PUCL QUYỂN 84 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)
01/01/2016
QUYỂN 84 Quyển này tiếp theo chương Lục độ, 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt) 85.5. THIỀN ĐỊNH 85.5.1. Lời dẫn Thần thông thù thắng, nếu chẳng nhờ thiền định thì không thể phát sinh; trí tuệ vô lậu, nếu không nhờ tĩnh lặng thì từ đ...

QUYỂN 84
Quyển này tiếp theo chương Lục độ,
85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)
85.5.1. Lời dẫn
Thần thông thù thắng, nếu chẳng nhờ thiền định thì không thể phát sinh; trí tuệ vô lậu, nếu không nhờ tĩnh lặng thì từ đâu khai phát? Vì thế, kinh ghi: “Chuyên tu thiền định sẽ được năm thần thông, tầm chuyên mệt cảnh là tướng tam-muội”. Sách Nho cũng ghi: “Hãy để thân như cây khô, tâm như tro lạnh, không khuất phục trước giàu sang, không nhụt chí trong nghèo khổ, gửi tinh thần trong tĩnh lặng, để thân thể ngoài trần ai”.
Vì thế, nhiếp tâm vào một chỗ là rừng công đức, tán tâm trong khoảnh khắc là la-sát phiền não. Do đó, Thích tử Đàm Quang hàng phục hổ dữ quỳ trước mặt, tiên nhân Loa Kế để chim làm tổ trên đầu. Nên biết, bậc đại sĩ thường tu thiền định, chẳng đoạn phiền não mà vào niết-bàn, không bỏ đạo pháp mà thị hiện phàm phu.
Lại nữa, hành giả phải khéo quán sát thân này, từ đầu đến chân có ba mươi sáu chất bất tịnh, chứa đựng tám vạn ổ vi trùng. Thân này vốn bất tịnh, vô thường, khổ, không, vô ngã. Tâm tính của chúng sinh lại như khỉ vượn chuyền cành, mãi vui đùa phóng túng. Nếu không biết nhắm mắt, kềm thân, giữ tâm, nhiếp ý, lại ngang ngược khó dạy, cứng đầu khó khuyên, quen chạy theo năm trần thì trôi lăn trong ba cõi, rơi vào cạm bẫy của ngoại đạo, vướng vào gậy của thiên ma. Lúc ấy, mãi chìm trong biển khổ, vĩnh viễn đọa vào địa ngục tối tăm nguy hiểm. Tất cả đều do tán loạn tinh thần, buông lung tâm ý, như đèn trước gió, như trăng trên sóng, chao đảo không ngừng, nhấp nhô bông bênh. Bóng không rõ ràng làm sao chiếu sáng. Do đó, muôn ác từ đây khởi, vạn thiện do đây mất.
Bởi vì không đoạn trừ lậu hoặc, thường khởi tham sân, chưa chế ngự vô minh, mãi đắm say ngũ dục, để cho lậu hoặc tranh nhau kéo đến làm chướng ngại tâm thiền, các duyên đua nhau tụ tập làm hại ý định, năm cái che mờ tâm tính, cửa thiền định bị đóng kín, ý chạy theo sáu trần, vọng tưởng rong ruổi, như voi điên không móc, vượn hoang gặp cành. Vì thế, cần phải sách tấn tâm ý, đổi mới trong từng niệm; đâu thể thấy niệm trước ác mới nỗ lực khắc phục, niệm sau đã thiện lại mặc tình làm ác. Vì thế, trong luận ngợi khen tứ thời tu, trong kinh tán thán nhất niệm. Có thế mới hy vọng vượt khỏi phàm tình. Nếu trái lẽ này bậc thánh cũng đành chịu.
Mọi sự vật hiện tượng trong cõi đời này không tự có cảm xúc mà phải nương vào các căn, trong tâm nghĩ tưởng mới có cảm giác. Vì sao? Vì tâm bên trong cảm nhận, vật bên ngoài mới phát khởi, đã đắm các duyên bên ngoài thì trong tâm bị ô nhiễm. Nên biết, tâm và cảnh nương nhau khởi, trong và ngoài gá nhau sinh. Tâm và thức như vua và bề tôi, đều không thể lìa bỏ. Nên kinh ghi: “Nếu tâm vương chính trực thì sáu thức không tà vạy; ý thức hôn trầm thì tâm vương không sáng suốt, nên phải răn sáu thức bề tôi”. Mọi người phải biết hổ thẹn, chế ngự sáu căn, đừng để rong ruổi tán loạn!
$5.5.2. Dẫn chứng
Phẩm Tâm ý trong kinh Pháp cú ghi: “Thuở xưa, khi Đức Phật còn tại thế, có một đạo nhân tu tập dưới một cội cây bên bờ sông. Suốt hai mươi năm vẫn không trừ được lòng tham, tâm ý tán loạn, chỉ nghĩ đến sáu dục. Mắt đắm sắc đẹp, tai thích tiếng hay, mũi mê hương thơm, lưỡi tham vị ngon, thân ưa xúc chạm, ý duyên pháp trần. Dù thân ngồi yên, nhưng tâm ý mãi rong ruổi, nên suốt hai mươi năm vẫn không đắc đạo.
Quán biết người này có thể độ, nên đức Thế Tôn hóa thành một sa-môn, đến bên gốc cây ngồi cạnh vị ấy. Không bao lâu, ánh trăng tỏa chiếu, bỗng có một con rùa từ dưới sông bò đến gốc cây. Cùng lúc có một con chó đói đi kiếm ăn, trông thấy rùa, chó liền nhào đến cắn. Rùa liền thụt đầu, rút đuôi và bon chân vào mai. Thấy không ăn thịt được rùa, chó bỏ đi Nó đi chưa bao xa, rùa ló đầu ra bò đi tiếp, nhờ vậy mà thoát nạn.
Thấy thế, đạo nhân hỏi sa-môn:
- Con rùa này nhờ mai che thân, nên chó không có cơ hội ăn thịt, phải không?
Sa-môn đáp:
- Ta nghĩ người đời không bằng con rùa này. Bởi họ không biết vô thường, buông lung sáu tình, ngoại ma thừa cơ quấy nhiễu, khiến thân hoại thức lìa, sinh tử không dừng, trôi lăn trong năm đường, chịu trăm nghìn khổ não, tất cả đều do ý gây tạo. Thế nên, mỗi người phải cố gắng nỗ lực tìm sự an lạc của niết-bàn.
Sa-môn lại nói kệ:
Giấu sáu căn như rùa Giữ ý như giữ thành Dùng trí tuệ đánh ma.
Chiến thắng không lo sợ
Kinh Cầu li lao ngục ghi: “Một hôm, em của vua A-dục là Thiện Dung vào núi săn bắn, tình cờ gặp các Phạm chí lõa thể tu khổ hạnh, nhưng không chứng đạo. Thiện Dung thấy thế liền hỏi các Phạm chí:
- Các ông ở đây tu tập bị chướng nạn gì mà không chứng đạo?
Phạm chí đáp:
- Vì nơi đây thường có một bầy nai đến tụ tâp, khiến tâm dao động, không chế ngự được!
Nghe vậy, Thiện Dung khởi tâm ác, tự nói:
- Các Phạm chí này ăn sương hớp gió, thân hình gầy gò, sức lực suy yếu mà còn khởi tâm dâm dục, không hàng phục được, huống là sa-môn Thích tử uống ăn toàn những món ngon, ngồi giường đẹp, y phục đầy đủ, hương thơm xoa thân, làm sao không khởi dục?
Vua A-dục nghe em mình lí luận như vậy, lòng rất lo buôn, thầm nghĩ: ‘Trẫm chỉ có một đứa em, nay nó lại khởi tà kiến như vậy, e rằng mãi bị đắm chìm trong đường khổ. Ta phải nghĩ cách phá trừ tâm niệm xấu ác này!’
Vua liền trở về cung, lệnh cho các cung nữ phải trang điểm lộng lẫy, rồi bảo đến cung của Thiện Dung ca hát vui chơi. Đồng thời vua dặn các đại thần: ‘Trẫm đang sắp đặt một kế hoạch. Nếu trẫm ra lệnh cho khanh giết Thiện Dung thì các khanh phải can gián và xin bảy ngày sau sẽ giết’.
Y lệnh, các cung nữ đến cung Thiện Dung vui chơi. Chưa được bao lâu, vua tìm đến, thấy vậy, liền trách:
- Sao ngươi dám tự tiện đùa giỡn với thê thiếp và cung nữ của ta?
Vua bèn nổi cơn thịnh nộ, ném một cái vòng lên hư không, rồi triệu tập các đại thần, phán:
- Các khanh biết đó! Trẫm chưa già yếu, đất nước cũng không có cường địch, ngoại bang xâm lấn. Trẫm từng nghe lời dạy của các bậc hiền thánh thuở xưa: ‘Người có phúc đức, bốn biển đều qui phục; khi phúc cạn đức mỏng, người thân tín cũng trở lại phản nghịch’. Trẫm tự xét, tuy chưa có những biến cố này, nhưng em trẫm là Thiện Dung dám tự tiện quyến rủ thê thiếp, cung nữ của ta. Hắn làm như thế, há còn xem trẫm ra gì? Các khanh hãy mau đưa hắn ra pháp trường xừ trảm!
Các đại thần liền can gián:
- Cúi xin bệ hạ cho phép chúng thần tâu bày đôi điều! Ngài chỉ có một người em này, lại không có con cái, chưa có người nối dõi, nên tạm hoãn lại trong bảy ngày, cho tạm thời làm vua, sau đó sẽ thuận theo ý bệ hạ.
Vua im lặng chấp thuận lời thỉnh cầu của các đại thần, lại còn khai ân bảo quần thần hãy cho Thiện Dung mặc phục sức, đội mũ báu uy nghiêm giống vua và bảo các nội quan trỗi nhạc cùng vui chơi. Vua lại bảo một vị quan:
- Kể từ hôm nay ngươi phải mặc áo giáp, cầm gươm bén, đến nói với vương tử Thiện Dung: ‘Ngài nên biết chỉ trong bảy ngày là phải chết, vì thế phải cố gắng hưởng thụ ngũ dục. Nếu không tận hưởng sau khi chết rồi, hối tiếc cũng vô ích!’.
Một ngày trôi qua, vị quan lại đến nói với Thiện Dung:‘Chỉ còn sáu ngày thôi!’. Lần lượt như thế, đến khi chỉ còn một ngày, vị quan lại đến báo: ‘Sáu ngày đã trôi qua, đến sáng mai là ngài phải chết rồi, vì thế hãy mặc tình tận hưởng ngũ dục’ .
Đúng kì hạn, vua sai sứ mời Thiện Dung đến hỏi:
- Bảy ngày qua đệ có vui vẻ thoải mái không?
Thiện Dung thưa:
- Hoàng huynh à! Em không thấy, không nghe thì có gí là vui !
Vua nói:
- Ngươi mặc y phục của trẫm lại sống trong cung điện của trẫm, đầy đủ các loại nhạc vui chơi, ăn cao lương mĩ vị, cớ sao nói dối là không thấy, không nghe, không vui thích?
Vương tử tâu:
- Người mang tội chết, tuy chưa đem xử trảm, nhưng có khác gì chết đâu. Em còn lòng dạ nào hưởng thụ ngũ dục!
Vua bảo:
- Ồ! Cái ngu của ngươi đã được khai mở. Nay ngươi chỉ có một thân mà trăm mối âu lo, vi sợ mất thân này, nên dù ở trong ngũ dục cũng không thấy vui. Huống là sa-môn luôn nghĩ đến ba cõi, thân này chết đi lại thụ thân khác, cứ luân hồi trong trăm nghìn ức đời, chịu không biết bao nhiêu đau khổ. Tuy được làm người, phải làm thân tôi tớ; hoặc sinh trong nhà nghèo cùng, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Nghĩ đến thống khổ này nên sa-môn xuất gia tu tập, cầu đạo vô vi độ đời. Nếu không tinh tiến dũng mãnh thì phải chịu khổ vô số kiếp.
Nghe vua nói, tâm ý vương tử bỗng khai mở, liền thưa:
- Nhờ lời dạy của hoàng huynh mà em tỉnh ngộ. Sinh, lão, bệnh, tử thật đáng ghê sợ; ưu, bi, khổ, não lưu chuyển không dứt. Cúi xin đại vương cho phép em xuất gia vào đạo, dốc chí tu hành!
Vua nói:
- Thật là đúng lúc!
Vương tử từ biệt vua, xuất gia làm sạ-môn, nghiêm trì giới luật, ngày đêm siêng năng tinh tấn, không bao lâu đã đắc quả vị A-la-hán, đạt được lục thông, tâm tự tại”.
A-dục vương truyện ghi: “Vua A-dục nghe em mình đác đạo, vô cùng vui mừng, cúi đầu kính lễ, thành khẩn thỉnh được cúng dường suốt đời. Nhưng người em từ chối:
- Bần đạo đã nhàm chán cảnh khổ ở đời, không còn vui thích cuộc sống nhân gian, nguyện sống chuỗi ngày còn lại nơi cảnh núi rừng.
Vua A-dục liền sai quỉ thần tạo cảnh rừng núi, suối khe ngay trong thành nội, xây núi cao đến mấy mươi trượng, cấm người lai vãng. Mọi người đều tuân mệnh. Vua còn tự xả bỏ y phục, của cải, để tạc một pho tượng đá cao sáu trượng, đặt trong thất đá trên núi cúng dường em mình. Núi và pho tượng ấy đến nay vẫn còn”.
85.5.3. Hạnh Đầu-đà
Phàm năm dục, năm cái, mười triền đều là những thứ làm chướng ngại thiền định, nếu trừ diệt được thì tâm an tịnh, mới có thể tu đạo, Nên trong chương này nói rõ mười hai hạnh đầu-đà là nền tảng của thiểu dục tri túc. Tây Vực gọi là đầu-đà, Trung Hoa dịch là đẩu tẩu. Người thực hành pháp này quyết tâm diệt trừ phiền não tham trước, như y phục thường giặt tẩy sẽ sạch bụi dơ. Căn cứ vào dụ mà đặt tên, nên gọi là đầu-đà. Kinh và luận nói khác nhau, nhưng đều nêu mười hai điều. Nếu luận tổng quát thì có mười sáu điều, như sau:
Về y phục có bốn:
1. Đắp y phấn tảo.
2. Đắp thuế y.
3. Đắp y bá nạp.
4. Chỉ giữ bay.
Ăn uống có sáu:
1. Thường đi khất thực.
2. Thứ tự khất thực.
3. Không tác pháp dư thực.
4. Ăn ngày một bữa.
5. Chỉ dùng một nắm cơm, cũng gọi là tiết lượng thực.
6. Sau giờ ngọ không được uống nước trái cây Chỗ ở có sáu:
1. Nơi vắng vẻ yên tĩnh.
2. Ở trong nghĩa địa.
3. Ngủ nơi gốc cây.
4. Ngồi ở chỗ đất trống.
5. Thường ngồi, không nằm.
6. Tùy tọa.
Mười sáu điều này trong kinh và luận, nơi có nơi không, chỗ chia chỗ gom, tổng quát còn mười hai. Phần y phục có bốn điều, nhưng trong luật Tứ phần và luận Đại trí độ chỉ nêu hai điều là mặc y bá nạp và giữ ba y, không đề cập đến hai điều kia. Kinh Niết-bàn thì nói phần y phục có ba: Đắp y phấn tảo, thuế y và giữ ba y, không nói đến nạp y. về ăn uống có sáu điều, kinh Niết-bàn chỉ nói ba: thường đi khất thực, ăn ngày một bữa, thụ nhận một nắm cơm. Sở dĩ không nói thứ tự khất thực là vì khi đúng như pháp khất thực là đã bao gồm “thứ tự khất thực”, nên không tính riêng. Mỗi ngày ăn một bữa và chỉ thụ nhận một nắm cơm, là đã bao gồm việc “không tác pháp dư thực và sau giờ ngọ không được uống nước trái cây”. Trong Tứ phần luật, việc ăn uống có bốn điều, ba điều đồng như trước, chỉ thêm “thứ tự khất thực”. Trong luận Trí độ thì nói ăn uống có năm điều, không đề cập “không tác pháp dư thực”. Chỗ ở có sáu việc nhưng luận Trí độ chỉ nói năm điều, bỏ “tùy tọa”. Còn kinh Niết-bàn và luật Tứ phần đều nói đủ sáu điều. Nay y theo các bộ thì có mười sáu điều.
Luận Thập trụ Tì-bà-sa nói về mười hai hạnh đầu-đà và những lợi ích của hạnh này, danh và thể có chút sai khác:
1. Suốt đời đi khất thực.
2. Phải ở nơi vắng vẻ.
3. Đắp y phấn tảo.
4. Ăn ngày một bữa.
5. Thường ngồi không nằm.
6. Sau giờ ăn không được nước uống phi thời.
7. Chỉ có ba y.
8. Đắp thuế y.
9. Tùy nghi trải tọa cụ ngồi.
10. Ở nơi gốc cây.
11. Ở nơi đất trống.
12. Ở trong bãi tha ma.
85.5.3.1. Mười lợi ích của khất thực:
1. Những vật dụng nuôi sống thân mạng thuộc về mình, không thuộc người khác.
2. Khi thí chủ cúng dường thức ăn cho mình, nên khuyên họ cúng dường Tam bảo trước, sau đó mới được ăn.
3. Nếu có người cúng dường thức ăn, ta phải khởi lòng từ bi và nỗ lực tinh tấn tu tập, khiến họ an định trong pháp bố thí. Khởi niệm như thế rồi mới thụ thực.
4. Vâng theo lời Phật dạy.
5. Dễ biết đủ, dễ tu dưỡng.
6. Thực hành pháp phá trừ kiêu mạn.
7. Tăng trưởng thiện căn.
8. Thấy ta khất thực, những người tu thiện cũng làm theo.
9. Không giao du với người nam lớn nhỏ.
10. Thứ tự khất thực là khởi tâm bình đẳng đối với chúng sinh, tức đã gieo trồng Nhất thiết trí.
85.5.3.2. Mười lợi ích khi ở nơi vắng vẻ:
1. Đến đi tự tại.
2. Không chấp ta và những vật của ta.
3. Tùy ý dừng trụ không chướng ngại.
4. Một lòng thích tu tập nơi thanh vắng.
5. ít mong cầu, ít bận rộn.
6. Không tiếc thân mạng để đầy đủ công đức.
7. Xa lìa những lời ồn náo.
8. Tuy tạo công đức, nhưng không mong cầu báo đáp.
9. Luôn tu tập thiền định mà được nhất tâm.
10. Dễ đạt được tâm vô ngại.
85.5.3.3. Mười lợi ích của việc đắp y phấn tảo:
1. Không vì y phục mà hòa hợp với người tại gia.
2. Không vì y mà cầu xin y.
3. Cũng không tìm nhiều lời khéo léo để được y.
4. Không vì y mà đi xin khắp nơi.
5. Không được y này cũng không buồn.
6. Nếu được y này cũng không vui.
7. Y này tầm thường, dễ có mà tránh được lỗi lầm.
8. Tuân theo pháp Tứ y đã thụ ban đầu.
9. Thuộc loại y xấu trong các y.
10. Người thấy không khởi tâm tham.
85.5.3.4. Mười lợi ích của việc ăn ngày một bữa-
1. Không nhọc mong cầu ăn thêm lần nữa.
2. Thụ dụng ít.
3. Không khổ sở lúc thụ dụng.
4. Không khổ nhọc trước khi ăn.
5. Thuộc loại tế hạnh trong pháp thụ thực.
6. Thức ăn dễ tiêu hóa.
7. ít hoạn nạn.
8. ít bệnh.
9. Thân thể nhẹ nhàng.
10. Thân thể dễ được an vui.
85.5.3.5. Mười lợi ích của việc thường ngồi không nằm:
1. Không tham cầu sự thoải mái thần thể.
2. Không tham cầu an vui của việc ngủ nghỉ.
3. Không tham cầu an ổn từ vật dụng ngủ nghỉ.
4. Không bị khổ sở khi nằm hông phải dính chiếu.
5. Không chạy theo sự ham muốn của thân.
6. Dễ tọa thiền.
7. Dễ dàng đọc tụng kinh điển.
8. ít ngủ nghỉ.
9. Thân nhẹ nhàng, dễ hành động.
10. Tâm ít mong cầu tọa cụ, ngọa cụ, y phục.
85.5.3.6. Mười lợi ích khi không nhận thức ăn phi thời:
1. Không ăn nhiều.
2. Không ăn no.
3. Không tham đắm vị ngon.
4. ít mong cầu.
5. ít hoạn nạn.
6. ít bệnh tật..
7. Dễ biết đủ.
8. Dễ dưỡng thân.
9. Biết đủ.
10. Tọa thiền tụng kinh, thân không mỏi mệt.
85.5.3.7. Mười lợi ích của việc chỉ có ba y:
1. Không có nỗi khổ mong cầu.
2. Không khổ sở vì phải giữ gìn bảo vệ.
3. ít cất chứa vật dụng.
4. Chỉ cần đắp mặc nơi thân là đủ.
5. Hành trì được những giới nhỏ nhặt.
6. Đến đi không phiền lụy.
7. Thân thể nhẹ nhàng, cử động thuận tiện.
8. Thuận tiện cho việc an trú nơi thanh vắng.
9. Không có tâm luyến tiếc chỗ đã ở.
10. Thuận tiện cho việc tu tập.
85.5.3.8. Mười lợi ích của việc đắp thuế y:
1. Y này thuộc loại thô xấu.
2. ít mong cầu.
3. Ngồi nơi nào cũng được.
4. Nằm nơi nào cũng được.
5. Dễ giặt giũ.
6. Dễ nhuộm.
7. ít bị côn trùng cắn phá.
8. Khó hư rách.
9. Không thụ thêm y khác.
10. Không lui sụt việc tu đạo.
85.5.3.9. Mười lợi ích của việc tùy tọa:
1. Không khổ vì mong cầu ở tinh xá tốt đẹp.
2. Không khổ vì mong cầu tọa cụ, ngọa cụ.
3. Không phiền muộn khi lên tòa.
4. Cũng không có sầu não khi hạ tòa.
5. ít mong cầu.
6. ít công việc.
7. Có vật gì dùng vật đó.
8. ít thụ dụng thì ít mong cầu.
9. Không tranh cãi, kiện cáo.
10. Không đoạt vật dụng của người khác.
85.5.3.10. Mười lợi ích của việc ngồi nơi gốc cây:
1. Không khổ vì mong cầu nhà cửa.
2. Không khổ vì mong cầu tọa cụ.
3. Không khổ sở vì luyến tiếc.
4. Không khổ sở vì thụ dụng.
5. Không để lại tên tuổi bất cứ nơi nào.
6. Không có tranh đấu.
7. Tùy thuận pháp Tứ y.
8. ít gây lỗi lầm.
9. Thuận tiện việc tu tập.
10. Không bị ồn náo.
85.5.3.11. Mười lợi ích của việc ở trong nghĩa địa:
1. Thường quán tưởng vô thường.
2. Thường quán tưởng về sự chết.
3. Thường được quán tưởng bất tịnh.
4. Thường quán tưởng thế gian không có gì vui.
5. Xa lìa tất cả những người thân yêu.
6. Thường khởi lòng từ bi.
7. Xa lánh những nơi vui chơi.
8. Tâm thường nhàm chán xa lìa.
9. Siêng năng tinh tấn tu tập.
10. Phá trừ sự sợ hãi.
85.5.3.12. Mười lợi ích của việc ngồi nơi đất trống:
1. Không mong cầu ngồi nơi cội cây.
2. Xa lìa những vật sở hữu.
3. Không có sự tranh chấp.
4. Xả bỏ cũng không tiếc nuối.
5. ít vui đùa phóng túng.
6. Chịu đựng được mưa, gió, lạnh, nóng, muỗi mòng, sâu bọ, rắn rít v.v...
7. Không bị âm thanh làm loạn động.
8. Không làm chứng sinh sân hận.
9. Tự mình cũng không eó buồn giận.
10. Không ồn náo”.
Kinh Bảo lương ghi: “Đức Phật bảo ngài Ca-diép:
- Này tì-kheo! Ông muốn đến ở nơi thanh vắng, trước tiên phải nghĩ đến tám điều:
1. Phải xả thân.
2. Phải xả mạng.
3. Xả bỏ lợi dưỡng.
4. Xa lìa tất cả những nơi ưa thích.
5. Chết ở trong núi cũng như con nai chết.
6. Ở nơi thanh tịnh nên tu hạnh thanh tịnh.
7. Lấy giáo pháp để nuôi thân mạng.
8. Không nên đem phiền não nuôi thân mạng”.
85.5.4. Lợi ích của thiền định
Kinh Đại bảo tích ghi: “Bồ-tát tu tập thiền định có mười pháp khác với hàng Nhị thừa. Đó là:
1. Không còn chấp ngã, vì đầy đủ các thiền định của Như Lai.
2. Không còn đắm trước, dứt trừ tâm nhiễm ô, không cầu niềm vui cho riêng mình.
3. Đầy đủ các thần thông, biết rõ các tâm hành của chúng sinh.
4. Biết rõ các loại tâm, hóa độ tất cả chúng sinh.
5. Thực hành đại bi để đoạn trừ phiền não kết sử cho các chúng sinh.
6. Thành tựu các pháp tam-muội, khéo biết cách ra vào trong ba cõi.
7. Luôn được tự tại, đầy đủ tất cả thiện pháp.
8. Tâm trí tịch tịnh, hơn hẳn các thiền tam-muội của hàng Nhị thừa.
9. Được trí tuệ, vượt thoát thế gian, đến bờ giác ngộ.
10. Có khả năng xiển dương hình pháp, tiếp nối làm hưng thịnh Tam bảo không để đoạn dứt.
Bồ-tát tu tập thiền định như thế, nên khác với hàng thanh văn và bích-chi phật”.
Lục độ tập kinh ghi: “Có bốn loại thiền định đầy đủ trí tuệ:
1. Luôn thích ở một mình.
2. Luôn thích định tâm.
3. Mong đạt đến thiền định và thần thông.
4. Mong được trí Phật vô ngại”.
Kinh Nguyệt đăng tam-muội ghi: “Nếu bồ-tát an trụ trong thiền định, sẽ được mười lợi ích:
1. Tâm không bị vẩn đục.
2. Tâm an trụ, không buông lung.
3. Được chư Phật thương tưởng.
4. Có niềm tin vào hạnh của bậc Chính giác.
5. Không nghi ngờ trí tuệ Phật.
6. Biết ân.
7. Không hủy báng chính pháp.
8. Giữ gìn giới cấm.
9. Đến giai vị điều phục.
10. Chứng được Tứ vô ngại.
Đức Phật lại dạy:
- Nếu bồ-tát nào ưa thích ở nơi thanh tịnh, vắng vẻ sẽ được mười điều lợi ích:
1. Giảm bớt việc đời.
2. Xa lìa ồn náo.
3. Không có sự chống trái.
4. Không có phiền muộn.
5. Không tăng trưởng pháp hữu lậu.
6. Không phát sinh việc kiện tụng.
7. An trú trong tịch lặng.
8. Tùy thuận tương tục giải thoát.
9. Mau chứng được giải thoát.
10. Dụng công ít mà được tam-muội.
Đức Phật dạy:
- Nếu bồ-tát đạt được thiền định, sẽ-có mười lợi ích:
1. Giữ vững oai nghi phép tắc.
2. Tăng trưởng hạnh từ bi.
3. Không còn phiền não.
4. Bảo vệ được các căn.
5. Được pháp hỉ lạc.
6. Xa lìa ái dục.
7. Tu thiền định chẳng luống suông mà đạt thần thông.
8. Thoát khỏi lưới ma.
9. An trụ cảnh giới Phật.
10. Trọn vẹn giải thoát, đoạn trừ ba hoặc.
Đức Phật dạy:
- Bồ-tát thích hành hạnh đầu-đà khất thực sẽ được mười lợi ích:
1. Xô ngã cờ ngã mạn.
2. Không mong cầu thương yêu.
3. Chẳng màng đến danh tiếng.
4. An trụ vào dòng thánh.
5. Không dối trá, nịnh hót, không hiện tướng khác lạ, không kiêu căng ngạo mạn.
6. Không đề cao mình.
7. Không chê bai người khác.
8. Dứt trừ tâm thương ghét.
9. Nếu vào nhà người là vì bố thí pháp chứ không vì ăn uống.
10. Các pháp nói ra đều được mọi người tin nhận”.
Luận Đại trí độ ghi: “Tam-muội có hai loại: tam-muội của Phật và tam-muội của bồ-tát. Các vị bồ-tát chỉ tự tại trong tam-muội của bồ-tát, không thể tự tại trong tam-muội của Phật”.
Chư Phật yếu tập kinh ghi: “Bấy giờ, Văn-thù-thi-lợi (tức Văn Thù Sư Lợi) muốn đến Phật hội nhưng không được. Sau khi các Đức Phật trở về trú xứ của mình, Văn-thù-thi-lợi liền đến nơi chư Phật đã nhóm họp thì thấy một người nữ ngồi nhập định bên cạnh Phật, bèn đỉnh lễ Phật và bạch:
- Bạch Thế Tôn! Vì sao người nữ này được ngồi gần Người, còn con thì không?
Phật bảo Văn-thù-thi-lợi:
- Ông hãy làm cho người nữ này xuất định, rồi tự hỏi cô ấy.
Văn-thù-thi-lợi liền khảy móng tay để đánh thức, nhưng cô ấy không xuất định, gọi lớn cũng không xuất định, cầm tay kéo cũng không xuất định, lại dùng thần túc
làm chấn động đại thiên thế giới, cô ấy vẫn không xuất định. Văn-thù-thi-lợi bạch Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Con không thể làm cho cô ấy xuất định.
Bấy giờ, Phật phóng một luồng ánh sáng lớn chiếu đến cõi nước phương dưới. Bỗng có một vị bồ-tát tên là Khí Chư Cái hiện ra, đến chỗ Phật, đỉnh lễ Ngài, rồi đứng qua một bên. Phật bảo bồ-tát Khí Chư Cái:
- Ông hãy làm cho người nữ này xuất định!
Vâng lời Phật, bồ-tát Khí Chư Cái khảy móng tay, người nữ này liền xuất định.
Văn-thù-thi-lợi bạch Phật:
- Vì nhân duyên gì mà con làm chấn động cả ba nghìn đại thiên thế giới cũng không thể làm cho người nữ này xuất định, còn bồ-tát Khí Chư Cái chỉ khảy móng tay một cái cô ấy liền xuất định?
Đức Phật bảo Văn-thú-thi-lợi:
- Ông nhờ người nữ này mà phát tâm bồ-đề, người nữ này nương bồ-tát Khí Chư Cái mà phát tâm bồ-đề. Vì thế, ông không thể làm cô ấy xuất định, ông chưa đầy đủ công đức tam-muội của chư Phật, còn bồ-tát Khí Chư Cái đã được tự tại trong tam-muội ấy. Ông mới đạt được chút ít tam-muội của Phật, nên chưa được tự tại”.
85.5.5. Thần chú hỗ trợ tu hạnh tịch tĩnh
Thiền bí yếu kinh ghi: “Tì-kheo tu hạnh tịch tĩnh mà tâm cuồng loạn là do năm việc:
1. Ồn náo.
2. Tiếng xấu.
3. Lợi dưỡng.
4. Ngoại phong.
5. Nội phong.
Bấy giờ Thế Tôn liền đọc thần chú: Nam mô Phật đà, nam mồ đạt ma, nam mô tăng già, nam mô ma ha lê sư, tì xà la xà, yết đốt đà đạt đà sa mãn đà bạt đồ la sí đà ra quật đồ thệ đồ già lị già lị ma ha già lị, hu ma lợi, hu ma lặc sí, tất đam tì xà, tì a xà tì lợi, cứu cúc cúc sí, tát bà đà la ni sí, a phiến đề ma câu ma nghệ, hu di hu di, ma hu ma hu, sa bà ha.
Thế Tôn đọc thần chú rồi, liền nói với ngài Xá-lợi-phất:
- Vô lượng chư Phật trong thời quá khứ đều đọc thần chú này. Hiện tại Ta cũng đọc thần chú này. Vị lai, Phật Di-lặc cũng sẽ đọc thần chú này. Bởi công đức thần chú này như Tự Tại thiên, có thể giúp cho các tì-kheo xấu ác ở năm trăm năm sau được tâm ý thanh tịnh, điều hòa sự tăng giảm của tứ đại; cũng trị lành bốn trăm lẻ bốn bệnh trong tâm, các cảnh giới do bốn trăm lẻ bốn mạch phát khởi, phá trừ chủng tử tính dục của chín mươi tám kết sử, cũng dẹp trừ được nghiệp chướng phạm giới, các pháp xấu ác vĩnh viễn không còn. Đây gọi là Đà-la-ni trị bảy mươi hai bệnh phiền não, cũng gọi là Đà-la-ni dẹp trừ năm ấm và vô minh căn bản, cũng gọi là thần chú hiện tiền được nghe chư Phật và thanh văn nói pháp chân chính trừ các kết sử”.
85.5.6. Cảm ứng
85.5.6.1. Đời Tấn, sa-môn Chi Đàm Lan: Sư người Thanh Châu ở núi Xích Thành, huyện Thủy Phong. Sư ăn uống đạm bạc, thích tu thiền định, mỗi ngày tụng ba mươi vạn lời kinh.
Khoảng niên hiệu Thái Nguyên nhà Tấn (376-397), sư đến đất Diệm, dừng chân tại núi Xích Thành huyện Thủy Phong. Thấy nơi đây có dòng suối mát lành, rừng cây thoáng đãng, nên sư lưu lại. Qua vài hôm, có một người cao mấy trượng đến bảo sư đi nơi khác, lại thấy các loại cầm thú hình dáng kì quái hiện đến dọa, nhưng sư vẫn thản nhiên tự tại. Người ấy bèn quì xuống đỉnh lễ, thưa:
- Châu Khi vương là cậu của đệ tử, bảo đệ tử đến trú tại Vệ Hương sơn. Nơi này xin dâng cúng cho ngài!
Ba năm sau, một hôm, sư bỗng nghe tiếng xe ngựa và tùy tùng rầm rộ theo sau. Chốc lát sư thấy một người quấn khăn tự xưng là Châu Khi vương. Ông ta đi trước, theo sau là vợ và các con gồm hai mươi ba người, tướng mạo đều đoan chính thế gian không ai bằng, cùng đến vấn an sư. Sư liền hỏi:
- Các vị từ đâu đến?
Họ đáp:
- Đệ tử ở Vệ Hương sơn, huyện Lạc An, từ lâu muốn đến thăm viếng ngài. Nay đệ tử cùng vợ con đến đỉnh lễ xin được thụ Tam qui, ngũ giới!
Sư bèn truyền cho họ. Thụ giới xong, họ dâng cúng sư một vạn tiền và hai bình mật ong, rồi lễ bái từ biệt. Ngay lúc ấy, tiếng sáo tiếng đàn vang vọng khắp hang núi. Sư cùng mười mấy vị tăng chúng đều nghe thấy.
Niên hiệu Nguyên Hi (419-420) nhà Tấn, sư viên tịch trong sơn thất, thọ thế 83 tuổi.
85.5.6.2. Đời Tống, sa-môn Thích Huyền Cao: Sư họ Ngụy, tên Linh Dục, người Vạn Niên, Bằng Dực, trụ tại Bình Thành, thời Tống-Ngụy. Mẹ sư họ Quan, vốn tin theo ngoại đạo. Người con gái đầu lòng, tức chị cả của sư, từ nhỏ đã kính tin Phật pháp. Cô ấy thường cầu nguyện cho mẹ và cho gia đình không còn tin tà pháp, chỉ qui hướng đạo Phật. Nhờ vậy, vào niên hiệu Hoàng Thủy thứ ba (401) nhà Tần, mẹ cô mộng thấy có vị tăng Thiên Trúc đến rải hoa khắp nhà, tỉnh giấc bà mang thai sư. Đến ngày tám tháng hai niêu hiệu Hoàng Thủy thứ tư (402), bà hạ sinh một bé trai. Hôm ấy, trong nhà bỗng có mùi hương lạ, ánh sáng chiếu khắp phòng, đến sáng mới hết. Vì khi sinh sư có điềm lành này, nên đặt tên là Linh Dục. Người đương thời rất quí mến sư, nên gọi là Thế Cao.
Năm mười hai tuổi, sư xin cha mẹ vào núi tu đạo, nhưng qua một thời gian dài vẫn chưa được cho phép. Hôm nọ, có một thư sinh tình cờ ghé lại nhà sư xin ngủ nhờ, cậu ta nói muốn vào Thường sơn ở ẩn, cha mẹ liền cho sư đi theo. Đêm đó cả nhà đều thấy mọi người trong thôn cùng nhau đến đưa tiễn sư. Sáng hôm sau lại thấy mọi người kéo đến thăm viếng, cha mẹ sư ngạc nhiên hỏi:
- Hôm qua mọi người đã đến tiễn rồi, nay lại đến nữaư?
Mọi người đều đáp:
- Chúng tôi không ai biết con ông đi, làm sao đến tiễn được!
Nghe vậy, cha mẹ mới biết những người tiễn sư hôm qua chính là thần nhân.
Sau khi xuất gia, sư đổi tên thành Huyền Cao. Nhờ trí thông minh thiên phú, nên sư học không cần suy nghĩ mà vẫn thông hiểu. Năm mười lăm tuổi, sư đã thuyết pháp cho chúng tăng nghe. Sau khi thụ giới, sư chuyên tinh tu tập thiền định và hành trì giới luật. Nghe ở Quan Trung có thiền sư Phù-đà-bạt đang hoằng pháp tại chùa Thạch Dương, sư liền tìm đến tham học. Chỉ trong mười ngày, sư đã tinh thông pháp thiền. Thiền sư khen ngợi:
- Hay thay Phật tử! Thầy có thể thâm ngộ đến như thế!
Thế là thiền sư hạ mình khiêm nhường, không nhận lễ thầy trò. Sư lại đến ẩn cư tại Mạch Nham, Tây Tần. Đồ chúng theo học cả trăm vị. Họ đều tin kính lời giảng giải và lãnh thụ pháp thiền của sư. Lúc này, ở Trường An có sa-môn Thích Đàm Hoằng là người đạo cao đức trọng của đất Tần, cũng đang ẩn cư tại núi này. Hai vị gặp nhau, kết thành bạn đồng tu.
Bấy giờ, Ngật Phục Xí Bàn chiếm cứ vùng Lũng Tây. Vùng này tiếp giáp đất Lương, tăng chúng trong vùng thường có hơn ba trăm người. Trong đó có sư Huyền Thiệu, người Lũng Tây, Tần châu, thông đạt các pháp thiền, thần lực tự tại. Ngài đưa ngón tay chỉ xuống đất, nơi ấy liền tuôn ra dòng nước cung cấp cho sư dùng. Nước này trong và thơm khác thường. Mỗi khi có hoa thơm khác lạ ngài đều dâng cúng Tam bảo. Nơi đây có đến mười một vị kì đặc như ngài Huyền Thiệu, về sau, ngài Huyền Thiệu vào núi Đường Thuật, xả thân tứ đại, an nhiên thị tịch.
Sau, sư cùng ngài Đàm Hoàng đến Hà Nam. Quôc vương, quần thần và dân chúng nơi đây đều ra đường nghinh đón. Mọi người đều kính phụng và tôn làm quốc sư. Sau khi đã hoằng hóa tại Hà Nam, sư lại đến đất Lương, được Thư Cừ Mông Tốn hết lòng tôn kính. Ông ta triệu tập các bậc anh tài để phát triển thắng giải của sư. Bấy giờ, ở Tây Hải có Tăng Án người đât Phiền, cũng là học trò của sư, ý chí hẹp hòi, biết được chút ít mà tự cho là đủ, cho rằng mình đã chứng quả A-la-hán, thấu đạt pháp thiền. Sư bèn thầm dùng thần lực kiến cho Tăng Ấn ở trong định, thấỵ chư Phật ở mười phương vô lượng thế giới thuyết những pháp môn khác nhau. Suốt một mùa hạ năm ấy, Tăng Ấn theo chỗ thấy biết của mình để tìm hiểu, nhưng hoàn toàn không thể cùng tận, mới biết biển định không đáy, nên rất hổ thẹn.
Bấy giờ, vua nước Ngụy là Thác Bạt Đảo chiếm giữ Bình Thành, xâm chiếm đât Lương. Cậu của Đảo là Đương Bình vương thỉnh sư cùng về kinh. Đến Bình Thành, sư dốc lòng hoàng truyền Phật pháp Thái tử nước Ngụy là Thác Bạt Hoảng
thờ sư làm thầy. Có lần thái tử Hoảng bị sàm tấu, vua cha nghi ngờ, nên đã đến hỏi sư:
- Đệ tử bị vu oan, làm cách nào để được thoát?
Sư bảo thái tử tụng kinh Kim quang minh và trai giới bảy ngày để sám hối. Đêm nọ Thác Bạt Đảo mộng thấy ông nội và cha cầm kiếm oai nghiêm, hỏi: “Tại sao con lại tin vào lời sàm tấu mà nghi oan thái tử”. Bạt Đảo kinh hãi tỉnh giấc, liền triệu tập quần thần, kể lại điềm mộng. Quần thần đều nói thái tử vô tội, đúng như các tiên vương gá mộng mách bảo. Từ đó Bạt Đảo không còn nghi oan thái tử. Nhờ sức chí thành của sư mà cảm ứng như vậy.
Bấy giờ, Thôi Hạo và Khấu Thiên Sư đều là những người được Thác Bạt Đảo ân sủng. Họ lo sợ ngày thái tử Hoảng lên ngôi kế vị sẽ đoạt hết quyền bính, nên cùng nhau gièm pha:
- Sự việc trước đây chính là âm mưu của thái tử. Thái tử đã cổ kết với Huyền Cao làm đạo thuật, khiến cho tiên đế giáng mộng. Âm mưu như vậy, bằng chứng cũng rõ ràng, nếu không diệt trừ sẽ gây tai họa lớn.
Nghe được việc này, vua liền nổi giận, ra lệnh bắt sư. Trước đây, sư đã âm thầm nói với các đệ tử: “Phật pháp sẽ suy vong, ta và Sùng công là người chịu tai họa đầu tiên”; nghe vậy mọi người đều cảm khái. Bấy giờ, ở Lưomg châu có sa-môn Tuệ Sùng, là sư phụ của Hàn Vạn Đức, thượng thư triều Ngụy. Ngài là bậc đức hạnh ngang với sư, cũng bị nghi ngờ. Đến tháng chín, niên hiệu Thái Bình thứ năm (444), đời Ngụy, sư và Tuệ Sùng bị giam vào ngục. Ngày mười lăm tháng chín, hai sư đều bị nạn và viên tịch ở phía đông Bình Thành. Sư thọ thế 43 tuổi. Năm ấy nhằm niên hiệu Nguyên Gia thứ hai mươi mốt (444), nhà Tống.
Hôm sư viên tịch, môn nhân không ai biết, nhưng đúng canh ba đêm ấy, mọi người chợt thấy có hào quang sáng rực, xoay quanh thiền thất sư ba vòng, rồi ẩn vào hang thiền. Lại nghe trong ánh hào quanh có tiếng nói: “Ta đã viên tịch!”. Lúc này chúng đệ tử mới biết sự thật, nên khóc lóc thương tiếc khôn nguôi. Sau đó, môn đồ rước nhục thân sư đến vùng đất trống phía nam thành, tẩn liệm chôn cất và lo an táng Sùng công ở một nơi khác. Bấy giờ, đạo tục khắp kinh đô đều bàng hoàng than khóc. Khi sư viên tịch, đệ tử Huyền Sướng đang ở Vân Trung, cách kinh đô sáu trăm dặm. Hôm nọ bỗng có người đến báo sư đang gặp nạn và trao cho một con ngựa có khả năng chạy sáu trăm dặm một ngày. Huyền Sướng tức tốc phi ngựa trở về, đến chiều thì tới nơi. Thấy thầy đã viên tịch, Huyền Sướng vô cùng đau xót, cùng các bạn đồng học khóc lóc than
- Phật pháp đã bị hủy diệt, có thể phục hưng hay không? Nếu phục hưng thì xin hòa thượng ngồi dậy! Đức hạnh ngài cao tột không ai bằng, xin từ bi chiếu giám!
Vừa dứt lời, hai mắt sư hé mở, sắc diện tươi vui, toàn thân toát mồ hôi, ngồi dậy nói với chúng đệ tử:
- Phật pháp ứng hóa, tùy duyên suy thịnh. Thịnh suy là lí đương nhiên từ xưa đến nay. Thầy nghĩ các con không bao lâu nữa cũng sẽ chịu tai họa như thầy, riêng Huyền Sướng được thoát về phương nam mà thôi. Sau khi các con mất, Phật pháp sẽ hưng thịnh trở lại. Các con phải khéo tu tâm chớ để hối hận về sau!
Nói xong, sư liền nằm thế cát tường rồi an nhiên thị tịch. Sáng hôm sau, đồ chúng đặt nhục thân sư vào áo quan định làm lễ trà-tỳ, nhưng phép nước không châp thuận, nên đành phải đào huyệt an táng. Đạo tục xót thương khóc lóc khôn dứt. Bấy giờ, có sa-môn Pháp Đạt là Tăng chính nước Ngụy, kính ngưỡng sư từ lâu nhưng chưa được theo thụ học, nghe tin sư viên tịch bèn khóc than: “Bậc thánh đã viên tịch, ta biết nương cậy vào đâu!”. Cứ vậy, suốt nhiều ngày sư Pháp Đạt không ăn uống gì, luôn miệng gọi: “Hòa thượng! Bậc thánh tự tại, sao không thị hiện một lần cho đệ tử được gặp!”. Hôm nọ, Pháp Đạt bỗng nghe tiếng đáp lại và thấy sư từ hư không hiện xuống, Pháp Đạt đỉnh lễ cầu xin sư cứu giúp. Sư nói:
- Thầy nghiệp nặng khó cứu!
- Vậy con phải làm thế nào, bạch hòa thượng? Pháp Đạt thưa hỏi.
- Từ nay về sau thầy phải y theo kinh Phương đẳng để sám hối thì tội mới được nhẹ!
- Ví như con bị khổ báo, xin ngài thương xót cứu độ! Pháp Đạt hỏi.
- Ta không quên một ai thì sao lại quên mình ông? Sư bảo.
- Pháp sư và Sùng công tái sinh nơi nào? Đạt hỏi.
- Ta nguyện tái sinh vào cõi ác để cứu độ chúng sinh, tức sẽ trở lại cõi Diêm-phù này. Tuệ Sùng luôn nguyện sinh về cảnh giới Cực Lạc, nay đã toại nguyện.
Pháp Đạt lại hỏi:
- Hòa thượng đã đạt được giai vị nào?
- Đệ tử ta sẽ có người biết! Sư đáp.
Vừa dứt lời, bỗng nhiên không thấy sư nữa. Pháp Đạt đến hỏi các đệ tử của sư. Mọi người đều nói sư đã được bồ-tát Nhẫn vị.
Niên hiệu Thái Bình thứ bảy (562), đời Ngụy, quả nhiên Thác Bạt Đảo hủy diệt Phật pháp, đúng như lời sư tiên đoán.
85.5.6.3. Đời Tống, sa-môn Thích Phổ Hằng: Sư họ Quách, người Thành Đô, đất Thục, ở chùa An Lạc. Thuở nhỏ, có lần giữa ánh mặt trời sư thấy trong vầng mây có một vị thánh tăng đang thuyết pháp, bèn kể lại với mọi người trong gia đình, nhưng chẳng ai tin.
Sau đó, sư xuất gia ở chùa An Lạc. Sư ở riêng môt phòng, không sinh hoạt chung với chúng tăng, siêng năng tu tập thiền định, khéo nhập, xuất, trụ. Sư đồng kết bạn tu với thiền sư Thạo người đất Thục. Sư tự nói đã nhập Hỏa quang tam-muội, ánh sáng giữa chặn mày phóng xuống mé kim cang. Trong ánh sáng ấy hiện ra các sắc tướng, nghiệp báo đời trước cũng hiện rõ ràng. Đời Tống, niên hiệu Thăng Minh thứ ba (479), sư thị tịch. Trước đó sư cáo biệt đại chúng, nhưng sắc diện vẫn bình thường, mọi người cho là sư nói đùa.
Hôm sắp viên tịch, sư thị hiện chút bệnh, chỉ cho một nô bộc trong gia đình chăm sóc. Đến sáng, sư ngồi ngay thẳng, an nhiên thị tịch, bàn tay co lại ba ngón; mọi người thử vuốt thì ngón tay duỗi ra, lát sau co lại. Lúc còn sống, màu da sư đen sạm, nhưng khi viên tịch toàn thân lại trắng sáng. Thế rồi đại chúng làm lễ trà-tỳ sư theo phép trà-tỳ người đắc đạo. Lửa vừa cháy, khói ngũ sắc bay lên, hương thơm tỏa ngát. Tướng quân trong quận là Ngọc Huyền Đới làm kệ khen ngợi:
Đại giác vốn vô hình
Ứng hiện Cốt dứt vọng
Một niệm hội đạo tràng
Luống qua muôn vạn kiếp.
Tín tâm không đông tưởng
Gặp thánh đẹp tây hình.
Diệu thú lắng ba cõi
Tâm đạt đến tứ thiền.
Tục vật vốn sai khác
Chân tính vẫn hằng nhiên
Gởi thân nơi trần thế
Đức lưu mãi nghìn sau.
85.5.6.4. Đời Tề, sa-môn Thích Tăng Trù: Sư họ Tôn, ở chùa Vân Môn, núi Tây Lũng, đất Nghiệp. Sư vốn người Xương Lê, sau đó đến trú tại Anh Đào, Cự Lộc. Tính tình sư hiền hòa, cao thượng, nổi tiếng hiếu đễ và trung tín, lại thêm siêng năng học tập, thông thạo kinh sử. Do ngầm họp đạo cơ, chán đời phiền não, nên vừa xem kinh Phật, sư đã hoát nhiên tỏ ngộ.
Ban đầu, sư theo thiền sư Đạo Phòng học pháp Chỉ quán, kế đó lại đến chỗ thiền sư Đạo Minh ở núi Chương Hồng, Triệu châu, thụ mười sáu pháp đặc thắng. Có lần sư đến Thước sơn, một nơi yên tĩnh, chuyên tâm tu tập, cảm ứng một vị thần đến quấy rối, vin vai, vỗ bụng, thổi hơi trên đỉnh đầu sư. Nhưng sư thệ lấy cái chết làm kì hạn, do đó mà chứng đắc thiền định sâu xa, chín ngày vẫn không xuất: Sau khi xuất định, vọng tưởng lặng yên, quán xét thế gian, chẳng thấy gì vui. Sư liền đến chùa Thiếu Lâm, trình bày sở chứng của mình với tổ sư. Tổ Bạt-đà nói:
- Từ Thông Lãnh trở về đông, thiền học đứng đầu ông là người bậc nhất thấu suốt pháp thiền !
Nói xong, tố sư liền truyền trao pháp thâm yếu.
về sau, sư đến ở chùa Sùng Nhạc, nơi đây có khe nước chỉ đủ dùng cho trăm tăng. Hôm nọ, có một thiếu phụ mặc áo rách, cầm cây chổi, ngồi trên bậc thềm, lắng nghe chư tăng tụng kinh. Đại chúng không biết là thần nhân nên quát mắng đuổi đi.
Thiếu phụ tức giận, đưa chân đạp khe suối, dòng nước liền khô cạn, bà ta cũng biến mất. Chúng tăng liền đến thưa sư. Sư gọi:
- Ưu-bà-di!
Gọi đến ba lần người phụ nữ mới xuất hiện. Sư bảo:
- Đây là nơi chúng tăng tu hành, ngươi nên ủng hộ mới phải!
Thiếu phụ đưa chân vạch xuống khe suối, dòng nước liền tuôn chảy. Mọi người đều kinh ngạc trước oai đức của sư.
Sau đó, sư đến tịnh tu ở núi Vương Ốc, phía tây Hoài Châu. Một hôm, nghe hai con hổ đánh nhau, gầm rống chấn động núi rừng, sư liền cầm tích trượng đến can, chúng nó đều bỏ đi.
Lần nọ, sư bỗng thấy hai quyển kinh tiên trên giường, liền bảo:
- Tôi tu theo Phật, há sống trong cõi này để cầu trường sinh ư?
Sư vừa dứt lời, hai quyển kinh biến mất. Oai đức của sư cảm ứng đến cõi u hiển đều như thế.
Sau, sư lại dời đến núi Mã Đầu ở Hoài châu. Hiếu Minh đế, nhà Ngụy, vốn kính ngưỡng đức hạnh sư, nên nhiều lần thỉnh vào cung, nhưng sư vẫn một mực từ chối. Không lâu sau, sư lại đến Thường sơn. Thứ sử Định châu Lâu Duệ và Vương Cao Đu ở Bành Thành đều đến xin học Phật pháp. Đạo tục tranh nhau đến cúng dường, phẩm vật tràn đầy. Sư không muốn bị danh lợi trói buộc, nên đọc kệ và từ chối mọi thứ, một lòng sống tiết kiệm, giản dị.
Đến niên hiệu Thiên Bảo thứ hai (551), Văn Tuyên đế, nhà Tề ban chiếu:
“Trẫm nghe đức hạnh của sư đã lâu, luôn mong được diện kiến. Nay ta ban chiếu đến Định châu thỉnh sư sang đất Nghiệp giáo hóa quần sinh. Theo lẽ không nên chỉ lo hoàn thiện bản thân? Hy vọng sư mau chấn tích, tạm đến kinh thành. Trẫm muốn hoàng dương chí đạo, cứu nỗi khổ cho dân chủng nơi đây. Nếu đến ngày, giả như sư muốn quay về núi thì tùy ý đại sư, chứ trẫm không lưu giữ!”.
Sư sống chốn núi rừng nhiều năm, nguyện suốt đời cứu giúp. Nay nghe có chiếu chỉ triệu sư vào cung, sư hoàn toàn không phụng mệnh. Vua nhiều lần tha thiết cầu thỉnh, sư mới nhận. Ngày sư ra đi, hai bến hang núi bỗng nhiên chấn động, vang ra những âm thanh bi thiết, khiến người dân lo sợ, cầm thú hoảng hót suốt ba ngày liền. Sư quay lại nói:
- Mọi loài đều có tính chuộng đạo đức, giữ lòng nhân. Há chẳng phải kẻ có ái tình thì dễ giữ, còn người tự tại thật khó ràng buộc hay sao?
Thế là không bị tình cảm trói buộc, sư chấn tích đến Chương Phủ. Vua đích thân đưa xa giá ra ngoài thành nghinh đón. Thiên hạ từ đây một lòng hướng thiện, đó đều là nhờ đức độ của sư.
Sau, sư lại đến ở chùa Vân Môn. Trước hang sư tọa thiền có một khe sâu. Hôm nọ, sư thấy một người mặc áo lông, thân hình cao lớn, dung mạo như người Hồ, đặt chảo đốt lửa. Lúc nước sáp sôi, chợt có một con rắn lớn từ khe bò ra muốn vào trong chảo, sư đưa chân hất chảo, rắn liền bò trở lại khe nước, người mặc áo lông cũng biến mất.
Đêm đó, có một vị thần đến đỉnh lễ, và thưa:
- Con của đệ tử hàng năm đều bị ác thần ăn thịt. Nay vì bọn trẻ tiếc mạng sống, không muốn dâng nạp, nên đệ tử già yếu sắp chết này tự đến thế mạng. Nhờ ngài cứu giúp, đệ tử đã thoát được nạn này.
Sư liền vốc nước phun lên, bỗng chốc biến thành sương mù.
Bấy giờ, có người sàm tấu với Tuyên đế là sư ngạo mạn khinh thường vua. Tuyên đế nổi giận, muốn đích thân đến giết sư. Nhưng sư đã thầm biết được việc này. Trước nay sư chưa bao giờ đến nhà bếp, nay bỗng nhiên sư xuống dặn chúng tăng:
- Ngày mai có khách quí đến, hãy làm nhiều thức ăn để tiếp đãi.
Canh năm đêm đó, sư chuẩn bị xe, rồi đến hang núi cách chùa hơn hai mươi dặm, một mình đứng bên đường. Không bao lâu vua đến, kinh ngạc hỏi nguyên nhân, sư đáp:
- Tôi sợ máu mình làm bẩn chốn già-lam, nên đến đây đợi ngài.
Nghe vậy, vua liền xuống ngựa, hổ thẹn quì lạy tạ lôi, rồi quay lại nói với Thượng thư lệnh Dương Tuân Ngạn:
- Bậc chân nhân như vậy, sao có thể khinh thường!
Rồi vua khom mình xin được cõng sư về chùa, nhưng sư một mực từ chối. Vua thưa:
- Đệ tử cõng sư đi khắp thiên hạ cũng chưa sám hối hết tội lỗi của mình!
Nhân đó vua lại hỏi:
- Đời trước đệ tử đã từng làm gì?
Sư đáp:
- Ngài từng làm la-sát vương, cho nên ngày nay vẫn còn tính hiếu sát!
Sư bèn chú nguyện vào một bát nước, rồi bảo vua nhìn vào, thấy hình dạng mình quả thực rất giống la-sát. Từ đó, cứ đến ngày mồng một đầu năm, vua đều hỏi điềm cát hung trong năm đó.
Niên hiệu Thiên Bảo thứ mười (559), sư bỗng nói:
- Năm nay không tốt!
Nghe vậy, Văn Tuyên lo buồn, hỏi sư phải làm thế nào. Sư chỉ nói:
- Bần đạo cũng không còn bao lâu nữa!
Quả nhiên đến tháng mười năm ấy vua băng. Năm sau, vào rạng sáng ngày mười ba tháng tư, niên hiệu Càn Minh thứ nhất (560) đời Tề, tại sơn môn, sư không bệnh, an nhiên thị tịch trong tư thế kiết già, thọ thế 81 tuổi.
Lúc sư viên tịch, trong chùa có nhiều mùi hương lạ, người nghe đều sinh lòng kính tín. Vua ban sắc thiết tha thăm hỏi và truyền lệnh làm lễ trà-tì sư theo cách thức của Trung Hoa. Vua còn lệnh cho bốn chúng ở vùng núi này, cùng hàng vạn dân chúng mang cả ngàn cây gỗ thơm đến. Đúng giờ Ngọ hôm đó, lễ trà-tì nhục thân sư được cử hành. Mọi người gào khóc thảm thiết chấn động cả núi rừng, có vài trăm con chim trắng lượn quanh trên làn khói, kêu lên những tiếng bi ai thảm thiết, hồi lâu mới bay đi. Tháp phụng thờ sư được xây ở phía tây bắc chùa, thường có cảnh linh, hương lạ cảm ứng đến đạo tục.
Lúc còn sống, có lần Tuyên đế hỏi sư:
- Đệ tử chưa từng thấy sự linh hiển của Phật pháp, ngài có thể cho thấy được không?
Sư đáp:
- Đó chẳng phải việc làm của sa-môn.
Nhưng vua cố nài ép, sư bèn ném tấm ca-sa xuống đất. Vua liền ra lệnh mười người đến nhấc lên, nhưng không hề lay động. Bấy giờ sư bảo một sa-di đến cầm, thì nhấc lên một cách nhẹ nhàng. Nhân đó, vua càng thêm kính trọng sư.
85.5.6.5. Đời Tùy, sa-môn Thích Pháp Tấn: Sư trụ ở chùa Ngọc Nữ, núi Hưởng ứng, ích châu. Không rõ dòng họ, chỉ biết sư là đệ tử thiền sư Huy. Sư thường ngồi thiền ở rừng trúc phía sau chùa. Hôm nọ có bốn con hổ đến nhiễu quanh. Sư nói:
- Chớ để lộ hình tướng!
Có lần, sư đang nhập định Thủy quán, các đệ tử đi lấy củi, thấy trên giường thiền của sư có nước rất trong xanh, liền đặt hai viên đá trắng vào đó. Đến chiều, sư xuất định về chùa, cảm thấy lưng rất đau, bèn hỏi. Các đệ tử đáp:
- Chúng con đã đặt hai viên đá vào đó!
Nghe vậy sư bảo:
- Ngày mai hãy đến nhặt ra!
Sáng sớm, sư ra rừng trúc nhập định. Các đệ tử đến, lại thấy nước trong xanh như trước, liền vào nhặt lại hai viên đá, sư liền hết đau. Từ đó, sư tinh chuyên tu tập thiền định, không rời khỏi núi.
Khoảng niên hiệu Khai Hoàng (581-600), Vương Tú nước Thục đến ích châu thỉnh sư về trị bệnh cho thứ phi. Sau khi trị lành bệnh, sư liền từ biệt trở về núi. Vương và phu nhân đích thân đưa tiễn, họ đều nhìn thấy bước chân sư cách mặt đất khoảng bốn năm tấc.
Đến ngày mồng tám tháng giêng, niên hiệu Đại Nghiệp thứ mười ba (617), sư an nhiên thị tịch tại núi này.
85.5.6.6. Đời Đường, sa-môn Tuệ Dung: Sư trụ tại chùa Phổ Quang, Trường An, pháp tự Viên Chiếu, họ Trương, người Nam Dương. Thuở nhỏ, sư rất siêng năng học tập, không phạm một chút lỗi lầm. Sau khi xuất gia, sư thích tu tập thiền định, ẩn cư ở Thái sơn. Sau đó, phụng mệnh hoàng đế, sư chuyển đến ở chùa Phổ Quang tại kinh đô.
Sư thường lên núi Chung Nam, có lần gặp tuyết phủ dày đặc không thể đi tiếp, bỗng có một con hổ đến trước mặt sư cụp tai, phủ phục. Sư hiểu ý, đến ngồi lên lưng, hổ liền đưa đi. Mỗi lần sư lên núi, đều có hai con chim bay phía trước dẫn đường.
Niên hiệu Vĩnh Huy thứ nhất (650), sư viên tịch tại chùa Phổ Quang, tăng chúng thấy trong phòng sư có ánh sáng năm màu chiếu tỏa. Nhục thân sư được đưa lên núi làm lễ trà-tì; lửa tắt, toàn thân đều thành tro, nhưng trái tim sư vẫn nguyên vẹn.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
01/01/2016
PUCL QUYỂN 85 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)
QUYỂN 85 Quyển này tiếp theo chương Lục độ (tiếp theo) 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ 85.6. TRÍ TUỆ 85.6.1. Lời dẫn Trong hai loại trang nghiêm, tuệ là tối thắng; trong ba phẩm thứ đệ, trí không gì sánh bằng. Thế nên kinh ghi: “Năm đ...
25/12/2015
PUCL QUYỂN 83 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (TT)
Quyển này tiếp theo chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt) 85.4. TINH TẤN 85.4.1. Lời dẫn Bởi tâm nhẫn nhục còn mờ mịt, ý chỉ rốt ráo chưa được hiển bày, thế nên phải luôn sách tấn để tâm không biếng nhác. Kinh ghi: “Tì-k...
24/12/2015
PUCL QUYỂN 82 - CHƯƠNG LỤC Độ (tt)
QUYỂN 82 Quyển này tiếp theo chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC Độ (tt) 85.2. TRÌ GIỚI 85.2.1. Lời dẫn Trộm nghe, giới là thầy của loài người, nên đạo tục đồng vâng giữ. Tâm là chủ của hành động, phàm thánh đều phải chế phục....
24/12/2015
PUCL QUYỂN 81 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)
QUYỂN 81 Quyển này tiếp theo chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt) 85.1. BỐ THÍ (tt) 85.1.6. Lượng định đối tượng để bố thí * Lời bàn Có hai hạng người bố thí là trí và ngu. Người trí khi hành bố thí nên quán sát người t...
24/12/2015
PUCL QUYỂN 80 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ
QUYỂN 80 Quyển này có một chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ 85.1. BỐ THÍ 85.1.1. Lời dẫn BỐ thí là nền tảng của muôn hạnh, đã được xếp đầu tiên trong lục độ, lại được nêu trước nhất trong tứ nhiếp. Cho nên, cấp Cô Độc dùn...
24/12/2015
PUCL QUYỂN 79 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
QUYỂN 79 Quyển này tiếp theo chương Mười nghiệp ác. 84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt) 84.13. NHẬN THỨC SAI LẦM 84.13.1. Lời dẫn Người mới học đạo cần phải lấy lòng tin làm đầu. Ví như người đến được núi báu, nếu không có đô...
24/12/2015
PUCL QUYỂN 78 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
QUYỂN 78 Quyển này tiếp theo chưorng Mười nghiệp ác. 84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt) 84.12. SÂN HẬN 84.12.1. Lời dẫn Do bốn đại khuấy động mà ba độc lẫy lừng. Bởi sáu giặc xâm hại mà trăm mối lo dồn dập. Con người, hoặc d...
24/12/2015
PUCL QUYỂN 77 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
QUYỂN 77 Quyển này tiếp theo chương Mười nghiệp ác. 84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt) 84.11. THAM LAM, BỎN XẺN 84.11.1. Lời dẫn Căn nguyên mê lầm của chúng sinh là chấp ngã; cội gốc tà vạy của phàm phu là xan tham. Cho nên...
