Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 75 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)

24/12/2015

QUYỂN 75 Quyển này tiếp theo chương Mười nghiệp ác 84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt) 84.6. TÀ DÂM 84.6.1. Lời dẫn Tiếng dâm làm tổn hại đức là điều mà người trí không làm; tướng dục khiến mê tâm là việc mà bậc thánh từ bỏ....

PUCL QUYỂN 75 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
Phần 1

QUYỂN 75
Quyển này tiếp theo chương Mười nghiệp ác
84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)

84.6. TÀ DÂM
84.6.1. Lời dẫn
Tiếng dâm làm tổn hại đức là điều mà người trí không làm; tướng dục khiến mê tâm là việc mà bậc thánh từ bỏ. Vì vậy, Chu U vương mất nước thật là lỗi của Bao Tự; Tấn Hiến đế mất ngôi chính là tội của Lệ Cơ. Độc Giác tiên nhân trên núi chẳng biết nỗi nhục bị cưỡi cổ; Thuật-già-bà hẹn tại miếu đường đâu ngờ chịu cảnh khổ bị cháy thân.
Như thế, tất cả đều do chúng sinh trong cõi Dục không tu quán giải, bị phiền não trói buộc chẳng thể phục đoạn. Và lại, địa thủy hỏa phong, thứ nào là chủ tể? Thân, thụ, tâm, pháp bản tính đều không. Da dày, da mỏng toàn là bất tịnh; sinh tạng, thục tạng cấu bẩn khó bàn, luôn đẩy đưa con người rơi vào ba đường ác.
Vì vậy, bậc đại bồ-tát thường tu quán hạnh, thấy toàn thân mãi tuôn đầy những chất nhơ uế. Sáu trần là giặc oán thù thường gây não hại. Năm ấm như chiên-đà-la thật khó gần gũi.
Phàm phu điên đảo buông tâm tham mê, ngắm nghía hình hài, đắm say dung mạo, nào là răng trắng, môi hồng, mi dài, tóc búi, lắc người, uốn thân để tăng vẻ mĩ miều.
Thế nên, mĩ nữ cởi ngọc nơi Lạc Xuyên khiến Trần vương phải xuống kiệu; người đẹp chơi cầu ở Hán Khúc cảm Giao Phủ phải lưu tình. Trên đài Vu Sơn mượn mây mưa để lui tới bên suối Thư Cô nương dòng nước mà lại qua. Có kẻ sai đốt hương mà nhớ tưởng áo ngắn của Hàn Thọ; gảy khúc đàn cầm để thầm nhận tình ý của Tương Như. Hoặc có người nhân dâng gối mà thành thân; có người nhờ treo mũ trở nên gần. Họ đâu biết, hình hài như bọt nổi, thể chất tợ mây trôi, trong ngoài đều không, khoảnh khắc tan biến. Toàn thân bất tịnh, khắp thể vô thường, vừa mới quăng xuống ngòi rãnh đã thành mồi ngon cho trùng kiến.
Chúng sinh thường mang thói tà dâm, trái với hạnh thanh tịnh, chướng ngại đạo bồ-đề, gây nhân bốn thú, gặt quả ba đường. Nên biết, gốc của ba cõi chính do nghiệp dâm; quả báo sáu nẻo thật vì ái nhiễm, khiến cho nhuận nghiệp càng sâu nặng. Vì thế, Đức Phật chế giới không được tà dâm.
84.6.2. Quở trách dục
84.6.2.1. Tham dục nhiều Kinh Niết-bàn ghi:
Nếu người thường sầu khố
Nỗi khổ càng tăng thêm.
Như người ham ngủ kia
Thì càng ham say ngủ
Người tham dâm, thích rượu
Cũng lại giống như thế.
Kinh Chính pháp niệm ghi:
Như lửa thêm củi khô
Ngọn lửa càng cháy mạnh
Người hưởng thụ dục lạc
Lửa ái càng tăng thêm.
Củi khô tuy cháy dữ
Nhưng có thể xa lìa
Còn lửa ái thiêu đốt
Mãi mãi không thoát được.
Luận Đại trí độ ghi:
Người đời thật ngu si
Đắm nhiễm năm dục lạc
Đến chết không chừa bỏ
Vào đời vị lai kia
Chịu vô lượng khổ đau.
Ví như người ngu si
Ham thích quả ngon ngọt
Leo lên cây hái ăn
Mãi không chịu trèo xuống.
Chợt có người đến đốn
Cây kia liền đồ nhào
Thân thể đầy thương tích
Phải chết trong khổ đau.
Được thì có chút vui
Mất lại muôn điều khổ
Như dao bén dính mật
Ham ngọt vội liếm vào
Thế là bị đứt lưỡi
Đau khổ thật vô cùng.
Luận Thành thật ghi:
Tham dục thật khổ
Chúng sinh điên đảo
Vọng cho là vui
Người trí thấy rõ
Thì khổ đoạn trừ.
Ái dục không chừa
Như uống nước mặn
Lại càng khát hơn
Do làm tăng khát
Có gì đáng vui?
Ví như con chó
Gặm khúc xương khô
Nước dãi chảy đầy
Tưởng được món ngon.
Tham dục cũng vậy
Thật chẳng có vị
Nhưng vì đảo điên
Cho là hưởng vị.
Nên biết sắc dục
Là khổ, không vui
Nếu không tham cầu
Mới vui thật sự.
84.6.2.2. Quán người nữ nhơ uế
Người nữ chỉ có vẻ đẹp bề ngoài, còn bên trong chứa toàn chất hôi thối. Người mê chấp tướng, không biết đó là giả dối, chỉ người có trí mới biết thật đáng xa lánh.
Kinh Thiền bí yếu ghi: “Trưởng lão Mục-kiền-liên đã chứng quả A-la-hán, nhưng người vợ cũ cứ đeo đuổi, cô ta trang điểm lộng lẫy theo quấy phá ngài. Bấy giờ, tôn giả Mục-kiền-liên nói kệ cảnh tỉnh người vợ cũ:
Thân ngươi khối xương khô
Phần 2

Thịt da bọc bên ngoài
Trong toàn chất tanh hôi
Đâu có gì đẹp đẽ.
Chỉ là túi phân dơ
Chín chỗ thường rỉ chảy
Như quỉ có gì hay
Đâu đáng cho là quí.
Thân ngươi như hầm phân
Nhờ da mỏng bọc ngoài
Bậc trí từ bỏ nó
Như người tránh hố phân.
Nếu người biết thân ngươi
Cũng như ta ghét bỏ
Thì ai nấy lánh xa
Như người tránh hầm xí.
Còn ngươi cứ trau chuốt
Hương hoa cung chuỗi báu
Chỉ phàm phu tham đắm
Người trí không bị mê.
Thân ngươi khối nhơ bẩn
Chứa toàn thứ tanh hôi
Như trang hoàng nhà xí
Người ngu cho là đẹp.
Xương sườn gát xương sống
Như kèo cột nương nhau
Ngũ tạng thuộc vùng bụng
Nhơ nhớp tợ hố phân.
Thân ngươi như hầm phẩn
Ngu si luôn ôm giữ
Trang sức chuỗi ngọc châu
Ngoài đẹp như bình vẽ.
Nếu người không nhiễm dục
Tất cả chẳng vấn vương
Ngươi muốn đến hại ta
Như thiêu thân vào lửa.
Tất cả các dục độc
Nay ta dứt trừ rồi
Năm dục đã lánh xa
Lưới ma cũng xé nát.
Tâm ta như hư không
Chẳng dính mắc điều gì
Dù dục cõi trời đến
Chẳng hề động tâm ta.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Thà lấy dùi sắt cháy đỏ đâm vào mắt, quyết không nhìn sắc đẹp để làm cho tâm loạn động”.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Tâm tính của người nữ hay ganh ghét. Thế nên, sau khi mạng chung, người nữ phần nhiều sinh vào loài ngạ quỉ. Tuy họ nói lời hiền dịu, nhưng tâm địa thậm độc, lại giỏi dối trá, thường gạt gẫm mọi người”.
84.6.2.3. Người nữ khó gần, đáng chán
Kinh Ưu-điền vương có bài kệ:
Người nữ thật là ác
Khó gần gũi lâu dài
Dây ân ái buộc ràng
Đưa người vào cửa tội.
Nữ sắc không chỉ đưa con người vào đường ác mà còn khiến chư thiên phải đọa lạc.
Kinh Chính pháp niệm có bài kệ:
Ràng buộc chặt chư thiên
Không gì hơn nữ sắc
Người nữ trói chư thiên
Đưa vào ba đường ác.
Luận Đại trí độ ghi: “Bồ-tát quán các dục thấy tất cả đều bất tịnh. Trong các tai hại, tai hại từ người nữ là nguy hiểm nhất. Lửa, dao, sấm sét, kẻ thù, rắn độc còn có thể tạm thời gần gũi, nhưng tính xấu của người nữ như: bỏn xẻn, ganh ghét, giận hờn, nịnh nọt, lẳng lơ, gian ác, hơn thua, tranh cãi, tham lam, đố kị thì không thể gần gũi”.
Đức Phật nối kệ:
Thà lấy sắt nóng
Đâm vào đôi mắt
Chớ đem tâm tà
Đắm nhìn nữ sắc.
Mỉm cười, làm dáng
Kiêu mạn, thẹn thùng
Quay mặt, liếc mắt
Nói hay, ganh ghét
Bước đì yểu điệu
Mê hoặc lòng người.
Lưới dâm giăng bủa
Khiến người mắc phải
Đi, đứng, nằm, ngồi
Liếc mắt làm duyên
Kẻ ngu trí kém
Say mê điên đảo.
Cầm kiếm đánh địch
Còn có thể thắng
Bị giặc nữ hại
Người chắc phần thua.
Rắn ngậm nọc độc
Tay vẫn bắt được
Người nữ mê hoặc
Chằng thể chạm vào.
Kinh Tăng nhất A-hàm có bài kệ:
Chớ thân gần người nữ

Phần 3

Cũng chẳng nên chuyện trò
Người nàọ xa lìa được
Hẳn thoát khỏi tám nạn.
Trong kinh Tát-già Ni-kiền-tử có bài kệ:
Vợ mình không thấy đủ
Còn ham thích vợ người
Kẻ này không biết xấu
Chịu khổ mãi, không vui.
Đời này và đời sau
Bị đánh đập đau đớn
Chết rồi vào địa ngục
Khổ đau mãi không thôi
Kinh Tạp thí dụ ghi: “Lúc Đức Phật còn ở đời, có một người thuộc dòng Bà-la-môn sinh được hai cô gái đều xinh đẹp. ông ta treo một giải thưởng và nói: ‘Trong chín mươi ngày, nếu ai tìm thấy và chỉ ra điểm xấu của hai cô con gái ta thì giải thưởng này thuộc về người đó’, nhưng rốt cuộc không ai tìm ra cả, nên vị ấy dẫn hai người con của mình đến chỗ Phật. Đức Phật vừa thấy, liền quở:
- Hai cô gái này đều xấu xí, chẳng có gì xinh đẹp.
Tôn giả A-nan bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Hai cô gái này rất đẹp, nhưng Ngài nói xấu, vậy xấu ở điểm nào?
Đức Phật bảo:
- Mắt không nhìn sắc là mắt đẹp. Tai, mũi và lưỡi cũng như vậy. Thân không đắm nhiễm sự mịn màng, trơn láng là thân đẹp. Tay không lấy trộm tài vật của người là bàn tay đẹp. Nay Ta thấy hai cô gái này mắt nhìn sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, thân thích sự mịn màng trơn láng, tay muốn lấy trộm tài vật của người. Những người như vậy đều không đẹp”.
Kinh Phật thuyết Nhật Minh bồ-tát ghi:
“Bồ-tát quở trách sắc dục như sau: Nữ sắc là gông cùm ở thế gian, người đời đắm nhiễm chẳng thể tránh. Nữ sác là bệnh nặng ở thế gian, người đời khốn khổ, đến chết vẫn không tránh khỏi. Nữ sắc là tai họa ở thế gian, người đời gặp phải thì bao hiểm nguy đều ập đến. Người tu hành đã xả bỏ sắc dục, nếu còn nghĩ đến, tức đã ra khỏi ngục lại muốn vào ngục, hết điên cuồng lại muốn dùng thuốc, bệnh đã lành lại muốn mang bệnh.
Người trí ghét bỏ sắc dục, biết nó gây ra sự cuồng loạn, không biết té chết ngày nào. Người đời quý trọng vị ngọt của sắc dục, làm nô lệ cho chúng, trọn đời giong ruổi, chịu cay đắng, khổ sở. Tuy bị dao bén kề cổ, giáo nhọn sát hông mà vẫn cam lòng chịu đựng, không cho là họa. Đó là hạng người cuồng thích cuồng, chẳng cho là lỗi. Người tu hành nếu dứt bỏ được, không hề màng đến, tức là phá bỏ gông cùm, ghét cuồng, chán bệnh, xa lìa tai họa, đã được an ổn lại thêm tốt lành, thoát khỏi lao ngục, vĩnh viễn không còn hoạn nạn.
Lời nói của người nữ dịu ngọt như mật, nhưng trong lòng như chất độc. Ví như nước lặng, trong như gương mà có thuồng luồng ở trong đó; núi vàng, hang báu mà có sử tử trú nương. Nên biết, nữ sắc gây ra tai họa như vậy, chẳng thể gần gũi dù trong chốc lát. Gia đĩnh bất hòa đều do người nữ, dòng tộc bại hoại là lỗi nữ nhân. Người nữ đúng là giặc cướp ẩn nấp, hủy diệt trí tuệ con người, cũng là thợ săn giăng bẫy khó thoát, như bầy chim sa lưới chẳng thể cất cánh bay xa, lại như đàn cá mắc lưới phải bị thương tích đầy mình; cũng như người mù đi vào hố thẳm, chẳng khác nào con thiêu thân đâm đầu vào lửa. Biết rõ như vậy, người trí tránh xa, nên không gặp phải tai họa; ghét bỏ mà nhàm chán, nên không bị nữ sẵc mê hoặc.
Kinh Phật bát-nê-hoàn ghi: “Đức Phật bảo Nại nữ:
-"Người thích tà dâm có năm mối nguy hại:
1. Bị tiếng xấu.
2. Phạm phép nước.
3. Lòng nhiều ngờ vực.
4. Chết đọa địa ngục.
5. Hết tội địa ngục, thụ thân súc sinh.
Những tội lỗi này đều do tham dục gây ra.
Người nhiếp phục tâm mình, không tà dâm thì có năm điều làm tăng trưởng phúc thiện.
1. Được người khen ngợi.
2. Chẳng sợ quan quyền.
3. Thân được an ổn.
4. Sau khi chết được sinh lên trời.
5. Do tâm thanh tịnh, nên đạt đến niết-bàn”.
84.6.3. Người nữ gian trá
Kinh Cựu tạp thí dụ ghi: “Xưa, có một thanh niên rất đẹp, con của gia đình giàu sang, đúc một tượng người nữ bằng vàng, rồi thưa với cha mẹ:
- Nếu người nữ nào giống tượng này thì con mới cưới làm vợ!
Cùng lúc ấy, ở nước khác có một cô gái xinh đẹp cũng đúc một tượng người nam bằng vàng, rồi thưa với cha mẹ: ‘Nếu người nam nào giống tượng này thì con mới lấy làm chồng’.
Nghe tin này, cha mẹ hai bên từ xa đến gặp nhau để dạm hỏi. Khi ấy, nhà vua cầm gương soi và hỏi các cận thần:
- Người trong thiên hạ, có ai đẹp bằng ta chăng?
Các cận thần tâu:
- Chúng thần nghe, ở nước kia có một thanh niên rất đẹp không ai sánh bằng.
Nghe vậy, vua sai sứ đến mời thanh niên ấy. Sứ đến nhà chàng trai và truyền lệnh:
- Nhà vua muốn gặp hiền giả.
Lập tức, chàng thanh niên chuẩn bị xe để vào cung. Trên đường đi, anh ta suy nghĩ: ‘Phải chăng vua cho ta là người thông minh, nên mời ta vào?’. Thế rồi, anh ta quay về nhà lấy sách, tình cờ bắt gặp vợ mình đang tư thông với người giúp việc. Anh ta sửng sốt, buồn giận, nên trong lòng u uất, nhan sác tiều tụy.
Thấy vậy, sứ thần cho là anh ta vì đi đường mà bị gầy yếu, nên để anh ta nghỉ lại nơi chuồng ngựa. Đêm đến, anh ta bắt gặp đại phu nhân của vua tư thông với người đánh ngựa trong chuồng ngựa. Chứng kiến cảnh này, anh ta bừng tỉnh, thầm nghĩ: ‘Đại phu nhân của nhà vua còn như vậy, huống là vợ ta!’. Hiểu được điều này, tâm ý anh ta nhẹ nhàng, sắc mặt lại tươi vui.
Anh ta vào yết kiến nhà vua, vua hỏi:
- Vì sao khanh ở lại ngoài cung ba ngày?
Anh ta tâu:
- Khi đi, thần quên đem theo sách, nên quay về lấy thì tình cờ bắt gặp vợ thần đang tư thông với người giúp việc. Thần nổi giận, khiến nhan sắc tiều tụỵ, nên ở lại nơi chuồng ngựa ba ngày. Đêm qua, thần bắt gặp đại phu nhân của bệ hạ tư thông với người đánh ngựa. Thần cho rằng, phu nhân còn như vậy, huống là người khác! Hiểu như vậy, lòng thần nhẹ nhõm, sắc mặt tươi vui trở lại.
Nhà vua thốt lên:
- Phu nhân của ta còn như thế, huống là phụ nữ bình thường!
Thế là, hai người xả bỏ tất cả, cùng vào rừng, cắt tóc, làm sa-môn. Họ suy nghĩ: ‘Người nữ không đáng thân gần”. Từ đó, cả hai tinh tiến tu hành và đều đắc quả Bích-chi phật’.
Kinh Cựu tạp thí dụ ghi: “Xưa, có phụ nữ nọ sinh được một cô gái xinh đẹp, không ai sánh bằng. Khi cô gái vừa ba tuổi, nhà vua tuyển chọn vào cung và mời đạo nhân đến xem tướng. Nhà vua hỏi:
- Cô gái này mai sau có thể làm phu nhân của ta được chăng?
Đạo nhân tâu:

Phần 4

- Cô gái này có một đời chồng, rồi mới làm phu nhân của bệ hạ.
Vua suy nghĩ: ‘Ta sẽ giấu cô gái này ở một nơi sâu kín, nuôi giữ cẩn mật, lẽ nào ta lại đến sau?’.
Vua cho gọi chim hạc đến và hỏi:
- Ngươi sống ở đâu?
Chim hạc tâu:
- Thần sống trên một cây lớn ở lưng chừng sườn núi Thái. Nơi đó, người và súc vật không tới lui, bên dưới có dòng nước chảy, thuyền bè không qua lại được.
Vua nói:
- Nay ta gởi cô gái này cho ngươi đem về nuồi dưỡng.
Chim hạc liền đưa cô gái về chỗ của mình. Hàng ngày, nó đến cung vua lấy thức ăn về nuôi cô gái.
Sau một thời gian lâu, ngôi làng ở trên núi Thái bỗng bị nước lũ cuốn trôi. Có một cành cây theo dòng trôi xuống, chàng trai nọ bám được cây, nhưng do rơi vào dòng xoáy nên cứ loay hoay ở đó. Bỗng có một cây bồ đào từ dòng suối vọt thẳng lên cao, tựa vào sườn núi. Lần theo cây ấy, chàng trai đến được nơi mà chim hạc đang ở, rồi tư thông với cô gái. Xong việc, cô gái bảo chàng trai ẩn trốn. Chim hạc phát hiện thân thể cô gái nặng hơn, nên đi khắp núi tìm kiếm và bắt giết chàng trai. Sau, chim hạc đem việc này tâu vua. Vua nói:
- Đạo nhân trước đây xem tướng thật đúng!
Phật dạy:
- Đã có nghiệp duyên đời trước thì không thể tùy sức lực chế ngự, gặp nhau liền thành. Loài súc sinh cũng như vậy”.
Kinh Cựu tạp thỉ dụ ghi: “Thuở xưa, có một vị vua giữ các thể nữ rất nghiêm ngặt. Một hôm, chính phu nhân của vua nói với thái tử:
- Từ khi sinh con ra đến nay, mẹ chưa từng nhìn ngắm phong cảnh nước non. Nay mẹ muốn ra ngoài dạo chơi một lần, con có thể xin vua cha giúp mẹ được không?
Phu nhân nói với thái tử ba lần như thế. Thái tử tâu với vua cha, nhà vua chấp thuận. Thế là, thái tử đánh xe đưa mẹ đi, quần thần đứng hai bên đường nghinh đón, vái chào. Phu nhân đưa tay vén rèm xe để mọi người nhìn được nhan sắc của mình. Thấy mẹ làm như thế, thái tử giả vờ đau bụng rồi đánh xe quay về. Phu nhân nói:
- Ta thật vô phúc!
Thái tử thầm nghĩ: ‘Mẹ mình còn như thế, huống là người khác!’.
Đêm ấy, thái tử rời hoàng cung, vào rừng dạo khắp. Thái tử trèo lên cây cao bên đường, từ xa trông thấy một vị Phạm chí lội xuống suối tắm gội một mình, rồi lên ăn cơm. Ăn xong, vị Phạm chí luyện phép, nhả ra một bình hồ lô, trong bình có một cô gái, rồi hai người cùng vui chơi trong phòng kín. Khi vị Phạm chí đi ngủ, cô gái kia từ trong bụng cũng nhả ra một bình hồ lồ, trong bình có một chàng trai, hai người lại nằm với nhau. Vui thú xong, cô gái nuốt bình hồ lô vào bụng. Trong chốc lát, vị Phạm chí thức dậy, đặt cô gái vào bình, rồi nuốt vào bụng, chống gậy, lên đường.
Thái tử trở về nước, xin vua cha cho mời vị Phạm chí và các cận thần đến, lại sai người chuẩn bị cơm cho ba người ăn, rồi để qua một bên. Phạm chí đến và nói:
- Tôi chỉ đến một mình.
Thái tử nói:
- Phạm chí! Ông hãy gọi vợ ông ra ăn chung. Phạm chí bất đắc dĩ phải đem vợ ra.
Thái tử lại nói với vợ của Phạm chí:
- Bà hãy gọi người nam kia ra ăn chung.
Thái tử bảo ba lần như thế, bất đắc dĩ bà mới gọi chàng trai ra. Ăn xong, ba người bỏ đi.
Vua hỏi thái tử:
- Vì sao con biết việc ấy?
Thái tử tâu:
- Hôm trước, con đánh xe đưa mẹ dạo chơi, mẹ đã đưa tay vén rèm xe để cho mọi người nhìn ngắm nhan sắc của mẹ. Lúc ấy, con chợt nghĩ: ‘Người nữ phần nhiều thích dâm dục’, nên con giả vờ đau bụng và đánh xe quay về. Sau đó, con vào núi dạo chơi thì thấy vị Phạm chí giấu vợ trong bụng v.v... Như vậy, tâm gian dâm của phụ nữ không bao giờ dừng. Cúi xin phụ hoàng thả các cung nữ ra để họ tự do đi lại.
Chấp nhận lời thỉnh cầu của thái tử, vua ra lệnh cho hậu cung:
- Ai muốn đi đâu thì tùy ý!
Phật dạy:
- Người không đáng tin trong thiên hạ chính là người nữ!”.
Kinh Cựu tạp thí dụ ghi: “Thuở xưa, có một người giàu sang giữ kín vợ mình để không ai trông thấy. Lúc ấy, người vợ bảo người hầu đào một đường hầm rồi tư thông với người thợ bạc. Sau đó, người chồng phát hiện, bà nói:
- Đời thiếp chưa từng quan hệ bất chính, chàng chớ nghi oan cho thiếp!
Người chồng nói:
- Ta không tin nàng! Ta sẽ đưa nàng đến thề trước cây thần.
Người vợ nói:
- Được thôi!
Khi người chồng vào thất trì trai bảy ngày, người vợ lén nói với người thợ bạc: ‘Chàng hãy giả vờ điên loạn, khi gặp thiếp ở ngoài chợ, chàng làm bộ ôm thiếp, vuốt ve, lôi kéo, rồi bỏ đi’.
Trì trai xong, người chồng dẫn vợ đến chỗ cây thần.
Người vợ nói:
- Thiếp chưa biết chợ, chàng có thể đưa thiếp đi ngang qua chợ được không?
Người chồng chiều ý. Như kế hoạch đã định, người thợ bạc liền đến ôm châm, vuốt ve, giả vờ điên loạn nằm lăn ra đất. Người vợ liền trách chồng:
- Sao chàng lại để ông áy ôm thiếp?
Người chồng nói:
- Đó là người điên! Nàng đừng để bụng!
Thế rồi, hai vợ chồng cùng đến cây thần. Người vợ cúi đầu thề:
- Từ khi sinh ra đến nay, con chưa làm điều xấu ác, chỉ bị người điên ôm càn.
Nhờ vậy, người vợ khỏi tội. Người chồng chỉ biết im lặng, cảm thấy hổ thẹn.
Đức Phật bảo:
- Nên biết, tất cả người nữ đều gian dối như thế. Thật chẳng đáng tin”.
Luật Thập tụng ghi: “Một thời, Đức Phật ở nước Xá-vệ, có người dòng Bà-la-môn sinh được một bé gái dung mạo xinh đẹp, mặt mày sáng sửa, đặt tên là Diệu Quang.
Thầy tướng nói: ‘Đứa bé này về sau sẽ hành dâm với năm trăm người nam’. Mọi người đều nghe biết điều này.
Năm cô gái mười hai tuổi, vẫn chưa có ai đến cầu hôn. Bấy giờ, gần nhà Bà-la-môn kia, có một người lái buôn thường ra biển tìm châu báu. Một hôm, người lái buôn đang ở trên lầu, từ xa nhìn thấy cô gái, liền nổi lòng dục. Ông hỏi những người xung quanh:
- Cô gái kia con ai?
Mọi người đáp:
- Là con gái của bà-là-môn tên đó họ đó.
Người lái buôn lại hỏi:
- Có chồng chưa?
Đáp: Không ai chịu cầu hôn.

Phần 5

Người lái buôn ngạc nhiên hỏi:
- Vì sao không ai chịu cầu hôn?
Mọi người đồng thanh nói:
- Cô gái này sẽ phạm tội, thầy tướng tiên đoán về sau cô ta sẽ hành dâm với năm trăm người nam, nên không ai dám cầu hôn.
Người lái buôn suy nghĩ: ‘Ngoài sa-môn Thích tử ra, không ai vào nhà ta’. Thế là ông đến nhà bà-la môn xin cầu hôn cô gái ấy. Cô gái về nhà chồng chưa bao lâu thì người lái buôn lại định đi biển với đồng bạn. Trước khi đi, ông gọi người giữ cửa đến và dặn:
- Ta sắp đi biển, ngươi chớ để bất cứ người nam nào vào nhà tùy tiện, trừ hàng sa-môn Thích tử, vì những vị ấy không làm điều sai trái.
Người giữ cửa thưa:
- Xin vâng!
Sau khi người lái buôn đi khỏi, các tì-kheo đến nhà ấy khất thực. Thấy các vị sa-môn, vợ của người lái buôn nói:
- Hãy tư thông với tôi!
Không biết vì sao cô ta nói như vậy, các tì-kheo đem việc ấy hỏi Phật.
Đức Phật bảo:
- Nhà ấy hẳn có người bất chính. Các ông chớ đến đó nữa!
về sau, cô gái ấy bị bệnh và qua đời vào lúc nửa đêm. Người trong nhà gom đồ trang sức của cô liệm chung với tử thi, rồi đưa ra nghĩa địa.
Bấy giờ, có năm trăm tên cướp đi ngang qua nơi ấy, trông thấy thi thể cô gái, liền nổi lòng dục, rồi thay nhau hành dâm.
Cô gái này trước kia mời các sa-môn, bà-la-môn hành dâm với mình, nên bị đọa vào đường ác. Cô ta sinh đến phương bắc của nước ấy, làm rồng cái tên là Tì-ma-đạt-đa”.
Bài tụng về chính báo:
Tà dâm đọa địa ngục Lên rừng kiếm, núi đao sắt nung đóng nơi miệng Đồng sôi rót vào tim.
Rồng độc nghiền xương tủy Chuột sắt cắn thân hình Ôm cột đồng lên xuống Nằm giường sắt tối tăm:
Bài tụng về tập báo:
Dâm dục loạn thân tâm
Chịu khổ cả trong ngoài
Nếu được sinh làm người
Thì vợ thường phản bội.
Vợ chồng luôn nghi kị
Không chịu nhịn nhường nhau
Người có chút trí tuệ
Sao chẳng biết hổ thẹn?
84.6.4. Cảm ứng
84.6.4.1. Đời Hán, Đàm Sinh: Đàm Sinh đã bốn mươi tuổi nhưng chưa có vợ, trong lòng xót xa, nên thường đọc kinh sách suốt đêm không ngủ.
Khuya hôm nọ, có một cô gái mười lăm, mười sáu tuổi, dung mạo xinh đẹp, trang phục lộng lẫy, trong thiên hạ không ai sánh bằng, đến chỗ Đàm Sinh và muốn kết làm vợ chồng. Cô gái nói: “Thiếp không phải là người ở nhân gian. Ban đêm, chàng chớ lấy đèn soi vào người thiếp, ba năm sau mới soi nhìn được”.
Từ đó, Đàm Sinh và cô gái kết thành vợ chồng, sinh được một bé trai. Đã hai năm không thây mặt vợ, Đàm Sinh không thể chịu nổi. Đêm nọ, chờ lúc vợ ngủ, Đàm Sinh lẻn lấy đèn soi để nhìn vợ, thì thây từ lưng trở xuống thịt giống như người, từ lưng trở lên chỉ là xương khô. Người vợ thức dậy, thấy vậy bỏ đi và nói: “Chàng đã phụ lòng thiêp, thiếp sắp biên thành người. Sao chàng không ráng thêm một năm nữa mà lại soi đèn nhìn thiếp!”.
Nghe nói vậy, Đàm Sinh xin lỗi, buồn rầu, nước mắt tuôn trào, không thể ngăn được. Cô ta nói: “Thiếp với chàng có tình nghĩa lớn, tuy nay sắp từ biệt, nhưng thiếp vì quan tâm đến con, lại sợ chàng nghèo không thể tự lo liệu cuộc sống, vậy chàng hãy đi theo thiếp, thiếp sẽ tặng ít đồ vật cho chàng!”.
Cô gái dẫn Đàm Sinh đi vào một ngôi nhà lộng lẫy, đồ vật hơn hẳn thế gian. Cô lấy chiếc mền quí đưa cho Đàm Sinh và nói: “Vật này đủ để chàng tự nuôi sống”; đồng thời, cô xé lấy vạt áo của Đàm Sinh để làm kỉ niệm, rồi từ biệt mà đi.
Đàm Sinh mang mền ra chợ bán, Tuy Dương vương mua với giá mười triệu tiền. Nhận ra chiếc mền, Vương suy nghĩ: “Đây là mền của con gái mình, sao lại có được ở chợ. Hẳn người này đã đào mã của con mình mà lấy!”.
Thế là Vương bắt giữ và tra hỏi Đàm Sinh. Đàm Sinh kể rõ sự tình, Vương vẫn không tin, đến xem mộ của con gái mình thì thấy ngôi mộ hoàn toàn như cũ. Vương lại cho đào lên để xem, quả nhiên dưới nắp quan tài có mảnh áo của Đàm Sinh. Lúc gọi đứa bé đến, thấy tướng mạo y hệt con gái mình, Vương mới tin điều ây. Khi đó, Vương thả Đàm Sinh ra và nhận làm con rể, gọi đứa bé là cháu ngoại.
84.6.4.2. Đời Tấn, Lư Sung: Lư Sung là người Phạm Dương. Cách ngôi nhà của Sung ba mươi dặm về phía tây có ngôi mộ của Thôi Thiếu phủ.
Lúc hai mươi tuổi, một hôm trước tiết Đông chí một ngày, khi ra phía tây ngôi nhà để săn bắn, Lư Sung thấy một con chương, liền giương cung bắn. Trúng tên, con chương ngã xuống, nhưng lại đứng dậy chạy. Sung đuổi theo, không ngờ càng chạy càng xa, chợt thấy cách phía bắc con đường khoảng một dặm, một khu toàn nhà ngói nhà, như một tòa dinh thự, nhưng không thấy con chương đâu nữa. Sung tới cổng, có một người hầu hô to: “Khách đã đến!”, lại có một người đưa cho bộ y phục mới và bảo: “Phủ quân mặc bộ y phục này để làm lang quân!”. Ngay đó, Sung lấy mặc, rồi vào gặp Thiếu phủ. Thiếu phủ nói với Sung: “Cha của anh không chê gia đình chúng tôi thấp hèn, nên gần đây gửi thư đến, muốn cưới con gái của tôi cho anh, nên tôi đón anh vào!”. Nói xong, Thiếu phủ đưa thư cho Sung xem.
Khi cha mất, Sung tuy còn nhỏ nhưng đã biết nét chữ của cha. Đọc thư xong, Sung buồn rầu, nhưng không có cách nào từ chối. Thôi liền bảo người nhà: “Chàng rể đã đến. Hãy bảo con gái trang điểm cho đẹp, rồi đến căn nhà phía đông, đợi đến hoàng hôn!”. Người nhà thưa lại với cô gái. Khi cô gái trang điểm xong, Thôi bảo Sung: “Con hãy đến căn nhà phía đông!”.
Sung tới nơi, cô gái cũng vừa xuống xe, đang đứng ở đầu giường, rồi hai người vái chào nhau. Trong ba ngày, Thôi cung cấp các món ăn, thức uống. Sau đó, Thôi bảo Sung: “Con hãy về đi! Nếu vợ con sinh con trai, sẽ giao cho con; nếu sinh con gái ta sẽ giữ lại nuôi!”. Nói xong, Thôi bảo chuẩn bị vài chiếc xe để tiễn khách về. Sung liền từ giã lên đường. Tiễn Sung đến cổng, Thôi cầm tay Sung mà nước mắt ràn rụa.
Ra khỏi cổng, Sung thấy chỉ riêng mình đi xe do trâu đen kéo, lại thấy y phục mà mình đã mặc và cung tên lúc trước đang để ngoài cổng. Lúc đó, cô gái dẫn một người cầm bộ y phục đến nói với Sung: “Mới cưới mà đã chia tay, thật buồn quá! Nay thiếp gửi chàng bộ y phục và chiếc mền lụa này để hộ thân”. Thế rồi, Sung lên xe đi, chạy nhanh như gió, giây lát đã về đến nhà. Người mẹ hỏi nguyên do, Sung kể rõ sự tình.
Sau bốn năm cách biệt, vặo ngày ba tháng ba Sung ra sông đùa giỡn, chợt thấy ở mé sông có một chiếc xe thoạt chìm thoạt nổi. Lát sau chiếc xe chạy lên bờ, mọi người đều nhìn thấy, Sung đến mở cửa sau chiêc xe thì thây cô con gái của Thôi và đứa con trai bốn tuổi đang ngồi trên xe. Cô gái bế đứa bé trao cho Sung, lại tặng chén vàng để từ biệt và một bài thơ:
Rực rỡ thân linh chi Sao mà đẹp đến thế?
Đúng thời thật diễm lệ Vận tốt hiện thần kì.
Nụ hoa chưa kịp trổ Sương hạ khiến hẻo tàn Nét đẹp mãi dứt tuyệt Đường đời bặt muôn trùng.
Chẳng tỏ vận âm dương Người hiền chợt hiện về Giờ từ biệt đã đến Gặp lại, biết bao giờ?
Sung bế đứa bé, cầm chén và tiếp nhận bài thơ thì bỗng không thấy cô gái nữa. Sau, Sung cưỡi xe ra chợ bán chén vàng, mong có người nhận biết. Lúc ấy, có một nô tì nhận ra chén vàng, trở về thưa với chủ: “Con ra chợ thấy một người cưỡi xe, bán chiếc chén vàng trong mộ của con gái ông Thôi’’. Người chủ chính là dì ruột của ông Thôi. Bà liền sai con gái minh ra xem, thì quả đúng như lời nô tì nói.

Phần 6

Người con của bà lên xe, nói họ tên của mình và bảo Sung: “Xưa, cô con gái của Thôi thiếu phủ, chị em bạn dì với tôi, vừa sinh ra đã qua đời. Người thân thương xót, tặng một chiếc chén vàng và đặt trong quan tài. ông hãy cho biết nguồn gốc có được chiếc chén vàng này”. Sung kể lại sự tình. Cô gái nghẹn ngào, vội cầm chén về thưa mẹ.
Người dì sai người đến nhà Sung đón đứa bé về, họ hàng tụ họp. Đứa bé có tướng y hệt ông Thôi, mặt mày lại giống Sung. Như vậy, đứa bé và cái chén đủ để làm vật minh chứng. Người dì nói: “Đây là cháu ngoại của ta!”. Liền đặt tên là uẩn Hưu. uẩn Hưu nghĩa là cuộc hôn nhân với người cõi âm. Lớn lên, Uẩn Hưu làm Quận thú. Con cháu tiếp nhau làm quan cho đến bây giờ. Trong hàng con cháu của uẩn Hưu, có một người tên Thực, tự là Tử Cán, nổi tiếng trong thiên hạ.
84.6.4.3. Đời Tấn, cô gái sống lại: Vào đời Vũ đế nhà Tấn, ở quận Hà Gian có đôi trai gái yêu nhau và đã hứa hôn. Sau đó, người con trai đi lính. Vì nhiều năm không về, nên cha mẹ gả người con gái cho chàng trai khác. Chẳng bao lâu, cô gái đau buồn mà chết.
Lúc trở về, người con trai đau xót, đến bên ngôi mộ, than khóc bày tỏ nỗi lòng. Không nén được lòng, anh ta liền đào mộ lên, mở quan tài ra, lập tức cô gái sống lại. Nhân đó, chàng trai đưa về nhà, chăm sóc mẩy ngày thì cô gái trở lại bình thường. Người chồng đến xin về, nhưng chàng trai không trả lại và nói: “Vợ của anh chết rồi! Trong thiên hạ, há có ai nghe nói người chết có thể sống lại được sao? Đây là trời ban cho tôi, chẳng phải là vợ của anh!”, . -
Thế rồi, người chồng đi kiện, quan huyện không thể quyết đoán, nên trình lên Đình úy. Đình úy tuyên bố: “Đó là nhờ lòng chí thành mà cảm đến trời đất, nên chết mà sống lại, là điều vượt ngoài lẽ thường, chẳng thể xét theo lễ giáo, xử theo hình pháp được, quyết định cô gái thuộc về người đào mộ”.
84.6.4.4. Đời Tấn, Tử Trường: Thái thú Vũ Đô Lí Trọng Văn khi ở quận này có một người con gái mất lúc mười tám tuổi, chỉ chôn tạm ở phía bắc thành quận để đợi cải táng.
Sau, Trương Thế Chi thay ông làm quận thú. Con trai của Thế Chi tên là Tử Trường, hai mươi tuổi, trông coi và ở trong chuồng ngựa. Đêm nọ, Tử Trường mộng thấy có một cô gái khoảng mười bảy, mười tám tuổi, nhan sắc đẹp lạ, thường đến nói: “Em là con của Phủ quân trước đây, chẳng may chết sớm, nay sẽ sống lại. Vì thương yêu chàng nên đến gặp”. Như vậy cả năm sáu đêm. Sau đó, bỗng cô gái xuất hiện ngay giữa ban ngày, y phục xông hương thơm ngát, kết thành vợ chồng, nằm chung, quần dính dơ như người con gái chưa chồng.
Một hôm, Trọng Văn sai nô tì ra thăm mộ của con gái mình, nhân tiện ghé nhà Thế Chi. Chợt nghe tiêng cô gái, nô tì bước vào chuồng ngựa, thì thấy một chiếc giày của cô gái ở dưới giường của Tử Trường. Nô tì nhặt lấy, khóc lóc, thốt lên: “Bị đào mộ rồi!”.
Nô tì đem giày về đưa Trọng Văn xem. Trọng Văn kinh ngạc, sai người đến hỏi Thế Chi: “Con của ông do đâu mà có chiếc giày của cô con gái đã mất của tôi?”. Thế Chi gọi con lại hỏi. Tử Trường kể lại đầu đuôi sự tình. Nghe xong, hai gia đình ông Lí và Trương đều cho là lạ, mở quan tài ra xem, thì thấy thi thể của cô gái thịt vẫn tươi nhuận, sắc mặt như lúc còn sống, chân phải có giày, chân trái thì không.
Từ đó về sau, cô gái chết hẳn, thịt thối rữa, không thể sống lại. Cả hai gia đình vô cùng hối hận, không nói được lời nào, chỉ ngậm ngùi mà từ biệt.
84.6.4.5. Đời Tấn, Mã Tử: Bằng Hiếu Tướng người Đông Bình, làm thái thú ở Quảng châu, có người con tên là Mã Tử.
Năm hơn hai mươi tuổi, đêm nọ nằm một mình trong chuồng ngựa, Mã Tử mộng thấy có một cô gái mưới tám, mười chín tuổi, đến nói: “Thiếp là con gái của thái thú tiền nhiệm Từ Huyền Phương, người quận Bắc Hải, bị quỉ giết oan, chẳng may chết sớm, tính đên nay khoảng bốn năm. Sổ bộ ghi phải hơn tám mươi năm mới cho thiếp sống lại, nhưng phải nương chàng và làm vợ của chàng mới sống lại được. Chàng có thể bàng lòng gặp mặt để cứu sống thiếp không?”. Mã Tử đáp: “Được!”.
Cô gái hẹn ngày sẽ xuất hiện. Đến ngày hẹn, khoảng đất trước giường Mã Tử xuất hiện một đầu tóc ngang với mặt đất. Mã Tử sai người quét đi thì càng hiện rõ hơn, Mã Tử mới sực nhớ điềm mộng hôm trước, liền đuổi hết những người xung quanh. Khi ấy, từ từ trán hiện ra, kế là đầu mặt, kế nữa là cổ, rồi toàn thân xuất hiện. Mã Tử bảo cô gái ngồi trên ghế đối diện để nói chuyện. Cô gái xinh đẹp khác thường và từ đó ngủ chung với Mã Tử.
Có lần, cô gái dặn:
- Thân thiếp vẫn còn hư nhược, phải tự giữ gìn.
Mã Tử hỏi:
- Khi nào đưa thân lên?
Cô gái đáp:
- Khi đưa thân lên, sẽ được sinh thân, nhưng ngày sinh chưa đến!
Mã Tử bèn ra chuồng ngựa, hai người nói chuyện qua lại mọi người đều nghe. Cô gái tính đã sắp đến ngày sinh, hướng dẫn Mã Tử phương pháp nuôi dưỡng sau khi đưa thân lên. Nói xong, cô gái chào từ biệt.
Theo lời cô gái dặn, đến ngày ấy, Mã Tử chuẩn bị một con gà trống lông đỏ, một mâm xôi, một thăng rượu trắng, cúng tế trước mộ cô gái, cách chuồng ngựa hơn mười bước.
Cúng xong, Mã Tử đào quan tài lên, mở nắp xem thì thấy thân thể cô gái hoàn toàn như cũ, từ từ đỡ ra, đặt vào tấm thảm nỉ, chỉ phần dưới tim hơi nóng, miệng có hơi thở. Mã Tử bảo bốn nô tì nuôi nấng chăm sóc, thường lấy sữa dê đen nhỏ vào hai mắt. Lúc đầu, cô gái mở miệng, có thể nuốt cháo, lâu dần nói được. Qua hai trăm ngày, cô có thể chống gậy tới lui. Sau một năm, sắc mặt, da thịt, sức khỏe trở lại bình thường.
Lúc này, cô gái nói Mã Tử báo cho nhà họ Từ biết, cả nhà đều đến thăm, rồi chọn ngày tốt để tổ chức lễ cưới. Từ đó hai người chính thức trở thành vợ chồng, sinh được hai trai, một gái. Người con trai đầu tên là Nguyên Khánh, làm Bí thư lang trung vào niên hiệu Vĩnh Gia thứ nhất (307); người con trai út tên là Kính Độ, làm Thái phó duyên. Người con gái gả cho Lưu Tử Ngạn ở Tế Nam, là con cháu của ẩn sĩ nhiều đời.
84.6.4.6. Đời Tấn, Hoàn Đạo Mẫn yêu thương vợ: Hoàn Đạo Mẫn người huyện Tiều, sống vào đời Tấn. Niên hiệu Long An thứ tư (400), vợ mất, Đạo Mẫn lo tang lễ rất chu đáo, trong lòng xót thương vô hạn. Vào một đêm năm ấy, vừa nằm ngủ, Đạo Mẫn nhìn thấy trên tấm bình phong có bàn tay người. Sợ quá, Đạo Mẫn đứng dậy, cầm đuốc soi bên ngoài tấm bình phong thì thây chính là vợ mình, dáng vẻ xinh đẹp như lúc còn sống, nên không còn sợ nữa.
Khi ấy, ông dẫn vợ vào nằm chung, tâm sự với nhau và kể chuyện lúc sống cũng như khi chết. Mẫn hỏi:
- Lâu nay nàng mất, tôi đâu thấy hình bóng và tiếng nói của nàng. Sao tối nay bỗng nhiên trở về vậy?
Người vợ đáp:
- Thiếp rất muốn về, nhưng vì cõi người và cõi quỉ thần khác nhau, mỗi bên có người chủ quản riêng, đâu thể tự do được! Lúc còn sống, khi mới về làm vợ, thiếp không có lỗi lầm gì ngoài việc thường nghi ngờ chàng thương yêu đứa tớ gái. Do tâm ghen ghét, thiếp phải chịu khổ báo nơi địa ngục, mới được thoát khỏi, nay sẽ thụ sinh làm người, nên đến từ biệt chàng.
Mẫn hỏi:
- Nàng sẽ thụ sinh ở đâu? Có thể tìm gặp được chăng?
Đáp:
- Thiếp chỉ biết là sẽ thụ sinh, chứ không biết nơi nào. Một khi làm người thì không thể biết được thân quá khứ, sao tìm gặp được chứ!
Đến sáng, người vợ ngậm ngùi, từ biệt mà đi. Mẫn tiễn ra khỏi cổng thì quay vào. Từ đó, Mẫn vô cùng lo sợ, ngẩn ngơ suốt mấy ngày.
84.6.4.7. Đời Tấn, đùa với người chết: Đời Tống, vào niên hiệu Hàm Ninh (275-280), quan Thái thường khanh Hàn Bá, Nội sử Vương Uẩn ở cối Kê, Quang lộc đại phu Lưu Đam v.v... cùng dạo chơi nơi miếu ở Tương sơn. Trong miếu ấy, có vài hình cô gái rất xinh đẹp. Trong lúc say, mỗi người cũng chỉ vào hình một cô gái, nói là vợ mình để đùa giỡn.
Ngay đêm ấy, ba người cùng mộng thấy vị thần cai quản núi Tương sai người đến truyền đạt: “Con gái nhà ta đều xấu xí, ngu muội mà vinh hạnh được các vị quan tâm!”. Bèn hẹn ngày tháng đó sẽ đến nghênh đón. Những người kia cho điềm mộng ấy có chủ ý lạ, bèn thử hỏi nhau thì quả thật ai cũng mộng thấy như vậy.

Phần 7

Khi ấy, cả ba vô cùng lo sợ, chuẩn bị tam sinh để đến miếu chí thành tạ tội và mong được tha thứ. Họ lại mộng thấy đích thân vị thần cai quản núi Tương đến nói; “Các ông đã quan tâm, ưa thích con gái ta, nay sắp đến hẹn, đâu được mới đó mà lại đổi ý”. Thế là trải qua thời gian ngắn, cả ba đều chết.
84.6.4.8. Đời Tống, người ở Hoàng Nông: Một người ở làng Dương Thủ, xã Đồng, huyện Hoa Âm, Hoằng Nông uống linh đơn bát thạch, được thành tiên có khả năng đi trên mặt nước và trở thành Hà Bá.
U minh lục ghi: “Phía nam huyện Dư Hàng có dòng sông Tương. Đoạn giữa sông Tương có bờ đê. Một người cưỡi ngựa dạo xem, vui chơi, lại dẫn theo ba bốn người đến thôn sầm uống rượu, đến xế thì trở về, trong trạng thái hơi say. Gặp lức trời nóng nực, người ấy xuống ngựa, xuống sông, gối đầu trên đá mà ngủ. Ngựa đứt dây, bỏ chạy về.
Những người đi theo đều đuổi theo ngựa, đến tối mà vẫn không trở lại. Người kia thức dậy thì mặt trời đã chiếu, chẳng thấy người và ngựa đâu cả, chỉ thấy một cô gái khoảng mười sáu, mười bảy tuổi, đến xá chào và nói:
- Trời sắp tối rồi, nơi này thật đáng sợ, chàng tính sao?
Chàng trai hỏi:
- Cô tên họ gì? Sao tự nhiên lại thăm hỏi tôi?
Lại có một thiếu niên khoảng mười ba, mười bốn tuổi, đang ngồi trên chiếc xe mới rất đẹp, theo sau là hai mươi người đến, bảo chàng trai lên xe và nói:
- Đại nhân muốn gặp anh!
Sau khi chàng trai lên xe, họ quay xe lại, ra giữa đường đi thẳng, rồi cầm đuốc tìm đường vào thành. Vừa đến thành, xe tiến vào sảnh đường của quan, bên trên có lá cờ hiệu, ghi là “Hà Bá tín”. Chàng trai gặp một vị quan khoảng ba mươi tuổi, dáng như vẽ, có nhiều lính hầu, vui vẻ đối ẩm. Vị ấy bảo dâng rượu thịt, rồi nói: “Ta chỉ có cô gái nhỏ là thông minh, muốn cho theo hầu hạ ông”. Chàng trai biết là thần, nên kính thuận, không dám trái lệnh. Quan ra lệnh chuẩn bị lễ cưới, rồi bảo đến chỗ cô gái tổ chức hôn lễ.
Chàng trai thưa hỏi xong, vị quan tặng cho tơ lụa, quần áo, giày dép, tất cả đều tốt đẹp; lại cho mười viên quan cấp nhỏ, mấy mươi tì nữ. Cô dâu khoảng mười tám, mười chín tuổi, dung mạo xinh đẹp, nết na thùy mị. Thế là lễ cưới hoàn thành. Ba ngày sau, tổ chức lễ Bái cáp. Đến ngày thứ tư, vị quan bảo: “Lễ tiệc có hạn, hãy nên trở về”.
Lúc đó, người vợ đem bình vàng, túi xạ hương đưa cho chồng, khóc lóc từ biệt, lại trao mười vạn tiền, ba quyển sách thuốc và dặn: “Dùng những vật này để tạo công đức”. Lại nói: “Mười năm sau sẽ đón chàng”.
Chàng trai trở về nhà, không chịu kết hôn với người khác. Từ đó, chàng trai từ biệt cha mẹ, xuất gia làm đạo nhân, dùng ba quyển sách thuốc: một quyển nói về kinh mạch, một quyển nói về thuốc thang, một quyển nói về thuốc viên đi khắp nơi chữa bệnh, linh nghiệm như thần dược, về sau, mẹ già yếu, người anh qua đời, chàng trai về nhà, lấy vợ và làm quan.
84.6.4.9. Đời Tề, Vương Hoán: Vương Hoán ở Lang Da làm quan đến chức Thượng thư tả bộc xạ, rất tin kinh Phật, nhưng tâm đố kị sâu nặng, không có lòng khoan dung.
Có lần ở trong phòng, Vương Hoán sai người thiếp cắt râu, chợt thấy con quạ ngậm đóa mai vàng thả xuống sân nhà. Vương Hoán nghi vợ mình lén hẹn hò vui chơi với người đàn ông khác, liền bảo nô tì ra ngoài xem thì gặp một người nam đang lén lút đi về phía bờ rào. Nô tì đến nắm lại, nhưng người này giận dữ, nói năng thô lỗ, rồi bỏ chạy. Nô tì trở về thưa với chủ, Vương Hoán càng cho là có thật, cứ tra hỏi mãi. Người vợ phân trần đủ cách, người chồng vẫn không suy xét lại, sai thuộc hạ đánh chết vợ. Lúc sắp chết, người vợ cởi áo, thề; “Hôm nay thiếp chết thật là oan ức! Nếu có đạo trời thì hãy khiến cho quan biết được”.
Sau này, Vương Hoán thường thấy vợ về oán trách. Chẳng bao lâu, Vương Hoán làm Thứ sử Ưng châu, tâm tính dần dần cuồng dại, giống như có người dựa nhập
Có lần, Vương Hoán vô cớ đánh chết Tiểu Phủ, Trưởng sử Lưu Hưng Tổ vu khống ông muốn làm phản, nên Ngự sử trung thừa Khổng Trĩ Khuê tâu vua. Thế tổ sai Trung thư xá nhân Lã Văn Hiển và Trị các tướng quân Tào Đạo Cang đem quân lính đến bắt Hoán. Con của Hoán là Bưu vốn có tiếng hung dữ và người con rể là Ân Duệ cùng khuyên Hoán:
- Tào Đạo Cang và Lã Văn Hiến đem quân đến, nhưng không thấy sắc lệnh thật của vua, e rằng đây là điều gian trá. Chúng ta cần phải bắt lấy chúng rồi dâng tấu văn lên vua!
Hoán nghe theo, liền điều động hơn nghìn người trang bị binh khí, đóng cửa chống cự. Một mình đánh với quan quân, Bưu thất bại bỏ chạy. Trưởng sử Ninh Man là Bùi Thúc Nghiệp ở trong thành cử binh đánh Hoán và chém chết ông ta. Người đương thời cho là người vợ báo thù.
84.6.4.10. Đời Tống, mẹ kế giết con chồng: Tại Đông Hải, có một người họ Từ, vợ cả của ông sinh được một bé trai tên là Thiết Cữu thì qua đời. Ông lấy vợ khác là người họ Trần. Bà Trần bản tính hung ác, muốn giết chết Thiết Cữu. Khi sinh ra một bé trai, bà bảo nó: “Nếu con không khử Thiết Cữu thì chảng phải là con của mẹ”. Nhân đó, bà đặt tên cho bé trai là Thiết Chử với ý nghĩa “lấy chày sắt giã vào cối sắt”
Bấy giờ, bà Trần dùng đủ mọi cách hành hạ Thiết Cữu như đói không cho ăn, lạnh không cho chăn, áo ấm. ÔỔng Trần thì ngu muội, nhu nhược, lại thường không có ở nhà. Thời gian sau, bà Trần càng mặc tình thực hiện những hành vi tàn độc với Thiết Cữu, Cuối cùng, do đói lạnh và bị đánh đập tàn nhẫn, Thiết Cữu đã chết. Lúc đó, Thiết Cữu mười sáu tuổi.
Mười ngày sau, vong hồn Thiết Cữu bỗng trở về nhà, lên giường bà Trần và nói: “Ta là Thiết Cữu đây!
Ta thật chăng có tội tình gì mà phải bị giết hại oan uổng. Mẹ ta đã kêu oan với trời, nay có lệnh phù của Thiên tào cấp ta đến bắt Thiết Chử, nhưng trước đó, ta sẽ làm cho Thiết Chử bị bệnh nặng, chịu khổ sở như ta. Khi bắt đi đương nhiên sẽ có ngày hẹn. Bây giờ, ta ở đây đợi nó!”.
Tiếng mách bảo ấy nghe như lúc Thiết Cữu còn sống. Người nhà và khách, tuy không thấy hình bóng, nhưng đều nghe tiêng nói của Thiêt Cữu. Khi ấy, vong hồn thường ở trên đòn dông ngôi nhà. Bà Trần quì xuống, tạ tội, hổ thẹn, xin thiết lễ cúng tế. Quỉ nói: “Không cần như thế! Bỏ đói để cho ta chết, chẳng lẽ chỉ một bữa ăn mà có thể tạ tội được ư?”. Nửa đêm, bà Trần lén nói về quỉ. Quỉ lớn tiếng nói: “Sao dám nói ta? Nay ta sẽ chặt gãy đòn dông nhà bà”. Lập tức, bà Trần nghe tiếng cưa, mạt cưa rơi xuống và có tiếng kéo xả giống như đòn dông gãy thật. Cả nhà chạy ra, đốt đuốc xem, thì không thấy gì khác lạ.
Quỉ lại mắng Thiết Chử: “Mày đã giết ta, ngồi yên trong nhà lấy làm vui sướng, ta sẽ đốt phòng mày”. Ngay đó, Thiết Chử thây lửa cháy mạnh, khói phun ngùn ngụt, trong ngoài hỗn loạn. Chốc lát, lửa tự tắt, nhà tranh vẫn y nguyên, không bị hư hại, nhưng ngày nào cũng nghe tiếng mắng chửi.
Lúc ấy, lại có lời ca: “Hoa đào hoa lí bị sương giá làm rơi hết biêt làm sao? Quả đào quả lí cũng bị sương giá sớm rụng rồi!”. Lời ca rất bi thương, có vẻ như tự xót xa cho mình không được trưởng thành.
Bấỵ giờ, Thiết Chử sáu tuổi, quỉ đến bắt bị bệnh, thân thể đau nhức, bụng trướng to, lên cơn suyễn, không ăn uống được. Quỉ nhiều lần đánh đập Thiết Chử, toàn thân tím bầm, hơn một tháng thi chết. Từ đó, quỉ cũng vắng bặt.
84.6.4.11. Đời Đường, Vương Chí ở Kì châu: Niên hiệu Hiển Khánh thứ ba (658), Vương Chí người huyện Kì Sơn, thuộc Kì châu, làm Huyện lệnh ở ích châu. Hết nhiệm kì, trên đường về quê, Vương Chí gặp một cô gái đã đính hôn nhưng chưa cưới, dung mạo xinh đẹp, bị chết dọc đường. Vương Chí lưu lại Miên châu, lo tẩm liệm, chôn cất tại một ngôi chùa và ở lại đây vài tháng.
Trước đó trong chùa đã có người học trò tạm trú. Đầu hôm, cậu ta thấy một cô gải trang sức đẹp đẽ đi vào phòng, thi lễ, rồi tỏ lòng yêu mến, muốn gần gũi. Người học trò bằng lòng. Sau một tháng quen nhau, cô gái trao cho cậu ta một chiếc gương đồng, một cái khăn và một cái lược. Nghĩ đã đến lúc lên đường, cô gái bày tỏ tình cảm thương yêu với người học trò, rồi âm thầm từ biệt.
Tìm không thấy những vật kia, gia đình cô gái sai người tìm khắp các phòng thì thấy ở chỗ người học trò. Họ cho là cậu ta trộm cắp, nên sai người bắt trói, đánh đập. Người học trò liền kể lại đầy đủ sự tình, lại còn nói: “Không chí được những vật này, mà cô ấy còn để lại bộ áo quần nhằm làm tín vật lúc từ biệt”. Chủ nhà sai người mở quan tài kiểm tra, quả nhiên không có y phục này, lại thấy thân thể cô gái giống như người đã gần gũi người nam.
Đã thấy chứng cớ như vậy, chủ nhà sai người thả ra và hỏi thăm: “Anh ở đâu vậy?”. Người học trò đáp: “Tôi vốn là người Kì châu, theo cha nhậm chức ở phương nam. Nay cha mẹ đều mất, tạm thời đi các châu để học hỏi, không bao lâu

Phần 8

sẽ trở về”. Chủ nhà bảo gia đình trao cho người học trò y phục, xe ngựa, chuẩn bị tư trang, cùng về quê nhà để làm lễ kết hôn với cô gái. Gia đình cô gái rất thương yêu người học trò.
84.6.4.12. Đời Đường, người thợ khắc: Vào niên hiệu Vũ Đức (618-626), có người thợ khắc họ Vi thề với vợ sẽ không phản bội. Nhưng vài năm sau, ông ấy không còn thương yêu nữa, nên bà ta oán hận. Sợ vợ hại mình, ông Vi bóp cổ giết chết vợ. Vài ngày sau, ông Vi bị nổi mụt nhọt khắp người, lở loét mà chết.
84.7. NÓI DỐI
84.7.1. Lời dẫn
Người sinh ra trong đời gặp thời nhơ đục, đã mang thân giả tạm, lại luôn tạo cảnh dối gian. Thế nên, vọng tưởng đặt điều không thật, mê lầm điên đảo dẫy đầy, nghịch tâm trái cảnh, hễ nói ra lời gì thì đều giả dối để mê hoặc lòng người, khiến họ hiểu sai. Từ đó dẫn đến muôn khổ bủa vây, trăm lo hội tụ. Nếu gieo nhân hư dối thì cảm quả thấp hèn, đã chịu thống khổ nơi địa ngục, lại thêm nước sôi, tro nóng. Do nói dối nên mắc quả báo không hiểu chính pháp, chảng biết giả chân.
84.7.2. Dẫn chứng Kinh Chính pháp niệm ghi:
Người nói năng dối trả
Làm khổ não chúng sinh
Họ là người ngu si
Dù sống cũng như chết:
Dao lời tự cắt lưỡi
Làm sao lưỡi chẳng rơi!
Luôn nói lời dối trá
Thì mất hết công đức.
Người nói lời giả dối
Trong miệng có rắn độc
Dao ở ngay trong miệng
Thêm lửa dữ cháy bừng.
Độc trong miệng thật độc
Không độc nào sánh bằng
Miệng độc, hại chúng sinh
Chết rồi đọa địa ngục.
Người nói lời dối trá
Trong miệng mủ tuôn hoài
Lưỡi khác gì bùn dơ
Cũng giống như lửa dữ.
Nêu ai nói xấu người
Luôn bị người khinh chê
Người tốt thường lánh xa
Trời cũng không ủng hệ.
Thường ganh tị mọi người
Cũng ghềt bỏ chúng sinh
Rồi tìm cách não loạn
Nhân đó vào địa ngục.
Kinh Ưu-bà-tắc giới ghi:
Nếu có ngườỉ nào
Ưa thích nói dối
Sẽ bị quả báo
Răng thưa miệng méo.
Dù có nói thật
Người cũng không tin
Ai cũng oán ghét
Lại chẳng muốn nhìn.
Đó là hiện tại
Thụ quả nghiệp ác
Sau khi chết rồi
Rơi vào địa ngục
Chịu vô lượng khổ
Đói khát, nóng bức.
Đó là vị lai
Lãnh quả nghiệp ác
Nếu được làm người
Miệng bị méo lệch
Tuy có nói thật
Người cũng không tin
Chẳng vui khi gặp
Hoặc nói chính pháp
Cũng không ai nghe.
Người làm việc ác
Do sức nghiệp duyên
Tất cả vật dụng
Đều bị thiếu thốn.
Qua đây, chúng ta biết rằng người nói dối nhất định phải chịu quả khổ trong ba đời.
Thiền bí yếu kinh ghi: “Bốn chúng đệ tử của Phật, người nào vì lợi dưỡng tham cầu không biết chán, vì thích tiếng tăm mà giả dối làm ác, thật chẳng tọa thiền, thân miệng buông lung, hành động tùy tiện, vì tham cầu lợi dưỡng mà nói tọa thiền... thì người ấy phạm Thâu-lan-giá. Nếu tì-kheo có tội mà không chịu phát lồ, cũng không tự mình sửa đổi, dù chỉ che giấu chốc lát cũng đã phạm tội Tăng tàn. Nếu che giấu một ngày đến hai ngày, thì tì-kheo này chính là giặc, là la-sát trong loài người, sau này nhất định đọa vào đường ác và phạm tội nặng.
Nếu tì-kheo, tì-kheo-ni thật chẳng thành tựu pháp quán xương trắng mà tự cho là đã thành tựu, cho đến nói đã thành tựu pháp quán sổ tức, thì người này đã dối gạt, mê hoặc trời, rồng, quỉ thần v.v... Bọn người ác ấy thuộc dòng dõi ma Ba-tuần, vì đã nói dối. Nếu người nào tự nói mình thành tựu pháp quán bất tịnh, cho đến đỉnh pháp thì sau khi chết, người ấy nhất định rơi vào địa ngục A-tì nhanh như tên bắn. Ở trong đó suốt một kiếp, sau khi thoát ra, người ấy lại rơi vào loài ngạ quỉ, nuốt hoàn sắt nóng, chịu suốt tám nghìn năm. Ra khỏi loài ngạ quỉ, người ấy lại đọa vào loài súc sinh, thường mang nặng chở nhiều, khi chết bị lột da xẻ thịt; trải qua năm trăm đời mới được sinh làm người. Khi được làm người, lại bị đui điếc, câm ngọng, ốm yếu, tật nguyền, nhiều bệnh, chịu những nỗi khổ như thế không thể kể xiết”.
Kinh Chính pháp niệm ghi:
Cam lộ hay độc dược
Đều từ lưỡi gây nên
Cam lộ là lời thật
Độc dược lời gian dối.
Nếu người cầu cam lộ
Người ấy nói lời thật
Hễ ai muốn độc dược
Thì nói năng dối trá.

Phần 9

Độc chưa hẳn giết người
Nói dối nhất định chết
Ai nói lời điêu ngoa
Được gọi là người chết.
Nói dối chẳng lợi mình
Cũng chẳng lợi cho người
Cả hai đều không vui
Tại sao phải nói dối?
Nếu đúng là người ác
Ưa nói lời dối gian
Chết đọa ngục đao lửa
Thống khổ biết dường nào!
Chất độc tuy đáng sợ
Nhưng chỉ hại một đời này
Quả báo nghiệp nói dối
Hại suốt trăm nghìn đời.
Kinh Phật thuyết Tu-lại ghi: “Đức Phật dạy:
- Nói dối không những tự gạt chính mình mà còn dối người. Người nói dối mắc quả báo thân thể hôi hám, lời nói và tâm ý của họ không chân thật, làm cho tâm luôn bất an. Người nói dối lại mắc quả báo miệng hôi hám, thân hình xấu xí, thiên thần xa lánh. Người nói dối là tự đánh mất tất cả các thiện căn, mê muội quên mất đường lành. Vì thế, nói dối là gốc của tất cả các việc ác, đoạn dứt hạnh lành và cuộc sống tĩnh lặng”.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Vua Diêm-la nói kệ quở trách tội nhân:
Lời thật được an vui
Lời thật được niết-bàn
Lời dối sẽ khổ đau
Đời này và đời sau.
Nếu không bỏ nói dối
Sẽ chịu tất cả khổ.
Lời thật không cần mua
Thật dễ được, chẳng khó
Không từ nơi khác đến
Lại chẳng cầu xin ai
Cớ sao phải xa lìa
Ưa thích lời dối trá.
Người nói lời không thật
Ấy là nhân địa ngục
Nhân duyên vốn đã tạo
Than van có ích chi.
Lửa vọng ngữ mạnh nhất
Thiêu đốt cả biển khơi
Huống là đốt kẻ dối
Giống như đốt cỏ cây.
Nếu người không nói thật
Mà luồn nói dối gian
Người ngu si như thế
Bỏ ngọc ngà, ôm đá.
Nếu người không thương mình
Mà thích vào địa ngục
Lửa vọng ngữ nơi thân
Lập tức đốt cháy hình.
Lời thật rất dễ được
Trang nghiêm cho mọi người
Mà lại bỏ lời thật
Vì ngu, nên như thế!
Luận Đại trí độ ghi:
Lời thật là bậc nhạt
Là nấc thang lên trời
Lớn nhỏ đều như nhau
Nói dối vào địa ngục
Luận Tát-bà-đa ghi: “Người không nói dối, nếu thuyêt pháp, luận nghị, giảng giải về những vấn đề chưa phân định được là đúng hay sai, thì không được cho mình là đúng, mà phải hỏi han cho thấu đáo, như vậy mới không mắc lỗi. Nếu không thì chẳng khác nào búa ở trong miệng”.
Luật Thập tụng ghi: “Nếu nói người thuộc dòng cao quí là thấp kém, hoặc nói người hai mắt là một mát... thì đều gọi là vọng ngữ. Hoặc nói với người một mắt: ‘Anh là kẻ mù’... đều mắc tội khinh thường, xúc phạm người khác”.
Bài tụng về chính báo:
Nói dối gạt gẫm người
Chịu khó nơi địa ngục
Cưa nóng xẻ hình hài
Sắt đỏ cày trên lưỡi.
Nước đồng sôi rốt miệng
Cối sắt nghiền nát thân
Đau đớn, xương tủy tan
Cầu cứu kêu rên mãi.
Bài tụng về tập báo:
Nói dối đọa ba đường
Trả xong tội nơi ấy
Nghiệp còn, sinh làm người
Chịu chê bai, buồn khổ.
Lại bị người dối gạt
Lòng giận như lửa đốt
Bậc trí chẳng trách người
Vì hiểu sâu nhân quả.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục