PUCL QUYỂN 77 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
24/12/2015
QUYỂN 77 Quyển này tiếp theo chương Mười nghiệp ác. 84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt) 84.11. THAM LAM, BỎN XẺN 84.11.1. Lời dẫn Căn nguyên mê lầm của chúng sinh là chấp ngã; cội gốc tà vạy của phàm phu là xan tham. Cho nên...

QUYỂN 77
Quyển này tiếp theo chương Mười nghiệp ác.
84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
84.11.1. Lời dẫn
Căn nguyên mê lầm của chúng sinh là chấp ngã; cội gốc tà vạy của phàm phu là xan tham. Cho nên làm điều thiện nhẹ như tơ hồng, tạo điều ác nặng như gò núi, người có phúc thì ít như băng mùa xuân, người nghèo thiếu lại nhiều như mưa mùa thu; thật khó thoát lưới sáu tình, không sao vượt bờ ba độc. Thân nặng thường bị chìm đắm như cá dưới sông, dù vẫy đuôi muốn bay lên, nhưng không thể giống chim trên trời. Từ đó, cảnh nghèo thiếu tranh nhau bức bách, nỗi khổ sở tiếp nối gây hại, như con thiêu thân lao vào lửa tự đốt cháy mình, như tằm làm kén tự buộc lấy thân.
Do nghiệp tham lam, bỏn xẻn nên chịu tội đói rét. Do bố thí mà đưa đến giàu sang, vui sướng.
84.11.2. Dấn chứng
Như kinh Phân biệt nghiệp bảo có bài kệ:
Thường thích tu trí tuệ
Mà không hành bố thí
Đời sau được thông minh
Nhưng nghèo, không tài sản.
Chỉ thích làm bố thí
Mà không tu trí tuệ
Đời sau được giàu sang
Nhưng ngu si vô trí.
Tuệ và thí đều tu
Đời sau đủ tài, trí
Nếu không tu tuệ, thí
Mãi ngu si, nghèo hèn.
Nhiếp luận ghi: “Bỏn xẻn làm trở ngại sự giàu sang, ganh ghét làm chướng ngại sự tôn quí. Lại nữa, những thứ chúng sinh tham lam không ngoài sác dục và tài vật”.
Lỗi thứ nhất, tham đắm sắc dục, như trước đã trình bày, ở đây chỉ trình bày tóm tắt những điểm khác biệt.
Kinh Niết-bàn ghi: “Ví như có người lấy nữ la-sát làm vợ. La-sát ấy sinh con thì ăn con, hết con thì ăn luôn chồng. Nữ la-sát ái dục cũng như vậy, chúng sinh sinh ra bao nhiêu đứa con thiện thì nó ăn bấy nhiêu, khi đứa con thiện đã hết thì lại ăn luôn chúng sinh, khiến họ đọa vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh.
Lại như người thích hoa đẹp mà không thấy tai họa rắn độc núp dưới cành hoa, vội đưa tay hái liền bị rắn cắn, nọc độc thấm vào thân nên mạng chung. Tất cả phàm phu cũng như vậy, tham đắm hoa năm dục mà không thấv tai họa của rắn độc ái dục này, vội đưa tay hái lấy, liền chạm nọc độc ái dục mà chết, sau khi chết đọa vào ba đường ác”.
Lỗi thứ hai, tham đắm tài vật. Tham đắm tài vật gây ra biết bao đau khổ, trái đạo lí thế gian và xuất thế gian, mất cả người thân, kẻ sơ.
Cho nên, luận Đại trí độ ghi: “Tài vật là nguyên nhân gây ra các nghiệp ác phiền não. Tất cả pháp lành như trì giới, thiền định, trí tuệ là nhân duyên đưa đến niết-bàn. Vì vậy, tài vật mà còn phải bỏ, tại sao không gieo hạt giống bố thí vào ruộng phúc tốt?
Ví như có hai anh em, mỗi người mang theo mười cân vàng đi đường, lại không có bè bạn. Người anh suy nghĩ: ‘Tại sao ta không giết em để lấy vàng? Giữa đồng trống này đâu ai hay biết!’. Người em cũng suy nghĩ, muốn giết người anh để lấy vàng. Hai anh em đều có tâm ác, nên cách nói năng và ánh mắt nhìn nhau đổi khác.
Sau, hai anh em tự tỉnh ngộ, cảm thấy hối hận và nói: ‘Chúng ta chẳng phải người, chằng khác loài cầm thú! Hai anh em ruột sao lại vì một ít vàng mà khởi tâm ác?’.
Thế là, hai anh em cùng đến bờ sông, người anh ném vàng xuống nước. Người em nói:
- Hay thay! Hay thay!
Người em cũng ném vàng xuống nước. Người anh nói:
- Hay thay! Hay thay!
Hai anh em hỏi nhau: ‘Vì sao nói: Hay thay!’? Hai người đều đáp: ‘Chúng ta vì số vàng này mà khởi tâm bất thiện, muốn giết hại nhau, nay bỏ được nó, nên nói: Hay thay!’.
Vì vây, thường phải xả bỏ tài vật.
Luận Đại trang nghiêm ghi: “Xưa ta từng nghe, có lần Đức Phật và tôn giả A-nan đi qua cánh đồng hoang ở nước Xá-vệ. Thấy bên bờ ruộng có một khối vàng, Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
- Đó là rắn độc.
A-nan bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Đúng là rắn độc!
Bấy giờ, có một người đang cày ruộng, nghe Đức Phật và tôn giả A-nan nói có rắn độc, liền nghĩ: ‘Ta đến xem thử sa-môn cho thứ gì là rắn độc’. Đến nơi, ông ta thấy một khối vàng ròng, lại nghĩ: ‘Rắn độc sa-môn vừa nói chính là vàng ròng này’.
Lập tức, ông lấy số vàng kia đem về nhà. Người ấy trước kia rất nghèo, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nhưng từ khi nhặt được vàng thì trở nên giàu có, ăn mặc sung túc.
Vua và các quan rất ngạc nhiên về việc bỗng nhiên giàu có của ông, liền đến tra xét và bắt giam vào ngục. Tuy đã giao nộp toàn bộ số vàng lấy được lúc trước, ông ta vẫn không khỏi tội. Khi sắp bị xử chém ông ta thốt lên:
- Rắn độc, A-nan! Rắn độc, Thế Tôn!
Người đứng bên cạnh nghe lời này, liền tâu lên vua. Vua cho gọi ông ta đến và hỏi:
- Vì sao ngươi nói: ‘Rắn độc, A-nan! Rắn độc, Thế Tôn!’.
Ông ta tâu:
- Hôm trước đang cày ruộng, thần nghe Đức Phật và tôn giả A-nan nói vàng là rắn độc, nay thần mới hiểu.
Nghe nói vậy, vua thả cho ông ta về”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi; “Xưa, lúc Phật còn tai thế, trưởng giả Bà-đề trong thành Xá-vệ là người rất giàu có, tài sản vô số, vàng bạc không thể tính kể. Tuy giàu như thế nhưng ông rất bỏn xẻn, bo bo giữ của, không dám tiêu xài. ông ăn uống tiện tặn, mặc đồ thô xấu, cũng không cho vợ con, họ hàng, người giúp việc, bạn bè, bậc tri thức và các vị sa-môn, bà-la-môn v.v..., lại khởi tà kiến đoạn mất thiện căn. Vì ông không có con nối dõi, nên sau khi chết, tất cả tài vật đều sung vào quan. Vua Ba-tư-nặc đích thân đến nhà ông tịch thu, rồi đến chỗ Phật và thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! Trưởng giả Bà-đề sau khi mạng chung sẽ sinh vào chốn nào?
Đức Phật bảo vua:
- Trưởng giả Bà-đề phúc cũ đã hết mà không tạo phúc mới, lại khởi tà kiến đoạn mất thiện căn, nên sau khi mạng chung sinh vào địa ngực Đề Khốc.
Nghe Đức Phật nói vậy, vua Ba-tư-nặc thương cảm rơi lệ và thưa:
- Trưởng giả Bà-đề đời trước tạo nghiệp thiện gì mà sinh vào gia đình giàu có, do tạo nghiệp ác gì mà không hưởng được sự giàu sang ấy?
Đức Phật bảo vua:
- Từ thời quá khứ lâu xa, sau khi Đức Phật Ca-diếp nhập niết-bàn, vị trưởng giả này làm con cửa một điền chủ ở nước Xá-vệ. Một hôm, có vị bích-chi phật đến nhà ông khất thực, trưởng giả này mang thực ăn ra cúng dường. Vị bích-chi phật được thức ăn, liền bay lên hư khồng mà đi. Thấy vậy, trưởng giả phát nguyện: ‘Mong nhờ căn lành này khiến cho con đời đời sinh ra nơi nào cũng được giàu có, không đọa vào ba đường ác’. Tuy nhiên, sau khi cúng dường, ông lại hối tiếc, suy nghĩ: ‘Thức ăn vừa rồi đáng cho người giúp việc, không đáng cho vị sa-môn trọc đầu kia!"
Đức Phật lại bảo vua:
- Trưởng giả Bà-đề do công đức cúng dường thức ăn cho vị bích-chi phật và lời phát nguyện trong đời quá khứ nên ông sinh ra nơi nào cũng được giàu có, không thiếu thứ gì. Tuy nhiên, sau khi cúng dường, Ông khởi tâm hối tiếc, nên tuy sống trong cảnh giàu sang, ông vẫn không hưởng được sự giàu sang ấy, lại còn tham lam, bỏn xẻn, bo bo giữ của, bản thân không dám ăn mặc, cũng chẳng cho vợ con, họ hàng, bạn bè, bậc tri thức và các vị sa-môn, bà-la-môn v.v...
Vì thế, người trí nghe câu chuyện này, nếu có tiền của thì nên bố thí, chớ tham lam, bỏn xẻn. Khi bố thí thì phải hết lòng, tự tay ban phát; sau đó, nên vui vẻ, không hối tiếc. Bố thí như vậy mới được phúc báo vô lượng vô biên”.
Kinh Xuất diệu ghi: “Xưa, lúc Phật còn tại thế, trong nước Xá-vệ có trưởng giả Nan-đà là người giàu nhất nước, vàng bạc, châu báu, voi, ngựa, xe cộ, nô tì, tôi tớ, y phục, trang sức, ruộng vườn nhiều không thể tính kể. Tuy sống trong cảnh giàu sang, nhưng ông không có lòng tin Tam bảo, tham lam, bỏn xẻn, ganh ghét.
Nhà đã có bảy lớp cửa, ông còn dặn người canh giữ: ‘Nếu ai đến xin, đều không cho vào’. Ông phủ lưới sắt phía trên sân vì sợ chim bay vào ăn lúa gạo, trét vữa hồ trắng quanh chân tường vì sợ chuột đục khoét làm thất thoát tài sản.
Ông chỉ có một người con tên là Chiên-đàn Hương. Lúc sắp chết, ông bảo con: ‘Nay cha bệnh nặng, chắc không qua khỏi. Sau khi cha chết, số của cải này con chớ tiêu xài phung phí, cũng không được bố thí cho sa-môn và bà-la-môn, nếu có người đến xin cũng đừng cho đồng nào. số của cải này đủ để tiêu xài cho bảy đời’.
Dặn dò xong, ông mạng chung, đầu thai làm con của một phụ nữ mù thuộc giai cấp Chiên-đà-la ở nước Xá-vệ. Vừa sinh ra, đứa bé đã bị mù hai mắt. Người mẹ suy nghĩ: ‘Nay ta mù lòa, nếu sinh con trai thì sau này nhờ con nuôi dưỡng’. Nghe nói con cũng bị mù bẩm sinh, người mẹ vô cùng buồn khổ, khóc lóc và nói kệ:
Ta mù, con cũng mù Cả hai đều mù lòa Gặp kẻ hao tài này Ta càng thêm sầu khổ.
Khi người mẹ mù nuôi đứa bé lớn khoảng tám, chín tuổi, có thể tự đi lại được, bà trao cho con một chiếc gậy, một cái bát rồi bảo:
- Con hãy đi xin để nuôi sống bản thân, không nên ở đây nữa. Mẹ cũng mù, nên phải đi xin để lo cho quãng đời còn lại.
Thế là, đứa bé mù này đi từng nhà xin ăn, dần dần đên nhà Chiên-đàn Hương. Nó đứng ngoài cửa nói vọng vào: ‘Tôi là đứa trẻ mù, cho tôi xin thức ăn!’.
Nghe lời này, người giữ cửa nổi giận, nắm tay đứa bé, quăng xuông hầm sâu, làm nó gãy cánh tay trái và bị thương ở đầu, thức ăn xin được rơi hết xuống đất. Có người đi ngang qua thấy vậy, động lòng thương xót, đến nói với người mẹ. Nghe vậy, bà chống gậy lê bước lần đến chỗ con, bế nó đặt năm trên đầu gối và than:
- Con có tội gì mà gặp cảnh khổ thế này?
Đứa bé thưa mẹ:
- Con đến nhà Chiên-đàn Hương, đứng ngoài cửa xin thức ăn thì bị người xấu ác quăng xuống hầm.
Biết rõ việc này, Đức Phật bảo A-nan:
- Tai họa! Tai họa! Trưởng giả Nan-đà sau khi qua đời, đầu thai làm con của một phụ nữ mù Chiên-đà-la, sinh ra đã bị mù hai mắt.
Thuở xưa, chẳng phải nhà ông rất giàu, tiền của vô số, voi, ngựa, xe cộ, bảy báu nhiều không thế tính kể mà hôm nay để lại cho người thân thụ dụng sao? Do tham lam, bỏn xẻn nên ông phải chịu quả báo mù này, sau khi mạng chung sẽ đọa vào địa ngục A-tì.
Sau khi thụ trai, với chúng tì-kheo và nhân dân trong thành vây quanh, Đức Phật đi đến nhà Chiên-đàn Hương, nơi đứa bé mù đang nằm. Nghe tin Đức Phật ở ngoài cửa, Chiên-đàn Hương vội ra đỉnh lễ, rồi đứng qua một bên.
Nhận thấy đại chúng đã nhóm họp và Chiên-đàn Hương cũng có mặt, Đức Phật giảng cho đại chúng nghe về sự tham lam, bỏn xẻn, ganh ghét sẽ chịu vô lượng tội lỗi, đồng thời trình bày việc bố thí sẽ được vồ số phúc báo để giúp họ xa lìa các cõi, theo đạo vô vi.
Khi ấy, muốn cứu Chiên-đàn Hương thoát khỏi
cảnh khổ địa ngục, đức Thế Tôn hỏi đứa bé:
- Ngươi có phải là trưởng giả Nan-đà không?
Đứa bé thưa:
- Con đúng là Nan-đà.
Đứa bé thưa ba lần như thế.
Nghe vậy, đại chúng vô cùng kinh ngạc và bảo nhau: ‘Trưởng giả Nan-đà chính là đứa bé này!’.
Chứng kiến việc này, Chiên-đàn Hương thương cảm khóc lóc, không cầm lòng được, lại đỉnh lễ cầu xin Đức Phật nhổ hết gốc tội, đồng thời thỉnh Phật và chúng tăng ngày hôm sau đến nhà thụ trai.
Hôm sau, thụ thực xong, Đức Phật thuyết pháp vi diệu cho Chiên-đàn Hương. Ngay lúc đó, Chiên-đàn Hương đắc quả Tu-đà-hoàn.
Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
- Nếu người nào cất chứa tiền của, không dám ăn mặc, cũng không bố thí, đó là người ngu si nhất. Vì vậy, người trí nên thực hành bố thí để mong xa lìa sinh tử, chớ bỏn xẻn mà phải chịu đau khổ vô cùng”.
Kinh Lô-chí trưởng giả ghi: “Lúc Phật còn tại thế, trong thành Xá-vệ có trưởng giả Lô-chí là người rất giàu, tài sản vô số như Tì-sa-môn. Do đời trước trưởng giả đã từng bố thí, gieo ruộng phúc tốt nên nay được quả báo này. Tuy nhiên, trong lúc bố thí, trưởng giả không hết lòng, nên tuy giàu có, nhưng tâm ý thấp hèn. Trưởng giả mặc y phục thô xấu, nhơ bẩn, ăn tấm cám, rau cải đủ để no lòng, uống nước lạnh để qua cơn khát, đi xe cũ mục, làm lụng cực nhọc như người giúp việc, nên thường bị mọi người chê cười.
Một hôm, người dân trong thành tổ chức lễ hội lớn, trang hoàng nhà cửa, treo cờ phướn bằng lụa, rưới nước thơm khắp đất, rải nhiều loại hoa đẹp, trang hoàng rực rỡ; lại trỗi các thứ âm nhạc, ca múa tận hưởng niềm vui như các vị trời.
Thấy vậy, Lô-chí suy nghĩ: ‘Mọi người vui chơi, ta cũng nên như vậy!’. Tức thời, ông ta trở về nhà, mở kho báu, lấy được năm đồng tiền. Ông lại suy nghĩ: ‘Nếu ăn ở nhà thì có mẹ, vợ và họ hàng thì sẽ không đủ. Nếu đến nhà người khác ăn thi sợ chủ nhà đoạt lấy’.
Thế là, ông ta mua hai đồng nếp, hai đồng rượu, một đồng hành và lấy một nắm muối ở nhà. Lấy vạt áo bọc những thứ ấy lại, ông mang đến một gốc cây ở ngoài thành. Thấy cây ấy có nhiều chim quạ, sợ chúng đến ăn hết, ông liền đến gò mả, lại thấy có nhiều chó, thì càng tránh xa. Đến chỗ vắng vẻ, ông bỏ muối, nếp vào rượu, rồi ăn hành và uống rượu này. Trước đây, ông ta chưa từng uống rượu, nên giờ đây say túy lúy. Đang lúc say sưa, ông ta đứng dậy, nhảy múa, ca hát:
Trong lễ hội hôm nay
Rượu vào, thật khoái chí
Sướng hơn Tì-sa-môn
Và cả trời Đế Thích.
Khi ấy, Đế Thích và các thiên chúng sắp đến chỗ Phật, thấy Lô-chí say sưa, nhảy múa, ca hát nói là hơn cả trời Đế Thích. Đế Thích thâm nghĩ: “Kẻ tham lam, bỏn xẻn này uống rượu, mắng chửi, làm nhục ta ở nơi vắng vẻ, ta sẽ phá rối nó mới được”. Tức thời, Đế Thích hóa thân thành Lô-chí đến nhà ông ta, nhóm họp mẹ, vợ, tôi tớ, họ hàng, rồi ngồi đối diện với mẹ và thưa:
- Trước giờ, quỉ bỏn xẻn luôn theo sát, khiến con tiếc của, không dám tiêu xài, cũng không cho họ hàng. Hôm nay, ra đường, con gặp một đạo nhân cho con bài thần chú, nên đã diệt được con quỉ bỏn xẻn này. Tuy nhiên, quỉ bỏn xẻn này giống như con, nếu nó đến thì hãy lây cây đánh nó thật mạnh, lúc ấy nó sẽ giả xưng: ‘Ta là Lô-chí!’. Tất cả mọi người chớ tin lời nó, hãy mau ra đóng cửa lại kẻo quỉ bỏn xẻn đến, đợi con sắp xếp xong, mới mở cửa.
Dứt lời, vị ấy chuẩn bị thức ăn ngon, thết đãi cả nhà đều được no đủ. Vị ấy lại mở kho tàng, lấy nhiều vật báu, y phục, chuỗi ngọc, dâng cho mẹ, vợ, họ hàng trong nhà và ban phát cho những người xung quanh. Mọi việc hoàn tất, vị ấy trỗi nhạc, ca múa, vui chơi sung sướng vô cùng. Nghe tin con quỉ bỏn xẻn luôn theo Lô-chí đã bị diệt trừ, dân chúng kéo nhau đến xem.
Lúc này, Lô-chí tỉnh rượu, trở về nhà, vừa đến cửa thì nghe tiếng ca múa, nên rất kinh ngạc, gõ cửa, gọi to,.nhưng không thấy ai đáp lại. Vị trời hóa Lô-chí nghe tiếng gọi, bảo mọi người:
- Kẻ gõ cửa, có lẽ là quỉ bỏn xẻn!
Nghe nói quỉ bỏn xẻn, mọi người mở cửa, tháo chạy, nhờ vậy Lô-chí vào được nhà. Gia đình và họ hàng đều không nhìn nhận, cho là quỉ bỏn xẻn, nên nắm chân Lô-chí xô té, đánh đập, đuổi ra khỏi cửa. Đến một ngõ hẻm, Lô-chí khóc lớn, thở than:
- Lạ thay! Thân thể ta nay có khác lúc trước hay không, mà bị mọi người xua đuổi thế này? Lại còn nói ta là quỉ, chẳng ai nhìn nhận. Bây giờ, ta biết làm sao đây?
Bấy giờ, Lô-chí như kẻ điên cuồng. Những người quanh xóm đến an ủi:
- Ông là Lô-chí, chúng tôi là xóm giềng nên đến thăm ông. Ông hãy bình tĩnh để tim cách phân minh.
Nghe nói vậy, Lô-chí cảm thấy yên tâm, ngăn dòng nước mắt và hỏi:
- Các vị hãy nhìn kĩ mặt tôi, xem tôi nay có đúng là Lô-chí không?
Mọi người cười đáp:
- Ông đúng là Lô-chí;
Lô-chí nói với mọi người:
- Các vị đều có thể làm chứng cho tôi được không?
Mọi người đáp:
- Chúng tôi làm chứng, ông đúng là Lô-chí.
Lô-chí nói:
- Nếu vậy, các vị hãy nghe tôi nói nguyên nhân:
Người trẻ kia là ai
Lại giống tôi như đúc
Cùng vợ yêu của tôi
Ngồi kề gối trên giường.
Gia đình và thân thuộc
Đánh đuổi tôi ra khỏi
Họ đều mến người kia
Cho sống chung trong nhà.
Tôi chịu khổ đói rét
Gom góp bao của tiền
Kẻ kia tự do dùng
Tôi chẳng có đồng nào.
Giống như Tì-sa-môn
Được ăn mặc thỏa thích.
Những người ở trong thành
Ai nấy đều ngờ vực
Mọi người cùng hỏi nhau:
Việc này nên tính sao?
Có một người hiểu biết
Nói lời như thế này:
‘Đó là kẻ xảo quyệt
Tướng mạo giống Lô-chỉ
Biết ông tham, bỏn xẻn
Nên đến phả rối ông
Chúng tôi cùng làm chứng
Không để ông bị đuổi
Nghe lời này, mọi người đồng lòng nói:
- Này Lô-chí! Bây giờ, ông muốn sao?
Lô chí đáp:
- Mong các vị làm chứng cho tôi. Tối muốn đến gặp vua. Các vị cho tôi mượn hai xấp lụa trắng, trị giá khoảng sáu chỉ vàng để tôi dâng lên vua.
Mọi người đều cười, nói:
- Ngờ đâu hôm nay Lô-chí là đại thí chủ!
Kẹp hai xấp lụa trắng quí đến cung vua, Lô-chí nói với người giữ cửa:
- Nhờ ông tâu: ‘Tôi muốn dâng phẩm vật lên vua!’.
Người giữ cửa kinh ngạc, mỉm cười, liền vào tâu vua. Nghe vậy, vua thầm nghĩ: ‘Lô-chí bản tính bỏn xẻn, nếu không sắp chết thì đâu có thể như thế!’.
Vua cho gọi Lô-chí vào. Đến trước vua, Lô-chí lấy hai xấp lụa để dâng lên vua, nhưng nó dính cứng dưới nách, kéo hoài không được. Lô-chí phải xoay mình, dốc hết sức kéo mạnh mới lấy ra được. Kéo ra được rồi, Đế Thích liền biến chúng thành hai bó cỏ. Thấy cỏ, Lô-chí hổ thẹn, ngồi xuống đất, nghẹn ngào, tức tưởi, không thể nói thành lời.
Thấy thế, vua thương xót, bảo Lô-chí:
- Dù là cỏ, cũng đâu có gì phải khổ. Ông muốn nói gì thì cứ nói đi!
Lô-chí nghẹn ngào thưa:
- Thấy bó cỏ này, thần vô cùng xấu hổ, chẳng lẽ độn thổ cho rồi! Không biết hôm nay thân này có hay không, nên đâu biết nói gì?
Nghe vậy, vua thương xót, mới hỏi người bên cạnh:
- Sao ông ấy nghẹn ngào, không thốt nên lời? Ai biết nỗi lòng ông ta thì hãy nói thay.
Người bên cạnh tâu vua:
- Không biết người nào đó có tướng mạo giống như Lô-chí, đến nhà giả xưng là Lô-chí, làm cho cả nhà đều tin theo. Người ấy đã tiêu xài phung phí toàn bộ tài sản mà người nhà không biết, lại còn đánh đập, đuổi Lô-chí ra khỏi nhà, trở thành kẻ đầu đường xó chợ. Do đó, Lô-chí buồn khổ, không thốt nên lời.
Nghe lời này, vua sai sứ gọi người giống Lô-chí đến và bảo cả hai cùng đứng trước vua. Thấy hai người có tướng mạo, giọng nói, tiếng cười đều giống nhau. Vua cho người đến sau đúng là Lô-chí, bèn hỏi người đến trước:
- Nay ông muốn nói gì nữa?
Lô-chí thưa:
- Thần là Lô-chí, người kia chẳng phải.
Vua hỏi người đến sau:
- Lô-chí bản tính tham lam, bỏn xẻn, còn ngươi thích bố thí, vì sao tự xưng là Lô-chí?
- Vị ấy thưa:
- Thần nghe Phật dạy: ‘Người tham lam, bỏn xẻn phải đọa vào loài ngạ quỉ, chịu khổ đói khát suốt trăm nghìn vạn năm, nên thần lo sợ, liền bỏ tâm tham lam, bỏn xẻn.
Vua bảo:
- Ngươi nói có lí. Như chiếc áo nhơ bẩn, dùng xà phòng giặt liền sạch, tâm cấu uế phiền não, nghe pháp liền được đoạn trừ.
Thấy khó phân định, vua tách hai người ở hai chỗ khác nhau, rồi bảo mỗi người kê khai số người trong họ hàng, có những tài vật nào, hãy mau ghi ra rồi đem đến cho vua.
Hai người ghi ra đầy đủ và đem đến dâng vua, ngay cả những điều bí mật cho đến dấu vết cũng đều giống nhau khiến vua không phân biệt được. Vua cho gọi người mẹ đến và hỏi xem ai là con của bà.
Người mẹ tâu:
- Đứa thích bố thí là con tôi, quỉ bỏn xẻn chẳng phải con tôi.
Vua lại hỏi người mẹ:
- Nơi chỗ ẩn kín trên thân đứa này có nốt ruồi đen, bà có biết chăng?
Người mẹ tâu:
- Dưới nách bên trái của đứa này có nốt ruồi nhỏ cỡ bằng hạt đậu nhỏ.
Vua bảo hai người cởi áo ra, giơ cao cánh tay lên thì thấy hai nốt ruồi cũng cỡ bằng nhau.
Thấy vậy, vua cười lớn, lấy làm lạ, cho là việc chưa từng có, rồi tự trách mình: Tất cả chúng sinh bị vô minh che lấp, không phân biệt thật giả. Chỉ có Phật mới biết rõ điều này”. Ngay đó, vua bảo hai Lô-chí cưỡi voi, cùng đến chỗ Phật và xin Ngài giải tỏa mối nghi này.
Khi ấy, đức Thế Tôn duỗi cánh tay tướng tốt trang nghiêm và hỏi Đế Thích:
- Ông làm gì vậy?
Đế Thích liền thoát thân Lô-chí, hiện lại nguyên hình ánh sáng rực rỡ, chắp tay, nói kệ bạch Phật:
Bị bỏn xẻn sai khiến
Chẳng dám ăn mặc gì
Mua năm đong rượu, nếp
Bỏ muối vào, uống ngay.
Uống xong, say túy lúy
Cười giỡn lại múa ca
Khinh mắng các vị trời
Vì lí do như thế
Con làm khổ hắn thôi.
Đức Phật bảo Đế Thích:
- Tất cà chúng sinh đều có lỗi lầm, ông nên xả bỏ.
Đức Phật bảo Lô-chí:
- Ông hãy về nhà xem lại tài vật của ông đi!
Lô-chí bạch Phật:
- Tất cả tài vật của con, Đê Thích đã sử dụng hết, con về làm chi nữa?
Đế Thích nói:
- Ta không làm hao tổn mảy may tài vật củạ ông.
Lô-chí nói:
- Tôi không tin Ông, chỉ tin lời Phật dạy. Do tin lời Phật, Lô-chí liền đắc quả Tu-đà-hoàn.
Nghe câu chuyện trên, tám bộ trời, rồng... và bốn chúng đệ tử Phật đều đắc bốn quả Sa-môn và gieo hạt giống với ba thừa”.1
Kinh La-tuần-du ghi: “Lúc Phật còn tại thế, có vị bà-la-môn sinh ra một người con kém phúc. Thầy tướng đến xem và nói: ‘Đứa bé này không có tướng tốt’.
Khi đứa bé mười hai tuổi, cha mẹ đuổi ra khỏi nhà. Nó đi lang thang xin ăn, dần dần đến tinh xá Kì-hoàn. Với tâm từ rộng lớn, Đức Phật lấy tay xoa đầu đứa bé, thì tóc trên đâu tự rụng, ca-sa đắp thân và Phật đặt tên là La-tuần-du.
Bấy giờ, năm bộ tăng đều đi khất thực, nhưng nhóm có La-tuần-du đều mang bát không trở về. Đức Phật bảo các tì-kheo chia bớt phần cho họ, và nhiều lần như vậy.
Mục-kiền-liên suy nghĩ: ‘Do tì-kheo này mà các tì-kheo khác không được thức ăn’. Biết tâm niệm của Mục-kiền-liên, Đức Phật bảo Xá-lợi-phất đi khất thực với Phật, còn Mục-kiền-liên đi với La-tuần-du, mỗi nhóm đi mỗi đường. Đức Phật bảo Mục-kiền-liên: ‘Nơi nào ta đến thì ông đừng đến!’.
Mục-kiền-liên đi khất thực với La-tuần-du, định đến nhà nào thì đều thấy Đức Phật và Xá-lợi-phất đứng ngay trước cửa. Trải qua hơn năm trăm ức nước đều như vậy, rốt cuộc không được thức ăn. Mục-kiền-liên nghĩ: ‘Hôm nay chắc ta không xin được thức ăn!’.
Đói lả cả người, La-tuần-du dừng chân bên bờ sông Hằng, còn Mục-kiền-liên đi đến chỗ Phật. Trong bát của Phật còn chút thức ăn, Đức Phật trao cho Mục-kiền-liên. Mục-kiền-liên nghĩ: ‘Ta nay đói đến nỗi muốn nuốt cả núi Tu-di còn chưa no, huống là chút thức ăn này, làm sao no được!’.
Biết tâm niệm của Mục-kiền-liên, Đức Phật bảo:
- Ông hãy ăn đi, đừng lo không đủ!
Mục-kiền-liên dùng no rồi mà trong bát vẫn còn nguyên. Xá-lợi-phất suy nghĩ; ‘Nãy giờ La-tuần-du chưa được ăn, chắc đang đói lắm’, liền bạch Phật:
- Con xin phần com còn lại này cho La-tuần-du.
Đức Phật bảo:
- Ta không tiếc gì, nhưng do nghiệp đời trước, nên nay La-tuần-du không thể nhận thức ăn này. Nếu không tin, ông hãy đem thức ăn này cho ông ấy đi!
Xá-lợi-phất trao thức ăn cho La-tuần-du. La-tuân-du được thức ăn, thì bát liền rơi xuống đất lún sâu trăm trượng. Xá-lợi-phất dùng đạo lực thâu bát về, đưa cho La-tuần-du, La-tuần-du định lấy ăn thì vô ý làm bát lật úp, thức ăn rơi hết xuống sông.
Trở về nhập định, La-tuần-du suy nghĩ: ‘Mỗi lần ta đi khất thực với các tì-kheo thì tất cả đều ôm bát không trở về, nay Phật cho ta thức ăn thì lại đổ hết. Đây là do tội báo đời trước ta phải chuốc lấy’. Nhờ suy nghĩ như vậy, phiền não đoạn trừ, tội cấu dứt sạch, La-tuần-du đẳc quả A-la-hán, ăn đất rồi nhập niết-bàn.
La-tuần-du sở dĩ cảm quả báo như thế là do vào đời quá khứ, thuở Đức Phật Duy-vệ, La-tuần-du là người tham lam, bỏn xẻn, không chịu bố thí. Lúc ăn cơm, ông trải áo lót đất vì sợ cơm đổ.
Môt hôm, thấy vị sa-môn đi khất thực ngang qua nhà, ông nói: ‘Ta nên lấy gì cho sa-môn đây! Lập tức, ông ta lấy tay bốc nắm đất đưa cho sa-môn. Vị sa- môn chú nguyện: ‘Người này vì ngu si thôi! Ta sẽ giúp ông ấy sớm được giải thoát’.
Vì nhân duyên ấy nên từ nhiều kiếp luân chuyển sinh tử lâu xa đến nay, dù sinh ra nơi nào, La-tuần-du cũng bị đói, nay tuy đắc đạo, nhưng phải ăn đất rồi nhập niết-bàn.
La-tuần-du chính là người cho sa-môn đất, còn vị sa-môn là Xá-lợi-phất”.
Nên biết, tội phúc gây ra đều phải chiêu cảm quả báo.
Kinh Di giáo tam-muội ghi: “Đời trước La-tuần-du là con của một người hiền, nhưng cố tâm ganh ghét. Mỗi khi thấy sa-môn khất thực ngang qua nhà, ông đóng cửa lại và nói: ‘Chủ nhà đi vắng’. Vị sa-môn đến nhà khác thì ông cũng bày người trồng nhà đó đóng cửa lại và nói như vậy. Thế nên, đời này ông khất thực không được thức ăn.
Lại do khi thấy người khác cúng dường thức ăn uống cho sa-môn, ông đều hoan hỉ và suy nghĩ: ‘Ta cũng muốn làm sa-môn’, nên nay được làm sa-môn nhưng bị nghèo đói”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Bấy giờ, bốn vi đai a-la-hán là Mục-kiền-liên, Ca-diếp, A-na-luật, Tân-đầu-lô nhóm họp một chỗ và bàn với nhau: ‘Chúng ta cùng xem trong thành La-duyệt này ai là người không tạo công đức cúng dường Phật, pháp và chúng tăng’;
Khi ấy, trưởng giả Bạt-đề là người giàu có, của báu nhiều vô số không thể kể hết, nhưng tham lam, bỏn xẻn, không chịu bố thí, không có chút thiện nào đối với Phật, pháp, tăng; phúc cũ đã hết, lại không tạo phúc mới.
Nhà trưởng giả kia có bảy lớp cửa, tất cả đều có người giữ, không cho kẻ ăn xin vào. ông lại dùng lưới sắt phủ trên sân vì sợ chim chóc đột nhập.
Trưởng giả có người em gái tên là Nan-đà cũng tham lam, bỏn xẻn, lòng đầy tà kiến, cho rằng: không có bố thí, cũng không có người chứng đạo, đắc quả. Nhà Nan-đà có bảy lớp cửa giống như nhà trưởng giả, cũng không cho ai vào.
Sáng sớm hôm đó, trưởng giả Bạt-đề đang ăn bánh, bỗng nhiên từ dưới đất trong nhà của trưởng giả, A-na-luật vọt lên, đưa bát cho trưởng giả. Thấy vậy, trưởng giả rất buồn, trao cho A-na-luật một ít bánh. Được bánh rồi, A-na-luật trở về chỗ của mình. Ngay đó, trưởng giả nổi giận, nói với người giữ cửa:
- Ta đã dặn không cho ai vào, tại sao lại cho người vào?
Người giữ cửa thưa:
- Cửa khóa chắc chắn, không biết đạo sĩ này từ đâu đến đây?
Trưởng giả im lặng không nói. Ăn bánh xong, ông lại ăn cá thịt. Tôn giả Đại Ca-diếp từ dưới đất vọt lên, đưa bát cho trưởng giả. Trưởng giả rất buồn, trao cho tôn
giả một ít cá thịt. Được thịt rồi, Ca-diếp biến mất, trở về chỗ của mình. Lúc này, trưởng giả càng tức giận, bảo người giữ cửa:
- Trước ta đã dặn không cho ai vào. Tại sao lai cho hai sa-môn vào nhà khất thực?
Người giữ cửa thưa:
- Chúng tôi chẳng biết sa-môn này từ đâu vào đây?
Trưởng giả nói:
- Sa-môn đầu trọc này giỏi làm trò huyễn thuật mê hoặc người đời. Không có chính hạnh!
Đang ngồi cách trưởng giả không xa, vợ trưởng giả nghe lời này, liền nói:
- Hãy giữ miệng mình, chớ cho là huyễn thuật. Các sa-môn này có uy thần lớn, vì thế họ đến, thì nhà ta được nhiều lợi ích. Trưởng giả có biết hai vị tì-kheo ấy không?
Trưởng giả đáp:
- Tôi không biết.
Người vợ nói:
- Vị tì-kheo thứ nhất là A-na-luật, con vua Hộc Phạn. Lúc tôn giả ra đời, đại địa chấn động sáu cách, cách xung quanh nhà một do-tuần, kho báu tự nhiên xuất hiện.
Người vợ nói tiếp:
- Người con nhà quí tộc này tu hành Phạm hạnh, đắc đạo A-la-hán, là bậc thiên nhãn đệ nhất.
Vị tì-kheo thứ hai là đại Phạm chí Ca-tì-la trong thành La-duyệt này, của báu nhiều vô số, không thể kể hết, có chín trăm chín mươi chín con bò cày ruộng.
Con của Phạm chí ấy tên là Tỉ-ba-la-da-đàn-na thân màu vàng ròng, vợ là Bà-đà, một người đẹp nhất trong phái nữ, dù đem vàng tử-ma để trước mặt cô thì cũng giống như đen so với trắng.
Trưởng giả đáp:
- Tôi có nghe tên hai vị ấy, nhưng lại chưa gặp.
Người vợ nói:
- Chính là hai vị tì-kheo vừa đến trước và sau đó. Các vị ấy bỏ báu ngọc nữ, xuất gia học đạo, nay đắc quả A-la-hán, thường hành đầu-đà, không ai hơn được. Thấy rõ điều này, nên tôi noi như vầy: ‘Hãy khéo giữ miệng mình, chớ chê bai bậc thánh, cho là làm trò huyễn thuật. Đệ tử của đức Thích-ca này đều có uy đức lớn’.
Bấy giờ, tôn giả Mục-kiền-liên đắp y, cầm bát, bay lên hư không. Thấy Mục-kiền-liên ngồi giữa hư không, trưởng giả hỏi:
- Ngài là trời ư? Là Càn-đạp-hòa ư? Là quỉ ư? Là quỉ la-sát ăn thịt người ư?
Mục-kiền-liên đáp:
- Ta chẳng phải quỉ la-sát.
Khi ấy, trưởng giả nói kệ:
Là trời, Càn-đạp-hòa
Quỉ thần la-sát chăng?
Lại nói chẳng phải trời
Chằng quỉ thần la-sát.
Chẳng giống Càn-đạp~hòa
Đang sống ở nơi nào ?
Ngài thật tên là gì?
Nay tôi muốn được biết,
Mục-kiền-liên nói kệ đáp lại:
Chẳng trời, Càn-đạp-hòa
Chẳng phải quỉ la-sát
Ba đời được giải thoát
Nay ta là thân người.
Có thể hàng phục ma
Thành tựu đạo Vộ thượng
Thầy ta Thích-ca
Văn Ta là Đại Mục-liên.
Trưởng giả hỏi Mục-kiền-liên:
- Tì-kheo có dạy bảo điều gì không? Mục-kiền-liên đáp:
- Tôi muốn nói pháp cho ông nghe Hãy ghi nhớ và tư duy kĩ!
Khi ấy, trưởng giả lại nghĩ: ‘Các sa-môn này lúc nào cũng dính mắc sự ăn uống. Nay muốn luận bàn, chắc sẽ luận bàn về ăn uống. Nếu xin thức ăn, ta sẽ nói không có, nhưng ta nghe thử người này nói điều gì’.
Biết tâm niệm của trưởng giả, Mục-kiền-liên nói kệ:
Như Lai nói hai thí:
Pháp thí và tài thí.
Nay sẽ nói pháp thí Hãy lắng tâm nghe kĩ
Nghe sẽ nói về pháp thí, trưởng giả vui mừng, nói với Mục-kiền-liên:
- Mong tôn giả nói ngay đi! Tôi nghe sẽ hiểu.
Mục-kiền-liên đáp:
- Như Lai nói về năm sự bố thí lớn, nên giữ gìn trọn đời. Đó là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu.
Nghe năm điều này, trưởng giả vô cùng hoan hỉ, thầm nghĩ: ‘Những điều vừa rồi chẳng cần đến bảo vật. Như hôm nay, ta không dám sát sinh, điều này có thể giữ được. Hơn nữa, trong nhà ta của báu rất nhiều, quyết không trộm cắp, điều này ta cũng giữ được. Trong nhà ta có đàn bà rất đẹp, quyết không tà dâm, điềụ này ta cũng giữ được. Ta không ưa người nói dối, huống là chính mình nói dối, điều này ta cũng giữ được. Như hôm nay ta không nghĩ đến rượu, huống là chính mình uống, điều này ta cũng giữ được’.
Thế rồi, trưởng giả thưa Mục-kiền-liên:
- Năm sự bố thí này, tôi có thể vâng làm.
Trưởng giả lại nghĩ: ‘Nay ta nên mời Mục-kiền liên dùng cơm’. Trưởng giả ngước đầu lên, thưa Mục-kiền-liên:
- Xin tôn giả hãy thâu thần lực, thương tưởng đến con mà xuống đây ngồi!
Nghe vậy, Mục-kiền-liên liền hạ xuống đất và ngồi vào tòa.
Trưởng giả đích thân dọn thức ăn mời Mục-kiền-liên. Thụ thực xong, tôn giả lấy nước rửa tay. Trưởng giả nghĩ: ‘Ta nên cúng dường Mục-kiền-liên một tấm lụa’. Ngay đó, ông vào kho, muốn lấy loại xấu, nhưng lại gặp loại tốt, bỏ xuống rồi cầm lên, vẫn là loại tốt vậy.
Biết tâm niệm của trưởng giả, Mục-kiền-liên nói kệ:
Thí và tâm giằng co
Phúc này bậc hiền bỏ
Khi thí chẳng chọn lựa
Đúng thời tùy tâm thí.
Nghe vậy, trưởng giả suy nghĩ: ‘Nay Mục-kiền-liên biết được tâm ý của ta’. Ông liền đem lụa trắng dâng lên Mục-kiền-liên. Lập tức, tôn giả chú nguyện:
Trong các sự bố thí Cúng dường bậc thánh hiền Là bố thí tối thượng Ruộng tốt sinh hạt chắc.
Chú nguyện xong, Mục-kiền-liên nhận tấm lụa trắng, khiến trưởng giả được phúc vô lượng. Lúc ấy, trưởng giả ngồi qua một bên, Mục-kiền-liên lần lượt nói các pháp về bố thí, trì giới, sinh thiên, quở trách dục là bất tịnh, giải thoát là an vui.
Ngay tại chỗ ngồi, trưởng giả được Pháp nhãn thanh tịnh. Nhờ hiểu được tâm pháp ấn, không còn nghi ngờ, nên trưởng giả thụ trì năm giới, qui y Phật, pháp và thánh chúng.
Thấy trưởng giả được pháp nhãn thanh tịnh, Mục-kiền-liên nói kệ:
Kinh Như Lai diễn nói
Đầy đủ tận gốc nguồn
Mắt tinh, không cấu uế
Chẳng nghi ngờ do dự”.
Kinh Tăng nhất a-hàm ghi: “Bấy giờ, bà lão Nan-đà đang làm bánh. Đến giờ, tôn giả Tân-đầu-lô đắp y, cầm bát, vào thành La-duyệt khất thực, tuần tự đến nhà bà lão Nan-đà. Tôn giả từ trong lòng đất hiện ra, tay cầm bát đưa đến bà lão Nan-đà để xin thức ăn. Vừa thấy Tân-đầu-lô, bà lão vô cùng tức giận, thốt lời hung ác:
- Tì-kheo nên biết, dù mắt ông có rơi ra ngoài, tôi quyết không cho ông thức ăn!
Ngay đó, Tân-đầu-lô nhập tam-muội, hai mắt liền rơi ra ngoài. Bà lão càng nổi giận, nói:
- Dù sa-môn có treo ngược giữa hư không, tôi quyết không cho ông thức ăn!
Tôn giả Tân-đầu-lô lại treo ngược giữa hư không. Bà lão càng nổi giận hơn, nói:
- Dù toàn thân sa-môn tuôn ra khói, tôi quyết không cho ông thức ăn!
Tôn giả lại khiến toàn thân tuôn ra khói. Bà lão càng thêm giận dữ, nói:
- Dù toàn thân sa-môn có bốc cháy, tôi quyết không cho ông thức ăn!
Tân-đầu-lô lại khiến toàn thân bốc cháy. Bà lão lại nói:
- Dù toàn thân sa-môn có phun nước, tôi quyết không cho ông thức ăn!
Tân-đầu-lô lại khiến toàn thân đều phun nước. Bà lão lại nói:
- Dù sa-môn chết trước mặt tôi, tôi quyết không cho ông thức ăn!
Khi ấy, Tân-đầu-lô liền ngưng thở, giả chết trước mặt bà lão. Thấy sa-môn ngừng thở, bà lão sợ hãi, toàn thân rúng động, liền nghĩ: ‘Sa-môn này được nhiều người biết đến, được quốc vương kính trọng. Nếu họ nghe sa-môn chết tại nhà ta, chắc ta sẽ gặp việc quan, e không thoát tội. Thế nên, bà nói: - Nếu sa-môn sống lại, tôi sẽ cho thức ăn!
Lập tức, Tân-đầu-lô xuất tam-muội. Lúc đó, bà lão thầm nghĩ: ‘Cái bánh này lớn quá. Phải làm lại cái nhỏ để cho ông ta’. Thế là bà lấy một ít bột làm bánh, bánh càng lớn hơn. Thấy vậy, bà lão lại nghĩ: ‘Bánh này lớn quá, phải làm lại cái nhỏ, nhưng bánh vẫn lớn. Vậy nên lấy cái làm đầu tiên trao cho ông ta’. Nhưng khi bà lão lấy cái bánh đầu tiên đem cho, thì những cái bánh còn lại đều dính theo, bà nói với Tân-đầu-lô:
- Tì-kheo cần ăn thì tự lấy, sao lại phá rối tôi vậy?
Tân-đầu-lô đáp:
- Này thí chủ! Tôi không cần ăn. Chỉ muốn nói chuyện với thí chủ thôi!
Bà lão hỏi:
- Ông có điều gì dạy bảo?
Tân-đầu-lô nói:
- Nay thí chủ đem bánh này đến chỗ đức Thế Tôn, nếu Ngài dạy thế nào thì chúng ta làm vậy.
Bà lão đáp:
- Thế thì tốt lắm!
Khi ấy, bà lão đích thân mang bánh, đi theo Tân-đầu-lô đến chỗ đức Thế Tôn. Đến nơi, tôn giả đỉnh lễ sát chân Phật, rồi đứng sang một bên, bạch Phật:
- Bà lão Nan-đà này là chị của trưởng giả Nan-đề, tham lam, bỏn xẻn, chỉ ăn một mình, không chịu bố thí cho người. Cúi xin đức Thế Tôn nói pháp để bà ấy phát khởi niềm tin, tâm được khai ngộ.
Đức Thế Tôn liền bảo bà lão:
- Nay bà đem bánh cúng dường Như Lai cùng tì-kheo tăng, tì-kheo-ni, ưu-bà-tác, ưu-bà-di và bố thí cho những người nghèo khổ, nhưng bánh vẫn còn, thì hãy đem bánh bỏ nơi đất sạch và trong nước không có vi trùng.
Vâng lời Phật dạy, bà lão lần lượt đem bánh dâng cúng và bỏ vào nước sạch, tức thời lửa bốc lên.
Thấy vậy, bà lão vô cùng sợ hãi. Đức Thế Tôn dần dần nói các pháp về bố thí, trì giới, sinh thiên, khổ, tập, diệt, đạo cho bà nghe.
Ngay tại chỗ ngồi, bà đắc Pháp nhãn thanh tịnh, nên liền qui y Tam bảo, thụ trì năm giới. Với tâm hoan hỉ, bà đứng dậy, đỉnh lễ Phật, rồi lui ra”.
Luật Thập tụng ghi: “Khi Đức Phật ở nước Xá-vệ, trưởng lão Ca-lưu-đà-di đã chứng quả A-la-hán. Một hôm, tôn giả ôm bát, vào thành khất thực, đến nhà một bà-la-môn. Bấy giờ, người chồng đi vắng, người vợ đóng cửa làm bánh rán. Ca-lưu-đà-di nhập định, vận sức thần thồng, đi xuyên lòng đất vào trong sân, khảy móng tay báo hiệu. Vợ của bà-la-môn quay lại nhìn và suy nghĩ: ‘Vị sa-môn này vào đây bằng đường nào? Chăc là vì tham bánh mà cố lẻn vào, ta nhất định không cho. Lập tức, bà nói với Ca-lưu-đa-di:
- Dù mắt ông rơi ra ngoài, tôi cũng không cho! Tôn giả dùng thần lực làm cho hai mắt lồi ra, bà lại nghĩ:
- Dù ông làm cho mắt lồi ra lớn bằng cái bát, tôi cũng không cho!
Tôn giả liền biến hai mắt lồi ra lớn bàng cái bát, bà lại nghĩ:
- Dù ông đứng ngược đầu xuống đất trước mặt tôi, tôi cũng không cho!
Tôn giả liền đứng ngược đầu xuống đất, bà lại nghĩ:
- Dù ông có chết đi, tôi cũng không cho!
Tôn giả liền nhập Diệt thụ tưởng định, tâm ý không còn hay biết.
Lúc đó, vợ của bà-la-môn đến xô đẩy, lôi kéo, nhưng tôn giả vẫn bất động. Sợ quá, bà lại nghĩ: ‘Vị sa-môn này thường vào cung vua Ba-tư-nặc, là thầy của phu nhân Mạt-lợi. Nếu họ nghe sa-môn chết tại nhà ta, chắc ta sẽ bị nguy khốn. Thế nên, bà nói với tì-kheo:
- Nếu ông sống lại, tôi sẽ cho một cái bánh!
Ca-lưu-đà-di liền xuất định. Nhìn thấy những cái
bánh đã chiên xong, cái nào cũng ngon, bà ta cảm thấy tiếc, không muốn cho. Bà mới vét quanh chậu được một ít bột, bỏ vào chiên thì bánh lại phồng lớn và ngon hơn những cái trước. Bà liền lấy một cái bánh đã chiên trước đó đem cho thì những cái bánh còn lại đều dính theo. Ca-lưu-đà-di hỏi:
- Chị muốn cho tôi bao nhiêu bánh?
Bà cầm bốn cái bánh định đưa thì tôn giả không lấy mà nói:
- Tôi không cần bánh này. Chị hãy mang đến tinh xá Kì-hoàn cúng dường chúng tăng.
Người phụ nữ này do đời trước đã gieo trồng căn lành, nên tự nghĩ: ‘Tì-kheo này thật ra không tham bánh, chỉ vì xót thương ta mà đến đây khất thực!’. Thế là bà mang hết cả giỏ bánh đến tinh xá Kì-hoàn cúng dường chúng tăng. Cúng dường xong, bà đến ngồi trước mặt tôn giả Ca-lưu-đà-di. Bấy giờ, tôn giả quán nhân duyên đời trước của bà và thuyết pháp cho nghe. Ngay tại chỗ ngồi, bà đắc Pháp nhãn thanh tịnh, làm vị ưu-bà-di.
Khi trở về nhà, bà thuật lại cho chồng nghe. Vừa nghe xong, người chồng đến chỗ Ca-lưu-đà-di và cũng được nghe pháp mầu. Ngay đó, ông đắc Pháp nhãn thanh tịnh, làm vị ưu-bà-tắc.
Từ đó, cả hai vợ chồng dốc hết tiền tài và sức lực cúng dường tôn giả. Đến khi mạng chung, họ còn dặn dò các con phải cúng dường mãi không dứt’’.
Kinh Bách duyên ghi: “Khi Đức Phật ở vườn tre Ca-lan-đà tại thành Vương Xá, một hôm, Mục-kiền-liên đang ngồi bên gốc cây, thấy một con quỉ thân đen như cây cột cháy, bụng lớn như quả núi, cổ nhỏ như cây kim, tóc như dao bén quấn xiết thân, các bộ phận đều bốc cháy, khát nước sắp chết, môi miệng khô khan, muốn đến sông suối uống nước thì nước ở đó trở nên khô cạn. Giả sử trời tuôn mưa cam lộ, nhưng khi rơi trên thân nó thì cam lộ đều biến thành lửa.
Mục-kiền-liên hỏi:
- Ngươi bị nghiệp gì mà chịu quả báo đau khổ như vậy?
Ngạ quỉ đáp:
- Tôi khát nước quá không thể giải thích được, ngài đến hỏi Phật sẽ rõ.
Mục-kiền-liên liền đến chỗ Đức Phật, trình bày sự việc và thưa:
- Con quỉ này đời trước tạo nghiệp gì mà nay phải chịu quả báo đau khổ như vậy?
Đức Thế Tôn bảo Mục-kiền-liên:
- Ông hãy lắng nghe! Ta sẽ giải thích kĩ. Vào kiếp Hiền, ở nước Ba-la-nại, có Đức Phật Ca-diếp ra đời. Bấy giờ, có vị sa-môn trên đường đi du hóa thì quá khát nước, tình cờ gặp cô gái tên là Ác Kiến đang múc nước bên giếng. Vị sa-môn đên xin nước uống, cô gái liền nói lời ác: ‘Dù ông có khát đến chết, tôi quyết không cho! Nếu cho ông thì nước của tôi vơi đi, có đâu để gánh về’.
Xin không được nước, vị sa-môn tiếp tục lên đường. Cô gái kia vì quá tham lam, bỏn xẻn, ai đến xin cũng không cho, nên sau khi mạng chung, bị đọa vào loài ngạ quỉ. Do nghiệp duyên này mà chịu quả báo đau khổ như thế.
Đức Phật bảo Mục-kiền-liên:
- Cô gái không cho nước thuở ấy chính là con quỉ này.
Khi Đức Phật nói về nghiệp duyên của Ác Kiến, các tì-kheo v.v... dứt bỏ tâm tham lam, bỏn xẻn, có vị đắc bốn quả Sa-môn, có vị phát tâm Vô thượng bồ-đề. Sau khi nghe Phật nói, tất cả đều hoan hỉ vâng làm”.
Kinh Phó pháp tạng ghi: “A-la-hán Tăng-già-da-xá có trí tuệ rộng lớn, giọng nói thanh nhã rõ ràng. Trước kia, tuy tôn giả xuất gia, nhưng chưa chứng đạo. Một hôm, trên đường giáo hóa, ngài đi đến vùng bờ biển, thấy một cung điện trang hoàng bằng bảy báu, ánh sáng rực rỡ. Ngài thấy đã đến giờ thụ trai, nên đến cung điện kia, nói kệ khất thực:
Đói là bệnh đệ nhất Hành là khổ đệ nhất Người biết pháp như thế Sẽ đắc quả Niết-bàn.
Khi ấy, chủ nhà ra đón tiếp, trải chiếu mời tôn giả ngồi. Tăng-già-da-xá thấy trong nhà này có hai con quỉ khỏa thân, đen gầy, đói khát, ốm yếu, bị xiềng xích vào chân giường, bên cạnh hai con quỉ đặt một bát đựng đầy cơm thơm và một bình nước.
Bấy giờ, chủ nhà lấy thức ăn đó cúng dường cho ngài Da-xá và nói:
- Đại đức! Ngài chớ đem thức ăn này cho hai con quỉ kia.
Da-xá thấy chúng quá đói khổ, liền lấy một ít cơm đem cho. Hai con quỉ vừa ăn cơm xong thì nôn ra máu mủ, chảy khắp mặt đất, làm dơ cả cung điện. Da-xá kinh ngạc hỏi ông chủ:
- Hai con quỉ này do tạo nghiệp gì mà chịu quả báo khổ đau như vậy?
Chủ nhà đáp:
- Đời trước, hai con quỉ này là con trai và con dâu của tôi. Ngày xưa, thấy tôi bố thí để tạo các công đức, vợ chồng nó thường tức giận và tham tiếc. Tôi thường dạy bảo mà chúng không nghe lời. Nhân đó, tôi lập nguyện: ‘Tội như thế nhất định bị quả báo xấu, lúc chúng chịu tội, tôi sẽ trông coi’. Do nhân duyên đó mà chịu khổ như vậy.
Tôn giả lại đi tiếp đến thì thấy một tòa lầu được trang hoàng bằng nhiều châu báu quí lạ. Trong đó, chư tăng đi kinh hành, ngồi thiền rất đông. Đến giờ thụ trai, tiếng kiền chùy vang lên, chúng tăng nhóm họp tại trai đường để thụ thực. Khi sắp xong, các thức ăn ngon bỗng biến thành máu mủ, họ liền cầm bát ném nhau, khiến vỡ đầu, sưng mặt, máu chảy khắp thân, rồi tự than: ‘Tại sao chúng ta tham tiếc một chút thức ăn, để nay phải chịu khổ thế này!’.
Tăng-già-da-xá đến hỏi nguyên nhân thì họ đáp-- Trưởng lão! Đời trước, vào thời Phật Ca-diếp chúng tôi cùng ờ chung với nhau. Một hôm, có khách tăng đến, chúng tôi tức giận, cất giấu cẫc thức ăn uống, không chia cho vị ấy. Vì nhân duyên đó nên nay chúng tôi phải chịu khổ như vậy.
Bài tụng về chính báo:
Tham lam, giả đạo đức
Sống bằng nghề sát sinh
Lòng dối gạt đủ điều
Tâm cầu lợi muôn thứ.
Chịu tội trong địa ngục
Thói quen vẫn không chừa
Bị dao bén lóc thịt
Chỉ còn xương trắng thôi.
Bài tụng về tập báo:
Do lòng nhiều tham dục
Luân chuyển ba đường ác
Tội hết, sinh làm người
Tập khí ấy vẫn còn.
Thường ôm lòng lang sói
Không ai thích thân gần
Trọn đời không tỉnh ngộ
Đáng cười cho kẻ ngu.
84.11.3. Cảm ứng
84.11.3.1. Đời Ngụy, Tư mã Tuyên vương: Sự nghiệp của Tư mã Tuyên vương ngày càng rạng rỡ, đến khi giết Đại tướng quân Tào Sảng thì âm mưu soán ngôi dần dần lộ rõ. Bấy giờ, Vương Lăng làm Thứ sử Dương châu, thấy Ngụy đế bị đại thần chuyên quyền khống chế, không làm chủ được, nên định lập Sở vương Bưu tuổi cao mà có tài, lên ngôi. Thứ sử Hoa ở Duyên châu biết được, nên tâu âm mưu của Lăng lên Tuyên vương.
Tuyên vương đích thân âm thầm đem trung quân đến đánh úp Vương Lăng. Vương Lăng tự biết thế cùng, nên một mình đi thuyền ra đón Tuyên vương. Tuyên vương đưa Lăng về kinh đô. Đến gần thành, ngang qua miếu Giả Quì, Lăng than:
- Giả Lương Đạo! Ta vốn hết lòng với xã tắc của Ngụy!. Điều này chỉ thần mới biết!
Ngay đó, Lăng uống thuốc mà chết. Ba họ đều bị tru diệt.
Năm ấy, Tuyên vương bị bệnh. Ban ngày, Tuyên vương thấy Lăng cùng Giả Quì hiện về, hại mình, nên la lớn: “Ngạn Vân! Hãy tha ta! . Sau đó, thân thể Tuyên vương có vết đánh, ít ngày sau thì qua đời.
84.11.3.2. Đời Ngụy, Chi Pháp Tồn: Ông vốn là người Hồ, nhưng sinh sống ở Quảng châu, rất giỏi y thuật, trở thành người rất giàu có trong nước.
Ông dùng tám trượng da thú làm thành trăm thứ hình tượng với màu sác rực rỡ, trông rất đẹp mắt. Trong nhà ông lại có một bộ phản rộng tám thước bằng gỗ trầm hương, thường tỏa hương thơm ngào ngạt.
Vương Đàm làm Thứ sử Quảng châu. Con trai trưởng là Thiệu Chi nhiều lần cầu xin hai thứ, nhưng Pháp Tồn không cho. Nhân lúc Pháp Tồn theo giúp, Vương Đàm giết ông ta, tịch thu hết tài sản trong nhà.
Sau khi chết, Pháp Tồn hiện hình đến phủ, thường đánh chiếc trống dưới gác, giống như oan hồn, như thế trải qua gần một tháng. Bấy giờ, Vương Đàm mắc bệnh, thường thấy Pháp Tồn về bắt, ít lâu sau thì qua đời. Thiệu Chi đến Dương Đô, không bao lâu rồi cũng chết.
84.11.3.3. Đời Tề, Trương Thiện: Ông làm thái thú Dương Trạch, tính tình hà khắc tàn khốc và tham lam vô độ nên tiếng ác đồn xa. Lan đài sai Ngự sử Ngụy Huy Tuấn đến quận bắt giam. Vì Thiện tham ô nhũng lạm, tội đáng phải chết, Ỏ trong ngục, Trương Thiện sai người loan tin, vu khống Huy Tuấn nhận hối lộ của dân, lại còn bắt trói oan Trương thiện.
Nghe vậy, Văn Tuyên đế cả giận, cho là pháp ti a dua, nhất định phải xử trị đến cùng. Thế rồi, Văn Tuyên đế sai Thượng thư tả thừa Lư Phỉ xét lại vụ án. Theo ý vua, Phỉ định tội trạng cho Huy Tuấn, rồi tâu trình; sau đó, đem ra chợ chém.
Biết mình phải chết, Huy Tuấn để lại di chúc cho Lệnh sử: ‘Tình lí của tôi thì ông đã biết rõ. Sự việc hôm nay nên làm thế nào? Ông chuẩn bị cho tôi trăm trang giấy, hai cây viết và một ống mực bỏ theo xác tôi. Nếu linh thiêng, nhất định báo thù rửa hận”. Lệnh sử thương xót, bán hết y phục, tẩm liệm và chôn Cất Huy Tuấn cùng giấy bút đầy đủ.
Mười lăm ngày sau, Trương Thiện mắc bệnh, miệng chỉ nói; “Cúi lạy Ngụy Thượng thư”, chưa đầy mười ngày thì chết.
Chỉ hơn hai tháng sau, do kết tội oan cho ngự sử Ngụy Huy Tuấn, nên Lô Phỉ bị Huy Tuấn hiện về tâu lên vua. Văn đế ra lệnh đánh chết.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
01/01/2016
PUCL QUYỂN 85 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)
QUYỂN 85 Quyển này tiếp theo chương Lục độ (tiếp theo) 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ 85.6. TRÍ TUỆ 85.6.1. Lời dẫn Trong hai loại trang nghiêm, tuệ là tối thắng; trong ba phẩm thứ đệ, trí không gì sánh bằng. Thế nên kinh ghi: “Năm đ...
01/01/2016
PUCL QUYỂN 84 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)
QUYỂN 84 Quyển này tiếp theo chương Lục độ, 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt) 85.5. THIỀN ĐỊNH 85.5.1. Lời dẫn Thần thông thù thắng, nếu chẳng nhờ thiền định thì không thể phát sinh; trí tuệ vô lậu, nếu không nhờ tĩnh lặng thì từ đ...
25/12/2015
PUCL QUYỂN 83 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (TT)
Quyển này tiếp theo chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt) 85.4. TINH TẤN 85.4.1. Lời dẫn Bởi tâm nhẫn nhục còn mờ mịt, ý chỉ rốt ráo chưa được hiển bày, thế nên phải luôn sách tấn để tâm không biếng nhác. Kinh ghi: “Tì-k...
24/12/2015
PUCL QUYỂN 82 - CHƯƠNG LỤC Độ (tt)
QUYỂN 82 Quyển này tiếp theo chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC Độ (tt) 85.2. TRÌ GIỚI 85.2.1. Lời dẫn Trộm nghe, giới là thầy của loài người, nên đạo tục đồng vâng giữ. Tâm là chủ của hành động, phàm thánh đều phải chế phục....
24/12/2015
PUCL QUYỂN 81 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)
QUYỂN 81 Quyển này tiếp theo chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt) 85.1. BỐ THÍ (tt) 85.1.6. Lượng định đối tượng để bố thí * Lời bàn Có hai hạng người bố thí là trí và ngu. Người trí khi hành bố thí nên quán sát người t...
24/12/2015
PUCL QUYỂN 80 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ
QUYỂN 80 Quyển này có một chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ 85.1. BỐ THÍ 85.1.1. Lời dẫn BỐ thí là nền tảng của muôn hạnh, đã được xếp đầu tiên trong lục độ, lại được nêu trước nhất trong tứ nhiếp. Cho nên, cấp Cô Độc dùn...
24/12/2015
PUCL QUYỂN 79 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
QUYỂN 79 Quyển này tiếp theo chương Mười nghiệp ác. 84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt) 84.13. NHẬN THỨC SAI LẦM 84.13.1. Lời dẫn Người mới học đạo cần phải lấy lòng tin làm đầu. Ví như người đến được núi báu, nếu không có đô...
24/12/2015
PUCL QUYỂN 78 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
QUYỂN 78 Quyển này tiếp theo chưorng Mười nghiệp ác. 84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt) 84.12. SÂN HẬN 84.12.1. Lời dẫn Do bốn đại khuấy động mà ba độc lẫy lừng. Bởi sáu giặc xâm hại mà trăm mối lo dồn dập. Con người, hoặc d...
