Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 82 - CHƯƠNG LỤC Độ (tt)

24/12/2015

QUYỂN 82 Quyển này tiếp theo chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC Độ (tt) 85.2. TRÌ GIỚI 85.2.1. Lời dẫn Trộm nghe, giới là thầy của loài người, nên đạo tục đồng vâng giữ. Tâm là chủ của hành động, phàm thánh đều phải chế phục....

PUCL QUYỂN 82 - CHƯƠNG LỤC Độ (tt)
Phần 1

QUYỂN 82
Quyển này tiếp theo chương Lục độ.
85. CHƯƠNG LỤC Độ (tt)

85.2. TRÌ GIỚI
85.2.1. Lời dẫn
Trộm nghe, giới là thầy của loài người, nên đạo tục đồng vâng giữ. Tâm là chủ của hành động, phàm thánh đều phải chế phục. Nhờ Tam bảo gia hộ mà bốn loài đều được thấm nhuần. Thế nên kinh ghi: “Chính pháp trụ hay chính pháp diệt đều do nơi giới”, chính là ý này! Vì thế, trì giới là đức, đã hiển bày trong Đại kinh; tính thiện đáng tôn sùng, đã được nói rõ trong Đại luận. Giới được ví như mặt trời, mặt trăng, như bảo châu; về nghĩa đồng với hương thoa, về sự thì đồng nước quí. Giới có công năng đưa người qua biển khổ nên gọi là “chiếc thuyền kiên cố”; lại có năng lực nuôi lớn mầm thiện nên gọi là “mảnh đất màu mỡ”. Vì vậy, hàng bồ-tát phải vâng giữ, không được thiếu sót mảy may. Hàng thanh văn nghiêm trì, không được sai phạm dù một lỗi nhỏ. Thà chịu chết khát, chứ không uống nước có trùng; dù bị cột trói phải mạng chung, cũng không làm tổn hại lá cỏ.
Hiếu Kinh ghi: “Lập thân hành đạo, lưu danh hậu thế, phải đau đáu giữ gìn ngôn hạnh thật trung tín”. Vì thế, đâu thể phóng tâm buông lung như ngựa không dây cương, thả ý rong ruổi như vượn chuyên cành, không kiềm chế. Một khi phao nổi đã thủng thì đường trước mịt mờ, bình công đức đã vỡ thì duyên lành bặt dứt. Hoặc giao du với người ác, kết bạn kẻ hung tàn, cùng nhau làm loạn, tạo nhiều tội lỗi, không biết hổ thẹn, không chút sĩ diện, ngày càng sa đọa, trôi nổi không dừng.
Người phạm giới như rau đay, ngải cứu, cành lá đều đắng; như cây ha-lê, toàn thân không có vị ngọt. Người này từ sáng vào tối, không có ngày ra, nhiều kiếp trôi lăn, đau đớn khó nhẫn. Họ phải chịu cảnh vạc dầu sôi sùng sục, hơi nóng xông ngút trời; lò lửa dữ hừng hực, thiêu nổ nứt đất; nước đồng sôi rót vào miệng, ruột nát gan tiêu; cột đồng cháy đỏ đốt thân, xương thịt tan rã, lăn lộn kêu gào, lời nào tả xiết. Những thống khổ như thế đều do phá giới vậy.
85.2.2. Khuyên trì giới
Luận Đại trang nghiêm ghi: “Nếu người dốc lòng giữ gìn giới pháp, dù phải hủy bỏ thân mạng, vẫn được quả báo hiện tiền. Lúc trước ta nghe trong thành Nan-đề-bạt-đà có hai anh em ưu-bà-tắc kia thụ trì năm giới. Lúc đó người em bị đau lưng sắp chết. Thầy thuốc bảo:
- Phải ăn thịt chó mới giết và uống rượu thì bệnh sẽ lành.
Người em nói:
- Thịt chó mua ở chợ thì ăn được, nhưng còn uống rượu thì tôi thà chết quyết không phạm giới này.
Người anh thấy em bệnh tình nguy kịch, liền mang rượu đến bảo:
- Em hãy xả giới rồi uống rượu để trị lành bệnh.
Người em thưa:
- Bệnh tình em tuy nguy cấp, nhưng thà chết chứ không phạm giới uống rượu.
Và người em nói kệ:
Lạ thay sắp lâm chung
Phá giới báu của em
Lấy giới trang nghiêm thân
Không dùng đồ mai táng.
Thân người rất khó được
Gặp giới càng khó hơn
Nguyện bỏ trăm nghìn mạng
Không hủy phạm cấm giới.
Vô lượng trăm nghìn kiếp
Ngày nay mới gặp giới
Trong cõi Diêm-phù-đề
Thân người rất khó được.
Tuy đã được thân người
Gặp chính pháp khó hơn
Nay đã gặp pháp bảo
Kẻ ngu không biết giữ.
Người trí khéo nhận thức
Việc này càng khó hơn.
Giới báu đã thụ trì
Sao có người muốn phá?
Đó là kẻ oán thù
Chẳng phải là người thân.
Nghe kệ xong, người anh nói:
- Anh vì tình thân, chứ không phải vì muốn em phá giới.
Người em nói:
- Đó chẳng phải là thương mà là hại em!
Người em lại nói kệ:
Em muốn đến cõi lành,
Phá giới sẽ đọa lạc,
Xả giới cũng như thế,
Sao gọi là thương yêu?
Em giữ giới căn bản,
Anh lại bảo hủy phạm,
Trong năm giới đã thụ,
Giới rượu quan trọng nhất,
Nay ép em phá giới,
Chẳng thể gọi là thương.
Người anh hỏi em:
- Vì sao nói rượu là giới căn bản? Người em dùng kệ đáp:
Nếu đối với giới cấm,
Không hết lòng thụ trì,
Thì trái tâm đại bi,
Dù một giọt rượu nhỏ,
Còn chẳng dám nếm vào,
Cho nên em biết rõ.
Rượu là nhân đường ác,
Kinh của người tại gia,
Nói ác báo của rượu,
Chỉ Phật mới hiểu hết
Ai cỏ thể suy lường,
Phật nói thân, miệng, ý,
Hạnh ác của ba nghiệp,
Giới rượu là căn bản,
Khiến đọa vào đường ác.
Xưa có ưu-bà-di,
Vì nhân duyên uống rượu,
Liền phá bốn giới khác,
Phần 2

Đây là nhân ác hạnh.
Rượu là gốc phóng dật,
Không uống, ngăn đường ác
Có được tâm tin ưa,
Dứt tham, hành bố thí
Thù-la nghe Phật dạy,
Được rất nhiều lợi ích
Ý em cũng không khác.
Sao còn muốn hủy giới?
Nói qua cho anh rõ,
Thà bỏ nghìn mạng sống,
Không trái lời Phật dạy.
Thà để thân khô gầy,
Quyết không uống rượu này.
Giả sử hủy phạm giới,
Được sống trăm nghìn năm,
Chẳng bằng giữ giới cấm,
Mà phải chết lúc này.
Biết chắc bệnh sẽ lành,
Em vẫn quyết không uống,
Huống nay chưa biết rõ,
Bệnh lành hay không lành.
Lòng quyết định như thế,
Tâm sinh đại hoan hỷ,
Liền thấy được chân đế,
Bệnh tật thảy tiêu trừ”.
Chỉ người có trí tuệ, mới nhàm chán thế gian, chuyên tâm tu đạo. Tuy thụ trì đầy đủ giới, bên trong vẫn hành trì định, tuệ. Người này, tuy không biểu hiện tướng trì giới, nhưng lời nói hàm chứa đức chân thật.
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Thế nào là giới lìa tà mạng? Đó là bồ-tát không biểu hiện tướng trì giới thanh tịnh để mong người khác biết. Bên trong không có thật đức mà hiện tướng thật đức. Bồ-tát trì tịnh giới chỉ một lòng cầu pháp, đó là mục đích cứu cánh.
Thế nào là giới không khởi tâm? Đó là bồ-tát không tự cho minh là cao quí mà tự nói: ‘Ta là người trĩ giới’. Khi thấy người phạm giới cũng không trách mắng làm cho họ xúc não mà chỉ tự mình chuyên tâm giữ giới thanh tịnh. Như thế chắc chắn sẽ được quả thù thắng không nên nghi ngờ”.
Kinh Bồ-tát tạng ghi: “Đức Phật dạy:
Này Xá-lợi tử! Ông phải biết đại bồ-tạt nhờ hành trì thi-la ba-la-mật, nên được mười thi-la thanh tịnh:
1. Không bao giờ làm tổn hại chúng sinh.
2. Không cướp đoạt tài vật của người khác.
3. Không khởi tâm nhiễm trước đối với thê thiếp của người khác.
4. Không nói dối chúng sinh.
5. Không nói lời li gián, chung sống hòa thuận, không trái nghịch người thân.
6. Không nói lời thô ác đối với chúng sinh, do đó hay nhẫn được những lời ác của người khác.
7. Không nói lời thêu dệt, chỉ nói lời chân thật.
8. Không tham, vì không tham cầu những vật của người khác.
9. Không sân, vì hay nhẫn được những lời hủy nhục thô ác.
10. Không tà kiến, vì không kính thờ thần tiên và quỉ thần.
Kinh Đại bào tích ghi: “Người trì giới thập thiện, có năm lợi ích:
1. Hàng phục được các hạnh ác.
2. Thường phát khởi tâm lành.
3. Ngăn ngừa các phiền não.
4. Thành tựu tâm thanh tịnh.
5. Tăng trưởng giới.
Nếu người khéo tu hạnh không phóng dật, thì tám vạn bốn nghìn cho đến vô lượng giới phẩm đều hàm chứa trong thập thiện giới”.
Kinh Nguyệt đăng tam-muội ghi: “Đức Phật dạy:
- Nếu bồ-tát trì giới thanh tịnh, thì có được mười lợi ích:
1. Đầy đủ Nhất thiết trí.
2. Học theo những điều chư Phật đã học.
3. Người trí không ghét bỏ.
4. Không mât thệ nguyện.
5. An trụ trong các hạnh.
6. Thoát khỏi sinh tử. 7. Mến mộ niết-bàn.
8. Được tâm tự tại.
9. Được tam-muội thù thắng.
10. Đầy đủ tín tài”.
Lục độ tập kinh ghi: “Lại có bốn cách trì giới đây đủ trí tuệ:
1. Trì giới mà thường giảng pháp.
2. Trì giới mà siêng năng cầu pháp.
3. Trì giới mà thấu hiểu giáo pháp.
4. Trì giới thường hồi hướng quả vị Bồ-đề”.
85.2.3. Dẫn chứng
Luận Đại trang nghiêm ghi: “Lúc trước, ta từng nghe có các tì-kheo cùng với cầc thương nhân vào biển tìm châu báu. Vừa ra giữa biển thì thuyền bị hỏng. Bấy giờ, một tì-kheo trẻ may mắn gặp được một mảnh ván, còn tì-kheo thượng tọa vì không có gì bám víu nên sắp bị chìm. Trong lúc ấy, tì-kheo thượng tọa rất lo lắng vì sợ dòng nước cuốn trôi, liền nói với tì-kheo trẻ:
- Con không nhớ Đức Phật đã chế giới cần phải cung kính bậc thượng tọa sao? Nay con có được tấm ván thì nên đưa cho thầy!
Nghe vậy, tì-kheo trẻ liền suy nghĩ: ‘Đức Thế Tôn quả thật có dạy như thế, những gì có lợi lạc nên dâng cho thượng tọa’, rồi lại nghĩ tiếp: ‘Nếu nhường tấm ván này cho vị thượng tọa thì mình sẽ bị chết chìm. Sóng biển cuộn cuộn, rất hung dữ, mạng sống của mình khó bảo toàn. Vả lại, mình còn trẻ tuổi, chỉ mới xuất gia, chưa đắc đạo quả, đây là điều mình lo buồn nhất. Nay mình bỏ thân này để cứu thượng tọa thật là đúng lúc’. Suy nghĩ rồi tì-kheo trẻ liền nói kệ ràng:
Ta phải tự cứu mình,
Hay vầng theo lời Phật Được công đức vô lượng,
Danh vang khắp mười phương.
Thân này rất thấp hèn,
Sao lại trái Thánh giáo?
Ta đã thụ giới Phật,
Dầu chết vẫn giữ gìn.
Vĩ vâng lời Phật dạy,
Dâng ván, bỏ thân mạng,

Phần 3

Nếu không làm việc khó,
Không thể được quả Phật.
Nếu ta giữ tấm ván,
Sẽ vượt qua biển lớn,
Còn trái lời Phật dạy,
Sẽ chìm biển sinh tử.
Nay ta bị chết chìm
Tuy chết vẫn rạng danh.
Nếu trái lời Phật dạy,
Mất lợi ích trời người,
Cho đến quả Niết-bàn,
Sự an lạc vô thượng.
Nói kệ xong, tì-kheo trẻ đưa tấm ván cho thượng tọa. Chứng kiến sự việc ấy, thần biển vô cùng cảm động trước lòng thành của vị tì-kheo trẻ, liền đưa vị ấy lên bờ, rồi chắp tay thưa:
- Nay con xin qui y bậc giữ giới kiên cố. Trong lúc gặp việc nguy hại đến tính mạng, mà thầy vẫn giữ được giới của Phật.
Vị thần nói kệ:
Thầy thật là tì-kheo,
Đúng là người khổ hạnh,
Gọi thầy là sa-môn,
Thật xứng với tên này.
Do công đức của thầy,
Người đồng hành, vật báu,
Đếu thoảt nạn chết chìm,
Tất cả đểu an ổn.
Thầy nguyện giữ kiên cố,
Kính vâng lờỉ Phật dạy,
Thầy là người đại thắng,
Hay trừ các hoạn nạn.
Tại sao ngay bây giờ,
Ta không bảo vệ ngài.
Bậc kiến để trì giới,
Điều này chẳng khó gì,
Phàm phu không hủy giới,
Việc này quả khó làm.
Tì-kheo sống an ổn,
Thanh tịnh tự giữ gìn Không bao giờ phá giới,
Cũng chưa lấy làm khó.
Người chưa được đạo quả,
Sống trong cảnh hiểm ngụy,
Nguyện bỏ thân mạng mình,
Vâng giữ lời Phật dạy,
Làm được việc khó làm,
Việc này thật hiếm có
Luận Đại trang nghiêm ghi: “Đúng thật như thế, tôi đã từng nghe: Ngày xưa có vị tì-kheo, một hôm vào thành theo thứ tự khất thực, đến trước cửa nhà của một người làm nghề xỏ châu. Lúc này người thợ đang xỏ châu ma-ni vô giá cho đức vua. Y sắc đỏ của vị tì-kheo phản chiếu vào làm hạt châu ánh lên sắc đỏ hồng. Trong lúc thợ xỏ châu vào nhà đem cơm dâng cúng vị tì-kheo, có một con ngỗng thấy hạt châu màu đỏ hồng giống miếng thịt nên đến nuốt mất. Bấy giờ, người thợ xỏ châu mang cơm ra cúng dường vị tì-kheo, thì thấy mất hạt châu, nên ông ta tức giận hỏi vị tì-kheo:
- Ngài lấy hạt châu của tôi ư?
Vị tì-kheo sợ người thợ giết con ngỗng để lấy hạt châu ra, nên suy nghĩ tìm cách cứu ngỗng thoát nạn, liền nói kệ:
Ta bảo vệ mạng ngỗng
Thân này chịu khổ đau
Không còn cách nào hơn
Chỉ biết lấy mạng thay.
Nếu nói ngỗng nuốt mất
Lời này thật không thể,
Nếu bảo nó vô tội
Thì thật là vọng ngữ.
Ta nay xả thân mạng
Để cứu con ngỗng này,
Nhờ duyên ta giữ giới
Ấy là nhân giải thoát.
Tuy đã nghe bài kệ, người thợ vẫn nói với vị tì-kheo:
- Nêu không trả lại thì ông phải chịu khổ. Tôi không tha cho ông đâu!
Vị tì-kheo nhìn quanh, không biết trông cậy vào ai, không ai cứu giúp, như nai bị bao vây không còn lối thoát. Vị tì-kheo chỉnh thân ngay thẳng, sửa sang y phục. Người thợ xỏ châu lại nói với tì-kheo:
- Ông muốn đánh nhau với tôi ư?
Vị tì kheo đáp:
- Không, tôi không đánh nhau với ông. Tôi tự đánh với các kết sử!
Vị tì-kheo lại nói kệ:
Khi ta bỏ thân mạng
Xuống đất như củi khô
Đáng được người khen ngợi
Vì ngỗng mà xả thân.
Cũng khiến người đời sau
Đều lo buồn khổ não
Mà xả thân như thế
Người nghe khuyên tinh tấn.
Tu hành theo chính đạo
Kiên trì giữ giới cấm
Ai phá giới mặc ai
Ta nguyện vui trì giới.
Lúc này người thợ xỏ châu liền trói chặt hai tay và đầu của vị tì-kheo, rồi lấy gậy đánh. Vị tì-kheo nhìn quanh bốn phía nhưng chẳng biết nói gì, chỉ suy nghĩ: ‘Sự khổ đau trong đường sinh tử đều như thế’, lại nói kệ:
Ta trong đời quá khứ
Dâm, trộm, rồi chết đi

Phần 4

Như thế chẳng đếm hết
Làm dê, nai... gia súc
Xả thân cũng vô số
Thuở ấy luống thụ khổ
Vì giới xả thân mạng
Hơn là phá giới cấm.
Nếu muốn bảo vệ mình
Cuối cùng rồi cũng chết
Chỉ bằng giữ giới cấm
Để cứu mạng ngỗng kia.
Xả thân tạm bợ này
Để được thân giải thoát.
Ta đắp y phấn tảo
Hành theo hạnh khất thực
Ngủ nghi nơi gốc cây
Bởi vì nhân duyên gì
Mà phải làm kè trộm
Ông nên suy nghĩ kỹ.
Bấy giờ, người thợ xỏ châu nói với tì-kheo:
- Ông không cần nhiều lời!
Thế rồi, người thợ trói chặt và đánh đập nhiều hơn, đến nỗi tai, mắt, mũi và miệng của vị tì-kheo đều chảy máu. Khi ấy, con ngỗng liền đến liếm máu, ông thợ xỏ châu tức giận đánh chết nó. Thấy thế, vị tì-kheo vội hỏi:
- Con ngỗng còn sống hay đã chết?
Người thợ đáp:
- Nó chết hay sống liên quan gì đến ông!
Bấy giờ, vị tì-kheo quay nhìn con ngỗng, thấy nó đã chết, nên buồn bã, rơi lệ, rồi nói kệ:
Ta chịu mọi khổ não
Vì mong ngỗng được sống
Nay mạng ta vẫn còn
Ngỗng lại chết trưởc ta.
Ta muốn cứu mạng ngươi
Gánh chịu khổ nhọc này
Vì sao ngươi chết trước
Tâm nguyện ta chẳng thành.
Thợ xỏ châu hỏi vị tì-kheo:
- Ông có thân thích gì với ngỗng mà buồn khổ đến thế?
Vị tì-kheo trả lời
- Vì không tròn tâm nguyện nên tôi không vui!
Người thợ hỏi:
- Tâm nguyện gì?
Vị tì-kheo dùng kệ đáp:
Bồ-tát thuở xưa kia
Xả thân cứu bồ câu
Nguyện ta nay cũng thế
Xả mạng để cứu ngỗng.
Ta phát tâm tối thắng
Muốn bảo toàn mạng ngỗng
Sống lâu và an vui
Bởi ông giết ngỗng rồi
Nên nguyện tôi chẳng trọn.
Khi nghe vị tì-kheo trình bày, người thợ xỏ châu liền mổ bụng ngỗng để lấy lại hạt châu. Vừa nhìn thấy hạt châu, ông ta òa khóc, nói với tì-kheo:
- Thầy bảo vệ mạng ngỗng mà không tiếc thân mình, đã khiến tôi phạm lỗi lầm này!
Rồi ông ta nói kệ:
Thầy thầm tạo công đức
Như lửa vùi trong tro.
Bởi vì tôi ngu si
Cháy thân mấy trăm kiếp.
Thầy mang hình tướng Phật
Thật là rất tương xứng
Do tôi quá ngu si
Không biết khéo quán sát
Bị lửa si thiêu đốt
Xin thầy lưu lại đây
Cho tôi được sám hối.
Giống như người vấp ngã,
Nương đất để đứng dậy.
Đỉnh lễ hạnh thanh tịnh
Đỉnh lễ người trì giới.
Gặp phải khổ nạn nấy
vẫn vững lòng giữ giới.
Nếu không gặp cảnh khổ
Trì giới có khó gì
Khi gặp khổ nạn này
Mà giữ được giới cấm
Ấy mới thực là khó.
Vì ngỗng mà chịu khổ,
Chứ không phạm giới cấm
Việc này mới thật khó.
Sau khi sám hối, người thợ xỏ châu mới để vị tì-kheo đi”.
Luận Đại trang nghiêm ghi: “Có các vị tì-kheo đang đi giữa đồng trống thì bị bọn cướp lột lấy hết áo quần. Lúc ấy, bọn cướp sợ các tì-kheo đến báo cho người trong làng biết, nên định giết tất cả. May thay, trong bọn chúng có một người trước kia đã từng xuất gia, nói với đồng bọn:
- Chúng ta đâu cần phải giết họ. Giới luật của tì-kheo là không được làm tổn thương cỏ cây. Vậy chúng ta hãy lấy cỏ để trói họ lại. Vì sợ làm hại cỏ cây nên các tì-kheo sẽ không bứt ra để chạy đi báo cho người khác đâu!
Nghe vậy, bọn cướp liền lấy cỏ trói các tì-kheo lại, rồi bỏ đi. Các tì-kheo bị trói bằng cỏ, nhưng vì sợ phạm giới nên không dám bứt ra. Lại thêm thân không không có y phục nên bị nắng thiêu đốt, ruồi muỗi, trùng kiến cắn đốt. Họ bị trói từ sáng đến chiều tối. Đêm về, cầm thú rượt đuổi nhau, chạy khắp nơi thật đáng sợ. Có vị tì-kheo lớn tuổi nhắc nhở các tì-kheo trẻ bằng bài kệ:

Phần 5

Nếu người có trí tuệ,
Kiên trì giữ giới cấm
Cầu trời, người, niết-bàn,
Sẽ cảm được như nguyện.
Xứng là bậc hiểu rộng,
Đáng được người cúng dường,
Hưởng niềm vui trời, người,
Và gặt quả giải thoát.
Long vương Y-bát-la
Vì phá giới cấm này
Làm tổn thương cây cỏ
Mạng chung đọa làm rồng.
Chư Phật chẳng thụ kí
Kẻ kia thoát thân rồng,
Kiên trì giữ giới cấm,
Việc này thật rất khó.
Giới tướng có rất nhiều,
Phân biệt rõ cũng khó,
Như rừng đao, lùm gai,
Vướng vào nhiều thương tích.
Kẻ ngu không chịu nổi
Gìn giữ giới cấm này.
Các vị tì-kheo tuy chịu nhiều khổ sở, nhưng không dám co duỗi hay cử động vì sợ thương tổn cỏ cây, một lòng giữ giới đến chết chẳng phạm. Vi tì kheo lớn lại nói kệ:
Chúng ta thuở quá khứ
Đã tạo nhiều nghiệp ác
Hoặc được sinh làm người
Trộm cắp và tà dâm
Phải lãnh chịu quốc pháp
Số nhiều không kể hết.
Lại chịu khổ địa ngục
Cũng khó tính hết được
Hoặc đọa làm súc sinh
Trâu, dê, hay gà, chó,
Hươu, nai, loài cầm thú,
Bị người khác giết hại
Chết chóc không xiết kể
Chưa từng có lợi ích.
Chúng ta ngày hôm nay
Nhân giữ giới của
Phật Bỏ thân nhỏ bé này
Sẽ được nhiều lợi ích.
Nay chúng ta gặp nạn
Nhất định xả thân này,
Sau khi mạng chung rồi,
Hưởng niềm vui cõi trời.
Còn như ta phá giới,
Hiện tại chịu tiếng xấu
Bị người đời khinh chê,
Mạng chung đọa đường ác.
Nay hãy cùng lập nguyện
Chịu khổ đến lúc chết.
Giả sử nắng mặt trời
Thiêu thân ta khô cháy,
Ta vẫn giữ giới Phật
Quyết không bỏ giữa chừng.
Giả sử gặp ác thú,
Vồ xé thân thể ta,
Cũng quyết không hủy phạm,
Giới của Đức Thế Tồn.
Thà giữ giới mà chết,
Không phạm giới để sống.
Sau khi nghe vị tì-kheo lớn tuổi nói kệ, các tì-kheo trẻ đều đứng ngay thẳng không cử động, như đại thụ lúc trời không gió, cành lá đều lặng yên. Bấy giờ, gặp lúc vua nước này đi săn, dần đến nơi các vị tì-kheo bị trói. Từ xa, vua nhìn thấy họ, lòng thấy nghi ngờ, cho là các vị thuộc phái Ni-kiền-tử lõa thể, bèn cho người đến gần xem. Các vị tì-kheo thấy vậy, rất hổ thẹn, che giấu thân thể. Sứ giả nhìn kĩ mới biêt đó là các sa-môn Thích tử, bởi vai phải của họ sạm đen.
Ông ta liền quay về báo:
- Tâu đại vương! Đó là các sa-môn, không phải là Ni-kiền-tử!
Và nói kệ:
Đại vương nay nên biết
Họ bị giặc cướp hại
Thẹn vì trói bằng cỏ
Như voi bị móc giữ.
Vua nghe rõ sự việc này, cảm thấy ki lạ, lặng yên suy nghĩ: ‘Ta nay phải đến chỗ các tì-kheo’. Thế rồi, vua liền nói kệ:
Dùng cỏ xanh trói tay
Như trói chim anh vũ,
Lại như dê tế trời
Nhưng không dám cử động.
Tuy biết chốn hiểm ngụy
Đứng yên, không hại cỏ.
Như rừng bị lửa đốt,
Li ngưu chết vì đuôi.
Nói kệ xong, vua liền đến hỏi các tì-kheo bằng bài kệ:
Thân thế rất cường tráng
Mạnh khỏe không bệnh hoạn,
Bởi do nhân duyên gì,
Cỏ trói, chẳng cử động?
Các vị há không biết

Phần 6

Chính mình có sức ư!
Bị bùa chú mê hoặc
Hay vì tu khổ hạnh.
Hoặc nhàm chán thân này
Mau nói cho trẫm biết.
Các vị tì-kheo cũng dùng kệ đáp:
Do giữ gìn giới cấm
Không dám bứt cỏ cây
Phật nói muôn cỏ cây
Đều là nhà quỷ thần.
Chúng tôi không dám trái
Cho nên chẳng bứt phá.
Cũng như nơi tụng chú
Vạch ranh giới trên đất,
Nhờ lực của thần chú
Rắn độc chẳng dám qua:
Thế Tôn phân phạm vi
Chúng tôi không dám vượt.
Chúng tôi tuy hộ mạng,
Rốt cuộc cũng chết thôi,
Nguyện giữ giới mà chết,
Chứ không phạm để sống
Có đức và không đức,
Thảy đều cũng sẽ chết.
Có đức, tuệ mạng còn,
Lại được người khen ngợi.
Không đức, mất tuệ mạng,
Cũng mất cả tiếng thơm.
Các sa-môn chúng tôi,
Giữ giới làm sức mạnh,
Bởi giới là ruộng tốt,
Sinh ra các công đức.
Là thềm thang sinh thiên,
Là hạt giống đáng khen.
Có phương tiện của Phật,
Là lợi ích bậc nhất.
Là người có trí tuệ,
Há phá bình giới đức?
Nghe kệ xong, vua rất hoan hỷ, liền cởi trói cho các tì-kheo và nói kệ:
Lành thay vững lòng trì,
Giới của đấng Thích Tôn.
Thà xả bỏ thân mạng,
Chứ không hủy giới pháp.
Tôi nay xin kính lễ,
Người xiển dương pháp mầu.
Quy y đấng Mâu-ni
Giải thoát, lìa phiền não.
Với người kiên trì giới,
Tôi cũng xin kính lễ.
85.2.4. Cảm ứng
85.2.4.1. Đời Lương, sa-môn Thích Pháp Thông: Sư người Tân Dã, Nam Dương, trụ tại chùa Cảnh Không, Tương Dương. Sư là người thông minh trác tuyệt, bản tính trong sáng, thanh cao, ăn uống đạm bạc, không cầu thức ăn ngon.
Sau, sư đến cạnh suối Bạch Mã ở núi Tán Cái, Tương Dương dựng một am tranh làm nơi cư trú. Bên cạnh hang núi, sư xây một ngôi lan-nhã. Ngày nay những người vào núi tham quan vẫn còn thấy nền chùa thuở xưa.
Đầu nhà Lương, Tấn An vương nghe danh sư nên đến thăm hỏi. Khi sắp đến thiền thất, bỗng nhiên ngựa quay đầu không chịu đi, An vương đành phải trở về. Đêm đó, ông thấy ác mộng, hôm sau ông lại đến nhưng ngựa cũng quay lại như trước. Trở về, ông hết lòng tịnh tu trai giới, nhờ đó mới đến được chỗ sư. Lúc vừa đến, ông thấy cạnh chùa có một hang sâu, bên trong lửa cháy hừng hực, đứng xem hồi lâu bỗng nhiên thấy lửa biến thành nước; trong chốc lát, nước cũng biến mất và ngôi thiền thất hiện ra. Ông hỏi thăm, mới biết lúc đó sư đang nhập định Thủy Hỏa. Nhìn vào thất, An vương thấy sư ngồi trên thằng sàng, có hai con hổ đứng hầu bên cạnh, nên không dám vào. Sư đưa tay vỗ lên đầu hổ, chúng liền nằm xuống, nhắm mát lại. Sư mời An vương vào, ông đỉnh lễ, nhân đó trình bày việc người dân trong thành bị hổ giết hại, thỉnh sư cứu giúp.
Nghe An vương nói, Sư liền nhập định. Lát sau, có mười bảy con hổ lớn chạy đến, sư truyền Tam qui cho bầy hổ và căn dặn không được làm hại đến bách tính, rồi bảo đệ tử lấy những mảnh vải y cũ buộc lên cổ chúng. Sư bảo An vương bảy ngày nữa trở lại. Đến kì hẹn, An vương thiết trai cúng dường sư và chúng tăng. Hôm đó, bầy hổ kia cũng đến, sư cho chúng ăn và tháo bỏ mảnh vải trên cổ. Từ đó hổ không còn làm hại dân chúng nữa.
Hôm ấy, sư dẫn An vương đến bên dòng suối Bạch Mã, có một con rùa trắng bơi đến nhận thức ăn trên tay sư. Sư bảo An Vương:
- Đây là rồng đực!
Sư cùng mọi người đến suối Linh, có một con cá chép năm màu cũng bơi đến nhận thức ăn từ tay sư. Sư bảo:
- Đây là rồng cái!
An vương cùng các quan lại đều tán dương việc này, đồng thời mở hội bố thí lớn. Đêm ấy, có khoảng vài chục tên trộm đến cướp những vật bố thí. Bỗng nhiên, một con hổ xuất hiện, gầm lên cản đường. Lại thấy một người rất cao lớn, ngay cả cây tùng cũng chỉ cao đến gối, đứng cạnh thiền thất cầm chày kim cương canh giữ. Suốt đêm, bọn cướp chạy quanh quẩn không tìm được lối ra, đến trưa mới trở về. Vương thấy thế rất kinh ngạc. Đến chiều, bọn chúng ra đầu thú. Vương bèn soạn một bản tấu văn dâng lên vua.
Sư ở trong thiền thất, thường có một con nai và một con chim sẻ trắng hầu bên cạnh. Sư đến đâu cũng đem lòng từ cứu giúp muôn loài. Có lần, gặp các đồ tể đang chuẩn bị giết bầy heo hơn trăm con, sư liền đọc ba lần câu: “Giải thoát Thủ-lăng-nghiêm!”. Những sợi dây buộc heo tự nhiên đứt ra, nhờ đó chúng đều chạy thoát. Bọn đồ tể nổi giận đánh sư, nhưng tay chân họ đều cứng đơ, không cử động được. Sau khi được sư giáo hóa, họ đều hối hận ăn năn việc đã làm và từ bỏ nghề đồ tể.
Lần khác, thấy một ngư dân đang thả lưới bắt cá ở sông Hán, sư cũng đọc lên ba lần: “Giải thoát Thủ-lăng-nghiêm” như trước. Ngư dân kéo lưới lên không có con nào, nên liền hồi tâm, mang lưới trở về.
Kinh châu bị hạn hán đã lâu, chư tăng chùa Trường Sa sai một vị đến thỉnh sư cầu mưa. Vị ấy vừa trở về thì trời đổ mưa lớn, ao hồ đều đầy tràn.
Sau, sư thị tịch ở chùa Thiên Quan, tại Giang Lăng, nhằm niên hiệu Thái Sơ (397-399) nhà Lương. Chùa này hiện vẫn còn bia kí.
85.2.4.2. Đời Tùy, sa-môn Thích Pháp Sung: Sư họ Tất, người Cửu Giang, ở chùa Hóa Thành, tại Lô Sơn, Giang châu. Sư thường tụng kinh Pháp hoa và Đại phẩm. Cuối cùng, sư đến chùa Hóa Thành, lưng chừng núi Lô tu tập thiền định. Nếu không phải là việc của tăng thì sư không bao giờ rời núi. Sư khuyên chúng tăng không nên cho người nữ vào chùa, vì sẽ tổn hại Phật pháp và bị thế tục dèm pha. Sư luôn lấy việc tu tập làm trọng, nhưng vẫn còn một số người không nghe theo, nên tự than: “Sống mà không gặp Phật đã là một tội duyên, lại còn chẳng giúp

Phần 7

được chính giáo lưu truyền. Vậy ta nên chết sớm thì lo gì nơi đây không có người trì giới!”
Thế là, sư leo lên ngọn Lô Sơn, rồi lao xuống núi, thệ bỏ thân mạng, nguyện sinh Tịnh Độ. Thế nhưng lúc rơi xuống, đầu sư bỗng quay lên rồi chậm chậm rơi xuống vực sâu mà thân thể không chút thương tổn.
Lúc đầu, tăng chúng trong chùa không ai hay biết. Sau đó, có người lên đỉnh núi, trên đường nghe văng vẳng bên dưới vực sâu hơn nghìn trượng có tiếng người, liền tìm đến nơi, thấy sư vẫn bình an và đang tụng niệm, bèn đón trở về chùa. Tăng chúng cảm kích trước sự hi sinh của sư, nên từ đó không còn giao tiếp với người nữ.
Sáu năm sau, vào cuối niên hiệu Khai Hoàng (600), sư viên tịch. Bấy giờ thời tiết rất nóng, nhưng thi thể sư không hề thối rữa.
85.3. NHẪN NHỤC
85.3.1. Lời dẫn
Trộm nghe, đức nhẫn cao quí nhất, trì giới và khổ hạnh cũng không sánh kịp. Do đó tì-kheo sằn-đề bị gia hình tàn khốc vẫn không oán. Tiên nhân nhẫn nhục dù bị chặt tay chân cũng không giận.
Hơn nữa, đạo từ bi lấy việc cứu độ làm đầu, tâm bồ-tát lấy sự thương xót làm gốc. Thế nên các ngài thường hiện thân khắp địa ngục thay chúng sinh chịu khổ, độ khắp tất cả loài hữu tình, ban cho họ sự an lạc. Lẽ nào chúng sinh chỉ vì một sự xúc phạm nhỏ đã khởi đại sân hận, thậm chí trừng mắt, lớn tiếng mắng chửi, mặt mày nhăn nhó rồi đánh nhau. Hoặc cha con, anh em giết hại lẫn nhau; bạn bè quyến thuộc trở lại gây thương tích, hung bạo còn hơn chim cú, diều hâu; hiểm độc hơn cả loài ong, bò cạp. Vì thế oán hận tiếp nối, đời đời không dứt.
85.3.2. Khuyên tu nhẫn nhục
Kinh Bồ-tát tạng ghi: “Một khi ta khởi tâm sân giận, lập tức những căn lành đã gieo trồng trong trăm nghìn đại kiếp đều tiêu mất. Nếu những căn lành của ta đã bị sân làm tổn hại, thì phải trải qua trăm nghìn đại kiếp mới trở lại siêng năng khổ nhọc tu hành thánh đạo; như vậy thì quả Vô thượng bồ-đề rất khó được. Do đó, ta phải mặc áo giáp nhẫn nhục, dùng sức kiên cố hàng phục ma quân sân giận.
Này Xá-lợi tử! Nay ta nói rõ cho ông nghe việc này:
- Thuở quá khứ, Ta là một vị đại tiên tên Tu Hành Xứ. Bấy giờ có một ác ma, hóa ra năm trăm người nam tráng kiện thường đến mắng chửi Ta thậm tệ, suốt cả ngày đêm. Ngay cả lúc Ta qua lại, đi đứng, ngồi nằm, trong tăng phòng yên tĩnh, hay nơi xóm làng, hoặc nhà thế tục, hoặc trên đường phố, hoặc chỗ vắng vẻ thì các hóa ma cũng đều theo dùng lời thô ác hủy nhục, mắng chửi, suốt năm trăm năm chưa từng ngưng nghỉ. Này Xá-lợi tử! Trong năm trăm năm bị ác ma mắng chửi như thế, nhưng chưa bao giờ Ta khởi một niệm sân hận, trái lại thường khởi tâm từ bi thương xót giúp đỡ họ”.
Luận Thành thật ghi: “Kẻ tiểu nhân bị sỉ nhục chửi máng thì không thể chịu nổi, như chim hứng chịu trận mưa đá. Ngược lại, bậc đại nhân bị mắng chửi thậm tệ vẫn bất động, như voi gặp mưa hoa. vì thế, hành giả phải thường quán sát tường tận nhân duyên người đối diện. Có thể trong đời quá khứ họ là cha mẹ, vì nuôi dưỡng ta mà không ngại gây tội hay tạo phúc, nhưng ta chưa từng báo ân, lẽ nào lại giận họ? Hoặc có thể họ là anh em, vợ con, quyến thuộc, thánh nhân, bạn bè V.V.. Nhưng dưới mắt phàm tình ta không biết được, cớ sao lại hủy báng họ?”.
Nhiếp luận ghi: “Nhờ quán sát năm trường hợp mà diệt trừ được sân hận:
1. Quán tất cả chúng sinh đều là người ân của ta,
2. Quán tất cả chúng sinh bị hoại diệt trong từng sát-na, người nào gây hại, người nào bị hại?
3. Quán chỉ có pháp, không có chúng sinh thì ai gây hại, ai bị tổn hại?
4. Quán tất cả chúng sinh đều phải chịu khổ, cớ sao muốn làm họ khổ thêm!
5. Quán tất cả chúng sinh đều là con của ta, sao lại khởi tâm tổn hại?”.
Kinh Bảo ân ghi: “Giả sử bị quấn vòng sắt nóng trên đầu, cũng không bao giờ vì sự đau đớn ấy mà sinh lòng ác”.
Luận Thành thật ghi: “Người thực hành tâm từ, dù ngủ hay thức đều được an ổn, không thấy ác mộng, được chư thiên ủng hộ, mọi người yêu mến, không bị hãm hại, không bị binh đao, không bị chết vì nước trôi, lửa cháy”.
Luật Tứ phần có bài kệ:
Hạnh nhẫn nhục đứng đầu,
Phật nói vô vi cao,
Xuất gia làm hại người,
Không gọi là sa-môn.
Kinh Di giáo ghi: “Người thực hành nhẫn nhục, gọi là người có sức mạnh”. Kinh này cũng chép:
“Thấy lỗi của người, không được gièm pha. Chính mình phạm lồi, cần phải sám hối”.
Tân Tức hầu Mã Viện khuyên con cháu: “Ta muốn các con khi nghe lỗi của người như nghe tên cha mẹ. Tai có thể nghe, nhưng miệng không nên nói”.
Kinh ghi: “Khen ngợi điều hay của người, chớ khoe việc tốt của mình”.
Sách Nho ghi: “Bậc quân tử khen điều tốt của người, không phá điều tốt của người”.
Kinh chép: “Bố thí không mong cầu báo đáp. Nếu được người báo đáp dù ít hay nhỉều đều nên chú nguyên, thụ nhận với lòng hổ thẹn”.
Ngày xưa, một môn khách của nước Ngụy nói với Tín Lăng quân: “Công tử ban ơn cho người, xin công tử hãy quên! Người ban ơn cho công tử, xin công tử đừng quên!’’.
Lại ghi: “Bố thí cho người, không nên ghi nhớ! Nhận sự bố thí, nhớ mãi chẳng quên”.
Kinh ghi: “Tha thứ người giống như tha thứ mình, chớ giết hại và đánh đập chúng sinh!”.
Sách Nho ghi: “Điều mình không muốn, chớ ban cho người”.
Nên biết, về cơ bản thì Phật giáo và các tôn giáo khác đều giống nhau. Tuy hình tướng có khác, nhưng lập hạnh không sai. Nếu trái với ý chỉ này tức đồng với người ngu, không thuộc nội ngoại giáo. Kinh chép: “Phật thuyết pháp cho chúng sinh vì muốn họ đoạn trừ vô minh mê hoặc, cũng như thầy thuốc giỏi, tùy bệnh cho thuốc”. Đó gọi là nội giáo.
Hiếu kinh ghi: “Đạo trời thật công minh, chỉ người có lòng nhân là được ban phúc”. Đây là lời của ngoại giáo.
Nếu người xuất gia khéo quán khổ, không, vô thường, vô ngã, xa lìa sinh tử, quyết chí cầu xuất thế, đó là nương vào nội giáo. Nếu trái hạnh này là đồng ngoại đạo. Nếu người tại gia, nhàm chán thế tục, lòng mên mộ ý chí thanh cao, dốc lòng kính tin Tam bảo, gìn giữ bốn đức, thực hành hiếu đễ, nhân, nghĩa, lễ, trí, trinh hòa, ái kính thì cũng đồng với nội giáo. Nếu trái với điêu này, ắt đồng với ngoại đạo. Nếu người tại gia hành trì nội giáo, sẽ thấu rõ chân lí, tâm thường khế hợp lí đạo, dần dần tiến lên con đường giải thoát, thẳng đến quả Bồ-đề.
Nếu đã biết như thế, lại muốn thực hành hạnh nhẫn này, chỉ cần tự hạ mình, nhường hết đức hạnh về người, cũng như chiếc khăn lau bụi, gom bụi bẩn về mình, để người được sạch. Vì thế, kinh ghi: “Lùi một bước mà thành tựu, đó là Phật đạo”.
Nên sách Nho ghi: “Bậc quân tử kính nhường mà thành công”. Chính là nghĩa này. Vì thế, thường phải khen ngợi người, luôn khiển trách chính mình.
85.3.3. Đức nhẫn
Kinh Đại bảo tích ghi: “Nhẫn nhục có mười:
1. Không chấp ngã và ngã sở.
2. Không phân biệt chủng tộc, giai cấp.
3. Phá trừ tâm kiêu mạn.
4. Bị hại vẫn không trả thù.
5. Quán tâm vô thường.
6. Tu tập từ bi.
7. Tâm không buông lung.
8. Không màng đến những việc đói khát, khổ vui.

Phần 8

9. Đoạn trừ sân hận.
10. Tu tập trí tuệ.
Nếu người nào thành tựu được mười điều này thì có thể tu hạnh nhẫn nhục”.
Kinh Nguyệt đăng tam-muội ghi: “Phật dạy:
- Nếu vị bồ-tát nào hành từ bi nhẫn nhục, sẽ được mười lợi ích:
1. Lửa không thể đốt cháy.
2. Đao kiếm không làm tổn thương.
3. Không trúng độc.
4. Nước không thể cuốn trôi, nhận chìm.
5. Được phi nhân ủng hộ.
5. Thân tướng đoan nghiêm.
7. Khống rơi vào đường ác.
8. Sinh lên cõi Phạm thiên tùy theo ý thích.
9. Ngày đêm luôn an ổn.
10. Thân được an vui”.
Kinh Tư-ha tam-muội ghi: “Đức Phật dạy:
Nhẫn nhục sẽ đạt sáu năng lực, chóng thành tựu Nhất thiết trí. Đó là:
1. Được Thân lực: thân bền chắc như kim cương, không có tì vết, lửa không thể đốt cháy, đao không làm tổn thương, tất cả mọi người đều không thể làm lay động.
2. Được Khẩu lực: được sáu loại âm thanh như âm thanh từ miệng Như Lai nói ra, thấu suốt đến tam thiên đại thiên thế giới nhật nguyệt.
3. Được Ý lực: sức mạnh của ý, trăm ngàn ức quân ma đến cũng không lay động được dù chỉ mảy lông.
4. Được Thần túc lực: chỉ ấn một ngón chân cũng làm chấn động tam thiên đại thiên thế giới nhật nguyệt, nhưng không làm chúng sinh trong đó kinh sợ.
5. Được Đạo lực: được đạo lực như chư Phật ở mười phương giảng kinh thuyết pháp cho mọi người nghe, không thiếu sót một ai.
6. Được Tuệ lực: được sức mạnh trí tuệ, trong khoảng búng ngón tay có thể thấy biết được tất cả những điều nên biết, điều nên thấy, điều nên học”.
Lục độ tập kinh ghi: “Có bốn trường hợp cần phải nhẫn nhục để được đầy đủ trí tuệ. Đó là:
1. Khi cầu pháp, nhẫn chịu lời mắng chửi của người.
2. Khi cầu pháp, nhẫn chịu sự đói, khát, lạnh, nóng, gió, mưa.
3. Khi cầu pháp, vâng theo lời dạy của hòa-thượng, a-xà-lê".
4. Khi cầu pháp, lãnh hội ba môn giải thoát: không, vô tướng, vô nguyện”.
Kinh Ti-kheo tị nữ nhân ác danh có bài kệ:
Tuy nghe nhiều tiếng xấu,
Người khổ hạnh nhẫn chịu,
Không nên tự than khổ,
Cũng không được buồn phiền.
Loài nghe tiếng sợ hãi,
Chính là thú trong rừng,
Là chúng sinh loạn động,
Không phải pháp xuất gia.
Người nhân từ nên nhẫn,
Tất cả mọi tiếng xấu,
Giữ tâm nhẫn kiên cố Đó là pháp xuất gia.
Không phải dọ người nói,
Mà ông thành giặc cướp,
Cũng không vì lời họ,
Khiến ông thành la-hán.
Nếu ông đã tự biết,
Chư thiên cũng sẽ biết.
85.3.4. Dẫn chứng
Luật Ngũ phần ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
Vào thời quá khứ, bên cạnh hồ nước a-luyện-nhã có hai chim nhạn kết bạn thân với một còn rùa. Một thời gian sau, nước hồ cạn khô, hai chim nhạn bèn nói với nhau:
- Nay nước trong hồ đã khô cạn, chắc bạn chúng ta khổ sở lắm!
Thế rồi chúng nói với rùa:
- Nước trong hồ đã khô cạn, bạn không thể sống được! Bây giờ bạn hãy ngậm vào một cành cây, chúng tôi mỗi đứa ngậm một đầu, đưa bạn đến nơi có nhiều nước. Nhưng khi ngậm cây, bạn không được mở miệng!
Thế rồi, chúng thực hành theo như đã định. Lúc bay qua một làng nọ, bọn trẻ trông thấy liền reo lên:
- Ôi! Nhạn gắp rùa bay kìa!
Nghe vậy, rùa tức giận nói:
- Liên can gì đến bọn bây!
Ngay lúc ấy, rùa liền tuột khỏi cành cây, rớt xuống đất chết.
Nhân sự việc này, Đức Phật nói kệ:
Người sống ở trên đời
Búa bén ngay trong miệng,
Sở dĩ chém chính mình
Là do nói lời ác.
Đáng chê lại khen ngợi
Đáng khen lại chê cười,
Tự chuốc lấy tai họa
Chẳng bao giờ an vui.
Phật bảo:
- Con rùa ấy chính là Điều-đạt, xưa kia vì sân hận nên mở miệng nóị đến nỗi phải bị chết thảm thương. Ngày nay Điều-đạt lại sân hận, mắng chửi Như Lai, nên bị đọa địa ngục lớn”.
Kinh Pháp cú thí dụ ghi: “Thuở xưa, khi La-vân chưa đắc đạo, tính tình ương bướng, lời nói thiếu chân thật. Thấy vậy, Đức Phật bảo:
- Con hãy đến tinh xá Hiền-đề mà ở, cố gắng nhiếp phục lời nói và tâm ý, siêng năng tụng kinh, trì giới!
La-vân vâng lời, đỉnh lễ Phật rồi ra đi. Đến ở được ba tháng, La-vân thấy hổ thẹn, tự thân sám hối, ngày đêm chẳng biếng trễ. Một hôm, Đức Phật đến tinh xá, La-vân vui mừng, chạy đến đỉnh lễ. Sau khi ngồi vào thằng sàng, Phật bảo La-vân:
- Con hãy mang chậu nước đến rửa chân cho Như Lai!
La-vân y lời, mang nước đến rửa chân cho ngài. Sau khi rửa chân xong, Phật hỏi:
- Con thấy nước rửa chân trong chậu không?
La-vân bạch Phật:
- Dạ con thấy!
Phật hỏi La-vân:
- Nước này dùng để nấu ăn nấu uống được không?
La-vân đáp:

Phần 9

- Bạch Thế Tôn, nước này không thể dùng lại được! Bởi vì, nước này vốn sạch, nhưng nay đã rửa chân nên thành nhơ bẩn, không thể dùng.
Phật dạy:
- Con cũng như vậy, tuy là con của Như Lai, cháu của quốc vương, đã từ bỏ vinh hoa phú quí ở đời, xuất gia làm sa-môn, nhưng con không biết tinh tấn nhiếp thân, giữ lời, trong lòng đầy dẫy cấu uế ba độc thì cũng giống như nước trong chậu này, không thể dùng lại được.
Đức Phật lại bảo La-vân mang chậu nước đổ đi. La-vân làm theo lời Phật. Phật lại hỏi La-vân:
- Nước trong chậu tuy đã đổ đi, nhưng cái chậu này có thể dùng đựng thức ăn hoặc nước uống không?
La-vân bạch Phật:
- Không thể, thưa Thế Tôn! Vì cái chậu đã từng đựng đồ dơ bẩn rồi!
Phật bảo La-vân:
- Con cũng như vậy, tuy đã làm sa-môn, nhưng miệng không nói lời chân thật, tính tình ngang bướng, không tinh tấn, từng mang tiếng xấu, khác nào cái chậu đã rửa chân không thể đựng thức ăn.
Phật lại dùng ngón chân hất chậu nước, rơi xuống đất, lăn tròn mấy vòng rồi dừng lại. Phật hỏi La-vân:
- Nếu cái chậu này bể, con có tiếc không? La-vân bạch Phật:
- Đồ đựng nước rửa chân này là vật không có giá trị. Con chỉ tiếc chút ít thôi!
Phật bảo La-vân:
- Cũng vậy, con tuy làm sa-môn, nhưng không biết nhiếp phục thân miệng, nói lời xấu ác, làm tổn thương nhiều người, nên đại chúng không thương, người trí chẳng mến. Sau khi mạng chung, thần thức luân chuyển trong ba đường, chịu nhiều khổ não. Vô lượng chư Phật và các bậc hiền thánh không thương tiếc. Cũng như con không thương tiếc cái chậu nước vậy!
La-vân nghe Phật dạy, lòng rất xúc động và hổ thẹn.
Phật lại dạy thêm:
- Thí như voi chiến hai ngà, hai tai, bốn chân và một cái đuôi, là chín món binh khí nghiêm ngặt bảo vệ cái vòi. Bởi vòi voi rất mềm và là nơi hiểm yếu, nêu bị trúng tên sẽ chết. Người dù đã phạm chín điều ác, nhưng cũng phải gìn giữ khẩu nghiệp. Sở dĩ giữ gìn khẩu nghiệp là sợ phạm hết mười điều ác, sẽ rơi vào ba nơi xấu ác. Người không gìn giữ khẩu nghiệp, như vòi voi bị thương. Người phạm vào mười điều ác không chỉ rơi vào ba nơi cực xấu ác mà còn chịu đau khổ cùng cực!
Phật liền nói kệ:
Ta như voi chiến đấu
Chẳng sợ trúng tên độc
Thường dùng lòng thành tín
Răn những người buông lung
Như voi đã điều phục
Vua cưỡi thật vừa lòng
Người điều phục cao quí
Nhờ có lòng thành tín.
La-vân nghe Phật dạy khẩn thiết, lòng rất hổ thẹn, tự nhủ cố gắng khắc cốt ghi tâm, tinh tiến nhu hòa, luôn nhẫn nhục như đất; do đó tâm ý tịch lặng, liền chứng quả A-la-hán”.
Kinh La-vân nhẫn nhục ghi: “Một hôm nọ, La-vân đi đến nhà một bà-la-môn bất tín để khất thực. Vị bà-la-môn này bỏn xẻn không cho, còn đánh La-vân chảy máu đầu, lại bỏ cát vào bình bát. La-vân cố nhẫn chịu không chống trả, im lặng mang bình bát đến bờ sông gội đầu, rửa bát, rồi thầm nghĩ: ‘Ta đi khất thực, người kia vô cớ đánh ta. Ta chỉ đau trong chốc lát, chỉ sợ họ phải chịu khổ dài lâu. Cũng như kiếm bén chém thây thối, thây không biết đau, chẳng phải kiếm không bén. Lại như vị cam lộ của cõi trời đem cho loài heo ngu kia ăn, heo không ăn mà bỏ chạy, đó chẳng phải do cam lộ không ngon. Ta đem lời chân thật của Phật để dạy người ngu si ở thế gian, người ngu không biết suy nghĩ, đâu phải lời Phật không đúng!’.
La-vân trở về bạch Phật. Phật dạy:
- Người khởi tâm ác là đã tự hại mình, là người xấu xa, sau khi chết sẽ đọa vào địa ngục Vô Trạch, bị quỉ ngục hành hình đau đớn, muôn khổ kéo đến. Trải qua tám vạn bốn ngàn năm, thọ mạng người này mới hết. Sau đó thần hồn lại thụ thân rắn độc, nọc độc trở lại hại mình. Sau khi chết sinh làm rắn hổ mang, thường ăn đất cát, trải vạn năm mới hết. Đó là vì sân giận với người trì giới, nên phải mang thân rắn độc, vì lấy cát bỏ vào bình bát nên đời đời ăn đất cát mà chết. Tội hết, được sinh làm người, nhưng lúc mang thai người mẹ phải mắc bệnh nặng, của cải trong nhà ngày một giảm sút, đứa trẻ sinh ra bị ngu đần, không có tay chân. Cha mẹ kinh hãi thốt lên: ‘Yêu tinh gì vậy, thật là điềm chẳng lành!’,, liền đem đứa bé ấy bỏ ở ngã tư đường, người qua kẻ lại thảy đều ghê sợ, tranh nhau lấy đá gạch, dao, gậy đánh chọi vào đầu, làm dập não, đau đớn cùng cực mười ngày sau mới chết. Sau khi chết, thần hồn tái sinh làm người không tay chân và ngu si như trước, trải qua năm trăm đời tội nặng kia mới hết. Sau đó lại sinh làm người nhưng thường bị đau đầu, sinh vào nơi không gặp Phật, chẳng được nghe giáo pháp, xa cách chúng tăng, mãi luân chuyển trong ba đường ác. Nếu có chút phúc, được sinh làm người nhưng bẩm tính ngu si, hung ác bạo ngược, hình dạng xấu xí, bị mọi người ghét bỏ, sống đời nghèo khổ, thánh hiền chẳng giúp đỡ”.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Bấy giờ tôn giả Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên đang ở tại núi Kỳ-xà-quật. Một hôm, tôn giả Xá-lợi-phất mới cạo tóc xong, quỉ Ưu-bà-gia-trá trông thấy liền nói với quỉ Gia-trá:
- Chúng ta hãy đến đánh vào đầu sa-môn kia!
Quỉ Gia-trá nói:
- Ngươi chớ nói như vậy! Vị sa-môn này đức độ và đạo lực rất lớn. Ngươi chớ khởi tâm sân để rồi chuốc lấy nỗi khổ mãi mãi, không được lợi ích gì!
Quỉ Gia-trá can ngăn hai ba lần, nhưng Ưu-bà-gia-trá không chịu nghe theo, nên đã giơ tay đánh vào đầu tôn giả Xá-lợi-phất. Ngay lập tức, nó hét lên:
- Gia-trá, lửa đốt ta! Gia-trá, lửa nung ta!
Gọi hai ba lần xong, ưu-bà-gia-trá tự nhiên bị chôn vào lòng đất, rồi rơi vào địa ngục A-tỳ.
Nghe tin Xá-lợi-phất bị quỉ đánh, ngài Mục-kiền-liên liền đến hỏi thăm:
- Thế nào? Tôn giả chịu được sự đau đớn này chăng?
Ngài Xá-lợi-phất đáp:
- Thưa tôn giả Mục-liên! Tuy có đau, nhưng tâm tôi cũng chịu được, cũng không đến nỗi đau lắm!
Mục-liên nói với Xá-lợi-phất:
- Hay thay tôn giả Xá-lợi-phất! Huynh thật là người đức độ lớn, nguyện lực lớn. Nếu con quỉ này đánh vào núi Kỳ-xà-quật thì núi nát vụn như cám, huống gì đánh vào người mà không đau sao?
Tôn giả Xá-lợi-phất nói với Mục-kiền-liên:
- Quả thật tôi không đau lắm đâu!
Trong lúc tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên an ủi nhau, đức Thế Tôn dùng thiên nhĩ nghe được lời này, liền nói kệ:
Tâm ấy như kim cương
Kiên cố chẳng lay động
Không còn tâm nhiễm trước
Kẻ sân chẳng phá được
Nếu có được tâm này
Đâu cần lo đau khổ
Luận Tân bà-sa ghi: “Đúng thật như thế chính tôi được nghe: Vào kiếp Hiền trong quá khứ, có vị vua tên là Yết-lợi. Bấy giờ, có tiên nhân Nhẫn Nhục sống trong một khu rừng, chuyên tu khổ hạnh.

Phần 10

Một hôm, vua cùng quyến thuộc trong cung vào rừng dạo chơi, múa hát thỏa thích, nhưng không cho người nam theo. Được một lúc lâu, vua mệt mỏi quá bèn ngủ thiếp đi. Khi ấy, vì thích hoa quả, nên các cung nữ đi dạo khắp khu rừng. Từ xa, nhìn thấy vị tiên nhân ngồi ngay thẳng, một mình yên lặng tư duy, các cung nữ liền cùng nhau đến đó. Đến nơi, họ đỉnh lễ rồi ngồi vây quanh. Vị tiên nhân giảng giải về tội lỗi do tham dục gây ra cho họ nghe. Tiên nhân dạy:
- Các dục đều là pháp bất tịnh, cấu uế, thật đáng chê trách, thật đáng nhàm chán, đâu có người trí nào lại ưa gần gũi nó! Các cô nên sinh lòng nhàm chán!
Vua tỉnh giấc không thấy các cung nữ, liền suy nghĩ: ‘Lẽ nào có người dụ dỗ dẫn các cung nữ của ta đi mất ơ!”. Thế là, vua bèn rút kiếm đi tìm khắp nơi, chợt thấy các cung nữ đang ngồi quanh vị tiên nhân. Vua quá tức giận, mắng thầm: ‘Con quỉ nào đã dụ dỗ các cung nữ của ta đây!’, rồi đến hỏi tiên nhân:
- Ông là ai?
Vị tiên đáp:
- Tôi là tiên nhân.
Vua lại hỏi:
- Ông ngồi đây làm gì?
Tiên nhân đáp:
- Tu đạo nhẫn nhục.
Vua suy nghĩ: ‘Người này vì thấy ta sân giận nên nói tu đạo nhẫn nhục. Nay ta hãy thử, để xem ông ấy thế nào!’. Vua bèn hỏi:
- Ông đã đắc định Phi tưởng phi phi tưởng xứ chưa?
Vị tiên đáp:
- Chưa!
Cứ thế, vua gạn hỏi lần lượt mãi đến:
- Ông đã đắc Sơ thiền chưa?
Tiên nhân đáp:
- Chưa!
Vua càng tức giận, mắng:
- Ông là người chưa ly dục, sao lại tùy tiện ngắm nhìn các cung nữ cửa ta, lại còn bảo là tu đạo nhẫn nhục. Ông đám duỗi một cánh tay ra, xem có thể nhẫn được không?
Tiên nhân liền duỗi một cánh tay, vua liền vung kiếm chặt rơi xuống đất, như chặt đứt cọng sen. Vua lại hỏi vặn:
- Ông là ai?
Vị tiên đáp:
- Tôi là người tu đạo nhẫn nhục!
Vua lại bảo duỗi cánh tay còn lại, rồi chém đứt nó và gạn hỏi như trước. Vị tiên cũng đáp như trước: ‘Ta là người tu đạo nhẫn nhục’. Cứ vậy, vua lần lượt chém đứt hai chân, cắt hai tai, rồi xẻo lỗ mũi. Mỗi mỗi vua đều hỏi, vị tiên nhân đáp cũng giống như trước, khiến cho bảy bộ phận trên cơ thể vị tiên đều rơi xuống đất, để lại bảy vết thương, vua mới hả giận. Bấy giờ, vị tiên nói:
- Hôm nay vì sao đức vua lại mệt mỏi, chán chường như thế? Giả như ngài có bằm nát hết thân thể tôi như hạt cải, hay như hạt bụt, tôi cũng không khởi một niệm tức giận, vì tôi nói mình tu nhẫn nhục, trọn không hai lời.
Vị tiên nhân lại phát nguyện:
- Hôm nay ta thật không có tội mà ngài lại chặt đứt bảy bộ phận trên thân ta, để lại bảy vết thương. Đến đời vị lai, khi ta đắc quả A-nậu-bồ-đề, không đợi ngài thỉnh, với tâm đại bi, trước tiên ta sẽ giúp ngài tu thất chủng đạo đoạn trừ thất tùy miên.
Nên biết, vị tiên tu hạnh nhẫn nhục ấy nay chính là Thế Tôn Thích-ca Mâu-ni, vua Yết-lợi tức là cụ thụ Kiều-trần-na. Sau khi Kiều-trần-na thấy bốn thánh đế, Đức Phật dùng thần lực phá trừ ám chướng cho ông ta, khiến ông ta nhớ lại đời quá khứ. Ông ta thấy mình là vua Yết-lợi, còn Phật là vị tiên. Lúc ấy ông đã rút kiếm chặt đứt bảy phần trên thân Phật, để lại bảy vết thương mà Phật vẫn không chút sân giận, trái lại còn phát nguyện cứu giúp ông ta.
Đức Phật há lại làm trái tâm nguyện xưa sao? Kiều-trần-na nghe xong, vô cùng hổ thẹn, chắp tay cung kính đỉnh lễ Đức Phật”.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục