Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 78 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)

24/12/2015

QUYỂN 78 Quyển này tiếp theo chưorng Mười nghiệp ác. 84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt) 84.12. SÂN HẬN 84.12.1. Lời dẫn Do bốn đại khuấy động mà ba độc lẫy lừng. Bởi sáu giặc xâm hại mà trăm mối lo dồn dập. Con người, hoặc d...

PUCL QUYỂN 78 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
Phần 1

QUYỂN 78
Quyển này tiếp theo chưorng Mười nghiệp ác.
84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)

84.12. SÂN HẬN
84.12.1. Lời dẫn
Do bốn đại khuấy động mà ba độc lẫy lừng. Bởi sáu giặc xâm hại mà trăm mối lo dồn dập. Con người, hoặc do xưa đã ôm lòng hiềm khích, nên luôn rình tìm chỗ hay dở của nhau; hoặc luôn ôm mối hận thù mà thường hãm hại. Họ hoàn toàn mất hết nhân nghĩa, chẳng có lòng từ; tìm cách giết hại, tạo cớ giết, hoặc xúi người giết, hoặc khen sự giết, hoặc âm thầm đầu độc, hoặc bí mật dùng tà chú khiến trùng độc đi vào lục phủ, ngũ tạng xé nát tâm can, làm cho người phải ngậm mối bi hận, mãi mãi ôm nỗi thống khổ xuống cửu tuyền. Lòng đau đớn xót xa không biết dùng lời nào bày tỏ, nỗi oan khiên này biết tố cáo cùng ai.
Cho nên, kinh nói: “Trong nhà ông trưởng giả mọc nhiều cây độc, như người nhờ phao qua biển mà la-sát theo xin”.
Cũng như một ngọn đèn có thể phá tan trăm năm tăm tối, một đốm lửa nhỏ cũng có thể thiêu rụi vạn bó củi khô. Thế mà, tâm sân hận còn hơn lửa dữ, cho nên người học đạo phải giữ gìn. Không có giặc cướp công đức nào ác độc hơn sân hận. Nếu một niệm lửa sân khởi lên, liền thiêu rụi tất cả các công đức lành. Do đó, người ác thì tất cả mọi người và súc sinh đều kinh sợ. Người không biết phân biệt chọn lấy điều lành, hễ nói ra điều gì cũng trở thành ác độc; thích làm mích lòng người khác, khiến họ chán ghét. Người không có lòng từ ái, chúng sinh sẽ kinh sợ và ghét bỏ, lánh xa như tránh hổ sói; hiện tại bị người khinh miệt, sau khi chết sẽ đọa vào địa ngục. Cho nên, người trí thấy được lỗi này, phải nhẫn nhục diệt trừ thì không sợ khổ đau.
84.12.2. Dẫn chứng
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Nếu người nào khởi tâm sân hận là tự thiêu đốt thân mình. Tâm luôn sân hận thì sắc mặt biến đổi, khiến mọi người đều kinh sợ, xa lánh, khinh miệt, ruồng bỏ, sau khi chết bị đọa vào địa ngục. Vì sân hận thì không việc ác nào mà không làm. Cho nên, người trí phải dứt bỏ tâm sân hận như tránh xa lửa dữ. Biết được lỗi của sân hận là làm lợi ích cho mình. Nếu muốn lợi ích cho mình và người thì phải thực hành hạnh nhẫn nhục.
Người dùng nước trí tuệ dập tắt lửa sân hận, cũng giống như người có sức mạnh dùng nước dập tắt lửa lớn đang thiêu đốt nhà cửa. Người hay nhẫn nhục thì tâm được thuần thiện. Nếu người bỏ được tâm sân hận thì ai cũng yêu mến, thích gần gũi, tin tưởng, dung mạo luôn tươi sáng, tâm ý vắng lặng. Người giữ tâm trong sạch thì thân miệng không lầm lỗi, hết sầu lo, không còn nỗi sợ rơi vào đường dữ, dứt sự oán ghét, không mang tiếng xấu, không còn phiền não, oan gia chấm dứt, không bị người xấu chửi mắng, không còn các nỗi sợ hãi như hối tiếc, tiếng ác, điều bất lợi, bị khổ, tâm kiêu mạn. Nếu người không còn những nỗi sợ hãi như thế thì đầy đủ tất cả công đức, tiếng tốt đồn khắp, được niềm vui trong đời hiện tại và vị lai. Chúng sinh xem người nhẫn nhục ấy như cha mẹ, ưa thích gần gũi.
Thế nên, sân hận giống như rắn độc, dao bén, lửa dữ. Dùng nhẫn nhục diệt trừ thì mọi sân hận đều chấm dứt. Kềm chế sân giận mới gọi là nhẫn.
Nếu người tu pháp lành thì nên suy nghĩ: ‘Nhẫn nhục giống như báu vật cần phải giữ gìn thật kĩ’. Nhưng chúng sinh, người thiện kẻ ác khác nhau; người ngu cho việc chửi mắng, vạch lỗi kẻ khác là hay, còn người trí thì cho hạ mình im lặng là trên hết. Người ngu thường biến chuyện tranh cãi nhỏ thành oán thù lớn. Nếu mình hơn thì người kia oán hận càng sâu; ngược lại, thua người thì mình thêm buồn khổ. Vì thế, phải cẩn thận lời nói, không bàn lỗi của người. Dầu người có chửi mắng mình, cũng đều do nhân đời trước, chẳng phải vô cớ”.
Lục độ tập kinh ghi: “Ngày xưa, một vị bồ-tát hóa làm con voi chúa có tâm lượng rộng lớn, quán biết có Phật, pháp, tăng, nên qui y Tam bảo, luôn dùng lòng từ cứu độ chúng sinh và phát nguyện: ‘Nếu thành Phật, ta sẽ độ tất cả chúng sinh’.
Voi chúa cai quản đàn voi năm trăm con, trong đó có hai con là vợ nó. Một hôm, voi chúa xuống ao hái được một hoa sen rất đẹp, liền cho vợ cả. Được hoa, vợ cả rất vui mừng nói:
- Tiết trời lạnh giá như thế, tại sao trong ao lại có hoa này?
Vợ nhỏ nổi lòng tham lam, ghen tức và thề:
- Ta sẽ dùng chất cực độc giết ngươi!
Vợ nhỏ do quá uất hận mà chết, thần thức đầu thai trở lại làm con gái một nhà giàu có, nhan sắc tuyệt trần, thông minh, hiểu thấu các việc xưa nay, có tài xem thiên văn, biết rõ thời vận thịnh suy.
Vua nghe tiếng, liền cưới cô ấy làm phu nhân. Vừa vào cung, phu nhân liền tâu trình chính sách cai trị đất nước, rất hợp với ý các trung thần, nên vua rất vui mừng và yêu quí, mỗi lời phu nhân nói ra vua đều nghe theo. Một hôm, phu nhân tâu:
- Thiếp nằm mộng thấy một con voi sáu ngà, nên muốn lấy ngà của nó để khảm lên ghế. Nếu bệ hạ không tìm được thì thiếp sẽ chết.
Vua nói:
- Nàng đừng nói những lời không hay như thế, mọi người nghe được sẽ chê cười!
Thấy phu nhân buồn rầu, vua liền cho gọi bốn vị đại thần đến bàn bạc và nói đó là điềm mộng của mình rồi hỏi:
- Xưa nay có con voi như thế không?
Vị đại thần thứ nhất tâu:
- Tâu đại vương! Thần không nghe thấy!
Vị đại thần thứ hai tâu:
- Đại vương không mơ đấy chứ?
Vị đại thần thứ ba tâu:
- Thần nghe nói có con voi này, nhưng ở rất xa.
Vị đại thần thứ tư tâu:
- Nếu hỏi Đế Thích, sẽ biết rõ việc này.
Bốn vị đại thần cho gọi tất cả các thợ săn giỏi ở khắp nơi đến để hỏi việc đó.
Người thợ săn ở phương nam nói:
- Người cha quá cố của tôi nói có con voi đó, nhưng ở rất xa, khó đến được.
Bốn vị đại thần liền tâu lên vua:
- Tâu bệ hạ! Có một người biết!
Vua liền cho gọi người ấy đến. Phu nhân căn dặn:
- Ngươi đi thẳng về phía nam ba nghìn dặm, vào trong núi đi khoảng hai ngày thì đến chỗ con voi kia. Ngươi đào một cái hầm bên đường, cạo bỏ râu tóc, đắp ca-sa núp dưới hầm bắn nó, rồi cưa hai ngà mang về.
Thợ săn vâng lệnh, đi đến chỗ voi ở, đắp pháp y, ôm bát đứng dưới hầm, rồi bắn vào chân của nó. Voi chúa thấy sa-môn, liền dập đầu nói:
- Kính lễ đạo sĩ! Vì cớ gì mà ngài muốn giết tôi?
Người thợ săn đáp:
- Ta muốn lấy ngà của ngươi.
Voi chúa nói:
- Tôi đau đớn khó chịu đựng nổi, ngài hãy mau cưa lấy ngà đi! Chớ làm loạn tâm, khiến tôi phải khởi niệm ác. Nếu khởi niệm ác, chết sẽ đọa vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh. Phàm tu nhẫn nhục, thực hành hạnh từ bi, lấy thiện đáp ác là hạnh cao thượng của bô-tát.
Thợ săn liền cưa lấy ngà voi.
Voi chúa bảo:
- Đạo sĩ! Ngài hãy đi nhanh, chớ để đàn voi tìm thấy dấu vết.
Bảo thợ săn đi xa rồi, vì không chịu được sự đau đớn, voi quị hai chân xuống đất kêu lớn rồi an nhiên chết, thần thức liền sinh lên cõi trời. Đàn voi khắp nơi kéo đến và hỏi:
- Ai giết vua của chúng tôi?
Chúng kéo nhau đi tìm, nhưng không thấy kẻ giết, liền trở về canh giữ xác của voi chúa, đau khổ gào khóc thống thiết.
Phần 2

Người thợ săn mang ngà voi về, vua vừa trông thấy vô cùng sợ hãi. Phu nhân cầm ngà voi, vừa định xem thì bỗng nhiên bị sét đánh thổ huyết chết, thần thức đọa vào địa ngục.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Voi chúa lúc đó chính là Ta, vợ cả là Cù-di, người thợ săn là Điều-đạt, phu nhân là Hảo Thủ. Bồ-tát tu nhẫn nhục ba-la-mật thì phải giữ giới như thế”.
Luận Đại trí độ ghi: “Thích-đề-hoàn-nhân nói kệ hỏi Đức Phật:
Giết vật nào an ổn Giết vật gì hết lo Vật gì gốc của độc Diệt mất tất cả thiện?
Đức Phật nói kệ đáp:
Giết sân được an ổn
Giết sân hết lo buồn
Sân là gốc của độc
Sân diệt các pháp lành
Kinh Tạp bảo tạng có bài kệ:
Hơn người, người thêm oán
Thua người, ta khổ sầu
Người chẳng tranh hơn thua
Được an vui bậc nhất.
Nếu người thực hành hạnh nhẫn nhục thì có được năm đức:
1. Không hận thù.
2. Không mắng chửi.
3. Được mọi người thương yêu.
4. Tiếng tốt vang xa.
5. Đời sau sinh vào đường lành.
Năm đức này gọi là năm việc an lành.
Kinh Trường A-hàm có bài kệ:
Ngu mắng trí, trí im
Tức trí đã thắng ngu
Kẻ ngu không hiểu biết
Bảo rằng ta sợ hãi
Ta quán Đệ nhất nghĩa
Nhẫn nhục là tối thượng.
Những người tâm cực ác
Giận hờn luôn chất chồng
Không giận việc đáng giận
Là chiến thắng tối thượng.
Làm người có hai việc
Vì mình cũng vì người
Mọi người có tranh cãi
Không đáp lại mới hay.
Làm người có hai việc
Vì mình cũng vì người
Thấy người không tranh cãi
Đừng cho là người ngu.
Nếu người có sức mạnh
Mà nhịn kẻ yếu đuối
Đấy mới là mạnh nhất
Là hạnh nhẫn tối thượng.
Kẻ ngu cho mình mạnh
Đây chẳng phải là mạnh
Người nhẫn nhục như pháp
Sức này không ai bằng.
Kinh Tu hành đạo địa có bài kệ:
Miệng nói lời dịu dàng
Nhưng lòng lại xấu xa
Gặp người rất vui mừng
Liền theo như người thân.
Miệng nói lời hòa nhã
Trong lòng lại độc ác
Như cây hoa rất đẹp
Quả lại đắng và độc.
Kinh Xích chùy ô dụ ghi: “Ngày xưa, có con quạ tên Câu-kì, làm tố trên cây tại khu rừng rậm. Nó sinh con và kết bạn thân với một còn khỉ. Lúc đó, trong rừng có con rắn độc luôn rình rập, đợi lúc Câu-kì đi vắng, liền đến bắt hết quạ con ăn thịt. Trở về thấy con bị mất, Câu-kì đau đớn khóc gào, không biết con mình ở đâu. Nó suy nghĩ mãi mới biết được rắn đã ăn con của mình. Khỉ trở về thấy Câu-kì buồn khóc, nên hỏi lí do.
Câu-kì đáp:
- Rắn bắt con của tôi ăn hết rồi!
Khỉ nói:
- Tôi sẽ trả thù cho bạn.
Bấy giờ, rắn độc đang bò đi thì khỉ đến vờn trước mặt. Răn tức giận quấn lấy khỉ. Khỉ nắm được đầu của rắn, kéo đến chà xát vào một tảng đá cho chết, rồi ném bỏ xác rắn. Khỉ trở về báo tin, Câu-kì vô cùng vui mừng. Loài súc sinh còn báo thù như thế, huống gì loài người!”
Kinh Tạp thí dụ ghi: “Ngày xưa, có một con rắn, đầu và đuôi cãi nhau. Đầu nói với đuôi:
- Tôi lớn!
Đuôi cãi lại:
- Tôi đây mới lớn!
Đầu nói:
- Tôi có tai để nghe, có mắt để thấy, có miệng để ăn, đi thì đi trước, cho nên tôi lớn, còn anh đâu có khả năng đó.
Đuôi nói:
- Tôi cho đi thì anh mới đi được, nếu không cho đi thì anh cũng chịu.
Nói xong, rắn quấn thân vào gốc cây ba vòng suốt ba ngày không buông ra. Đầu không tìm được thức ăn, đói khát sắp chết.
Lúc này, đầu hạ giọng:
- Anh hãy buông tôi ra, tôi chấp nhận anh lớn.
Nghe nói thế, đuôi buông ra. Đầu lại nói với đuôi:
- Anh lớn thì hãy đi trước.
Đuôi đi trước, chưa được vài bước, rắn rơi xuống hố sâu mà chết”.
Truyện này Đức Phật dụ cho chúng sinh không có trí tuệ, mê chấp nhân ngã, cuối cùng đọa vào ba đường ác”.
Luật Tăng-kì ghi: “Vào đời quá khứ, có một đàn gà sống trong rừng rậm. Bỗng có một con chồn rình bắt ăn hết bày gà, chỉ sót lại một con gà mái. Bấy giờ, có con quạ đến sống chung với gà mái và sinh được một con. Lúc con tập kêu, quạ nói kệ:

Phần 3

Con chẳng phải của ta
Cha quạ, mẹ là gà
Sống chung sinh con đó
Không quạ, chẳng phải gà.
Nếu muốn học tiếng quạ
Lại do gà sinh ra
Nếu muốn học tiếng gà
Cha lại là loài quạ.
Học quạ giống tiếng gà
Học gà kêu tiếng quạ
Học cả quạ và gà
Chẳng nói được tiếng nào.
Ví dụ này chỉ cho vị đạo sĩ tuy giữ giới cấm, nhưng tâm còn nhiễm ô, chưa thuần tịnh, hình tướng tợ như thuần thiện, nhưng miệng buông lời xấu ác. Muốn cho họ là người thiện, nhưng miệng họ nói lời ác; muốn xem họ là người xấu, nhưng họ lại mang hình tướng xuất gia”.
Kinh Phạt độc thụ ghi: “Ngày xưa, trong khu vườn của một vị quan tại nước Xá-vệ có mọc một loại cây độc. Người nào đi ngang cây này đều bị đau đầu, hoặc nhức lưng. Vị quan chặt bỏ, nhưng nó lại đâm chồi. Vẻ đẹp của cây ai cũng thích nhìn, nhưng họ không biết cây này rất độc, nên thường đến xem và đều mất mạng. Có người hiểu biết bảo ông phải đốn hết gốc rễ, nhưng khi sắp đốn, ông lại sợ nó chết, nên cứ lưỡng lự mãi. Người xuất gia học đạo cũng như vậy.
Đức Phật nói kệ:
Đốn cây không tận gốc
Chặt rồi, lại đâm chồi
Diệt ái chẳng dứt nguồn
Khổ não lại phát sình.
Tỉnh ngộ, vị tì-kheo tự trách, liền đắc quả Tu-đà-hoàn”.
Lại trong kinh Bột có bài kệ:
Điều ác từ tâm sinh
Trở ngược lại hại mình
Như thanh sắt bị rỉ
Hủy hoại lại thân hình.
Cây trổ nhiều hoa, quả
Cành nhánh sẽ gãy lìa
Loài rắn ngậm nọc độc
Trở lại hại thân mình.
Luật Thiện kiến có bài kệ:
Nếu người khởi tâm sân
Như xe đang lao nhanh
Người lái khéo điều khiển
Không cho đó là khó
Người chế ngự tâm sân
Điều ấy mới thật khó.
Kinh Tu hành đạo địa có bài kệ:
Người khởi tâm sân hận
Oán ghét, hãm hại người
Đời sau đọa thân rắn
Hoặc làm loài thú dữ.
Như tre bị đốn ngang
Chuối trổ, la thai nghén
Trở lại hại thân mình
Nên phải khởi lòng từ.
Kinh Bách duyên ghi: “Lúc Đức Phật ở vườn tre Ca-lan-đà, tại thành Vương Xá. Bấy giờ, trong thành có trưởng giả Hiền Diện rất giàu có, của báu vô số, không thể tính kể, nhưng tính tình xấu xa, tham lam, bỏn xẻn, ganh tị, không có tâm bố thí. Ngay đên loài chim, ông cũng xua đuổi, không cho bay gần nhà. Nếu có các sa-môn, bà-la-môn hay người nghèo khổ đến xin, ông dùng lời độc ác mắng chửi họ. Do đó, sau khi mạng chung, ông đọa làm rắn độc, trở lại giữ tài sản ấy. Hễ ai đến gần nhà thì nó giận dữ, trợn mắt nhìn và muốn cắn chết.
Nghe việc này, vua Tần-bà-sa-la vô cùng kinh hãi, suy nghĩ: ‘Con rắn độc này thấy người là muốn giết hại, chỉ có Đức Phật mới điều phục được’. Nghĩ xong, vua dẫn quần thần đến gặp Phật, đỉnh lễ dưới chân Ngài, rồi ngồi sang một bên. Vua trình bày rõ sự việc và thỉnh đức Thế Tôn hàng phục rắn độc này, chớ để nó hại người. Đức Phật liền chấp nhận.
Hôm sau, Đức Phật đắp y, ôm bát đến chỗ rắn độc. Vừa thấy Đức Phật, nó nổi giận, hung hăng, định cắn Ngài. Đức Phật vận sức từ bi, từ năm đầu ngón tay phóng ra ánh sáng năm màu chiếu vào thân rắn. Ngay đó, rắn cảm thấy mát mẻ, nọc độc tan biến, trong lòng khoan khoái, ngoảnh đầu nhìn bốn phía và suy nghĩ: ‘Người này có phúc đức gì mà phóng ánh sáng chiếu vào thân ta, khiến thân mát mẻ, khoan khoái không thể tả được?’.
Bấy giờ, đức Thế Tôn thấy rắn độc đã thuần phục, nên Ngài nói nhân duyên đời trước cửa nó.
Nghe xong, rắn độc tự trách, phiền não được tiêu trừ, tự nhớ biết đời trước mình là một trưởng giả, đã tạo các nghiệp ác, nên nay phải chịu quả báo này. Rắn độc liền ở trước Đức Phật, khởi tâm cung kính tin tưởng.
Đức Phật bảo:
- Đời trước ngươi không nghe lời Ta, nên phải mang thân rắn này. Nay ngươi phải qui phục và vâng lời Ta dạy.
Rắn thưa:
- Con xin vâng lời Phật dạy, không dám chống trái!
Đức Phật bảo:
- Nếu ngươi chịu qui phục thì hãy bò vào bát của Ta.
Đức Phật vừa dứt lời, rắn liền bò vào bát. Đức Phật liền mang vào rừng.
Nghe Đức Phật đã điều phục được rắn độc và nhốt trong bát mang về, vua và quần thần triệu tập nhân dân cả nước cùng nhau đến xem. Nhìn thấy mọi người, rắn độc vô cùng hổ thẹn, chán ghét thân rắn, ngay đó mạng chung, được sinh làm một vị trời trên cõi Đao-lợi. Lúc này, vị trời suy nghĩ: ‘Ta đã tạo phúc lành gì mà được sinh lên cõi trời này?’. Suy nghĩ như vậy, vị trời quán sát biết được, lúc ở nhân gian, mình làm rắn độc, nhờ gặp Phật mà phát tâm kính tin và chán ghét thân rắn, nên đời sau được sinh lên cõi trời này hưởng sự vui sướng. Vị trời nghĩ: ‘Nay ta sẽ trở lại báo ân đức Thế Tôn". Vị trời cầm hoa hương, thân phóng ánh sáng rực rỡ, đến chỗ Đức Phật, đỉnh lễ dưới chân Ngài. Cúng dường hoa hương xong, vị ấy ngồi sang một bên, nghe Phật nói pháp, tâm ý tỏ ngộ, chứng quả Tu-đà-hoàn. Tức thời, vị ấy nói kệ khen ngợi Đức Phật:
Bậc Đại Thánh cao tột Công đức đã viên mãn Thường độ kẻ tối tăm Sớm thành tựu đạo quả.
Dứt cấu uế phiền não Vượt ra biển tử sinh Nay nhờ ân của Phật Thoát khỏi ba đường ác.
Sau khi khen ngợi Đức Phật, vị trời nhiễu Phật ba vòng, rồi trở về thiên cung.
Vua Tần-bà-sa-la và hội chúng nghe Đức Phật nói về nhân duyên tham lam, bỏn xẻn, có người đắc bốn quả Sa-môn, có người phát tâm Vô thượng bồ-đề, tất cả đều vui vẻ hành trì”.
Kinh Bách duyên ghi: “Lúc ở nước Kiều-tát-la, một hôm, Đức Phật cùng các vị tì-kheo muốn đến bên cây Lặc-na. Trên đường đi, ngang qua một đầm lầy có năm

Phần 4

trăm người chăn năm trăm con trâu rất hung dữ. Từ xa, trông thấy Đức Phật cùng các tì-kheo đang đi đến, những người này gọi lớn:
- Kính xin Thế Tôn chớ đi vào đường này! Vì trong đàn trâu, có một con rất hung dữ, thường húc chết người, Ngài không thể qua được!
Bấy giờ, Đức Phật bảo năm trăm người chăn trâu:
- Các ngươi chớ lo sợ, dù trâu kia có đến húc, Ta cũng biết cách đối phó!
Trong lúc Đức Phật đang nói, trâu dữ liền chạy đến, cong đuôi, cúi đầu, giương sừng, đạp đất, rống to, rồi vọt lên lao thẳng về phía Phật.
Lúc ấy, từ năm đầu ngón tay của đức Như Lai phóng ra năm con sư tử đứng hai bên Ngài, lại có hầm lửa lớn bao quanh bốn phía. Thấy vậy, trâu dữ kia rất sợ hãi, hốt hoảng bỏ chạy khắp nơi để tìm lối thoát nhưng không có, chỉ còn một khoảnh đất nhỏ phía trước chân Đức Phật là an ổn, mát mẻ. Nó chạy đến đó, bỗng thấy an ổn, không còn lo sợ. Lập tức, nó quì xuống, cúi đầu, liếm chân Đức Phật, rồi ngẩng lên nhìn Ngài, vui mừng khôn xiết.
Biết tâm trâu dữ đã được điều phục, đức Thế Tôn nói kệ:
Tâm ác độc lẫy lừng
Muốn đến tổn hại Ta
Mong rằng sẽ chiến thắng
Trái lại liếm chân Ta.
Sau khi nghe Phật nói kệ, trâu dữ vô cùng hổ thẹn, bỗng nhiên bừng ngộ, phiền não tiêu trừ. Nó nhớ lại đời trước của mình, khi còn làm người, đã tạo nhiều nghiệp ác, nên càng xấu hổ, không màng đến ăn uống. Ngay đó, nó mạng chung, sinh làm một vị trời trên cõi Đao-lợi, thân bỗng cao lớn như đứa trẻ tám tuổi. Vị trời suy nghĩ: ‘Ta đã tạo phúc gì mà được sinh lên cõi trời này?’. Thiên tử quán sát, tự biết lúc ở nhân gian, mình làm trâu, nhờ Đức Phật hóa độ mà được sinh lên cõi trời này; lại nghĩ: ‘Nay ta sẽ trở lại báo ân Đức Phật’.
Thế là, thiên tử mang hương hoa đến chỗ Đức Phật, ánh sáng từ thân chiếu rực rỡ vào đức Thê Tôn. Vị trời đến đỉnh lễ dưới chân Ngài, rồi ngồi sang một bên. Bấy giờ, Đức Phật nói pháp tứ đế cho thiên tử nghe. Nghe xong, tâm ý tỏ ngộ, thiên tử đắc quả Tu-đà-hoàn, đứng dậy nhiễu quanh Phật ba vòng, rồi trở lại cõi trời.
Sáng hôm sau, năm trăm người chăn trâu đến chỗ Phật. Đức Phật giảng pháp cho họ nghe. Nghe xong, tâm ý họ tỏ ngộ, ai cũng hiểu lí đạo, cầu xin xuất gia. Đức Phật bảo:
- Thiện lai, tì-kheo!
Tức thời, râu tóc họ tự rụng, thân đắp ca-sa, liền thành sa-môn. Từ đó, các vị ấy siêng năng tu tập và đều đắc quả A-la-hán.
Chứng kiến việc này, các tì-kheo bạch Phật:
- Trâu dữ này và năm trăm người chăn trâu kia đời trước đã tạo nghiệp gì mà bị đọa làm trâu, lại nhờ tu phúc gì mà được gặp Thế Tôn?
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Các ông muốn biết nghiệp báo mà họ đã tạo ở kiếp trước, Ta sẽ nói cho các ông rõ.
Đức Phật liền nói kệ:
Nghiệp thiện ác đã tạo
Năm kiếp vẫn không mất
Nhờ nhân duyên thiện nghiệp
Nay cảm bảo tốt lành.
Vào kiếp Hiền, tại nước Ba-la-nại, có Đức Phật Ca-diếp ra đời. Bấy giờ, trong pháp hội có vị tì-kheo tinh thông ba tạng dẫn năm trăm đệ tử đến nước khác giáo hóa. Lúc ở trong chúng hội cùng nhau bàn luận, có người vặn hỏi khiến tì-kheo trả lời không thông suốt. Vị ấy liền nổi giận, dùng lời ác mắng nhiếc: ‘Các ngươi đã không hiểu biết, lại còn vặn hỏi ta, giống như loài trâu muốn húc người’.
Lúc ấy, các đệ tử cũng đều cho là như vậy rồi chấm dứt pháp hội. Do nhân duyên của nghiệp ác khẩu, nên vị tì-kheo ấy bị đọa làm trâu suốt năm trăm đời và năm trăm đệ tử làm người chăn trâu luôn đi theo canh giữ, đến hôm nay vẫn chưa được giải thoát.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Các ông nên biết, tì-kheo tinh thông ba tạng lúc ấy nay chính là con trâu hung dữ trong đàn, các vị đệ tử lúc đó nay là năm trăm người chăn trâu.
Khi Đức Phật nói về nhân duyên của con trâu này, ai nấy đều giữ gìn ba nghiệp thân, miệng, ý, nhàm chán sinh tử, đác bốn quả Sa-môn, có người phát tâm Vô thượng bồ-đề. Sau khi nghe Phật nói, tất cả đều hoan hỉ vâng làm”.
Bài tụng về chính báo:
Người ngu nhiều sân hận
Bị địa ngục thiêu đốt
Lang, sói đứng vây quanh
Rắn độc tranh nhau đến.
Chúng giằng xé cắn ăn
Khiến bụng lưng xuyên thủng
Mình làm mình phải chịu
Lửa sân đốt khắp người.
Bài tụng về tập báo:
Tâm sân nhiều độc hại
Chìm đắm trong đường ác
Hết tội, sinh làm người
Dư báo vẫn theo hại.
Thấy người, liền tìm lỗi
Ghét bỏ như cỏ độc
Điều này không ích lợi
Sân, ngu có quí gì!
84.12.3. Cảm ứng
84.12.3.1. Đời Lương, người họ Hoàng ở Khúc A: Lương Vũ đế muốn xây chùa tại lăng mộ của Văn Hoàng đế, nhưng chưa có gỗ tốt, liền ban chiếu sai quan Hữu ti tìm kiếm.
Trước đây, người họ Hoằng ở Khúc A rất giàu có, đã cùng họ hàng mang nhiều tiền bạc, của cải đi đến Tương châu để mưu sinh, sống ở đây vài năm, ông ta sắm được một chiếc thuyền lớn, rất tráng lệ, dài khoảng nghìn bộ với loại gỗ cực quí, hiếm có trên đời. Khi ông trở về đến Nam Tân, thì Mạnh thiêu khanh, hiệu úy ở Nam Tân, do nhận được chiếu chỉ của triều đình nên đã đến khám xét.
Thấy số y phục, gấm lụa mà người họ Hoàng mang theo nhiều hơn số sử dụng, Thiếu khanh vu khống họ Hoàng cướp bóc trên đường, đồng thời cho rằng việc tạo thuyền quá tráng lệ vượt phép tắc qui định, hàng thương buôn không nên làm, tội đáng xử chết. Mạnh liền bắt ông và dùng thuyền vào việc xây chùa. Thiếu khanh tâu lên, vua cho thi hành ngay.
Ngày sắp thi hành án, người họ Hoằng bảo vợ con hãy đặt một trăm tờ giấy vàng và bút mực vào trong quan tài. Ông nói: “Nếu chết mà linh thiêng thì sẽ về báo thù!”. Ông ta lại bảo người nhà viết tên họ của Thiếu khanh mấy mươi chữ, rồi nuốt vào họng.
Khoảng một tháng sau, trong lúc đang ngồi yên lặng, Thiếu khanh thấy Hoàng đến. Ban đầu, Thiếu khanh cồn tránh né, chối tội, sau dần dần qui phục, rồi chỉ nói: “Xin ban cho ân huệ!”; sau đó, thổ huyết mà chết.
Tất cả quan ngục cho đến chủ thư, xá nhân, những người có liên quan trong vụ án này, ngay cả người trình tấu, kí tên đều lần lượt chết hết trong vòng chưa đầy một năm.
Chùa Hoàng Cơ vừa xây xong liền bị lửa trời thiêu rụi toàn bộ, ngay cả cây cột bị vùi trong đất cũng biến thành tro.

Phần 5

84.12.3.2. Đời Lương, Chu Trinh: Huyện lệnh Mạt Láng là Chu Trinh vì phạm tội mà bị giam vào ngục. Sau khi thẩm tra, Đình úy Bình Ngu Phất kết thành tội nặng. Biết không thoát được, Chu Trinh nhờ người nói với Phất:
- Tôi có tội đáng chết, chẳng dám cầu xin ân xá, nhưng vẫn mong chúa thượng trong muôn vạn lần khoan hồng cho một lần. Mai là ngày tảo mộ tổ tiên họ Chu, xin được tạm bỏ tấu văn ngày mai, được chăng?
Phất đáp:
- Điều ấy cũng hợp lí, sao mà không được, tôi xin giúp ông!
Việc của họ Chu, ông đã xếp vào việc phải trình tấu ngày mai rồi. Lúc đó, Phất gặp khách, cùng ăn uống say sưa, quên rút tấu văn ấy ra, khi bảo người nhà cho tất cả tâu văn vào tráp, ông cũng không nhớ.
Đến lúc Phất đứng trước vua, vua lần lượt mở tấu văn đọc mới biết còn đó. Sự tình không thể giấu giếm, Phất liền như thế mà tâu lên. Vũ đế giận dữ, nói:
- Chu Trinh đáng chết! Dẫn ra ngoài hành quyết!
Nghe vậy, Trinh căm hận, nói:
- Tiểu tử Ngu Phất lại dối gạt người sắp chết. Hồn ma tôi nếu không biết thì đồng với tro bụi, giả như có biết thì nhất định báo thù.
Ngay khi Trinh bị chém chết ở chợ, Phất lại thấy Trinh đang đứng trước mặt mình. Từ đó về sau, lúc nào Phất cũng thấy Trinh hiện hồn về. Mỗi lần thấy Chu Trinh hiện về, Phất ghét vô cùng.
Đêm nọ, Phất mộng thấy mình đang chạy xe dưới núi, còn Trinh thì ở trên núi, xô đá đè.
Hơn một tháng sau, Phất được phong làm Huyện lệnh ở Khúc A. Sáng hôm sau, trong lúc Phất vào triều dâng biểu tạ ơn, vợ ông đang ở trong nhà bình thường, bỗng chết đột ngột. Phất vội vã trở về, vào nhà khóc vợ, ngẩng đầu lên thì thấy Trinh đang ở trên xà nhà. Phất liền nói:
- Chu Mạt Lăng ở đây, thảo nào vợ tôi chẳng chết!
Phất nói chưa dứt lời, căn nhà vô cớ sụp đổ. Phất và con cái, tôi tớ hơn mười người đồng loạt bị chết.
Quan Hữu thừa Ngu Chất, là người trong họ với Phất, đến lo tang sự. Khi thấy Phất về, Chất tạm lánh xuống nhà sau, nên mới thoát nạn.
84.12.3.3. Đời Lương, Nhạc Cái Khanh ở Nam Dương: Lúc còn ở Kinh châu, Lư Lăng vương từng sai các thuộc hạ đo đạc ruộng đất của dân, Nhạc Cái Khanh ở Nam Dương cũng được cử đi.
Bấy giờ, công phủ xá nhân là Vi Phá Lỗ được sai đi khuyến dụ đã làm trái bản ý của vương. Khi trở về, Cái Khanh cho ràng Phá Lỗ làm sai sẽ bị tội. Phá Lỗ hoảng sợ, không dám nhận, đành nói dối với Cái Khanh: “Tôi sẽ tự biện bạch, không cần ông phải tố cáo”.
Vài ngày sau, thình lình bị đưa ra chém ở chợ, Cái Khanh kêu gào thảm thiết, không biết bày tỏ cùng ai, chỉ nói với người nhà; “Khi liệm để giấy bút theo”.
Sau khi Cái Khanh chết vài ngày, trong lúc Phá Lỗ ngắm nhìn con trâu trong chuồng, bỗng thấy Cái Khanh xách đầu đi vào, cầm một chén dưa muối đưa cho Phá Lỗ. Phá Lỗ bỏ chạy, kinh hãi la lớn, bất đắc dĩ mới chịu nhận tội. Từ đó, Phá Lỗ bị bệnh, chẳng bao lâu thì chết.
84.12.3.4. Đời Lương, Đỗ Nghi: Đỗ Nghi thứ sử Tây Kinh châu, là con thứ của thứ sử Lương châu Hoài Dao. Tính ông đa nghi, vừa cưới người thiếp trẻ tuổi, dung mạo xinh đẹp, nên rất sủng ái.
Một hôm, người thiếp nhận được thư của cha nói về hoàn cảnh gia đình mấy ngày nay gặp nhiều khốn khó, muốn cậy nhờ. Đang đứng đọc thư bên tấm rèm, thấy Nghi từ ngoài trở về, người thiếp tự cho mình mới đến, hổ thẹn về việc này, nên vừa nghe tiếng Nghi, người thiếp liền nuốt chửng bức thư.
Đỗ Nghi cho là thư của tình nhân, liền ra lệnh mổ bụng, lấy thư. Người thiếp chưa tắt thở thì bức thư đã lấy ra rồi. Nghi xem xong, than thở: “Không ngờ ta hồ đồ đến thể! Làm tổn thương hòa khí trong thiên hạ mà có thể sống còn được sao?”. Đêm ấy, Đỗ Nghi thấy người thiễp về kêu oan. Mười ngày sau thì ông ta chết.
Người dân vùng Tương Dương đến nay vẫn truyền miệng về câu chuyện này.
84.12.3.5. Đời Lương, tham quân Dương Đạo Sinh: Dương Đạo Sinh ở Thái sơn làm cho Trung binh tham quân cho Thiệu Lăng vương. Anh của Đạo Sinh là Hải Trân làm Thứ sử Hán châu.
Một hôm, Đạo Sinh xin nghỉ phép đi thăm anh. Lúc Đạo Sinh sắp về đến, người anh đã đứng đợi Đạo Sinh ở con đường gần nhà. Bỗng Đạo Sinh thấy một người bi trói nơi cội cây, liền đến xem, thì đó là một thuộc hạ của mình ngày xưa. Nhìn thấy Đạo Sinh, tên lính khóc lóc, kể lể thảm thiết: “Thứ sử Hán châu định giết tôi, mong ồng cứu giúp”.
Đạo Sinh hỏi:
- Ngươi phạm tội gì?
Thưa:
- Lỡ bỏ trốn làm phản.
Đạo Sinh nói:
- Tội ấy thật đáng căm hận.
Lập tức, Đạo Sinh xuống ngựa, lấy dao mang bên người, móc mắt của tên lính, rồi nuốt chửng. Tên lính đau đớn kêu trời kêu đất. Giây lát, Hải Trân đến, Đạo Sinh lại xúi anh chém đầu tên lính.
về nhà hồi lâu, Đạo Sinh mới biết, con mắt vẫn còn mắc nơi cổ họng, nuốt không xuống, nên mượn rượu để tống, nhưng liên tục mấy cốc vẫn không xuống được. Lần lần cảm thấy con mắt lớn lên làm tắt nghẽn cổ họng, Đạo Sinh vội từ biệt cho dù bữa tiệc chưa tàn. Vài ngày sau, Đạo Sinh chết ngay trên đường về.
Người bấy giờ trông thấy, ai nấy đều cho là đạo trời ứng nghiệm.
84.12.3.6. Đời Lương, Thứ sử Trương Cao: Trương Cao người châu Đông Từ là cháu của quan Bộc xạ Vĩnh, Có lần, Trương Cao thua trận, chạy lên phương bắc, kết bạn với một người dân vùng đó, và người này đã đưa ông về nam. Sau đó, vị ấy xuất gia, lấy pháp hiệu là Tăng Việt. Trương Cao cúng dường phẩm vật cho Tăng Việt. Khi Trương Cao về đến Đông Từ, Tăng Việt cũng đi theo.
Tăng Việt ỷ mình có công lao, nên có những lời ngang ngược với Trương Cao. Trương Cao tức giận, liền sai hai thuộc hạ là họ Tỉnh và họ Bạch ban đêm lén đến giết Tăng Việt.
Từ đó, đêm nào Trương Cao cũng mộng thấy Tăng Việt về báo oán. Vài ngày sau, khi đi săn bắn, Trương Cao bị mũi tên làm trầy xước ngón tay, chỉ rướm máu nên không để ý tới. Sau đó, vết thương ấy lở loét, chảy nước nhờn và bắt đầu thối rữa. Khoảng mười ngày sau, trên cánh tay ấy bỗng nhiên mọc thêm một mụt nhọt, máu mủ ăn luồn xuống ngón tay. Hơn một tháng sau, ông chết.
84.12.3.7. Đời Chu, Vũ Văn Thái: Đầu tiên ông làm Thừa tướng nước Ngụy. Khi triều Lương loạn lạc, Hiếu Nguyên đế lúc ấy đang làm Tương Đông vương ở Kinh châu sai sứ sang Ngụy cầu hòa, dâng lễ phẩm rất trọng hậu, lập thệ kết nghĩa anh em với Thái.
Sau khi dẹp loạn Hầu Cảnh, Hiếu Nguyên lên ngôi, Thái vẫn còn làm quan, nhưng không kính trọng vua, lại còn xem thường, cầu xin không biết chán. Có lúc không vừa ý, Thái huy động một trăm bốn mươi vạn người từ tù binh, quan lại cho đến thứ dân đánh úp Giang Lăng, để hại Hiếu Nguyên đế.
Trước đây, Ngụy Văn đế cầu hôn con gái của A Na Khôi thuộc dòng họ úc Cửu Lư, tộc trưởng bộ tộc Như Như làm hoàng hậu, hai bên rất hòa hiếu. Một năm sau khi diệt Lương vương. Khôi bị nước Tề đánh bại, đất nước bị diệt vong. Khôi cùng mấy nghìn người còn lại chạy sang nước Ngụy. Người Đột Quyết vốn có oán thù với bộ tộc Như Như, nên sai người đem ba nghìn con ngựa tặng cho Thái, xin Thái giết bọn Khôi.
Thái nhận lời, bố trí quân Đột Quyết mai phục, đồng thời cho những người nhóm Khôi hội họp, ca hát, ăn uống say sưa, rồi trói họ lại. Ngay ngày hôm ấy, Thái giết cả dòng họ úc Cửu Lư hơn năm trăm người, máu chảy ngập gối. Khi sắp chết, Khôi nhiều lần ngửa mặt lên trời kể tội Thái.
Mùa đông năm sau, trong lúc đi săn ở Lũng Hữu thì Thái bị bệnh, thấy Hiếu Nguyên đế và Khôi hiện hồn về dọa sợ. Thái giận dữ, quát tháo, rồi sai người ban rượu trắng cho họ. Hai tháng sau thì Thái chết.

Phần 6

84.12.3.8. Đời Trần, Trung thư xá nhân Ngu Trắc: Ban đầu, chúa Trần lập người con trai thứ chín của Lương Nguyên đế là Tấn An vương làm vua, còn mình thì phò tá.
Ngu Trắc ở Cối Kê vốn là quan Trung thư xá nhân Thượng thư hữu thừa vào thời Lương Vũ đế. Một hôm, Trắc mộng thấy Lương Vũ đế đến bảo:
- Khanh là cận thần thân thiết của ta, nhờ khanh nói với Trần công đừng giết cháu ta, nếu giết thì sẽ bất lợi cho Trần công.
Trác thấy điềm mộng ấy rất rõ ràng, nhưng do chưa thấy cổ điềm gì của việc soán ngôi, nên không dám nói. Vài ngày sau, Trác lại mộng thấy như vậy và Lưong Vũ đế còn nói thêm:
- Nếu khanh không truyền đạt ý của ta thì khanh cũng gặp điều không tốt.
Nghe vậy, tuy Trắc rất cảm thương và băn khoăn ray rứt, nhưng nhất định không có lí gì để nói. Ít lâu sau, quan Thái sử thưa:
- Trong cung đang có binh loạn.
Chúa Trần nói:
- Người khởi binh chính là ta!
Nói xong, chúa Trần vội vàng điều khiển loạn binh hại Thiếu chúa để chiếm ngôi.
Sau đó, Trắc bị bệnh, lại mộng thấy Lương Vũ đế đến nói:
- Do ngươi không vì ta nói lại với chúa Trần, nên tai họa sẽ ập đến ngươi và chúa Trần. Rồi các ngươi sẽ biết
Trắc liền viết thư kể lại việc ấy gửi cho chúa Trần. Chúa Trần là người sùng tín quỉ thần, vừa nghe như thế liền sợ hãi, sai người đem kiệu đến đón Trắc để hỏi cho rõ. Trắc đến, chúa Trần trách:
- Sao lâu nay khanh không nói với ta? Thật là việc kì lạ!
Sáu, bảy ngày sau, Trắc qua đời.
84.12.3.9. Đời Trần, Dữu Quí Tôn: Dữu Quí Tôn rất ưa giết hại. Ngoài những việc bình thường như đánh cá, săn bắn để có món ăn ngon, nếu nô tì lỡ phạm lỗi, ông cũng đều giết chết. Có lần, bị bệnh nguy kịch, ông mộng thấy một người nói:
- Nếu ông không giết hại nữa thì bệnh này sẽ lành. Nếu không, ông sẽ chết!
Nghe vậy, ngay trong mộng, ông phát nguyện không giết hại nữa. Giật mình tỉnh giấc, ông hoảng hốt, run sợ, mồ hôi vã ra ướt đẫm toàn thân, bệnh cũng khỏi dần.
Vài năm sau, có ba học trò cùng với hai người thiếp của ông lén bỏ trốn. Ông truy tìm và bắt được, liền đánh chết họ.
Đêm ấy, ông lại thấy người trước kia đến nói:
- Sao ông không giữ lời hứa? Những người ấy không đáng tội chết, hơn nữa phép nhà không được tự ý xử chết người. Nay không còn lí gì để cứu.
Sáng sớm hôm sau, ông nôn ra máu, qua vài ngày thì chết.
84.12.3.10. Đời Lương, Trương Huyến: Ông làm thái thú Vũ Xương, thường ngồi thuyền tuần thú. Có tên thuộc hạ năng lực yếu kém, ông không hài lòng liền dùng gậy đánh chết, rồi ném xác xuống sông. Chỉ trong chốc lát, Huyến thấy tên lính ấy từ dưới nước hiện lên, khoanh tay nói:
- Tội của tôi không đáng chết, quan đã giết oan, nay tôi đến báo thù.
Vừa dứt lời, tên lính nhảy vào miệng của Huyến. Từ đó, Huyến bị bệnh, vài ngày sau thì chết.
84.12.3.11. Đời Lương, Bùi Thực: Bùi Thực theo chú của mình là Nghiệp từ nam Duyên châu lên phương bắc, làm quan đến chức Thượng thư triều Nguyên Ngụy.
Vi Bá Đỉnh, em rể của Thực là người có học thức, cậy mình tài trí tự tay xây dựng cơ nghiệp lớn, nên thường khinh mọi người, Thực ghét ông ta như kẻ thù.
về sau, lúc ở Lạc Hạ, Đỉnh vu cáo Thực âm mưu phế truất vua cũ, lập vua mới lên ngôi, khiến Thực bị xử tội chết.
Khoảng một trăm ngày sau, Đỉnh bị bệnh, hướng lên hư không mà nói:
- Bùi thượng thư chết không chỉ do một mình tôi, vì sao lại phẫn nộ?
Lát sau thì Đỉnh chết.
84.12.3.12. Đời Ngụy, Vu Trung. Vu Trung người Băc Đại, làm quan Thị trung lĩnh quân vào đời Ngụy. Vào thời Minh đế, ông ta cậy mình có công lao nên chuyên quyền trong triều.
Các quan thượng thư tả bộc xạ Quách Tộ, thượng thư Bùi Thực đều khuyên Dương Vương Ưng ở Cao Lãng nêu tội của Trung. Nghe tin này, Trung bắt ép quan Hữu ti vu khống tội cho những người này, rồi giả truyền chiếu chỉ giết họ.
Cả nước biết được việc này, ai cũng căm thù, tức giận. Hai năm sau, Trung bị bệnh, thường thấy Bùi Thực, Quách Tộ hiện hồn ma quấy phá. ít hôm, Trung qua đời.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục