PUCL QUYỂN 74 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
24/12/2015
QUYỂN 74 Quyển này tiếp theo chương Mười nghiệp ác. 84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt) 84.5. TRỘM CẮP 84.5.1. Lời dẫn Chúng sinh thụ sắc thân trong sáu đường đều do tham dục làm cội nguồn; nhận thể chất từ trời đất đều từ bỏ...

QUYỂN 74
Quyển này tiếp theo chương Mười nghiệp ác.
84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
84.5.1. Lời dẫn
Chúng sinh thụ sắc thân trong sáu đường đều do tham dục làm cội nguồn; nhận thể chất từ trời đất đều từ bỏn xẻn làm nền tảng. Tuy người và vật sai biệt, nhưng lòng tham tiếc không khác. Cho nên, kẻ gặp của vội đoạt lấy thì chẳng phải là hiền nhân; người thấy lợi mà quên nghĩa hẳn chẳng trở thành quân tử.
Vả lại, tiền tài, vàng ngọc, vải lụa là vật cần dùng của người đời; cờ lọng, hoa quả là vật cúng dường Tam bảo. Mình dù nghèo cùng cũng nên vui theo sự giàu sang của người, đâu vì mình nghèo mà tham lam đoạt lấy của người khác?
Điều-đạt hái hoa mà đọa lạc, Kiều-phạm ngắt lúa trở lai làm thân trâu, Ca-diếp xin bánh bị người chê cười, tì-kheo ngửi hương hoa bị thần giữ hồ quở trách. Vì vậy, ta nên biết tội trộm cướp rất nặng.
Có người ban ngày không có chỗ ăn, ban đêm không có nơi ngủ, sống nay đây mai đó như chim đậu, nai dừng; thân họ khồng manh áo, co ro ngủ bên lề đường, xin ăn nơi chợ, đến nỗi mẹ theo chim giá cô đi về phương nam, con theo ngựa hồ ngược lên phương bắc; chồng như bóng mặt trời ngả về tây, vợ tựa dòng sông chảy mãi về đông.
Ai nấy đều nghĩ đến quê xưa mà lòng đau như cắt, nhớ nơi sinh trưởng mà xót xa ngậm ngùi; nước mắt tuôn tràn như máu lan đầy mặt, tâm uất hận kết tụ nơi bờ mi. Những nỗi khổ như thế đều do đời trước đã không biết bố thí mà còn trộm cắp tạo ra.
Cho nên kinh ghi: “Muốn biết nhân quá khứ, nên xem quả hiện tại; muốn biết quả vị lai thì xét nhân hiện tại”.
Do đó, khuyên những người tu hành thường phải tự răn, chớ khởi tâm trộm cướp, cho đến của rơi cũng không tham đắm, huống gì lấy vật của người khác.
84.5.2. Trộm vật cúng Phật
Kinh Niết-bàn ghi: “Xây chùa cúng Phật, cúng dường tràng hoa, người chưa xin mà vội lấy, dù có người biết hay chẳng biết, cũng phạm tội phương tiện trộm”.
Luận Ti-nại-da ghi: “Nếu trộm cờ phướn, hoa quả trong tháp của thanh văn và Phật đều bị tội nặng, vì làm mất phúc của thí chủ”.
Luật Thập tụng ghi: “Nếu trộm vật trong tháp thờ Phật, đồ cúng dường trong tinh xá có người giữ thì phạm tội nặng”.
Luật Thập tụng có chuyện một người trộm xá-lợi; luận Tát-bà-đa có chuyện người trộm tượng Phật.
Trong hai trường hợp, người trộm đều có lòng thành phụng thờ, cúng dường. Người ấy nghĩ: “Họ là đệ từ ta cũng là đệ tử”. Người này tuy không xin mà lấy nhưng chỉ vì muốn cúng dường nên không pham tội (Trường hợp này nêu thỉ chủ thông cảm cho người trộm thì không phạm, nếu không thì phạm tội nặng).
Luận Ma-đức-lặc-già ghi: “Nếu trộm xá-lợi và tượng Phật để buôn bán sinh sống thì phạm tội rất nặng”.
84.5.3. Trộm vật của pháp
Luật Tứ phần ghi: “Có người trộm quyển kinh của người khác. Phật dạy: Lời Phật thì vô giá, nhưng chỉ tính theo giá trị giây mực mà định tội nặng hay nhẹ”.
Luật Thập tụng ghi: “Mượn kinh của người khác mà kháng cự không chịu trả, khiến người chủ nghi ngờ thì phạm tội phương tiện”.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Nếu trộm phương thuốc bí mật của người khác thì phạm tội nặng”.
Luận Duy thức tịnh quyết ghi: “Lén lấy kinh luận của người khác đọc, dù chỉ một câu cũng phạm tội trộm cắp chữ nghĩa (Đây chính là cố ý lẻn lấy nên phạm. Đối với các kinh được xem chung, thì lấy đọc cũng không phạm tội).
Ngũ bách vấn sự khẩu quyết ghi: “Không được dùng miệng thổi bụi trên kinh vì hơi miệng hôi nhơ (cũng giống như bụi vậy). Nếu đốt kinh cũ phạm tội nặng như thiêu đốt cha mẹ. Không biết có tội thì phạm tội nhẹ (Thường có người xấu trộm lấy tượng Phật bằng đồng, nấu chảy đúc thành tượng thánh, đem bán để nuôi thân, tội này còn nặng hơn tội cực trọng. Có người trộm cờ phướn, hương hoa để may y phục, hoặc đem bán để sinh sống. Người này vào đời vị lai sẽ chịu tai ương không có ngày thoát).
84.5.4. Trộm vật của tăng
Luật Ngũ phần ghi: “Mượn vật của tăng mà không trả, tính theo giá trị của vật ấy mà định tội”.
Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Tội trộm tăng-man vật nặng hơn tội giết tám vạn bốn nghìn cha mẹ”.
Kinh Bảo lương ghi: “Thà ăn thịt mình, chứ nhất định không được dùng vật của Tam bảo”,
Kinh Phương đẳng ghi: “Bồ-tát Hoa Tụ nói: Năm tội nghịch và bốn tội nặng ta còn cứu được, nhưng tội trộm vật của tăng ta không thể cứu”.
Phẩm Tế long kinh Đại tập ghi: “Khi ấy, những con rồng đạt được túc mệnh thông, nhớ lại nghiệp quá khứ của mình, nên buồn khóc như mưa, đến trước Phật thưa:
- Vào đời quá khứ, con nhớ mình đã từng làm người, có nhân duyên gần gũi Phật pháp, lại được nghe pháp, phát khởi lòng tin, cúng nhiều các loại hoa quả, thức ăn uống, rồi cùng ăn với các tì-kheo.
Con rồng khác nói:
- Con từng thụ dụng những thức ăn uống và hoa quả của tăng bốn phương.
Một rồng khác lại nói:
- Con đã đến chùa, cúng dường và lễ bái chúng tăng. Do cúng dường như thế từ thời bảy Đức Phật tới nay, con đã từng làm người có lòng tin, cúng dường Tam bảo các thứ hoa quả, nhiều thức ăn uống. Các tì-kheo nhận rồi cho lại, con liền ăn. Do nghiệp duyên đó, con phải ở trong địa ngục trải qua vô lượng kiếp, bị thiêu đốt, nung nấu trên ngọn lửa dữ hoặc uống nước đồng sôi hay ngậm hoàn sắt nóng. Khi ra khỏi địa ngục, con lại sinh vào loài súc sinh; bỏ thân súc sinh, sinh vào loài ngạ quỉ. Cứ như thế, con chịu rất nhiều cảnh đắng cay.
Đức Phật bảo:
- Những nghiệp ác này giống với việc trộm vật cúng Phật. Tội của nghiệp ngũ nghịch chỉ bằng một nửa tội này. Quả báo của tội này dài lâu, rất khó thoát, phải đến kiếp Hiền, kẻ ấy gặp vị Phật cuối cùng hiệu là Lâu-chí, mới hết tội này.
Hỏi: Vì sao trộm dùng vật của tăng bị tội rất nặng?
Đáp: Trộm bất kì vật nào của tăng đều liên quan tới thánh phàm mười phương, trên từ chư Phật, dưới đến phàm tăng. Vì cảnh giới vô biên nên tội cũng vô biên. Vi trần còn có thể đếm biết, quả báo của người mắc tội này không thể suy lường. Vì sao? Vì thí chủ kia đã bỏ ra một chút phẩm vật, dù nhỏ bằng sợi lông, một hạt gạo để cúng dường các bậc phàm thánh xuất gia trong mười phương để quí ngài thụ dụng, ngày đêm tu đạo, chứ không cung cấp cho người thế tục.
Thế nên, khi nghe tiếng chuông vang lên, chư tăng gần xa cùng thụ thực; phàm, thánh thụ dụng đều thành đạo nghiệp, lại thầm giúp cho thí chủ được vô biên lợi ích. Công đức của phúc lợi này sánh bằng pháp giới. Cảm phúc đã nhiều thì chịu tội cũng không ít. Nay thấy chúng sinh mê muội, không phân biệt sang hèn, không tin Tam bảo, lấy vật cúng dường sử dụng cho bản thân. Có người dùng thức ăn, hoa quả, cưỡi súc vật của tăng, sai người công quả; có người mượn vật của tăng lâu ngày không trả, bị tăng đòi nhiều lần thì mắng chửi; có người cậy quan quyền, thế lực, xét tìm lỗi của tăng. Những việc tổn hại như thế thật khó kể hết. Lắng tâm suy xét lỗi này, há chẳng đau lòng sao!
Nay chư tăng chẳng cho, không phải là bỏn xẻn mà vì từ bi thương xót hàng cư sĩ, sợ mai sau họ phải chịu khổ. Nếu đem vật của tăng cho người, chẳng những trực tiếp làm tổn hại người thế tục mà vị tri sự cũng mang tội; cả hai đều phải chịu quả khổ ở đời sau.
Cho nên, kinh Phật bản hạnh ghi: “Một niệm ác có thể đưa đến năm điều chẳng lành:
1. Đốt cháy căn lành của con người.
2. Phát sinh niệm ác khác.
3. Bị thánh nhân quở trách.
4. Đạo quả bị lui sụt.
5. Khi chết sinh vào nẻo ác”
Đã biết quả báo của tội trộm không thể nào mất, nên tôi thành thật khuyên răn mọi người, sau này nếu có lấy dùng vật của chúng tăng thì cần phải xét mình.
84.5.5. Sử dụng lẫn lộn
Kinh Bảo lương bảo ấn ghi: “Vật của Phật và pháp không được sử dụng lẫn lộn. Vì không ai có thể làm chủ vật của Phật và pháp, cũng không có người để thưa hỏi. Vật của Phật và pháp không giống vật của tăng. Vật của tăng thường trụ và tăng chiêu-đề, khi muốn sử dụng đều có người để thưa hỏi.
Nếu dùng vật của tăng để tu sửa tháp Phật thì phải như pháp đã qui định, tăng đồng ý mới được lấy dùng. Nếu tăng không chấp nhận thì khuyến khích người tại gia tu sửa. Nếu tháp Phật có vật dụng, dù chỉ có từ một tiền trở lên do thí chủ thành tâm cúng dường, thì chư thiên và mọi người phải nghĩ những vật ấy thuộc về Phật và tháp, dù cho gió thổi hư hoại cũng không được đem bán đổi lấy vật cúng dường. Vì vật thuộc về tháp Như Lai không ai có thể định giá”.
Luật Thập tụng ghi: “Đức Phật cho phép trong chùa viện, tăng phường được nuôi người công quả, voi, ngựa, trâu, dê v.v..., nhưng vì chúng đều có chủ nên không được sử dụng lẫn lộn”.
Luật Tăng-kì ghi: “Nấu vật cúng dường thuộc về Phật tồn dư quá nhiều thì cho phép đổi, bán để mua lại hương đèn. Nếu vẫn còn nhiều thì bán và chuyển tiền vào Vô tận tài”.
Ngũ bách vấn sự khẩu quyết ghi: “Trường hợp cờ phướn cúng Phật dư nhiều, muốn dùng vào Phật sự khác, nếu thí chủ bằng lòng thì được phép, nếu thí chủ không chấp nhận thì không được dùng”.
Luật Tứ phần ghi: “Thức ăn cúng ở tháp Phật, người trông coi tháp được phép dùng”.
Luận Thiện kiến ghi: “Thức ăn dâng cúng Phật, tì-kheo hầu Phật được phép dùng. Nếu không có tì-kheo, người cư sĩ hầu Phật cũng được phép dùng”.
Kinh Tội phúc quyết nghi ghi: “Trước khi cư sĩ dâng cúng cho Phật, các bậc thượng, trung và hạ tọa phải dạy họ cúng Phật rồi mới cúng tăng. Dâng cúng thức ăn cho Phật rồi theo thứ tự cúng cho tăng thì không phạm. Nếu không thực hành đúng như vậy, tức dùng thức ăn của Phật, sẽ bị đọa địa ngục A-tì trải qua nghìn ức năm. Đàn việt không nghe lời chỉ dạy của tăng cũng chuốc lấy quả báo như trước. Nếu được làm người, thì cũng bị sinh vào nơi hèn hạ trải qua chín trăm vạn năm. Vì sao? Vì vật thuộc về Phật thì không ai có thể định giá”.
(Nếu nói rộng ra, trong hai bữa ăn thường ngày ở nhà cư sĩ và chùa tăng, ngoài những thức ăn đã dâng cúng Phật và thánh tăng, những thứ không thuộc về Phật và tăng thì không cần chuộc lại; sau khi thông bảo là thức ăn dư thì mọi người đều được dùng. Nếu ý thỉ chủ chỉ cúng thức ăn cho Phật và tăng, không có phần của cư sĩ, thì cư sĩ phải chuộc lại mới được dùng) .
Nếu thí chủ đã dự định cúng dường để tạc tượng Phật Thích-ca mà lại tạc tượng Phật A-di-đà; đã định cúng in kinh Đại phẩm mà đổi lại in kinh Niết-bàn đã cúng để xây dựng phòng tăng lại đổi thành cúng thức ăn cho tăng; đã cúng cho hai chúng nhưng dồn cúng cho một chúng; đã cúng cho thập phương tăng nhưng lại sung vào cúng hiện tiền tăng; đã cúng cho đại chúng nhưng lại chỉ cúng riêng cho một người; đã cúng cho chúng tăng nhưng lại đem cho cư sĩ... trái với ý muốn của thí chủ. Những trường hợp như vậy nên qui giá trị thành tiền, nếu đủ năm tiền trở lên thì phạm tội nặng, nếu dưới năm tiền thì phạm tội nhẹ.
Luật Tứ phần ghi: “Đã hứa cúng cho trú xứ này lại đem cúng cho trú xứ kia thì phạm tội” (Tội nặng hay nhẹ thì tùy theo ý của thí chủ trước đây).
Theo ý trên, nếu tô vẽ tượng Phật còn dư những vật liệu như vải lụa, sơn bột... cũng không được tu bổ tượng bồ-tát, thánh tăng v.v... vì địa vị thầy và trò khác nhau, nên không thể sử dụng lẫn lộn. Nếu dùng vật liệu dư ấy tạo các dụng cụ trang nghiêm, rồi cúng dường Phật thì không phạm. Nếu thí chủ bằng lòng, sau khi tô vẽ tượng Phật, tùy ý trang sức loại hình tượng tăng, tục, thánh, phàm cùng tô điểm các phẩm vật cúng dường khác như: danh hoa, cỏ cây, núi, hô, chim, thú v.v... những vật ấy tuy không thuộc tượng Phật, nhưng sử dụng lẫn lộn cũng không có tội.
Ngũ bách vấn sự ghi: “Dùng các loại sơn hay bột màu tô vẽ tượng Phật để vẽ hình chim, thú thì phạm tội. Trừ khi dùng các hình tượng này cúng dường Phật thì không phạm”.
(Từng nghe kẻ tăng, người tục sống ở vùng biên giới không giữ giới luật, tuy dốc lòng phụng sự Tam bảo, nhưng tùy tiện làm theo ý mình, sử dụng lẫn lộn vật của Tam bảo. Cho đến tiền cúng dường thánh tăng, lấy dùng riêng cho mình, hoặc sung vào vật của tăng thường trụ, hoặc tạo tượng Phật, hoặc đắp vẽ hình tượng tôn giả A-nan, Ca-diêp trên vách v.v... Làm như thế đều không được, sẽ phạm tội).
Hỏi: Ngày nay, lúc thiết trai, thí chủ thường cúng dường tiền bạc, không biết sổ tiền ấy sử dụng vào việc gì?
Đáp: Nếu thí chủ muốn dùng vào việc tạo tượng thì theo như trước đã trình bày mà thực hiện, tức chỉ được dùng để tạo tượng Phật, chứ không được dùng vào việc khác.
Thời nay, sau khi thiết trai dâng chư tăng, thí chủ cúng tiền chung cho Phật và tăng. Nếu thí chủ không nói rõ từng phần thì nên mua hương, dầu, làm tràng phan, tu sửa điện Phật, tất cả dùng để cúng Phật đều được, nhưng không được sung vào cho tăng, in kinh hay lấy dùng riêng.
Từ trước đến đây đều căn cứ theo kinh luật mà trình bày sơ lược, chứ chẳng phải ý của một người nào. Nếu không thực hành đúng theo luật, theo pháp thì định tội chẳng học hỏi, không hiểu biết. Còn nhiều việc khác không thể kể hết, trong bộ Tăng ni luật sao mười quyển đã trình bày đầy đủ.
Cho nên, lo liệu việc của Tam bảo là một pháp sự quan trọng, không được xem thường. Phải hiểu rõ giới luật, tin sâu nhân quả, chuyên tâm cẩn thận, lo sợ nghiệp đạo, thường tự cảnh giác, không lệ thuộc người, mới xứng đáng làm vị tri sự mẫu mực, không được như vậy thì chằng nên làm.
Kinh Bảo lương ghi: “Đức Phật bảo tôn giả Ca-diếp:
- Ta cho phép hai hạng tì-kheo được trông coi việc tăng, một là tì-kheo trì giới thanh tịnh, hai là tì-kheo biết sợ quả báo đời sau, vì hai hạng người này tâm kiên định như kim cương. Lại có hai hạng, một là tì-kheo hiểu rõ nghiệp báo, hai là tì-kheo biết hổ thẹn và có tâm sám hối. Lại có hai hạng khác, một là tì-kheo chứng quả A-la-hán, hai là tì-kheo thường tu tám bội xả. Hai hạng tì-kheo này Ta cho phép điều hành việc tăng, vì những vị ấy bản thân đã không có lỗi lầm, lại thường hiểu được tâm ý của người khác.
Vì trông coi việc tăng là một điều khó, nên Đức Phật bảo tôn giả Ca-diếp: “Trong Phật pháp có nhiều hạng xuất gia, thuộc nhiều dòng họ, tâm ý khác nhau, tu tập pháp giải thoát và cách đoạn kết sử; cũng khác nhau. Có người ở a-lan-nhã, có người đi khất thực, có người thích sống nơi núi rừng, có người trì giới thanh tịnh mà thích ở gần thôn xóm, có người đã xa lìa bốn áchị, có người siêng tu đa văn, có người luận giải các pháp, có người nghiêm trì giới luật, có người khéo giữ uy nghi; lại có người đi khắp thành ấp, xóm làng để thuyết pháp. Đối với những hạng tỳ-kheo như thế, tì-kheo tri sự phải biết rõ tâm hạnh của từng người”.
Kinh lại ghi: “Vị tì-kheo tri sự cần phải phân biệt rõ, vật của tăng thường trụ không được cấp cho tăng chiêu-đề và vật của tăng chiêu-đề không được cấp cho tăng thường trụ”. Vật của tăng thường trụ và vật của tăng chiêu-đề không được để lẫn lộn với vật của Phật (vật của Phật cũng không được để lẫn lộn với vật của hai hạng tăng trên). Nếu vật của tăng thường trụ nhiều mà tầng chiêu-đề cần dùng thì vị tri sự phải nhóm tăng, điểm danh, thực hiện pháp yết-ma; tăng hòa hợp chấp thuận thì mới lấy vật của tăng thường trụ chia cho tăng chiêu-đề.
Nếu tháp Phật có chỗ cần dùng, như sắp hư hoại cần sửa chữa, nếu vật của tăng thường trụ hay vật của tăng chiêu-đề có nhiều thì vị tri sự nên nhóm tăng, điểm danh, thực hiện pháp yết-ma và bạch:
- Đại đức tăng lắng nghe! Tăng đến đúng lúc, tăng đã bằng lòng nghe! Nay tháp Phật hư hoại cần sửa chữa, mà vật của tăng thường trụ và vật của tăng chiêu-đề có nhiều. Nếu tăng không tiếc vật được cúng dường ấy, thì nay tôi dùng để tu bổ tháp Phật!
Nếu tăng không chấp thuận, vị tri sự nên khuyến hóa người tại gia cúng dường tài vật để tu sửa tháp Phật. Nếu vật của Phật nhiều, cũng không được chia cho tăng thường trụ và tăng chiêu-đề. Vì sao? Vì đối với vật đó nên nghĩ tưởng là của Đức Phật. Vật của Phật, dù một sợi chỉ, cũng đều do thí chủ phát tâm cúng dường, nên trời người đối với những vật đó phải nghĩ là của tháp Phật, huống là những vật báu.
Vật ở trong tháp Phật, thà để gió táp, mưa sa hủy hoại hết, chứ không nên lấy vật cúng Phật trao đổi của báu. Vì sao ? Vì vật ở trong tháp Như Lai không ai có thể định giá và Phật cũng không cần điều gì.
Như thế, vị tri sự không nên dùng lẫn lộn vật của Tam bảo. Nếu tự ý dùng lẫn lộn sẽ mắc quả báo lớn, chịu khổ một kiếp hay hơn một kiếp”.
Kinh Bảo lương ghi: “Đức Phật dạy:
- Tì-kheo tri sự nếu sinh tâm sân giận, tùy tiện sai bảo vị đại đức trì giới thanh tịnh làm mọi việc, thì sau khi qua đời phải rơi địa ngục. Nếu được làm người, kẻ ấy cũng phải làm tôi tớ, bị chủ đánh đập, hành hạ khổ sở.
Lại nữa, nếu vị tri sự tự ý định đặt và sửa lại những điều lệ vượt ngoài phép tắc thông thường của tăng để trách phạt tì-kheo, hoặc sai làm việc không đúng giờ giấc thì sau khi mạng chung, vị tri sự ấy đọa vào địa ngục đóng đinh, bị trăm nghìn cây đinh đóng vào thân, toàn thân bốc cháy như đống lửa lớn.
Lại nữa, nếu vị tì-kheo tri sự vì tâm khẩu sân giận, nêu việc quan trọng dọa vị đại đức trì giới thanh tịnh, thì sau khi mạng chung, vị tri sự ấy bị đọa địa ngục, lưỡi dài ra năm trăm do-tuần, bị trăm nghìn cây đinh đóng lên trên, mỗi cây đinh đều phát ra tia lửa dữ.
Lại nữa, có vị tri sự nhiều lần nhận vật của tăng, nhưng vì bỏn xẻn, nên cất giữ kĩ, hoặc cấp cho tăng không đúng lúc, hoặc làm khó mới cấp cho, hoặc làm khổ mới cung cấp, hoặc cấp ít hay không cấp, hoặc cấp cho người này không cấp cho người kia... Vì nghiệp bất thiện đó nên vị tri sự này sau khi chết sẽ sinh vào loài quỉ đói hôi dơ, ăn phân người, nhưng trong trăm nghìn năm không được ăn, hoặc thức ăn biến thành phân tiểu, máu mủ. Thế nên, Ca-diếp! Vị tì-kheo tri sự thà tự ăn thịt thân mình, nhất định không dùng lẫn lộn vật của Tam bảo như y, bát, thức ăn uống V.V...”.
84.5.6. Trộm vật của người
Luận Thiện kiến ghi: “Đã cẩn thận giữ gìn tài sản cho người khác hoặc cho Tam bảo, canh gác cẩn mật khóa kĩ cửa kho..., nhưng kẻ trộm theo lỗ hổng vào lấy, hoặc cưỡng bức để lấy mà người cất giữ không thể ngăn cản, trường hợp này nếu căn cứ vào người mất của mà kết tội người giữ thì khồng hợp lí. Nhưng nếu người giữ lơ là, không giữ gìn cân thận, để kẻ trộm lấy cắp thì người giữ phải bồi thường. Đây là căn cứ vào trách nhiệm của người giữ mà kết tội”.
Luật Thập tụng ghi: “Nhận chuyển vật dụng cho người ở xa, giữa đường vật bị hư hỏng, nếu người chuyển có tâm tốt, nhưng do sơ ý mà vật bị hư thì không bồi thường; nếu có tâm xấu làm cho vật bị hư thì phải bồi thường. Nếu mượn vật của người, không luận là tâm tốt hay tâm xấu, hễ làm hư thì nhất định phải bồi thường”.
Luật Thập tụng ghi: “Có kẻ trộm vật mang đến, dù họ thật lòng cúng dường hay vì bị người rượt đuổi lo sợ mà cúng, thì tì-kheo cũng được phép nhận. Bởi hiện tại chính kẻ trộm là chủ nhân của vật. Nếu kẻ trộm tự ý cúng dường thì được phép nhận, chứ không được xin. Nếu những vật ấy đã được nhuộm màu khác mà người chủ trước kia nhận ra thì cũng nên trả lại cho họ”.
Luận Ma-đắc-lặc-già ghi: “Có người loạn trí mang vật đến cúng dường, nếu không biết cha mẹ hay người thân của người đó là ai thì được phép nhận. Nếu biết người ấy có cha mẹ mà không được chính tay cha mẹ người ấy cúng thì không được nhận”
Luật Thập tụng ghi: “Nếu lấy thịt ăn dư của hổ thì phạm tội nhẹ, vì hổ chưa bỏ thức ăn ấy. Nếu lấy thịt ăn dư của sư tử thì không phạm, vì sư tử đã bỏ thức ăn ấy”.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Trộm thức ăn dư của tất cả loài chim, thú thì phạm tội nhẹ”. (Ngày nay gặp năm mất mùa, đói kém, nhiều người đào bới hang chuột để lấy những thứ hạt, trải mà chúng đã tha về trữ như: hạt giẻ, trái hồ đào v.v..., căn cứ theo văn trên thì phạm tội).
Luật Tứ phần ghi: “Hoặc nghĩ cho mình rồi lấy, hoặc nghĩ mình có phần rồi lấy, hoặc nghĩ vải cũ rách rồi lấy, hoặc nghĩ là mượn dùng tạm rồi lấy, hoặc nghĩ là của bạn thân rồi lấy v.v... Những trường hợp như thế, nếu lấy đều không phạm”.
Thế nào là bạn thân? Theo luật, cần phải có đủ bảy điều kiện sau mới được gọi là bạn thân:
1. Làm được việc khó làm.
2. Cho được cái khó cho.
3. Nhẫn được việc khó nhẫn.
4. Nói cho nhau nghe chuyện riêng.
5. Đùm bọc lẫn nhau.
6. Không bỏ nhau lúc gặp khó khăn.
7. Không khinh chê lúc nghèo hèn.
Người nào có thể thực hiện bảy điều kiện trên thì gọi là bạn thân. Lấy vật của người bạn như thế thì không phạm”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Phật bảo tì-kheo:
- Nếu người chủ bắt được kẻ trộm vật thì trói đem giao cho vua trị tội. Vua liền sai người giam vào ngục, hoặc chặt tay, chân; hoặc cắt tai, mũi; hoặc lột da; hoặc rút gân; hoặc treo ngược; hoặc cưa xẻ; hoặc châm lửa đốt; hoặc dội nước sôi; hoặc lấy da chưa thuộc cột chặt đầu lại; hoặc tưới nước đồng sôi lên thân; hoặc lấy chỉa ba đâm vào hông; hoặc thả voi dữ giẫm chết; hoặc mổ bụng, rút ruột, rồi nhét cỏ vào; hoặc trói ngược; hoặc đánh trống tiếng nghe chát chúa; hoặc bêu giữa chợ để chém đầu; hoặc cắt xẻ ra từng phần; hoặc chém bằng dao; hoặc bắn tên... Kẻ trộm bị giết bằng nhiều cách tàn khốc như thế.
Vì nghiệp ác trộm cướp này, nên sau khi mạng chung, người ấy rơi địa ngục, bị lửa dữ đốt thân, nước đồng sôi rót vào miệng, ném vào trong vạc nước sôi, lò lửa đỏ, đi trên núi đao, rừng kiêm, than nóng, ở trong phân nhơ, bị xay nát, giã nhuyễn... chịu biết bao cảnh khổ như thế, đau đớn thống thiết không sao kể xiết, trải qua trăm nghìn vạn năm không biết bao giờ thoát khỏi.
Khi chịu tội ở trong địa ngục xong, họ lại sinh vào loài súc sinh, làm voi, ngựa, trâu, dê, lạc đà, chó v.v... trải qua trăm nghìn năm để trả nợ cho người.
Hết tội súc sinh, kẻ ấy lại sinh vào loài ngạ quỉ, chịu đói khát, khổ sở không sao kể xiết, hoàn toàn không nghe đến tiếng cơm nước, trải qua trăm nghìn năm chịu biết bao cảnh khổ như thế.
Hết tội trong ba đường ác, kẻ ấy được sinh làm người, nhưng phải chịu hai loại quả báo: một là nghèo khô, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc; hai là của cải thường bị năm nạn: vua, giặc, lửa, nước và con hư”.
Kinh Chính pháp niệm ghi:
Hỏi: Thế nào gọi là trộm?
Đáp: Như có người luôn khởi niệm ác: “Ta muốn tất cả các loại ngũ cốc như lúa, thóc v.v... chỉ thuộc về mình ta, còn mọi người đều bị mất mùa”. Một thời gian sau, do chúng sinh phúc mỏng nên đều bị mất mùa. Người ác ấy thấy mất mùa, mọi người bị đói khát, thì lòng vui mừng nói: ‘Quả nhiên, đúng như ta mong muốn!’. Thế là, người ấy đem lúa gạo ra chợ bán, nhưng tâm gian xảo, cân non, đong thiếu dối gạt người, tạo thành nghiệp trộm.
Nếu trong lòng mới suy nghĩ thì gọi là ý nghiêp trộm. Khi thực hiện dối gạt người gọi là nghiệp dối gạt. Sau khi đã tạo nghiệp dối gạt thì gọi là cứu cánh nghiệp7.
84.5.7. Nhặt của rơi
Kinh Chỉnh pháp niệm ghi: “Nếu thấy vật rơi bên đường như vàng, bạc hay các vật báu khác, người nhặt được phải rao lớn: ‘Vật này của ai?’.
Nếu có người nói: ‘Vật ấy của tôi!’ thì phải hỏi họ hình dáng vật ấy thế nào, nếu họ nói đúng thì phải trả lại cho họ.
Nếu không có ai nhận thì trong bảy ngày, mỗi ngày phải mang vật ấy rao cho mọi người biết. Nếu vẫn không có ai nhận thì giao vật ấy cho vua, quan lớn hay người đứng đầu châu, quận ở đó. Nếu vua, quan lớn, người đứng đầu châu, quận thấy người kia có phúc đức, không nhận vật ấy, thì nên đem vật ấy dùng vào việc của Tam bảo. Như thế mới không gọi là trộm”.
Luật Tăng-kì ghi: “Nếu thấy y hoặc vật rơi, phải nói cho mọi người biết. Nếu không có ai nhận thì treo ở một nơi cao, trống trải để mọi người nhìn thấy. Nếu có người nói đó là vật của họ, thì phải hỏi: ‘Vật của anh mất ở đâu?’. Nếu người kia trả lời đúng thì trao cho họ. Nếu không có người nhận thì nên giữ lại ba tháng. Sau đó, nếu vật ấy nhặt được trong tháp thì dùng vào việc của tháp, nếu vật ấy nhặt được trong vườn của tăng thì chia cho tăng bốn phương.
Nếu là vật quí giá như vàng, bạc, chuỗi báu thì không được phô bày, loan báo ra ngoài, mà người được phải xem xét thật kĩ hình dáng của nó thế nào, sau mới nói ra. Nếu người đến nhận nói đúng thì trả lại, nhưng phải trao trả ở nơi đông người, không được trao trả ở nơi che khuất. Nhân đó, vị ấy khuyên người nhận nên thụ tam qui và nói: ‘Nếu Phật không chế giới thì ông không được nhận lại vật báu này’.
Nếu không có người đến nhận thì giữ lại ba năm, như đoạn trên đã nói, hễ vật thuộc phạm vi nào thì sử dụng trong phạm vi đó. Nếu nhặt được vật trong tháp đang sửa, thì dùng vào việc của tháp. Nếu nhặt được vật trong phạm vi sinh hoạt của tăng thì dùng vào việc của tăng”.
Luận Thành thật ghi: “Nếu lấy vật trong kho tàng từ lòng đất hiện ra thì không có tội. Khi Phật còn tại thế, trưởng giả cấp Cô Độc là thánh nhân cũng lấy những vật ấy; do đó biết là không có tội. Nếu tình cờ nhặt được vật thì không gọi là trộm”.
Luật Tăng-kì ghi: “Khi vào thôn làng, thấy vật rơi, tỉ-kheo không được nhặt lấy, nhưng có người nhặt dâng cúng thì được phép nhận vì người ấy chính là thí chủ. Y phục của người khác bị gió cuốn bay trong làng xóm. tì-kheo không được nghĩ đó là y phấn tảo rồi nhặt lấy, nếu trên đường vắng vẻ, không có người thì được lấy”.
Luật Ngũ phần ghi: “Nếu cất hộ y cho người trải qua mười hai năm, người ấy không trở lại lấy thì nên nhóm tăng định giá, rồi chia cho tăng bốn phương. Nếu sau đó, người kia trở lại thì dùng vật của tăng để bồi thường. Nếu người đó không nhận thì tốt”.
Bài tụng về chính báo:
Cướp vật cúng người dùng
Sẽ rơi vào địa ngục
Bị loài chim mỏ cứng
Mổ nát cả tim gan
Đồng sôi rót vào miệng
Gậy sắt đập vào thân
Hoảng hốt chạy thất kinh
Lạc vào rừng gươm giáo.
Bài tụng về tập báo:
Trộm cướp bị quả báo
Địa ngục đốt thân hình
Tội hết sinh làm người
Đói kho đến trọn kiếp.
Của tiền bị người giữ
Khác chi kẻ nghèo hèn
Mấy lời xin ghì nhớ
Nghĩ đến nỗi khốn cùng.
84.5.8. Cảm ứng
84.5.8.1. Đời Hán, đình trưởng Cung Thọ ở quận Thương Ngô: Hà Sưởng làm Thứ sử Giao Chỉ. Khi đi tuần xét, đến huyện Cao yếu, quận Thương Ngô, ông ngủ đêm tại đình Thước Bôn.
Gần nửa đêm, có một cô gái từ trên lầu đi xuống nói:
- Thiếp họ Tô, tên Nga, tự là Thủy Châu, vốn là người làng Tu, huyện Quảng Tín. Thiếp sớm mất cha mẹ, lại không có anh em, chồng cũng chết đã lâu. Hiện thiếp có một trăm hai mươi xấp lụa đủ loại và một tì nữ tên là Trí Phú. Thiếp một mình nghèo khó, ốm yếu, không thể tự mưu sinh, muốn sang huyện gần bến bán lụa.
Vào ngày mồng mười tháng tư năm ngoái, thiếp đến gặp Vương Bá là người cùng huyện, thuê một cỗ xe trâu, trị giá mười hai nghìn đồng để chở thiếp và lụa, còn Trí Phú thì cầm dây cương. Vừa đến đình này thì trời tối, trên đường không một bóng người, thiếp không dám đi tiếp, nên dừng lại nơi này. Trí Phú bỗng đau bụng dữ dội, thiếp đến nhà của đình trưởng xin nước và lấy lửa. Thấy thiếp, đình trưởng Cung Thọ cầm dao, mang kích, đi đến bên xe, hỏi thiếp:
- Phu nhân từ đâu đến? Trong xe chở những gì? Chồng nàng ở đâu? Vì sao đi một mình?
Thiếp hỏi lại:
- Sao hỏi như vậy?
Nhân đó, Cung Thọ nắm tay thiếp, nói:
- Cô gái trẻ xinh đẹp đáng yêu có thể vui với ta chăng?
Thiếp vô cùng sợ hãi và không chiều ý. Cung Thọ liền rút dao, đâm một nhát vào hông, làm thiếp chết ngay, rồi giết luôn Trí Phú. Thọ đào đất, chôn thiếp và Trí Phú ở dưới lầu này. Sau khi lấy hết tiền và lụa, đình trưởng lại giết trâu, đốt xe, bỏ trục xe và xương trâu vào trong giếng khô ở phía đông đình này rồi đi. Thiếp chết mà lòng vô cùng đau xót, không biết kêu oan nơi đâu, nên tự tìm đến sứ quân anh minh để bày tỏ.
Sưởng hỏi:
- Nay muốn khai quật thi hài của cô thì lấy gì làm chứng?
Cô gái đáp:
- Toàn thân thiếp đều mặc y phục màu trắng, giày dệt sợi xanh vẫn chưa mục nát.
Sưởng đào lên, quả đúng như vậy. Lập tức, Sưởng sai sứ đi bắt Thọ, tra xét, thì Thọ nhận tội đầy đủ. Sưởng xuống huyện Quảng Tín hỏi thăm thì đúng như lời cô gái nói. Sưởng bắt nhốt cha mẹ, anh em của Thọ vào ngục, vạch tội Thọ giết người. Theo pháp luật thông thường, tội của Thọ không đến nỗi tru di gia tộc, nhưng vì Thọ có ác tâm, che giấu nhiều năm, pháp vua không thể phát hiện, chỉ nhờ quỉ thần tố cáo mới biết. Thật là việc nghìn năm không có một. Vì vậy, Sưởng đề nghị triều đình chém hết để trợ âm đức. Vua chuẩn tấu.
84.5.8.2. Đời Hán, đình trưởng Li ở huyện Mi, Kì châu: Vương Truân, tự là Thiếu Lâm, làm huyện lênh ở huyện Mi. Một hôm, Vương Truân đến đĩnh Li của huyện này, ngủ đêm ở trên lầu. Trong đình thường có quỉ giết hại người. Đêm ấy, có một cô gái nói là muốn kêu oan, nhưng không có y phục để che thân. Truân lấy y phục đưa cho, cô gái bước lại gần và nói:
- Thiếp vốn là vợ của huyện lệnh huyện Phù. Trên đường đến phủ, thiếp nghỉ đêm tại đình này. Tối hôm ấy, đình trưởng đã giết thiếp cùng với hơn mười người lớn bé, cướp quần áo và tiền của, rồi chôn thiếp dưới lầu này. Hiện nay, đình trưởng làm lính tuần, thuộc cấp của huyện lệnh.
Truân nói:
- Ta sẽ báo thù cho ngươi. Nhưng từ nay, ngươi không được giết càn người lương thiện nữa!
Nghe vậy, quỉ bỏ y phục lại, rồi đi.
Sáng ra, Truân cho người đi bắt tên lính tuần ấy tra xét, hắn liền nhận tội. Thế là Truân cho bắt hơn mười tên đồng bọn và giết hết. Truân cho đào lấy hết hài cốt của cô gái và người thân của cô đưa về quê nhà an táng. Từ đó, đình này mãi mãi được an ổn.
Người dân đồn nhau: “Đúng thế! Thiếu Lâm tài giỏi không ai sánh, Phi bị tẩu mã nói với quỉ”. Phi bị tẩu mã là việc khác, không ghi lại ở đây.
84.5.8.3. Đời Tùy, Hoàng Phủ Thiên ở Nghi Châu: Niên hiệu Đại Nghiệp thứ tám (612), cách phía đông nam thành Nghi Châu hơn bốn mươi dặm, có gia đình họ Hoàng Phủ. Trong nhà có bốn anh em, người anh cả và hai em đều nhân từ, trung hiếu, siêng năng làm ăn sinh sống. Người em thứ hai tên Thiên, giao du với kẻ xấu, không lo làm ăn.
Một hôm, người mẹ vào phòng lấy sáu mươi đồng, chuẩn bị đi chợ mua sắm, bà tạm để trên giường. Sau khi người mẹ ra khỏi phòng, Thiên từ ngoài đi vào, nhìn quanh không thấy ai, liền lấy trộm tiền đem xài riêng. Người mẹ trở vào, tìm không thấy tiền đâu cả, cũng không biết là con mình lấy, liền khám xét cả nhà. Người tốt, người xấu đều nói: “Không có lấy!”. Người mẹ hận vì không cai quản được gia đình, nên đánh hết từ lớn đến nhỏ, khiến cả nhà đều oán hận.
Đến năm sau, Thiên qua đời, đầu thai vào heo mẹ trong nhà. Khoảng năm ba tháng sau, heo ấy sinh ra một heo con. Khi heo con được hai tuổi, vào tháng tám đến ngày tế thổ thần, gia đình cần tiền nên bán heo cho một người lo cúng tế thổ thần ở thôn xa, được sáu trăm đồng. Thế là người này đưa heo con đi.
Đến đầu hôm, Thiên báo mộng mọi người lớn nhỏ trong nhà. Trước tiên, Thiên lấy mũi chạm vào người vợ. Người vợ nằm mộng, nghe nói: “Ta là chồng của nàng, vì lấy sáu mươi đồng của mẹ mà làm cả nhà chịu oan, họ không có tội mà bị đánh đập đau đớn, nên bây giờ ta phải làm heo để đền nợ. Nay trong nhà bán ta cho lái buôn, họ đang trói và định giết ta. Nàng là vợ của ta, nỡ nào không nói để mọi người chuộc ta lại”.
Vừa mộng thấy như vậy, người vợ chợt thức giấc, trong lòng sợ hãi nhưng vẫn chưa tin, nằm ngủ lại thì cũng mộng thấy như vậy. Heo lại lấy mũi chạm vào người vợ. Người vợ sợ hãi, mặc áo lên nhà, kể lại cho mẹ chồng nghe. Lúc đó, người mẹ đã thức dậy, cũng mộng thấy như con dâu. Con gái của Thiên cũng mộng thấy như vậy. Giữa đêm, người mẹ sắp xếp, đưa cho người anh và con của Thiên một nghìn hai trăm đồng đề đi chuộc heo lại. Người mẹ bảo con của Thiên: “Nếu người ấy không cho chuộc thì xin trả gấp đôi, chỉ sợ sáng sớm sẽ giết. Hãy cưỡi ngựa đi mau!”.
Cách nhà hơn ba mươi dặm, con của Thiên đã đên nhà người ấy nhưng không dám nói là cha của mình, sợ nhục nhã cho gia tộc, chỉ nói: “Không nên giết, nay muốn chuộc heo lại”. Người ấy không chịu, lại bảo: “Giờ cúng thổ thần đã đến, ta không thể trả heo cho ngươi!”. Người con năn nỉ hai ba lần, người này vẫn không chịu. Người anh và con của Thiên nóng ruột, sợ heo bị giết, nên lén nhờ một người quen biết, đáng tin cậy, đã từng làm huyện lệnh, đến găp người ấy, kê rõ sự tình, sau đó mới chuộc được heo.
Trong lúc dẫn heo đi về phía ruộng hoang, người anh nói với heo: “Quả thật ngươi là em ta, hãy mau đi về nhà trước!”. Người con cũng nói với heo: “Nếu đúng là cha ta, hãy tự đi về nhà trước!”. Nghe nói vậy, heo chạy mau về nhà.
Thời gian lâu sau, mọi người trong làng đều biết, gia đình rất hổ thẹn. Hễ người nào có chuyện hiềm khích đều đem việc heo ra chế nhạo. Người con nói riêng với heo: “Cha nay tạo nghiệp chẳng lành, phải làm thân heo. Con cái cất đầu không nổi. Lúc còn sống, cha thường thân thiện với Từ Hiền. Bây giờ, cha đến nhà họ Từ, chúng con sẽ đem thức ăn đến đó cho cha!”. Nghe lời này, heo rơi lệ, đi nhanh đến nhà họ Từ. Ngôi nhà ấy cách nhà Thiên hơn bốn mươi dặm. Đến niên hiệu Đại Nghiệp thứ mười một (615), heo chết tại nhà họ Từ.
Nên biết, nghiệp báo không kể thân sơ, rõ ràng trước mắt, há không thận trọng ư? Pháp sư Tĩnh Lâm, chùa Hoằng Pháp ở Trường An, là người cùng làng với Thiên, tận mắt thấy con heo này và kể lại cho Đạo tôi nghe như vậy.
84.5.8.4, Đời Đường, con gái của quan trưởng sử Vi Khánh Thực: Vào niên hiệu Trinh Quán (627-649), Vi Khánh Thực, người Kinh Triệu giữ chức trưởng sử ở phủ Ngụy vương, có một người con gái chết sớm, vợ chồng Vi rất thương tiếc.
Hai năm sau, Khánh Thực sắm sửa thức ăn để đãi khách thân thiết. Người nhà mua dê, nhưng chưa giết. Đêm ấy, vợ của Khánh Thực mộng thấy cô con gái đã chết mặc áo trắng, váy xanh, trên đầu cài đôi trâm bằng ngọc, là y phục cô mặc lúc còn sống, đến gặp, khóc lóc, thưa:
- Trước đây, con thường lấy vật dụng mà không thưa hỏi cha mẹ, nên nay phải chịu quả báo làm thân dê để trả nợ cha mẹ. Đó chính là con dê mình đen, đầu trắng sẽ bị giết sáng mai. cầu xin mẹ thương xót cứu mạng.
Người me sợ hãi, tỉnh giấc. Đến sáng sớm, ra xem thì đúng là có con dê đen, cổ và vai dê đều trắng, trên đầu có hai đốm trắng đối nhau giống hình cây trâm bằng ngọc. Thấy vậy, người mẹ buồn khóc, cản người nhà:
- Đừng giết! Đợi Khánh Thực đến thả nó ra.
Chốc lát, Khánh Thực đến, hối dọn thức ăn,
người đầu bếp thưa:
- Phu nhân không cho giết dê.
Khánh Thực nổi giận, liền bảo giết dê. Khi người đầu bếp treo ngược dê, sắp giết thì mấy người khách đã đến, thấy một cô gái bị treo ngược, dung mạo xinh đẹp, nói với khách:
- Cháu là con gái của Trưởng sử Vi, xin được cứu mạng!
Các vị khách kinh ngạc, đến ngăn người đầu bếp, nhưng người đầu bếp sợ Khánh Thực nổi giận, lại chỉ nghe tiếng dê kêu, liền giết nó.
Lát sau, khách ngồi vào bàn nhưng không ăn. Khánh Thực lấy làm lạ, hỏi nguyên do, họ kể đầy đủ sự tình. Nghe vậy, Khánh Thực buồn khổ, phát bệnh, không đi đứng được. Quan dân ở kinh đô phần lớn đều biết việc này.
Thôi thượng thư Đôn Lễ kể cho Lâm tôi nghe như vậy.
84.5.8.5. Đời Đường, cô con gái của người viết chữ thuê Triệu Đại: Theo phong tục dân gian ở Trường An, đời Đường, mỗi năm sau ngày Tết Nguyên đán, dân làng thay phiên nhau tổ chức tiệc tùng, đó gọi là truyền tọa.
Đến phiên người viết chữ thuê Triệu Đại ở Đông Thị đãi khách. Bấy giờ, có một người khách đến trước, đi ra phía sau, thấy trên cối giã gạo có một cô gái khoảng mười ba, mười bốn tuổi mặc áo trắng, váy xanh, bị sợi dây thừng múc nước buộc vào cổ và trói vào trụ của chiếc cối, khóc lóc, nói với khách:
- Cháu là con gái của ông chủ. Năm xưa, lúc còn sống, cháu trộm một trăm đồng của cha mẹ, muốn mua son phấn, nhưng chưa kịp mua thì đã chết, số tiền ấy hiện để ở trong bức vách nơi góc tây bắc của nhà bếp. Cháu chưa dùng số tiền ấy, nhưng do lấy trộm, nên phạm, tội này, nay phải lấy mạng đến trả cho cha mẹ.
Nói xong, cô gái hóa thành con dê mình đen, đầu trắng. Người khách sợ hãi, báo cho chủ nhà biết. Chủ nhà hỏi hình dáng của cô gái thì đúng là cô con gái út đã chết hai năm rồi.
Ông chủ lấy được một trăm đồng ở bức tường nhà bếp, như đã để sẵn từ lâu. Khi ấy, ông chủ gửi dê vào chùa, cả nhà không ăn thịt nữa.
84.5.8.6. Đời Đường, quan chủ bạ họ Chu: Quan chủ ba họ Chu ở huyện Quán Đào, Kí châu. Vào tháng 11, niên hiệu Hiển Khánh thứ tư (659), ông vâng lệnh đi sứ đến Lâm Du để mở rộng việc giao thương giữa hai vùng. Lúc lên đường, ông dẫn theo hai vị Tá sứ và mang theo rất nhiều tiền bạc, gấm lụa. Do lòng tham dấy khởi, hai người lấy túi đất đè chết ông Chu, rồi trộm lấy toàn bộ số tiền và lụa đem đi, chỉ còn lại y phục trên thân.
Đến cuối năm, ông Chu về báo mộng cho vợ, kể đầy đủ cảnh trạng lúc bị giết và chỉ chỗ cất giấu tiền của. Người vợ báo việc này lên quan. Quan ti quản tra xét đầy đủ thì đúng thật có hiện trạng lấy cắp tiền lụa, liền cho bắt hai người và xử tội chết.
Tăng Tuệ Vĩnh chùa Trí Lực ở Tương châu nói: “Chính Tuệ Vĩnh tôi gặp đạo sĩ Lưu Nhân Khoan ở Minh Đình quán và nghe kể như vậy”.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
01/01/2016
PUCL QUYỂN 85 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)
QUYỂN 85 Quyển này tiếp theo chương Lục độ (tiếp theo) 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ 85.6. TRÍ TUỆ 85.6.1. Lời dẫn Trong hai loại trang nghiêm, tuệ là tối thắng; trong ba phẩm thứ đệ, trí không gì sánh bằng. Thế nên kinh ghi: “Năm đ...
01/01/2016
PUCL QUYỂN 84 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)
QUYỂN 84 Quyển này tiếp theo chương Lục độ, 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt) 85.5. THIỀN ĐỊNH 85.5.1. Lời dẫn Thần thông thù thắng, nếu chẳng nhờ thiền định thì không thể phát sinh; trí tuệ vô lậu, nếu không nhờ tĩnh lặng thì từ đ...
25/12/2015
PUCL QUYỂN 83 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (TT)
Quyển này tiếp theo chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt) 85.4. TINH TẤN 85.4.1. Lời dẫn Bởi tâm nhẫn nhục còn mờ mịt, ý chỉ rốt ráo chưa được hiển bày, thế nên phải luôn sách tấn để tâm không biếng nhác. Kinh ghi: “Tì-k...
24/12/2015
PUCL QUYỂN 82 - CHƯƠNG LỤC Độ (tt)
QUYỂN 82 Quyển này tiếp theo chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC Độ (tt) 85.2. TRÌ GIỚI 85.2.1. Lời dẫn Trộm nghe, giới là thầy của loài người, nên đạo tục đồng vâng giữ. Tâm là chủ của hành động, phàm thánh đều phải chế phục....
24/12/2015
PUCL QUYỂN 81 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)
QUYỂN 81 Quyển này tiếp theo chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt) 85.1. BỐ THÍ (tt) 85.1.6. Lượng định đối tượng để bố thí * Lời bàn Có hai hạng người bố thí là trí và ngu. Người trí khi hành bố thí nên quán sát người t...
24/12/2015
PUCL QUYỂN 80 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ
QUYỂN 80 Quyển này có một chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ 85.1. BỐ THÍ 85.1.1. Lời dẫn BỐ thí là nền tảng của muôn hạnh, đã được xếp đầu tiên trong lục độ, lại được nêu trước nhất trong tứ nhiếp. Cho nên, cấp Cô Độc dùn...
24/12/2015
PUCL QUYỂN 79 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
QUYỂN 79 Quyển này tiếp theo chương Mười nghiệp ác. 84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt) 84.13. NHẬN THỨC SAI LẦM 84.13.1. Lời dẫn Người mới học đạo cần phải lấy lòng tin làm đầu. Ví như người đến được núi báu, nếu không có đô...
24/12/2015
PUCL QUYỂN 78 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
QUYỂN 78 Quyển này tiếp theo chưorng Mười nghiệp ác. 84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt) 84.12. SÂN HẬN 84.12.1. Lời dẫn Do bốn đại khuấy động mà ba độc lẫy lừng. Bởi sáu giặc xâm hại mà trăm mối lo dồn dập. Con người, hoặc d...
