Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 80 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ

24/12/2015

QUYỂN 80 Quyển này có một chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ 85.1. BỐ THÍ 85.1.1. Lời dẫn BỐ thí là nền tảng của muôn hạnh, đã được xếp đầu tiên trong lục độ, lại được nêu trước nhất trong tứ nhiếp. Cho nên, cấp Cô Độc dùn...

PUCL QUYỂN 80 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ
Phần 1

QUYỂN 80
Quyển này có một chương Lục độ.
85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ

85.1. BỐ THÍ
85.1.1. Lời dẫn
BỐ thí là nền tảng của muôn hạnh, đã được xếp đầu tiên trong lục độ, lại được nêu trước nhất trong tứ nhiếp. Cho nên, cấp Cô Độc dùng vàng lát vườn mà không xẻn, vua Tu-đạt-noa bố thí voi quí mà chẳng tiếc. Lại còn quên thân mình mà cứu khổ nạn, nên bồ-tát đã gieo mình để cứu hổ đói, vua Thi-tì lóc thịt đùi để thế thức ăn cho chim ưng... Huống gì đất nước, vợ con... đâu đáng lưu tâm! Tiền bạc, của cải, nào đáng để lòng!
Sách thế gian còn ghi: “Nhường cơm, sẻ áo, quên mình vì người; ngựa xe, y phục, đồng cam cộng khổ”. Đó đều là những tấm gương trọng nghĩa, khinh tài, chuộng hiền, quí sĩ.
Vả lại, của cải vốn vô thường, đâu liên quan gì đến con người mà phải nhọc lòng cất chứa, rốt cuộc để làm gì? Lại còn bị bốn nỗi sợ hãi nung đốt, năm nhà tranh đoạt, có người trí nào ham thích? Gần đây, thấy kẻ ngu tham tiếc tài sản, không chịu buông bỏ mà phải mất thân mạng. Chỉ vì tham sống, sợ chết mà khiến cho vợ con bất hòa, anh em tranh đấu, quyến thuộc chia lìa, bạn bè xa lánh. Do nhân bỏn xẻn, duyên bỏn xẻn, cách thức bỏn xẻn, nghiệp bỏn xẻn, nên trái với tâm bồ-tát, làm chướng ngại đạo từ bi; đã không khởi tâm cứu hộ mà còn sinh ý gây tổn hại. Nguyên nhân của những tội lỗi ấy chính là tham lam và bỏn xẻn.
85.1.2. Bỏn xẻn và dối trá Trong kinh Bồ-tát xử thai, Đức Phật nói kệ:
Người phần nhiều ngu si
Bỏn xẻn chẳng bố thí
Cất chứa nghìn vạn ức
Cho là vật của ta.
Đến lúc sắp mạng chung
Thấy quỉ thần hung ác
Gió lạnh xẻ thân này
Mạng sống không còn nữa.
Lòng tham tùy thiện ác
Thụ báo rất khổ đau
Sắp đến nơi chịu tội
Hối hận làm sao kịp.
Trong kinh Tát-già Ni-kiền tử có bài kệ
Người tham cất chứa nhiều
Chẳng bao giờ biết đủ
Tâm điên đảo vô minh
Luôn nghĩ Việc hại người.
Đời này bị oán ghét
Chết về chốn khổ đau
Vì vậy, người có trí
Phải nên thường biết đủ.
Tiếc của, chẳng bố thí
Cất giữ sợ người hay
Chết rồi, đi tay không
Chịu khổ loài ngạ quỉ.
Nào đói, khát, nóng, lạnh
Buồn đau thường thiêu đốt
Người trí không cất chứa
Để dẹp lòng xan tham.
Trong kinh Phân biệt nghiệp báo có bài kệ:
Hạnh tu bố thí khắp
Mà nóng nảy, sân hận
Không nương vào chính niệm
Sau làm thân rồng dữ.
Kinh Bồ-tát bản hạnh ghi: “Nếu thấy người đến xin mà nét mặt lộ vẻ khó chịu, nên biết người này đang mở cửa ngạ quỉ”.
Kinh Đại tập ghi: “Có bốn trường hợp làm chướng ngại Đại thừa. Đó là:
- Không thích bố thí
- Bố thí rồi hối hận
- Bố thí xong, xét lỗi người
- Không nghĩ đến tâm bồ-đề.
Lại có bốn trường hợp:
- Bố thí vì tham dục
- Bố thí vì sân giận
- Bố thí vì ngu si - Bố thí vì sợ hãi.
Lại có bốn trường hợp khác:
- Không hết lòng bố thí
- Không tự tay bố thí
- Không trực tiếp bố thí
- Xem thường mà bố thí”.
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: ‘‘Đức Phật dạy: ‘Bồ-tát bố thí thì xa lìa được bốn điều ác: phá giới, nghi ngờ, tà kiến, bỏn xẻn”.
Khi bố thí không nên:
- Phân biệt người có đức hay không có đức
- Phân biệt người tốt hay người xấu
- Phân biệt giai cấp
- Xem thường người xin
- Mắng chửi.
Bố thí không được quả báo tốt đẹp có ba nguyên nhân:
- Trước phát tâm cho nhiều, nhưng sau cho ít
- Chọn đồ dở xấu cho người
- Bố thí xong, sinh tâm hối hận.
Có tám nguyên nhân khiến bố thí không được quả báo cao tột:
- Bố thí xong, xét nét lỗi của người nhận
- Khi bố thí, tâm không bình đẳng
- Bố thí xong, mong người nhận đáp lại
- Bố thí xong, thích tự khen mình
- Nói không, rồi mới cho
- Bố thí xong, dùng lời ác mắng chửi
- Bố thí xong, mong trả lại gấp đôi
- Bố thí xong, sinh tâm nghi ngờ.
Người có tâm bố thí như vậy thì không được gặp Phật và các bậc hiền thánh. Nêu bố thí cho người đầy đủ sắc, hương, vị, xúc mới gọi là bố thí thanh tịnh.
Phần 2

Nếu người nào bố thí chỉ vì phúc báo, không thích bố thí thường xuyên, người này đời sau khi đã được quả báo tốt đẹp, thì không còn thích bố thí nữa.
Nếu người nào bố thí rồi hối hận, hoặc cướp đoạt tài vật của người để bố thí thì đời sau tuy có của cải, nhưng thường bị mất, không cất giữ được.
Nếu người làm họ hàng phiền não để có tài vật bố thí, thì đời sau tuy được quả báo tốt đẹp, nhưng thân thường bệnh tật, đau khổ.
Nếu người nào không lo phụng dưỡng cha mẹ, làm khốn khổ vợ con, tôi tớ mà bố thí, thì đó là người ác, là giả danh bố thí, bố thí không đúng nghĩa. Người bố thí như thế, không có lòng thương yêu, không biết báo đáp công ơn. Người này đời sau tuy có tiền của, nhưng thường bị mất, không thể cất giữ, cũng không sử dụng được, thân mang nhiều bệnh tật, đau khổ.
85.1.3. Bố thí có giới hạn
* Lời bàn
Nếu hứa cho người nghèo để họ vui vẻ, sau đó hối hận không cho, thì sẽ chuốc lấy nhiều đau khổ. Bản thân không bố thí, thấy người khác bố thí đã không tùy hỉ, lại còn chê trách để họ không bố thí, thì mắc tội rất nặng. Người nào lấy của chung đem dùng vào việc riêng thì có lỗi. Ví như của cải trong nhà là chung của mọi người, ít nhiều đều có phần, đâu phải chỉ riêng mình hưởng, vậy mà người ấy cất giữ cho mình, không chịu bố thí, lại ngăn cản người khác tạo phúc; người này chiêu cảm ác báo rất nặng.
Kinh Chỉnh pháp niệm ghi: “Hoặc có người chồng bảo vợ cúng dường thức ăn cho sa-môn, bà-la-môn v.v..., nhưng người vợ bỏn xẻn, có thức ăn mà nói là không, rồi nói với người chồng:
- Trong nhà trống rỗng thì lấy gì để cúng dường sa-môn và những vị có phúc!
Người vợ ấy vì tiếc của nên dối gạt chồng, không chịu cúng dường. Sau khi mạng chung, bà bị đọa vào loài ngạ quỉ, miệng như lỗ kim. Đây là do quá khứ đã gây tạo, chứa nhóm nhiều nghiệp ác. Đa số người nữ sinh vào loài ngạ quỉ. Vì sao? Vì người nữ nhiều tham dục, đố kị hơn người nam. Người nữ tâm địa nhỏ nhen, không rộng rãi như người nam, nên thường sinh vào loài ngạ quỉ.
Khi nghiệp ác đố kị chưa mất, không hư, không hoại thì không thể thoát khỏi kiếp ngạ quỉ, khi nghiệp này hết mới thoát. Từ đây mạng chung, kẻ ấy lại sinh vào loài súc sinh, thụ thân chim già-trá-ca, thường bị đói khát, chịu nhiều đau khổ. Thoát thân súc sinh, sinh vào cõi người, do nghiệp ác còn sót lại, nên người ấy thường khốn khổ, đói khát, chịu cảnh bần cùng, phải đi xin an”
Hoặc lấy thức ăn chung của gia đình để ăn một mình, không cho người khác, thì cũng phạm tội nặng. Cho nên, kinh Chính pháp niệm ghi: “Một mình ăn nhiều món ngon, không cho vợ con, họ hàng. Vợ con chỉ ngửi được mùi mà không biết đến vị ngon. Trước mặt vợ con, người ấy ăn một mình. Do bỏn xẻn, ganh ghét, đối với họ hàng thân quyến, người ấy đã không cho, lại bảo người khác đừng cho, rồi vui theo.
Gây bao tội lỗi như thế, người ấy vẫn không sửa đổi, không biết xấu hổ. Sau khi mạng chung, người ác ấy bị đọa vào loài ngạ quỉ hưởng hơi, thường bị đói khát đốt thân, chạy rảo khắp nơi, kêu gào khóc lóc, đau đớn vô cùng, chỉ biết nương vào tháp miếu. Khi có người dâng phẩm vật tế trời, thì quỉ hưởng mùi thơm này và ngửi các mùi khác để sống. Thế nên biết, chúng sinh dùng riêng tài vật trong nhà và lén ăn một mình đều mắc tội nặng. Có chúng sinh nghĩ mình không có của cải, cho dù giọt nước, ngọn cỏ cũng không bố thí, sau chịu nghèo khổ, đời đời không dứt”.
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Người không có của cải tự nói không có của cải, như vậy là không đúng. Vì sao? Vì ai ai cũng có riêng cỏ cây, nước uống. Cho nên, dù là đế vương nhưng chưa hẳn có thể bố thí, tuy là người nghèo nhưng vẫn bố thí được. Vì sao? Vì người nghèo cùng cũng có phần cơm, ăn rồi rửa bát, nếu biết đem nước rửa bát đó thí cho loài cần dùng, thì cũng được phúc đức; hoặc lấy bột cám thí cho loài kiến, cũng được phúc báo vô lượng. Người nghèo nhất thiên hạ cũng có chút bột cám này! Người nghèo ai mà không có quần áo để mặc! Nếu có quần áo, há lại không có một sợi chỉ, một cây kim để cho người băng bó vết thương, hoặc một mảnh vải nhỏ bằng đầu ngón tay để làm tim đèn ư?”.
Thiện nam! Người trong thiên hạ hiện tại dẫu nghèo đến mấy thì vẫn có thân này. Nếu đã có thân, khi thấy người làm việc tốt, mình cũng nên đến giúp họ quét dọn, tưới tẩm, như vậy cũng được quả báo tốt đẹp. Cho nên, luận Thành thật ghi: “Phúc báo quét đất già-lam khắp cõi Diêm-phù, không bằng quét tháp Phật một khoảnh đất nhỏ chỉ bằng bàn tay”.
Luật Tứ phần và luận Di-sa-tắc ghi: “Thuở xưa, lúc Đức Phật còn tại thế, trong thành Bạt-đề có cư sĩ Mân-trà rất nổi tiếng. Ông có nhiều vàng bạc, của cải, lại có quyền lực lớn, cung cấp đầy đủ cho mọi người theo lòng mong cầu.
Trong nhà ông có một lỗ hổng to bằng trục bánh xe, lúa gạo tự nhiên tuôn ra không ngớt. Vợ ông lấy tám thăng gạo nấu cơm cho bốn binh và những người từ khắp nơi đến ăn, ăn mãi mà vẫn không hết. Con trai ông lấy nghìn lượng vàng cho bốn binh và người từ bốn phương đến xin, ban phát theo nhu cầu của họ mà vẫn không hết. Người con dâu lấy một thỏi hương thoa cho bốn binh và người từ khắp nơi đến xin, tùy theo nhu cầu của họ mà hương vẫn còn nguyên. Người tớ trai lấy cày ra cày bảy luống mà lúa càng lúc càng nhiều. Người tớ gái lấy tám thăng lúa nấu cho người và ngựa của bốn binh ăn, ăn mãi mà vẫn không hết. Người sang, kẻ hèn trong nhà tranh nhau, ai cũng cho đó là phúc lực của mình.
Mân-trà đến thưa hỏi Phật:
- Đó là nhờ phúc lực của ai?
Đức Phật bảo:
- Là phúc lực của tất cả những người trong nhà.
Đức Phật lại bảo:
- Thuở xưa, trong thành Vương Xá, có một người thợ dệt. ông ta có một người vợ, một con trai, một con dâu, một tớ trai và một tớ gái. Một hôm, cả nhà đang dùng cơm, có vị bích-chi phật đến khất thực. Lúc ấy; ai cũng muốn dâng cúng phần cơm của mình. Vi bích-chi phật nói: ‘Chỉ cần mỗi vị bớt đi một chút, thì tôi được no mà các vị cũng không thiếu’. Cả nhà cùng nghe theo. Thụ trai xong, vị Bích-chi phật bay lên hư không hiện ra các loại thần biến rồi ra đi. Nhờ phúc cúng dường này, thời gian sau, cả nhà người thợ dệt mạng chung, đều sinh lên cõi trời Tứ Thiên Vương cho đến cõi trời Tha Hóa Tự Tại, lên xuống bảy lần như thế, phúc đức còn lại sinh ở cõi này, cùng hưởng quả báo như nhau”.
85.1.4. Bố thí cùng khắp
Lúc bố thí, bồ-tát chẳng thấy người nhận là trì giới hay phá giới, là phúc điền hay chẳng phải phúc điền, là tri thức hay chẳng phải tri thức. Lúc bố thí, bồ-tát cũng chẳng thấy là bậc pháp khí hay chẳng phải bậc pháp khí, chẳng lựa ngày giờ, chẳng chọn chỗ nơi, cũng chẳng tính là lúc đói kém hay được mùa, chẳng thấy nhân quả, chẳng phân biệt là chúng sinh hay chẳng phải chúng sinh, là người có phúc hay người vô phúc. Tuy chẳng thấy có người thí, kẻ nhận và của cải, cho đến chẳng thấy có sự gián đoạn và quả báo mà luôn bố thí không ngừng.
Nếu bồ-tát thấy người nhận là trì giới hay phá giới, cho đến thấy có quả báo thì chẳng thể bố thí. Nếu chẳng bố thí thì không thể đầy đủ đàn ba-la-mật.
Nếu chẳng đầy đủ đàn ba-la-mật thì không thể thành Vô thượng bồ-đề.
Ví như có người bị trúng tên độc, vì muốn người đó bình an, thân quyến liền mời lương y đến nhổ mũi tên độc.
Người đó mới nói:
- Hãy khoan chạm vào, chờ tôi quan sát mũi tên độc này từ phương nào đến, do ai bắn, người bắn là Sát-đế-lợi, là Bà-la-môn, là Tì-xá hay Thủ-đà? Mũi tên này làm bằng gỗ, bàng tre hay bằng cây liễu. Mũi sắt này rèn ở lò nào, cứng hay mềm. Đuôi mũi tên găn lông chim gì, chim quạ hay kên kên. Chât độc tự nhiên mà có hay do ai chế ra, là độc của loài người hay độc của loài rắn”.
Người ngu si đó chưa kịp biết thì đã chết rồi.
Cũng vậy, nếu lúc bố thí, bồ-tát phân biệt người nhận là trì giới hay phá giới, cho đến phân biệt quả báo thì chẳng thể bố thí. Nếu chẳng thể bố thí thì chẳng đầy đủ đàn ba-la-mật, cho đến chẳng thành Vô thượng bồ-đề.
Kinh Tịnh nghiệp chướng ghi: “Nếu bồ-tát quán thấy bỏn xẻn và bố thí, trì giới và phá giới, sân khuể và nhẫn nhục, giải đãi và tinh tiến, tán loạn và thiền định, ngu si và trí tuệ... chẳng phải hai tướng, tức đã dứt trừ các nghiệp chướng”.
Kinh Phật thuyết thái tử Tu-đại-noa ghi: “Đức Phật bảo tôn giả A-nan: ‘Vào đời quá khứ không thể tính kể, có nước lớn tên là Diệp-ba, nhà vua hiệu là Thấp-ba có hai vạn phu nhân, nhưng đều không có con.

Phần 3

Vua cầu khẩn các vị thiên thần. ít lâu sau, một phu nhân biết mình có thai, đủ mười tháng sinh ra thái tử, đặt tên là Tu-đại-noa.
Năm mười sáu tuổi, thái tử văn võ song toàn, từ nhỏ đến lớn, thường thích bố thí. Thái tử đến tuổi trưởng thành, phụ vương chọn phi là công chúa Mạn-để, xinh đẹp tuyệt trần, sinh được một trai và một gái. Một hôm thái tử suy nghĩ: ‘Ta muốn thực hành đàn ba-la-mật, nên ra thành dạo chơi’.
Lúc ấy Đế Thích hóa làm những người nghèo cùng, điếc đui, câm ngọng đứng bên đường. Thấy vậy, thái tử buồn rầu, quay xe trở về hoàng cung.
Thái tử tâu vua:
- Con muốn xin phụ vương một điều, không biết phụ vương có đồng ý không?
Nhà vua bảo:
- Con muốn điều gì, phụ vương đều chiều theo. Thái tử tâu:
- Con muốn xin tất cả vàng bạc châu báu trong kho của phụ vương, đem đặt ngoài bốn cửa thành và trong phố để bố thí theo ý muốn của mọi người.
Nhà vua bảo:
- Phụ vương thuận theo ý con!
Thái tử liền cho chở vàng bạc châu báu đặt ngoài bốn cửa thành và trong phố chợ để bố thí theo ý muốn của mọi người. Dân chúng khắp mười phương nghe tin này, cách xa cả nghìn vạn dặm đều tìm đến, thái tử ban phát theo nhu cầu của họ, không trái ý người.
Bấy giờ, nghe thái tử thích bố thí, ban phát theo nhu cầu của kẻ đến xin, không trái ý người, vua nước thù địch tập hợp quần thần và các đạo sĩ cùng nhau luận bàn:
- Vua nước Diệp-ba có voi trắng đi trên hoa sen, tên là Tu-đàn-diên, sức mạnh vô địch. Mỗi khi đánh nhau với các nước, voi này luôn thắng, ai có thể đến xin voi ấy?
Quần thần đều tâu:
- Không thể đến đó được!
Trong đó, có tám bà-la-môn tâu:
- Chúng thần đến đó xin, mong bệ hạ cấp cho lương thực.
Vua liền cấp lương thực và bảo:
- Nếu các khanh xin được voi thì trẫm sẽ trọng thưởng.
Tức thời, tám bà-la-mốn đến nước Diệp-ba, vào cung của thái tử. Vị nào cũng chống gậy, đứng một chân và nói:
- Chúng thần từ xa đến đây cầu xin.
Nghe vậy, thái tử rất vui mừng, liền ra nghinh đón, vái chào như con gặp lại cha. Sau khi thăm hỏi ân cần, thái tử hỏi:
- Các vị muốn cầu xin điều gì?
Các bà-la-môn đáp:
- Chúng thần nghe thái tử thích bố thí, không trái ý người, danh tiếng vang khắp nơi, trên thấu trời xanh, dưới đến địa phủ, công đức bố thí không thể suy lường. Nay chúng thần muốn xin thái tử voi trắng đi trên hoa sen.
Thái tử liền đưa họ đến chuồng voi, bảo dắt một con. Tám bà-la-môn nói:
- Chúng thần muốn được voi trắng đi trên hoa sen, tên là Tu-đàn-diên.
Thái tử bảo:
- Con voi trắng này phụ vương ta rất yêu quí, thương voi như thương ta. Nếu ta cho các khanh thì trái ý phụ vương ta, hoặc đuổi ta ra khỏi nước.
Thái tử suy nghĩ: ‘Trước đây, ta có ước nguyện bố thí không trái ý người, nếu nay không cho thì trái với bản nguyện. Nếu không bố thí voi này thì làm sao thành tựu đạo Vô thượng bình đẳng?’.
Thế rồi, thái tử sai người hầu phủ yên vàng lên mình voi và vội dắt ra ngoài. Tay trái thái tử cầm bình nước đổ ra rửa tay cho các bà-la-môn, tay phải dắt voi trao cho họ. Được voi, tám bà-la-môn chú nguyện cho thái tử, rồi vui vẻ cưỡi voi lên đường.
Thái tử bảo các bà-la-môn:
- Các ông hãy đi nhanh lên! Nếu phụ vương ta biết, sẽ cho người đuổi theo đoạt lại.
Họ vội vã ra đi. Nghe tin thái tử bố thí voi trắng cho kẻ thù, quần thần trong nước vô cùng hoảng sợ.
Nhà vua nghe vậy, cũng ngạc nhiên. Các quan đều nói:
- Đại vương có được thiên hạ là nhờ voi này, sức nó mạnh hơn sáu mươi con voi thường. Nay thái tử đem cho kẻ thù, e rằng sẽ mất nước, vậy phải làm sao?
- Thái tử bố thí như vậy, của cải trong kho ngày càng hết sạch. Thần sợ cả đất nước và vợ con của thái tử cũng đều ban cho người.
Nghe lời này, vua càng không vui, bàn với quần thần tìm nhiêu hình thức trị phạt thái tử. Nhưng một đại thần tâu:
- Đại vương không nên xử phạt, chỉ đuổi ra khỏi nước, đày vào vùng núi rừng hoang vắng mười hai năm, thái tử sẽ tự hổ thẹn.
Theo lời vị đại thần này, vua bảo thái tử:
- Con hãy ra khỏi nước! Ta sẽ đày con vào núi Đàn-đặc mười hai năm.
Thái tử tâu:
- Con không dám trái lệnh phụ vương, nhưng cho phép con bố thí bảy ngày để tỏ chút lòng thành rồi sẽ ra đi Vua bảo:
- Do bố thí quá giới hạn, làm hết sạch kho tàng của ta, lại còn đem voi báu cho kẻ thù, nên ta đuổi con đi. Hãy đi mau! Ta không đồng ý việc này.
Thái tử tâu:
- Con không dám trái lệnh phụ vưomg, nay con có của cải riêng, xin bố thí hết rồi sẽ đi, không dám phiền đến quốc gia.
Hai vạn phu nhân cùng đến gặp vua, xin cho thái tử ở lại bảy ngày để bố thí, rồi hãy đuổi ra khỏi nước. Nhà vua bằng lòng.
Khi ấy, dân chúng khắp nơi kéo đến, thái tử ban phát theo nhu cầu của họ. Bảy ngày thì của cải hết sạch, người nghèo được giàu có, muôn dân vui mừng.
Đến lúc thái tử từ biệt, vợ ngạc nhiên hỏi:
- Chàng phạm tội gì mà phụ vương đày đến đó?
Thái tử trình bày nguyên nhân khiến vua đuổi đi.
Mạn-để nói:
- Chàng giúp cho đất nước giàu sang, an vui, thanh bình. Thiếp nguyện gắng sức cùng chàng vào núi tu đạo.
- Trong núi là chốn hiểm nguy, nàng quen sống cảnh nhung lụa, làm sao chịu được?
- Thiếp nguyện trọn đời không rời xa chàng. Như vua lấy cờ hiệu làm biểu tượng, lửa lấy khói làm biểu hiệu, vợ lấy chồng làm tiêu điểm, thiếp chỉ nương theo chàng. Hễ ai đến xin thứ gì, thiếp đều ban phát; ngay cả có người đến xin thiếp và con cái, thiếp cũng chấp nhận theo sự bố thí của chàng.
- Nàng làm được như vậy là rất tốt.
Thái tử cùng vợ và hai con đến từ biệt mẫu hậu và thưa:
- Xin mẫu hậu khuyên can phụ vương, hãy dùng chính pháp để trị nước, chớ nghe theo tà đạo để gây oan cho muôn dân.
Nghe lời thái tử từ biệt, mẫu hậu cảm động, đau buồn, liền bảo người hầu:
- Thân ta như đá, tâm như sắt cứng, trọn đời phụng thờ đại vương chưa từng có lỗi. Nay chỉ có một đứạ con, lại bỏ ta ra đi, lòng ta sao không tan nát cho được!
Đỉnh lễ phụ vương và mẫu hậu xong, thái tử cùng vợ và hai con lên đường.
Hai vạn phu nhân tặng thái tử một chuỗi trân châu. Bốn nghìn đại thần làm ngọc bảy báu dâng cho thái tử. Thái tử từ cung đi ra ngoài thành, bố thí hết những thứ ấy cho mọi người. Già, trẻ trong nước đến mấy nghìn vạn người tiễn đưa thái tử. Ai nhìn thấy cũng đều rơi lệ thương tiếc.

Phần 4

Thái tử cùng vợ và hai con lên xe, tự đánh ngựa đi. Cách thành đã xa, dừng nghỉ dưới cây thì có bà-la-môn đến xin ngựa, thái tử liền mở xe, dắt ngựa cho ông ta. Bồng hai con lên xe, thái tử kéo xe, còn vợ thì đẩy. Vừa đi được một đoạn, lại có bà-la-môn đến xin xe, thái tử đưa xe cho ông ta. Đi thêm một đoạn, lại có bà-la-môn đến. Thái tử nói:
- Ta không tiếc thứ gì, nhưng của cải đều hết sạch.
Bà-la-môn nói:
- Nếu không còn thứ gì thì cho tôi chiếc áo trên thân ngài.
Lập tức, thái tử cởi áo cho ông ta, rồi mặc áo cũ. Đi một đoạn nữa, lại gặp bà-la-môn đến xin. Thái tử lấy y phục của vợ cho ông ta. Đi tiếp một đoạn đường, lại gặp bà-la-môn đến xin, thái tử lấy y phục của hai con cho ông ta.
Sau khi bố thí tất cả ngựa, xe, của cải, y phục, tâm không mảy may hối tiếc, thái tử cõng con trai, công chúa cõng con gái, cùng nhau đi bộ, thẳng tiến vào núi.
Núi Đàn-đặc cách nước Diệp-ba hơn sáu nghìn dặm. Đi đã khá xa, thái tử đến một cái đầm, đói khát khốn khổ. Đế Thích ở cung trời Đao-lợi hóa làm thành quách ngay giữa đầm trống, ca múa, y phục, thức ăn đầy đủ mọi thứ. Trong thành có người ra nghinh đón, mời thái tử lưu lại nơi này và cùng ăn uống, vui chơi.
Vợ hỏi thái tử:
- Chúng ta đi đường vất vả, có thể nghỉ ở đây được không?
Thái tử đáp:
- Phụ vương đày ta đến núi Đàn-đặc, nếu chúng ta ở lại đây thì trái lệnh phụ vương, chẳng phải là người con hiếu.
Thái tử ra khỏi thành, quay lại nhìn thì không thấy thành nữa. Họ tiếp tục đến núi Đàn-đặc, tại chân núi có dòng suối sâu, không qua được.
Người vợ nói:
- Chùng ta nên ở lại đây, đợi nước rút rồi qua.
Thái tử nói:
- Phụ vương đày ta đến núi Đàn-đặc, nếu chúng ta ở lại đây thì trái lệnh phụ vương.
Bấy giờ, thái tử khởi tâm từ, trong suối hiện lên ngọn núi chặn ngang dòng nước, thái tử cùng vợ vén y phục lội qua. Lên bờ, thái tử nghĩ: ‘Nước sẽ tràn ngập, giết chết dân chúng và loài vật’. Thái tử quay lại bảo dòng suối:
- Ngươi hãy chảy lại như cũ, nếu có người muốn đến chỗ ta thì để cho họ qua._ Thái tử vừa nói xong, dòng suối trở lại như cũ.
Đến núi Đàn-đặc, nhìn thấy núi rừng cao chót vót, cây cối tốt tươi, trăm loài chim hót vang, suối nguồn mát mẻ, nước trong quả ngọt, thái tử nói với vợ:
- Nàng hãy nhìn kìa, trong núi này cũng có người học đạo.
Thái tử vào núi, cầm thú đều mừng rỡ, chạy đến nghinh đón. Trên núi có vị đạo nhân tên là A-châu-đà đã năm trăm tuổi, đức độ cao vời. Thái tử làm lễ và hỏi:
- Nay trong núi này có biết bao nhiêu là trái ngon, nước ngọt, ta có thể ở đây được không?
A-châu-đà đáp:
- Núi này là vùng đất tốt lành, ông nên ở lại đây. Núi này là chốn thanh tinh, tại sao ông dẫn theo vợ con mà muốn học đạo?
Thái tử chưa trả lời, thì Mạn-để hỏi đạo nhân:
- Ngài tu đạo ở đây bao nhiêu năm rồi?
Đạo nhân nói:
- Ta ở núi này đã bốn năm trăm năm.
Mạn-để hỏi:
- Người còn chấp ngã thì khi nào mới đắc đạo?
Đạo nhân đáp:
- Tôi thật không biết việc này.
Thái tử hỏi đạo nhân:
- Ông có nghe thái tử Tu-đại-noa, con vua nước Diệp-ba không?
- Tôi đã từng nghe, nhưng chưa gặp.
- Ta chính là thái tử Tu-đại-noa.
- Ngài muốn cầu những gì?
- Tôi muốn cầu pháp Ma-ha-diễn.
- Công đức của thái tử như thế, chẳng bao lâu sẽ được pháp Ma-ha-diễn. Khi ngài đắc đạo Vô thương, tôi sẽ làm đệ tử thần thông bậc nhất.
Đạo nhân liền chỉ chỗ ở, thái tử theo phép tắc của đạo nhân, búi tóc, uống nước suối, ăn trái cây, dựng lều cỏ, nam nữ ở riêng. Lúc ấy đứa con trai tên Da-lợi đã bảy tuổi, mặc áo cỏ đi theo cha; con gái tên Kế-noa-diên được sáu tuổi, mặc áo da nai đi theo mẹ.
Cầm thú trong núi vui mừng, đều nương nhờ thái tử. Hồ khô liền phun nước, cây héo trổ hoa, các loài trùng độc ẩn mất, các loại cây có trái sum suê. Hai người con của thái tử thường ra bờ suối, chơi đùa với muôn thú.
Khi ấy, nước Cưu-lưu có một bà-la-môn nghèo khổ, bốn mươi tuổi mới lấy vợ. Vợ ông rất xinh đẹp, còn ông có mười hai điểm xấu giống như quỉ. Vợ ông nhìn thấy chán ghét, nguyền rủa cho mau chết.
Một hôm, vợ đi múc nước, giữa đường gặp các thanh niên cười nhạo chồng cô. Vợ đem nước về, nói với người chồng:
- Vừa đi lấy nước, thiếp bị bọn thanh niên trêu chọc. Chàng phải tìm một nô tì giúp việc để thiếp không phải đi lấy nước, không bị ai trêu chọc.
Người chồng nói:
- Nhà ta nghèo khó, làm sao mướn được nô tì?
Người vợ nói:
- Nếu chàng không tìm được nô tì thì thiếp sẽ ra đi, không ở chung nữa. Thiếp từng nghe thái tử Tu-đại-noa vì bố thí quá mức, nên bị phụ vương đày vào núi Đàn-đặc. Thái tử có một trai và một gái. Chàng có thể đến đó xin thử thế nào!
Nghe vậy, bà-la-môn vào núi Đàn-đặc, đến bên bờ suối lớn, vì chỉ nghĩ đến thái tử nên liền qua được. Đi vào núi, bà-la-môn gặp thợ săn và hỏi chỗ ở của thái tử:
Theo sự chỉ dẫn của thợ săn, bà-la-môn lần tìm đến chỗ ở của thái tử. Từ xa nhìn thấy bà-la-môn, thái tử vô cùng vui sướng, ra đón tiếp, thi lễ, thăm hỏi ân cần:
- Ông từ đâu đến?
Bà-la-môn nói:
- Tôi là người nước Cưu-lưu, từ xa đến đây. Từ lâu nghe thái tử thích bố thí, nay tôi muốn xin một điều.
Thái tử đáp:
- Ta không luyến tiếc gì, nhưng của cải đã ban phát hết, không còn gì để cho ông.
Bà-la-môn nói:
- Nếu thái tử không còn vật nào, thì hãy cho tôi hai đứa bé để tôi sai bảo.
Bà-la-môn nói như vậy đến ba lần, thái tử nói:
- Ông cố ý từ xa đến đây xin, lẽ nào ta không cho?
Khi ấy, hai đứa bé đang chơi đùa, thái tử gọi về bảo:
- Bà-la-môn này từ xa đến xin hai con, cha đồng ý cho rồi, các con hãy đi theo ông ta.
Thái tử dắt hai đứa bé trao cho bà-la-môn, khiển đại địa chấn động. Hai đứa bé chưa chịu đi, đến trước cha, quì xuống thưa:
- Đời trước chúng con tạo tội gì mà nay gặp phải cảnh khổ này? Chúng con là dòng dõi vua chúa mà lại làm nô tì. Chúng con xin sám hối với cha, nhờ nhân duyên này, tội diệt phúc sinh, đời đời không còn lâm vào khổ nạn này nữa.

Phần 5

Thái tử bảo:
- Chúng sinh ân ái đều phải biệt li. Vạn vật vô thường, đâu thể giữ gìn. Khi đắc đạo Vô thượng, cha sẽ độ các con.
Hai người con thưa cha:
- Xin cha từ biệt mẹ thay chúng con. Từ nay mãi mãi xa cách, chúng con ân hận không được gặp mẹ. Đời trước chúng con tạo tội gì mà nay gặp phải cảnh khổ này? Chắc mẹ sẽ đau đớn buồn lo lắm, vì mất con.
Bà-la-môn nói:
- Tôi đã già yếu, nếu chúng nó sẽ bỏ tôi mà chạy đến chỗ mẹ chúng, tôi phải làm thế nào? Xin ngài hãy trói chúng giao cho tôi.
Thái tử kéo tay hai đứa bé ra sau lưng để bà-la-môn trói lại. Gã trói chúng chung với nhau, rồi nắm đầu dây. Hai đứa bé không chịu đi, gã lấy roi đánh, máu chảy xuống đất. Thấy con như vậy, thái tử động lòng rơi lệ, khiến đại địa chấn động. Thái tử và các loài cầm thú tiễn hai đứa bé đi, đợi khuất bóng mới trở về. Các loài cầm thú theo thái tử trở lại chỗ hai đứa bé thường chơi đùa, kêu gào thảm thiết.
Giữa đường, bé trai quấn dây vào cây, không chịu đi theo, mong đợi mẹ đến cứu. Bà-la-môn lấy roi đánh, hai đứa trẻ nói:
- Ông đừng đánh nữa, chúng tôi sẽ đi!
Chúng ngước lên trời kêu cứu:
- Hỡi thần núi, thần cây, hãy thương xót chúng con! Nay chúng con không gặp được mẹ để từ biệt. Mẹ con đang hái trái cây, hãy nói bà mau đến cho chúng con gặp mặt.
Đang ở trong núi, bỗng chân trái ngứa ngáy, mắt phải nháy liên tục, hai vú tuôn sữa, người mẹ suy nghĩ: ‘Trước giờ, ta chưa từng có điềm lạ này, trái cây để làm gì. Ta nên trở về gặp hai con, chắc chúng đang gặp chuyện chẳng lành’. Thế là công chúa vất hết trái cây, vội vã chạy về.
Biết thái tử đem con cho người, sợ người vợ làm hỏng tâm thiện của ngài, trời Đế Thích hóa thành sư tử ngồi chặn đường. Công chúa nói với sư tử:
- Xin hãy tránh đường cho ta qua.
Biết bà-la-môn đã đi xa, sư tử tránh đường cho công chúa. Công chúa trở về, thấy thái tử ngồi một mình, chẳng thấy hai con, vội vào lều cỏ tìm, nhưng không thấy. Công chúa đến bên thái tử và hỏi:
- Hai con đang ở đâu?
Thái tử không đáp.
- Hay là chàng đem con cho ai rồi? Chàng hãy mau nói chúng đang ở đâu, đừng làm cho thiếp phải lo sợ.
Công chúa hỏi đến ba lần như thế, thái tử vẫn im lặng. Đau khổ cùng tột, công chúa thốt lên:
- Sự im lặng của chàng càng làm cho lòng thiếp hoảng loạn.
Thái tử nói:
- Có bà-la-môn ở nước Cưu-lưu đến xin hai con, ta đã cho ông ta rồi!
Nghe vậy, công chúa bị kích động mạnh, ngã quị xuống đất như núi Thái sụp đổ, lăn lộn, khóc lóc, không thể kềm được.
Thái tử nói:
- Đừng khóc nữa! Nàng có biết, vào thời Đức Phật Đề-hòa-kiệt-la trong quá khứ, ta đã phát nguyện như thế nào không? Lúc ấy, ta làm con trai của bà-la-môn, tên là Tì-đa-vệ. Nàng làm con gái của bà-la-môn, tên là Tu-la-đà. Nàng có bảy cành hoa, ta đem năm trăm đồng mua năm cành hoa của nàng để cúng dường Phật. Nàng gửi ta hai cành để dâng lên Phật và cầu xin: ‘Mong cho tôi đời sau thường làm vợ của chàng’. Khi ấy, ta đưa ra điều kiện: ‘Nếu muốn làm vợ tôi thì phải chiều ý tôi, bố thí không trái ý người. Chỉ trừ cha mẹ, còn tất cả đều bố thí theo ý nguyện của tôi’. Nàng đã đồng ý nhự vậy. Nay ta bố thí con, sao nàng lại làm rối loạn tâm thành của ta?
Công chúa nghe lời thái tử, tâm ý tỏ ngộ, nhớ lại nhân duyên đời trước, liền thuận theo tâm bố thí của thái tử để giúp sớm thành tựu sở nguyện.
Thấy thái tử bố thí như vậy, Đế Thích xuống thử xem thái tử cầu điều gì. Thế là, Đê Thích hóa thành bà-la-môn cũng có mười hai điểm xấu, đến trước thái tử và thưa:
- Tôi từng nghe thái tử thích bố thí, không trái ý người, nên đến đây xin vợ của ngài.
Thái tử đáp:
- Tốt lắm! Được!
Công chúa nói:
- Nay chàng đem thiếp cho người, thì còn ai đâu để hầu hạ?
Thái tử đáp:
- Nếu không ban nàng cho người thì làm sao thành tựu đạo Vô thượng bình đẳng?
Thái tử liền dắt vợ trao cho ông ta. Trời Đế Thích biết thái tử bố thí không mảy may hối tiếc, thế là chư thiên ca ngợi, trời đất chấn động. Khi ấy, bà-la-môn dắt công chúa đi được bảy bước thì quay lại gởi cho thái tử, dặn thái tử đừng trao cho ai.
Thái tử hỏi:
- Vì sao ông không nhận?
Bà-la-môn đáp:
- Ta chẳng phải bà-la-môn, ta là trời Đế Thích đến đây thử xem ngài muốn cầu việc gì?
Bấy giờ, trời Đế Thích hiện lại nguyên hình, công chúa liền thi lễ và xin ba điều: một là khiến cho bà-la-môn đem hai đứa bé bán vào nước tôi, hai là khiến cho hai đứa bé không bị đói khát, ba là mong cho tôi và thái tử sớm trở về nước.
Trời Đế Thích nói:
- Công chúa sẽ được toại nguyện.
Thái tử nói:
- Nguyện giúp cho chúng sinh đều được giải thoát, không còn chịu khổ sinh, già, bệnh, chết.
Đế Thích nói:
- Lành thay! Điều nguyện này cao quí, thật là tối thượng, nhưng vượt ngoài khả năng của tôi.
Nói xong, Đế Thích biến mất.
Lúc này, bà-la-môn nước Câu-lưu dắt hai đứa bé về nhà, thì bị vợ quở mắng:
- Sao ông nhẫn tâm dắt hai đứa bé này về. Chúng thuộc dòng dõi vua chúa, mà ông đánh đập không thương xót, khiến chúng bị thương tích, máu mủ đầy mình. Ông mau đem bán chúng, kiếm đứa khác cho tôi.
Bà-la-môn làm theo lời vợ, dẫn hai đứa bé đi bán. Đế Thích ra chợ nói:
- Hai đứa bé này quí lắm, không ai có thể mua được.
Bà-la-môn đem chúng đến nước Diệp-ba. Quần thần và nhân dân trong nước biết hai đứa bé này là con của thái tử, là cháu của vua, nên đều buồn thương. Các quan hỏi bà-la-môn:
- Ông có hai đứa bé này từ đâu vậy?
Bà-la-môn đáp:
- Tôi tự xin được.
Có người muốn đoạt lấy hai đứa bé, nhưng có vị trưởng giả can ngăn:
- Đây là tâm bố thí của thái tử, nên đem đến đây. Nêu nay chúng ta đoạt lại tức làm trái ý thái tử, chi bằng chúng ta tâu lên hoàng thượng, nếu ngài nghe biết sẽ chuộc lại.
Các quan vào tâu vua. Nghe tin, vua vô cùng kinh ngạc, cho gọi bà-la-môn dắt hai đứa bé vào cung. Vua cùng phu nhân và các thể nữ từ xa nhìn thấy hai đứa bé, ai cũng nghẹn ngào. Vua hỏi bà-la-môn:
- Từ đâu mà ngươi có hai đứa bé này?

Phần 6

Bà-la-môn tâu:
- Thần xin thái tử.
Vua cho gọi hai cháu đến, muốn ôm chầm lấy chúng, nhưng chúng bật khóc, không cho ôm. Vua hỏi bà-la-môn:
- Ông bán bao nhiêu?
Bà-la-môn chưa kịp trả lời thì bé trai tâu:
- Con trai trị giá một nghìn đồng và một trăm con bò cái, con gái trị giá hai nghìn đồng và hai trăm con bò cái.
Vua hỏi:
- Thông thường con trai quí hơn con gái, sao nay con trai giá rẻ hơn con gái?
Bé trai thưa:
- Thể nữ ở hậu cung không phải là quyến thuộc của hoàng thượng, hoặc thuộc dòng dõi thấp hèn, hoặc là kẻ nô tì, miễn làm vừa lòng thì được ngài quí chuộng. Ngài chỉ có một hoàng nam mà lại đày vào rừng sâu, chẳng nhớ nghĩ đến. Như vậy rõ ràng, con trai giá rẻ hơn con gái.
Nghe cháu nói, vua vô cùng đau xót, rơi lệ than van:
- Ta đã sai lầm lớn rồi! Nhưng vì sao không cho ta ôm, các cháu giận ta sao? Hay sợ bà-la-môn?
Bé trai thưa:
- Chúng cháu không dám giận hoàng thượng, cũng không sợ bà-la-môn. Chúng cháu vốn là cháu của hoàng thượng, nhưng nay lại làm thân phận nô tì, nên đâu dám để hoàng thượng ôm.
Nghe cháu nói vậy, vua càng đau xót hơn, trả tiền cho bà-la-môn như giá đã định, rồi gọi hai bé đên. Hai cháu chạy đến, vua ôm chúng vào lòng, lấy tay xoa đầu và hỏi:
- Cha các cháu sống trong núi ăn mặc thế nào?
Nghe bé trai kể đầy đủ, vua sai sứ giả mau đến
đón thái tử về. Vâng lệnh vua, sứ giả vào núi, tuyên đọc thánh chỉ. Thái tử nói:
- Phụ vương đày ta vào núi mười hai năm, nay chỉ còn một năm, mãn hạn ta sẽ trở về.
Sứ giả trở về tâu, vua đích thân viết thư cho thái tử: ‘Con là người có trí! Việc đã qua nên chấp nhận việc sắp đến cũng nên chấp nhận, sao lại giận phụ vương mà không chịu về?’.
Thái tử nhận thư, cúi đầu đỉnh lễ, đi vòng quanh bảy vòng rồi mở ra xem. Hay tin thái tử sắp trở về cung, cầm thú trong rừng đau buồn khôn xiết, lăn lộn, kêu gào thống thiết; khe suối cạn nước, thú cái khô sữa, chim chóc kêu bi thương, vì từ nay vĩnh biệt thái tử.
Nghe tin thái tử cùng vợ trở về hoàng cung, vua nước địch sai sứ đóng yên vàng cho voi trắng, lấy bát vàng đựng lúa bạc, bát bạc đựng lúa vàng, đón đường thái tử xin trả lại và sám hối lỗi xưa:
- Trước kia, chúng tôi vì mê muội mà xin voi báu này, khiến ngài bị phụ vương đày trong núi sâu. Nay nghe tin ngài trở về, chúng tôi rất vui mừng, xin trả lại voi trắng. Mong ngài thương xót nhận lấy để chúng tôi chuộc lại lỗi xưa.
Thái tử nói:
- Ví như có người dọn thức ăn ngon cho người khác, họ ăn rồi lại nhả ra, thức ăn đó không còn hương vị thanh khiết, có thể ăn lại được không? Nay sự bố thí của ta cũng như thức ăn đã nhả ra kia, nên ta quyết không nhận lại. Các ông hãy cưỡi voi trở về đi, cho ta gửi lời cảm tạ và lời chúc sức khỏe quốc vương của các vị.
Sứ giả cưỡi voi về nước, tâu với vua như thế. Nhờ hạnh bố thí voi của thái tử mà vua nước địch trở thành nhân đức. Từ vua quan đến nhân dân đều phát tâm Vô thượng bình đẳng.
Nhà vua cưỡi voi ra đón thái tử. Thái tử vội đến trước cúi đầu, thi lễ rồi theo vua cha về cung. Nhân dân cả nước ai cũng vui mừng, rải hoa, đốt hương chúc mừng thái tử. Thái tử vào hậu cung, cúi đầu thi lễ, Vấn an mẫu hậu. Khi ấy, vua giao kho báu cho thái tử bố thí tùy ý. Thái tử bố thí nhiều hơn xưa và không ngừng cho đến khi thành Phật.
Đức Phật bảo A-nan:
- Đời trước Ta thực hành hạnh bố thí như vậy. Thái tử Tu-đại-noa chính là Ta; phụ vương thuở ấy, nay là vua Duyệt-đầu-đàn cha Ta; mẫu hậu lúc đó, nay là hoàng hậu Ma-da mẹ Ta; công chúa Mạn-để nay là Cù-di; đạo nhân A-châu-đà trong núi, nay là Mục-kiền-liên; trời Đế Thích nay là Xá-lợi-phất; thợ săn nay là A-nan; bé trai Da-lợi nay là La-vân con Ta; bé gái Kế-noa-diên nay là a-la-hán mẹ của Mạt-lợi; bà-la-môn xin hai đứa bé nay là Điều-đạt; vợ của bà-la-môn nay là Chiên-già-na-ma. Ta từng siêng năng khổ hạnh như vậy trong vô lượng kiếp”.
85.1.5. Bố thí giáo pháp
* Lời bàn
Ở đây chỉ trình bày sự hơn kém giữa tài thí và pháp thí.
Luận Đại trí độ ghi: ‘‘Đức Phật dạy:
- Pháp thí là cách bố thí cao nhất trong các cách bố thí. Vì sao? Vì tài thí có thể tính lường, pháp thí không thể tính lường. Tài thí được phúc báo cõi Dục, pháp thí được phúc báo vượt ngoài ba cõi. Tài thí không thể đoạn trừ lậu hoặc, pháp thí dứt sạch lậu hoặc, lên bờ giải thoát. Tài thí chỉ được phúc báo cõi trời, cõi người; pháp thí thì cảm phúc báo ba thừa. Tài thí, kẻ ngu, người trí đều làm được; pháp thí chỉ hạn cuộc nơi người trí. Tài thí, chỉ có người thí được phúc, Quyển 80
pháp thí lợi ích cho cả người thí và người nhận. Tài thí, người ngu và súc sinh đều có thể tiếp nhận, pháp thí chỉ hạn cuộc nơi người trí. Tài thí chỉ lợi ích cho thân, pháp thí lợi ích cho tâm. Tài thí làm cho lòng tham tăng trưởng, pháp thí dứt trừ ba độc”,
Kinh Đại tập ghi: “Tuy bố thí thật nhiều của báu cũng không bằng chí tâm đọc tụng, thụ trì một bài kệ. Pháp thí thù thắng nhất, hơn cả thức ăn uống”.
Kinh Vị tằng hữu ghi: “Trời Đế Thích hỏi dã can:
- Bố thí thức ăn và bố thí giáo pháp có công đức thế nào? Xin nói cho tôi biết.
Dã can đáp:
- Bố thí thức ăn uống chỉ nuôi sống thân mạng trong một ngày. Bố thí tài vật quí báu giúp thoát cảnh nghèo khổ trong một đời, nhưng tăng thêm sự trói buộc. Thuyết pháp giáo hóa là pháp thí, có thể khiến chúng sinh vượt khỏi con đường thế gian”.
Luận Đại trượng phu ghi: “Tài thí, tất cả mọi người đều có thể thực hiện; pháp thí, chỉ người có lòng đại bi mới làm được. Tài thí trừ được nỗi khổ về thân cho chúng sinh, pháp thí trừ được bệnh khổ về tâm cho chúng sinh. Đối với người nhiều tham ái thì ban cho tài vật; người nhiều ngu si thì ban cho giáo pháp. Người bố thí tài vật được tiền tài vô tận, người bố thí giáo pháp được trí tuệ vô biên. Người bố thí tài vật, thân được an vui; người bố thí giáo pháp, tâm được an lạc. Người bố thí tài vật được chúng sinh yêu mến, người bố thí giáo pháp được chúng sinh kính trọng. Người bố thí tài vật được người ngu ưa thích, người bố thí giáo pháp được người trí mến mộ. Người bố thí tài vật đem lại niềm vui cho chúng sinh trong đời hiện tại, người bố thí giáo pháp đem lại niềm vui ở cõi trời và niết-bàn. Như bài kệ nói:
Trí Phật giữa hư không
Mây đại bi giăng kín
Pháp thí như mưa lành
Tràn đầy ao ấm, giới.
Bốn nhiếp là phương tiện
Nhân an lạc giải thoát
Hành trì bát chính đạo
Sẽ đắc quả Niết-bàn.
Kinh Nguyệt đăng tam-muội ghi" “Đức Phật dạy:
- Nếu thực hành pháp thí, bồ-tát sẽ được mười điều lợi ích:
1. Dứt trừ các việc ác.
2. Thường làm các điều lành.

Phần 7

3. An trụ trong pháp của bậc hiền thiện.
4. Thanh tịnh cõi-nước Phật.
5. Hướng đến Đạo tràng.
6. Xả bỏ điều ham muốn.
7. Chế ngự được phiền não.
8. Ban phúc đức cho các chúng sinh.
9. Thường khởi tâm từ đối với chúng sinh.
10. Thấy đạo, được an vui”.
Luận Bồ-tát địa trì ghi: “Nếu bồ-tát biết người kia tà kiến, muốn tìm khuyết điểm của giáo pháp, thì không nên trao giáo pháp, không ban cho kinh sách. Nếu người tham của, buôn bán kinh sách, cũng không nên trao giáo pháp. Nếu người có kinh sách lại cất giấu, cũng không nên trao giáo pháp. Nếu chẳng phải nghĩa lí mà người kia cần hiểu, cũng không nên trao giáo pháp. Nếu đúng là nghĩa lí mà người kia cần hiểu và bản thân cũng đã hiểu kinh này, thì bồ-tát tùy theo sở thích của họ mà trao cho. Nếu họ vẫn chưa hiểu nghĩa lí, thì nên khuyên họ tự tu học.
Lại nữa, nếu biết người khác có những kinh sách như thế, bồ-tát nên chỉ cho mọi người biết, hoặc biên chép rồi trao cho họ. Bồ-tát nên quán xét tâm mình, nếu có chút tâm xẻn pháp, thì nên lấy kinh trao cho người. Vì pháp thí, Ta thà dùng pháp thí cho những người hiện đời ngu si, câm ngọng. Vì trừ phiền não, Ta còn phải bố thí như thế, huống gì làm phương tiện trí tuệ cho đời sau!”.
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Nếu có tì-kheo, tì-kheo ni, ưu-bà-tăc, ưu-bà-di nào đầy đủ trì giới, bố thí, đa văn, trí tuệ, có khả năng giáo hóa người khác; hoặc đưa giấy mực bảo người biên chép; hoặc tự mình biên chép kinh sách của Phật, rồi bố thí cho người để đọc tụng, thì gọi là bố thí pháp. Người bố thí như vậy, đời sau sinh lên cõi trời, được thân hình xinh đẹp. Vì sao? Vì chúng sinh nghe pháp, dứt trừ tâm sân, nên đời sau được thân hình xinh đẹp. Chúng sinh nghe pháp, tâm từ mở rộng, không giết hại chúng sinh, nên đời sau được thọ mạng lâu dài. Chúng sinh nghe pháp, không trộm tài vật của người, nên đời sau có nhiều châu báu, của cải. Chúng sinh nghe pháp, phát tâm hoan hỉ bố thí, nên đời sau thân được khỏe mạnh. Chúng sinh nghe pháp, không còn buông lung, nên đời sau thân được an ổn. Chúng sinh nghe pháp, trừ bỏ tâm sân si, nên đời sau được biện tài vô ngại. Chúng sinh nghe pháp, lòng tin kiên cố, nên đời sau được tín tâm vững chắc.
Tương tự, đối với trì giới, bố thí, đa văn, trí tuệ cũng như vậy. Thế nên biết, bố thí giáo pháp thù thắng hơn bố thí tài vật”.
Hỏi: Đã biết bố thí giáo pháp thù thắng hơn bố thí tài vật, vậy chúng sinh thời nay chỉ bố thí giáo pháp, không chịu bố thí tài vật, không biết có được chăng?
Đáp: Vì không hiểu rõ ý nghĩa của việc bố thí tài vât, nên chúng sinh bố thí với tâm si mê, vọng cầu phúc báo tốt đẹp về vật chất của cõi trời người. Vì sợ chúng sinh bố thí như thế sẽ rơi vào ba đường khổ, không thành tựu đạo giải thoát, nên Đức Phật ân cần ca ngợi pháp thí để chúng sinh hiểu rõ thật thể của người bố thí, người nhận thí và vật bố thí đều không mà bố thí tài vật, ngõ hầu thành tựu quả vị Bồ-đề niết-bàn thù thắng. Các pháp còn lại trong sáu độ muôn hạnh như trì giới, nhẫn nhục... đều nhờ trí tuệ dẫn dắt mà thành tựu viên mãn.
Luận Đại trí độ ghi: “Trong sáu độ, năm độ trước giống như người mù, độ thứ sáu là trí tuệ như người sáng mắt. Nếu không có trí tuệ dẫn dắt mà hành trì năm độ trước, sẽ rơi vào đường khổ, không thể giải thoát. Nếu nghe nói bố thí giáo pháp thù thắng hơn bố thí tài vật, người ngu không hiểu, liền bo bo giữ của, chỉ thích đọc tụng kinh điển. Nếu vậy, không bằng người hiểu biết, chỉ bố thí một đồng, vẫn tốt hơn người si mê đọc tụng trăm nghìn vạn quyển kinh điển.
Vì thế, Đức Như Lai thuyết pháp, quí ở chỗ chúng sinh hiểu và thực hành. Nếu chỉ hiểu mà không thực hành thì đó là hiểu suông. Nếu chỉ thực hành mà không hiểu thì thực hành sai lầm. Cho nên, cần phải đầy đủ hiểu và hành thì mới đạt đến bờ giải thoát.
Kinh Bồ-tát tạng ghi: “Nên biết, bồ-tát ma-ha-tát có đủ bốn nhiếp pháp, nên lúc nào cũng nhiếp phục chúng sính. Bốn nhiếp pháp là bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.
Bố thí là ban phát tiền tài và ban bố giáo pháp. Ái ngữ là đối với tất cả người đến cầu xin, hoặc thích nghe pháp, bồ-tát đều dùng lời nhu hòa, dễ nghe để khuyên bảo, dẫn dụ họ. Lợi hành là có thể thỏa mãn ý muốn của mình và người. Đồng sự là tùy theo trí tuệ và năng lực của mình mà diễn nói cho người nghe, mong nhiếp thụ và đưa tất cà chúng sinh an trụ trong trí tuệ Phật pháp.
Bố thí pháp là diễn nói cho người những pháp đã được nghe nói.
Ái ngữ là dùng tâm không ô nhiễm để phân biệt giảng giải.
Lợi hành là dạy người thụ trì, đọc tụng kinh sách, cho đến thuyết pháp không biết chán mỏi.
Đồng sự là chẳng lìa tâm Nhất thiết trí mà đưa chúng sinh an trụ trong chính pháp.
Vì vậy, lúc nào bồ-tát cũng thực hành bố thí pháp. Nếu mình không có tài vật thì vui theo sự bố thí của người, nếu mình có tài vật thì nên cúng dường người trí; như vậy sẽ được phúc báo thông minh”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Bấy giờ, các tì-kheo đều nghi: ‘Không biết tôn giả A-nan đời trước tu hạnh gì mà nay được tổng trì, nghe Đức Phật nói không quên một lời’. Thế là, các vị cùng đến chỗ Phật và thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! Hiền giả A-nan đời trước tu phúc gì mà nay được vô lượng tổng trì như vậy? Kính mong Ngài chỉ dạy cho chúng con được rõ.
Đức Phật bảo:
- Này các tì-kheo! Vào đời quá khứ a-tăng-kì kiếp, có vị tì-kheo nuôi một sa-di, luôn rất nghiêm khắc, bảo siêng năng tụng kinh. Đối với thời khóa hằng ngày, nếu sa-di tụng đủ thì tì-kheo vui vẻ, còn tụng không đủ thỉ sa-di bị tì-kheo quở trách. Vì thế, sa-di lúc nào cũng lo buồn, vì tụng kinh đủ thì không có thức ăn. Hôm nào đi khất thực được thức ăn về sớm thì tụng kinh đủ, còn đi khất thực về trễ, tụng kinh không đủ thì bị quở trách. Thế nên, sa-di buồn rầu, vừa đi vừa khóc.
Khi ấy, có trưởng giả nhìn thấy sa-di khóc liền đến hỏi:
- Vì sao chú buồn khóc vậy?
Sa-di đáp:
- Thưa trưởng giả! Thầy tôi rất nghiêm khắc, bảo tôi tụng kinh theo thời khóa hàng ngày, nếu tụng đủ thì thầy vui vẻ, còn tụng không đủ thì bị thầy la rầy. Hôm nào tôi đi khất thực về sớm thì tụng kinh đủ, còn về trễ, tụng kinh không đủ thì bị thầy trách; thế nên tôi lo buồn.
Trưởng giả nói:
- Từ nay trở đi, chú hãy đến nhà tôi, tôi sẽ cúng dường thức ăn để chú khỏi lo việc ăn uống, chỉ chuyên tâm siêng năng tụng kinh.
Từ khi được trưởng giả phát tâm cúng dường, sa-di chuyên tâm tinh tiến tụng kinh, đầy đủ các thời khóa hàng ngày. Nhờ vậy, cả hai thầy trò đều vui vẻ.
Đức Phật bảo:
- Này các tì-kheo! Vị thầy thuở ấy, nay chính là Phật Định Quang; sa-di lúc đó, nay chính là Ta; trưởng giả cúng dường thức ăn, nay là A-nan. Nhờ đời quá khứ tạo công đức này, nên hôm nay A-nan được tổng trì không quên sót.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục