Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 83 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (TT)

25/12/2015

Quyển này tiếp theo chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt) 85.4. TINH TẤN 85.4.1. Lời dẫn Bởi tâm nhẫn nhục còn mờ mịt, ý chỉ rốt ráo chưa được hiển bày, thế nên phải luôn sách tấn để tâm không biếng nhác. Kinh ghi: “Tì-k...

PUCL QUYỂN 83 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (TT)
Phần 1

Quyển này tiếp theo chương Lục độ.
85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)
85.4. TINH TẤN

85.4.1. Lời dẫn
Bởi tâm nhẫn nhục còn mờ mịt, ý chỉ rốt ráo chưa được hiển bày, thế nên phải luôn sách tấn để tâm không biếng nhác. Kinh ghi: “Tì-kheo các ông phải siêng năng tinh tiến, mặt trời trí tuệ của đấng Thập Lực đã lặn, các ông sẽ bị vô minh bao phủ”. Lại nói: “Kẻ xiển-đề suốt ngày nằm dài như thây chết, mà nói thành tựu đạo nghiệp, thật không có lẽ đó”.
Thích Luận ghi: "Người tại gia biếng nhác thì mất lợi ích thế gian. Người xuất gia biếng nhác thì mất hết pháp bảo. Thế nên, Tư-na dũng mãnh được chư Phật tán dương, Ca-diếp tinh tiến được Như Lai khen ngợi”. Sách của Nho gia ghi: “Thức khuya, dậy sớm, xứng đáng là con hiếu; tận lực quên mình, mới gọi là tôi trung”. Nên biết, buông lung biếng nhác sẽ không được mọi người quí trọng, siêng năng cần mẫn thì việc gì cũng được thành tựu. Sao cứ ngu mê, buông tâm kiêu mạn, khiến cho hạt giống thiện không thể nảy mầm, cành nhánh bồ-đề ngày càng khô héo. Huống chi mạng đã thuộc tử vương, tên đã ghi vào âm phủ, chìm trong tăm tối, mất hết tư lương; quan ngục tra hỏi, lấy gì đối đáp. Đến lúc này mới hối hận thì sao kịp!
Vì thế, ngày nay khuyên các hành giả nhân lúc còn mạnh khỏe, phải chuẩn bị tư lương, trong sáu thời thường kiểm thúc ba nghiệp, chớ để phạm lỗi. Mỗi ngày, từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều, từ chiều đến tối, từ tối đến sáng, cho đến một giờ một khắc, một niệm, một sát-na, hành giả phải biết rõ có bao nhiêu niệm thiện, bao nhiêu niệm ác, bao nhiêu niệm hiếu thuận, bao nhiêu ý niệm ngỗ nghịch, bao nhiêu ý niệm xa lìa tài sắc, bao nhiêu niệm tham đắm tài sắc, bao nhiêu niệm gieo nghiệp thiện cõi trời cõi người; bao nhiêu tâm tạo nghiệp bất thiện ba đường ác, bao nhiêu niệm xa lìa danh lợi chấp ngã, bao nhiêu niệm tham cầu danh tiếng chấp ngã, bao nhiêu niệm thích tu pháp ba thừa xuất thế, bao nhiêu niệm khinh chê ba thừa, tham đám thế gian.
Các niệm thiện ác ngày đêm trái nhau như thế, nên hành giả phải luôn luôn kiểm soát, đừng để buông lung rơi vào lưới tà; hằng xét soi ba nghiệp mà răn nhắc, cảnh tỉnh. Tâm và miệng luôn nhắc nhở nhau; tâm nhắc nhở miệng: “Nên nói lời thiện, đừng nói lời phi pháp”. Miệng răn tâm: “Phải tư duy chính pháp, chớ nhớ nghĩ phi pháp”. Tâm lại nói với thân: “Phải siêng năng tinh tiến không được lười biếng”. Như thế, tâm ta tự chế ngự, miệng ta tự cẩn trọng, thân ta tự cấm ngăn. Tự cảnh tỉnh như vậy, mới đạt đến chỗ hoàn thiện, đâu phiền đến người khác nhẳc nhở để rồi oán ghét nhau.
Nên kinh ghi: “Thân làm việc thiện, miệng nói lời hay, ý nghĩ điều tốt, nhất định sẽ sinh vào đường lành. Ngược lại, thân làm việc ác, miệng nói lời thô, ý nghĩ điều tà vạy, chác chắn sẽ sinh vào nẻo ác. Ví như ngựa hay, vừa thấy bóng roi liền chạy, không như ngựa tầm thường phải đợi roi vọt mới đi. Con người cũng như vậy, nếu không tự răn nhắc, để người khác quở trách, chỉ tăng thêm phiền não, tội càng nặng hơn.
85.4.2. Biếng nhác
Kinh Bồ-tát bản hạnh ghi: “Phật bảo A-nan:
- Biếng nhác sẽ làm chướng ngại mọi điều. Người tại gia biếng nhác thì không đầy đủ cơm ăn, áo mặc, tài sản thiếu hụt. Người xuất gia biếng nhác thì không thể xa lìa biển khổ sinh tử. Nên biết, tất cả mọi việc đều nhờ siêng năng mà được thành tựu.
Bấy giờ, Đế Thích liền nói kệ:
Muốn cầu đạo giải thoát,
Đừng mến tiếc thân mạng,
Xả thân như đất bẩn,
Thấu rõ không thật ngã.
Đem của báu bố thí
Việc này chẳng khó gì,
Người tinh tiến dũng mãnh,
Mới chóng thành quả Phật”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Nếu người biếng nhác gieo nghiệp bất thiện thì làm việc gì cũng bị tổn hoại. Nếu người luôn tinh tiến, làm việc gì cũng đều thành tựu tốt đẹp. Vì vậy, bồ-tát Di-lặc phải trải qua ba mươi kiếp mới thành Phật. Ta nhờ tâm dũng mãnh tinh tiến mà thành tựu đạo quả trước bồ-tát Di-lặc. Thế nên các thầy phải thường tinh tiến, chớ biếng nhác”.
Kinh Thí dụ ghi: “Vào thời Đức Phật Ca-diếp, có hai anh em nhà nọ đều xuất gia làm sa-môn. Người anh chuyên trì giới, tọa thiền, hết lòng cầu đạo, nhưng không thực hành bố thí. Người em chuyên bố thí tu phúc, nhưng thường phạm giới. Đời sau, người anh theo Đức Phật Thích-ca xuất gia tu đạo, chứng được quả vị A-la-hán, nhưng y phục thường thiếu, cơm không đủ no. Người em lại sinh làm con voi có sức mạnh vô địch, luôn đánh thắng kẻ thù, nên vua rất yêu mến, phong cho thực ấp mấy trăm hộ, vàng bạc, chuỗi báu, đồng thời cung cấp tất cả vật cần dùng.
Gặp lúc mất mùa, vị tì-kheo đi khắp nơi khất thực, suốt bảy ngày mà không có chút gì, cuối cùng chỉ được một ít thức ăn dở, tạm giữ được mạng sống. Tì-kheo quán biết con voi này chính là hậu thân của em mình kiếp trước, nên đến gặp và kề tai voi, nói:
- Đời trước ta và ngươi đều có tội!
Suy gẫm lời vị tì-kheo, voi biết được kiếp trước của mình, nên buồn bã bỏ ăn. Người giữ voi lo sợ liền đến tâu vua. Vua hỏi:
- Trước đó, không ai xúc phạm đến voi chứ?
Đáp:
- Không có ai khác, chỉ có một sa-môn đến kề tai voi nói gì đó rồi bỏ đi.
Vua liền sai người tìm vị sa-môn dẫn về hoàng cung. Vua hỏi:
- Thầy đã nói gì với voi?
Tì-kheo đáp:
- Tôi chỉ nói một câu: ‘Đời trước ta và ngươi đều có tội’.
Tì-kheo thuật lại: đầy đủ việc đời trước. Vua nghe xong, liền cho thả vị tì-kheo’
Phần 2

Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: Trong lúc đức Thế Tôn thuyết pháp cho vô lượng đại chúng, có một tì-kheo trưởng lão ngồi duỗi chân về phía Thế Tôn ngủ gật. Lúc ấy, cách Thế Tôn không xa, sa-di Tu-ma-na mới tám tuổi đang tĩnh tọa, an trú trong chính niệm. Đức Thế Tôn từ xa thấy vậy, liền nói kệ:
Gọi là bậc trưởng lão
Chưa hẳn do cạo tóc
Cho dù tuổi tác cao
Không tránh khỏi phạm lỗi.
Người đạt được Kiến để
Không hại đến mọi người
Dứt trừ các hạnh ác
Mới gọi là trưởng lão.
Nay ta nói trưởng lão
Không hẳn xuất gia trước
Người tu tập thiện nghiệp
Phân biệt rõ chính hạnh
Dù tuổi còn rất nhỏ
Mà các căn thanh tịnh
Đáng xưng là trưởng lão
Biết rõ chính pháp hành.
Đức Thế Tôn bảo các thầy tì-kheo:
- Các thầy có thấy tì-kheo trưởng lão ấy duỗi chân ngủ không?
Các tì-kheo thưa:
- Thưa Thế Tôn, chúng con đều thấy!
Thế Tôn nói:
- Trong năm trăm kiếp trước, vị tì-kheo trưởng lão này làm thân rồng. Đời này, mạng chung cũng sinh làm loài rồng. Vì sao như thế? Vì tỳ kheo ấy không có tâm cung kính Phật, pháp, tăng; do không có tâm cung kính như thế, nên sau khi mạng chung sẽ sinh làm loài rồng.
- Các thầy có thấy sa-di Tu-ma-na, mới tám tuồi, đang tọa thiền cách ta không xa không?
Các tì-kheo đáp:
- Chúng con thấy, thưa Thế Tôn!
Đức Phật nói:
- Bảy ngày sau, sa-di này sẽ đắc pháp tứ thần túc và tứ đế. Do đó các thầy phải dốc lòng cung kính Phật, pháp, tăng”.
Kinh Phật thuyết mã hữu bát thái thí nhân ghi: “Phật bảo các tì-kheo:
- Loài ngựa có tám thói xấu:
1. Vừa mở dây cương liền muốn kéo xe chạy.
2. Khi đóng xe vào thì nhảy lên, muốn đá người.
3. Cất hai chân trước lúc kéo xe chạy.
4. Đạp vào càng xe.
5. Khi người mang ách vào thân nó, thì nó giật xe lùi lại.
6. Đi càn, chạy bừa.
7. Kéo xe ruổi chạy, nhưng khi gặp bùn lầy thì đứng lì, không chịu đi.
8. Treo máng cho ăn thì nhìn hoài không chịu ăn, nhưng khi chủ dắt đi sắp đóng vào xe, bắt ngậm hàm thiếc thì muốn ăn cũng không được.
Đức Phật dạy:
- Con người cũng có tám tật xấu:
1. Khi nghe giảng kinh, liền đứng dậy không muốn nghe, như ngựa vừa mở dây cương liền kéo xe chạy.
2. Nghe giảng kinh không hiểu, không biết ý chỉ kinh liền nổi giận, dậm chân không muốn nghe, như ngựa khi đóng xe vào nó nhảy lên muốn đá người.
3. Khi nghe thuyết pháp liền chống trái không chấp nhận, như ngựa cất hai chân trước lúc kéo xe chạy.
4. Nghe giảng kinh liền mắng chửi, như ngựa đạp vào càng xe.
5. Nghe giảng kinh liền đứng lên, bỏ đi, như ngựa khi người mang ách vào thân nó, thì nó kéo xe giật lùi.
6. Khi nghe giảng kinh, không chú tâm lắng nghe, cứ xoay đầu nhìn quanh, nói chuyện riêng, như ngựa đi càn, chạy bừa.
7. Khi nghe thuyết pháp, liền muốn bắt bẻ đến cùng, cố ý hỏi khó để đối phương không thể đáp được, lại cắt ngang, nói càn, như ngựa gặp bùn lầy thì đứng lì, không chịu đi.
8. Vào hội giảng kinh không chịu lắng nghe, lại khởi nghĩ đến dâm dục, mong câu đủ thứ, để sau khi chết rơi vào đường ác. Bấy giờ người này dù muốn học hỏi, hành đạo cũng không thể được. Người này giống như ngựa khi treo máng cho ăn thì nhìn hoài không chịu ăn, nhưng khi chủ dắt đi sắp đóng vào xe, bắt ngậm hàm thiết thì muốn ăn cũng không được.
Đức Phật dạy:
- Ta nói loài ngựa có tám thói xấu, con người cũng có tám tính xấu như vậy.
Sau khi nghe Phật dạy, các tì-kheo hoan hỷ lễ Phật, rồi lui ra”.
85.4.3. Khuyên tiến tu
Kinh Trì thế ghi: “Bồ-tát Bảo Quang đối trước Diêm-phù-đàn Kim Phật, phát tâm tinh tiến. Chỉ vì muốn vào pháp môn phương tiện mà trải qua hai mươi ức năm không bao giờ khởi tâm xấu ác hoặc tâm lợi dưỡng, lại cũng chưa từng khởi tâm dâm dục, giận dữ, si mê. Lại có bồ-tát Vô Lượng Ý, bồ-tát Vô Lượng Lực suốt bốn

Phần 3

vạn năm không hề ngủ nghỉ, thường không ăn no, cũng không nằm. Lúc tọa thiền hoặc kinh hành, các bồ-tát này chỉ nhớ nghĩ tướng ngũ thủ uẩn”.
Kinh Đại tập ghi: “Tì-kheo Pháp Ngữ trong hai vạn năm không hê ngủ, sau đó bay lên hư không cao bằng cây đa-la, ngồi kết già mãn một nghìn năm, thân không lay động, dùng pháp hỷ làm thức ăn, chứng được Tỉ trí, nhạo thuyết vô ngại
Kinh Thí dụ ghi: “Ở nước La-duyệt-kì có vị sa-môn tọa thiền, tự lập thệ nguyện: ‘Nếu ta không đắc đạo quyết không đứng dậy’. Vì thế, vị ấy làm một cây dùi dài tám tấc, lúc buồn ngủ thì lấy dùi đâm vào hai bắp vế thật đau để tỉnh ngủ. Trải qua một năm, vị ấy liền đắc đạo”.
Kinh Bạt-câu-la ghi:
Tì-kheo Bạt-câu-la nói: “Từ khi tôi xuất gia đến nay suốt tám mươi năm chưa từng nằm nghỉ, hông không dính chiếu, lưng không tựa giường”.
Kinh Di giáo ghi: “Đức Phật dạy:
- Này các thầy tì-kheo! Nếu dũng mãnh tinh tiến thì không có việc gì khó. Vì thế các thầy phải nên tinh tiến. Thí như dòng nước nhỏ mà chảy mãi thì đá cũng mòn. Nếu tâm hành giả thường biếng nhác, cũng như người dùi cây lấy lửa, chưa có lửa đã ngừng, thì không bao giờ được lửa”.
Luận Trí độ ghi: “Thân tinh tấn là việc nhỏ, tâm tinh tấn mới là việc lớn. Tinh tấn làm những việc bên ngoài là việc nhỏ, tinh tấn quán sát tự thân mới là việc lớn”.
Lại nữa, Đức Phật dạy: “Ý nghiệp rất mạnh, như tiên nhân khởi tâm sân hận đã khiến cho đất nước hùng mạnh phải diệt vong. Nếu thân, khẩu tạo tội ngũ nghịch, phải chịu quả báo đọa địa ngục A-tì suốt một kiếp, nhưng nhờ ý nghiệp khởi niệm thiện, mà được sinh vào cõi Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng, thọ tám mươi nghìn đại kiếp. Sau đó sinh về cõi Phật trong mười phương, thọ mạng vô lượng. Vì thế, thân, khẩu tinh tấn là việc nhỏ, ý tinh tấn mới là việc lớn. Tất cả các kinh đều khen ngợi hạnh tinh tấn. Nếu người nhất tâm chính niệm sẽ chóng thành đạo quả, không nhất định phải học rộng nghe nhiều”.
Luận Đại trí độ ghi. “Nếu ai muốn được trí nhớ tốt, phải nên nhất tâm chính niệm, nuôi lớn chính niệm. Cũng vậy, mỗi khi tác ý, nên buộc niệm vào một chỗ, không cho duyên theo cảnh. Như tì-kheo Châu-lợi Bàn-đà-ca, chú tâm vào việc lau quét mà tâm an định, các vọng niệm dứt sạch, chứng được quả vị A-la-hán. Tì-kheo ấy là người căn tính chậm lụt, bảo học hai chữ ‘chổi quét’ cũng không nhớ nổi, nếu nhớ chữ quét thì quên chữ chổi, còn nhớ chữ chổi lại quên chữ quét. Đần độn như thế mà vẫn đắc đạo, huống là người thông minh. Trong thiên hạ đâu có người nào đần độn hơn! Do đó Phật pháp chỉ quí trọng sự hành trì, chỉ cần tinh tấn tu tập, dù người ít học cũng sớm đắc đạo”.
Luận Ti-bà-sa ghi: “Có hai người cùng đi đến địa điểm, một người thì cưỡi con ngựa chạy nhanh, còn người kia cưỡi con ngựa chạy chậm. Tuy cưỡi con ngựa chạy chậm, nhưng vì đi trước nên đến đích trước. Vì vậy, người tin vào pháp giải thoát, tinh tiến tu hành, chắc chắn sẽ đến Niết-bàn trước. Giống như Châu Lợi vậy”.
Lục độ tập kinh ghi “Phật bảo các đệ tử:
- Các ông phải tinh tiến lắng nghe, đọc tụng, không được biếng nhác, để khỏi bị năm ấm, năm cái ngăn che. Ta nhớ thuở quá khứ cách đây vô số kiếp, có vị Phật hiệu là Nhất Thiết Độ Vương xuất hiện ở đời. Bấy giờ, trong chúng có hai vị tì-kheo cùng nghe pháp, một vị tên Tinh Tiến Biện, một vi tên Đức Lạc Chỉ. Tinh Tiến Biện nghe kinh, tâm hoan hỷ, ngay khi ấy đắc quả A-duy-việt-trí, đầy đủ thần thông. Còn Đức Lạc Chỉ vì mê ngủ, không tỉnh giác nên không đạt gì cả. Thấy thế, Tinh Tiến Biện nói với Đức Lạc Chỉ:
- Rất khó gặp được Đức Phật, trăm nghìn ức đời mới xuất hiện một lần. Vì thế, huynh phải dũng mãnh tinh tiến tu tập các hạnh, cớ sao-ngủ hoài như thế?
Nghe lời nhắc nhở này, Đức Lạc Chỉ liền kinh hành quanh vườn Kỳ-đà, nhưng được một lát lại đứng ngủ, do hôn trầm như thế nên không thể định tâm. Thầy lại đến bên bờ suối ngồi thiền, cơn buồn ngủ lại kéo đến. Thấy vậy, Tinh Tiến Biện muốn dùng phương tiện khéo léo để độ bạn, nên hóa thành con ong chúa bay đến đậu trên mắt vị ấy như muốn chích. Vì sợ ong chích nên Lạc Chỉ ngồi tỉnh táo, nhưng được chốc lát thì ngủ tiếp. Khi ấy, ong liền luồn vào nách, chích trên ngực và bụng, Lạc Chỉ hoảng sợ không dám ngủ nữa. Lúc ấy, quanh suối có nhiều sắc hoa nở rộ rất đẹp, ong chúa bay đến hút mật hoa, Lạc Chỉ ngồi ngay thẳng nhìn ong chúa, sợ nó bay đến chích nên không dám ngủ. Ong chúa mê mải hút mật hoa không chịu bay. Một lát sau, ong chúa ngủ gục rơi xuống bùn, thân thể hôi dơ lại bay về đậu trên hoa. Bấy giờ, Lạc Chỉ nói kệ cho ong chúa nghe:
Nhờ hút mật họa tươi,
Thân ngươi được no đủ
Lại không phải mang về,
Cho cả vợ và con
Cớ sao rơi xuống bùn,
Tự làm nhơ thân thể?
Như thế là ngu si
Mất vị ngọt của hoa.
Lại trong đóa hoa ấy
Cũng không nên ở lâu
Mặt trời lặn, hoa khép,
Muốn ra cũng không được.
Phải đợi sáng hôm sau,
Ngươi mới bay ra khỏi,
Suốt đêm dài tăm tối,
Như thế thật khổ nhọc.
Ong chúa nói kệ đáp lại Lạc Chỉ:
Phật pháp như mật hoa,
Nghe hoài không biết chán,
Chớ nên sinh biếng lười
Chẳng được lợi ích gì.
Biển sinh tử năm đường,
Như rơi vào bùn nhơ,

Phần 4

Người ngu si mê lầm,
Bị ái dục trói buộc.
Mặt trời mọc, hoa nở,
Dụ cho sắc thân Phật,
Mặt trời lặn, hoa khép,
Như Thế Tôn niết-bàn.
Gặp Đức Phật ra đời,
Phải tinh tiến tu hành,
Trừ mê ngủ ngăn che,
Đừng nghĩ Phật còn mãi.
Yếu nghĩa của pháp mầu,
Không phải nơi hình tướng,
Tôi hiện ra tham đắm,
Nên biết là phương tiện,
Khéo léo để độ ông,
Được lợi ích thật sự,
Nay biến hóa như vậy,
Cũng là vì tất cả.
Đức Lạc Chỉ nghe bài kệ này liền chứng Bất khởi pháp nhẫn, thấu hiểu nguồn gốc các pháp và các môn Đà-la-ni”.
Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
- Tinh Tiến Biện thuở ấỵ là Ta, Đức Lạc Chỉ chính là bồ-tát Di-lặc. Thuở ấy Ta và Di-lặc cùng nghe pháp, nhưng vì Di-lặc mê ngủ nên không chứng đạo. Nếu Ta không dùng phương tiện khéo léo để giúp đỡ thì Di-lặc đến nay vẫn còn trong sinh tử, chưa được giải thoát”.
Kinh Xuất Diệu ghi: “Thuở xưa, có một tì-kheo mỗi ngày đều đến khu nghĩa địa hoang vắng ngoài thành. Trên đường đến đó phải băng qua thửa ruộng của một người dân. Chủ ruộng thấy vậy rất tức giận thầm nghĩ: ‘Đây là đạo nhân nào? Tại sao không lo tu hành mà hằng ngày cứ đi qua nơi này!’, Ông hỏi đạo nhân:
- Ông là khất sĩ ư? Cớ sao tự tiên qua lại trong ruộng của tôi, đến nỗi thành đường mòn như vậy?
Đạo nhân đáp:
- Tôi có việc kiện tụng, vì muốn tìm người làm chứng nên phải đi qua ruộng của ông.
Do nhân duyên đời trước, hôm nay đến lúc được độ thoát, nên chủ ruộng lặng lẽ đi theo vị tì-kheo. Đến nơi, ông ta thấy trong bãi tha ma, thây chết nằm ngổn ngang, trương sình rữa nát, chim thú kéo đến cắn xé, thịt xương vung vãi khắp nơi. Có thi thể đã bị ăn hết, có thi thể bị ăn dở dang, có những thi thể xám xịt như lông chim câu bị sâu bọ cắn rút, hôi thối không thể gần. Vị tì-kheo đưa tay chỉ và nói với ông ta:
- Các chim thú này là nhân chứng của tôi.
Ông ta hỏi:
- Thầy tranh cãi với ai? Tại sao những chim thú này lại là nhân chứng?
Tỳ kheo đáp:
- Tâm bệnh thì phát sinh nhiều lậu hoặc, tôi quán những hài cốt này, thấu rõ những chất bất tịnh. Sau đó, tôi trở vế tự quán sát thân mình, từ đầu đến chân không khác gì đống xương kia. Nhưng tâm ý mãi rong ruổi khắp nơi, chạy theo những pháp hư dối sắc, thinh, hương, vị xúc. Nay tôi muốn răn nhắc nguồn tâm. Ông nên biết, tâm ông khởi niệm, không để nó dẫn dắt vào địa ngục, ngạ quỷ. Ta nay còn phàm phu vẫn chưa thoát khỏi trói buộc, nên giặc tâm không tuân theo ý của ta. Vì vậy, mỗi ngày ta đều đến đây, để quán bất tịnh thấu rõ nó là nhơ uế, lại nói với tâm: ‘Tâm rất hung bạo, loạn động, bất định. Nay tâm cần phải chuyển hóa, không để tạo những nghiệp ác’.
Người chủ ruộng nghe vị tì-kheo chỉ dạy xong, đưa tay gạt lệ nghẹn ngào không nói nên lời. Người chủ ruộng đó, vào thời Phật Ca-diếp suốt mười nghìn năm tu pháp quán bất tịnh, nên trong chốc lát đã thấu rõ ba mươi sáu chất bất tịnh trong thân. Ngay khi ấy, vị tì-kheo và người chủ ruộng đều chứng đắc quả Tu-đà-hoàn ngay tại bãi tha ma đáng sợ này”.
Thế nên biết, thánh trước thánh sau hết lòng khuyên mọi người phải siêng năng không được biếng nhác, tự làm tổn hại đến quả báo đời sau. Họ hàng thân quyến cũng chẳng bền lâu, đủ duyên thì tạm thời hòa hợp; thiện ác báo ứng, thân sơ đâu nhất định, không nên chấp chặt, đắm trước gia đình mình. Dù được địa vị cao tột chỉ là giả tạm, nào có bền lâu. Gần đây thấy người ngu ở thế gian không thấu lẽ vô thường, tâm luôn tham luyến nhà cửa, ruộng vườn, vợ con, danh lợi không bao giờ nhàm chán, không bao giờ biết đủ. Lúc sống không biết tu phúc, chết rồi mọi thứ đều thuộc về người.
Kinh Pháp cú thí dụ ghi: “Thuở xưa, ở nước ngoài, có một thanh tín sĩ siêng năng cúng dường Tam bảo. Bấy giờ, có vị sa-môn cùng các bạn đồng đạo đều đã đắc thần thông, chấm dứt sinh tử. Khi ấy, vị thanh tín sĩ này lâm bệnh nặng, chữa trị đủ thuốc men vẫn không lành. Thấy thế, người vợ đứng bên cạnh khóc lóc sầu khổ, nói: ‘Là vợ chồng, sao một mình anh phải chịu khổ như thế. Nếu anh chết đi, em biết nương tựa vào đâu, phận gái đơn chiếc, biết trông cậy vào ai!’. Nghe vậy, người chồng xót xa rồi mạng chung ngay lúc đó. Thần thức tái sinh làm con sâu ở trong lỗ mũi người vợ, người vợ thương nhớ khóc mãi không dừng.
Bấy giờ, vị sa-môn biết người chồng mới chết hóa làm con sâu ở trong lỗ mũi người vợ, nên đến thăm và khuyên bảo để cô ta vơi bớt nỗi buồn. Thấy vị sa-môn đến, bà ta càng sầu khổ, thưa:
- Bạch hòa thượng, chồng con mất rồi! Con phải làm sao đây!
Thưa xong, người vợ khóc lớn nước mắt nước mũi chảy dài, con sâu trong mũi liền rơi xuống đất, cô ta xấu hổ định lấy chân chà chết nó, vị sa-môn liền can:
- Đừng, đừng! Chớ giết nó! Chồng của con hóa sinh làm con sâu này.

Phần 5

Người vợ thưa:
- Chồng con tinh tấn tụng kinh, giữ giới không ai bì kịp, vì sao mạng chung lại đọa làm con sâu này?
Vị sa-môn đáp:
- Bởi vì con thương yêu khóc lóc, thở than, sầu thảm, khiến chồng con khởi tâm ân ái, lưu luyến ưu sầu, nên sau khi chết, chồng con đọa làm sâu trong mũi con.
Vị sa-môn thuyết pháp cho sâu nghe: ‘Ông siêng năng tụng kinh, trì giới lẽ ra được sinh đến trước chư Phật trên cõi trời, nhưng vì tâm luyến ái mà ông đọa làm sâu, thật đáng hổ thẹn!’. Nghe sa-môn chỉ dạy, tâm ý người chồng bừng tỉnh, vô cùng hối hận, tự trách. Ngay khi ấy con sâu chết, được sinh lên cõi trời”.
Cho nên, chúng ta phải tự giác tỉnh, biết tâm làm thiện tạo ác, sửa lỗi tu phúc, xét mình làm người tốt, không được biếng trễ mà tổn hại đến đời sau.
85.4.4. Lợi ích của tinh tấn
Kinh Nguyệt đăng tam-muội ghi: “Phật dạy:
- Bồ-tát thực hành tinh tấn có mười lợi ích:
1. Không bị người khác chiết phục.
2. Được Đức Phật giúp đỡ, bảo vệ,
3. Được phi nhân bảo vệ.
4. Nghe pháp, ghi nhớ không quên.
5. Nghe được những điều chưa nghe.
6. Tăng trưởng biện tài.
7. Chứng được tam-muội.
8. Ít bịnh, ít khổ não.
9. Tiêu hóa tất cả thức ăn.
10. Như hoa ưu-bát-la, không bao giờ héo tàn”.
Kinh Đại bảo tích ghi:
Nên siêng năng nhớ nghĩ đến mười việc:
1. Nhớ nghĩ Phật là bậc có công đức vô lượng.
2. Nhớ nghĩ pháp là pháp giải thoát không thể nghĩ bàn.
3. Nhớ nghĩ tăng là bậc thanh tịnh vô nhiễm.
4. Nhớ nghĩ hành hạnh đại từ để giúp chúng sinh được an ổn.
5. Nhớ nghĩ hành hạnh đại bi cứu khổ cho chúng sinh.Nhớ nghĩ Chính định tụ để khích lệ tu thiện.
6. Nhớ nghĩ Tà định tụ để dứt trừ và quay về bản tâm.
7. Nhớ nghĩ đến chúng ngạ quỷ bị đói khát khổ não.
8. Nhớ nghĩ đến loài súc sinh mãi chịu nhiều khổ não.
9. Nhớ nghĩ đến chúng sinh ở địa ngục chịu đủ mọi sự thiêu đốt.
Bồ-tát chuyên tâm không loạn, nhớ nghĩ đến mười điều này và công đức Tam bảo, được gọi là chính niệm tinh tấn”.
Kinh Lục độ ghi: “Có bốn loại tinh tấn giúp đầy đủ trí tuệ:
1. Tinh tấn học rộng.
2. Tinh tấn tổng trì.
3. Tinh tấn nhạo thuyết.
4. Tinh tấn hành chính hạnh.
85.4.5. Cảm ứng
85.4.5.1. Đời Tấn, sa-môn Bạch Tăng Quang: Sư còn được gọi là Đàm Quang, chẳng rõ người xứ nào, chỉ biết từ thuở nhỏ đã chuyên tu tập thiền định. Vào thời nhà Tấn, niên hiệu Vĩnh Hòa thứ nhất (345), sư đến Giang Đông, định vào ẩn cư tại núi Thạch Thành, đất Diệm. Dân chúng nơi này nói:
- Trước đây, trong núi thường xảy ra nạn hổ dữ. Sơn thần nơi đây cũng hung bạo, nên từ lâu chẳng có ai lai vãng.
Nghe vậy, sư vẫn không chút lo sợ, nhờ người phát cỏ mở đường, rồi cầm gậy tiến bước. Đi được vài dặm, bỗng gió mưa ùn ùn kéo đến, muôn hổ gầm rống. Nhìn về phía nam, sư thấy một thạch thất, bèn đến đó chắp tay tĩnh tọa, tạm trú nơi đây tu tập thiền định. Đến sáng, mưa gió tạnh hẳn, sư bèn vào thôn xóm khất thực, tối lại trở về núi. Ba ngày sau, sư thấy thần núi lúc thì hiện hình hổ, lúc lại hóa thành rắn đến quấy nhiễu, nhưng sư không chút sợ hãi. Sau đó, sư mộng thấy sơn thần đến và nói:
- Tôi đã dời đến núi Hàn Thạch, huyện Chương An. Ngôi thất này xin cúng dường ngài!
Từ đó, tiều phu lên núi đốn củi không còn trở ngại, đạo tục đều kính phụng sư. Người thích tu thiền tìm đến đây tu học, ban đầu dựng am tranh bên cạnh thất sư, dần dần tạo thành chùa, đặt tên là Ẩn Nhạc. Mỗi lần sư nhập định, trải qua bảy ngày mới xuất.
Một hôm vào niên hiệu Thái Nguyên cuối cùng (397), sư lấy y trùm đầu, ngồi ngay ngắn rồi viên tịch. Đại chúng đều nghĩ sư đang nhập định như thường lệ. Đến ngày thứ bảy, chư tăng đều kinh ngạc vì sư vẫn không xuất định, bèn đến xem thì thấy sắc diện sư vẫn như thường, chỉ có mũi là không còn thở. Thần thức đi nơi khác đã lâu mà hình hài sư vẫn không hề biến đổi. Sư trụ tại núi này được năm mươi ba năm, thọ thế 110 tuổi.
Đến niên hiệu Hiếu Kiến thứ hai (455), nhà Tống, Quách Hồng đến đất Diệm nhậm chức, ông ta lên núi lễ bái, thử lấy gậy như ý đụng vào ngực nhục thân sư. Bỗng một trận cuồng phong nổi lên, thổi bay chiếc ca-sa và lớp da, chỉ còn lại bộ xương trắng. Quách Hồng quá hoảng sợ liền thỉnh hài cốt vào thất, lấy gạch xây tường bên ngoài, dùng vữa tô phẳng rồi họa hình sư lên đó, đến nay vẫn còn.
85.4.5.2. Đời Tấn, sa-môn Thích Đàm Du: Sư còn có hiệu là Pháp Du, người Đôn Hoàng, thuở nhỏ đã siêng năng tu tập thiền định. Sau, sư du hóa đến núi Xích Thành, huyện Thiểm ở Giang Tả, hàng ngày khất thực, tọa thiền. Lần nọ, sư đến

Phần 6

khất thực tại một gia đình chuyên nuôi trùng độc. Vừa chú nguyện xong, thấy một con rít từ trong bát cơm bò ra, nhưng sư vẫn thụ thực bình thường, như không có chuyện gì.
Không lâu sau, sư dời đến trú trong một thạch thất tại núi Xích Thành, Thủy Phong, chuyên tâm tọa thiền. Lần nọ, lúc sư đang tụng kinh, có mấy mươi con hổ ngồi xổm trước mặt, nhưng sư vẫn thản nhiên tụng kinh. Lúc này trong bầy có một con nằm ngủ, sư dùng gậy Như ý gõ vào đầu nó và trách:
- Sao ngươi không chịu nghe kinh!
Lát sau, bầy hổ đều bỏ đi, lại xuất hiện một con mãng xà rất lớn bò đến ngẩng đầu trước sư, hồi lâu mới bò đi.
Hôm sau, có vị thần hiện đến thưa sư:
- Pháp sư oai đức rộng lớn, đệ tử xin cúng dường ngài ngôi thất này!
Sư nói:
- Bần đạo đến núi này mong được kết giao với ngài, sao không cùng ở?
Thần đáp:
- Đệ tử cũng muốn như thế, nhưng thuôc hạ của đệ tử chưa được thấm nhuần giáo pháp, nên khó chế ngự, sợ sẽ xúc phạm những người từ xa đến. Người và thần khác biệt, nên đệ tử phải ra đi!
Sư hỏi:
- Ông là thần gì, ở đây đã bao lâu, nay muốn dời đến chốn nào?
Thần đáp:
- Đệ tử là con của Hạ Đế, ở nơi này đã hơn hai nghìn năm. Núi Hàn Thạch là nơi người cậu cai trị, đệ tử sẽ đến nơi ấy.
Nói rồi, thần ẩn thân trở về miếu phía bắc núi. Lúc sắp từ biệt, thần trao tặng sư ba hộp hương. Khi đó, tiếng trống, tiếng tù và trỗi lên, thần cỡi mây bay đi.
Trong dãy núi Xích Thành có một ngọn cao vút, đứng riêng biệt, mây trắng bao phủ rât đẹp, sư chất đá làm thang, lên đó tọa thiền. Người đến học thiền khoảng hơn mười vị, sư nối ống tre dẫn nước để chúng tăng sử dụng hằng ngày. Vương Hi Chi nghe danh, muốn lên lễ bái, nhưng ngọn núi quá cao, đành quay về.
Núi Xích Thành cùng với các ngọn Bạo Bố, Linh Khê và Tứ Minh ở Thiên Thai nằm trong một dãy liên tiếp. Núi Thiên Thai cao chót vót, sừng sững chọc trời, vô cùng hiểm trở.
Các cụ già kể lại ràng:
- Trên đỉnh núi ấy có một ngôi tịnh xá rất đẹp là nơi ở của những bậc đắc đạo. Ở đó, chỉ có một cây cầu đá bắc qua khe suối, nhưng bị một tảng đá chắn ngang, lại nhiều rêụ xanh trơn trượt, từ xưa đến nay không ai đến được.
Lúc sư đến bên chiếc cầu đá, bỗng nghe trong hư không có tiếng nói:
- Tôi biết sư có lòng chí thành, nhưng nay chưa qua được, nên quay về mười năm sau hãy đến!
Nghe vậy, sư rất buồn, nên ngủ lại tại đây. Đêm ấy, sư nghe tiếng hành lễ và bố-tát. Đến sáng, sư lại muốn đến đó, bỗng thấy một người lông mày và râu trắng như tuyết, hỏi sư đi đâu. Sư trình bày ý của mình. Vị ấy bèn nói:
- Ngài còn mang thân sinh tử thi làm sao đến đó được! Tôi là thần núi này, nên báo cho ngài biết như vậy!
Nghe thế, sư buồn bã quay lại. Trên đường về, sư đi ngang qua một thạch thất, sư bèn vào đó nghỉ ngơi. Bỗng nhiên, mây mù giăng phủ, toàn thất tối tăm, nhưng sư vẫn điềm nhiên.
Sáng hôm sau, sư thấy một người mặc áo đơn đến thưa:
- Đây là nơi tôi ở, vì hôm qua đi vắng nên mới xảy ra sự kinh động như vậy, thật lấy làm hổ thẹn!
Sư nói:
- Nếu là nhà của ngài thì tôi xin trả lại!
Thần thưa:
- Gia đình của tôi đã dời đến nơi khác, xin ngài cứ ở lại đây!
Ở đây được một thời gian ngắn, sư buồn bã vì không qua được chiếc cầu đá kia. về sau, sư dốc lòng giữ tâm thanh tịnh. Qua một thời gian dài, sư lại lên tinh xá, bỗng thấy tảng đá trên cầu đã mở lối cho sư đi. Vừa qua khỏi cầu một chút, sư gặp vị thần tăng trong tinh xá đúng như lời tương truyền. Vị tăng đưa sư vào đốt hương. Thụ trai xong, vị thần tăng nói với sư:
- Hôm nay ngài chưa thể ở lại đây được, đợi mười năm sau hãy đến!
Thế là, sư đành trở về. Vừa qua khỏi cầu, sư quay nhìn lại thì thấy tảng đá nằm chắn lối như cũ.
Khoảng niên hiệu Thái Nguyên (376), đời Tấn, có một ngôi sao xấu xuất hiện. Vua ban lệnh các bậc sa-môn có đức độ trong cả nước phải tinh cần tu tập để cầu tiêu trừ tai ách. Sư chí thành cầu khẩn, nên được cảm ứng. Đến sáng ngày thứ sáu, sư thấy một đứa bé mặc áo xanh đến xin sám hối:
- Đệ tử vô cớ làm phiền pháp sư!
Tối đó, ngôi sao biến mất.
(Cổ thuyết cho rằng, người giải trừ sao xấu kia là ngài Bạch Tăng Quang, nên không rõ thuyết nào đủng).
Đên cuối niên hiệu Thái Nguyên (397), tại sơn thất, sư an nhiên thi tịch trong tư thế kết già, thân ngay thẳng như lúc sống, đặc biệt toàn thân đều có màu xanh.
Niên hiệu Nghĩa Hi cuối cùng (419), ẩn sĩ Thần Thế Tiêu lên núi, nhìn thấy nhục thân sư chẳng hề hư hoại. Sau đó, có người lên xem, nhưng mây mù giăng phủ, nên không thấy được.
85.4.5.3. Đời Tống, sa-môn Tăng Qui: Sư ở chùa Võ Đang. Bấy giờ, ở Kinh Triệu có ông Trương Du thường đến huyện này thỉnh sư về nhà cúng dường.
Ngày mồng năm tháng mười hai niên hiệu Vĩnh Sơ thứ nhất (420), sư không bệnh mà viên tịch đột ngột. Hai ngày sau, sư sống lại và kể rằng:
- Vào canh hai đêm mồng năm, sư nghe có tiếng nói chuyện rất rõ đầu đường làng. Lát sau sư lại thấy năm người cầm đuốc và cờ hiệu bước vào thất lớn tiếng gọi: “Tăng Quy!”. Sư hoảng hốt ngồi dậy. Họ liền lấy sợi dây đỏ trói sư và dẫn đi. Đến một ngọn núi không có cỏ cây, đất đen cứng giống như nam châm, thấy xương

Phần 7

trắng chất thành từng đống khắp nơi. Ra khỏi núi khoảng mười dặm, đến một ngã ba, gặp một người hình dáng cao lớn mặc giáp sắt, cầm trượng, cất tiếng hỏi:
- Mấy người đến?
Đáp:
- Chỉ một người thôi!
Năm người này lại đưa tôi đi rẽ vào một con đường, chốc lát thì đến một thành nọ. Ngoài thành có mấy chục ngôi nhà tranh vách đất. Trước mỗi nhà đều có dựng một trụ gỗ cao hơn mười trượng, bên trên có cây xà ngang bằng sắt giống cây trục quay; xung quanh trụ có những giỏ đựng đất. Giỏ đất có nhiều loại, có giỏ đựng đến mười hộc, có giỏ chứa khoảng năm thăng. Một người mặc y phục, đầu vấn khăn đỏ hỏi tôi:
- Lúc sinh thời, ông đã làm phúc hoặc tạo tội gì, hãy kể thật cho ta rõ, chớ dối trá!
Tôi hoảng sợ, chưa kịp đáp. Người mang y phục đỏ liền bảo một vị quan dưới quyền:
- Hãy mở sổ sách ra xem tội phúc của ông ta!
Lát sau, vị quan ấy đến dưới cây cao lớn kia, xách một giỏ đất, treo lên cây xà ngang bằng sắt để cân cho biết thấp hay cao. Vị quan nói với sư:
- Cái cân này dùng để lường tội phúc của ông. Ông phúc ít tội nhiều, nên phải bị trừng trị trước đã!
Ngay lúc đó, có một người áo mũ rộng dài đến nói với tôi:
- Ngài là sa-môn, sao lại không niệm Phật! Tôi nghe nói người biết sám hối thì có thể vượt qua tám nạn!
Nghe vậy, tôi liền nhất tâm niệm Phật. Người áo mũ rộng dài bèn nói với quan ngục:
- Ông nên cân lại tội phúc cho người này! ông ta là đệ tử Phật, may ra có thể độ thoát!
Vị quan kia liền treo giỏ đất lên cân lần nữa, cái cân trở lại thăng bằng. Vị quan bèn đưa sư đên trước giám quan để phán xét. Giám quan cầm bút, xem lai sổ sách, ngờ vực một lúc lâu. Lại có người mặc áo đỏ, đội mũ đen, đeo ấn, cầm hốt ngọc đến nói:
- Xem kĩ trong sổ sách thì chưa có tên người này!
Giám quan kinh ngạc, vội sai tả hữu mang sổ sách đến. Chốc lát lại thấy năm người lúc trước bị trói ngược, giải đến. Giám quan hỏi họ:
- Ngục tốt! Sao các ngươi lại bắt người bừa bãi vậy!
Nói rồi, giám quan sai lính ngục lấy roi đánh họ. Lát sau, có một sứ giả đến bảo: “Thiên đế cho gọi sư!”. Thế rồi, sứ giả đưa tôi đi. Đến thiên cung, tôi thấy mọi thứ đều bằng vàng bạc châu báu, ánh sáng rực rỡ không thể nhìn lâu. Những người hầu cận thiên đế đều mặc áo châu, đội mũ báu, trang sức cũng bằng hoa báu. Thiên đế hỏi:
- Ông là sa-môn sao không siêng năng tu tập để bị bọn tiểu quỉ ngang ngược bắt trói?
Tôi cúi đầu đỉnh lễ cầu hồng ân chư Phật ban phúc. Thiên đế nói:
- Mạng ông chưa hết, nay được trở lại dương gian hãy siêng năng tu tập, chớ thường xuyên đến nhà cư sĩ. Sát quỉ hay bắt lầm người, như đã bắt lầm ông vậy!
Tôi hỏi:
- Làm cách nào để tránh tai họa?
Thiên đế đáp:
- Tốt nhất là ông nên tạo phúc thật nhiều. Nếu không làm được việc này thì nên tổ chức bát quan trai. Được vậy, sống thoát khỏi tai ương, chết không đọa địa ngục.
Nói xong, thiên đế sai người đưa tôi trở về. Đi chưa bao lâu, tôi thấy một ngôi tinh xá lớn, bên trong có nhiều sa-môn, pháp sư Bạch chủ trì chùa Võ Đang và đệ tử Tuệ Tấn đều ở đó. Nơi đây nhà cửa rộng lớn, trang nghiêm, nhu cầu đầy đủ. Tôi xin ở lại, nhưng có vị sa-môn nói:
- Nơi đây là phúc địa, ông không ở lại được!
Sứ giả đưa tôi về đến nhà ông Trương Du rồi từ biệt.
Lại có ông Hà Đàm Chi, người Đông Hải, làm chức Đại tư nông thời nhà Tống. Ông ta không tin kinh điển nhà Phật, chuyên giết hại sinh vật.
Khoảng niên hiệu Vĩnh Sơ (420-423), ông ta thường thấy một con quỉ to lớn, đầu trâu hình người, tay cầm chìa ba, ngày đêm đứng canh giữ bên cạnh. Ông ta lo sợ, mời các đạo sĩ đốt bùa làm phép, tìm đủ mọi cách để trừ quỷ mà vẫn y như cũ. Sa-môn Tuệ Nghĩa là người (quen biết, nghe bệnh tình ông ta nên đến viếng thăm, ồng Đàm Chi kể lại chứng bệnh. Tuệ Nghĩa liền nói:
- Đó là A-bàng đầu trâu. Tội phúc rõ ràng, chỉ do người chuốc lấy. ông hãy một lòng hướng đến Phật pháp thì con quỉ này sẽ biến mất!
Nghe vậy, nhưng Đàm Chi không chịu sửa đổi. Quả nhiên không lâu sau, ông ta qua đời.
85.4.5.4. Đời Chu, pháp sư Tuệ Cảnh: Sư có đức hạnh thanh cao, trí tuệ xuất chúng. Ban đầu, sư dựng ngôi thất Đầu-đà gồm hai gian trên ngọn núi sau chùa để tu tập. Nơi đây thường có thiện thân hộ vệ. Ngày hai mươi tháng tư, niên hiệu Phổ Thông thứ nhất (520), có tăng Tuệ Trưng mới thụ giới, vào thất tụng giới. Nhưng không được bao lâu thì Tuệ Trưng sinh tâm giải đãi, liền thấy sơn thần hiện hình, mặc áo đen, thân cao một trượng, tay cầm dây thừng, Trưng bèn hoảng sợ trở về chùa.
Ngày mười lăm tháng tư, niên hiệu Phổ Thông thứ tám (527), lại có sa-môn Tăng Phú vào thất, lập nguyện tụng kinh tại đây hết một mùa hạ. Ngày đầu, Tăng Phú siêng năng tụng tập không chút giải đãi, nhưng đến ngày thứ hai lại về chùa nghỉ ngơi. Bỗng đá trên núi rơi xuống, phát ra âm thanh như sấm sét, rồi một khối đá lăn trúng thất. Tăng Phú kinh, sợ vội choàng dậy, tạ lỗi rồi tiếp tục tụng kinh, không dám ngủ.
Ngày mười hai tháng tư, niên hiệu Đại Đồng thứ tư (538), có một vị khách tăng tên Pháp Trân, quê ở Thọ Dương, đến chùa lễ bái. Khi lên ngọn núi sau chùa, vị ấy bỗng thấy trong hang đá có một khe suối rất đẹp, dòng nước trong xanh, bèn đến đó tọa thiền. Chốc lát, chợt nghe giữa hư không có tiếng nói: “Hãy đi nơi khác”,

Phần 8

nhưng Pháp Trân vẫn ngồi yên bât động. Ngay lúc ấy, một con hổ lao đến quào vào đầu làm máu chảy đầy mặt, vị khách tăng phải lưu lại chùa hơn bốn mươi ngày đợi vết thương lành mới ra đi.
Ngày năm tháng hai, niên hiệu Đại Đồng thứ nhất (535), lại có thần núi hiện hình, đội khăn bồ-tát, mặc áo ca-sa, dáng vẻ rất trang nghiêm, có hơn ba mươi tùy tùng theo hầu hạ, có một người bưng lư hương đứng trước. Thân núi đi vào thiên đường, đến chỗ pháp sư Hoằng Thệ, ngồi vào hồ sàng cùng pháp sư trò chuyện, rồi thỉnh chúng tăng trong chùa tụng kinh. Đến đêm mồng bốn tháng tư năm đó, bỗng có một cơn gió lớn thổi vào thiền đường, tăng trong chùa như Trí Viễn v.v... nghe bên ngoài dường như có mấy mươi người đi qua. Khuya đó, sư và Trí Viễn bỗng thấy một khúc cây nằm cạnh cửa thiền đường, nhưng vẫn đến đại tự. sau khi giải trai trở về, gần đến cửa thiền đường thì mọi người thấy cây này đã ở trong thiền đường. Sư vừa ngồi vào thiền sàng liền thấy một bức thư, nội dung viết phải đưa khúc cây đến hang đá phía sau thiền đường cũ. Tuệ Kiền đến thử nâng lên nhưng không xê dịch, sau đó nói với khúc cây: “Ta sẽ dời ngươi đến hang đá”, thì nhấc lên nhẹ nhàng. Đến ngày mười bốn tháng năm, lại có chữ viết trên đá bảo sư và Trí Viễn trồng rừng trúc sau thiền đường và tự xưng là Bồ-đề.
85.4.5.5. Đời Tùy, pháp sư Đàm Du: Sư ho Dương, người Hoa Âm, Hoắng Nông. Trụ tại chùa Bách Tiêm Sơn, ở Hoài châu. Sư là người giữ giới nghiêm mật và có tâm tìm cầu học hỏi, nên đã du phương tham học khắp các bậc ẩn cư. Sau, sư đến chùa Lâm Lạc Tuyền ở phía bắc núi Bạch Lộc gặp thiền sư Đàm Hoài và được truyền trao pháp thiền.
Sư lại đến chỗ thiền sư Trù tham hỏi lí thiền, được thiền sư xem trọng. Tại đây sư đã thấm nhuần thiền vị. Lưu lại ba mùa hạ, sư lại đến hang Lộc Thổ để tu tập thiền định. Từ khi sư đến, dòng suối khô đã lâu bỗng tuôn chảy trở lại, nhiều hươu nai dạo quanh. Suối mát thú lành ngày ngày làm bạn với sư. Đồ chúng theo học thấy điềm lành này đều rất vui.
Bấy giờ, nhân việc thỉnh pháp nên sư đến Vân Môn. Trên đường đi, trời bỗng tối tăm mù mịt, sư bị lạc đường. May thay được thần núi chỉ dẫn, sư liền tìm ra lối cũ. Đây là cảm đến cõi u minh, khiến thiện thần hộ vệ.
Lần nọ, có người đến chùa hái trộm rau quả, định chạy khỏi vườn liền bị bầy ong đốt. Nghe tiếng kêu, sư khởi tâm từ bi đến chữa trị, nhờ đó kẻ trộm được toàn mạng.
Sau đó, có người ở đất Triệu đến chùa, chí thành đỉnh lễ sư và thiết tha kể lại:
- Con từng bị bệnh, đã chết, nhưng được sống lại. Khi Diêm vương kêu con đến hỏi tội, sắp đưa vào địa ngục, nhưng nhờ có ngài đến xin, nên Diêm vương mới tha tội chết cho con. Bởi chưa từng biết mặt, nên con đã từ xa dò hỏi mới đến được đây để lễ tạ!
Lần nọ, trên đường lên núi, thấy hai con hổ đánh nhau rất lâu vẫn không chịu thôi, sư bèn đưa gậy ngăn chúng và lấy thân mình chắn đỡ. Sư nói:
- Cùng ở chốn rừng hoang, không nên đánh nhau! Các ngươi hãy thôi đi!
Hổ cúi đầu nghe theo, rồi nhẫn nhịn bỏ đi. Nhiều lần gặp hổ đấu nhau kịch liệt, sư đều đến cứu và can gián như vậy. Mỗi lần sư nhập định, chim muông chẳng dám loạn động, cầm thú tưởng là pho tượng. Âm đức của sư cảm đến muôn vật, hiển dụng ẩn nhân. Mỗi khi nhập định sư đều lấy kỳ hạn bảy ngày. Lại có một con hổ trắng thường vào phòng sư và ở lại đó. Sư sống trong thất suốt mười năm không xuống núi. Tùy Văn đế kính trọng đức độ của sư, nên nhiều lần cho người mang thư hỏi han và dâng hoa hương cúng dường trọng hậu, trải qua nhiều năm như vậy.
Niên hiệu Khai Hoàng thứ nhất (581), bệnh phong chẩn của sư trở nên trầm trọng, không lâu sau, sư viên tịch tại chùa Bách Tiêm, thọ thế tám mươi tuổi.
Trong thời gian sư bệnh, một hôm hào quang chiếu sáng và gió thơm thổi vào phòng, lại cảm ứng đến loài chim lạ có cổ trắng, thân đỏ lượn quanh chùa, cất tiếng kêu lớn rất thảm thiết. Đến lúc hơi thở sư yếu dần, con chim này lại bay xuống đậu trên nền chùa, rồi quanh quẩn mãi ở đó, không sợ người hay vật. Có khi nó đậu ở cửa phòng, có lúc lại đến bên giường sư, tiếng kêu càng thảm thiết đến chảy cả máu mắt. Khi sư viên tịch, con chim kia cũng bay ra ngoài, lượn vòng giữa hư không, rồi bay mất. Lại cảm đến hổ dữ đi quanh chùa gầm rống bi thảm suốt hai đêm, đất trời sầu thảm nên mây đen mù mịt ba ngày liền; lại thêm núi lở, đá lăn, cây rừng đổ gãy, suối khe ngừng trôi, kinh động đến muôn loài, chúng sinh buồn đau vì mất nơi nương tựa. Niềm thương cảm và điềm linh dị này không thể nào tả hết.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục