền bảo Nhuận Ngọc đến trước bốn vị tăng tụng kinh. Nhuận Ngọc vừa tụng xong kinh Kim cang Bảt-nhã, bốn vị tăng đều đứng dậy chắp tay khen ngợi cho là việc kì lạ chưa từng có, tự nghĩ tại sao người Hán lại tụng được như thế! Khi cô tụng bộ Dược Sư và Pháp hoa xong, bốn vị tăng càng thêm vui mừng, tôn kính cô như bậc thầy, rồi dịch ba bộ kinh này ra tiếng Trung Quốc và hỏi:
- Vì sao cô gái này biết tụng kinh và âm điệu hay đến thế! Văn từ tao nhã, chính xác không sai lầm. Ở Tây Vực, người tụng giỏi cũng không sánh bằng, phải là người phi phàm mới tụng được như thế!
Lúc này các vị quan mới kể hết sự thật. Nghe vây, bốn vị tăng đều rơi lệ, nghĩ: “Nếu chẳng nhờ oai lực của Phật thầm gia hộ thì đâu thể tụng được như thế!”. Quan lại và dân chúng thấy chư tăng Tây Vực xúc động như vậy, họ càng kính tin Phật pháp, không dám khinh thường. Chứng kiến sự việc, tướng quân tâu lên vua. Nghe xong, hoàng đế liền sắc lệnh cho các quan:
- Thật đã biết có sự âm thầm gia hộ của Phật, pháp và thánh chúng, như thế thì ai mà không tin!
Trăm quan bái tạ, vui mừng nghe được điều chưa từng nghe, tất cả đều tâu:
- Bởi nhờ phúc lớn, ân sâu của Tam bảo che chở chúng sinh, chúng thần ngu muội đâu thể lượng biết! Thánh phàm đều được lợi ích, há không tin được sao?

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục