Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 81 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)

24/12/2015

QUYỂN 81 Quyển này tiếp theo chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt) 85.1. BỐ THÍ (tt) 85.1.6. Lượng định đối tượng để bố thí * Lời bàn Có hai hạng người bố thí là trí và ngu. Người trí khi hành bố thí nên quán sát người t...

PUCL QUYỂN 81 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)
Phần 1

QUYỂN 81
Quyển này tiếp theo chương Lục độ.
85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)

85.1. BỐ THÍ (tt)
85.1.6. Lượng định đối tượng để bố thí
* Lời bàn
Có hai hạng người bố thí là trí và ngu. Người trí khi hành bố thí nên quán sát người thụ thí, nếu có ích cho họ thì bố thí, ngược lại thì không nên.
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Nếu thấy người nghèo khổ, trước hết hỏi họ:
- Ông có thể qui y Tam bảo, thụ trì trai giới không?
Nếu họ chấp nhận, liền truyền Tam qui và trai giới, sau đó mới bố thí tài vật cho họ. Nếu họ không đồng ý thì lại hỏi:
- Ông có thể nói: ‘Tất cả các pháp là vô thường, vô ngã, Niết-bàn, tịch diệt’ theo lời ta được không?
Nếu họ đáp ‘được’, liền chỉ dạy cho họ, rồi sau mới bố thí. Nếu mình không có tài vật thì khuyên những người khác có tài vật bố thí cho họ.
Người ngu si tham đắm tiền của, không biết tất cả đều vô thường, người và vật vốn thuộc kẻ khác mà lại tham tiếc, bỏn xẻn. Bồ-tát thấy của cải không đem lại lợi ích, là nguyên nhân phế bỏ đạo nghiệp, nên khuyên họ phải gấp bố thí’’.
Vì thế luận Đại trang nghiêm ghi: “Nếu những tài vật làm cho mình phát khởi phiền não thì không nên cất chứa, dù làm cho mình giàu sang cũng phải xa lìa. Như ong làm mật, người khác được lợi, còn bản thân nó thì không được gì. Tiền tài, vật chất cũng như vậy”.
Luận Địa trì ghi: “Nếu bồ-tát bố thí mà khiến người nhận phải chịu khổ, thì dù bị bức ép, xem thường, cho đến mong cầu những điều phi pháp, dù sức mình hay sức người cũng không nên thỏa mãn mong cầu phi pháp của họ. Bồ-tát xả bỏ thân mạng bố thí cho chúng sinh, nhưng không thuận theo điều mong cầu phi pháp của họ, dù bị bức ép cũng không bố thí. Vì đó chẳng phải là lúc bồ-tát thực hành bố thí thanh tịnh.
Ngoại vật mà bồ-tát không nên bố thí: Như có người đến xin độc dược, lửa, dao, rượu, làm mai mối, các trò vui, tất cà những việc phi pháp v.v... Bồ-tát đều không nên bố thí. Vì những thứ ấy là nguyên nhân phát khởi nhiều tội lỗi, khiến họ rơi vào ba đường ác, không được giải thoát. Nếu có người đến xin những chi phần trên thân mình thì liền ban cho, không cần chọn lựa phân biệt để rồi lui sụt tâm bố thí”,
Luận Trí độ ghi: “Có người hỏi:
- Tại sao có người bố thí được đến bờ kia, có
người không được đến bờ kia?
- Như Xá-lợi-phất hành đạo bồ-tát trong sáu mươi kiếp để cầu được giải thoát. Lúc ấy, có một người đến xin con mắt. Xá-lợi-phất nói:
- Mắt này không dùng được, ông xin làm gì? Nếu cần thân và tài vật, ta sẽ cho ông.
Ông ta đáp:
- Tôi không cần những thứ ấy, chỉ muốn xin mắt của ngài thôi. Nếu ngài thật tu hạnh bố thí, thì hãy cho tôi mắt.
Ngài Xá-lợi-phất liền móc một con mắt cho ông ta. Ông ta cầm lên ngửi, chê hôi rồi ném xuống đất và đưa chân chà. Ngài Xá-lợi-phất thấy thế liền suy nghĩ:
- Người xấu ác như thế rất khó độ ! Mắt ta không dùng được vẫn cố xin, khi được rồi lại ném bỏ, còn lấy chân chà đạp, sao quá tệ như vậy? Người này không thể độ được. Chẳng bằng ta tự độ mình để chóng thoát sinh tử.
Vì nghĩ như vậy, ngài liền thoái tâm bồ-tát, trở lại tu hạnh Thanh văn, đây gọi là không được giải thoát. Nếu không thoái chuyển tâm hạnh bồ-tát, thành tựu Phật đạo, gọi là đạt đến giải thoát”.
85.1.7. Phúc điền
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Nếu bố thí cho súc vật được phúc báo trăm lần, bố thí cho người phá giới được phúc báo nghìn lần, bố thí cho người trì giới được phúc báo mười vạn lần, bó thí cho ngoại đạo li dục được phúc báo trăm vạn lần, bố thí cho người hướng tâm về Phật đạo được phúc báo nghìn ức lần. Cúng dường cho vị tu-đá-hoàn được phúc báo vô lượng, cúng dường cho vị tư-đà-hàm cũng được phúc báo vô lượng, cho đến cúng dường Đức Phật phúc báo cũng vô lượng.
Nay ta phân biệt các loại phúc điền cho các ông rõ:
- Nếu người hết lòng thương xót bố thí cho súc vật, so với người thành tâm cung kính cúng dường chư Phật, cả hai đều được phúc báo như nhau.
Nói ‘được phúc báo trăm lần nghĩa là người bố thí thọ mạng, sắc lực, biện tải cho người khác thì đời sau được phúc đức thọ mạng, sắc lực, biện tài mỗi thứ gấp trăm lần. Cho đến vô lượng cũng như thế.
Như Ta đã nói trong khế kinh: ‘Ta bố thí cho Xá-lợi-phất. Xá-lợi-phất lại cúng dường cho ta. Nhưng ta được phúc nhiều hơn Xá-lơi-phất’.
Có người hỏi: ‘Người nhận vật bố thí mà tạo tội, thì sẽ liên lụy đến thí chủ’. Lí này không đúng. Vì sao? Khi thí chủ bố thí là đã phá trừ cái khổ cho người kia, chứ chẳng phải vi muốn họ tạo tội. Vì thế thí chủ hưởng được quả báo tốt đẹp. Còn người nhận thí tạo tội tự mình phải chiêu lấy tội báo, không liên quan gì đến thí chủ.
Hỏi: Tại sao cúng dường bậc thánh được phúc nhiều mà kinh lại nói: ‘Người trí thực hành bố thí không chọn lựa phúc điền’?
Đáp: Nay Ta giải thích ý nghĩa này có nhiều cách. Người bố thí có hai hạng: người trí, kẻ ngu. Đối tượng nhận thí, có sự sai khác giữa bi điền và kính điền.
Bi điền là người nghèo khổ, kính điền là Tam bảo. Bi thì ruộng phúc kém nhưng tâm bố thí rộng. Kính thì ruộng phúc thù thắng nhưng tâm bố thí kém hơn. Nếu đem tâm thù thắng cúng dường Đức Phật, thì phúc báo không bằng bố thí cho người nghèo”.
Vì thế, kinh Tượng pháp quyết nghi ghi: “Có các chúng sinh thấy người khác gom góp tiền của để tạo phúc. Vì muốn cầu tiếng tăm, họ đem hết tài sản trong nhà để bố thí. Nhưng khi thấy người nghèo khổ cô độc, họ lại mắng chửi xua đuổi, không thí cho một mảy may. Người như thế gọi là điên đảo làm thiện, là ngu si, tạo phúc như thế gọi là tạo phúc bất chính. Những người như thế thật đáng thương xót! Họ bố thí của cải rất nhiều nhưng được phúc báo rất ít. Thiện nam tử! Có lần ta nói với đại chúng:
- Nếu có người cúng dường mười phương chư Phật, các vị bồ-tát và chúng thanh văn trải qua a-tăng-kì kiếp, vẫn không bằng người bố thí cho súc vật một bát cơm. Phúc báo người này hơn người kia gấp trăm, nghìn, vạn, vô lượng, vô biên. Dù chỉ bố thí cho loài chó đói, trùng kiến v.v... cũng được phúc báo rất nhiều. Vì thế bi điền là tối tháng”.
Luận Trí độ ghi: “Như ngài Xá-lợi-phất cúng dường Đức Phật một bát cơm, Phật liền cho chó ăn, rồi hỏi ngài Xá-lợi Phất:
- Ai được phúc nhiều hơn?
Xá-lợi-phất đáp:
- Kính bạch Thế Tôn! Theo như con hiểu về nghĩa lí Phật pháp, Phật thí cho chó ăn sẽ được phúc nhiều hơn”,
Nếu căn cứ theo lí kính pháp trọng nhân và giai vị tu đạo thì kính điền là thù thắng. Cho nên kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Nếu bố thí cho súc vật thì được phúc báo gấp trăm lần, cho đến cúng dường vị tu-đà-hoàn được phúc báo vô lượng. Cúng dường vị a-la-hán, bích-chi cũng không bằng cúng dường Phật, huống là những loài khác”.
Nếu căn cứ vào việc bố thí với tâm bình đẳng thì không luận bi hay kính, hễ bố thí với tâm bình đẳng thì được phúc rất lớn. Cho nên kinh Duy-ma ghi: “Nếu chia làm hai phần, một phần dâng cúng đức Nan Thắng Như Lai, một phần đem thí cho người ăn xin nghèo hèn nhất trong thành, hai phúc điền này bằng nhau”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Sau khi Thế Tôn xuất gia, di mẫu của ngài là Ma-ha Ba-xà-ba-đề đã tự tay dệt lụa, may một chiếc ca-sa màu vàng, lòng luôn mong mỏi, chỉ chờ đức Thế Tôn trở về để dâng cúng. Vì thế, vừa gặp được Đức Phật, di mẫu rất vui mừng, liền đem chiếc ca-sa dâng cúng. Thấy vậy, đức Thế Tôn bảo:
- Di mẫu hãy đem chiếc ca-sa này đến cúng dường chúng tăng!
Nghe thế, di mẫu lại bạch Phật:
Phần 2

- Từ khi đức Thế Tôn xuất gia, di mẫu ngày đêm thương nhớ, nên tự tay dệt lụa và mong mỏi được dâng cúng. Cúi xin Thế Tôn thương xót mà nhận chiếc y này!
Phật bảo:
- Biết di mẫu chỉ một lòng muốn dâng cúng Như Lai, nhưng cúng dường bằng tâm thương ỵêu thì phúc báo không rộng lớn. Nếu di mâu đem chiêc ca-sa này cúng dường chúng tăng thì được phúc nhiều hơn. Như Lai biết rõ lí này mới khuyên di mẫu làm vậy”.
Kinh Cư sĩ thỉnh tăng phúc điền ghi: “Thỉnh riêng năm trăm vị a-la-hán cúng dường không bằng theo thứ tự trong tăng thỉnh một phàm tăng về nhà cúng dường. Trong giáo pháp Như Lại, không có pháp nhận thỉnh riêng. Nếu có người thỉnh tăng riêng thì chẳng phải là đệ tử Như Lai, vì đó là pháp của lục sư ngoại đạo, là điều mà bảy vị Phật trong quá khứ không chấp nhận.
Nên biết, bố thí có ba cách, không thể nói giống như nhau”.
85.1.8. Đối đãi
Có năm cặp đối đãi:
1. Ruộng phúc và tài vật, có bốn trường hợp:
- Ruộng phúc thù thắng, tài vật ít giá trị: như đồng tử dâng cúng đất lên Phật.
- Tài vật có giá trị, ruộng phúc không thù thắng: như đem đồ vật quí báu bố thí cho người bần cùng v.v...
- Ruộng phúc và tài vật đều thù thắng: như dâng cúng vật báu cho Đức Phật.
- Ruộng phúc và tài vật đều ít: như lấy cỏ bố thí cho súc vật v.v.
2. Nặng và nhẹ, có bốn trường hợp:
- Tâm tín kính sâu nặng, tài vật không giá trị: như cô gái nghèo dâng cúng cho chúng tăng một đồng tiền nhưng được phúc vô lượng.
- Tài vật có giá trị, tâm không tín kính: như phu nhân của vua với tâm đầy kiêu mạn mà cúng dường những vật quí báu cho chúng tăng, nên được phúc rất ít.
Hai trường hợp sau có thể biết được.
3. Không và có, cũng có bốn trường hợp:
- Tâm không, cảnh chẳng không: như có người tuy đã học pháp quán “không” nhưng vẫn tham tiếc tài vật, không chịu bố thí, thì bị quả báo nghèo hèn.
- Cảnh không, tâm chẳng không: như người biết bố thí tài vật sẽ được giàu sang nên ham thích bố thí, vì thế được phúc lớn.
Hai trường hợp sau có thể biết được.
4. Nhiều và ít, cũng có bốn trường hợp:
- Bố thí nhiều nhưng được phúc ít: như người ngu si sát sinh để cúng tế, uống rượu ca múa, làm hao tốn tiền của, không có phúc đức, trí tuệ.
- Bố thí ít nhưng được phúc nhiều: như người cúng dường chúng tăng với tâm cung kính, chúng tăng thụ nhận xong, tinh tiến tu học.
- Bố thí ít được phúc cũng ít: như người bố thí cho hàng ngoại đạo với tâm xan tham, hiểm ác, cả hai đều ngu si.
- Bố thí nhiều, được phúc cũng nhiềụ: như có hiền giả thấu hiểu được cõi đời là vô thường, nên thích đem tiền của để xây dựng chùa tháp, tinh xá, vườn cây, những đồ dùng như y phục, giày dép, giường chõng, cho đến thức ăn, thức uống... cúng dường Tam bảo. Phúc báo cúng dường này ví như năm dòng sông lớn chảy vào biển cả, chảy mãi như thế, đời đời không dứt.
5. Nhiễm ô và thanh tịnh, theo luận Trí độ, có bốn trường hợp:
- Người bố thí thanh tịnh, người nhận không thanh tịnh.
- Người thí không thanh tịnh, người nhận thanh tịnh.
- Người bố thí và người thụ nhận đều thanh tịnh.
- Người bố thí và người thụ nhận đều không thanh tịnh.
Phật cúng dường Phật là cả hai đều thanh tịnh. Như Phật Bảo Tích ở phương đông đem hoa có được nhờ công đức tu tập gửi cho bồ-tát Phổ Minh là hàng bồ-tát thập địa pháp thân để rải cúng dường Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Nên biết, cúng dường chư Phật trong mười phương là phúc điền lớn nhất. Đây là cả hai đều thanh tịnh.
Ba trường hợp còn lại có thể tự hiểu rõ.
85.1.9. Tài thí
Kinh Đại bảo tích ghi: “ Có năm điều cần phải có khi bố thí của cải:
1. Bố thí với lòng thành.
2. Bố thí với lòng tin.
3. Bố thí đúng lúc.
4. Tự tay bố thí.
5. Bố thí đúng pháp.
* Lời bàn
Của cải bố thí có loại đúng pháp có loại phi pháp. Của cải phi pháp, dù bố thí cũng được phúc rất ít, còn bố thí vật đúng pháp thì được phúc rất nhiều.
Kinh Đại bảo tích ghi: “Có năm thứ tài vật không nên bố thí:
1. Tài vật do làm ăn phi pháp, là vật không thanh tịnh.
2. Rượu và các loại độc dược, vì đó là vật làm loạn tâm chúng sinh.
3. Nơm bẫy, lưới chài, vì đó là vật làm chúng sinh đau khổ.
4. Đao gậy, cung tên, vì đó là vật tổn hại chúng sinh.
5. Âm nhạc, nữ sắc, vì đó là thứ phá hoại tâm thanh tịnh của chúng sinh.
Luận Địa trì ghi: “Bồ-tát không nên bố thí thức ăn, thức uống phi pháp. Ví dụ như thức ăn uống thừa cho người xuất gia, thức ăn bị dính phân tiểu, đàm dãi, máu mủ, cơm gạo không rõ nguồn gốc. Các thức ăn không đúng pháp có hành, hẹ tanh hôi, thức ăn có thịt và những nước uống lẫn rượu cay nồng... không nên bố thí cho người”.
Luận Trí độ ghi: “Nếu dùng các hình pháp như đánh đập, tra khảo, giam cầm người khác để được tiền của rồi đem bố thí, thì đời sau sẽ sinh vào loài voi, ngựa, trâu v.v..., phải mang nặng, bị đánh đập, cột trói, chở cỡi, nhưng vẫn được chỗ ở tốt, thức ăn ngon, được người quí mến.
Người ác lòng nhiều sân hận, bất chính mà bố thí, đời sau sẽ đọa làm loài rồng sống trong cung điện bằng bảy báu, ăn sơn hào hải vị, thân hình đẹp đẽ.
Người kiêu căng ngã mạn bố thí với tâm sân hận, đời sau đọa làm chim cánh vàng, thường được tùy ý, có chuỗi bảo châu như ý, mọi thứ cân dùng đều đầy đủ, biến hóa khôn lường, việc gì cũng thành tựu.
Làm quan xử oan người dân, không hành đúng pháp luật, rồi nhận hối lộ và dùng tiền ấy bố thí, đời sau đọa làm quỉ cưu-bàn-trà, có thể biến năm trần thành mọi thứ để tự vui.
Người nhiều sân giận, bạo ngược, ham mê rượu thịt mà thực hành bố thí, đời sau đọa làm quỉ Địa hành dạ-xoa thường hưởng mọi sự vui sướng, âm nhạc và các thức ăn uống.
Người ngang tàng hống hách mà bố thí xe, ngựa cho người đi bộ, đời sau làm Hư không dạ-xoa, có sức mạnh, đi nhanh như gió.
Người hay ganh tị, ưa tranh cãi mà thường bố thí phòng nhà, giường chiếu, y phục tốt đẹp, thức ăn uống thơm ngon, thì đời sau sẽ làm Phi hành dạ-xoa sống trong cung điện, lầu gác, mọi vật dụng tiện nghi, tận hưởng mọi sự vui sướng.
Nếu người làm kẻ khác buồn khổ, cố xin đồ vật để tạo phúc, thì phải chiêu lấy tội lỗi. Chẳng bằng giữ lòng thanh tịnh, sửa đổi tâm tính thì lợi ích nhiêu hơn’’.
Kinh ưu-bà-tắc ghi: “Nếu gây phiền não cho họ hàng để được tài vật bô thí, đời sau tuy hưởng phúc báo tốt đẹp, nhưng thân thường mang bệnh tật, đau khổ. Nếu kẻ có bố thí cho người, nhưng không lo phụng dưỡng cha mẹ, xúc não vợ con, hành hạ tôi tớ, thì gọi là kẻ ác, kẻ giả danh bố thí, không gọi là bố thí đúng pháp. Người cầu danh như thế thì không có lòng thương yêu, không biết báo ân. Người này đời sau tuy được giàu sang, nhưng thường bị mất của, không cất giữ được, cũng không thể sử dụng, thân mang nhiều tật bệnh khổ đau.

Phần 3

Điều này minh chứng cho việc cưỡng đoạt vật của người để cầu phúc, thì phải chuốc lấy khổ báo, đâu có ích gì.
Nay thời mạt pháp, đạo tục suy đồi, tranh nhau lập những trai hội giảng pháp, ép người cúng tài vật để xây dựng chùa tháp. Thật chẳng đúng với kinh điển, phải tự chuốc lấy tội báo. Đâu bằng tọa thiền, điều phục tâm ý, tu tập thật hạnh là thù thắng nhất trong đạo xuất ly. Nếu người thuyết pháp với tâm thanh tịnh, người nghe cũng chí thành cầu pháp, xả vật cúng dường, thì nên thuyết pháp cho họ nghe để thành tựu phúc trí. Không được thấy sự phán định ở trên mà hồ đồ bác bỏ tất cả, sinh tâm chê bai, ngăn cản việc tạo phúc”.
Nhiếp luận thích của ngài Vô Tính ghi: “Nếu thấy người kia xem trọng tiền tài địa vị thì bồ-tát không nên bố thí, vì việc bố thí này vô ích, không có phúc báo. Giả sử có bố thí, người kia cũng không nhận, vậy bố thí làm gì?”.
Như bài tụng:
Như mẹ cho con bú Suốt tháng không mỏi mệt Nếu con không chịu bú Mẹ biết làm sao đây?
***
Thà nghèo tiền của và địa vị,
Xa lìa đường ác, việc chẳng lành,
Chớ để giàu sang loạn các căn.
Đời sau chiêu cảm thân chứa khổ.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Bấy giờ Thế Tôn bảo với chúng tì-kheo:
- Có năm trường hợp bố thí đúng thời và lợi ích. Đó là:
1. Bố thí cho người từ xa đến.
2. Bố thí cho người đi xa.
3. Bố thí cho người bệnh.
4. Bố thí khi đói kém.
5. Khi vừa thu hoạch hoa quả, rau củ, lúa ngô..., trước mang cúng dường người tinh tấn trì giới, sau đó mình mới dùng.
Cho nên, muốn thực hành năm trường hợp này phải biết tùy thời bố thí. Nếu người bố thí đúng thời và thanh tịnh thì được quả báo đúng thời. Nghĩa là bố thí hợp thời với tâm thanh tịnh. Như gặp khi trời lạnh thì thí nhà ấm, chăn bông, củi than, thức ăn nóng...; khi trời nóng, bố thí những thứ mát mẻ như nhà mát, áo mỏng, nước, quạt...; lúc khát thì cấp nước; khi đói thì cho cơm; gặp gió mưa thì mang đến nơi cúng dường; khi đẹp trời thì thỉnh chúng tăng đến nhà. Như vậy, tùy thời bố thí hợp lòng mà vui thì đời vị lai được phúc báo tốt đẹp”.
Luận Bồ-tát địa trì ghi: “Tài vật bố thí có nội vật và ngoại vật. Bồ-tát xả thân bố thí gọi là nội thí. Nếu vì những chúng sinh chỉ dùng thức ăn nôn ra mà bố thí những thức ăn như vậy gọi là nội ngoại thí. Ngoài hai trường hợp trên gọi là ngoại thí.
Bồ-tát nội thí có hai trường hợp:
1. Tùy theo mong cầu của chúng sinh muốn nương vào tha lực của bồ-tát để được an ổn thì các ngài xả thân bố thí. Ví như có người vì cơm ăn áo mặc mà phải lệ thuộc người khác, làm tôi tớ cho họ. Cũng vậy, bồ-tát không vì lợi dưỡng, chỉ vì vô thượng bồ đề, vì lợi lạc cho chúng sinh, vì viên mãn hạnh bố thí ba-la-mật, nên thuận theo lòng mong cầu của chúng sinh muốn nương tha lực để được an ổn, thì bồ-tát xả thân bố thí.
2. Tùy theo lòng mong cầu của chúng sinh, bồ-tát có thể bố thí mọi chi phần trên thân thể.
Bồ-tát ngoại thí có ba trường hợp:
1. Tùy theo những vật dụng vui chơi mà chúng sinh mong cầu thụ dụng, bồ-tát đều hoan hi bố thí.
2. Vì phụng sự chúng sinh, bồ-tát dốc lòng bố thí tất cả.
3. Nội vật và ngoại vật mà bồ-tát bố thí tuy có sai khác, nhưng bình đẳng bố thí cho tất cả chúng sinh. Bồ-tát có lúc nên bố thí, có lúc không nên bô thí. Nếu làm chúng sinh vui mà không an, hoặc không vui không an thì bồ-tát không nên bố thí. Nêu giúp chúng sinh an mà không vui, hoặc vừa an vừa vui, thì bô-tát nên bố thí tất cả”.
Kinh Đại tập ghi: “Bồ-tát bố thí những vật sau đây, sẽ được đầy đủ trí tuệ:
1. Bố thí giấy, bút và mực... để pháp sư chép kinh, viết sách.
2. Dâng cúng pháp sư sàng tòa được trang trí đẹp đẽ.
3. Cúng dường pháp sư những vật dụng cúng dường cần thiết.
4. Tán thán pháp sư với lòng thành kính”.
Luận Trí độ ghi: “Nếu người thích bố thí tu phúc, nhưng lại không thích tạo nghiệp hữu vi để sinh sống, thì được sinh vào cõi Tứ Thiên Vương. Nếu người ưa bố thí lại thêm biết phụng dưỡng cha mẹ, chú bác, anh em, chị em... với tâm không sân giận, không thích tranh tụng, cũng không ưa người tranh tụng thì được sinh lên cõi trời Đao-lợi, cho đến cõi trời Tha Hóa Tự Tại”.
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Người nào bố thí y phục sẽ được hình tướng tốt đẹp, bố thí cơm ăn sẽ được sức mạnh, bố thí đèn sáng sẽ được Pháp nhãn thanh tịnh, bố thí xe cộ thì thân được an lạc, bố thí nhà cửa thì được đầy đủ những vật dụng cần thiết.
Nếu bố thí vật dụng thanh tịnh tốt đẹp, đời sau sẽ được thân tướng tốt đẹp, ai cũng thích nhìn, tiếng lành vang xa, mong cầu gì cũng được toại nguyện, sinh vào dòng tộc cao quí. Đây không gọi là người ác.
Nếu người nào sắm sửa những đồ dùng tốt đẹp vừa ý mình, như y phục... nhưng chưa dùng đến, lại đem bố thí cho người, thì đời sau sẽ được cây như ý.
Nếu người nào hằng ngày lập nguyện bố thí cho người rồỉ mình mới ăn mà trái với nguyện này thì cũng như trộm vật của Phật, nên sinh lòng hổ thẹn. Nếu không trái phạm thì đó là nhân duyên thành tựu trí tuệ vi diệu. Bố thí như thế chính là bố thí tối thượng nhất. Người hành bố thí này cũng được gọi là thí chủ lớn nhất.
Nếu người nào bố thí y phục, thức ăn... cho vợ con, tôi tớ với tâm xót thương, vui vẻ thì đời vị lai sẽ được vô lượng phúc đức. Nếu có người thấy trong kho lẫm hay trên ruộng đồng của mình cổ nhiều chuột chim làm hư hại lúa thóc mà thương xót, suy nghĩ: ‘Những loài chim chuột này nhờ ta mà được sống’.
Nhờ suy nghĩ như vậy nên vui vẻ không khởi tâm làm hại chúng, người này được phúc vô lượng”.
Kinh Đại bảo tích ghi:
Nếu bố thí hoa, sẽ được hoa đà-la-ni thất giác chi.
Nêu bố thí hương, sẽ đầy đủ hương giới định tuệ xông ướp thân
Nếu bố thí quả, sẽ được đầy đủ giới đức, thành tựu quả vô lậu.
Nếu bố thí thức ăn, sẽ đủ niềm vui, đầy đủ mạng, sắc, lực, biện.
Nếu bố thí y phục, sẽ được thân thanh tịnh, có tâm tàm quí.
Nếu bố thí đèn sáng, sẽ được Phật nhãn chiếu soi tất cả pháp tính.
Nếu bố thí ngựa voi xe cộ, sẽ được Vô thượng thừa và đầy đủ thần thông.
Nếu bố thí chuỗi báu, sẽ được đầy đủ tám mươi vẻ đẹp tùy hình.
Nếu bố thí châu báu, sẽ đầy đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu.
Nếu bố thí sức lực và sự phục dịch, sẽ được đầy đủ mười lực và bốn vô úy của Phật.
Nói tóm lại, cho đến bố thí đất nước, vợ con, đầu, mắt, tay, chân hay toàn thân thể với tâm không tham tiếc thì sẽ được quả vị Vô thượng bồ-đề.
Kinh Đại bồ-tát tạng ghi:
Bồ-tát vì cầu quả vị Vô thượng bồ-đề mà thưc hành bố thí ba-la-mật-đa, nên được mười lợi ích đáng ca ngợi:
1. Nhờ bố thí ngũ dục tịnh diệu nên đại bồ-tát được đầy đủ giới, đinh, tuệ giải thoát, giải thoát tri kiến thanh tịnh.
2. Nhờ bố thí nhạc cụ vui chơi tốt đẹp, nên bồ-tát đầy đủ pháp lạc, du hí thanh tịnh.
3. Nhờ bố thí chân nên bồ-tát có đôi chân pháp nghĩa viên mãn, hướng đến tòa bồ-đề.
4. Nhờ bố thí tay, bồ-tát được đôi tay pháp thanh tịnh viên mãn.
5. Nhờ bố thí tai và mũi, mà bồ-tát đầy đủ các căn và hoàn hảo.

Phần 4

6. Nhờ bỗ thí những chi phần trên thân, bồ-tát được thân Phật uy nghiêm, thanh tịnh Vô nhiễm.
7. Nhờ bố thí mắt, bồ-tát được Pháp nhãn thanh tịnh, quán sát chúng sinh không bị chướng ngại. .
8. Nhờ bố thí máu thịt, bồ-tát được thân mạng bền chắc, bảo vệ, nuôi dưỡng tất cả chúng sinh và đầy đủ các phương tiện khéo léo chân thật.
9. Nhờ bố thí tủy não, bồ-tát được thân kim cang viên mãn, không thể phá hoại.
10. Nhờ bố thí đầu, bồ-tát chứng đác Nhất thiết trí vô thượng, tối thượng viên mãn, vượt ngoài ba cõi.
Này Xá-lợi tử! Vì chứng Vô thượng bồ-đề, đại bồ-tát thực hành bố thí như vậy. Bồ-tát thành tựu thân tướng, làm cho Phật pháp viên mãn, có lợi ích đáng khen ngợi và công đức tối thượng. Như thế, đều vì muốn thành tựu viên mãn bố thí ba-la-mật.
Khi ấy Đức Thế Tôn nói kệ:
Bố thí chẳng cầu tàit sắc đẹp
Cũng không mong được báo trời, người,
Chỉ vì chứng Bồ-đề tối thượng,
Bố thí ít, phúc lại vô cùng.
Kinh Bách duyên ghi: “Khi Phật còn tại thế, trong thành Xá-vệ có một trưởng giả rất giàu có, của cải vô số, không thể tính kể. Vợ trưởng giả sinh được một người con trai dung mạo khôi ngô tuấn tú, ít ai sánh kịp. Ngày cậu bé chào đời, trời mưa như thác đổ, vợ chồng trưởng giả rất vui mừng, cả nước đều biết việc ấy. Thầy tướng tiên đoán, đây là điềm lành. Vì thế, đứa bé được đặt tên Da-xà-mật-đa. Từ lúc mới sinh, Da-xà đã không bú sữa mẹ, giữa kẽ răng thường tiết ra nước đủ tám tính chất, tự dùng no đủ. Đến khi trưởng thành, Da-xà gặp Phật, xuất gia tu tập đắc quả A-la-hán, được trời người kính ngưỡng.
Các tì-kheo thấy thế, cùng đến thỉnh Phật nói nhân duyên phúc báo đời trước của Da-xà-mật-đa.
Đức Thế Tôn bảo các tì-kheo:
- Vào thời Phật Ca-diếp, ở kiếp Hiền có một trưởng giả lớn tuổi, xuất gia tu đạo, nhưng không tinh tiến, lại bị bệnh nặng. Thầy thuốc chẩn đoán bảo phải uống dầu tô mới lành bệnh, ông nghe theo lời khuyên, nên uống vào. Đến nửa đêm, người ông lên cơn sốt, miệng khát khô, liền tìm nước uống, nhưng các bình đều hết sạch, ông chạy đến sông, suối, tất cả đều khô cạn, cứ thế tìm khắp nơi đều không có nước, trong lòng tự hận. Ông cởi áo cột vào cành cây cạnh bờ sông, rồi trở về. Sáng hôm sau, ông đến thưa thầy tất cả sự việc. Vị thầy nghe xong liền nói:
- Ông mắc bệnh này giống như ngạ quỉ. Nay ông hãy lấy nước trong bình của ta mang đến cho chúng tăng. Ông ấy làm theo lời thầy, đến bình lấy nước, nhưng nước trong bình khô cạn, liền lo sợ suy nghĩ: ‘Nếu ta mạng chung ắt đọa làm ngạ quỉ’. Nghĩ rồi liền đến chỗ Phật trình bày rõ sự việc và thưa:
- Bạch Đức Thế Tôn ! Xin Ngài chỉ dạy cho con.
Phật bảo:
- Ông phải thường lấy nước sạch cúng dường chư tăng, mới có thể thoát được thân ngạ quỉ.
Nghe Phật Ca-diếp dạy, ông rất vui mừng, hàng ngày thường mang nước sạch cúng dường chư tăng, trải qua hai vạn năm mới mạng chung. Sau đó ông ấy sinh ra nơi nào, trong kẽ răng thường tiết ra nước tám tính chất, tự nhiên no đủ không cần ăn uống, bú mớm. Đến nay ông ấy gặp Ta xuất gia và đắc đạo. Các tì-kheo nghe Phật nói, đều hoan hỉ vâng theo”.
Kinh A-dục vương ghi: “Thuở xưa, khi còn tại thế, Phật cùng các tì-kheo và A-nan thứ tự đi vào thành Vương Xá khất thực. Khi đến một con ngõ, Phật gặp hai cậu bé tên Đức Thắng và Vô Thắng đang chơi trò đắp đất xây thành, nhà cửa, kho lẫm, lại lấy đất làm gạo chứa trong kho. Hai cậu bé thấy Phật có tướng hảo, thân màu vàng ròng chiếu sáng khắp thành. Đức Thắng hoan hỉ vốc gạo bằng đất trong kho dâng lên Thế Tôn và phát nguyện:
- Con nguyện mai này sẽ thống lãnh thiên hạ và cúng dường đầy đủ phẩm vật.
Nhờ duyên lành và công đức phát nguyện ấy, sau khi Phật niết-bàn một trăm năm, Đức Thắng làm Chuyển luân thánh vương, cai trị cõi Diêm-phù-đề. Vua đóng đô tại thành Hoa Thị, dùng chính pháp cai trị nhân dân, lấy hiệu là A-thứ-già vương. Vua đích thân phân chia xá-lợi Phật, xây dựng tám vạn bốn nghìn bảo tháp phụng thờ. Vua rất kính tin Tam bảo, thường thỉnh chư tăng vào cung cúng dường.
Bấy giờ, trong cung có một nô tì rất nghèo khổ, thấy vua làm phúc mà tự trách mình: ‘Lúc trước vua chỉ cúng dường Như Lai một nắm đất, mà được giàu sang như thế. Nay vua lại cúng dường nhiều, chắc chắn đời sau sẽ giàu sang hơn. Đời trước ta tạo tội, ngày này phải làm kẻ thấp hèn, nghèo khổ, không thể tao phúc, tương lai ắt càng nghèo hơn, biết bao giờ thoát khỏi kiếp nghèo!’. Nữ tì nghĩ thế, tự cảm thương mà rơi lệ.
Chư tăng thụ thực xong, tì nữ quét dọn, nhặt được một đồng tiền trong đống rác, liền mang đến cúng dường chư tăng, trong lòng rất hoan hỉ. Không bao lâu, tì nữ lâm bệnh qua đời. Bấy giờ, trong cung vua có một phu nhân mang thai mười tháng, hạ sinh một công chúa vô cùng xinh đẹp, ít ai sánh kịp, nhưng tay phải công chúa thường nắm chặt. Lúc công chúa lên năm tuổi, phu nhân tâu vua:
- Con gái chúng ta không biết tại sao bàn tay phải thường nắm chặt.
Vua bảo bồng công chúa đến, đặt lên đùi, rồi sờ bàn tay con. Công chúa liền xòe ra, trong tay có một đồng tiền. Vua vừa lấy đồng tiền ấy, thì có một đồng khác xuất hiện, cứ như thế không bao giờ hết, chỉ trong chốc lát đã đầy một kho tiền. Vua rất ngạc nhiên, liền đến hỏi a-la-hán Dạ-xa:
- Đời trước công chúa đã tạo phúc đức gì, nay sinh ra trong lòng bàn tay thường có một đồng tiền, lấy hoài không hết?
A-la-hán đáp:
- Công chúa đời trước là nữ tì trong cung, khi quét dọn nhặt được một đồng tiền, liền dâng cúng chư tăng. Nhờ duyên lành này nên người ấy được sinh làm con gái đại vương, trong tay luôn có một đồng tiền vàng lấy mãi vẫn không hết”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Thuở xưa, chư tăng an trú trong núi Kì-xà-quật, mọi người khắp nơi nghe được, đem vật thực cúng dường. Có một cô gái hành khất nghèo thấy các trường giả chở vật thực lên núi, cô liền nghĩ: ‘ở đây chắc có pháp hội bố thí, ta nên đến đó xin ăn!’. Cô đi vào trong núi, thấy các trưởng giả chở đủ loại thực phẩm cúng dường chư tăng. Cô lại nghĩ: ‘Các vị ấy đời trước tu phúc nên được giàu sang, nay lại tạo thêm, càng giàu hơn nữa. Đời trước, ta không tu phúc nên nghèo khổ, nếu bây giờ không biết tạo, tương lai sẽ càng nghèo khổ hơn’. Nghĩ thế, nên cô tủi thân, khóc lóc.
Trước đó, cô có nhặt được hai đồng tiền trong đống rác, cất giữ cẩn thận, phòng khi xin không được thì dùng mua thức ăn. Nhưng nay thấy vậy, cô suy nghĩ: ‘Ta nên nhịn một hai ngày, dùng số tiền này cúng dường chư tăng’. Chờ chư tăng thụ trai xong, cô đến cúng dường. Vị tăng duy-na muốn chú nguyện, nhưng vị thượng tọa không cho mà đích thân chú nguyện, lại còn sớt thức ăn cho cô gái. Mọi người thấy vậy cũng mang thức ăn đến cho. Cô gái rất vui mừng nói:
- Tạ đã được phúc!
Cô liền mang thức ăn đến dưới một tàng cây thụ dụng rồi nằm nghỉ, Nhờ phúc bố thí chiêu cảm, nên có mây mầu vàng che phủ phía trên.
Bấy giờ, hoàng hậu vừa qua đời được bảy ngày, vua cho người đi tìm người có đủ phúc đức, xứng đáng kế vị hoàng hậu. Sứ thần cùng thầy tướng đi tìm. Khi đi ngang qua cây ấy, thấy cô gái, thầy tướng liền đoán: ‘Cô gái này đầy đủ phúc đức, xứng đáng làm hoàng hậu’. Sứ thần liền lấy nước thơm cho cô gái tắm gội rồi cho mặc y phục phu nhân, tất cả đều vừa vặn. Thế rồi, các quan dùng nghìn vạn cỗ xe chở cô gái về cung. Vua trông thấy rất hoan hỉ, hết lòng yêu quí cô.
Một thời gian sau, hoàng hậu suy nghĩ: ‘Ta được phúc báo này là nhờ trước đó cúng dường chư tăng hai đồng tiền. Vì thế ta mang ơn chư tăng rất nhiều’.
Thế là hoàng hậu tâu:
- Trước kia thần thiếp rất nghèo hèn, nhờ bệ hạ thương tưởng cho kế vị hoàng hậu. Xin bệ hạ cho thiếp đến chùa cúng dường để báo ân đức chư tăng.
Vua nói
- Tùy ý nàng!
Hoàng hậu liền cho xe chở thức ăn uống, các thứ châu báu đến chùa cúng dường. Thượng tọa bảo vị duy-na chú nguyện. Phu nhân nghĩ: ‘Trước đây ta chỉ cúng

Phần 5

dường hai đồng tiền mà lại được ngài chú nguyện, nay ta chở cả xe trân bảo đến lại không được ngài chú nguyện’. Các tì-kheo trẻ cũng trách việc này. Biết vậy, thượng tọa nói với phu nhân:
- Phu nhân có ý trách ta ư! Khi phu nhân cúng hai đồng tiền mà ta đích thân chú nguyện, còn nay chở cả xe trân bảo đến lại không được ta chú nguyện. Bởi trong Phật pháp chỉ quí tâm thiện chứ không quí trân bảo. Lúc trước phu nhân cúng hai đồng tiền, nhưng tâm thiện rất lớn. Nay cúng vô số trân bảo, nhưng khởi tâm ngã mạn cống cao. Do đó, ta không chú nguyện. Các tì-kheo trẻ cũng chớ trách ta.
Các tì-kheo nghe nói rất hổ thẹn, ngay khi ấy tất cả đều chứng quả Tu-đà-hoàn. Phu nhân nghe pháp xong rất hổ thẹn, cũng chứng quả Tu-đà-hoàn”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Thuở xưa, vua Ác Sinh ở nước Câu-lưu-sa, dạo chơi thượng uyển, bỗng trông thấy một con mèo vàng từ hướng đông bắc đi vào, rồi chạy ra hướng tây nam. Vua thấy vậy liền cho người đào theo hướng ấy thì gặp được một chậu bằng đồng chứa khoảng ba hộc tiền vàng, đào sâu vào lại được hai chậu như trước, cả ba chậu đều đầy tiền vàng giống nhau. Đào tiếp qua bên cạnh khoảng năm dặm, mỗi bước đều nhặt được nhiều chậu tiền như thế. Tuy được nhiều tiền như thế, nhưng vua không dám sử dụng. Vua thắc mắc về xuất xứ số tiền ấy, nên đến hỏi tôn giả Ca-chiên-diên. Nghe xong tôn giả đáp:
- Đây là phúc báo do nhân đời trước của bệ ha, ngài cứ dùng, không hề gì đâu!
Vua liền thỉnh tôn giả nói về nhân duyên quá khứ của mình.
Tôn giả đáp:
- Thuở quá khứ cách đây chín mươi mốt kiếp, sau khi Đức Phật Tì-bà-thi nhập niết-bàn, trong thời chính pháp có các tì-kheo đến khoảng đất trống, trải tòa, đặt bát, khuyến hóa mọi người: ‘Nếu người nào có tài sản nên đem cất vào kho bền chắc này, sẽ không bị nạn vua, giặc, nước, lửa cướp đoạt’.
Khi ấy, có một người nghèo bán củi được ba đồng, thấy tăng khuyên, liền hoan hỉ phát tâm cúng dường, đặt tiền vào bát, phát nguyện rồi trở về. Suốt đoạn đường năm dặm về nhà, trong từng bước chân, người ấy đều hoan hỉ. Khi sắp vào nhà, anh ta còn hướng về các vị tăng chí tâm đỉnh lễ phát nguyện. Người nghèo lúc ấy chính là bệ hạ. Nhờ ngày xưa bệ hạ hoan hỉ cúng dường chư tăng ba đồng tiền, nên đời đời ở địa vị tôn quí, lại được ba chậu đồng chứa tiền. Bởi ngày trước, suốt năm dặm đường mỗi bước đi đều hoan hỉ, nên nay trong năm dặm đường mỗi bước vua đều nhặt được tiền. Vì thế, khi cúng dường, nên hết lòng chí thành, chớ hối tiếc”.
85.1.10. Tùy hỷ
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Phật dạy:
Nếu người có của cải thấy kẻ đến xin mà nói ‘không có’, tức đã nói ‘đời vị lai sẽ bị nghèo cùng và thiếu phúc’. Người như thế là người buông lung. Nói mình không có của cải là không đúng. Vì sao? Vì ai cũng có nước uống, cỏ cây.... Dù là vua cũng chưa hẳn bố thí được, nhưng kẻ bần cùng cũng có thể bố thí. Vì sao? Vì người dù nghèo hèn đến đâu cũng có phần cơm, ăn xong rửa bát, nếu biết đem nước rửa bát đó thí cho loài cần dùng thì cũng được phúc đức. Nếu đem bột cám thí cho loài kiến cũng được phúc báo vô lượng. Dù là người nghèo cùng nhất thiên hạ, cũng có chút bột cám này! Ai một ngày không ăn ba vắt cơm để duy trì mạng sống! Cho nên mọi người hãy chia bớt nửa phần ăn mình để bố thí cho người đến xin.
Này thiện nam tử! Người dẫu nghèo cùng đến đâu cũng có quần áo mặc. Nếu đã có quần áo, há lại không có một sợi chỉ giúp cho người khâu vết thương, hoặc mảnh vải nhỏ bằng đầu ngón tay để làm tim đèn ư! Người trong thiên hạ dẫu nghèo khổ đến mấy cũng có thân. Nếu đã có thân, khi thấy người khác làm việc thiện, mình nên đến giúp đỡ với lòng hoan hỉ, không mỏi mệt, thì cũng được gọi là thí chủ, cũng được phúc đức, hoặc được phúc một phần, hoặc ngang bằng họ, hay có thể nhiều hơn. Vì lẽ này, nên lúc nhận thức ăn do vua Ba-tư-nặc dâng cúng, Như Lai cũng chú nguyện. Hàng vua chúa và người nghèo khổ đều được công đức bằng nhau không khác. Thí như người bán bốn loại hương: hương thoa, hương bột, hương tán, hương đốt. Nếu có người chạm đến, hoặc người mua, người lường... họ đều ngửi mùi hương ấy giống nhau. Các mùi hương này vẫn không hao tổn mảy may. Phúc đức của người bố thí cũng như vậy, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc thô hoặc tế, hoặc đến giúp đỡ với tâm tùy hỉ, hoặc thấy nghe từ xa mà sinh tâm hoan hỉ. Vì những tâm này như nhau, nên được quả báo không sai khác.
Nếu người không có của cải, thấy người khác bố thí mà tâm không vui, không tin tưởng, lại nghi ngờ ruộng phúc thì đó là người nghèo cùng. Nếu người có nhiều của cải và đồ quí báu tự do tiêu dùng và có ruộng phúc lành, nhưng không có tín tâm, không biết bố thí cúng dường, cũng là người nghèo cùng. Cho nên người trí tự quán chiếu: ‘Nếu mình dùng một vắt cơm duy nhất này thì sống, bố thí cho người thì minh sẽ chết mà vẫn bố thí, huống gì là có nhiều! Người trí lại quán: ‘Trong thế gian, cũng có người trì giới, đa văn, cho đến bậc a-la-hán, còn không thoát được đói khát, thiếu nhà cửa, y phục, đồ ăn thức uống, tọa cụ, thuốc thang. Đó đều do đời trước không biết bố thí. Người phá giới nếu biệt bố thí thì dù đọa vào ngạ quỉ, súc sinh, nhưng thường được no đủ, không thiếu thốn. Con người, dù hưởng thụ niềm vui tột bực của cõi trời người mà vẫn không biết đủ. Cho nên Như Lai chỉ vì an lạc vô thượng mà hành bố thí, không vì sự vui sướng của cõi trời người. Vì sao? Vì sự vui sướng ấy chỉ là vô thường, có giới hạn’. Nếu người bố thí vui vẻ, không hối tiếc, biết gần gũi người tốt thì đời sau sẽ được phúc giàu sang tự tại, sinh vào gia đình quí tộc, hưởng niềm vui của cõi trời người, cho đến đạt quả vị vô thượng bồ-đề, xa lìa tất cả phiền não trói buộc.
Nếu thí chủ tự tay bố thí, đời sau sẽ sinh vào nhà quí tộc, gặp được bạn tốt, có nhiều của cải, đầy đủ quyến thuộc, có thể thụ dụng, có thể bố thí, tẩt cả chúng sinh đều thích nhìn, cung kính, tôn trọng, ngợi khen”.
Luận Đại trượng phu ghi: “Người bỏn xẻn thì bùn đất cũng xem trọng hơn vàng ngọc. Còn người có tâm từ bi rộng lớn thì dẫu đem vàng ngọc bố thí cũng xem nhẹ như cỏ cây. Người bòn xẻn, khi bị mất tiền của thì rất đau khổ. Người hành bố thí, giúp người nhận được vui vẻ, bản thân mình cũng vui theo. Giả sử có thức ăn ngon, nếu không bố thí cho người mà chỉ ăn một mình thì không cảm thấy ngon; nhưng dù có thức ăn dở, mà trước bố thí cho người, sau đó mới ăn thì trong lòng vui; vì vui nên cảm thấy ngon. Khi bố thí xong, người này dùng chút thức ăn dư với tâm vui vẻ, như đã được niết-bàn. Nếu người không có tín tâm thì đâu thể tin được lời này.
Kẻ bỏn xẻn dù có thức ăn dở, thấy kẻ đói đến đứng trước mặt, còn không thí cho, huống là những thứ ngon. Có người đang đứng bên sông lớn còn không chịu đem chút nước bố thí cho chúng sinh, huống là những tài vật tốt đẹp khác. Trên thế gian này đất bẩn dễ được hơn nước, kẻ bòn xẻn thấy người đến xin đất bẩn còn tham tiếc, huống là của cải.
Như một người rất giàu và một người nghèo hèn, khi kẻ ăn xin đến, cả hai đều cảm thấy buồn khổ. Người có của cải thì sợ người kia đến xin. Người không có của cải thì tự suy nghĩ: ‘Mình phải làm gì để có chút tài vật bố thí cho họ’. Như vậy, hai người này đều buồn khổ như nhau, nhưng quả báo lại khác. Người nghèo nhờ có tâm từ bi nên được sinh vào cõi trời người hưởng nhiều sự vui sướng. Người giàu vì tham lam bỏn xẻn, nên sinh làm ngạ quỉ chịu nhiều khổ não.
Bồ-tát có lòng thương xót là đã đầy đủ, huống là bố thí chút ít tài vật. Bồ-tát từ bi muốn bố thí nhưng không có tài vật, khi thấy người đến xin không nỡ nói ‘không’, buồn khổ rơi lệ. Nghe họ than khổ, bồ-tát còn không chịu nổi, huống gì chứng kiến họ khổ não mà không cứu giúp?
Người có tâm bi thấy chúng sinh nghèo khổ mà không có của cải để bố thí thì sinh buồn khổ, đau xót khôn tả. Bồ-tát cứu giúp chúng sinh, thấy chúng sinh khổ não mà ngậm ngùi rơi lệ, vì rơi lệ nên biết tâm bồ-tát rất đau buồn.
Có ba trường hợp làm bồ-tát rơi lệ:
1. Thấy người tạo công đức, bồ-tát kính mến mà rơi lệ.
2. Thấy chúng sinh đau khổ, không có công đức, bồ-tát thương xót mà rơi lệ.
3. Khi thực hành bố thí rộng lớn, vì quá xúc động nên bồ-tát rơi lệ.
Nếu tính nước mắt mà bồ-tát đã rơi từ xưa đến nay còn nhiều hơn nước bốn biển lớn. Nước mắt người khắp thế gian buồn khóc vì xa lìa người thân vẫn không bằng nước mắt của bồ-tát.
Ngay cả khi thấy chúng sinh nghèo khổ mà bồ-tát không có của cải để bố thí thì ngậm ngùi rơi lệ; nghe tiếng của kẻ ăn xin, bồ-tát cũng rơi lệ. Người ăn xin thấy bồ-tát rơi lệ như mưa, tuy không nghe nói là ‘cho’, nhưng biết là đã ‘được’.
Khi thấy người ăn xin đến, bồ-tát vô cùng buồn khổ. Khi người xin có được tài vật, trong lòng vui mừng thì bồ-tát mới hết buồn khổ. Khi nghe tiếng của người ăn xin, bồ-tát rơi lệ không thể ngăn được. Đến khi người xin nói ‘đã đủ’, bồ-tát mới cầm được nước mắt.
Bồ-tát thực hành bố thí, khi chúng sinh đã đầy đủ, bồ-tát liền vào núi rừng tu tập thiền định, diệt trừ ba độc. Lúc này tài vật nhiều gấp bội, nhưng không có người

Phần 6

xin, nên không thể bố thí. Bấy giờ bồ-tát suy nghĩ: ‘Ta nay đã xuất gia, đoạn trừ các kết sử’.
Bồ-tát phát nguyện độ chúng sinh, ai mong cầu gì đều bố thí tất cả. Bồ-tát có tâm từ bi, vì người khác, niết-bàn mà còn xả bỏ, huống là xả thân mạng, của cải thì nào có khó gì! Xả bỏ tài vật không bằng xả thân mạng, xả thân mạng không bằng xả bỏ quả vị niết-bàn, niết-bàn còn xả bỏ được thì có gì là không xả.
Tâm bi rộng lớn thì tự tại cứu giúp chúng sinh. Đại bồ-tát hành bố thí không cảm thấy khó. Bồ-tát có tâm từ bi ắt thấy rõ thân của tất cả chúng sinh đều có bệnh tật. Do ba việc mà bồ-tát biết chúng sinh có bệnh, đó là: ăn uống, y phục, thuốc thang tức là tướng bệnh. Tâm bi của bồ-tát nhờ hành tài thí, pháp thí và vô úy thí mà thành tựu.
Bồ-tát ban niềm vui cho tất cả chúng sinh, diệt trừ khổ não cho họ, nên xả thân cứu giúp mà không cầu quả báo, xem nhẹ như cỏ khô. Bồ-tát đại bi tìm mọi cách để bố thí, như lấy máu bố thí cho người dễ như người đời bố thí nước uống. Thuở xưa, bồ-tát lấy máu năm chỗ trên thân bố thí cho quỉ dạ-xoa, nhưng lòng vô cùng hoan hỉ”.
85.1.11. Phúc báo của sự bố thí
Kinh Nguyệt đăng tam-muội ghi: “Đức Phật dạy:
Nếu bồ-tát có tâm tín hoan hỉ thích thực hành bố thí ba-la-mật thì được mười lợi ích:
1. Chế phục được tâm phiền não bỏn xẻn.
2. Tu tập tâm xả không gián đoạn.
3. Được tài sản bằng tất cả tài sản của chúng sinh, nắm giữ bền chắc cho đến khi diệt độ.
4. Sinh trong gia đình giàu sang.
5. Sinh ra nơi nào cũng sẵn có tâm bố thí.
6. Luôn được bốn chúng yêu mến.

7. Ở trước bốn chúng không sợ hãi.
8. Tiếng tốt vang khắp muôn phương.
9. Tay chân mềm mại, lòng bàn tay, bàn chân bằng phẳng.
10. Cho đến khi thành đạo, không xa rời thiện tri thức”.
Kinh Đại bảo tích ghi: “Người ưa bố thí thì được năm lợi ích:
1. Được gần gũi tất cả các bậc hiền thánh.
2. Tất cả chúng sinh đều thích nhìn.
3. Trước đại chúng, được mọi người tôn kính.
4. Tiếng tốt, đức thơm vang khắp mười phương.
5. Tạo nhẫn tối thượng vi diệu cho quả quả bồ đề”.
Kỉnh Bồ-tát thiện giới ghi: “Nếu người đầy đủ ba loại huệ thí sau thì có thể thụ trì giới bồ-tát:
1. Bố thí: bố thí tứ thiên hạ còn không tham tiếc, huống là chút tài vật.
2. Đại thí: bố thí cả vợ con.
3. Vô thượng thí: bố thí cả đầu mắt, tủy, não, thịt, xương, da, máu...
Bồ tát đầy đủ ba loại thí này thì đầy đủ sức nhẫn để có thể thụ trì cấm giới”.
Kinh Tăng nhắt A-hàm ghi: “Thí chủ bố thí sẽ được năm công đức:
1. Bố thí thân mạng sẽ được trường thọ.
2. Bố thí sắc sẽ được tướng mạo đoan chính.
3. Bố thí sự an vui sẽ được mạnh khỏe không bệnh tật
4. Bố thí sức lực sẽ được tráng kiện không ai hơn.
5. Bố thí biện tài sẽ được biện tài vô thượng chính chân”.
Luận Thập trụ Ti-bà-sa ghi: “Bồ-tát tại gia nếu còn tham tiếc của cải, khi có người đến xin nói rằng: ‘Ông hãy bố thí vật này cho tôi, sẽ được nhanh chóng thành Phật.’ Nghe vậy, bồ-tát hãy suy nghĩ: ‘Nếu hôm nay ta không bố thí vật này thì nó cũng sẽ rời xa ta, đến khi ta chết đi nó cũng không theo ta. Vật này là tướng xa lìa, nay nên phát tâm bồ-đề mà bố thí cho họ, sau khi ta chết đi lòng không hối hận, được sinh vào cõi lành, đây thật là lợi ích’. Nếu còn tham tiếc thì nên từ chối rằng: ‘Ông chớ giận! Vì ta mới phát tâm, chưa đủ thiện căn, hạnh nguyện bồ-tát chưa được lớn mạnh cho nên chưa thể xả bỏ vật này. về sau, hạnh nguyện ta đủ lớn mạnh, thiện căn kiên cố, ta sẽ bố thí cho ông’”.
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Nếu đã cúng dường Phật rồi, Phật dùng hay không dùng, quả báo đều đã định. Bố thí cho người thế tục và chúng tăng, được hai loại phúc báo:
1. Từ việc sử dụng sinh phúc.
2. Từ việc thụ nhận sinh phúc.
Vì sao? Lúc bố thí là tự mình đã phá trừ tâm tham lam bỏn xẻn. Khi người thụ nhận sử dụng cũng giúp cho người kia phá tâm này. Cho nên nói: ‘Từ dụng sinh phúc’ .

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục