Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 79 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)

24/12/2015

QUYỂN 79 Quyển này tiếp theo chương Mười nghiệp ác. 84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt) 84.13. NHẬN THỨC SAI LẦM 84.13.1. Lời dẫn Người mới học đạo cần phải lấy lòng tin làm đầu. Ví như người đến được núi báu, nếu không có đô...

PUCL QUYỂN 79 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
Phần 1

QUYỂN 79
Quyển này tiếp theo chương Mười nghiệp ác.
84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)

84.13. NHẬN THỨC SAI LẦM
84.13.1. Lời dẫn
Người mới học đạo cần phải lấy lòng tin làm đầu. Ví như người đến được núi báu, nếu không có đôi tay tin vững thì chẳng lấy được gì cả. Cho nên, kinh nói: “Người ngu si không biết nhân quả, vọng khởi tà kiến, phỉ báng Tam bảo và pháp tứ đế; lại cho không có họa phúc, thiện ác, cũng không có quả báo của thiện ác, không có chúng sinh thụ sinh đời này, đời sau. Những người phá pháp thiện ác như thế là đoạn mất căn lành, nhất định đọa vào địa ngục A-tì”.
84.13.2. Dấn chứng
Kinh Đại phẩm ghi: “Nếu người không tin Tam bảo, phỉ báng kinh Bát-nhã thuộc Đại thừa, sẽ đọa vào địa ngục A-tì chịu thống khổ trong trăm nghìn vạn ức năm, thoát khỏi địa ngục này rồi lại vào địa ngục khác. Nếu cõi này gặp kiếp tận thì sinh vào địa ngục ở cõi khác; cõi khác đến kiếp tận thì sinh trở lại địa ngục cõi này, xoay vần như thế, khắp cả các thế giới trong mười phương. Khi hết tội địa ngục, kẻ ấy sinh vào loài súc sinh, cũng ở khắp cả các thế giới trong mười phương. Khi hết tội súc sinh, kẻ ấy được sinh làm người, nhưng ở nơi không có Phật pháp, nghèo cùng, hèn hạ, các căn khiếm khuyết, thường ngu si, không hiểu biết, dẫu là người thông minh, nhưng khởi dị chấp cũng là tà kiến”.
Luận Thành thật ghi: “Ngu si cũng có khác nhau. Vì sao? Vì không phải tất cả người ngu si đều là bất thiện. Nếu ngu si tăng mạnh trở thành tà kiến thì gọi là bất thiện nghiệp đạo”. Cho nên, do ngu si làm tăng trưởng tà kiến, phạm tội rất nặng, nhất định đọa địa ngục A-tì. Xét về tà kiến, có nhẹ có nặng; nhẹ có thể chuyển, nặng không thể chuyển.
Kinh Bồ-tát địa trì ghi: “Tà kiến có hai loại: một, tà kiến có thể chuyển; hai, tà kiến không thể chuyển. Phỉ báng nhân quả, không tin có bậc thánh là loại tà kiến không thể chuyển. Không phải nhân mà chấp là nhân, không phải quả mà chấp là quả là loại tà kiến có thể chuyển. Thế nên, nghiệp ác là tà kiến, nghiệp thiện là chính kiến”.
Người không phỉ báng pháp tứ đế, nhưng không hiểu thánh đạo, không rõ biết lí đạo từ tâm sinh, thường tu khổ hạnh để cầu giải thoát, giống như con chó đuổi theo hòn đất mà không biết tìm người ném đá.
Luận Đại trang nghiêm ghi: “Giống như loài sư tử, lúc bị người bắn, liền đuổi theo người bắn. Còn loài chó ngu si, có người ném viên đá, liền đuổi theo viên đá mà không biết tìm người ném. Sư tử dụ cho người có trí tuệ hiểu biết, xét thấu nguồn gốc của phiền não mà diệt trừ. Con chó ngu si dụ cho ngoại đạo, dùng năm thứ lửa đốt thân mà không biết nguồn gốc của chân tâm”.
Chỉ những kẻ phàm ngu mê mờ chân lí, không biết quán xét thân tâm vốn vô ngã mà thường học tu khổ hạnh, cho đó là đạo, tức đồng với bọn ngoại đạo tu theo tà pháp, cố chấp sai lầm, trái với chân lí, tạo thành pháp ác.
Do đó, luận Đại trí độ ghi: “Tội tà kiến rất nặng, tuy có giữ giới, khiến hai nghiệp thân, miệng tốt, nhưng đều tùy thuận tâm tà kiến xấu ác.”
Đức Phật nêu ví dụ: “Như gieo hạt đắng, tuy nhờ bốn đại nuôi dưỡng lớn mạnh, nhưng quả đều có vị đắng. Người tà kiến cũng vậy, dù siêng năng trì giới, cũng trở thành pháp ác, chẳng bằng người không chấp mà thực hành bố thí dù ít. Người không chấp dễ giáo hóa, kẻ cố chấp khó hóa độ, không những tự hủy hoại mình mà còn làm tổn thương người khác”.
Luận Thành thật ghi: “Thà không tu, chứ không nên tu theo tà đạo. Nếu tu theo tà đạo, sau khi mạng chung sẽ đọa vào đường ác”.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Diêm-la vương nói bài kệ trách các tội nhân:
Ngươi ngu si, tà kiến
Bị lưới si trói buộc
Đọa vào địa ngục này
Ở trong biển khổ lớn.
Ác kiến đốt hết phúc
Làm người thấp hèn nhất
Ngươi sợ đọa địa ngục
Nhưng đó là nhà ngươi.
Nếu ai khởi tà kiến
Người ấy không trí tuệ
Tất cả nghiệp địa ngục
Do tâm oán tạo ra.
Tâm oán là bậc nhất
Oán này vô cùng ác
Oán này hay trói người
Dẫn xuống vua Diêm-la.
Đức Thế Tôn liền nói kệ:
Si như cá di-nê
Ở trong nhà tham ái
Tạo nghiệp thì vui cười
Chịu khổ lại gào khóc”.
Kinh Tu hành đạo địa có bài kệ:
“Miệng nói lời ngu si
Người đó lòng mê muội
Tâm không nghĩ điều ác
Cũng không nhớ việc thiện.
Tâm hồn thường mờ mịt
Không làm được việc gì
Như chiên nấu ngoài gió
Thức ăn không thể chín.
Huân tập ngu si nhiều
Các căn không đầy đủ
Sinh trong loài trâu, dê
Sau đó đọa địa ngục ”
Kinh Nguyệt Quang đồng tử ghi: “Bấy giờ, trưởng giả Thân Nhật nghe theo mưu kế của lục sư ngoại đạo, thỉnh Phật và chúng tăng đến nhà cúng dường. Họ bảo trưởng giả đào một cái hầm sâu năm trượng sáu ở ngay cửa ra vào, đổ than đỏ hơn nửa hầm, bên trên gác những thanh sắt nhỏ, rồi phủ một lớp đất mỏng; đồng thời, bày biện các thức ăn uống đã tẩm chất độc ở trong nhà. Chúng suy tính: ‘Nếu hầm lửa không hại được thì thức ăn có tẩm chất độc cũng đủ để hại Phật và chúng tăng. Dùng kế sách này thì lo gì Phật không chết’. Trưởng giả làm đúng theo như vậy, bọn ngoại đạo rất vui mừng.
Mọi việc sắp đặt xong, Thân Nhật đến chỗ Phật, ân cần thỉnh Ngài và thánh chúng. Đức Thế Tôn vì thương xót ông ngu si, cuồng loạn, muốn hóa độ, nên im lặng nhận lời. Thân Nhật vô cùng vui mừng và nghĩ: ‘Quả đúng như dự đoán của ta!’.
Dù chất độc nhiều như núi Tu-di, kiếp hỏa có thể thiêu rụi đại thiên thế giới, đao kiếm bén nhọn cũng không thể chạm đến một sợi lông của Phật. Nay chỉ dùng một hầm lửa nhỏ và thức ăn tẩm chất độc mà muốn hại Phật thì chẳng khác nào ruồi muỗi muốn xô ngã núi Tu-di, như cánh mối nhặng muốn che ánh sáng mặt trời, mặt trăng. Rốt cuộc chỉ tự hủy hoại mình, chi bằng sớm biết ăn năn!
Lúc này, trưởng giả bị ý xấu ác ngăn che, tâm trí mờ mịt. Đức Thế Tôn nghĩ: ‘Nay Ta nhận lời mời của Thân Nhật, nhưng không nên đến như thường ngày được’. Ngay đó, Đức Phật thị hiện thần thông làm chấn động cả mười phương, rồi cùng trăm nghìn thánh chúng và vô số rồng, thần bay trên hư không hoặc đi dưới đất, cùng lúc đến nhà làm lợi ích cho trưởng giả. Đức Phật dùng uy đức biến hầm lửa thành ao bảy báu với nước có đủ tám tính chất, các thức ăn uống có tâm chất độc đều biến thành món ăn cam lộ cõi trời. Mọi người đều rất vui mừng.
Phần 2

Thế là, bọn lục sư ngoại đạo hốt hoảng bỏ chạy, trưởng giả qui phục, cúi đầu đỉnh lễ dưới chân Phật, rồi quì gối, chắp tay thưa:
- Nay con mới biết nhờ Phật mà được tỏ ngộ!
Người đến dự hội nghe pháp âm của Phật đều
được phúc đức và thoát khổ nhiều không thể tính kể”.
Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Bấy giờ, đức Thế Tôn nói với phụ vương:
- Nhà của trưởng giả Tu-đạt ở thành Vương Xá có bà lão Tì-đê-la là người giúp việc rất siêng năng, được trưởng giả cho giữ kho tàng và quản lí tất cả mọi việc thu chi trong nhà.
Một hôm, Tu-đạt thỉnh Phật và chúng tăng đến để gia đình dâng cúng những món cần dùng. Lúc ấy, có vị tì-kheo bị bệnh đến xin nhiều thứ, khiến bà lão khởi lòng tham tiếc, bỏn xẻn, sân hận, ghét bỏ Phật, pháp, tăng. Bà lão nói:
- Trưởng giả của tôi bị phép thuật của sa-môn làm cho mê hoặc, ngu si. Họ là những kẻ ăn xin, mong cầu nhiều mà không biết chán, đâu có đạo đức gì!
Thế rồi, bà lão lập nguyện cực ác: ‘Ta nguyện đời đời không nghe đên danh từ Phật và tăng’. Lời nguyện ác ấy lan dần đến thành Vượng Xá, phu nhân Mạt-lợi nghe được, liền nói:
- Trưởng giả Tu-đạt như hoa sen xinh đẹp, ai cũng thích ngắm nhìn, sao lại có người giúp việc ác như rắn độc này?
Phu nhân cho gọi vợ của Tu-đạt đến và hỏi:
- Bà lão giúp việc nhà ngươi miệng mồm độc ác, luôn phỉ báng Phật, pháp, tăng, sao không đuổi đi?
Vợ Tu-đạt quì xuống thưa:
- Người xấu ác như Ương-quật-ma-la v.v... mà Đức Phật còn hàng phục được, huống gì bà lão này!
Nghe vậy, phu nhân vui mừng bảo:
- Ngày mai, ta thỉnh Phật vào cung cúng dường, ngươi hãy bảo bà lão ấy đến đây đúng vào giờ thụ trai.
Sáng hôm sau, trưởng giả Tu-đạt bảo bà lão mang bình đựng đầy vàng đến góp chung với vua để cúng dường Phật. Thấy bà lão đến, phu nhân suy nghĩ: ‘Người tà kiến này nếu được Phật hóa độ, ta cũng có lợi ích’.
Đến giờ, Đức Phật từ cửa chính đi vào, Nan-đà hầu bên trái, A-nan hầu bên phải, La-hầu-la đi phía sau. Vừa thấy Phật, bà lão run sợ và nói: ‘Người xấu ác này lại theo ta đến đây!’.
Nói xong, bà bỏ chạy, định chui qua lỗ chó để thoát ra ngoài. Bỗng nhiên, lỗ kia bít lại, các cửa xung quanh đều đóng kín chỉ trừ cửa chính. Bà liền dùng quạt che mặt. Đức Phật lại hiện đến đứng trước bà và khiến cho cây quạt trong suốt như tấm kiếng, không thể che mặt được. Bà quay sang đông thì thấy phía đông có Phật; quay sang tây, nam, bắc cũng đều thấy như vậy; ngẩng đầu lên thì thấy phía trên có Phật, cúi đầu xuống cũng thấy khắp đất có Phật. Bà dùng tay che mặt thì mười đầu ngón tay đều hóa thành Phật. Bà nhắm mắt lại, tâm nhãn liền mở, thấy hóa Phật trên hư không đầy khắp mười phương thế giới.
Lúc ấy, trong thành Vương Xá có năm trăm người nữ không tin Phật, gồm: hai mươi lăm người nữ thuộc giai cấp Chiên-đà-la, năm mươi người nữ thuộc giai cấp Bà-la-môn và các giai cấp khác, cùng với các cung nữ của phu nhân Mạt-lợi. Hôm nay, họ thấy đức Như Lai bay trên hư không, thị hiện vô số thân hình để giáo hóa bà lão, liền dứt hết tà kiến, cúi đầu đỉnh lễ Phật và niệm ‘Nam-mô Phật’. Vừa niệm xong, thấy hóa Phật nhiều vô số, họ liền phát tâm bồ-đề. Tuy vậy, bà lão tà kiến vẫn chưa khởi lòng tin, nhưng nhờ gặp Phật, nên diệt được tội sinh tử trong tám mươi vạn ức kiếp.
Sau đó, bà chạy nhanh về nhà thưa với trưởng giả Tu-đạt:
- Hôm nay, tôi gặp một việc rất xấu, đó là thấy sa-môn Cù-đàm ở trong cung vua, làm các trò huyễn hóa, thân như núi vàng, mắt như hoa sen xanh, phóng ánh sáng rực rỡ.
Nói xong, bà lấy trăm tấm da phủ lên chiếc lồng gỗ, rồi chui vào đó, lại lấy lụa trắng trùm kín đầu, nằm trong bóng tối.
Khi Đức Phật sắp trở về tinh xá Kì-hoàn phu nhân Mạt-lợi thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! Kính xin Ngài lưu lại để giáo hóa bà lão tà kiến, đừng trở về tinh xá!
Đức Phật bảo phu nhân Mạt-lợi:
- Bà lão này tội rất nặng, không có duyên với Ta, nhưng có nhân duyên sâu nặng với La-hầu-la.
Trở về tinh xá, Đức Phật bảo La-hầu-la đến nhà Tu-đạt, hóa độ bà lão.
Bấy giờ, La-hầu-la biến thành Chuyển luân thánh vương, một nghìn hai trăm năm mươi tì-kheo hóa làm thiên tử, cùng đến nhà Tu-đạt, biến bà lão thành ngọc nữ bảo. Chuyển luân thánh vương dùng ngọc như ý chiếu vào mặt bà lão, khiến bà thấy mình xinh đẹp như ngọc nữ, nên vô cùng vui mừng và nói:
- Các sa-môn kia chỉ khoe khoang, khoác lác, tự nói mình có đạo, nhưng chẳng có linh nghiệm gì. Bậc Chuyển luân thánh vương ra đời, làm lợi ích khắp nơi, khiến cho bà lão xấu xí như ta đây cũng trở thành ngọc nữ!
Bà lão nói xong, năm vóc sát đất đĩnh lễ Chuyển luân thánh vương. Lúc đó, vị đại thần trông coi kho tàng nói mười điều thiện của Chuyển luân vương cho bà nghe. Nghe xong, bà vô cùng vui mừng và suy nghĩ: ‘Những điều Chuyển luân thánh vương vừa nói đều đúng!’. Lập tức, bà đỉnh lễ, sám hối tội lỗi, tự thẹn, tâm ý trở nên thuần phục.
Bấy giờ, La-hầu-la và các tì-kheo trở lại hình tướng cũ. Bà lão trông thấy, liền nói: ‘Phật pháp thanh tịnh không bỏ chúng sinh, biết ta xấu ác mà vẫn hóa độ!’.
Ngay đó, bà thụ trì năm giới và đắc quả Tu-đà-hoàn. La-hầu-la dẫn bà đến chỗ Phật, bà đỉnh lễ sám hối tội lỗi trước kia. Sau đó, bà xin Phật xuất gia, chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán, bay lên hư không, thị hiện mười tám món thần biến.
Thấy vậy, vua Ba-tư-nặc và phu nhân Mạt-lợi bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Bà lão này đời trước đã gây tội gì mà nay làm thân tôi tớ, lại tạo phúc gì mà được gặp Phật và đắc đạo?
Đức Phật đáp:
- Vào thời quá khứ lâu xa, có Đức Phật Nhất Bảo Cái Đăng Vương ra đời. Sau khi Đức Phật nhập niết-bàn, vào thời tượng pháp, có một vị vua tên là Tạp Bảo Hoa Quang. Vua có người con tên là Khoái Kiến xuất gia học đạo. Cậy mình là vương tử, nên Khoái Kiến rất kiêu mạn. Khi nghe hòa thượng bổn sư nói nghĩa ‘đại không’ trong kinh Bát-nhã ba-la-mật sâu xa vi diệu, vương tử cho là sai 1ầm, là tà thuyết. Sau khi bổn sư viên tịch, vương tử nói:
- Đại hòa thượng bổn sư của tôi không có trí tuệ chỉ biết khen ngợi nghĩa ‘không’. Tôi nguyện đời sau không muốn gặp ông ấy nữa. Vị a-xà-lê của tôi có trí tuệ, biện tài, nguyện đời đời làm thiện tri thức của tôi.
Nói xong, ông dạy đồ chúng tu theo tà kiến ấy. Tuy ông ta giữ giới cấm, nhưng do phỉ báng kinh Bát-nhã là sai lầm, là tà thuyết, nên sau khi mạng chung bị đọa vào địa ngục A-tì, chịu vô lượng khổ trải qua tám mươi ức kiếp. Tội địa ngục hết, ông ấy sinh lại làm người nghèo cùng, hèn hạ, năm trăm đời bị đui, điếc, ngu si, một nghìn hai trăm đời thường làm kẻ tôi tớ.
Đức Phật bảo vua Ba-tư-nặc:
- Vị hòa thượng thuở ấy nay chính là Ta, vị a-xà-lê nay là La-hầu-la, vương tử tì-kheo nay là bà lão nàỵ, các đệ tử của vương tử nay là những người nữ tà kiến phát tâm bồ-đề”.
Kinh Tát-già Ni-kiền tử ghi: “Xưa, lúc Đức Phật còn tại thế, vua Nghiêm Xí ở thành uất-xà-diên hỏi Tát-già Ni-kiền tử:
- Nếu có người ác không tin Tam bảo, thiêu đốt chùa tháp, kinh sách, tượng Phật, bồ-tát. lại dùng lời ác độc phỉ báng: ‘Người xây chùa, in kinh, tạo tượng sẽ không có phúc đức; người cúng dường chùa tháp, kinh Phật hiện tại làm hao tổn tiền của mà tương lai không được lợi ích gì; hoặc chê bai chùa tháp, tượng Phật, bồ-tát; hoặc ngăn cấm nơi này rồi phá hoại, hoặc ép dời đi nơi khác; hoặc đập phá nhà cửa, hang động của sa-môn; hoặc chiếm đoạt tài sản của Phật, pháp, tăng như ruộng vườn, cây cối, nhà cửa, voi ngựa, xe cộ, người công quả, súc vật, y phục, thức ăn, món uống và châu báu; hoặc bắt sa-môn làm nô dịch, hoặc trưng dụng làm binh nô, buộc họ phải hoàn tục; hoặc có tâm khinh thường, bày các trò đùa giỡn; hoặc chỉ trích, chửi mắng, phỉ báng; hoặc tự tay cầm cây đánh đập; hoặc dùng mọi cách làm sa-môn bị thương tật; những người ác như thế thuộc loại chúng sinh nào?

Phần 3

Tát-già Ni-kiền tử đáp:
- Đại vương! Người ấy thuộc loại chúng sinh phạm tội ác nghịch. Đại vương nên dùng hình phạt nặng nhất để trị tội. Vì sao? Vì họ tạo tội căn bản cực nặng. Có năm tội nặng căn bản:
1. Phá hoại chùa tháp, thiêu đốt kinh tượng, lấy tài sản của Tam bảo, dù tự lấy hay bảo người lấy, hay thấy người lấy mà vui mừng.
2. Phỉ báng pháp Tam thừa, cản trở, che giấu không truyên bá.
3. Nếu có sa-môn xuất gia vì lòng tin, cạo bỏ râu tóc, thân đắp ca-sa, dù giữ giới hoặc không giữ giới cũng đều bắt giam vào ngục, gông cùm xiềng xích, đánh đập, bắt lao động nặng nhọc, trưng dụng điều động làm binh lính mà lột ca-sa, hoặc bức ép họ hoàn tục, hoặc muốn giết chết.
4. Phạm một trong năm tội nghịch.
5. Không tin có tất cả nghiệp báo thiện ác thường tạo mười điều bất thiện, không sợ quả báo đời sau, tự làm, hoặc bảo người làm, cố chấp không bỏ.
Nếu người phạm tội nặng căn bản như thế mà không tự sám hối, nhất định tất cả căn lành đều bị thiêu rụi, đọa vào địa ngục lớn, chịu khổ ở địa ngục Vô gián, vĩnh viễn không có ngày ra.
Nếu đất nước có những người ác phá hoại Tam bảo như thế, tất cả chư Phật, a-la-hán và thánh nhân đều bỏ đi, chư thiên buồn khóc, thiện thần không bảo vệ. Bấy giờ mọi người giết hại lẫn nhau, giặc cướp hoành hành khắp nơi, long vương ẩn mất, hạn hán xảy ra, mưa gió thất thường, ngũ cốc mất mùa, nhân dân đói khát, ăn nuốt lẫn nhau, xương trắng đầy đồng, bệnh dịch gia tăng, chết chóc vô số. Tất cả nhân dân thấy thế đã không biết suy xét lỗi lầm của mình, lại còn oán trời, quở trách thiện thần”.
Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Có bảy loại tội nặng, mỗi một tội có thể khiến chúng sinh rơi vào địa ngục A-tì trải qua tám vạn bốn nghìn đại kiếp:
1. Không tin nhân quả.
2. Không tin có Phật ở mười phương.
3. Đoạn mất hạt giống trí tuệ.
4. Phạm bốn tội trọng, luống uổng cơm tín thí.
5. Lạm dụng vật của tăng.
6. Cưỡng bức, phá hạnh thanh tịnh của tì-kheo
7. Làm hạnh bất tịnh với lục thân
Kinh Tiểu ngũ trược ghi: “Có năm tội nghịch khác ngoài năm tội thường biết:
1. Khinh thường cha mẹ, thờ cúng quỉ thần.
2. Ganh ghét quốc vương.
3. Xem thường người trẻ tuổi.
4. Coi nhẹ thân mạng, quí trọng tiền tài.
5. Không làm việc phúc, còn tạo tội lỗi”.
Kinh Trung A-hàm ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Nếu kẻ phàm phu ngu muội, thân, miệng, ý tạo nghiệp ác, sau khi mạng chung sẽ đọa vào địa ngục, chịu khổ vô cùng, không chút an vui.
Ví như có người phạm tội trộm, bị bắt giao cho vua xử trị. Vua liền sai người, buổi sáng đâm một trăm mũi giáo vào mình người tội, nhưng người kia vẫn sống. Đến trưa, vua lại sai đâm hai trăm mũi giáo, người kia vẫn sống. Đến chiều, vua lại sai đâm ba trăm mũi giáo, tuy toàn thân tan nát, nhưng người ấy vẫn còn sống.
Đức Phật hỏi các tì-kheo:
- Các ông nghĩ sao? Người bị mũi giáo đâm như thế có đau khổ chăng?
Các tì-kheo thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! Một mũi giáo đâm đã đau đớn rồi, huống là ba trăm mũi giáo!
Đức Phật liền đưa tay bốc một nắm đá vụn lớn bằng hạt đậu, rồi hỏi các tì-kheo:
- Đá trong tay ta so với đá ở núi Tuyết, đá nào nhiều hơn?
Các tì-kheo thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! Đá trong núi Tuyết nhiều hơn, không thể sánh được.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Nỗi khổ bị ba trăm mũi giáo đâm chỉ như nắm đá vụn này, còn nỗi khổ trong địa ngục nhiều gấp trăm nghìn vạn lần so với đá ở núi Tuyết.
Nỗi khổ trong địa ngục như thế nào? Chúng sinh đọa vào địa ngục sẽ bị ngục tốt dùng búa nung đỏ chém khắp thân thể. Trải qua trăm nghìn năm thống khổ vô cùng mà người tội vẫn không chết, đó là muốn để sống mà chịu hết quả báo ác. Người tội lại bị bắt ngồi trên giường sắt, ngục tốt dùng kềm kẹp miệng, bắt nuốt hòn sắt nóng trải qua trăm nghìn năm; lại bị bắt ngồi trên giường sắt, rót nước đồng sôi vào miệng trải qua trăm nghìn năm. Người tội lại bị bắt nằm trên đất sắt, ngục tốt dùng đinh sắt nóng đóng vào đầu người tội trải qua trăm nghìn năm. Ngục tốt lại kéo lưỡi người tội căng ra như căng da trâu, bát liếm đất bằng sắt, rồi dùng đinh đóng vào trải qua trăm nghìn năm. Ngục tốt lại kéo gân cổ người tội buộc vào xe kéo đi, trải qua trăm nghìn năm. Ngục tốt lại đốt sắt nóng, rồi bảo tội nhân đi trên đó trải qua trăm nghìn năm. Núi lửa đang cháy, ngục tốt bắt tội nhân đi trên đó, vừa đặt chân xuống máu thịt tiêu tan, nhấc chân lên thì sống lại trải qua trăm nghìn năm. Người tội lại bị chiên nấu trong vạc dầu sôi trải qua trăm nghìn năm, chịu đau khổ vô cùng, nhưng vẫn không chết, vì muốn nghiệp ác hết mới thoát được.
Chịu tội trong địa ngục xong, kẻ ấy sinh vào loài súc sinh, thường ở nơi tối tăm, ăn nuốt lẫn nhau, chịu khổ vô cùng không thể nói hết. Chịu tội trong loài súc sinh xong, kẻ ấy có thể được sinh làm người, nhưng từ loài súc sinh mà được làm người thì rất khó, giống như rùa mù gặp bông cây nổi. Giả sử được sinh làm người, kẻ ấy nghèo cùng, hèn hạ, bị người sai khiến, dung mạo xấu xí, không đủ các căn, hoặc bị chết yểu. Nếu vẫn tạo nghiệp ác thì sau khi chết sẽ sinh lại vào địa ngục, luân chuyển vô cùng, không thể nói hết.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Kẻ phàm phu ngu muội, thân, miệng, ý tạo nghiệp ác, nên phải chịu tội như thế!
Đức Phật lại bảo:
- Nếu người có trí tuệ, thân, miệng, ý tạo nghiệp thiện, sau khi mạng chung được sinh lên cõi trời, hưởng sự vui sướng như chuyển luân thánh vương đầy đủ bảy báu và bốn diệu của nhân gian.
Đức Phật lại hỏi:
- Các ông nghĩ sao? Người ấy có vui chăng?
Các tì-kheo thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! Được một vật báu và một món diệu đã vui lắm rồi, huống là được bảy báu và bốn diệu!
Đức Phật đưa tay bốc một nắm đá vụn lớn bằng hạt đậu, rồi hỏi các tì-kheo:
- Đá trong tay Ta so với đá ở núi Tuyết, đá nào nhiều hơn?
Các tì-kheo thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! Đá trong núi Tuyết nhiều, không thể ví dụ được!
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Niềm vui của Chuyển luân thánh vương bé nhỏ như nắm đá vụn này, còn niềm vui ở cõi trời lớn gấp trăm nghìn vạn lần đá trong núi Tuyết.
Niềm vui ở cõi trời như thế nào? Nếu được sinh lên cõi trời, vị ấy tùy ý hưởng thụ sáu trần, vui vẻ vô cùng không thể kể xiết. Nếu từ cõi trời sinh xuống nhân gian, thì sinh vào cung vua, hoặc dòng họ cao quí, giàu sang tột bậc, có nhiều tiền của, vật báu, tiếng tăm vang xa, tướng mạo đoan chính, được mọi người yêu mến.
Người có trí tuệ, thân, miệng, ý tạo nghiệp thiện thì được phúc báo như vậy. Nhưng đây là niềm vui hữu lậu thế gian. Nếu người tu tập căn lành, hồi hướng về đạo Bồ-đề, dù ở trong sinh tử vẫn hưởng phúc báo, cho đến khi chứng niết-bàn, phúc báo ấy cũng không hết”.
Kinh Trung A-hàm ghi: “Bấy giờ, vua Tì-tứ trong ấp Tư-hòa-đề là người giàu có tột cùng, của cải vô số, cùng với Phạm chí, cư sĩ ở Tư-hòa-đề đi về phía bắc, đến rừng Thi-nhiếp-hòa.

Phần 4

Từ xa trông thấy tôn giả Cưu-ma-la Ca-diếp, họ đến chào hỏi, rồi ngồi qua một bên. Nhà vua thưa:
- Tôi biết và cho rằng: không có đời sau, không có chúng sinh sinh ra. Tôn giả nghĩ thế nào?
Tôn giả Cưu-ma-la Ca-diếp hỏi lại:
- Mặt trời, mặt trăng này thuộc đời này hay đời sau?
Vua đáp:
- Tuy tôn giả nóỉ thế, nhưng tôi vẫn cho rằng: không có đời sau, không có chúng sinh sinh ra.
Tôn giả Ca-diếp dùng vô số thí dụ để giải thích, vua vẫn chấp chặt quan điểm của mình mà không xả bỏ. Tôn giả Ca-diếp lại bảo:
- Đại vương hãy nghe tôi nói thí dụ, người trí nghe thí dụ thì hiểu nghĩa. Như người nuôi heo, thấy trên đường có rất nhiều phân khô vô chủ, liền nghi: ‘Phân này có thể giúp nhiều heo no đủ, ta nên hốt lấy và mang về’. Thế là, người ấy làm y như vậy. Trên đường về, gặp trời mưa lớn, nước thấm qua phân, chảy xuống vấy bẩn khắp thân, nhưng người ấy vẫn vác đi, quyết không vứt bỏ. Như vậy, người ấy tự chuốc lấy nhiều điều xấu, lại bị mọi người ghét bỏ. Đại vương cũng như vậy. Nếu đại vương vì tham dục, sân hận, sợ hãi, ngu si mà bảo thủ, quyết không bỏ quan niệm ấy, thì đại vương tự chuốc lấy vô vô số điều xấu, lại bị mọi người ghét bỏ, cũng như người nuôi heo kia.
Vua Tì-tứ thưa:
- Tuy tôn giả nói thế, nhưng tôi vì tham dục, sân hận, sợ hãi, ngu si, nên vẫn quyết không bỏ quan niệm ấy.
Tôn giả Ca-diếp bảo:
- Này đại vương! Hãy nghe tôi nói thí dụ cuối cùng. Nếu đại vương hiểu thì tốt, nếu không hiểu thì tôi cũng không nói pháp nữa. Như con heo chúa dẫn đàn heo năm trăm con đi vào con đường nguy hiểm. Giữa đường, gặp một con cọp, heo chúa suy nghĩ và nói với cọp:
- Nếu muốn đấu thì hãy cùng đấu, nếu không thì nên nhường đường cho ta qua.
Nghe vậy, cọp nói:
- Ta chấp nhận đấu với ngươi, chớ không nhường đường cho ngươi qua.
Heo lại nói:
- Này cọp, hãy đợi ta mặc áo giáp của tổ phụ xong, rồi sẽ cùng đấu.
Nghe heo nói vậy, cọp nghĩ: ‘Nó chẳng phải địch thủ của ta, huống gì áo giáp của tổ phụ nó’. Thế là cọp nói với heo:
- Tùy ý ngươi!
Khi ấy, heo trở về chuồng, lăn trong đống phân, vấy nhơ khắp mình cho đến tận mắt, rồi trở lại chỗ cọp và nói:
- Ngươi muốn đấu thì hãy cùng đấu, nếu không thì nhường đường cho ta qua.
Thấy heo nhơ bẩn, cọp nghĩ: ‘Ta thường không ăn các loài trùng nhỏ vì quí tiếc hàm răng, huống gì gần con heo hôi hám này?. Nghĩ xong, cọp nói với heo:
- Ta nhường đường cho ngươi, chớ không đấu với ngươi.
Heo đi qua rồi, quay lại, nói với cọp bài kệ:
Này cọp, ngươi bốn chân
Ta cũng có bốn chân
Hãy đến đấu với ta
Vì sao sợ bỏ chạy?
Nghe vậy, cọp nói kệ trả lời:
Lông ngươi mọc dày đặc
Hèn nhất trong loài vật
Này heo, hãy cút mau
Phân thối không chịu nổi.
Lúc ấy, heo nói kệ khoe khoang:
Nước Ma-kiệt, Ương-già
Nghe ta đấu với ngươi
Hãy đến đấu với ta
Vì sao sợ bỏ chạy?
Nghe vậy, cọp lại nói kệ:
Toàn thân, lông nhơ bẩn
Làm cho ta hôi lây
Ngươi đấu muốn giành thắng
Ta nay cho ngươi thắng.
Tôn giả Ca-diếp bảo:
- Nếu đại vương vì tham dục, sân hận, sợ hãi, ngu si, nên quyết không bỏ quan niệm ấy, thì đại vương tự chuốc lấy vô số điều xấu, lại bị mọi người ghét bỏ, cũng như cọp kia để cho heo thắng.
Nghe xong, vua Tì-tứ hoan hỉ thụ trì và mong đạt được trí tuệ cao siêu.
Bài tụng về chính báo:
Sáu giặc gian, tà ngụy
Bảy thức loạn, trái chân
Phỉ báng pháp vi diệu
Vọng ngữ, lại tham, sân.
Mặc tình tạo nghiệp ác
Lời thật chảng thích nghe
Đọa vào ngục Vô gián
Muôn khổ trói buộc thân.
Bài tụng về tập báo:
Người tà kiến, ngụ si
Chịu khổ ngục A-tì
Tội hết, sinh làm người
Lại tiếp tục tà kiến.
Tà, chính vốn trái nhau
Tự tạo thành dối trá
Không sửa đổi tâm này
Chìm mãi trong địa ngục.
84.13.3. Cảm ứng
84.13.3.1. Đời Tống, Thẩm Tăng Phú: Ông người quân Ngô Hưng. Niên hiệu Đại Minh cuối cùng (465), quận này bị mất mùa, đói kém, ông đến huyện Sơn Dương xin ăn. Ban ngày Tăng Phú vào làng xin ăn, tối trở về ngủ cạnh tăng xá.
Bấy giờ, các chùa ở Sơn Dương có rất nhiều tượng Phật nhỏ bằng đồng. Tăng Phú cùng với vài người cùng làng rủ nhau trộm lấy, dần dần đựng đầy ba bốn cái rương, rồi đem về nhà đúc thành tiền. Việc này bị phát giác, Tăng Phú bị bắt giải về kinh đô. Khi lên thuyền, ông nóỉ: “Có người dùng lửa đốt tôi”. Từ đó, suốt cả ngày đêm, ông kêu gào, miệng cứ la đau đớn, không thể chịu nổi. Chưa kịp xử tội thì ông đã chết. Toàn thân đều bị cháy đen, nứt nẻ giống như bị lửa thiêu đốt.
Chu Hưởng ở quận Ngô, bạn thân của Tăng Phú, đã chứng kiến việc này.
84.13.3.2. Đời Tống, Thích Đạo Chí: Sư ở chùa Bắc Đa Bảo, từng được chúng tăng cử trông coi điện tháp. Một hôm, sư trộm rất nhiều pháp khí quí báu như tràng phan, bảo cái v.v... về sau, sư lại trộm viên ngọc giữa chặng mày tượng Phật, rồi khoét lỗ xuyên tường làm giống như kẻ trộm bên ngoài vào lấy, nên chúng tăng không phát hiện.

Phần 5

Hơn mười ngày sau, sư mắc bệnh, thấy một người lạ dùng giáo và mâu đâm vào mình. Người này thoạt đến thoạt đi, lúc đến thì làm cho sư hốt hoảng kêu gào, liền sau đó thì máu tuôn chảy. Thời gian đầu, một ngày người ấy đến hai lần như thế.
Càng về sau, số lần người này đến càng nhiều và đâm cũng nhiều hơn, khiến sư thương tích đầy mình, rên rỉ không ngớt. Chúng tăng trong chùa hơi nghi ngờ sư mắc tội, muốn sám hối thay. Ban đầu chư tăng dò hỏi, sư vẫn giấu, không dám nói thật. Hai ba ngày sau, sư kể lại đầy đủ sự tình, khóc lóc cầu cứu, thưa: “Tôi ngu dại, không hiểu biết, cho rằng không có địa ngục, nên lỡ tạo tội mà phải chuốc lấy tai họa thế này. Sống thì bị đánh đập đau đớn, chết thì chịu hình phạt dao bén, chảo dầu. Cúi mong đại chúng xót thương dung thứ. Nay tôi không còn vật gì khác ngoài y phục, tấm nệm và đôi giày da, có lẽ đủ để tổ chức trai hội”. Đồng thời, nhiều lần thỉnh cầu tỏ bày sám hối, sư kể: “Xưa, tôi trộm hai viên ngọc nơi tượng Phật, một viên đã gửi cho mẹ không lấy lại được, còn một viên đổi lấy tiền tại nhà Trần Chiếu, nay có thể chuộc lại”.
Sau khi sư qua đời, chúng tăng chung nhau chuộc được viên ngọc và thiết trai sám hối. Lúc đầu, người thợ gắn lại hạt châu, xoay qua trở lại vẫn không khớp. Chúng tăng phải thay sư lễ bái, đốt hương, mới gắn được.
Hơn một năm sau, đêm nọ, các vị đồng học nghe có tiếng của sư giữa không trung: “Từ khi chết đến nay, tôi chịu nhiều thống khổ chắc trải qua nhiêu năm cũng chưa ra khỏi. May nhờ chúng tăng thương xót cứu giúp, chuộc lại hạt châu của tượng Phật mà tạm dứt khổ trong chốc lát. Để tỏ lòng tri ân chư tăng đã vì tôi mà khổ nhọc như vậy, nên tôi đến đây cảm tạ!”.
Sư nói như vậy rồi thôi. Khi chúng tăng nghe những lời này, tự nhiên có mùi tanh hôi bốc lên rất khó chịu. Sư nói xong hồi lâu, mùi hôi ấy mới hết.
84.13.3.3. Đời Tống, Đường Văn Bá: Ông người ở Cống Du, Đông Hải. Người em của ông đam mê cờ bạc, làm cho gia sản đều tiêu hết.
Trong làng có một ngôi chùa, người đến lễ bái dâng tiền cúng Phật. Người em nhiều lần vào trộm lấv, sau mắc bệnh hủi. Thầy bói nói: “Đó là do trộm tiền cúng Phật”. Nghe vậy, người cha nổi giận, nói:
“Phật là vị thần nào mà khiến con ta đến nỗi này? Ta sẽ thử cướp lấy, nếu cũng bị bệnh thì mới đúng”.
Trước đây, vợ của huyện lệnh Hà Hân có dệt và cúng bốn dây đai cho lọng báu của chùa. Người cha đến trộm lấy để làm dây thắt lưng. Chưa đầy một trăm ngày, ông ta mắc bệnh nổi mụt nhọt ở thắt lưng. Lúc ấy là năm đầu niên hiệu Nguyên Gia (424).
84.13.3.4, Đời Tống, Chu Tông: Chu Tông người Phì Như, Quảng Lăng. Niên hiệu Nguyên Gia thứ bảy (430), Chu Tông theo Lưu Ngạn Chi chinh phạt phương bắc. Vì bại trận, nên Chu Tông và sáu người cùng làng chạy trốn.
Khi đi ngang qua phía bắc huyện Bành Thành, thấy một ngôi chùa hoang, không có tăng chứng, nhưng bên trong có một pho tượng Phật bằng thủy tinh, họ vào trộm lấy, mang ra xóm đổi thức ăn. Trong số họ, có một người ốm yếu bị cả bọn xem thường, không được chia phần.
Xong việc, mỗi người trở về nhà, khoảng ba bốn năm sau, Chu Tông và năm người kia đều bị bệnh hủi mà chết, riêng người không được chia phần thì tính mạng bảo toàn.
84.13.3.5. Đời Tống, Vương Hoài Chi: Vương Hoài Chi tự là Nguyên Tăng, người Lang Da, gia đình nhiều đời theo Nho giáo, không tin Phật pháp, thường cho rằng: “Thân thể và thần thức đều hoại diệt, làm sao có ba đời!”.
Vào niên hiệu Nguyên Gia (424-445), Hoài Chi làm Huyện lệnh Đan Dương. Mười năm sau, ông, đột nhiên mắc bạo bệnh đã tắt thở, chẳng bao lâu thì tỉnh lại.
Bấy giờ, Huyện lệnh Kiến Khang là Hạ Đạo Lực đến thăm, gặp lúc Hoài Chi vừa nằm xuống, Chi nói với Đạo Lực:
- Giờ đây, tôi mới hiểu giáo lí nhà Phật không hư dối: “Con người chết đi, thần thức vẫn còn”, thật có minh chứng!
Đạo Lực nói:
- Quan phủ hàng ngày không đề cập đến điều này, nay sao nói lạ thế?
Hoài Chi chau mày đáp:
- Thần thức quả thật không mất. Lời Phật thật đáng tin!
Hoài Chi nói xong thì qua đời.
84.13.3.6. Đời Tống, Thư Cừ Mông Tốn: Sa-môn Đàm-ma-sấm là người học rộng, biết nhiều, được Mông Tốn tin dùng và trọng vọng.
Họ Ngụy cử Lí Thuận phong Mông Tốn làm Lương vương và thỉnh sa-môn Đàm-ma-sấm sang Ngụy, nhưng Mông Tốn hẹp hòi, không chấp nhận. Đàm-ma-sấm mong muốn sang Ngụy, nhiều lần xin đi theo, nên Mông Tốn tức giận mà giết.
ít lâu sau, ngày nào thuộc hạ của Mông Tốn cũng thấy Ma-sấm dùng kiếm đâm Mông Tốn. Do đó, Mông Tốn bị bệnh mà chết.
84.13.3.7. Đời Ngụy, Thôi Hạo: Năm Bính Tuất niên hiệu Nguyên Gia thứ hai mươi ba (446) đời Tống Văn đế, tức là niên hiệu Thái Bình Chân Quân thứ bảy (446) đời Bắc Ngụy, Thái Vũ hoàng đế tín nhiệm Thôi Hạo là kẻ gian tà, nịnh hót, lại trọng dụng Khấu Khiêm và ban hiệu là Thiên Sư, sát hại tăng ni, đập phá chùa chiền, dẹp bỏ đền miếu.
Bấy giờ, các quan đều can gián: “Ngày xưa, ngài Khương Tăng Hội cảm được điềm lành, khiến Thái hoàng lập chùa. Nếu bệ hạ cứ hủy hoại Phật pháp e rằng di họa về sau, hối hận không kịp!”. Các quan tâu tiếp:
- Vào lúc ấy, những người đào đất ở hậu cung nhặt được một tượng Phật băng vàng. Tôn Hạo tiểu vào bức tượng, do đó nam căn đau điếng, ông kêu gào thảm thiết, không thể chịu nổi. Quan Thái sử xem bói và nói: “Đó là do xúc phạm một vị thần lớn!”. Khi ấy, Tôn Hạo đi cầu khắp các núi danh tiếng, cúng tế rất nhiều đền miếu, nhưng nam căn vẫn đau dữ dội, bên trong càng đau nhiều hơn. Những người trong cung tin Phật nhiều lần khuyên can: “Bệ hạ đau đớn như thế là do phạm tội với tượng Phật, hãy cầu Phật tha thứ mới hết đau!”.
Tôn Hạo hỏi:
- Phật là vị thánh ư? Ta thử khấn nguyện xem sao!
Tôn Hạo vừa khấn vái thì liền khỏi bệnh, trong lòng vui mừng, liền thay đổi tâm tính. Ngay đó, Tôn Hạo đem ngựa, xe đón pháp sư Khương Tăng Hội, xin được sám hối tội lỗi, thụ trì năm giới và ngày càng kính tin Phật pháp.
Nghe vậy, Thái Vũ hoàng đế mới biết khấu Khiêm âm thầm dùng yêu tà, nên phạt nặng, cho đem chôn ở ngã tư đường, chừa cái miệng để người đi đường qua lại tiểu tiện vào đó cho đến chết, còn những người cùng bọn với khẩu khiêm đều bị xử chém
Đến năm Canh Dần (450) Thái Vũ hoàng đế bị bệnh mới ngộ ra mọi điều. Lúc đó, thiền sư Đàm Thỉ, Bạch Túc đến khai ngộ, Thái Vũ cảm thấy hổ thẹn lập tức chém đầu Thôi Hạo
Năm Nhâm Thin (452), Thái Vũ hoàng đế thăng hà, cháu là Văn Thành lên ngôi, liền cho xây chùa, trùng hưng Tam bảo, sau bảy năm Vũ đế diệt Phật.
Niên hiệu Hòa Bình thứ ba (462), Chiêu huyền thống là sa-môn Thích Đàm Diệu bùi ngùi xúc cảm khi nhìn thấy Tam bảo trước đây bị phế nay được trùng hưng, nên sư nhóm họp tăng chúng tại chùa Thạch Thất ở kinh đô, để dịch thuật kinh, truyền bá lưu hành, hầu mong người hiền đời sau biết giữ gìn pháp tạng, nghìn năm không để mai một. Căn cứ vào bức tượng nhặt được trong lúc đào đất, mới biết vào thời Tần, Chu đã có Phật giáo.
84.13.3.8. Triều Hậu Chu: Hậu Chu (557-581) kế thừa vận nước của nhà Ngụy (386-557), nhà Ngụy nối tiếp cơ đồ của nhà Tấn (265-420). Còn các triều đại khác chỉ tự chiếm đất, xưng vương một cõi, không có nền tảng chính thống. Như các triều đại Tống, Tề, Lương, Trần cũng tự nắm quyền và tồn tại, nhưng khi nước mất thì vua cũng vong. Đó là căn cứ vào sử sách, lẽ nào không đúng sao?
Tổ tiên của nhà Chu là Vũ Văn Giác, con trai trưởng của Đại thừa tướng Hắc Thái thời Tây Ngụy (535-557). Hắc Thái đưa Cao Dương vương lên làm Ngụy đế, dời đô về Trường An, đổi y phục, cờ phướn thành màu đen, lấy niên hiệu là Đại Thống nguyên niên (535). Năm thứ mười tám (552) thì đổi niên hiệu, Phế đế lên ngôi. Sau đó, Ngụy đế bị phế làm Tề vương, được bốn năm thì thăng hà.
Giác được Ngụy đế nhường ngôi, cũng ngay năm ấy bị phế truất, em là Dục làm đế.
Dục làm vua được bốn năm thì thăng hà, em là Ung làm đế, tức con thứ ba của Thái tổ.
Ung có chí hướng cao xa, rộng lớn, muốn tóm thâu các nước nhỏ. Nhưng lòng đa nghi, do đó, lên ngôi được mười hai năm, Ung đã giết mười mạng bên gia đình người chú là Thái mông tể Tấn Quốc công Hộ và sáu gia đình đại thần, rồi đổi niên

Phần 6

hiệu là Kiến Đức. Năm thứ ba (568), nghe theo lời dua nịnh gian tà của đạo sĩ Trương Tân: “Phật pháp không tốt lành gì cho nước nhà”, Ung liền hủy diệt Phật giáo. Niên hiệu Kiến Đức thứ sáu (571), Ung đánh chiếm phía đông, bình định nước Tề, hủy bỏ toàn bộ chùa công và tư, đập phá tượng Phật, thiêu đốt kinh sách đã có từ mấy trăm năm của các triều đại trước. Bốn mươi nghìn ngôi chùa ở các châu huyện đều ban hết cho hàng quí tộc. Gần ba triệu tăng sĩ trong nước đều bị ép hoàn tục. Vũ đế cho là thiên hạ của Đại Chu vô sự. Với chí cao nghĩ xa, Vũ đế đổi niên hiệu là Tuyên Chính, không ngờ tai họa ập đến, thân chuốc lấy đại nạn, tháng năm thì thăng hà.
Thái tử Uân lên ngôi, giết tám cha con của Tề vương, đổi niên hiệu là Đại Thành. Tháng hai, Uân lập con là Diễn làm thái tử để chuẩn bị nhường ngôi cho con, đổi niên hiệu là Đại Tượng, tự xưng là Thiên Nguyên hoàng đế, lập bốn vị hoàng hậu, lễ nghi, phục sức gấp bội hơn xưa. Tháng năm, niên hiệu Đại Tượng thứ hai (580), Thiên Nguyên hoàng đế thăng hà.
Vào ngày mồng một tháng giêng, Diễn lên ngôi, đổi niên hiệu là Đại Định, tháng hai nhường ngôi cho nhà Tùy.
Như vậy, nhà Chu có năm đời vua, trải qua hai mươi lăm năm đều đóng đô ở Trường An.
84.13.3.9. Đời Tùy, Văn Xương: Vào niên hiệu Khai Hoàng thứ mười một (591), quan Thái phủ tự thừa là Triệu Văn Xương bỗng phát bệnh rồi chết, trải qua mấy ngày trên ngực vẫn còn ấm, nên người nhà không nỡ tẩm liệm. Sau đó, Văn Xương lại nói được, họ hàng lấy làm lạ và hỏi nguyên do. Văn Xương kể:
Khi tôi tắt thở, có người dẫn đến chỗ vua Diêm-la. Vua Diêm-la hỏi:
- Lúc ở nhân gian, ông tạo phúc nghiệp gì?
Tôi đáp:
- Vì nhà nghèo khó, không có của cải để tạo công đức, chỉ chuyên tâm tụng trì kinh Kim cang Bát-nhã.
Nghe nói vậy, Diêm vương chắp tay, ngồi xếp bằng, khen ngợi:
- Quí thay! Quí thay! Ông có khả năng thụ trì kinh Bát-nhã, công đức rất lớn, chẳng thể nghĩ bàn.
Ngay đó, Diêm vương bảo sứ giả đã bắt Văn Xương:
- Phải kiểm tra kĩ lưỡng, chớ để bắt lầm người.
Tra xét một hồi, tên lính biết là lầm, liền báo với Diêm vương:
- Người này quả thật đã bị bắt lầm, tính ra còn sống hơn hai mươi năm nữa.
Diêm vương bảo:
- Ngươi hãy dẫn Văn Xương đến tàng kinh các, lấy kinh Kim cang Bát-nhã đem đến đây.
Tuân lệnh, sứ giả dẫn tôi đi về phía tây năm dặm thì đến tàng kinh các, thấy có mấy mươi gian vô cùng nguy nga tráng lệ. Bên trong xếp đầy các bộ kinh với trục vàng, hòm báu rất rực rỡ.
Thấy vậy, tâm lành phát khởi, tôi nhất tâm chắp tay, xong nhắm măt lại, tiện tay rút lấy một quyển, lớn nhỏ bằng với quyển đã đọc tụng. Sợ chẳng phải bản kinh Bát-nhã, tôi nhờ sứ giả đổi lại, nhưng người ấy không chịu đổi. Bỗng nhiên nhìn thấy tựa đề ghi là ‘Bậc nhất trong các công đức’, tôi liền mở ra xem thì chính là kinh Kim cang Bát-nhã. Thế là tôi vui vẻ đem đến chỗ Diêm vương.
Diêm vương bảo một người cầm kinh đứng ở phía tây, tôi thì đứng ở phía đông, mặt hướng về quyển kinh mà đọc, còn sứ giả thì dò theo, thấy tôi đọc làu thông tất cả, chẳng sót chữ nào.
Thế là, Diêm vương thả tôi về nhà, lại còn căn dặn: ‘Ông phải siêng năng thụ trì kinh này, chớ có xao lãng’. Nói xong, Diêm vương bảo một người đưa tôi đi ra cửa nam. sắp đến cửa, tôi thấy Chu Vũ đế đang ở trong phòng tại phía đông cánh cửa, cổ mang ba lớp gông. Vũ đế gọi tôi và nói:
- Ông là người dân của nước ta, hãy đến đây trong chốc lát, tôi có chuyện muốn nói!
Nghe tiếng gọi, tôi đến vái chào. Vũ đế nói:
- Ông nhớ ta chăng?
Tôi đáp:
- Thần khi xưa là người bảo vệ bệ hạ, sao không nhớ bệ hạ được!
Vũ đế nói:
- Khanh là cựu thần của ta, nay trở về nhà, hãy vì ta mà nói hết tội của ta cho Tùy Văn đế nghe, đồng thời chỉ bày rõ ràng: ‘Chỉ có tội hủy diệt Phật pháp là nặng nhất, không thể cứu vãn’. Thuở ấy, vì nghe theo lời của Vệ Nguyên Tung, ta đã hủy diệt Phật pháp. Gần đây, Diêm vương nhiều lần truy bắt Nguyên Tung nhưng chưa được, nên tình tiết chưa rõ ràng.
Nghe vậy, tôi hỏi:
- Nguyên Tung đi đâu mà Diêm vương truy bắt không được?
Vũ đế nói:
- Lúc ấy, ta không lường được ý đồ của Nguyên Tung, đã lầm hủy diệt Phật pháp. Nào ngờ Nguyên Tung là người vượt ngoài ba cõi, không thuộc vòng quản thúc của Diêm vương, nên Diêm vương truy bắt không được. Ông về nói với Tùy Văn đế: ‘Hãy vì ta mà bỏ ra ít phẩm vật để tạo công đức, mong nhờ phúc nghiệp này ta được thoát khỏi địa ngục’
Tôi nhận lời, rồi từ biệt lên đường.
Chẳng mấy chốc ra khỏi cửa nam, thấy trong hố phân lớn nhô lên một mảng tóc của người nào đó, tôi hỏi người dẫn đường:
- Đó là ai vậy?
Người dẫn đường đáp:
- Đó là Bạch Khởi, .danh tướng nước Tần, do chôn sống quân Triệu, nên khi chết tạm giam ở đây, tội chưa phân định rõ ràng.
Vừa dứt lời, người dẫn đường đưa tôi về đến nhà thì sống lại”.
Trải qua ba ngày, bệnh khỏi dần, Văn Xương tâu rõ việc này lên Tùy Văn đế. Văn đế ban lệnh khắp cả nước, mỗi người trích ra một đồng tạo công đức, tụng đọc kinh Kim cang Bảt-nhã và giữ trai giới ba ngày, để hồi hướng cho Chu Vũ đế. Đồng thời ban sắc lệnh ghi việc này vào sử nhà Tùy.
84.13.3.10. Đời Tùy, Thích Tuệ Vân: Sư người Phạm Dương, Đông Xuyên. Mười hai tuổi, sư xuất gia, lấy việc đi khắp tham học làm chính. Năm mười tám tuổi, một hôm sư cưỡi lừa đến nhà người chú. Nhìn thấy lừa, người chú rất thích, nên muốn giết sư để cướp đoạt. Vừa cầm dao đi đến, người chú thấy dưới bức tường phía đông có một người mặc ặo vàng, đưa nắm tay lên, hét lớn:
- Đạo nhân này chính là bậc đại sĩ thông suốt giáo pháp, sao nỡ giết hại?
Người chú sợ hãi, vào kể lại cho vợ nghe. Người vợ nói:
- Ông không quyết tâm. Chắc bị hoa mắt rồi!
Nghe nói vậy, người chú trở lại chỗ sư, lại thấy một người mặc áo vàng đứng dưới bức tường phía tây nói:
- Chớ giết đạo nhân! Nếu giết thì đại họa sẽ ập đến!
Người chú khiếp sợ, lại ngưng tay, Sáng hôm sau, sư từ giã, sang nhà người chị. Người chú lại cầm dao tiễn sư và nói:
- Con đường này vắng vẻ nguy hiểm, để tôi tiễn sư qua khỏi đoạn này.
Sư đi phía trước, gặp đoạn vắng vẻ hiểm trở, người chú đi sau, vung dao định chém, chợt thấy người chồng của chị ở bên cạnh. Do vậy, sư không bị hại và cũng không hay biết gì cả.
về sau, học vấn sư uyên bác, đức độ cao vời, danh tiếng vang khắp nơi.
Vào niên hiệu Khai Hoàng (581-600), sư dặn năm trăm đệ tử đi qua nhà người chú. Thấy sư xiển dương giáo hóa, hai vợ chồng người chú rất hổ thẹn về lỗi lầm khi xưa, xin sám hối lỗi xưa và cúng mười xấp lụa. Khi ấy, sư mới biết mọi điều, liền thuyết pháp cho họ nghe để bỏ hẳn tâm ác. Sư thường kể lại việc này để răn nhác đồ chúng: “Trước đây, nếu ta không cưỡi con lừa quí đẹp thì đâu làm hại đến người!”. Từ khi theo học với sư, nghe câu chuyện này, ai cũng sống giản dị, tiết kiệm. Sư rất nổi tiếng.

Phần 7

84.13.3.11. Đời Đường, Thái sử lệnh Phó Dịch: Phó Dịch vốn người Thái Nguyên. Cuối đời Tùy, ông chuyển đến quận Phù Phong. Thuở nhỏ, ông rất hiếu học, giỏi thiên văn, lịch số, thông minh, nhạy bén và giỏi luận biện.
Khoảng thời gian từ niên hiệu Vũ Đức (618-626) đến niên hiệu Trinh Quán thứ hai mươi (646), ông thường làm Thái sử lệnh. Ông không tin Phật pháp, xem thường tăng ni, thậm chí đem tượng đá làm gạch ngói. Mùa thu niên hiệu Trinh Quán thứ mười bốn (640), ông bỗng phát bệnh mà chết.
Trước đây, Phó Dịch có hai người bạn là Phó Nhân Quần và Tiết Trách đều làm Thái sử lệnh. Thuở ấy, Trách mượn Nhân Quân năm nghìn đồng mà chưa trả. Sau khi Nhân Quân mất, Trách mộng thấy Nhân Quân hiện về nói chuyện như lúc bình thường. Trách hỏi:
- Số tiền tôi mượn trước đây, giờ đưa cho ai?
Nhân Quân đáp:
- Hãy đưa cho một tội nhân ở địa ngục.
Trách lại hỏi:
- Tội nhân ở địa ngục là ai vậy?
Nhân Quân đáp:
- Chính là Thái sử lệnh Phó Dịch.
Ngay đó, Trách tỉnh giấc. Cũng đêm ấy, Thiếu phủ giám Bằng Trưởng Mạng cũng nằm mộng thấy đến một nơi có nhiều người đã mất trước kia. Trưởng Mạng hỏi:
- Tôi nghe trong kinh có nói về quả báo tội phúc, chưa biết có đúng không:
- Đều có quả báo_Một vong nhân đáp.
Trưởng Mạng lại hỏi:
- Như Phó Dịch lúc còn sống không tin Tam bảo, chết sẽ chịu quả báo gì?
Đáp:
- Nhất định có báo ứng tội phúc, Phó Dịch đã bị đày ở Việt châu, làm người tội ở địa ngục.
Sáng ra, Trưởng Mạng vào điện gặp Tiết Trách kể lại điềm mộng vừa rồi. Trách cũng thuật lại việc người tội ở địa ngục. Hai người than: “Việc tội phúc hẳn phải tin”. Thấy điềm vừa rồi, Trách đem tiền đưa cho Phó Dịch và kể lại chuyện trong mộng. Khoảng vài ngày sau, Phó Dịch đột nhiên qua đời. Ngày Dịch chết, có nhiều điềm xấu hiện ra, không thể kể hết.
84.13.3.12. Đời Đường, Tống Hành Chất: ông quê ở Bác Lăng, làm Thượng thư hình bộ lang trung. Ông vốn không tin Phật, lại buông lời phỉ báng Tam bảo. Tháng năm niên hiệu Vĩnh Huy thứ hai (551), ông bị bệnh mà chết.
Đến ngày mồng chín tháng sáu, Thượng thư đô quan lệnh sử Vương Đạo cũng đột ngột bị bệnh qua đời, hai ngày sau thì sống lại. Vương Đạo kể: “Vừa tắt thở, tôi thấy có bốn người đến nói: ‘Quan phủ bảo chúng tôi đến bắt ông!’.
Thế là tôi đi theo họ vào một cửa lớn, thấy một sảnh đường hoành tráng hướng về phía bắc. Có một viên quan vừa mập vừa đen ngồi ở gian phía tây của sảnh đường ấy, lại có một vị tăng ngồi ở gian phía đông, ngang hàng với vị quan kia. Cả hai cùng ngồi quay về phía bắc, có bàn ghế, tòa ngồi trải đệm, khoảng hai trăm đồng tử đứng hầu. Có đồng tử đội mũ, có đồng tử thắt bím, dung mạo đều xinh đẹp. Dưới thềm có một vị quan nhỏ và bàn để văn án. Một ông lão mang gông, bị trói đang đứng dưới thềm phía đông. Khi đến sảnh đường, tôi cũng bị trói, một vị quan cầm giấy bút đến hỏi:
- Niên hiệu Trinh Quán thứ mười tám (640), khi còn nhậm chức Tá sử ở Trường An, tại sao ông sửa đổi lí lịch của Lí Tu Đạt?
Tôi đáp:
- Tôi nhậm chức Tá sử ở Trường An vào niên hiệu Trinh Quán thứ mười sáu (638), năm thứ mười bảy (639), tôi được tuyển dụng làm quan Ti nông tự phủ; đến năm thứ mười tám (640) mới đổi lí lịch, nên đó chẳng phải lỗi của tôi.
Vị quan lớn trên sảnh đường đọc lời biện giải, rồi quay lại nói với người tù già dưới thềm phía đông:
- Sao ngươi vô cớ tố cáo ông ấy?
Người tù già nói:
- Quả thật Tu Đạt chưa đến tuổi, do ông Đạo sửa lí lịch, tăng thêm tuổi cho tôi! Tôi đâu dám nói dối!
Tôi nói:
- Niên hiệu Trinh Quán thứ mười bảy (639), tôi đã nhậm chức khác, văn bản còn để ở nhà, mong quan xét lại.
Nghe vậy, quan phủ gọi ba người quản thúc cởi trói cho tôi, bảo tôi vê lấy văn bản nhậm chức. Khi tôi đem văn bản đến, quan lớn đọc và nói với người tù già:
-Rõ ràng ông ấy đã nhậm chức khác. Ông nói thật vô lí!
Thế là vị quan bảo lính đưa người tù già đi ra cửa bắc. Tôi nhìn theo thì thấy bên ngoài tối đen, có nhiều thành, trên mỗi thành có tường thấp, dường như đó là nơi hành hình. Quan lớn phê vào bản án, rồi nói với tôi:
- Ông không có tội, được thả trở về.
Tôi từ biệt vị quan. Một tên lính dẫn tôi đến thềm phía đông để chào vị tăng. Vị tăng lấy ấn đóng vào cánh tay tôi và nói:
- Mong ông trở về bình an!
Tên lính dẫn tôi ra phía đông nam, qua ba lớp cửa, mỗi mỗi đều có quan kiểm tra dấu ấn trên cánh tay tôi, rồi mới cho đi. Cửa thứ tư rất rộng lớn, lầu gác màu hồng phấn, các cánh cửa đều mở ra trông như cửa thành của quan, có người canh giữ nghiêm mật. Xem ấn xong, họ cho tôi ra qua.
Tôi đi về phía đông nam vài chục bước thì nghe có người gọi. Tôi quay đầu lại thì thấy Thị lang Tống Hành Chất mặt mày thảm sầu, đen sạm như đất bùn, đầu để trần, lưng không buộc đai, mặc quan phục cũ màu đỏ, tóc ngắn xõa xuống trông giống như người Hồ, đang đứng dưới thềm sảnh đường, có lính canh giữ.
Gần tường thành phía tây có tấm bia gỗ lớn, cao khoảng một trượng hai thước. Trên bia có hàng chữ lớn: “Đây là nơi tra xét tội lỗi những người của vua”, nét chữ rất rõ ràng, vuông vức hơn một thước tàu. Trong sảnh đường có tòa ngồi, bàn ghế giống như phủ quan, nhưng không có người. Thấy tôi, Hành Chất vui buồn lẫn lộn hỏi:
- Vì sao ông đến nơi này?
Tôi nói:
-Quan bắt tôi hỏi về việc sửa đổi lí lịch, tôi không có liên quan nên được thả về.
Hành Chất nắm lấy hai tay tôi và nói:
- Tôi bị quan xét hỏi về sổ công đức mà trong tay tôi đâu có sổ công đức, nên ở đây thật khốn khổ, lại thêm đói khát, lạnh lẽo, khổ sở không thể nói hết.
Hành Chất còn ân cần dặn đi dặn lại:
- Ông hãy cố gắng đến nói với người nhà tôi sớm tạo công đức để hồi hướng cho tôi.
Tôi nhận lời và từ biệt. Tôi đi được mấy mươi bước thì Hành Chất gọi lại. Tôi quay lại, nhưng chưa kịp nói thì có vị quan trên sảnh đến nạt:
- Ta đang xét hỏi sự việc, ngươi là ai mà đến chỗ người tù này?
Quan liền sai lính nhét vật vào tai tôi và đẩy ra ngoài. Tôi đi đến một cửa khác, lính giữ cửa hỏi:
- Ông bị nhét vật vào tai thì làm sao nghe được, tôi sẽ lấy giúp vật trong tai ông ra.
Tên lính lấy tay ngoáy vào tai tôi, trong lỗ tai phát ra tiếng thi nghe được, rồi tôi được thả ra. Ra khỏi cửa, trời tối đen như mực, tôi chẳng biết mình đang ở đâu, đưa tay sờ sang phía tây và phía nam thì đều là tường vách, chỉ cỏ phía đông thì không có gì chướng ngại, nhưng cũng tối đen, chẳng thấy đường đi. Đứng đợi một lát, tôi thấy tên lính vừa gặp lúc trước từ cửa bước ra và nói:
- Ông còn đợi tôi ư? Tốt lắm! Cho tôi xin một nghìn đồng!
Tôi không đồng ý, rồi tự nghĩ: “Mình không có tội nên được thả về, sao lại phải hối lộ cho tên lính này?”.
Tên lính liền nói:

Phần 8

- Ông không thể không làm như vậy. Nếu lúc nãy tôi không sớm đưa ông qua chỗ quan xử đoán thì ông đã bị trói hai ngày rồi, chẳng lẽ không khốn khổ ư?
Tôi bằng lòng, tên lính cảm tạ.
Tên lính lại nói:
- Tôi không dùng được tiền bằng đồng của ông, chỉ mong được tiền giấy trắng, xin hẹn ngày rằm đến lấy.
Tôi đồng ý và hỏi đường về nhà. Tên lính nói:
- Ông chỉ cần đi về phía đông hai trăm bước sẽ gặp một bức tường bị thủng, khi thấy sáng thì hãy xô đổ bức tường ấy, là ông về đến nhà.
Theo lời tên lính, đi đến đó, xô bức tường hồi lâu mới đổ. Ra khỏi chỗ ấy thì đến nhà, thuộc cửa nam phường Long Chính. Đến cửa, tôi thấy mọi người đang than khóc. Vừa bước vào nhà thì tôi sống lại”.
Đến ngày rằm, ông Đạo quên gửi tiền cho tên lính. Sáng hôm sau, ông lại bị bệnh, rồi chết giấc, thấy tên lính kia nổi giận nói:
- Ông đã không giữ lời, hứa cho tôi tiền mà không cho, nay tôi đến dẫn ông đi!
Lập tức, tên lính xua ông Đạo đi ra cửa Kim Quang, bắt chui vào một hầm lớn. ông lạy hơn trăm lạy, tên lính mới thả cho về. ông tỉnh lại, bảo người nhà mua một trăm tờ giấy làm thành tiền cúng cho tên lính ấy.
Sáng hôm sau, ông lại bệnh nặng và chết giấc, thấy tên lính ấy đến nói:
- Ông đã cho tôi tiền, nhưng tiền không được tốt!
Ông Đạo xin lỗi, hứa sẽ làm tiền khác thì sống lại. Đến ngày hai mươi, ông bảo người nhà lấy sáu mươi đồng mua một trăm tờ giấy trắng làm thành tiền, lại chuẩn bị rượu, thức ăn, đích thân đến cúng và đốt ở sông Cự, cửa tây phường Long Chính.
Từ đó thân thể nhẹ nhàng, ông chuyên tâm tụng niệm không ngừng.
Nghe câu chuyện này, Lâm tôi và các quan Hình bộ thị lang Lưu Yến Khách, Đại lí thiếu khanh Tân Mậu cùng đến Đại lí thăm hỏi. Sau đó mọi người nhờ Lưu Yến Khách mời Đạo đến để hỏi thăm về sự việc ở địa ngục.
84.13.3.13. Đời Đường, Khương Đằng Sinh: Đằng Sinh người thành cổ Quán, Kí châu. Cuối niên hiệu Vũ Đức (618-626), bỗng bị bệnh nặng, Sinh vào Mông sơn chữa trị nhiều năm mà vẫn không thuyên giảm.
Sau, Sinh trở về nhà, cơ thể nổi ung nhọt, lở loét, các ngón tay, ngón chân đều rớt ra. Đêm nọ, Sinh mộng thấy tượng Phật bằng đá trắng cao khoảng ba thước, đến bảo: “Chỉ cần nối tay cho ta thì ông sẽ lành bệnh!”.
Sáng ra, Sinh chợt nhớ lại việc đuổi chim sẻ tại ruộng ngô vào niên hiệu Vũ Đức thứ nhất (618). Bấy giờ, Sinh vào trong bảo điện thờ Phật ở một làng xưa, xé kinh Duy-ma-cật cột vào đầu gậy để dọa chim sẻ. Thấy vậy, có người nói: “Xé kinh là tội lớn!”.
Nghe lời này, Sinh mắng chửi lại thậm tệ, rồi vào chính điện đập tượng Phật bằng đá trắng, làm gãy cánh tay phải. Nay thấy bức tượng trong mộng chẳng khác gì bức tượng cũ này, Sinh liền đến trước Phật, chí thành đỉnh lễ, hết lòng sám hối tội lỗi, mướn thợ nối tay lại cho bức tượng ấy, in bốn mươi quyển kinh Duy-ma-cật, xây một tinh xá. Trong vòng một năm, Sinh được khỏi bệnh. Dân làng gọi tượng ấy là Thánh tượng. Ngôi bảo điện và pho tượng ấy hiện nay vẫn còn.
84.13.3.14. Đời Đường, Diêu Minh Giải: Minh Giải vốn là sa-môn chùa Phổ Quang, bản tính thông minh, có tài văn chương, giỏi viết chữ và hội họa, ngay cả đánh đàn cũng là người kiệt xuất đương thời. Nhưng ông chỉ thích việc đời, không mến cửa đạo.
Niên hiệu Long Sóc thứ nhất (661), ông được đề bạt làm người soạn thi văn cho triều đình, nên đích thân đến Lạc Dương. Đến khi được phong chức thì ông hoàn tục, nói năng lung tung, chẳng bao lâu, bị bệnh mà qua đời.
Sau đó, ông về báo mộng cho người bạn thân là tăng Trí Chỉnh ở chùa Tịnh Độ: “Minh Giải trước đây vô phúc, không tin kinh Phật, nên nay chịu tội nặng, đói khát cùng cực. Như còn nghĩ đến tình xưa, ông có thể ban cho tôi một bữa ăn chăng?”. Trong mộng, Trí Chỉnh bằng lòng. Thức dậy, Trí Chỉnh dọn cơm cúng bạn. Tối lại, Trí Chỉnh vừa chợp mắt thì thấy Minh Giải đến cảm tạ mà lòng đầy hổ thẹn.
Mùa thu niên hiệu Long Sóc thứ hai (662), Minh Giải lại về báo mộng cho một họa sĩ: “Trước kia, vì không tin Phật pháp, nên nay tôi chịu cảnh thống khổ. Ông hãy vì tôi mà gắng sức chép vài ba quyển kinh”. Nói xong, Minh Giải cầm tay người ấy mà lòng ngậm ngùi làm thơ từ biệt. Thần thức Minh Giải bảo họa sĩ đọc lại mười tám lần cho nhớ. Thức giấc, người ấy vẫn còn nhớ bài thơ như sau:
Cầm tay không muốn rời
Than tiếc lại càng đau
Xót thay! Dương gian ngắn
Buồn thay! Cảnh âm dài
Rừng tùng, gió đồng thổi
Đồng hoang, sương giá rơi
Li biệt, tặng một lời
Hãy chuyên tâm kinh giáo.
Họa sĩ này vốn không biết chữ, vừa thức giấc liền nhờ người khác ghi lại và đưa cho những người bạn thân của Minh Giải xem. Họ đều nói: “Đây chính là thể thơ của Minh Giải”. Ai nghe bài thơ ấy cũng chạnh lòng. Tăng tục tại kinh đô truyền miệng rất nhiều về câu chuyên này.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục