Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 73 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC

24/12/2015

QUYỂN 73 Quyển này có một chương Mười nghiệp ác. 84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC 84.1. LỜI DẪN Thương thay! Chúng sinh nghiệp chướng sâu dày, bỏ ba xe mà chẳng chịu ngồi; nổi chìm trong biển khổ, mặc cho lửa dữ thiêu đốt mà kh...

PUCL QUYỂN 73 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC
Phần 1

QUYỂN 73
Quyển này có một chương Mười nghiệp ác.
84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC

84.1. LỜI DẪN
Thương thay! Chúng sinh nghiệp chướng sâu dày, bỏ ba xe mà chẳng chịu ngồi; nổi chìm trong biển khổ, mặc cho lửa dữ thiêu đốt mà không biết nhàm chán, như ruồi nhặng thích thây chết tanh hôi, như thiêu thân đâm đầu vào lửa. Chúng sinh do mê muội nhiều kiếp, nên nếm đủ đắng cay, chịu nhiều đau khổ, đến nay vẫn còn bị thiêu đốt.-Cho nên, đức Như Lai thương xót, không nỡ bỏ rơi, chỉ cho họ biết khổ. để nhàm lìa, biết vui để ưa thích. Do đó, chương này lược nêu hai hành vi tội-phúc của mười điều ác.
84.2. NHÂN TẠO NGHỆP
Phàm phu tạo nghiệp có nhiều trường hợp. Có người tâm hợp với thân miệng, cũng có người thân miệng trái với tâm. Từ đây mà luận, hễ thân hành động, miệng nói năng đều do tâm sai sử; nếu tâm bất thiện thì làm tổn hại chúng sinh, nếu tâm thiện mới thuận theo phúc. Tuy làm lợi, gây hại không đồng, nhưng đều do gốc từ ba nghiệp với tâm là nguồn cội. Cho nên, cần phải lược phân biệt nghiệp khởi không đồng.
Luận Thành thật ghi: “Có ba người cùng đi nhiễu tháp, người thứ nhất niệm công đức Phật, người thứ hai nghĩ đến trộm cắp, người thứ ba vì muốn dạo mát. Tuy thân cùng đi, nhưng có ba tính thiện, ác, vô kí khác nhau. Nên biết, tội phúc do tâm, còn thiện ác của thân nghiệp và khẩu nghiệp thì không nhất định”.
Thế nên, luật Tứ phần và luận Thành thật ghi: “Nếu người vô tâm, tuy giết nhầm cha mẹ, nhưng không phạm tội nghịch, cũng như em bé nắm vú mẹ thì không phạm tội, vì không có tâm ô nhiễm”. Nếu căn cứ luận A-tì-đàm thì: “Nương sắc báo phát khởi sắc phương tiện là thân nghiệp, lời nói là khẩu nghiệp”. Tâm là thể của tội-phúc, vì sâu kín nên không trình bày”.
Nếu căn cứ giáo nghĩa Đại thừa, nói đúng hơn, hành động của thân và lời nói của miệng thường chẳng tạo tội phúc. Nếu nói về nghiệp thiện ác thì đều do ý. Chẳng hạn, ý suy lường rồi mới biểu hiện ra thân và miệng, tức ý này là thể của thân nghiệp và khẩu nghiệp. Nếu chỉ có ý suy lường mà không để phát ra thân và miệng thì gọi là ý nghiệp. Cho nên, luận Duy thức ghi: “Như người thế gian thường nói ‘giặc đốt núi rừng, làng xóm, thành ấp’ mà không nói lửa đốt”. Cũng vậy, chỉ do tâm mà thành nghiệp thiện ác. Trong kinh có bài kệ:
Các pháp, tâm là gốc
Các pháp, tâm đứng đầu
Lìa tâm không Có pháp
Từ tâm có thân khẩu.
Luận Thích ghi: “Chỉ có tâm thức, không có thân nghiệp, khẩu nghiệp. Thân nghiệp, khẩu nghiệp chỉ là tên gọi, ý nghiệp là thật, cũng như lúc sắp chết khởi tâm tà kiến thì đọa địa ngục, khởi tâm chính kiến thì sinh cõi lành”. Thế nên, luận ghi: “Lìa tâm, không suy nghĩ thì không có thân và khẩu nghiệp”.
Kinh Di giáo ghi: “Buông lung tâm này thì mất việc thiện. Giữ tâm một chỗ thì mọi việc đều thành”.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Có năm trường hợp tuy làm mất mạng chúng sinh, nhưng không phạm tội:
1. Nói và làm với tâm vô kí.
2. Vô tâm làm chết các loài trùng bé nhỏ như mối, kiến v.v...
3. Vô tâm ném đá, sắt v.v... làm chết sinh mạng.
4. Thầy thuốc chữa bệnh vì đem lại lợi ích cho người, nhưng cho nhầm thuốc làm người bệnh chết.
5. Khi đốt lửa, côn trùng bay vào lửa mà chết, chứ không cố ý giết hại.
Thế nên biết, nghiệp hình thành đều do tâm khởi”.
Sát sinh, căn cứ tâm và đối tượng bị giết không giống nhau mà tội có ba bậc thượng, trung, hạ.
1. Căn cứ vào đối tượng bị giết: như tì-kheo giết súc sinh thì phạm tội Ba-dật-đề; giết hàng phàm phu và bậc hữu học thì phạm tội ba-la-di; giết hại cha mẹ và bậc a-la-hán thì phạm năm tội trọng vô gián; giết người tà kiến, người đã đoạn mất căn lành thì phạm tội rất nhẹ, không bằng tội giết súc sinh.
Cho nên, kinh Niết-bàn ghi: “Bồ-tát biết sát sinh có ba bậc thượng, trung, hạ. Sát sinh bậc hạ là giết mối, kiến cho đến tất cả súc sinh, chỉ trừ bồ-tát thị hiện thụ sinh vào các loài ấy. Vì các súc sinh ấy có chút ít căn lành nên người giết phải chịu tội báo. Sát sinh bậc trung là giết từ phàm phu cho đến bậc a-na-hàm. Sát sinh bậc thượng là giết cha mẹ, bậc a-la-hán, bích-chi phật, Tất định bồ-tát. Nếu có người giết kẻ nhất xiển-đề thì không thuộc ba bậc này. Ví như đào đất, phát cỏ, đốn cây, vô tâm chặt chém thân mạng các loài đều không có tội báo, giết kẻ nhất-xiển-đề cũng như vậy” (nghĩa là không có tội nặng, chứ chẳng phải hoàn toàn không có khổ).
2. Căn cứ vào tâm: kết tội do tâm, nghiệp có nặng nhẹ, như nhiều sân thì tội nặng, ít sân thì tội nhẹ. Cho nên, luận Thành thật ghi; “Vì việc nặng, nên có quả, báo nhất định. Như đối với Phật và đệ tử Phật, hoặc cúng dường hoặc không cúng dường, hoặc khinh chê, nếu khởi tâm sâu nặng thì đều có quả báo nhất định. Như người với tâm phiền não sâu nặng giết hại mối, kiến vẫn nặng hơn tội vô tâm làm chết người. Nếu tâm không sân, tuy giết đối tượng bậc thượng cho đến cha mẹ, cũng không thành tội nghịch.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Thế nào là không thành tội sát sinh? Nếu biết trong lúa gạo, lúa nếp, lúa mì có loài trùng bé nhỏ, thì không nên giã, không chà mà nên bảo hộ mạng sống của chúng; lại không đưa cho người làm, cũng không giết hại. Nếu trâu, ngựa, lừa, lạc đà chở nặng, vết thương trên lưng sinh ra trùng, thì lấy nước rửa vết thương ấy, không lấy cỏ thuốc làm chết trùng, lấy lông chim rửa sạch, bắt trùng bỏ vào miếng thịt thối rữa khác để bảo toàn sinh mạng của chúng, cũng là bảo vệ các loài lừa, trâu. Đó là sợ tổn thương mạng sống của chúng, lại bảo vệ sinh mạng loài trùng. Cho đến mối, kiến, hoặc ngày hoặc đêm, không cố ý, cũng không mống tâm giết hại. Nếu thấy chúng sinh muốn ăn trùng, thì đem thức ăn đổi lấy mạng sống để trùng được thoát nạn”.
84.3. QUẢ BÁO
Di-lặc vấn kinh luận ghi: “Mười nghiệp đạo bất thiện đưa đến ba loại quả báo: quả báo quả, tập khí quả và tăng thượng quả.
1. Quả báo quả: như đọa địa ngục.
2. Tập khí quả: như ra khỏi địa ngục, sinh lại làm người, nhưng do sát sinh nên bị quả báo chết yểu, do trộm cắp nên bị quả báo không có của cải, cho đến do tà kiến nên tâm càng ngu muội, đó là tập khí quả.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Như tì-kheo Ngưu Ha thường nhai như trâu, vì vừa thoát nhiều kiếp làm trâu. Như một tì-kheo tuy hết lậu hoặc, nhưng thường soi gương vì nhiều đời làm kĩ nữ. Như tì-kheo Mục-kiền-liên tuy được thần thông, nhưng thưởng nhảy múa vì đời trước từng làm khỉ”. .
3. Tăng thượng quả: theo mười nghiệp đạo bất thiện thì tất cả vật chiêu cảm bên ngoài đều không có sức mạnh. Như hiện đất đai Cáo thấp, chim chuột, sương giá, mưa đá, gai góc, bụi bặm, mùi hôi, nhiều rắn, bò cạp, cây lúa nhỏ cho hạt ít, cây trái nhỏ cho quả nhỏ, cho đến các quả báo khổ, đều gọi là tăng thượng quả.
Lại có tương tự quả: như người sát sinh, do gây biết bao đau khổ cho các chúng sinh, nên bị đọa địa ngục, lại phải chịu nhiều đau khổ; do đoạn mạng chúng sinh, nên sau được sinh làm người lại bị quả báo chết yểu, tức do đoạn tính noãn xúc của các chúng sinh.
Kinh Niết-bàn ghi: “Thế nào là dư báo phiền não? Nếu có chúng sinh quen gần tham dục, khi quả báo này thành thục phải đọa vào địa ngục, ra khỏi địa ngục phải thụ thân súc sinh như bồ câu, chim sẻ, uyên ương, anh vũ, công xanh, cá, ba ba, khỉ, chương, nai v.v... Nếu được làm người thì phải thụ thân hoàng môn, phụ nữ, người hai căn, người không căn, kĩ nữ. Nếu xuất gia thì phạm giới trọng tà dâm. Đây gọi là dư báo.
Nếu có chúng sinh vì tâm sâu nặng, quen gần sân hận, khi quả báo này thành thục phải đọa vào địa ngục; ra khởi địa ngục phải thụ thân súc sinh như, cọp, sói, sư tử, gấu, bi, mèo, cáo, chim ưng, diều hâu, rắn có đủ bốn loại độc: nhìn, chạm, cắn, chích v.v... Nếu được làm người thì phạm đủ mười hai ác luật nghi. Nếu xuất gia thì phạm giới trọng trộm cắp. Đây gọi là dư báo.
Nếu có chúng sinh quen gần ngu si, khi quả báo này thành thục phải đọa vào địa ngục; ra khởi địa ngục phải thụ thân súc sinh như voi, heo, bò, dê, trâu, rận, rệp, muỗi, ruồi, kiến, mối v.v...Nếu được làm người thì bị đui, điếc, câm, ngọng, lưng
Phần 2

gù, tàn tật, không đủ các căn, không được thụ giới pháp. Nếu xuất gia thì các căn mê muội, ưa phạm giới trọng sát sinh. Đây gọi là dư báo.
Nếu có chúng sinh quen gần kiêu mạn, khi quả báo này thành thục phải đọa vào địa ngục; ra khỏi địa ngục phải thụ thân súc sinh như trùng trong phân, lạc đà, lừa, chó, ngựa v.v... Nếu được làm người thì làm tôi tớ, nghèo cùng, ăn xin. Nếu xuất gia, thường bị mọi người khinh rẻ, ưa phạm giới trọng vọng ngữ. Đây gọi là dư báo.
Dư báo của kết sử nghi tương tự như kết sử si, không cần trình bày riêng.
Đó là dư báo của năm độn sử.
Kinh Bồ-tát tạng ghi: “Này trưởng giả! Ta thấy tất cả chúng sinh trên thế gian này đều do mười nghiệp đạo bất thiện, nên kiến lập và sống trong tà đạo. Vì thế phần nhiều bị đọa vào đường ác. Mười nghiệp đạo bất thiện:
1. Giết mạng chúng sinh.
2. Trộm cắp
3. Tà dâm.
4. Nói dối.
5. Nói lời li gián.
6. Nói lời thô ác.
7. Nói lời thêu dệt.
8. Tham lam.
9. Sân hận.
10. tà kiến.
Trưởng giả! Ta thấy chúng sinh do mười nghiệp đạo bất thiện này mà tin theo tà đạo, chạy vào mọi đường, nên phần nhiều bị đọa vào đường ác. Vì muốn chứng quả Vô thượng bồ-đề để thoát khỏi tất cả tà đạo, nên với lòng tin thanh tịnh, Ta bỏ cung dòng Thích, hướng đến đạo Vô thượng”.
Luận Đại trí độ ghí: “Đức Phật bảo ưu-bà-tắc Nan-đề-ca: ‘Sát sinh có mười tội:
1. Tâm thường mang lòng ác độc, đời đời không dứt.
2. Chúng sinh oán ghét, không muốn nhìn.
3. Thường khởi niệm ác, suy nghĩ việc ác.
4. Chúng sinh sợ hãi, như thấy rắn, cọp.
5. Khi ngủ trong lòng lo sợ, lúc thức cũng không an ổn.
6. Thường có ác mộng
7. Khi mạng chung, tâm cuồng loạn sợ chết.
8. Gieo nhân duyên của nghiệp chết yểu.
9. Sau khi chết sẽ đọa vào địa ngục.
10. Nếu ra khỏi địa ngục, được làm người, thì thường phải chết yểu’.
Đức Phật dạy: ‘Trộm cắp có mười tội:
1. Chủ của vật ấy nổi giận.
2. Bị người nghi ngờ.
3. Không biết thời, không biết chỗ, làm việc không biết tính toán.
4. Kết bạn với kẻ ác, xa lánh người hiền thiện.
5. Đánh mất căn lành.
6. Phạm tội với nhà nước.
7. Của cải bị nhà nước tịch thu.
8. Gieo nhân duyên của nghiệp nghèo cùng.
9. Chết rơi vào địa ngục.
10. Nếu ra khỏi địa ngục, được làm người, phải vất vả kiếm tiền để người khác sử dụng. Của cải bị mất bởi vua, hoặc giặc, hoặc nước, hoặc lửa, hoặc con bất hiếu sử dụng, cho đến chôn giấu cũng không còn’.
Đức Phật dạy: ‘Tà dâm có mười tội:
1. Thường bị chồng của người đàn bà ấy làm hại.
2. Chồng vợ không hòa thuận, thường tranh cãi nhau.
3. Các pháp bất thiện ngày càng tăng trưởng, các pháp thiện ngày càng tổn giảm.
4. Không bảo hộ thân mình, vợ con côi cút.
5. Tài sản ngày càng hao hụt.
6. Gặp các việc xấu, thường bị người nghi ngờ.
7. Hàng thân thuộc, người tri thức không ưa thích.
8. Gieo nhân duyên của nghiệp oan gia.
9. Sau khi chết sẽ rơi vào địa ngục.
10. Nếu ra khỏi địa ngục, làm người nữ thì phải chung chồng với nhiều người; nếu làm người nam thì vợ không trinh tiết.
Không có các nhân duyên như vậy tức là không tà dâm’.
Đức Phật dạy: ‘Nói dối có mười tội:
1. Hơi miệng thường hôi.
2. Thiện thần xa lánh, phi nhân được dịp làm hại.
3. Dù nói thật, cũng không ai tin nhận.
4. Không được cùng người trí bàn tính.
5. Thường bị chê bai, tiếng xấu đồn khắp thiên hạ.
6. Không được người cung kính, không ai nghe theo lời dạy bảo .
7. Thường gặp nhiều chuyện buồn phiền.
8. Gieo nhân duyên của nghiệp phỉ báng.
9. Sau khi chết phải đọa địa ngục.
10. Nếu ra khỏi địa ngục, được làm người, thường bị chê bai.
Không có các nhân duyên như vậy tức không nói dối, gọi là Thiện luật nghi’.
Đức Phật dạy: ‘Uống rượu có ba mươi sáu lỗi (sẽ nói rõ trong phần “năm giới" ở sau)
Không tạo bốn tội này tức là luật nghi thiện của thân, không nói dối tức là luật nghi thiện của miệng. Đây gọi là năm giới luật nghi”.
Kinh Nghiệp báo sai biệt ghi: “Có mười nghiệp thường khiến chúng sinh gặp phải ác báo ngoài thân. Nếu có chúng sinh tạo mười nghiệp ác, thì chiêu cảm hoàn cảnh chung quanh không tốt.
1. Vì nghiệp sát sinh làm cho cảnh vật bên ngoài như đất bị nhiễm mặn, cỏ thuốc không sống nổi.
2. Vì nghiệp trộm cắp nên chiêu cảm sương giá, mưa đá, châu chấu, sâu bọ V.V... làm mất mùa, đói kém.
3. Vì nghiệp tà dâm nên chiêu cảm quả báo mưa to, gió lớn và bụi bặm.
4. Vì nghiệp nói dối nên chiêu cảm cảnh vật nhơ bẩn, tanh hôi.
5. Vì nghiệp nói hai lưỡi nên chiêu cảm đất đai cao thấp, không bằng phẳng, núi đồi, gò nổng trơ trụi, điêu tàn.
6. Vì nghiệp nói lời thô ác nên chiêu cảm cảnh vật thô nhám, xấu xí, như ngói, đá, cát, sỏi... không thể xúc chạm được.
7. Vì nghiệp nói lời thêu dệt nên chiêu cảm cỏ cây um tùm, cành nhánh gai góc.
8. Vì nghiệp tham lam nên chiêu cảm lúa thóc hư lép, bé nhỏ.
9. Vì nghiệp sân hận nên chiêu cảm trái cây đắng chát.

Phần 3

10. Vì nghiệp tà kiến nên chiêu cảm lúa không có hạt, thu hoạch rất ít.
84.4. SÁT SINH
84.4.1. Lời dẫn
Đã thụ thân trong sáu nẻo, loài nào cũng thiết tha tham sống; nhận hình của trời đất thì tất cả đều một bề sợ chết. Mặc dù chúng sinh sinh lên thác xuống trong muôn loài, trí-ngu đổi thay nghìn mối, nhưng cuối cùng cũng không ngoài lánh khổ, tìm vui. Điều này có gì lạ!
Vì thế, chim đã gãy cánh còn lao xuống bàn, cầu xin vua Ngụy giữ mạng. Con thú cùng đường còn lánh vào nhà tranh mong được họ Âu cứu sống. Hán vương cung cấp thức ăn mà được đền đáp bằng minh châu. Dương Bảo cúng hoa mà được báo đáp vòng ngọc. Thậm chí, sa-di cứu đàn kiến giữa dòng nước chảy mà được phúc báo tuổi thọ kéo dài. Trưởng giả Lưu Thủy cứu đàn cá lại được phúc trời mưa trân bảo... Những việc tương tự như vậy, đâu thể kể hết!
Như thế đâu thể buông lung thân thụ hưởng không biết chán này mà giết thân hại mạng chúng sinh, khiến chúng chịu khổ suốt đời, ôm hận muôn kiếp, đến nỗi mặt đất tuy rộng mênh mông, nhưng chúng không có nơi trốn tránh; bầu trời cao lồng lộng mà chẳng có chỗ để tỏ bày!
Thế nên, kinh ghi: “Tất cả chúng sinh đều sợ dao gậy và tham tiếc sự sống. Do đó, nên dùng lòng tha thứ chính mình mà khoan dung cho chúng sinh, chớ giết hại, chớ đánh đập”.
Kẻ phàm phu điên đảo, nhận thức sai lầm nên có người hoặc vì việc lành, việc dữ, việc riêng, việc chung hay vì cúng tế, tiếp đãi khách quí mà phải nhóm bếp, nổi lửa, cắt nướng các loài vật để làm thức ăn. Hoặc có người trọn tháng trọn năm cổng tư rảnh rỗi, từ buổi sáng mờ mịt sương rơi, đến ban trưa hừng hực nắng cháy, cưỡi con ngựa phi nhanh như gió, thả con chim ưng bay như điện chớp, cầm cây kiếm Cự Khuyết, Can Tương; mang cây cung Ô Hào, Phồn Nhược, bắt hết các loài nơi ao đầm, bắn sạch chim non nơi rừng núi, phá nát tổ chim, đào bới hang thú, giăng lưới đầy đồng khắp núi, ngăn phía trước, chặn phía sau, bên trái đón đường, bên phải vây lối. Vó ngựa tung “bụi mù che khuất mặt trời, hun khói lửa mịt trời bốc đến tận mây; làm cho chim lạc đàn bay tán loạn, thú rời bầy chạy thoát thân. Chim nhạn đang bay nghe tiếng dây cung, khiếp vía sa thân; đàn vượn ôm cây hú lên ai oán. Tât cả bị dồn vào hang hiểm, đường cùng mà kêu gào thảm thiết, nhìn rừng xanh mà cất tiếng kêu tuyệt vọng. Thế là, cung chẳng uổng buông, tên chẳng sai đích. Sau đó xỏ lưng, xâu ngực, chặt đầu, khoét óc.
Hoặc có kẻ buông câu nước đục, quăng mồi vào ao trong, hay câu cá chép ở bến sông, bắn cá diếc nơi ao giếng. Một khi, vảy hồng đã treo lên thì mãi mãi không còn khả năng truyền tín; thịt trắng đã móc thì vĩnh viễn mất điềm lọt vào thuyền, bằm nát thịt xương đưa vào mâm mà phân tán.
Hoặc vì bộ tộc Hiễm Duẫn tà ác nên phải ra tay đánh dẹp; do quân giặc nhiễu loạn biên cương mà phải nhờ đến uy phong. Dù là bậc vua hiền, nhưng vẫn khởi chiến tranh, là đấng minh quân mà còn phải chinh phạt. Vì thế, nhờ chiến dịch lên núi Nhi mới được nổi tiếng, đại thắng nơi Mục Dã mà được khen là đức cao. Trong những người đó, có kẻ mang trăm vạn hùng binh tung hoành ngang dọc, có người chỉ năm nghìn quân mà âm thầm đánh phá quân Tào Tháo ở trận Xích Bích, đánh bại Hạng đế tại Ô Giang?, bêu đầu Vương Mãng trên đài cao, ném thây Đông Trác nơi đô thị. Tất cả đều là bậc anh hùng, một thời uy vũ. Những người như thế nhiều không thể ghi chép hết, nhưng họ cùng tạo nghiệp xương chất thành núi, máu chảy thành sông.
Nay quân triều đình khí thế như sấm, ra uy quyết sạch phản nghịch, bày binh bố trận gìn giữ biên cương. Đã dự quân tiên phong, lại tham gia quân đoạn hậu. Dưới vân kì đâu dám tự an, trước đao bén thật lắm nguy hiểm. Vì thế, bao kẻ phải khấu đầu trước mũi gươm, xin tha mạng dưới ngọn giáo. Những tội như thế không thể nói hết
Chúng sinh xâm hại lẫn nhau hoặc là do oán thù, hoặc do hiềm khích, hoặc do nợ thân mạng, hoặc là vì tạo nhân yểu thọ, nên phải chuốc lấy quả báo bệnh nhiều... Xin nguyện từ nay mãi mãi đoạn tuyệt, cho đến vị lai cùng là quyến thuộc bồ-đề, chẳng hoại duyên lành, tất cả trở thành bạn pháp.
84.4.2. Dẫn chứng
Như luật Tì-nại-da ghi: ‘‘Xưa, lúc Phật còn tại thế, trong nước Xá-vệ, có một bà-la-môn thường cúng dường tì-kheo Ca-lưu-đà-di. Bà-la-môn ấy chỉ có một người con và đã lập gia đình. Lúc sắp chết, bà-la-môn dặn con: ‘Sau khi ta chết, con phải cúng dường tôn giả Ca-lưu-đà-di như ta ngày nay, đừng để tôn giả thiếu thốn’. Khi cha mẹ qua đời, người con vâng lời cha mẹ, cúng dường tôn già Ca-lưu-đà-di như khi cha mẹ còn sống.
Ngày nọ, có việc đi xa, người con của bà-la-môn dặn vợ ở nhà cúng dường tôn giả. Hôm ấy, lại có năm trăm tên cướp đến, trong đó, có một tên tướng mạo xinh đẹp, người vợ từ xa trông thấy, liền sai người gọi đến, rồi tư thông với hắn. Tôn giả Ca-lưu-đà-di nhiều lần đến nhà bắt gặp. Sợ tôn giả tiết lộ việc này, người vợ cùng với tên cướp tìm cách giết tôn giả.
Nghe tin tôn giả Ca-lưu-đà-di bị giặc cướp giết, vua Ba-tư-nặc nổi giận, ra lệnh giết cả nhà bà-la-môn và hơn mười tám nhà lân cận, bắt năm trăm tên cướp, chặt tay chân, rồi quăng xuống rãnh.
Thấy vậy, các tì-kheo trở về bạch Phật:
- Ca-lưu-đà-di xưa đã tạo nghiệp ác gì mà nay bị vợ của bà-la-môn giết hại?
Đửc Phật bảo các tì-kheo:
- Vào thời quá khứ, Ca-lưu-đà-di là vị chủ miếu thờ trời. Có năm trăm người khiêng một con dê đã bị chặt bốn chân đến tế trời và cùng cầu nguyện. Sau đó, vị chủ miếu giết dê. Do giết dê nên ông bị đọa địa ngục, chịu khổ vô cùng. Vị chủ miếu thờ trời thuở ấy, nay là Ca-lưu-đà-di, tuy đã chứng quả A-la-hán nhưng do nghiệp ác đời trước chưa hết, nên nay phải chịu quả báo này. Con dê lúc ấy, nay là vợ của bà-la-môn. Năm trăm người chặt chân dê khi xưa, nay là năm trăm tên cướp bị vua chặt chân.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Nếu giết hại nhất định sẽ bị quả báo xấu”.
Kinh Hiền ngu ghi; “Xưa, lúc Phật còn tại thế, trong thành Xá-vệ, có một trưởng giả tên là Lê-kì-di. Ông có bảy người con đều đã lập gia đình. Vợ của người con út tên là Tì-xá-li, là người hiền đức, có tài trí, thông hiểu mọi việc. Lê-kì-di đem gia nghiệp của mình giao phó cho con dâu. Nhờ hiền đức, có tài trí, nên Tì-xá-li được vua Ba-tư-nặc thương mến và xem như em gái.
Sau đó, Tì-xá-li mang thai, đủ tháng thì sinh ba mươi hai trứng, mỗi trứng nở ra một người con trai. Lớn lên, những người con này tướng mạo xinh đẹp, sức mạnh phi thường, một người có thể địch cả nghìn người. Đến tuổi lập gia đình, họ đều cưới con gái của gia đình hiền thiện, giàu sang trong nước.
Một hôm, Tì-xá-li thỉnh Phật và chúng tăng về nhà cúng dường. Sau khi nghe Phật thuyết pháp, cả nhà đều chứng quả Tu-đà-hoàn, chỉ người con út chưa đắc đạo.
Ngày nọ, người con út cưỡi voi dạo chơi, gặp con của Tể tướng đang đi xe trên cầu, liền bắt lấy, ném xuống hào nước dưới cầu, khiến toàn thân bị thương. Cậu ta trở về thưa cha, Tể tướng bảo con: ‘Người ấy không những cường tráng, lại kết thân với vua, thật là khó thắng, phải tính kế bí mật báo thù’.
Người con của Tể tướng liền lấy bảy báu làm ba mươi hai roi ngựa, lại dùng thép rèn thành dao bén, lồng vào trong roi, rồi tặng cho ba mươi hai người con của Tì-xá-li mỗi người một cái. Ai nấy đều thích, vui vẻ nhận lấy và thường mang bên mình mỗi khi ra vào chầu vua.
Theo phép nước, người đến gặp vua không được mang theo vũ khí. Tể tướng thấy họ cầm roi, liền tâu:
- Tâu bệ hạ! Những người con của Tì-xá-li tuổi đã trưởng thành, có sức cường tráng, một người địch cả nghìn người. Nay họ âm mưu, muốn sát hại vua, nên mỗi người rèn dao bén lồng trong roi ngựa, xin vua thẩm xét!
Lập tức, vua sai người khám xét, quà đúng như lời Tê tướng. Vua nghĩ là thật, ra lệnh giết hết những người ấy, rồi sai đem ba mươi hai cái đầu đặt vào một cái thùng, niêm phong, đóng dấu, mang tặng cho em gái.
Cùng ngày ấy, Tì-xá-li thỉnh Phật và chúng tăng về nhà để cúng dường. Thấy vua ban tặng một thùng, Tì-xá-li cho là vua ban phẩm vật cúng dường Phật và chúng tăng, nên định mở xem, nhưng Phật ngăn lại và bảo: ‘Đợi chúng tăng thụ trai xong hãy mở!’. Thụ thực xong, Đức Phật thuyết các pháp khổ, vô thường v.v... cho Tì-xá-li, ngay lúc đó bà chứng quả A-na-hàm.
Sau khi Phật ra về, Tì-xá-li mở thùng ra thì thấy ba mươi hai cái đầu của con mình, nhưng nhờ đã đoạn ái dục, nên không sầu não, chỉ than: ‘Đau xót thay! Ai rồi cũng phải chết, đâu thể sống mãi, luân chuyển trong năm đường, khổ đến thế sao?’.

Phần 4

Nghe tin này, thân tộc bên vợ của ba mươi hai người kia đều tức giận và nói: ‘Đại vương vô đạo, giết oan người hiền thiện’.
Thế là, họ tập hợp binh mã kéo đến báo thù. Vua hay tin, hoảng sợ chạy đến chỗ Phật. Họ lại đem binh bao vây tinh xá Kì-hoàn. Thấy vua giết ba mươi hai người con của Tì-xá-li, khiến thân tộc bên vợ của họ kéo đến báo thù, A-nan chắp tay bạch Phật:
- Vì nhân duyên gì mà ba mươi hai người con của Tì-xá-li bị vua giết hại?
Đức Phật bảo A-nan:
- Vào thời quá khứ, có ba mươi hai người trộm một con trâu, dẫn đến nhà một bà lão để giết mổ. Bà lão vui vẻ, chuẩn bị mọi vật dụng. Khi sắp hạ đao, con trâu quì xuống xin tha mạng, nhưng mọi người vẫn quỵết định giết chết. Trâu liền thề: ‘Nay các ngươi giết ta, đời sau ta sẽ không tha cho các ngươi đâu!’. Giết xong, cùng với bọn trộm ăn uống no say, bà lão vui vẻ nói: ‘Những bữa tiệc ta dự từ trước đến giờ chưa khi nào ngon như hôm nay’
Đức Phật bảo A-nan:
- Con trâu thuở ấy, nay là vua Ba-tư-nặc. Những người trộm trâu nay là ba mươi hai người con của Tì-xá-li. Bà lão lúc đó, nay là Tì-xá-li. Vì giết trâu nên trong năm trăm đời những người này thường bị giết hại. Vì vui theo, nên trong năm trăm đời bà lão thường làm mẹ và khi con bị giết lòng mẹ buồn khổ. Nay nhờ gặp Ta, người mẹ ấy chứng quả A-na-hàm.
Nghe Phật kể lại duyên xưa, vợ và người thân của ba mươi hai người kia không còn oán hận, mỗi người tự nói: ‘Những người này tự gieo nhân, nay phải gặt quả. Giết một con trâu mà chịu quả báo đến như thế, huống là giết nhiều sinh mạng. Ba-tư-nặc là vua của chúng ta, vì sao chúng ta lại oán hận muốn giết hại?’.
Ngay đó, họ quì trước vua, ăn năn tạ tội. Vua cũng tha cho, không định tội nữa.
A-nan bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Những người con của Tì-xá-li nhờ tu phúc gì mà được giàu sang, tráng kiện, lại được gặp Phật, chứng quả?
Đức Phật bảo:
- Vào thời Phật Ca-diếp ở quá khứ, có một bà lão trộn các loại hương với dầu, rồi đem sơn tháp Phật. Trên đường đi, gặp ba mươi hai người, bà khuyên họ cùng đến sơn tháp. Sơn tháp xong, họ cùng phát nguyện: ‘Nguyện cho chúng con sinh ra nơi nào cũng được giàu sang, quyền quí, thường làm mẹ con và được gặp Phật, đắc đạo’. Thế nên, từ đó đến nay, trong năm trăm đời, họ thường làm mẹ con, sinh vào dòng tôn quí. Ngày nay gặp Phật, họ đều chứng quả”.
Bài tụng về chính báo:
Vui cười, giết chúng sinh
Khóc gào, vào địa ngục
Đồng sôi rót vào miệng
Nước bẩn tưới khắp thân.
Đến rừng đao, hầm lửa
Xương nát, thịt tiêu tan
Chịu khổ trải ức năm
Đau lòng không kể xiết.
Bài tụng về tập báo:
Sát sinh đọa bốn đường
Chịu khổ ba nẻo xong
Nếu được sinh làm người
Nhiều bệnh tật, chết yểu.
Thân ghẻ lở, khổ đau
Tâm trí thường mê muội
Nếu là người có trí
Chớ buông tâm giết hại.
84.4.3. Cảm ứng
84.4.3.1. Đời Tống, Phủ quân tướng quân Lưu Nghị: Sau khi Tống Cao tổ dẹp loạn Hoàn Huyền, ông cử Lưu Nghị làm Phủ quân tướng quân kiêm Thứ sử Kinh châu. Lưu Nghị đến nơi, liền bắt giết vị tăng chủ của chùa Ngưu Mục, vì cho rằng giấu con cháu họ Hoàn và độ cho làm sa-di, Nghị cũng giết bốn vị đạo nhân có liên can.
Đêm ấy, Lưu Nghị mộng thấy vị tăng này đến bảo:
- Vì sao ông giết oan bần đạo? Bần đạo đã tâu với thiên đế, e rằng ông không sống được bao lâu nữa!
Từ đó, Lưu Nghị bị bệnh, bỏ ăn, ngày càng gầy yếu.
Lúc rời Dương đô, Nghị đã nhiều lần tranh giành và khinh thường Tể tướng. Do đó, Tống Cao tổ sai người chinh phạt, Lưu Nghị bị đánh bại, giữa đêm một mình cưỡi ngựa xông vào chùa Ngưu Mục. Một vị tăng nói với Lưu Nghị:
- Xưa ông giết oan thầy tôi là đạo nhân, chúng tôi vốn không ôm lòng oán thù, nhưng ông đâu nên đến đây. Thày tôi đã nhiều lần hiện về nói: “Thiên đế sẽ bắt ông và giết tại chùa này. Đây hẳn là linh nghiệm.
Nghe vậy, Lưu Nghị than thở, ra ngọn đồi sau chùa, leo lên cây lớn, tự thắt cổ mà chết.
84.4.3.2. Gội đầu bằng lòng trắng trứng gà: Đời Lương, có người thường lấy lòng trắng trứng gà gội đầu để cho tóc bóng mướt. Mỗi lần gội đầu, người ây đập hai mươi đến ba mươi quả trứng. Lúc sắp chết, người ấy cứ nghe trong tóc có tiếng chiếp chiếp của mấy nghìn gà con.
84.4.3.3. Người làm nghề bán lươn: Đời Lương, có người họ Lưu ở Giang Lăng, làm nghề bán lươn. Sau, người ấy sinh một đứa bé, đầu lươn, thân người.
84.4.3.4. Đời Lương, Vương Khắc: Khắc làm quận thú Vĩnh Gia, có người đem dê đến biếu, ông nhóm khách làm tiệc chiêu đãi. Khi được mở dây, dê chạy đến một vị khách, quì xuống trước mặt, cúi lạy xin cứu mạng, rồi nấp vào trong áo. Người khách này chẳng nói gì, cố ý không xin cho dê. Chốc lát, chủ nhà giết dê đem nướng, đầu tiên đem đến mời vị khách này. Khách vừa đưa một miếng vào miệng thì liền rơi xuống người, chạy khắp toàn thân. Ông ta đau đớn, kêu gào, mới kể lại sự việc, rồi kêu lên tiếng của loài dê mà chết.
84.4.3.5. Đời Lương, một huyện lệnh: Khi Lưu Kính Cung nổi loạn, đốt cháy công đường của một huyện nọ, huyện lệnh ấy tá túc trong chùa. Người dân thường đem trâu và rượu đến biếu, huyện lệnh trói trâu vào cột chùa, dẹp bỏ tượng Phật, bày biện bàn ghế nơi chính điện để tiếp khách. Lúc mở để đem đi giết, trâu chạy thoát đến bậc thềm xin tha mạng. Huyện lệnh cười to, bảo lính hầu giết trâu, ăn uống no say, ngã nằm lăn giữa hiên nhà. Lúc tỉnh rượu, ông ta cảm thấy mình mẩy ngứa ngáy, khó chịu, lấy tay gãi thì thành mụt nhọt. Chẳng bao lâu, ông bị bệnh nặng, hơn mười ngày thì chết.
84.4.3.6. Đời Lương, tên lính chặt tay kẻ trộm: Dương Tư Đạt làm ở quận thú Tây Dương. Gặp lúc Hầu Cảnh nổi loạn, lại mất mùa, hạn hán, người dân đói khát, trộm lúa ngoài đồng ruộng, Tư Đạt sai một tên lính dưới quyền canh giữ, hễ bắt được kẻ trộm thì chặt cổ tay, đã hơn mười người bị như thế. Sau, tên lính ấy sinh một bé trai, tự nhiên không có tay.
84.4.3.7. Đời Tề, viên quan tự tay giết trâu: Có một viên quan Phụng triều thỉnh, sống rất xa hoa, hoang phí, nếu không tự tay giết trâu thì ăn không ngon. Khoảng năm ba mươi tuổi, ông bị bệnh nặng, thấy bên mình toàn là trâu, toàn thân như bị dao cắt, kêu la thống thiết rồi chết.
84.4.3.8. Đời Tề, Cao Vĩ: ông ở Giang Lăng, theo người Ngô sang nước Tề, khoảng mấy năm thì đến u châu, thường đánh bắt cá ở chỗ cạn. Sau, ông bị bệnh, thường thấy đàn cá đến cắn mổ mà chết.
84.4.3.9. Đời Đường, Ân An Nhân: An Nhân ở Kinh Triệu, gia đình giàu có, thường cúng dường các vị tăng ở chùa Từ Môn.
Vào niên hiệu Nghĩa Ninh thứ nhất (617), có vị khách đến ngủ nhờ nhà An Nhân. Đêm ấy, khách bắt trộm con lừa của người khác, đem về giết và bỏ da ở nhà An Nhân.
Đến niên hiệu Trinh Quán thứ ba (629), An Nhân gặp một người đang đi trên đường. Vị ấy nói với An Nhân:
- Người bắt ông ngày mai sẽ đến. ông sẽ chết!

Phần 5

Nghe vậy, An Nhân sợ hãi, đến chùa Từ Môn, ngồi trong điện Phật, suốt đêm không ra ngoài.
Hôm sau, quả nhiên có ba tên lính cưỡi ngựa và mấy mươi bộ binh cầm binh khí, gậy gộc xông vào chùa. Từ xa nhìn thấy An Nhân, chúng gọi An Nhân ra, nhưng An Nhân không trả lời, càng dốc lòng tụng niệm.
Bọn họ bảo nhau:
- Hôm qua không bắt ngay, hôm nay ông ấy tu phúc như thế thì làm sao bắt được!
Nhân đó, bọn họ bỏ đi, chỉ để lại một tên lính để canh giữ. Lính canh giữ bảo An Nhân:
- Ngày trươc, ông giết lừa, nay nó tố ông, quan sai chúng tôi đến bắt ông. Cuối cùng thì ông phải đối chất với nó, nếu ông không đi thì bất lợi.
An Nhân từ xa trả lời:
- Hôm ấy, người khác bắt trộm và giết lừa, chỉ cho tôi tấm da. vốn chẳng phải tôi giết, sao lại bắt tôi? Nhờ ông trở về nói với lừa giúp tôi: “Tôi vốn không giết ngươi, nhưng nay sẽ làm phúc hồi hướng cho ngươi, ngươi sẽ có lợi ích. Mong ngươi tha mạng cho tôi”.
Tên lính nhận lời và nói:
- Nếu lừa không bằng lòng thì ngày mai tôi trở lại, còn nó chấp nhận thì tôi không đến.
Nói xong, tên lính đi về, ngày mai cũng chẳng đến. Từ đó, An Nhân làm phúc hồi hướng cho lừa, cả nhà đều giữ giới và ăn chay.
84.4.3.10. Đời Đường, đô đốc Tán công Đậu Quĩ: Đậu Quĩ có tính hiếu sát. Lúc đầu, ông nhậm chức Hành đài bộc xạ ở ích châu, giết nhiều tướng sĩ, lại giết cả quan Hành đài thượng thư Vi Vân Khởi. Mùa đông niên hiệu Trinh Quán thứ hai (628), khi ở Lạc châu, ông bị bệnh rất nặng, bỗng nói:
- Có người đem dưa đến biếu ta.
Lính hầu đáp:
- Mùa đông làm gì có dưa!
Ông nói:
- Một mâm dưa ngon, sao nói không có?
Một lát sau, ông nhìn một cách sợ hãi và nói:
- Chẳng phải dưa mà toàn là đầu người, theo ta đòi mạng.
Ông lại nói:
- Hãy đỡ ta dậy! Ta thấy Vi thượng thư đến!
Nói xong, ông qua đời.
84.4.3.11. Đời Đường, Phan Quả: Lúc chưa được hai mươi tuổi, nhằm niên hiệu Vũ Đức (618-626), ông làm một chức quan nhỏ ở Đô Thủy.
Khi trở về nhà, ông cùng vài người trẻ tuổi ra ruộng dạo chơi, đi qua khu mộ, thấy một con dê lạc đàn, đứng ăn cỏ một mình. Nhân đó, ông cùng bọn trẻ bắt lấy, dẫn về nhà. Giữa đường, dê kêu la, Quả sợ chủ nghe, liền cắt lưỡi dê. Đêm đó, Quả giết dê, ăn thịt.
Khoảng một năm sau, lưỡi của Quả teọ dần, rồi tiêu hết. Quả viết đơn xin từ quan, Huyện lệnh Phú Bình là Trịnh Dư Khánh nghi Quả dối trá, bắt mở miệng để kiểm chứng, mới thấy hoàn toàn không có lưỡi, cuống lưỡi chỉ còn bằng hạt đậu, chứ không tiêu hết. Quan hỏi nguyên do, Quả lấy giấy viết để trả lời đúng như sự việc. Ngay đó, quan khuyên Quả làm phúc, chép kinh Pháp hoa v.v... để hồi hướng cho dê.
Từ đó, Quả hết lòng kính tin, ăn chay, giữ giới miên mật và làm phúc để hồi hướng cho dê. Sau, trải qua một năm, lưỡi dần dần bình phục như cũ, Quả lên quan trình bày, quan huyện cho Quả làm lí chính.
Niên hiệu Trinh Quán thứ mười tám (644), Dư Khánh giữ chức Giám sát ngự sử đã kể cho Lâm nghe như vậy.
84.4.3.12. Đời Đường, Hạ Duyệt: Vào niên hiệu Vũ Đức (618-626), đời Đường, có người ở Đại Ninh, Thấp châu tên là Hạ Duyệt Vĩnh Hưng. Vì trâu của người hàng xóm giẫm đạp lúa mạ của ông, nên ông lấy dây siết đứt lưỡi trâu. Sau, Vĩnh Hưng sinh ba người con đều câm ngọng, không nói được.
84.4.3.13. Đời Đường, Quả nghị Hiếu Chính: Vào niên hiệu Trinh Quán (627-649), đời Đường, Lục Hiếu Chính ở Ưng châu làm Tả quả nghị cho Hữu vệ Thấp Xuyên phủ. Hiếu Chính tính nóng nảy, nên thường giết hại người vật.
Trước đây, trong phủ có một tổ ong mật, chúng thường bay đến tụ tập trên cây phía nam nhà Hiếu Chính. Lúc ấy, Hiếu Chính sai người dời chúng sang chỗ khác. Bầy ong chưa kịp bay đi, Hiếu Chính đã nổi giận, nấu một nồi nước sôi, đến rưới lên bầy ong, làm chúng chết hết, không con nào sống sót.
Đến tháng năm năm sau, một hôm, Hiếu Chính đang ngủ trưa ở công đường, chợt có một con ong chích trên lưỡi khiến lưỡi sưng lớn bít cả miệng, vài ngày thì chết.
84.4.3.14. Đời Đường, bị oan gia giết hại: Vào niên hiệu Trinh Quán (627-649), Lí Nghĩa Diễm ở Lũng Tây làm huyện úy ở Hoa châu. Ngày nọ, tại huyện này bỗng mất tích một người, không biết ở đâu. Cha và anh của người ấy nghi bị kẻ oan gia giết hại, liền trình lên huyện. Nghĩa Diễm tra xét vụ án, nhưng không giải quyết được.
Ban đêm, Nghĩa Diễm thắp đèn tra xét cặn kẽ. Một đêm nọ, Nghĩa Diễm đang gục đầu trên bàn, mông thấy người chết còn mang thân bị thương đến nói: “Tôi tên đó, họ đó, bị đánh chết, bỏ vào trong giếng chỗ đó. Xin ông mau đến vớt lên, nếu không sợ bị dơi đi nơi khác, chẳng thể tìm được’ Lập tức, Nghĩa Diễm đích thân đến tìm, quả đúng như lời vừa kể. Sau đó ông tra xét% bằng chứng rõ ràng, kẻ giết người mới chịu phục. Bấy giờ, ai nghe cũng kinh sợ.
84.4.3.15. Đời Đường, Tề Sĩ Vọng: Niên hiệu Trinh Quán thứ hai mươi mốt (637), Tề Sĩ Vọng người Vũ Cường, Ngụy châu qua đời, bảy ngày sau thì sống lại, tự kể:
Lúc mới chết, tôi bị dẫn đến gặp Diêm vương. Vương giao cho Phán quan sai người tra xét. Qua bốn năm ngày kiểm tra sổ sách, quan chủ bạ nói:
- Người này đúng với tên họ của người chết, nhưng chưa đúng lúc chết.
Phán quan bảo tôi:
- Lúc còn sống, ông thích nướng gà con, nay phải chịu tội mới được trở về.
Phán quan sai người đưa tôi ra khỏi cửa, dẫn đến một nơi cách công đường một hai dặm thì thấy một tòa thành. Nghe trong thành có tiếng trống kèn, tôi vui mừng chạy nhanh đến, vừa vào thi cửa thành đóng lại.
Trong thành không có nhà cửa, khắp mặt đất toàn là tro nóng, nên chân bị cháy bỏng, đau đớn vô cùng, tôi hốt hoảng không biết tính sao. Nhìn quanh bốn phía, bỗng nhiên tôi thấy cửa thành đều mở, nhưng chạy đến thì cửa liền đóng.
Trải qua một ngày, có người bảo người giữ cửa:
- Hãy mở cửa, thả tội nhân tối hôm qua ra.
Tôi ra khỏi cửa, họ sai người đưa tôi về. Sứ giả từ chối dẫn vì cho đường xa, chần chừ không muốn đưa đi, lại xin tôi tiền và lụa. Tôi bằng lòng.
Thế là sứ giả dẫn tôi đi qua những vùng sông nước bùn lầy, giẫm đạp gai góc, đến một nơi dường như có tường bao quanh, bên trong có hố sâu thăm thảm. Thấy vậy, tôi sợ hãi, sứ giả đẩy tôi rớt xuống hố, không ngờ dần dần sống lại. ít lâu sau, tôi làm tiền giấy để biếu sứ giả. Đúng kì hẹn, sứ giả đến lấy. Vợ tôi cũng thấy như vậy”.
84.4.3.16. Đời Đường, Phong Nguyên Tắc: Vào niên hiệu Hiển Khánh (656-660), Phong Nguyên Tắc người Trường Hà, Bột Hải, làm Thái quan ở Quang lộc tự, trồng coi việc ăn uống cho vua.
Bấy giờ, có vua nước Vu-điền đến triệu, đãi tiệc xong, số dê dư đến mấy trăm con. Vua bảo Nguyên Tắc đem dê đến chùa thả nuôi tự do, Nguyên Tắc lại bắt giao cho đồ tể làm thịt, rồi lấy số tiền ấy.
Tháng sáu mùa hạ niên hiệu Long Sóc thứ nhất (661), ở Lạc Dưong mưa to sấm sét, thình lình đánh đứt cổ Nguyên Tắc ngay giữa đại lộ ngoài cửa Tuyên Nhân, máu chảy khắp đất. Người đến xem đầy đường, ai nấy đều kinh hãi.
84.4.3.17. Đời Đường, người giết dê: Vào niên hiệu Hiển Khánh (656-660), có gia đình ở trong ngôi nhà bên con đường phía tây thành Trường An. Người vợ sinh được một bé trai đầu lòng.
Ngày đứa bé đầy tháng, họ hàng và láng giềng đến chúc mừng, người nhà mua được một con dê, lúc sắp giết, dê nhiều lần quì lạy xin đồ tể tha mạng. Đồ tể kể lại cho người nhà nghe, lớn nhỏ đều không tin, nên giết dê, bỏ thịt vào nồi nấu, những người khác thì tính toán thêm hành, tỏi để làm bánh ăn. Họ bảo sản phụ bế đứa bé đến xem nấu thịt, người mẹ bế đứa bé ngồi trước bếp lửa. Cái nồi rất lớn và chắc chắn tự nhiên vỡ ra, nước sôi trong nồi đổ xuống, làm tung tro than bắn thẳng vào hai mẹ con, khiến cả hai đều chết. Họ hàng và láng giềng ai thấy cũng kinh hãi. Bấy giờ họ mới tin thật có báo ứng. Như thế há không thận trọng ư?
Nghe việc này, những người trong xóm ấy bỏ hẳn rượu, thịt, không ăn các thức cay nồng.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục