Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 76 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)

24/12/2015

QUYỂN 76 Quyển này tiếp theo chương Mười nghiệp 84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt) 84.8. NÓI LỜI THÔ ÁC 84.8.1. Lời dẫn Lửa sân hận của hàng phàm phu lúc nào cũng hừng hực, hễ gặp điều kiện liền bùng cháy, vấp phải nghịch cả...

PUCL QUYỂN 76 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
Phần 1

QUYỂN 76
Quyển này tiếp theo chương Mười nghiệp
84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
84.8. NÓI LỜI THÔ ÁC

84.8.1. Lời dẫn
Lửa sân hận của hàng phàm phu lúc nào cũng hừng hực, hễ gặp điều kiện liền bùng cháy, vấp phải nghịch cảnh liền nổi sân. Vì thế, hễ buông lời liền giận dữ, mở miệng đốt cháy lòng, làm tốn thương người khác, đau đớn hơn dao cắt. Như thế, đã trái với thiện tâm của bồ-tát, mà còn nghịch với lời dạy từ ái của Đức Phật.
Kinh Nghiệp báo sai biệt có bài kệ:
Lời thô xúc não người Bới móc chuyện riêng tư Ngang bướng khó điều phục Làm quỉ đói ngậm lửa.
84.8.2. Dần chứng
Luận Đại trí độ ghi: “Có một con quỉ đói, đời trước làm người, thường nói năng thô lỗ, dùng lời hung ác quở mắng chúng sinh, nên bị chúng sinh oán ghét, xem như kẻ thù. Do tội báo này, nên sau khi chết, người ấy đọa vào loài quỉ đói”.
Kinh Pháp cú ghi: “Dù làm sa-môn nhưng không giữ thân, miệng, luôn nói lời thô lỗ, làm tổn thương nhiều người, thì người ấy chẳng những không được mọi người quí mến mà Đức Phật, các bậc hiền thánh và những người có trí đều không thương xót. Sau khi qua đời, người ấy bị luân chuyển trong ba đường ác, sinh rồi lại chết, chết rồi lại sinh, đau khổ vô cùng. Nếu chúng sinh nào đù thân không có lỗi, nhưng do không giữ gìn khẩu nghiệp thì cũng bị đọa vào đường ác”.
Luận Đại trí độ ghi: “Bấy giờ có một con quỉ, đầu giống đầu heo, dòi từ trong miệng bò ra, nhưng thân có ánh sáng màu vàng ròng. Con quỉ này đời trước là một tì-kheo, vì dùng lời thô ác quở mắng tì-kheo khách, nên đời này bị dòi từ trong miệng bò ra, nhưng nhờ giữ giới thanh tịnh, nên thân có ánh sáng màu vàng ròng”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Thà dùng kiếm bén cắt đứt lưỡi mình, chứ đừng bao giờ nói lời thô ác mắng chửi người khác, để phải bị đọa vào ba đường”.
Kinh Hộ khẩu ghi: “Vào thời quá khứ, Đức Phật Ca-diếp xuất hiện ở đời, giảng nói giáo pháp. Khi việc giáo hóa đã hoàn mãn, Ngài vào cảnh giới Vô dư niết-bàn. Sau khi Đức Phật nhập niết-bàn, có một vị tì-kheo tinh thông ba tạng, tên là Hoàng Đầu, chúng tăng nói với tì-kheo này: ‘Những việc vụn vặt, thầy khỏi phải làm, chỉ xin thầy lo giảng dạy diệu pháp cho hàng hậu học’.
Bấy giờ, tuy trong lòng khinh miệt, nhưng tì-kheo thông ba tạng không thê làm trái lệnh của tăng, bất đắc dĩ phải diễn giảng nghĩa kinh cho hàng hậu học, nhưng trong lúc giảng kinh, ông lại gọi người học: ‘Kẻ đầu voi kia hãy mau bước lên phía trước!’. Cứ như thế lần lượt ông gọi người khác là đầu ngựa, đầu lạc đà, đầu heo, đầu dê, đầu sư tử, đầu hổ. ông gọi những người nghe pháp bằng tên các loài thú như thế nhiều không sao kể hết.
Vì thế, tì-kheo Hoàng Đầu tuy giảng nói nghĩa kinh, nhưng không tránh khỏi tội báo. Sau khi qua đời, ông bị đọa vào địa ngục mấy nghìn vạn kiếp, chịu khổ vô cung. Do chưa hết tội, nên sau khi ra khỏi địa ngục, ông sinh vào trong biển lớn, làm loài thủy tộc có thân hình to lớn và trăm đầu. Các loài khác trông thấy, đều tránh xa”.
Kinh Xuất diệu ghi: “Thuở xưa, khi Đức Phật còn ở đời, có lần tôn giả Mãn Túc đến cảnh giới ngạ quỉ, thấy một con quỉ đói, hình thù xấu xí, ai thấy cũng phải sợ hãi. Thân nó bốc cháy hừng hực như đống lửa lớn, dòi từ trong miệng bò ra, máu mủ chảy tràn, mùi hồi xông lên, không ai dám đến gần. Có lúc miệng nó phóng ra ngọn lửa xa vài mươi trượng. Có lúc mắt, tai, mũi, thân, tay, chân phóng ra ngọn lửa xa vài mươi trượng. Miệng dốc ngược giống như mõm heo rừng, thân cao to một do-tuần. Nó tự lấy tay tát vào mặt, gào khóc thảm thiết, chạy khắp đó đây.
Thấy vậy, tôn giả Mãn Túc hỏi:
- Ngươi đã tạo tội gì mà nay phải chịu cảnh khổ như vậy?
Quỉ đói thưa:
- Xưa kia tôi xuất gia, vì luyến tiếc phòng ốc, tham lam không xả bỏ; ỷ mình thuộc dòng dõi quý tộc nói năng thô lỗ, độc ác. Hễ thấy tì-kheo giữ giới, nỗ lực tu hành thì lại nhục mạ, hoặc trề môi, nheo mắt, hoặc nói phải, nói trái, vì những nguyên nhân đó mà chịu nỗi khổ này.
Thế nên, thà lấy dao bén tự cát đứt lưỡi mình để chịu khổ nhiều kiếp, chớ đừng bao giờ mắng chửi, chê bai tì-kheo nỗ lực tu hành, giữ giới nghiêm mật.
Quỉ đói lại thưa tôn giả Mãn Túc:
- Khi tôn giả trở về nhân gian nên đem hình ảnh của tôi mà răn nhắc các tì-kheo, khuyên mọi người nên giữ gìn nghiệp của miệng, chớ nói lời hư dối. Nếu thấy có người giữ giới thì nên khen ngợi công đức của người đó. Từ khi tôi mang thân quỉ đói này đến nay đã trải qua mấy nghìn vạn năm, luôn luôn chịu khổ sở như thế này. Vừa bỏ thân này thì ngay lập tức đọa vào địa ngục.
Nói xong, quỉ đói gào khóc thảm thiết, ngã xuống đất như núi Thái sụp đổ, như trời long đất lở.
Những quả báo như thế đều do lỗi của miệng gây ra! .
Kinh Bách duyên ghi: “Người vợ của trưởng giả nọ khi mang thai, thân thể hôi hám, không ai đến gần. Đến kì khai hoa nở nhụy, bà sinh ra một bé trai như bộ xương, ốm gầy, không ai dám nhìn, phân tiểu chảy ra khắp thân. Lớn lên, đứa bé không muốn ở nhà, chỉ thích ăn phân nhơ, không chịu chừa bỏ. Cha mẹ và những người thân đều chán ghét, không muốn nhìn mặt, nên cho đứa bé ở riêng trong một ngôi nhà cách họ rất xa. Được sống bên ngoài, đứa bé tha hồ ăn phân. Mọi người thấy vậy, gọi đứa bé là Đạm-bà-la. Sau, đứa bé gặp Phật, xuất gia, tu hành, chứng quả A-la-hán.
Đó là do vào thời Phật Câu-lưu-tôn, đứa bé là một vị xuất gia, trụ trì một ngôi chùa. Bấy giờ, có Phật tử tại gia cúng dầu thơm để chúng tăng xoa thân sau khi tắm rửa, trong chúng lại có một vị đã chứng quả A-la-hán. Vị trụ trì biết được việc nhận dầu xoa thân,' nên tức giận mắng vị a-la-hán: ‘Ông là người xuất gia mà còn dùng dầu thơm xoa thân thể, thì chẳng khác gì dùng phân người bôi lên thân’.
A-la-hán cảm thương vị trụ trì nên hiện thần thông. Vị trụ trì thấy thế liền thành khẩn sám hối, mong trừ diệt được tội chướng.
Do tạo nghiệp ác quở mắng như thế, nên vị này trải qua năm trăm đời, thân thường hôi thối, không ai dám đến gần, nhưng nhờ thuở xưa xuất gia và đã tha thiết sám hối vị a-la-hán, nên nay được gặp Phật, xuất gia, đác đạo. Vì thế, chúng sinh nên giữ gìn khẩu nghiệp, chớ máng chửi, nhục mạ người khác”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Lúc còn tại thế, có lần Đức Phật cùng với các tì-kheo đến thành Tì-xá-li. Khi đến bên sông Lê-việt, Ngài thấy những người đánh cá giăng lưới, bắt được một con cá rất lớn, thân có trăm đầu, năm trăm người kéo vẫn không lên được. Khi ấy, có năm trăm người chăn bò bên bờ sông cũng đến phụ kéo cá lên, nhờ sức cả nghìn người mới kéo được con cá lên bờ. Thấy con cá quái lạ, mọi người kéo nhau đến xem.
Cùng các tì-kheo đi đến chỗ cá, Đức Phật hỏi:
- Ngươi có phải là Ca-tì-lê không?
Con cá đáp:
- Thưa phải!
Ngài lại hỏi:
- Thầy của ngươi hiện đang ở đâu?
Con cá đáp:
- Thầy tôi đã bị đọa vào địa ngục A-tì rồi.
Lúc ấy, tôn giả A-nan chứng kiến và nghe qua câu chuyện, lấy làm lạ mới thưa Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Chuyện này là thế nào?
Đức Phật bảo tôn giả A-nan: - Xưa kia, vào thời Phật Ca-diếp, có bà-la-môn sinh được một bé trai, đặt tên là Ca-tì-lê. Ca-tì-lê thông minh, nghe nhiều, hiểu rộng. Sau khi cha Ca-tì-lê qua đời, một hôm, người mẹ hỏi:
- Con tài giỏi như thế trên đời này có ai giỏi hơn con không?
Người con thưa:
- Các sa-môn giỏi hơn. Con đến hỏi những điều nghi ngờ, họ đều giải thích rõ; nhưng nếu họ hỏi thì con không trả lời được.
Người mẹ hỏi con:
- Sao con không theo học pháp của các sa-môn?
Phần 2

Người con thưa:
- Nếu muốn học pháp của các vị ấy thì phải làm sa-môn. Con là hàng bạch y, làm sao học được?
Người mẹ bảo con:
- Nay con hãy giả làm sa-môn để học pháp của họ, khi nào thông hiểu thì trở về nhà.
Vâng lời mẹ dạy, người con giả làm tì-kheo. Trải qua một thời gian ngắn, người con thuộc lòng ba tạng, rồi trở về nhà.
Người mẹ lại hỏi:
- Bây giờ, con giỏi hơn họ chưa?
Người con thưa:
- Con vẫn chưa giỏi hơn họ!
Người mẹ lại bảo:
- Từ nay trở về sau, mỗi khi đàm luận với họ, nếu không thắng, con hãy chửi mắng, hủy nhục họ, thì con sẽ thắng.
Vâng lời mẹ dặn, lần sau đàm luận bị thua, người con liền mắng các tì-kheo: ‘Các ông là những sa-môn ngu dốt, không hiểu biết gì giống như đầu thú’. Từ đó, người con so sánh các sa-môn với trăm loại đầu thú.
Do mắng chửi các tì-kheo như vậy, nên đời này Ca-tì-lê phải mang thân cá có trăm đầu, gồm đủ tất cả đầu như: đầu lạc đà, đầu lừa, đầu bò, đầu ngựa, đầu heo, đầu dê, đầu chó v.v...
Tôn giả A-nan hỏi Phật:
- Đến khi nào Ca-tì-lê mới thoát được thân cá?
Đức Phật bảo tôn giả A-nan:
- Khi một nghìn Đức Phật trong Hiền kiếp xuất hiện và đều diệt độ, kẻ ấy vẫn chưa thoát khỏi thân cá.
Vì thế, mọi người phải hết sức thận trọng đối với ba nghiệp thân, khâu, ý”.
Vương Huyền Sách hành truyện ghi: “Lúc Đức Phật còn tại thế, có lần đến thành Tì-da-li, Ngài thấy tất cả chúng sinh chịu nhiều khổ não, nên muốn cứu độ họ. Đức Phật lại thấy trong đất nước này, có hai nhóm Kê-việt-trá1 gồm năm trăm người giăng lưới, bắt được một con cá lớn Ma-kiệt ở sông Bà-la-câu-mạt-để.
Con cá có mười tám đầu, ba mươi sáu mắt. Đầu nó gồm nhiều đầu thú như đoạn trước đã mô tả. Đức Phật thuyết pháp cho cá nghe. Nghe xong, cá xả báo thân và được sinh lên trời, làm thiên tử. Sau đó, quán sát biết thân trước của mình là một loài cá lớn, nhờ nghe Phật thuyết pháp mà được sinh lên trời, cá mang nhiều hương hoa, chuỗi ngọc, châu báu từ cõi trời trở lại nhân gian, cúng dường Phật.
Thấy vậy, hai nhóm Kê-việt-trá đều chí thành sám hối lỗi lầm. Họ đến một nơi cách phía bắc sông Bà-la-câu-mạt-để hơn một trăm bước để đốt lưới, thiêu cá, rồi dùng bình đồng đựng tro và chôn cất kĩ lưỡng. Đồng thời, họ xây một ngôi bảo tháp và tạo một pho tượng cao lớn ngay chỗ Đức Phật nói pháp, đến nay vẫn còn. Tháp ấy được trang hoàng đúng như pháp, nên ai thấy cũng phát tâm lành”.
Kinh Bách duyên ghi: “Lúc Đức Phật còn tại thế, vợ của vua Ba-tư-nặc là phu nhân Mạt-lợi sinh được một công chúa tên là Kim Cương. Kim Cương vô cùng xấu xí, da dẻ sần sùi như da rắn, đầu tóc thô cứng như đuôi ngựa. Thấy vậy, vua không vui, ra lệnh giam ở thâm cung, không cho ra ngoài.
Công chúa ngày một lớn lên và đến tuổi lấy chồng. Vì thế, vua sai một đại thần: ‘Khanh hãy đi tìm một người thuộc dòng họ giàu sang, nhưng nay bị nghèo thiếu, rồi dẫn đến gặp trẫm!’. Tuân lệnh vua, vị đại thần tìm được một người như thế và dẫn đến gặp vua.
Vua đưa người ấy đến chỗ vắng rồi nói nhỏ:
- Trẫm nghe khanh sinh ra trong dòng họ giàu có, nhưng nay lâm vào cảnh nghèo thiếu. Trẫm có một đứa con gái rất xấu xí, nếu khanh bằng lòng cưới làm vợ, trẫm sẽ cung cấp tiền bạc, châu báu cho khanh.
Người nghèo khổ liền quì xuống, tâu vua:
- Già sử đại vương ban cho thần một con chó, thần còn không dám trái ý, huống là đại vương ban cho con gái của phu nhân Mạt-lợi!
Vua liền tổ chức lễ cưới cho hai người, lại xây một ngôi nhà có bảy lớp cửa và dặn con rể: ‘Con phải giữ chìa khóa cửa, ra vào nhớ khóa cẩn thận, chớ để người khác trông thấy con gái trẫm" Vua lại cung cấp tiền bạc, vật báu cho con rể không để thiếu thứ gì và cho làm quan lớn.
Một hôm, các nhà quyền quí trong nước tổ chức yên tiệc. Theo qui định khi tham dự đại hội, ai cũng đưa vợ đi cùng, nên mọi người đều dắt vợ theo, riêng vị đại thần kia chỉ đến một mình. Mọi người lấy làm lạ và cho rằng: ‘Vợ anh ta hoặc là rất đẹp, hoặc là quá xấu, nên không dám xuất hiện trước đông người, vì thế chẳng đến dự hội!’.
Đến buổi tiệc sau, mọi người cùng nhau phục rượu cho vị đại thần kia say mèm, lăn ra ngủ. Họ lấy chìa khóa cửa trong người anh ta, rồi cử năm người đến nhà anh ấy xem thế nào. Đến nơi, họ mở cửa, người vợ đoán biết chẳng phải chồng mình, nên buồn bã, tự trách: ‘Không biết đời trước ta tạo tội gì mà ngày nay bị chồng giam giữ, không cho thấy mặt trời, mặt trăng gì cả?’.
Thế là, cô ta hướng về Phật chí tâm đỉnh lễ và nguyện: ‘Xin Phật từ bi đến cứu giúp khổ nạn cho con!’. Biết ý nguyện của công chúa, Đức Phật bỗng từ dưới đất hiện ra trước công chúa. Ngài hiện tóc xanh, công chúa nhìn thấy đầu tóc của Phật, sinh lòng tôn kính, vui mừng, vì thế, tóc của công chúa tự nhiên xanh óng. Dần dần Phật hiện đầu mặt, công chúa thấy mặt, lại càng vui vẻ hơn, nhờ vậy dung mạo của công chúa tự nhiên xinh đẹp lạ thường, làn da sần sùi cũng tự nhiên biến mất. Cuối cùng Phật hiện toàn thân, công chúa nhìn thấy, lại càng vui mừng hơn, vì thế thân thể trở nên đẹp, không khác gì tiên nữ.
Bấy giờ, Đức Phật nói các pháp yếu, nghe xong, công chúa đác quả Tu-đà-hoàn. Sau khi Phật đi khỏi, năm người kia bước vào, trông thấy một cô gái xinh đẹp tuyệt trần. Ngắm nhìn xong, họ trở ra, khóa cửa và để chìa khóa lại chỗ cũ.
Sau khi tỉnh rượu, người chồng về nhà, thấy vợ tự nhiên xinh đẹp lạ thường. Anh ta vô cùng vui mừng và hỏi:
- Nàng là ai vậy?
Công chúa trả lời:
- Thiếp là vợ của chàng.
Người chồng nói:
- Trước kia nàng xấu xí, sao nay lại đẹp thế này?
Người vợ trình bày mọi việc đã xảy ra cho chồng biết và nói với chồng:
- Thiếp muốn gặp vua cha! Chàng hãy thưa với phụ hoàng giúp thiếp.
Người chồng vào cung tâu vua:
- Nay công chúa muốn đến ra mắt bệ hạ.
Vua bảo người con rể:
- Đừng đề cập đến việc ấy! Hãy mau giam vợ ngươi lại, chớ để cho ra ngoài.
Người con rể tâu vua:
- Nay nhờ uy thần của Phật mà công chúa xinh đẹp chẳng khác gì thiên nữ.
Nghe vậy, vua sai người đến đón con gái mình về cung. Thấy con xinh đẹp lạ thường, vua vô cùng vui sướng. Sau đó, vua dẫn công chúa đến gặp Phật và thưa:
- Không biết con gái của con đời trước gieo trồng phúc đức gì mà được sinh vào dòng họ giàu sang, nhưng lại xấu xí như thế?
Đức Phật bảo:
- Vào thời quá khứ, ở nước Ba-la-nại có một trưởng giả ngày nào cũng cúng dường cho một vị bích-chi phật có thân hình xấu xí. Thấy vị bích-chi phật xấu xí như vậy, cô con gái của trưởng giả khởi tâm khinh chê, quở mắng: ‘Người gì mà da dẻ sần sùi, thân hình xấu xí thế này! Sao mà đáng ghét!’.
Lúc ấy, vị bích-chi phật sắp nhập niết-bàn, liền hiện mười tám phép thần biến. Thấy vậy, người con gái tự trách mình, tha thiết sám hối. Vì thuở xưa chê bai vị bích-chi phật, nên sinh ra đời cô gái thường bị thân hình xấu xí, nhưng nhờ biết ăn năn sám hối nên nay được xinh đẹp; lại do có tâm cúng dường, nên sinh ra nơi nào cô gái cũng được làm người tôn quí, giàu sang, vui sướng tột bậc”.
Kinh Hưng khởi hạnh ghi: “Vào thuở quá khứ, Đức Thích-ca dùng lời ác mắng tôn giả Ca-diếp: ‘ông là sa-môn đầu trọc, làm gì có Phật đạo!’ nên, kiếp này Như Lai

Phần 3

phải hành khổ hạnh, mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè, một hạt gạo, một hạt đậu lớn, một hạt đậu nhỏ suốt sáu năm ròng.
Luật Tứ phần ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo: ‘Vào thời quá khứ, vị bà-la-môn ở nước Đắc-sát-thi-la có một con bò, suốt ngày chỉ lo cho nó ăn uống, tắm rửa sạch sẽ, chải lông.
Trong nước này cũng có một trưởng giả nuôi bò. Ông ta đi khắp phố phường ngõ hẻm rao lớn: ‘Ai có bò mạnh, hãy cho đua với bò của ta, cùng kéo trăm xe, bên nào thắng thì được một nghìn lượng vàng’.
Nghe lời rao ấy, con bò của bà-la-môn suy nghĩ: ‘Vị bà-la-môn này suốt ngày lo cho ta ăn uống, tắm rửa sạch sẽ, chải lông, nay ta phải dốc hêt sức lấy cho được một nghìn lượng vàng để báo ân người này’.
Thế là, con bò ấy nói với bà-la-môn:
- Thưa ông chủ! Tại nước Đắc-sát-thi-la có trưởng giả rao lớn: ‘Ai có bò mạnh, hãy cho đấu với bò của ta, cùng kéo trăm xe, bên nào thắng thì được một nghìn lượng vàng’. Nay ông hãy đến nhà trưởng giả và nói: ‘Con bò của tôi có thể đua với bò của ông, cùng kéo trăm xe, bên nào thắng thì được một nghìn lượng vàng’.
Vị bà-la-môn liền đến nhà trưởng giả và nói:
- Tôi có con bò có thể đua với bò của ông, cùng kéo trăm xe, bên nào tháng thỉ được một nghìn lượng vàng.
Trưởng giả đáp:
- Nay đã đến lúc!
Vị bà-la-môn liền dẫn con bò của mình ra thi thố với con bò của trưởng giả, cùng kéo trăm xe, bên nào thắng thì được một nghìn lượng vàng.
Lúc đó, có nhiều người ra xem. Trước mặt mọi người, bà-la-môn mắng:
- Đồ cụt sừng, hãy kéo đi!
Nghe lời mắng, con bò xấu hổ, không muốn dốc sức thi đua với đối phương. Thế là, bò của trưởng giả thắng bò của bà-la-môn, nên vị bà-la-môn phải nạp một nghìn lượng vàng.
Vị bà-la-môn nói với bò của mình:
- Suốt ngày ta lo cho ngươi ăn uống, tắm rửa sạch sẽ, chải lông là mong ngươi ra sức để thắng con bò kia. Sao hôm nay ngươi lại phản bội, khiến ta mất đi một nghìn lượng vàng.
Con bò nói với vị bà-la-môn:
- Trước mặt mọi người, ông mắng tôi: ‘Đồ cụt sừng, hãy kéo đi!’, khiến tôi xấu hổ với mọi người, nên không thể ra sức kéo đua với con bò kia. Nếu ông sửa lại, đừng gọi tên bằng hình tướng xấu của tôi, thì đến nói với trưởng giả kia: ‘Hãy cho bò của ông đua với bò của tôi, cùng kéo trăm xe, bên nào thắng thì được gấp đôi, tức hai nghìn lượng vàng’.
Vị bà-la-môn nói với bò:
- Nay ngươi chớ làm ta mất đi hai nghìn lượng vàng.
Bò đáp:
- Chỉ cần ở trước mọi người, ông đừng mắng: ‘Đồ cụt sừng, hãy kéo đi!’, mà nên khen: ‘Hãy kéo nhanh, bộ sừng đẹp lắm!’.
Lập tức, vị bà-la-môn đến nhà trưởng giả và nói:
- Hãy cho bò của ông đua với bò của tôi, cùng kéo trăm xe, bên nào thắng thì được hai nghìn lượng vàng.
Trưởng giả đáp:
- Nay đã đúng lúc!
Khi ấy, bò của bà-la-môn đua với bò của trưởng giả, cùng kéo trăm xe, bên nào thắng thì được hai nghìn lượng vàng. Lúc đó, có nhiều người ra xem. Trước mặt mọi người, bà-la-môn khen:
- Hãy kéo nhanh, bộ sừng đẹp lắm!
Nghe lời này, bò dốc hết sức đua với con bò kia. Thế là bò của bà-la-môn thắng bò của trưởng giả, nên vị bà-la-môn được hai nghìn lượng vàng.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Người đời muốn nói điều gì thì nên nói lời tốt đẹp, khồng nên nói lời xấu ác. Lời lành đưa đến an vui, lời ác tự chuốc phiền não. Vì vậỵ, các tì-kheo! Loài vật bị người mắng còn thấy xấu hổ, không muốn dốc hết sức mình, huống gì con người nếu bị mắng lại không cảm thấy hổ thẹn lắm sao?
Cho nên, luận Thành Thật ghi:
Nếu dùng vô số Lời ác mắng người Sẽ chịu quả báo Như lời đã nói.
Kinh Tu hành đạo địa có bài kệ:
Tính bướng hay nói càn
Lời thô không hòa dịu
Lại dùng lời đâm thọc
Chang nghĩ lợi cho người.
Lời nói không rõ ràng
Trong tâm toàn niệm ác
Như lửa dưới tro tàn
Người đạp sẽ phỏng chân.
Hay nói lời nhỏ nhẹ
Lời thuận, khiến người vui
Nói, làm luôn đi đôi
Không tổn hại người khác.
Như hoa đẹp trên cây
Ắt sẽ cho trái ngọt.
Như lời dạy của Phật
Tâm miệng thường hợp nhau.
Kinh Bách duyên ghi: “Khi mới thành đạo, vì muốn giáo hóa các rồng chúa, nên đức Thế Tôn đến chân núi Tu-di, hiện thân một vị tì-kheo ngồi ngay thẳng thiền định.
Bấy giờ, kim sí điểu chúa bay vào biển lớn bắt rồng con, rồi trở về đỉnh núi Tu-di toan àn thịt. Lúc ấy, rồng con vẫn chưa chết, từ xa trông thấy vị tì-kheo ngồi ngay thẳng thiền định, rồng con hết lòng cầu cứu độ. Liền sau đó, rồng chết và gá sinh vào nhà bà-la-môn Phụ-lê ở nước Xá-vệ. Vừa sinh ra, bé trai này có dung mạo xinh đẹp nên đặt tên là Tu-bồ-đề.
Ngày một lớn lên, Tu-bồ-đề thông minh không ai sánh bằng, nhưng vì tính tình thô xấu, hễ trông thấy ai hay con vật nào, nó đều nổi giận, trách mắng, không chịu bỏ qua. Thế nên, cha mẹ và người thân đều chán ghét, chẳng ai ngó ngàng. Vì vậy, Tu-bồ-đề từ giã cha mẹ, đi vào núi rừng, nhìn thấy chim thú cho đến cỏ cây, gió thổi lay động, nó cũng bực tức, không lúc nào vui vẻ.
Khi ấy, vị thần núi nói với Tu-bồ-đề:
- Ngươi đã bỏ nhà, vào núi rừng này mà không biết tu thiện, đã không có lợi ích lại còn gây khổ cho chính mình. Nay Đức Thế Tôn là bậc có phúc đức lớn, đang ở tinh xá Kì-hoàn, có khả năng giáo hóa, khiến chúng sinh dứt ác, làm lành. Nếu ngươi đến đó hẳn sẽ dứt được tập khí sân giận, ác độc.
Nghe thần núi nói vậy, Tu-bồ-đề vui mừng, liền hỏi:
- Nay đức Thế Tôn đang ở đâu?
Thần núi nói:
- Chỉ cần ngươi nhắm mắt lại, ta sẽ đưa ngươi đến chỗ của Ngài.
Nghe lời thần núi, Tu-bồ-đề nhắm mắt lại, chỉ trong giây lát tự nhiên đã có mặt tại tinh xá Kì-hoàn. Thấy đức Thế Tôn với ba mươi hai tướng quí, tám mươi vẻ đẹp, có hào quang chiếu khắp như ánh sáng của trăm nghìn mặt trời, Tu-bồ-đề vô cùng vui sướng, đỉnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên.
Đức Phật nói cho Tu-bồ-đề nghe về lỗi lầm của sân giận là làm cho con người ngu muội, nóng nảy, hủy diệt căn lành, thêm lớn gốc ác, sau mắc quả báo rơi vào địa

Phần 4

ngục, chịu nhiều thống khổ không thể kể hết. Nếu ra khỏi địa ngục, sẽ làm rồng rắn, hoặc la-sát, quỉ thần, tâm tính độc ác, tạo nghiệp giết hại.
Nghe lời Thế Tôn dạy, Tu-bồ-đề vô cùng sợ hãi, liền ăn năn, tự trách, đối trước Đức Thế Tôn, thành tâm sám hối lỗi lầm. Ngay lúc ấy, Tu-bồ-đề đắc quả Tu-đà-hoàn, trong lòng vui sướng, xin được xuất gia.
Đức Phật hứa khả và bảo: ‘Thiện lai tì-kheo!’. Ngay đó, Tu-bồ-đề râu tóc tự rụng, pháp phục tự đắp trên thân, trở thành sa-môn, tinh tiến tu học, chẳng bao lâu đắc quả A-la-hán, được chư thiên và loài người kính ngưỡng.
Chứng kiến việc này, các tì-kheo thỉnh Phật nói về duyên xưa. Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Vào Hiền kiếp, có Đức Phật ra đời hiệu là Ca-diếp. Trong giáo đoàn của Ngài, có một tì-kheo thường đi khuyến hóa, suốt một vạn năm luôn dẫn các tì-kheo đi khắp nơi thụ nhận cúng dường. Thời gian sau, chúng tăng có chút việc nên không đi theo nữa, vị tì-kheo này buông lời quở mắng: ‘Các ông thật ngang bướng, chẳng khác gì rồng độc’. Nói xong, vị tì-kheo ấy bỏ đi. Do nghiệp duyên này nên vị ấy mang thân rồng độc suốt năm trăm đời, tâm thường hung dữ, giết hại chúng sinh, nay tuy được làm người, nhưng vì tập khí đời trước chưa hết, nên thường sân giận.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Nên biết, vị tì-kheo buông lời quở mắng ấy là Tu-bồ-đề ngày nay. Nhờ đi khuyến hóa cúng dường chúng tăng, nên nay được gặp Ta, xuất gia, đắc đạo.
Nghe lời Phật dạy, các tì-kheo vui vẻ, vâng làm”,
Kinh Bách duyên ghi: “Lúc Đức Phật còn tại thế, trong thành Vương Xá có một trưởng giả vô cùng giàu sang, tiền bạc, của báu không thể kể xiết. Bấy giờ, vợ của trưởng giả mang thai, đủ mười tháng thì chuyển bụng, nhưng không sinh được.
Sau đó, vợ trưởng giả lại mang thai, đủ mười tháng, sinh được một bé trai, nhưng thai nhi trước vẫn còn nằm bên hông phải. Lần lượt như thế, bà mang thai chín lần, lần nào cũng tròn mười tháng là sinh, chỉ riêng thai nhi đầu tiên cứ nằm mãi trong bụng, không chịu ra.
Một hôm, vợ của trưởng giả bị bệnh nặng, mặc dù đã uống nhiều loại thuốc để chữa trị, nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm. Biết không qua khỏi, bà dặn người nhà: ‘Thai nhi trong bụng tôi vẫn còn sống. Nếu tôi qua đời, các vị phải mổ bụng tôi để cứu lấy đứa bé và nuôi dưỡng nó’.
Không vượt qua căn bệnh hiểm nghèo, người mẹ đã qua đời. Người thân đem thi thể của bà ra nghĩa địa và mời thầy thuốc Kì-bà mổ bụng, thì thấy có một bé trai, thân hình rất nhỏ mà râu tóc bạc phơ, lom khom bước đi, nhìn quanh bốn phía và nói với những người thân: ‘Các vị nên biết, do đời trước tôi dùng lời ác độc quở mắng, nhục mạ chúng tăng, nên nay phải ở trong thai mẹ suốt sáu mươi năm, chịu nhiều đau khổ, không thể kể hết’.
Nghe đứa bé nói vậy, những người thân đều rơi lệ, buồn thương, không nói nên lời.
Bấy giờ, từ xa biết được thiện căn của đứa bé này đã thuần thục, Đức Phật cùng các tì-kheo đi đến nghĩa địa và hỏi đứa bé:
- Ngươi cổ phải là tì-kheo trưởng lão không?
Đứa bé đáp:
- Thưa, phải!
Đức Phật hỏi hai lần, ba lần, đứa bé đều đáp như vậy.
Chứng kiến cuộc đối thoại giữa Đức Phật và đứa bé, các tì-kheo đều lấy làm lạ và bạch Phật:
- Đứa bé này đời trước đã tạo nghiệp gì mà nay phải ở trong bụng mẹ cho đến lúc đầu tóc bạc phơ, lom khom bước đi, nay lại đối đáp với đức Như Lai như thế?
Khi ấy, Đức Phật bảo đại chúng:
- Vào kiếp Hiền, có Đức Phật ra đời hiệu là Ca-diếp. Gặp lúc các tì-kheo an cư mùa hạ, chúng tăng đều bằng lòng cử một vị tì-kheo lớn tuổi làm duy-na, đồng thời qui định: ‘Trong mùa an cư này, người nào đắc đạo mới cho phép cùng chúng tăng tự tứ, nếu ai chưa đắc đạo thì không cho phép tự tứ’. Lúc ấy, chỉ có một mình thầy duy-na kia không đắc đạo, nên tăng không cho phép bố-tát, tự tứ. Do đó, vị ấy buồn bã, bực tức nói: ‘Một mình tôi lo liệu việc tăng để các ông an ổn tu hành, vậy mà nay lại không cho phép tôi cùng tự tứ, bố-tát, yết-ma’.
Thế là, vị duy-na nổi giận, trách mắng chúng tăng. Chúng tăng lập tức bắt nhốt ông vào phòng tối, ông càng bực tức, mắng: ‘Tôi sẽ làm cho bọn các ông ở trong chỗ tối tăm, mù mịt, không thấy ánh sáng, giống như tôi nay đang ở trong căn nhà tối này!’.
Nói xong, ông tự kết liễu đời mình, thần thức đọa địa ngục, chịu khổ vô cùng. Hôm nay tuy thoát khỏi, nhưng vẫn mắc quả báo ở trong bào thai chịu khổ như thế.
Nghe vậy, chúng tăng siêng năng giữ gìn ba nghiệp, nhàm chán sinh tử. Trong số đó, có vị chứng bốn quả Sa-môn, có vị phát tâm Bích-chi-phật, có vị phát tâm Vô thượng bồ-đề.
Khi ấy, những người thân đem đứa bé về nhà nuôi dưỡng. Khi đã lớn khôn, họ cho đứa bé xuất gia tu tập và chứng quả A-la-hán.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Vì vào thời quá khứ, đứa bé từng cúng dường chúng tăng và làm duy-na lo liệu việc tăng, nên nay được gặp Phật, xuất gia, chứng quả.
Nghe Đức Phật dạy, các tì-kheo vui vẻ vâng làm”.
Bài tụng về chính báo:
Lời ác như tên độc
Người trúng bị tổn thương
Cửa địa ngục đang chờ
Ném vào vạc nước sôi.
Cắt lưỡi buộc phải nuốt
Đau khổ không thể lường
Nếu không có ích lợi
Sao chẳng phòng lời nói?
Bài tụng về tập báo:
Lời ác xúc phạm người
Bị địa ngục thiêu đốt
Nếu sinh lại làm người
Thường nghe lời đay nghiến.
Giả sử có luận bàn
Bị người thêm hờn oán
Cam tâm chịu quả bảo
Làm lành được an vui.
84.3.3. Cảm ứng
Đời Đường, Dương Sư Tháo: Ông quê ở làng Đông Dương, huyện Lễ Tuyền, Ung châu. Niên hiệu Trinh Quán thứ nhất (627), ông nhậm chức Tư trúc giám. Sau nhân việc công, ông dời đến nhậm chức Huyện úy ở Lam Điền.
Niên hiệu Trinh Quán thứ hai mươi mốt (647), do tuổi già, nên ông trở về nhà, làm ruộng để sinh sống. Với bản tính độc ác, nói năng hung dữ, suốt đời chỉ ưa nhìn lỗi người, nên hễ dân làng có việc gì Tháo liền ghi chép để báo quan. Quan huyện cho Tháo đã từng làm quan, nên cũng nể nang. Nhưng Tháo tính ác sâu nặng, không hề thay đổi, nhiều lần quấy nhiễu đến quan, thường tìm lỗi lầm của tất cả dân làng bất kể lớn nhỏ, lại còn uy hiếp họ.
Lần nọ, trong thôn xóm đang yên bình, Tháo vô cớ thay đổi, việc lớn việc nhỏ đều chê bai, việc đúng hay sai đều tùy tiện. Chỉ một việc nhỏ như trâu dê giẫm đạp, nam nữ đánh đấm hơn thua, ông liền báo lên quan huyện. Huyện lệnh là Bùi Cù-đàm cảm thấy bực bội. Ban đầu, có hai ba chuyện, Huyện lệnh còn xử lí. Sau, thấy quá nhiều chuyện, Huyện lệnh không giải quyết nữa. Bấy giờ, Tháo báo lên châu, hoặc dâng biểu về triều. Tâm ác của Tháo ngày càng lẫy lừng, ai cũng không muốn gặp mặt. Tự biết tính mình ác độc, Tháo nói với mọi người:
- Tính tôi nóng giận, lời nói cay độc. Từ niên hiệu Vũ Đức (618-626) tới nay, tôi đã thụ giới bốn lần, hành trì, lễ bái, ngày nào cũng đọc kinh luận, khuyên người làm thiện.

Phần 5

Tuy nhiên, hễ người lớn kẻ nhỏ nào xúc phạm, Tháo đều không nhẫn nhịn được. Vào đêm mồng bảy tháng tư niên hiệu Vĩnh Huy thứ nhất (650), chợt có một người mặc áo xanh, cưỡi ngựa trắng, từ phương đông đi thẳng đến cửa nhà Tháo. Gặp mặt, hai người thăm hỏi qua lại xong, người ấy nói:
- Chủ ngục ở Đông Dương sai tôi đến bắt ông, vì từ lúc sinh ra đến nay, tâm ông luôn ác độc, không bao giờ chịu bỏ. Ông thường khuyên người làm thiện, còn mình thì giữ giới không chu toàn, lại thêm tham lam bỏn xẻn, không bố thí. Ông nói, mình có thiện tâm cúng dường Tam bảo, nhưng ông chưa từng bố thí đồng nào. Tuy miệng ông nói xấu hổ, nhưng trong tâm luôn tính kế để hãm hại người. Vì vậy, quan ngục mới gọi bắt ông.
Nói xong, người ấy biến mất. Tháo vẫn còn đứng ở cửa, bỗng ngã xuống đất, miệng không nói được, chỉ ngực trái là còn ấm. Người nhà lấy kiệu đưa ông vào nhà, qua một đêm vẫn không tỉnh lại.
Thật ra, Tháo đã đến chỗ Đô lục ở Đông Dương rồi. Lúc ấy, công đường của Phủ quân chưa giải tán, một mình Tháo đi đến chỗ quan. Ông thấy có bàn ghế, giường chiếu rất lớn và đẹp. Ở đó cũng có rất nhiều tội nhân, có người mang gông cùm, đầu để trần, lưng không buộc đai, hoặc đi đứng nằm ngồi... Tháo đi về phía đông, đến một nơi, nơi ấy có lỗ hổng rất nhỏ, chỉ thấy lửa bắn khắp nơi, khói hôi xông mù mịt, nhưng không trúng người nào.
Thấy có hai người cầm gậy sắt, canh giữ nơi cửa, Tháo hỏi:
- Đây là chốn nào?
Lính ngục đáp:
- Đây là địa ngục Lửa dữ. Những người giữ giới không trọn vẹn, hoặc người làm việc thiện nửa chừng, người biết mà cố phạm, chết sẽ vào địa ngục này. Nghe nói có ông Dương Sư Tháo suốt đời ưa nói lỗi người, thường báo lên quan những điều hay dở của người khác. Hễ gặp người, thì dối nói là biết xấu hổ, nhưng hễ ai xúc phạm thì không nhẫn nhịn được. Nay sắp đưa hắn vào đây để chúng tôi trị phạt. Hôm nay là ngày mồng tám tháng tư, người nhà cho Tháo đã chết, nên thiết trai cúng dường. Quan ngục xem xét lại, định thả cho Tháo trở về, nhưng chưa được lệnh, nên ta phải ở đây để đợi Sư Tháo.
Tháo liền dập đầu lễ lạy và nói:
- Đệ tử chính là Dương Sư Tháo! Mong ông tìm cách cho đệ tử được thoát khỏi nơi này!
Quan ngục đáp:
- Ông hãy chí thành đỉnh lễ mười phương chư Phật, tha thiết sám hối, bỏ tâm ác độc, lập tức được vãng sinh, không trở lại nơi này nữa. Tuy ông có ác ý, nhưng một khi ăn năn sám hối, hành Bồ-tát hạnh không tiếc thân mạng, thì sẽ được sinh về Tịnh độ.
Nghe nói vậy, Sư Tháo theo lời chỉ dạy, tỏ bày lỗi lầm và khẩn cầu sám hối. Quan ngục liền thả cho về nhà.
Trải qua ba ngày thì sống lại, Tháo kể hết việc này cho người nhà nghe. Thời gian sau, Tháo đến chỗ thiền sư Tuệ Tĩnh chí thành sám hối.
Đến năm bảy mươi lăm tuổi, ông ăn ngày một bữa, giữ trường trai, ngày đêm lễ bái sáu thời. Một hôm, nhân đi ra ruộng thăm lúa, thấy ba con trâu đang ăn lúa mạ, Tháo đến thì trâu hổ thẹn, nên không đành xua đuổi, rồi trở về nhà. Hôm sau, Tháo ghé lại, thấy lúa vẫn không chết, chỉ có dấu chân trâu.
Một hôm, ông đến điện thờ Phật của Trần Vương tại vùng tây Kinh Dương, nơi có nhiều người nhóm họp, kể việc này cho mọi người nghe. Tăng tục đều kinh ngạc, nên càng siêng năng lễ lạy, sám hối.
Đêm ấy, Tháo mộng thấy có người đến nói: “Ta là sứ giả của quan ngục, được lệnh đến đây để răn nhắc ông. Giờ đây, ông đã bỏ ác, nên không bắt nữa, nhưng ông phải nỗ lực, chuyên làm thiện, thì không cần phải lo”.
84.9. NÓI LƯỠI ĐÔI CHIỀU
84.9.1. Lời dẫn
Sinh, già, bệnh, chết, chúng sinh không có ngày tự thoát. Bồ-đề, niết-bàn, hành giả có lối tu để bước vào. Các Đức Phật đắc đạo là do thực hành tứ nhiếp, nên được người phàm, bậc thánh qui ngưỡng. Bồ-tát thành thánh là do tu tập lục độ, nên được người thiện, kẻ ác kính thờ.
Nay thấy người đời chuyên đặt điều dối gạt, với tâm xấu ác truyền đến người này, người kia, khiến họ hàng chia rẽ, bạn bè li tán. Do thích gieo nghiệp bất hòa, nên họ chiêu cảm quả báo sống cảnh biệt li. Nhưng nếu với tâm tốt khuyên người tránh xa kẻ ác, tuy cũng là li gián, nhưng có lợi cho người, nên không phạm tội.
Cho nên, luận Thành thật ghi: “Nếu với tâm tốt khuyên bảo người, dù khiến họ xa lìa, vẫn không phạm tội. Còn đem lòng ác xúi người đánh nhau thì gọi là nói lưỡi đôi chiều, mắc tội rất nặng, sẽ đọa địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh. Nếu sinh làm người, thường bị kẻ khác chê bai, gặp quyến thuộc xấu ác, phá hoại gia đình”.
Như trong phần lỗi nói dối đã trình bày ở trên, thì nói dối là gây mâu thuẫn giữa người này và người kia, nhưng ở đây gọi là nói lưỡi đôi chiều. Người phạm tội này phải chịu quả báo khổ trong ba đời, như trên đã nói rõ, không cần trình bày lại.
84.9.2. Dẫn chứng
Luật Tứ phần ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Các ông hãy lắng nghe! Thuở xưa, có hai con thú dữ kết bạn với nhau, một con sư tử tên Thiện Nha, một con cọp tên Thiện Bác, ngày đêm cùng rình bắt đàn nai.
Khi ấy, có một con chồn thường theo sau hai con thú kia, ăn thịt thừa của chúng để sống. Một hôm, chồn thầm nghĩ: ‘Nay ta .không thể theo sau mãi thế này, phải tìm cách để hai con thú kia gây gỗ, không đi chung với nhau nữa’. Thế là, chồn đến nói với sư tử Thiện Nha:
- Tôi nghe Thiện Bác nói: ‘Nơi ta sinh rất đẹp, dòng họ cao quí, tướng mạo và sức mạnh đều hơn Thiện Nha. Vì sao? Vì hàng ngày ta được ăn thịt tươi
ngon, sư tử Thiện Nha theo sau, ăn thức ăn thừa của ta để sống’. Thiện Bác còn nói kệ:
Tướng mạo và nơi sinh
Sức mạnh đều hơn cả
Thiện Nha không bằng ta!
Thiện Bác nói như vậy.
Thiện Nha hỏi chồn:
- Vì sao ngươi biết được điều này?
Chồn trả lời:
- Hai anh gặp nhau sẽ tự biết.
Sau khi lén nói với sư tử Thiện Nha, chồn đến nói với cọp Thiện Bác:
- Anh biết không, Thiện Nha nói: ‘Hiện nay dòng họ, nơi sinh và sức mạnh của ta đều hơn Thiện Bác. Vì sao? Vì ta thường ăn thịt tươi ngon, cọp Thiện Bác theo sau, ăn thức ăn thừa của ta để sống’. Thiện Nha còn nói kệ:
Tướng mạo và nơi sinh
Sức mạnh đều hơn cả
Thiện Bác không bằng ta!
Thiện Nha nói như vậy.
Nghe xong, Thiện Bác hỏi:
- Vì sao ngươi biết được điều này?
Chồn trả lời:
- Hai anh gặp nhau sẽ tự biết.
Sau đó, hai con thú dữ gặp mặt, nhìn nhau với cặp mắt giận dữ. Sư tử Thiện Nha suy nghĩ: ‘Ta nên hỏi rõ việc này trước khi ra tay đánh cọp’. Lúc đó sư tử Thiện Nha nói kệ hỏi cọp Thiện Bác:
Có phải Thiện Bác nói:
Tướng mạo và nơi sinh
Sức mạnh đều hơn cả
Thiện Nha không bằng ta?

Phần 6

Cọp Thiện Bác nghĩ: ‘Chác là do chồn muốn chúng ta gây gỗ nhau’, liền nói kệ trả lời sư tử Thiện Nha:
Thiện Bác không hề nói:
Tướng mạo và nơi sinh
Sức mạnh đều hơn cả
Thiện Nha không bằng ta.
Nếu nghe điều bất lợi
Tin lời kẻ đâm thọc
Tự hủy hoại tình thân
Lại trở thành oan gia.
Nếu biết đúng như thật
Phải diệt trừ sân hận
Hãy nói lời chân thành
Để cùng được lợi ích.
Nay phải khéo hàng phục
Diệt trừ ác tri thức
Nên giết con chằn này
Gây chia rẽ chúng ta.
Lập tức, chúng đánh chết chồn kia.
Khi ấy, Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Hai con thú này bị chồn gây chia rẽ, khi gặp mặt còn không vui, huống gì con người, bị kẻ khác li gián mà không bực bội sao?”
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Vua Diêm-la nói kệ trách các tội nhân:
Vui quá, nói nhiều lời
Tham lam khiến người sợ
Nói lời không chân thật
Lưỡng thiệt lỗi nặng nhất.
Trong kinh Hoa thủ, Đức Phật nói kệ:
Ác khẩu và lưỡng thiệt
Thích nói lỗi của người
Đó là người không tốt
Việc ác nào cũng làm.
Luận Đại trí độ ghi: “Không cần bố thí, trì giới, học rộng, nghe nhiều, chỉ nói lời chân thật cũng được vô lượng phúc đức”.
Trong kinh Bảo ân, Đức Phật nói kệ:
Đức Phật bảo A-nan
Người sống ở thế gian
Tai họa sinh từ miệng
Nên giữ gìn khẩu nghiệp
Còn hơn cả lửa dữ.
Lửa dữ chỉ thiêu đốt
Tài vật ở thế gian
Còn ác khẩu đốt cháy
Hết thảy bảy thánh tài.
Tất cả loài chúng sinh
Tai họa sinh từ miệng
Là búa bổ nát thân
Là họa diệt hình hài.
Bài tụng về chính báo:
Tội lưỡng thiệt chia rẽ
Đọa ngục, bị phân thây
Lính ngục vả vào miệng
Cắt lưỡi bằng dao nóng.
Thống khổ biết dường nào
Lại thêm bị đói khát
Nghiệp ác mãi buộc ràng
Lại phải uống máu mình.
Bài tụng về tập báo:
Tội vu khống hại người
Chịu khổ ba đường dữ
Nếu được sinh làm người
Dư bảo vẫn bám theo.
Gặp quyến thuộc xấu ác
Luôn mâu thuẫn, hận thù
Nghiệp ác không chừa bỏ
Địa ngục không hạn kì.
84.9.3. Cảm ứng
84.9.3.1. Đời Hán, hoàng hậu họ Tống: Tống hoàng hậu của Hán Linh đế không được sủng ái, nên các tì thiếp được sủng ái ở hậu cung đều xem thường.
Trước đây, trung thường thị Vương Phổ giết oan Bột Hải vương và vương phi, mà vương phi là cô của hoàng hậu. Sợ hoàng hậu oán thù, Vương Phổ thông đồng với Thái trung đại phu Trình Hà kết tội hoàng hậu dùng tà thuật bùa chú.
Tin điều này, Linh đế thâu lại ấn của hoàng hậu. Hoàng hậu tự đến lãnh cung, buồn rầu mà qua đời; còn cha, anh và em của hoàng hậu thì đều bị chém. Các quan thường thị, Tiểu huỳnh môn và những người trong cung đều thương xót họ Tống vô tội mà bị chết.
Sau, Linh đế mộng thấy Hoàn đế hiện về giận dữ nói: “Tống hoàng hậu vô tội, sao ngươi lại tin dùng bọn nịnh thần khiến hoàng hậu phải chết, còn Bột Hải vương đã bị biếm chức, đày đi xa rồi, sao còn bị chết chém. Nay Tống hoàng hậu và Bột Hải vương đã tố cáo với trời. Thượng đế nổi giận, tội ấy thật khó tha thứ!”.
Mộng thấy rõ ràng như vậy, Linh đế thức dậy mà lòng còn sợ hãi, liền hỏi Vũ lâm tả giám10 Hứa Băng: “Đây là điềm gì? Có thể cúng tế để giải trừ được không?”.
Hứa Băng tâu: “Hãy cho viết sớ văn tuyên bố Tống hoàng hậu và Bột Hải vương vô tội, đồng thời nên cải táng để yên định oan hồn, thả những người họ Tống trở về và phục hồi tước Bột Hải vương để trừ tội lỗi”.
Nhà vua không nghe theo, chẳng bao lâu thì băng.
84.9.3.2. Đời Đường, người đàn bà họ Lương: Vào niên hiệu Trinh Quán (627-649), đời Đường, tại Hàm Dương có một phụ nữ họ Lương qua đời, trài qua bảy ngày thì sống lại, tự kể:
Tôi bị người bắt dẫn đến một tòa nhà lớn, thấy một vị quan ngồi trong đại sảnh cầm bút phê án lệnh, chung quanh có rất nhiều lính hầu. Vị quan bảo lính tra xét, rồi hỏi:
- Người phụ nữ này đã đến số chết chưa?
Lính hầu đem hồ sơ tra xét ra và thưa:

Phần 7

- Người đến số chết có cùng tên họ với bà này, nên bà bị bắt lầm đến đây!
Vì vậy, vị quan bảo lính hầu thả tôi trở về. Tôi thưa với quan:
- Không biết Lương này có tội gì không? Xin chịu tội xong, rồi trở về!
Vị quan liền bảo người tra án, người ấy thưa:
- Bà Lương hàng ngày chi có tội nói lưỡi đôi chiều, dùng lời ác mắng chửi người, ngoài ra không có tội gì khác.
Lập tức, vị quan bảo một người kéo lưỡi tôi ra, một người cầm búa chặt. Mỗi ngày làm như thế đến ba bốn lần, trải qua bảy ngày mới thả cho về. Lúc ấy, tôi cảm thấy như rơi xuống vực thẳm, lát sau như ngủ vừa thức dậy.
Người nhà thấy trên lưỡi bà Lương bị bầm và sưng tấy lên. Từ đó về sau, bà Lương bỏ hẳn rượu thịt.
84.10. NÓI THÊU DỆT
84.10.1. Lời dẫn
Lời trung thực thì lí lẽ rõ ràng, lời thêu dệt thì trái với chân lí. Do trung thực nên chân thật, do chân thật nên phúc đức sinh, do phúc đức sinh nên thành thánh quả. Do thêu dệt nên giả dối, do giả dối nên mắc tội, do mắc tội nên chịu khổ.
Vì vậy, muốn khế hợp nghĩa lí để cầu thánh quả cần phải nói lời chân thật. Nếu nói lời giả dối thì trái với chân lí. Những lời nói không đúng đắn đều gọi là ỷ ngữ. Những lời nói không rõ ràng cũng gọi là ỷ ngữ. Lời thêu dệt không đem lại lợi ích cho mình và người, chỉ làm tăng thêm tâm buông lung, nuôi lớn các điều bất thiện, sau khi chết rơi vào ba đường ác. Hết tội địa ngục, kẻ ấy được sinh làm người, dù nói đúng vẫn không ai tin.
Luận Thành thật ghi: “Tuy nói thật, nhưng không đúng lúc cũng gọi là ỷ ngữ”.
84.10.2. Dần chứng
Trong luận Đại trí độ, có bài kệ:
Đọa vào loài ngạ quỉ
Miệng thường phun lửa dữ
Kêu gào vang khắp nơi
Là quả bảo của miệng.
Tuy học rộng, hiểu nhiều
Thuyết pháp giữa đại chúng
Vì nghiệp không thành thật
Nên người không kính tin.
Muốn danh tiếng vang xa
Được mọi người tin tưởng
Nên nói lời chân thành
Không nói lời thêu dệt.
Luận Tảt-bà-đa ghi: “Bốn lỗi của miệng phối hợp nhau, mỗi lỗi có bổn trường hợp:
1. Lưỡng thiệt nhưng chẳng phải vọng ngữ, chẳng phải ác khẩu: như có kẻ đem lời người này nói với người kia, vì truyền đạt đúng sự thật nên chẳng phải vọng ngữ, vì nói lời nhã nhặn nên chẳng phải ác khẩu, nhưng do tâm li gián nên gọi là lưỡng thiệt.
2. Vừa lưỡng thiệt vừa vọng ngữ, nhưng chẳng phải ác khẩu. Như có kẻ đem lời người này nói với người kia với tâm li gián nên gọi là lưỡng thiệt, vì truyền đạt không đúng sự thật nên gọi là vọng ngữ, nhưng nói lời nhã nhặn nên chẳng phải ác khẩu.
3. Vừa lưỡng thiệt vừa ác khẩu, nhưng chẳng phải vọng ngữ. Như có kẻ đem lời người này nói với người kia với tâm li gián nên gọi là lưỡng thiệt, vì nói lời thô ác nên gọi là ác khẩu, nhưng truyền đạt đúng sự thật nên chẳng phải vọng ngữ.
4. Gồm lưỡng thiệt, vọng ngữ và ác khẩu. Như có kẻ đem lời người này nói với người kia với tâm li gián nên gọi là lưỡng thiệt, vì truyền đạt không đúng sự thật nên gọi là vọng ngữ, vì nói lời thô ác nên gọi là ác khẩu.
Ngoài ra, vọng ngữ và ác khẩu, mỗi lỗi cũng có bốn trường hợp như thế.
Ỷ ngữ luôn có mặt trong các trường hợp, nên không trình bày riêng. Vì vậy, luận Thành thật ghi: “Ba nghiệp khác của miệng, có lúc kết hợp với nhau, có lúc không kết hợp, nhưng ỷ ngữ nhất định có mặt trong cả bốn trường họp”.
Bài tụng về chính báo:
Lời thêu dệt vô nghĩa
Làm mê loạn lòng người
Đoạn thiện căn kẻ khác
Miệng uống nước đồng sôi
Sắt nóng thiêu cháy lưỡi
Gan ruột đều tiêu tan
Đớn đau không chịu nổi
Khổ chỉ biết kêu trời.
Bài tụng về tập báo:
Ỷ ngữ che chân lí
Chết rơi vào đường dữ
Ra khỏi, được làm người
Lời nói không thuyết phục.
Sống chẳng ai tin kính
Thường bị người chê cười
Là người biết hổ thẹn
Sao chẳng nói lời hay.
84.10.3. Cảm ứng
84.10.3.1. Đời Hán, người dân Đàn quốc: Vào thời Hán Minh đế, người dân Đàn quốc giỏi ảo thuật, có thể đổi đầu trâu ngựa một cách dễ dàng. Vua và quần thần cùng ra xem, lấy đó làm trò vui.
Đến thời Tam Quốc, ở nước Ngô có Từ Quang không rõ là người ở đâu, thường bày trò ảo thuật. Một hôm, ông xin hạt cô lương tại gian hàng trong khu chợ nọ, chủ quán không cho, lại xin người con. Người con cho hạt, ông đào đất gieo trồng.
Chỉ trong khoảnh khắc, hạt mọc lên, sau lan rộng ra, nở hoa và kết trải. Mọi người đều chăm chú nhìn. Sau khi có hạt, ông lấy ăn, nhân đó đưa cho người xem. Người bán nhìn lại thì thấy số cô lương của mình mang theo đều không còn nữa. Các loại cam, quýt, bưởi, táo, hạt dẻ cũng như vậy.
Các trò huyễn hóa của ông ấy cũng đại khái đều như thế.
84.10.3.2. Đời Đường, bà-la-môn ở Tây Vực: Niên hiệu Trinh Quán thứ hai mươi (646), đời Đường, có năm vị bà-la-môn ở Tây Vực đến kinh đô. Các vị này giỏi về âm nhạc, chú thuật và các trò vui khác như cắt lưỡi, rút ruột, đi trên dây, nối vật đã đứt.
Từ niên hiệu Hiển Khánh (656-660) đến nay, có vài sứ giả như Vương Huyền Sách... đến Ngũ Ấn Độ.
Thiên vương ở Tây Vực bày vài trò vui để sứ giả nhà Hán thưởng lãm. Có người bay lên hư không rồi bước đi, chạy nhảy, rượt bắt trên dây, hoặc nam nữ đứng trên đó ca múa giống như trên mặt đất. Có người nữ dùng một tay vừa tung vừa bắt ba cây gậy, hoặc dao, thương, giáo..., một tay kia vịn dây đi mà không rơi. Có người cắt lưỡi rồi buộc lại, khi mở ra thì lưỡi vẫn y như cũ mà không cần nhờ người khác.
Các trò huyễn hóa như thế rất nhiều, thật khó kể hết.
84.10.3.3. Đời Đường, Trình Phổ Nhạc: Đời Đường, phía tây Ưng châu và phía tây bắc huyện Châu Ốc có một phường của nhiều người chung sống đã lâu. Trong đó, Trình Phổ Nhạc từ nhỏ rất thích âm nhạc.
Vào ngày mồng bảy tháng năm niên hiệu Vĩnh Huy thứ sáu (655), Phổ Nhạc do bị bệnh nhẹ mà đột ngột qua đời. Năm ngày sau, nơi tim vẫn còn ấm, không hôi, nên

Phần 8

người nhà không dám chôn. Đến ngày thứ sáu, trời vừa sáng thì ông ta sống lại. Ông ta kể:
Khi tôi mới chết, có hai người mặc áo xanh đến bên giường và nói:
- Vua gọi ông.
- Vua nào? Tôi hỏi.
- Vua Diêm-la. Hai người ấy đáp.
- Gọi tôi có việc gì? Tôi hỏi.
- Có việc cần xét hỏi!
Nói xong, hai người này giục tôi đi nhanh, không cho nói nữa. Một người đưa tay tóm lấy tôi đưa ra cửa nam của phường, Tôi đi lần đến vùng cỏ hoang ở chân núi Nam. Vùng này nước hơi mặn, nên cỏ không mọc được, nhưng thấy có cái lỗ lớn bằng miệng chum, người ấy bảo tôi bước vào, nhưng tôi sợ hãi, không chịu. Lập tức người ấy xô tôi vào, nhưng chẳng cảm thẩy có thương tổn gì.
Đi thẳng vào, tôi thấy đại điện của Diêm vương có rất nhiều ngựời cầm gậy, Diêm vương cùng các quan và cung phi mĩ nữ ngồi trong đại điện có màn che cách. Trước đại điện có tấu nhạc, ca kĩ múa hát và các trò vui có đệm nhạc.
Sứ giả tâu Diêm vương:
- Người bị bắt đã đến!
- Là ai?_Diêm vương hỗi.
- Là Trình Phổ Nhạc!
Diêm vương hỏi Phổ Nhạc:
- Ngươi biết pha trò chăng?
- Không biết!
Diêm vương quay sang hỏi ca kĩ Trương Xá Nhi:
- Người này không biết pha trò, sao lại gọi đến đây?
Lúc còn sống, Xá Nhi có thiện cảm với tôi, sau vì giận nhau nên oán ghét. Vì muốn báo thù, nên Xá Nhi bắt càn tôi. Bây giờ không dám dối Diêm vương, Xá Nhi đành nói ra sự thật.
Nghe vậy, Diêm vương nổi giận, bắt Xá Nhi diễn trò. Khi ấy, các loại âm nhạc trước đại điện đồng loạt trỗi lên, nào tiếng đánh trống, ca múa, leo gậy. Người leo gậy, khi đã đến ngọn, thì thọc đầu gậy vào miệng mà dộng thăng xuống, gậy xuyên qua hậu môn, xuống tới đất, rồi lại leo lên, tụt xuống nhiều lần như thế, khiến cho sáu căn tan nát, chín lỗ máu tuôn.
Tôi lại thấy mấy mươi ca kĩ từ thời Hoàng Đế và Đường Nghiêu đến nay như Tề Yến Tử, Đột Xuất Lang, Độc Trư, Đào Bổng v.v... bị bát diễn các tạp kĩ như thế. Bấy giờ, miệng họ phun lửa, lưỡi bị kéo dài vòng quanh đại điện, lại có trăm nghìn chim sắt, vô số trùng độc từ hư không bay xuống cùng nhau cắn mổ lưỡi họ, khiến họ đau đớ vô vàn, tiếng kêu gào chấn động khắp nơi, người nghe không cầm lòng được.
Khi những người khác vỗ tay reo hò cổ vũ thì vô số trùng sắt như khói lửa cùng lúc bay đến đốt cháy họ. Sau khi chết cháy, họ sống lại, liên tục chịu khổ, không chút tạm dừng, âm thanh không dứt thì sự hành hình không ngưng nghỉ. Diêm vương tuy đã buông gậy, nhưng vẫn sai lính ngục cầm gậy sắt, kích nhọn, cung tên sắt vây quanh trấn giữ, lại còn ra lệnh trỗi nhạc để họ liên tục chịu khổ.
Trải qua năm ngày ở địa ngục, tôi thấy các kĩ nữ này chịu khổ như thế. Sáng sớm ngày thứ sáu, Diêm vương gọi tôi đến và bảo:
- Ngươi chưa tới số chết, kiểm tra lại sổ bộ thì ba năm sau mạng ngươi mới hết. Sau này, ngươi cũng sẽ chịu khổ như thế. Còn những người này lúc sinh tiền thường nói dối, nói lời độc ác, nói lời thêu dệt, trêu chọc tăng ni, xem thường Phật pháp, dối gạt Tam bảo, lấy càn vật của người khác để nuôi vợ con, thích giết heo dê, ăn thịt, uống rượu; hoặc đến chùa ăn, hoặc dùng vật của tăng, làm ô uế, lại không giữ trai giới. Do gây tạo những tội như thế nên phải chịu họa này. Ngươi tuy không có tội nặng như thế, nhưng chẳng phải không có lỗi khác, cũng sẽ chịu tội như vậy. Nay ta thả cho ngươi về. Khi ngươi chết, ta sẽ bắt lại.
Nói xong, Diêm vương sai hai ngục tốt lúc trước đưa tôi về nhà, lúc ấy tôi thấy chỗ chiếc giường là khu rừng gai góc, cành lá rậm rạp. Hai ngục tốt bảo tôi vào khu rừng ấy, lúc đầu tôi không chịu vào. Họ liền xô mạnh, tôi nhắm mắt mà vào, lập tức tỉnh dậy, thì tôi đã sống lại và đang nằm trên giường.
Do thấy rõ ràng như vậy, nên Phổ Nhạc đến thụ giới tại một ngôi chùa ở kinh đô, giữ gìn không trái phạm, đồng thời ăn chay trường và siêng năng lễ sám.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục