Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 72 - CHƯƠNG BỐN LOÀI VÀ MƯỜI KẾT SỬ

15/12/2015

QUYỂN 72 Quyển này gồm hai chương; Bốn loài và Mười kết sử. 82. CHƯƠNG BỐN LOÀI 82.1. LỜI DẪN Làm điều thiện thì cảm quả vui, gần thì sinh về cõi trời, cõi người, xa thì thành tựu quả Phật. Tạo điều ác thì chịu quả khổ,...

PUCL QUYỂN 72 - CHƯƠNG BỐN LOÀI VÀ MƯỜI KẾT SỬ
Phần 1

QUYỂN 72
Quyển này gồm hai chương; Bốn loài và Mười kết sử.
82. CHƯƠNG BỐN LOÀI

82.1. LỜI DẪN
Làm điều thiện thì cảm quả vui, gần thì sinh về cõi trời, cõi người, xa thì thành tựu quả Phật. Tạo điều ác thì chịu quả khổ, gần thì rơi vào ba đường ác, xa thì trái với Thánh đạo. Kẻ ngu không tin, nhưng người trí nên biết rõ. Cho nên, có bốn loài chẳng đồng thân tướng, sáu cõi sai biệt hình hài, âm dương cách nẻo, lên xuống khác đường. Đạo lí nghiệp duyên đã rõ ràng, báo ứng nhân quả không biến đổi.
82.2. GIẢI THÍCH TÊN GỌI
Như kinh Bát-nhã ghi: “Bốn hình thái sinh: noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh”.
Kinh Giải thập nhị nhân duyên trong A-hàm ghi: “Có bốn hình thái sinh: một là thai sinh, tức sinh ra từ bụng, như loài người và súc sinh; hai là thấp sinh, tức do nóng lạnh hòa hợp mà sinh, như sâu bọ, chấy rận; ba là hóa sinh, tức do biến hóa mà sinh, như trời và địa ngục; bốn là noãn sinh, tức sinh ra từ trứng, như chim, cá, ba ba”.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Có nhiều loài súc sinh, nay lược nêu ba loại: một là loài sống dưới nước, như cá v.v...; hai là loài đi trên mặt đất, như voi v.v...; ba là loài bay trên hư không, như chim v.v... hoặc với thiên nhãn thấy các loài súc sinh có bốn hình thái sinh: một là thai sinh, như các loài voi, ngựa, trâu, dê; hai là noãn sinh, như các loài rắn, ngỗng, vịt, gà, chim trĩ; ba là thấp sinh, như các loài chấy rận, bọ chét; bốn là hóa sinh, như loài rồng mặt dài v.v.„”.
Cho nên, kinh ghi: “Sinh là các căn mới được sinh khởi, chết là các thụ căn hoại diệt”.
Luận Thiện kiến ghi: “Một là sinh ra từ sắc; hai là sinh ra từ vô sắc. Sinh ra từ sắc thì bị hoại diệt, sinh ra từ vô sắc thì không hoại diệt. Sinh ra từ vô sắc thì nương vào sắc mà sinh, sắc và tâm nương nhau tạo thành một mệnh, giả gọi là sinh. Khi sắc tâm trước không cảm nhận sắc tâm sau, sắc tâm sau không kế tục sắc tâm trước thì gọi là chết”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Phật tính của chúng sinh ở trong thân năm ấm. Nếu hủy hoại thân năm ấm thì gọi là sát sinh, đã sát sinh thì bị rơi vào đường ác”.
Căn cứ vào sự sống chết này nên có bốn hình thái sinh: sinh ra từ trứng gọi là noãn sinh, từ nơi ẩn tàng mà sinh gọi là thai sinh, do ẩm thấp mà sinh gọi là thấp sinh, bỗng nhiên xuất hiện gọi là hóa sinh. Bốn loài này bao gồm tất cả chúng sinh.
82.3. SỰ PHỐI THUỘC GIỮA BỐN LOÀI VÀ SÁU ĐƯỜNG
Luận Bà-sa ghi: “Trong cõi Dục này gồm cả sáu đường, cõi Sắc và Vô sắc chỉ có chư thiên. Sở đĩ có sự khác biệt như vậy là vì cõi Dục là nơi hỗn loạn, chúng sinh làm nhiều điều ác, tạo nghiệp không giống nhau, hoặc thiện hoặc ác. Vì tạo nghiệp không giống nhau, chúng sinh theo nghiệp mà thụ quả báo, nên có nhiều đường sai khác. Hai cõi sắc và Vô sắc là nơi tu định, chúng sinh thanh tịnh, khởi nghiệp cũng giống nhau, nên không có nhiều đường sai khác”.
Hỏi: Bốn loài và sáu đường phối thuộc nhau như thế nào?
Đáp: LuậnA-tì-đàm ghi: “Trời và địa ngục toàn là hóa sinh, ngạ quỉ có thai sinh và hóa sinh. Loài người và sức sinh đều có đủ bốn hình thái sinh”.
Cho nên, trong luận có câu: Sinh gồm thâu cõi hay cõi gồm thâu sinh?
Đáp:
Sinh gồm thâu các cõi
Chẳng phải cõi thâu sinh
Như sinh vào trung ấm
Chẳng thuộc vào đường nào.
Cho nên biết, phạm vi của hình thái sinh thì rộng mà phạm vi của cõi thì hẹp. Vì loài hóa sinh rộng nêngồm cả hai cõi trời, địa ngục và một phần của ba cõi người, ngạ quỉ, súc sinh. Địa ngục thì toàn là hóa sinh.
Hỏi: Chư thiên ở sáu tầng trời cõi Dục hành dâm giống như loài người, tại sao không có thai sinh?
Đáp: Ái dục tuy giống nhau, nhưng hành ví khác nhau. Cho nên, kinh Lâu thán và kinh Chính pháp niệm đều ghi: “Chúng sinh ở hai cõi trời Tứ Vương và Đao-lợi khi hành dâm thì thân thể nam nữ giao phối giống với loài người, nhưng không xuất tinh như loài người. Bốn cõi trời trên thì hoàn toàn khác. Chúng sinh ở cõi trời Diệm-ma chỉ khởi ý vui vẻ, ôm nhau, hoặc nắm tay là thành việc dâm, không cần giao phối. Chúng sinh ở cõi trời Đâu-suất chỉ khởi ý vui vẻ, nói cười là thành việc dâm, không cần ôm nhau. Chúng sinh ở cõi trời Hóa Lạc chỉ nhìn nhau là thành, không cần nói cười. Chúng sinh ở cõi trời Tha Hóa chỉ nghe tiếng nói, hoặc ngửi mùi hương là thành việc dâm, khồng cần nhìn nhau. Cho nên, hình thái sinh ở cõi trời khác với cõi người và được hóa sinh từ đầu gối của người mẹ.
Sự hóa sinh ở ngạ quỉ có thể tự biết. Nhưng thai sinh của loài này thì hơi khó thấy, như kinh Quán Âm ghi: “Xưa, trong thành Vương Xá, có một cô gái bị dính tinh của loài quỉ, nên sinh ra năm trăm quỉ con”.
Luận Câu-xá ghi: “Có một con quỉ nói với tôn giả Mục-kiền-liên: ‘Ban ngày, tôi sinh năm đứa con ban đêm cũng sinh năm đứa. Hễ sinh đứa nào tôi ăn hết đứa đó mà vẫn không no”’. Đây là minh chứng có loài quỉ thai sinh.
Loài a-tu-la cũng có hóa sinh và thai sinh, vì có sự giao phối nên có thai sinh. Vào kiếp sơ, a-tu-la từ trời sinh ra, tức là hóa sinh. Lại nữa, theo kinh Quán Phật tam-muội, nguồn gốc của a-tu-la nữ vốn sinh ra từ trứng bùn dưới biển lớn và từ nơi ẩm ướt, tức là noãn sinh và thấp sinh. Như vậy, loài a-tu-la cũng đủ bốn hình thái sinh.
Loài người có đủ bốn hình thái sinh. Thai sinh thấy rõ ràng nên dễ biết, về noãn sinh, như kinh Niết-bàn ghi: “Như Tì-xá-khư mẫu sinh ra một cái trứng thịt, quả trứng ấy lại sinh ra ba mươi hai trứng”.
Như luận Tì-bà-sa ghi:
Hỏi: Tại sao biết trong loài người có noãn sinh?
Đáp: Như Đức Phật dạy: “Cõi Diêm-phù-lợi này thường có thương nhân vào biển để tìm châu báu. Một thương nhân nọ bắt được hai con chim hạc, đem về tùy ý dạy dỗ. Sau đó, chết một con. ông ta vui đùa với con còn lại, ngủ chung một phòng và giao phối với nó. Một thời gian, chim hạc đẻ ra hai trứng, ấp nở ra hai đồng tử. Sau lớn lên, hai đồng tử đều xuất gia học đạo, đắc quả A-la-hán, một vị tên là Thi-bà-la, một vị tên là Ưu-bát Thi-bà-la,”,
Hỏi: Tại sao biết trong loài người có thấp sinh?
Đáp: Như kinh ghi: “Có vua Đỉnh Sinh, tôn giả Già-la, tôn giả Ưu-bà-già-la, Lê nữ và Nại nữ v.v...” là những người thuộc thấp sinh.
Hỏi: Tại sao biết trong loài người có hóa sinh?
Đáp: Như loài người vào thời kiếp sơ và những vị đã chứng Thánh pháp thì không còn hình thái noãn sinh và thấp sinh.
Hỏi: Tại sao không còn noãn sinh và thấp sinh?
Đáp: Vì noãn sinh và thấp sinh là hình thái sinh của loài súc sinh.
Súc sinh có đủ bốn hình thái sinh. Trong đó, thai sinh, noãn sinh và thấp sinh có thể nhận biết. Còn hoá sinh, theo kinh Lâu thản ghi: “Như bốn loài kim sí điểu (noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh) ăn thịt bốn loài rồng (noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh). Kim sí điểu hóa sinh ăn cả bốn loài rồng, kim sí điểu thai sinh ăn ba loài rồng (trừ hóa sinh), kim sí điểu noãn sinh ăn hai loài rồng (trừ hóa sinh và thai sinh), kim sí điểu thấp sinh ăn một loài rồng thấp sinh (trừ hóa sinh, noãn sinh và thai sinh)
Kinh Khởi thế ghi: “Ở phía bắc biển lớn, vì có rồng chúa và tất cả kim sí điểu chúa, nên mọc lên một cây lớn tên là cư-trá-xa-ma-li (Hán dịch là lộc tụ). Chu vi của gốc cây ấy là bảy do-tuần, rễ ăn sâu xuống đất hai do-tuần, thân cao một trăm do-tuần, cành lá trải khắp năm mươi do-tuần. Phía đông cây ấy có rồng noãn sinh và kim sí điểu noãn sinh. Phía nam cây ấy có rồng thai sinh và kim sí điểu thai sinh. Phía tây cây ấy có rồng thấp sinh và kim sí điểu thấp sinh. Phía bắccây ấy có rồng hóa sinh và kim sí điểu hóa sinh. Bốn nơi này đều có cung điện, diện tích sáu trăm do-tuần, có bảy lớp tường, bảy báu trang nghiêm, hương thơm xông khắp và nhiều loài chim ca hót.
Lại nữa, kim sí điểu noãn sinh chúa nếu muốn bắt rồng noãn sinh thì bay đến đậu trên cành phía đông cây lớn cư-trá-xa-ma-li. Nhìn nước biển lớn xong, nó đáp xuống, dùng đôi cánh quạt nước biển, khiến nước tự nhiên rẽ ra hai trăm do-tuần.
Phần 2

Những rồng noãn sinh ở trong phạm vi ấy sẽ bị nó bắt đem ra khỏi biển, rồi mặc tình ăn thịt. Kim sí điểu noãn sinh chúa chỉ bắt được rồng noãn sinh, chứ không bắt được rồng thai sinh, thấp sinh và hóa sinh.
Lại nữa, kim sí điểu thai sinh chúa nếu muốn bắt rồng noãn sinh thì trở lại vùng biển phía đông cây ấy để bắt, nếu muốn bắt rồng thai sinh thì bay đến vùng biển phía nam cây ấy để bắt, rẽ nước bốn trăm do-tuần. Kim sí điểu thai sinh chúa chỉ bắt được rồng thai sinh và noãn sinh, không bắt được rồng thấp sinh và hóa sinh.
Lai nữa, kim sí điểu thấp sinh chúa nếu muốn bắt rồng noãn sinh thì trở lại vùng biển phía đông cây ấy để bắt, nếu muốn bắt rồng thai sinh thì bay đến vùng biển phía nam cây ấy để bắt, rẽ nước bốn trăm do-tuần, nếu muốn bắt rồng thấp sinh thì bay đến vùng biển phía tây cây ấy để bắt, rẽ nước tám trăm do-tuần. Kim sí điểu thấp sinh chúa chỉ bắt được rồng noãn sinh, thai sinh và thấp sinh, không bắt được rồng hóa sinh.
Lại nữa, kim sí điểu hóa sinh chúa nếu muốn bắt rồng noãn sinh thì bay đến vùng biển phía đông cây ấy để bắt, nếu muốn bắt rồng thai sinh thì bay đến vùng biển phía nam cây ấy để bắt, nếu muốn bắt rồng thấp sinh thì bay đến vùng biển phía tây cây ấy để bắt, nếu muốn bắt rồng hóa sinh thi bay đến vùng biển phía bắc cây ấy, rẽ nước một nghìn sáu trăm do-tuần để bắt.
Các loài rồng đều là thức ăn của kim Sí điểu chúa”.
Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Đức Phật dạy:
- Trong cõi Diêm-phù đề và bốn thiên hạ, có loài kim sí điểu Ca-lâu-la là loài dũng mãnh trong các loài chim. Nghiệp báo của loài chim này là phải ăn các loài rồng. Ngày thứ nhất ở cõi Diêm-phù-đề, nó ăn một con rồng chúa và năm trăm rồng con, ngày thứ hai đến cõi Phất-bà đề, ngày thứ ba đến cõi Cù-da-ni, ngày thứ tư đến cõi Uất-đơn-việt, mỗi nơi đều ăn một con rồng chúa và năm trăm rồng con. Xoay vần như thế rồi trở lại ban đầu. Trải qua tám nghìn năm thì tướng chết chim này hiện rõ. Bấy giờ, các loài rồng nhả độc để nó không thể ăn được. Loài chim kia bị đói bức bách, hoảng hốt đi tìm thức ăn, bay khắp các vùng núi, vẫn không thể nào tìm được thức ăn. Chúng bay đến núi Kim Cương rồi dừng lại. Từ núi KimCương, chúng bay thẳng xuống Đại thủy tế, từ Đai thủy tế bay đến Phong luân tế thì bị gió thổi bay trở lại núi Kim Cương. Lên xuống bảy lần như thế rồi chết.
Sau khi nó chết, do phun ra nọc độc khiến núi Thập Bảo đồng thời bùng cháy. Bấy giờ, rồng chúa Nan-đà sợ núi này bị thiêu rụi, liền xối mưa lớn như trút nước, làm cho thịt chim rã nát, chỉ còn quả tim. Quả tim này lại bay lên xuống bảy lần như thế. Sau đó, quả tim dừng ở trên đỉnh núi Kim Cương. Rồng chúa Nan-đà lấy quả tim của chim này làm hạt minh châu. Chuyển luân vương có được hạt châu này, cho là châu như ý”.
Kinh Lâu thán ghi: “Các rồng chúa trong bốn thiên hạ đều bị ba thứ nóng thiêu đốt, chỉ trừ rồng chúa A-nậu-đạt. Một là các rồng chúa khác bị mưa cát nóng tấp vào thân, thiêu đốt rất đau đớn; hai là các rồng chúa khác hiện tướng dâm thì bị gió nóng thổi đến thiêu đốt thân thể, hủy hoại nhan sắc, biến thành thân rắn, nên sợ hãi; ba là các rồng chúa khác bị kim sí điểu ăn thịt, nên rất sợ hãi”.
Luật Thiện kiến ghi: “Đức Phật dạy: Loài rồng có năm trường hợp không thể lìa được thân rồng. Một là khi hành dâm, nếu rồng hành dâm với rồng thì vẫn trở lại thân rồng, nếu rồng hành dâm với người thì không thể khôi phục thân rồng; hai là lúc đầu thai; ba là khi thay da; bốn là khi ngủ; năm là khi chết, đều không thể lìa được thân rồng”.
Hỏi: Bốn loại thức ăn và sáu đường phối thuộc nhau như thế nào?
Đáp: Luận Tì-đàm ghi: “Nói chung, trong sáu đường đều có bốn loạỉ thức ăn, nhưng tính chất rộng hẹp khác nhau. Như trong địa ngục có đoàn thực là hòn sắt nóng và nước đồng sôi, tuy làm đau đớn hơn nhưng dứt được cơn đói khát, nên gọi là đoàn thực. Lại như trong địa ngục Khinh hệ, có hai ngọn gió nóng và lạnh lần lượt thổi vào người tội, cũng gọi là đoàn thực. Riêng hai cõi sắc và Vô sắc không có đoàn thực, vì thân chúng sinh ở đó rất nhẹ nhàng. Cho nên, trong luận có bài kệ:
Bốn thức ăn ở Dục
Cả bốn loài, sáu nẻo
Sắc, Vô Sắc ba thức
Chỉ không có đoàn thực
Hỏi: Chưa rõ chúng sinh trong sáu đường ăn những gì để tăng trưởng?
Đáp: Luận Tì-đàm ghi: “Chúng sinh trong sáu đường thì toàn bộ loài ngạ quỉ, loài noãn sinh và chư thiên thuộc ba tầng trời dưới của cõi Vô sắc là Không Vô Biên, Thức Vô Biên, Vô Sở Hữu đều nhờ tư thực mà tăng trưởng. Vì sao? Vì chúng sinh trong loài ngạ quỉ phần lớn sống bằng ý hành. Chúng sinh thuộc noãn sinh khi còn ở trong trứng nhờ nghĩ đến mẹ, nên trứng không bị hư. Chư thiên thuộc ba tầng trời dưới của cõi Vô sắc phần lớn sống bằng ý hành, tư duy, nên đều nhờ tư thực mà tăng trưởng.
Lại nữa, loài người và chư thiên sáu tầng trời cõi Dục đều nhờ đoàn thực mà tăng trưởng. Vì sao? Vì chúng sinh trong hai cõi này phải nhờ vào thức ăn để duy trì thân mạng.
Còn toàn bộ chúng sinh ở địa ngục và cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ đều nhờ thức thực đê tăng trưởng. Vì sao? Vì chúng sinh trong địa ngục nhờthức để duy trì danh (tâm) và sác (thân); chúng sinh cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ nhờ thức để duy trì danh (tâm).
Lại nữa, chúng sinh ở cõi sắc và loài thấp sinh đều nhờ xúc thực mà tăng trưởng. Vì sao? Vì chúng sinh ở cõi Sắc cảm thụ niềm vui nhờ tu tập thiền định để duy trì thân mạng. Chúng sinh thuộc loài thấp sinh nhờ tiếp xúc với sự ẩm ướt để duy trì thân mạng”. 82.4. THỤ SINH
Luận Tần bà-sa ghi: “Thân trung ấm có nhiều tên gọi: trung hữu, kiền-đạt-phược, cầu hữu, ý thành.
Hỏi: Vì sao gọi thân trung ấm là trung hữu?
Đáp: Vì thân này tồn tại trong thời gian sau tử hữu và trước sinh hữu, tức tự thể phát sinh trong thời gian giữa tử hữu và sinh hữu.
Hỏi: Vì sao gọi thân trung ấm là kiền-đạt-phược?
Đáp: Vì thân này ngửi hương để tồn tại. Danh từ này chỉ dùng để gọi thân trung ấm ở cõi Dục.
Hỏi: Vì sao gọi thân trung ấm là cầu hữu?
Đáp: Vì mong cầu thụ sinh trong sáu đường.
Hỏi: Vì sao gọi thân trung ấm là ý thành?
Đáp: Vì do ý sinh ra, nghĩa là các loài hữu tình, có loài do ý sinh ra, có loài do nghiệp sinh ra, có loài do dị thục (xưa gọi là quả báo) sinh ra, có loài do sựdâm dục sinh ra. Loài do ý sinh là loài người vào kiếp Sơ, thân trung hữu, thân biến hóa của chúng sinh ở cõi Sắc, Vô sắc. Loài do nghiệp sinh ra là chúng sinh trong các địa ngục.
Như khế kinh ghi: “Loài hữu tình ở trong địa ngục do nghiệp trói buộc nên không thể thoát khỏi, đó là do nghiệp sinh ra, không phải do ý thích sinh ra. Loài do dị thục sinh là các loài chim, quỉ thần v.v... Đó là do năng lực quả báo dị thục của các loài ấy nhẹ nhàng và mạnh mẽ, nên có khả năng bay trên hư không, hoặc xuyên qua tường vách mà không bị chướng ngại. Loài do dâm dục sinh là chư thiên trong sáu tầng trời cõi Dục và loài người v.v... Các thân trung hữu vì do ý sinh ra, tùy theo ý mà hành động, nên gọi là ý thành (xưa gọi là trung ấm)"
Lại nữa, luận Bà-sa ghi:
Hỏi: Thân trung ấm có đủ các căn không?
Đáp: Tất cả thân trung ấm đều có đủ các căn vì vừa thụ quả báo dị thục hẳn đã trọn vẹn. Có thuyết cho rằng, không đầy đủ các căn. Như con dấu đóng vào vật thì hình ảnh hiện ra; từ thân trung ấm đến bản hữu cũng như vậy, chẳng hạn khi ở giai đoạn bản hữu có loài không đầy đủ các căn”.
Trong hai thuyết này, thuyết thứ nhất thì hợp lí, nghĩa là thân trung ấm tồn tại trong sáu đường, vì cầuthụ sinh khắp các nẻo nên các căn không thiếu sót. Các căn ở đây là mắt v.v..., chứ chẳng phải nam căn, nữ căn. Thân trung ấm ở cõi sắc thì không có nam căn, nữ căn, còn thân trung ấm ở cõi Dục thì không nhất định là nam căn hay nữ căn.
Thân trung ấm của những loài sắp thụ sinh bằng hình thức noãn sinh và thai sinh thì có nam căn, nữ căn, nhưng khi mới đầu thai thì chưa đầy đủ. Nếu không như vậy thì không đúng với nghĩa thụ sinh bằng hình thức noãn sinh và thai sinh.
Hỏi: Tướng đi của thân trung ấm trong các đường như thế nào?
Đáp: Thân trung ấm ở địa ngục thì đầu hướng xuống, chân hướng lên để đi vào địa ngục. Cho nên, có bài kệ:

Phần 3

Rơi vào trong địa ngục
Chân lên, đầu hướng xuống
Do hủy báng chư tiên
Bậc tịnh tu khổ hạnh.
Thân trung ấm ở các cõi trời, chân hướng xuống, đầu hướng lên đi thẳng vào cõi trời, cũng như người giương cung bắn tên vào không trung thì mũi tên bay thẳng lên. Thân trung ấm trong các đường còn lại đều đi ngang, như chim bay ngang trong không trung hướng về tổ của nó; lại như các vị tiên bay được vẽ trên bức vách, toàn thân bay ngang tìm nơi để thụ sinh.
Hỏi: Hết thảy thân trung ấm đều có tướng đi như thế hay sao?
Đáp: Không hẳn đều như thế! Căn cứ vào lúc con người chết, nếu chúng sinh ở địa ngục chết mà sinh lại địa ngục thì không hẳn đầu hướng xuống, chân hướng lên mà đi. Nếu chúng sinh ở cõi trời chết mà sinh lại cõi trời thì không hẳn chân hướng xuống, đầu hướng lên mà đi. Nếu chúng sinh ở địa ngục chết mà sinh vào cõi người thì đầu hướng lên. Nếu chúng sinh ở cõi trời chết mà sinh vào cõi người thì đầu hướng xuống. Thân trung ấm của loài ngạ quỉ và súc sinh tùy theo nơi thụ sinh mà biết được tướng đi của chúng.
Hỏi: Thân trung ấm có mặc y phục không?
Đáp: Tất cả thân trung ấm ở cõi sắc đều mặc y phục vì chúng sinh ở cõi sắc có tâm hổ thẹn mạnh mẽ, tâm hổ thẹn chính là y phục của pháp thân. Pháp thân của các chúng sinh ấy có y phục tốt đẹp, sinh thân cũng như vậy, cho nên thân trung ấm ở cõi ấy thường mặc y phục.
Thân trung ấm ở cõi Dục phần lớn không mặc y phục vì chúng sinh ở cõi Dục phần lớn không có tâm hổ thẹn, chỉ trừ thân trung ấm của hàng bồ-tát, cư sĩ nữ và tì-kheo-ni thường mặc y phục tốt đẹp.
Có luận sư khác cho rằng thân trung ấm của bồ-tát cũng không mặc y phục, chỉ có thân trung ấm của cư sĩ nữ và tì-kheo-ni thường mặc y phục.
Hỏi: Vì sao thân trung ấm của bồ-tát không mặc y phục mà thân trung ấm của cư sĩ nữ và tì-kheo-ni thì mặc y phục?
Đáp: Vì cư sĩ nữ và tì-kheo-ni thường cúng dường y phục cho chúng tăng bốn phương, cho nên thân trung ấm của họ luôn mặc y phục.
Hỏi: Vào thời quá khứ, bồ-tát cúng dường y phục tốt đẹp cho chúng tăng bốn phương, còn cư sĩ nữ và tì-kheo-ni cúng dường y phục cho dù số lượng ấy nhiều như số hạt bụi nhỏ vẫn không thể sánh kịp, vậy thì tại sao thân trung ấm của bồ-tát không mặc y phục mà thân trung ấm của họ lại mặc y phục?
Đáp: Vì nguyện lực của họ khác với nguyện lực của bồ-tát, nghĩa là sau khi cúng dường y phục cho chúng tăng bốn phương, cư sĩ nữ và tì-kheo-ni liền phát nguyện: “Nguyện cho con đời đời thường mặc y phục, cho đến thân trung ấm cũng không để lộ hình hài”. Do nguyện lực như vậy, nên dù sinh ra nơi nào họ luôn có đầy đủ y phục. Thân trung ấm mà họ thu nhận vào kiếp cuối cùng cũng mặc y phục đi vào thai mẹ, cho đến khi xuất thai, y phục ấy cũng không rời thân. Cứ như thế, thân đó lớn dần, về sau xuất gia, thụ giới cụ túc, y phục ấy chuyển thành ngũ y. Từ đó, nỗ lực tu hạnh chân chính, chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán, cho đến khi chứng Niết-bàn, vị ấy lấy y phục này quấn thân để tự thiêu. Hết thảy thiện hạnh thùthắng đạt được nhờ tu tập trong ba vô số kiếp quá khứ bồ-tát đều hồi hướng đến quả Vô thượng bồ-đề, đem lại lợi ích an lạc cho tất cả chúng sinh. Do hạnh nguyện này nên bồ-tát tuy đầy đủ tướng quí vẻ đẹp, nhưng không mặc y phục. Đó là nguyện lực thù thắng của bô-tát chứ không phải nghiệp xấu.
Hỏi: Có phải đoàn thực là thức ăn của thân trung ấm chăng?
Đáp: Thân trung ấm ở cõi sắc không dùng đoàn thực. Thân trung ấm ở cõi Dục thì dùng đoàn thực.
Hỏi: Thân trung ấm ở cõi Dục dùng đoàn thực như thế nào?
Đáp: Có thuyết nói thân trung ấm ở cõi Dục đến chỗ có thức ăn thì liền dùng, đến chỗ có nước uống thì liền uống nước uống ấy. Nhờ món ăn, thức uống đó mà thân trung ấm được tồn tại”.
Thuyết này không đúng! Vì sao? Vì thân trung ấm của chúng sinh rất nhiều, nên rât khó nuôi sống hết được.
Khế kinh ghi: “Ví như đổ lúa gạo vào trong chảo lớn thì số lượng ấy rất nhiều. Thân trung ấm mà chúng sinh trong năm đường trung ấm lần lượt khởi lên hai tâm rồi đi vào thai mẹ”.
Nói “cha mẹ cùng giao phối với tâm nhiễm ô”, nghĩa là cha mẹ đều khởi tâm ham muốn dâm dục và đang giao phối với nhau.
“Thân thể người mẹ an vui, không bệnh và đúng thời”, nghĩa là người mẹ ham muốn dâm dục, thân tâm đều vui thích.
Tuy nhiên, các vị trì luật cho là do người mẹ ham muốn dâm dục nên thân tâm vẩn đục, ví như nước sông vào mùa xuân, mùa hạ.
“Không bệnh”, nghĩa là bụng mẹ sạch sẽ, không có các chứng nóng lạnh thay nhau bức bách, nên thai nhi được bảo bọc trong vòng chín hoặc mười tháng mà không bị hư hoại.
“Đúng thời”, nghĩa là cơ thể người mẹ có những chất nhơ bẩn nên hàng tháng thường có máu dơ chảy ra. Máu dơ ấy nếu quá nhiều thì do ẩm ướt nên thai không thành; nếu quá ít, thì do quá khô nên thai cũng không thành. Nếu máu dơ này không ít không nhiều, không khô không ướt, thì mới thành thai, gọi là đúng thời. Khi thân trung ấm này vào thai chính là lúc người mẹ còn hai giọt máu sau cùng và người cha còn một giọt tinh cuối cùng, tinh và máu hòa lẫn với nhau thì mới thành thai.
“Ngay lúc ấy thân trung ấm có mặt”, nghĩa là thân trung ấm có mặt tại chỗ đó và ngay lúc ấy, chứ chẳng phải ở chỗ khác, cũng không sớm không muộn.
“Bấy giờ, thân trung ấm lần lượt khởi lên hai tâm rồi đi vào thai mẹ”, nghĩa là khi sắp vào thai, thântrung ấm lần lượt khởi lên hai tâm yêu cha ghét mẹ hoặc thương mẹ ghét cha rồi mới vào thai. Khi sắp vào thai, nếu là thân trung ấm nam thì khởi tâm yêu mẹ ghét cha; nếu là thân trung ấm nữ thì khởi tâm yêu cha ghét mẹ.
Lại nữa, luận ghi:
Hỏi: Thân trung ấm vào thai mẹ từ chỗ nào ?
Đáp: Có thuyết cho rằng thân trung ấm không bị chướng ngại, thích chỗ nào thì vào thai từ chỗ ấy.
Hỏi: Nếu thân trung ấm không bị chướng ngại, thì tại sao phải nương trụ trong thai mẹ?
Đáp: Do nghiệp lực trói buộc nên phải nương trụ trong thai mẹ. Nghiệp lực của chúng sinh chẳng thể nghĩ bàn, từ không bị chướng ngại trở thành chướng ngại, vì thế chẳng nên gạn hỏi điều này. Thật ra, thân trung ấm vào thai hẳn từ âm hộ, vì đó là nơi phát sinh cảm thụ. Từ lí này đưa đến việc sinh đôi, người sinh ra sau thì lớn hơn. Vì sao? Vì người vào thai trước hẳn sinh ra sau.
Hỏi: Thân trung ấm của bồ-tát vào thai từ chỗ nào?
Đáp: Bồ-tát vào thai từ hông phải của mẹ, biết là đang vào thai, đối với mẹ biết là mẹ vì không ái nhiễm.
Lại có thuyết cho là vào từ âm hộ, vì các loài noãn sinh, thai sinh đều theo cách thức như vậy.
Hỏi: Thân trung ấm của Chuyển luân vương và hàng độc giác vào thai chỗ nào?
Đáp: Từ hông phải của mẹ, biết là đang vào thai, đối với mẹ biết là mẹ vì không ái nhiễm.
Lại có thuyết cho là vào từ âm hộ, vì các loài noãn sinh, thai sinh đều theo cách thức như vậy.
Cổ luận sư khác nói: Vì bồ-tát có phúc đức và trí tuệ vô cùng rộng lớn nên khi sắp vào thai, tâm không điên đảo, không khởi ái nhiễm. Còn Chuyển luân vương và hàng độc giác tuy có phúc đức và trí tuệ nhưng không rộng lớn, nên khi sắp vào thai, tuy tâm không điên đảo, vẫn khởi ái nhiễm, do vậy hẳn phải vào thai từ âm hộ.
Lại nữa, luận này trích dẫn lời dạy trong luận Thi thiết: “Nếu cha mẹ nhiều phúc mà con ít phúc thì không thể vào thai. Nếu cha mẹ thiếu phúc mà con nhiều phúc cũng không thể vào thai. Phúc của cha, mẹ và con bằng nhau thi thân trung ấm mới vào thai được”.
Hỏi: Nếu người nam giàu sang giao phối với người nữ nghèo hèn, hoặc người nữ giàu sang giao phối với người nam nghèo hèn, thì thân trung ấm vào thai như thế nào?

Phần 4

Đáp: Khi người nam giàu sang giao phối với người nữ nghèo hèn thì người nam khởi ý niệm cho mình là thấp kém và cho người nữ kia là cao quí.
Khi người nữ giàu sang giao phối với người nam nghèo hèn thì người nữ khởi ý niệm cho mình là thấp kém và cho người nam kia là cao quí.
Khi người nam nghèo hèn giao phối với người nữ giàu sang thì người nam khởi ý niệm cho mình là cao quí và cho người nữ kia là thấp kém.
Khi người nữ nghèo hèn giao phối với người nam giàu sang thì người nữ khởi ý niệm cho mình là cao quí và cho người nam kia là thấp kém.
Thế nên biết, người con sắp vào thai cũng khởi tưởng đối với cha mẹ như vậy, cho nên khi vào thai thì cả ba người đều bình đẳng.
Hỏỉ: Thân trung ấm bé nhỏ, tất cả tường vách, núi đồi, cỏ cây v.v... đều không thể làm chướng ngại, còn thân trung ấm này với thân trung ấm khác có chướng ngại nhau không?
Đáp: Có thuyết cho là thân trung ấm này với thân trung âm khác cũng không chướng ngại nhau vì vi tế, khi thân tiếp xúc nhau cũng không hay biết. Lại có thuyết ghi: Thân trung ấm này với thân trung ấm khác cũng chướng ngại nhau vì khi gặp nhau hai thân trung ấm cũng trò chuyện với nhau.
Hỏi: Nếu như vậy thì đâu thể cho rằng thân trung ấm không chướng ngại?
Đáp: Không chướng ngại đối với các vật khác, chứ chẳng phải đối với thân trung ấm khác.
Hỏi: Thân trung ấm này với thân trung ấm khác đều chướng ngại nhau sao?
Đáp: Cùng loài thì chướng ngại nhau, khác loài thì không chướng ngại. Nghĩa là thân trung ấm địa ngục chỉ chướng ngại thân trung âm địa ngục; cho đến thân trung ấm cõi trời chỉ chướng ngại thân trung ấm cõi trời.
Có thuyết cho là thân trung ấm thấp kém thì chướng ngại thân trung ấm tốt đẹp, vì nó thô và nặng. Thân trung ấm tốt đẹp thì không làm chướng ngại thân trung ấm thấp kém, vì nó nhẹ và mỏng manh. Nghĩa là thân trung ấm địa ngục thì chướng ngại thân trung ấm năm đường trên, thân trung ấm súc sinh thì chướng ngại thân trung ấm bốn đường trên, thân trung ấm ngạ quỉ thì chướng ngại thân trung ấm ba đường trên, thân trung ấm loài người thì chướng ngại thân trung ấm hai đường trên, thân trung ấm cõi trời chỉ chướng ngại thân trung ấm cõi trời.
82.5. NĂM CÁCH THỤ SINH
Luận Địa trì ghi: “Bồ-tát có năm cách trụ trong tất cả hạnh để đem lại an lạc cho tất cả chúng sinh. Đó là thụ sinh vì dứt khổ, thụ sinh tùy loài, thụ sinh thù thắng, thụ sinh tăng thượng và thụ sinh sau cùng.
Vì nguyện lực, bồ-tát ở trong đời đói khát làm thân cá lớn v.v... dùng thịt mình để cứu tất cả chúng sinh. Ở trong đời bệnh tật, bồ-tát làm vị đại y vương để chữa trị lành bệnh cho chúng sinh. Ở trong đời binh đao, bồ-tát làm vua có thế lực lớn để chấm dứtchiến tranh, dùng chính pháp giáo hóa những kẻ gian tà và người làm việc ác. Bồ-tát cứu độ vô lượng chúng sinh như thế đều được vãng sinh, đây gọi là thụ sinh vì dứt khổ.
Vì nguyện lực tự tại, nên nếu các loài chúng sinh như trời, rồng, quỉ, thần v.v... thay nhau nhiễu loạn và các hàng ngoại đạo khởi tà kiến, bồ-tát đều hiện thân vào những loài ấy, làm thủ lĩnh đưa họ tu theo chính đạo, đấy gọi là thụ sinh tùy loài.
Bồ-tát dùng tính để thụ thân, nên siêu việt hơn quả báo sắc thân và thọ mạng của thế gian. Đây là thụ sinh thù thắng.
Bồ-tát từ Tịnh tâm trụ cho đến Tối thượng trụ, tự tại thụ sinh trong cõi Diêm-phù đề, bất cứ nơi nào bồ-tát thụ sinh cũng đều đặc biệt, đây gọi là thụ sinh tăng thượng.
Bồ-tát Tối thượng trụ thụ sinh để nhiếp phục nghiệp, làm tăng trưởng trọn vẹn các pháp bồ-đề, nên sinh vào nhà sát-đế-lợi, bà-la-môn và chứng quả Vô thượng bồ-đề, làm tất cả Phật sự, đây gọi là thụ sinh sau cùng.
Bồ-tát đời đời đều thụ sinh theo năm cách này, không có cách nào khác, không có cách nào hơn, nên sớm đắc quả Vô thượng bồ-đề”.
Luận Du-già ghi: “Sự thụ sinh của bồ-tát đại khái có năm cách bao gồm tất cả các cách thụ sinh. Tất cả bồ-tát thụ thân không có lỗi lầm, đem lại lợi ích, an vui cho tất cả chúng sinh. Năm cách đó là thụ sinh vì trừ tai họa, thụ sinh tùy loài, thụ sinh có thế lực lớn, thụ sinh tăng thượng và thụ sinh sau cùng.
Ở trong kiếp đói khát, bồ-tát làm loài cá lớn v.v... cứu giúp tất cả chúng sinh đều được no đủ. Hoặc trong kiếp dịch bệnh, bồ-tát làm vị đại y vương để chữa lành bệnh tật. Hoặc trong kiếp chiến tranh, bồ-tát làm vị có thế lực lớn, khéo dùng phương tiện để chấm dứt chiến tranh. Hoặc trong kiếp có vua bạo ác, xử phạt vô lí, bồ-tát thương yêu tất cả với nguyện lực rộng lớn. Hoặc trong kiếp có tà kiến dấy khởi, bồ-tát có khả năng trừ dẹp những kẻ gian tà, bạo ác. Đó là nêu sơ lược về thụ sinh vì trừ tai họa.
Hoặc có bồ-tát vì nguyện lực lớn, sinh vào loài khác, dùng phương tiện giáo hóa, khiến họ làm điều thiện. Đây là nêu sơ lược về thụ sinh tùy loài.
Hoặc có bồ-tát nương vào bẩm tính thụ sinh, được cảm quả báo về tuổi thọ, thân tướng, dòng họ đều tự tại, giàu sang và siêu việt, tất cả việc làm đều đem lại lợi ích cho mình và người. Đây là nêu sơ lược về thụ sinh có thế lực lớn.
Hoặc có bồ-tát ở giai vị Thập địa, hưởng được Thập vương báo rất tối tháng và thành tựu trọn vẹn.
Đó là nhờ phúc nghiệp tăng thượng mà chiêu cảm. Đây là nêu sơ lược về tùy tăng thượng thụ sinh.
Hoặc có bồ-tát đã viên mãn tư lương bồ-đề ngay trong đời này, hoặc sinh vào nhà quốc vương tôn quí, có khả năng thành bậc Đẳng giác, làm nhiều Phật sự. Đây là nêu sơ lược về thụ sinh sau cùng.
Các bồ-tát trong quá khứ, hiện tại, vị lai sinh vào những nơi thanh tịnh, nhân đức, hiền thiện đều thuộc năm cách thụ sinh này. Ngoài năm cách thụ sinh này, không có cách nào khác, không có cách nào tôn quí hơn, chỉ trừ cách thụ sinh của hàng phàm địa bồ-tát. Vì sao? Vì ở đây muốn nêu cách thụ sinh của hàng bồ-tát có trí tuệ là nơi nương tựa của quả đại Bồ-đề, khiến cho các bồ-tát sớm thành Chính giác”.
Có bài tụng:
Bốn loài dễ đổi thay
Bệnh năm ấm khó trừ
Thọ mạng tuy dài ngắn
Chết rồi, nấm mồ hoang.
Mãi chạy theo sáu cảnh
Lúc chết phải xót xa
Quyến luyến nẻo luân hồi
Khó được thân bất hoại.
82.6. CẢM ỨNG 82.6.1. Đời Tấn, sa-môn Chi-độn: Sư tự Đạo Lâm, người Trần Lưu, thông minh, tài giỏi, được những bậc nổi tiếng trong giới Phật giáo và Lão giáo tôn kính. Thường cùng với thầy của mình biện luận về loài vật, sư cho rằng: “Ăn trứng gà chưa phải là sát sinh, không phạm tội như giết hại các loài côn trùng bé nhỏ”.
Chẳng bao lâu, thầỵ của sư viên tịch, hiện thân đến trước mặt sư, tay cầm quả trứng gà, ném xuống đất cho vỡ ra. Bỗng thấy gà con chui ra khỏi vỏ trứng và bước đi, sư liền tỉnh ngộ, hối hận về lời nói trước đây của minh. Lát sau, thầy sư và gà đều biến mất, không còn thấy nữa.
82.6.2. Đời Đường, cư sĩ Tín Đô Nguyên Phương: Cư sĩ người huyện Phủ Dương, Tương châu. Thuở nhỏ, ông có chí khí cao vời, rất thích kinh sách nhà Phật.
Năm hai mươi chín tuổi, vào tháng giêng, mùa xuân niên hiệu Hiển Khánh thứ năm (660), ông qua đời.
Sau khi ông mất hơn một tháng, người anh là tăng Đạo Kiệt ở chùa Pháp Quán, do thương nhớ em, nên mời thầy pháp đến nhà để cầu Nguyên Phương lên nói chuyện.
Đạo Kiệt cũng giỏi về pháp thuật, làm một lá bùa để thâu hồn Nguyên Phương, rồi bảo thầy pháp hỏi han mọi việc. Do không biết chữ, thầy pháp nói lại lời của Nguyên Phương, rồi bảo người biết viết cầm bút viết ra một trang giấy. Nguyên Phương cùng với bạn đồng học là Phùng Hành Cơ nói hết tâm nguyện của mình lúc còn sống, đồng thời làm hai bài thơ và để lại ít lời dặn dò gia đình. Tất cả đều viết rất trôi chảy, lời lẽ bi thương, nội dung phần lớn là khuyên tạo công đức niệm Phật, chép kinh, cho sát sinh là tội lớn nhất, không tội nào lớn hơn.

Phần 5

Lại nói: “Nguyên Phương không vào địa ngục, cũng không đọa làm ngạ quỉ, trước đây Diêm vương xét xử, cho làm con trai nhà Lí Nhân Sư ở Thạch châu, nhưng vì Thạch Danh Viễn ở huyện Ngô Sơn, Lũng châu đến cầu con tại Hoa Nhạc, mới đổi lại, cho làm con trai nhà ông Thạch”.
Lại nói: “Ngày thụ sinh đã đến, gấp quá nên không ở lại lâu được. Tháng hai này thụ thai, tháng mười hai thì ra đời. Mong anh xót thương, đến đó thăm viếng!”.
Nói xong, Nguyên Phương khóc mà đi.
Tiết Đại Tạo người Hà Đông cư trú tại Phủ Dương, trước đây nhậm chức Huyện lệnh ở Ngô Sơn có nói biết rõ về Thạch Danh Viễn. Các vị tăng Tuệ Vĩnh, Pháp Chân v.v... ở chùa Trí Lực cũng nói như vậy.
83. CHƯƠNG MƯỜI KẾT SỬ
83.1. LỜI DẪN
Từng nghe: Chúng sinh say ngủ trong ba cõi đều do hang ổ mười kết sử, chạy theo sáu giặc thật do mãnh tướng năm trụ địa, cũng từ đó mà vọng tưởng phát sinh, phiền não dấy khởi, muôn khổ bức ngặt, trăm lo bủa vây. Thế nên, mười sử đeo đuổi, mười triền phược trói buộc, năm độn sử dễ nhận chìm, năm lợi sử khó chế phục. Khổ tập thuận dòng, trôimãi không dừng, diệt đạo trống không, đâu thể chứng đắc.
83.2. GIẢI THÍCH TÊN GỌI
Mười sử là thân kiến, biên kiến, tà kiến, giới thủ, kiến thủ, tham, sân, si, mạn và nghi.
Mười kết sử này là cội gốc của sinh tử. Phàm phu điên đảo mê hoặc, chưa từng quán lí, vọng chấp nối nhau, không ra khỏi ba cõi, cũng như quân binh ở đời đuổi bắt người tội, nên gọi là sử.
Luận Địa trì ghi: “Đeo đuổi, luân chuyển gọi là sử”.
Luận Tạp tâm ghi: “Kết sử đeo đuổi như không hành ảnh”.
Luận Thành thật ghi: “Kết sử đeo đuổi như mẹ theo con, nghĩa là thường đeo đuổi chúng sinh trong ba cõi”.
Trên đây là giải thích chung, sau đây sẽ giải thích riêng.
83.2.1. Thân kiến
Thân kiến còn gọi là ngã kiến, sắc và tâm nương nhau gọi là thân. Phàm phu ngu si mê muội thân này, chấp ngã và nhân, nên từ chỗ mê mà gọi là thân kiến.
Do chấp sắc và tâm làm ngã, nên từ chỗ chấp gọi là ngã kiến.
Cho nên, kinh Địa trì ghi: “Chúng sinh ở đời thụ sinh đều do chấp ngã. Nếu lìa chấp ngã thì không có chỗ để thụ sinh thân này ở thế gian”. Thế nên biết, ngã kiến là cội gốc phát sinh phiền não.
Kinh Niết-bàn ghi: “Như sáu tên giặc khi muốn cướp tài sản của người thì cần phải nhờ nội gián. Nếu không có nội gián thì chúng phải bỏ dở. Giặc sáu trần cũng như vậy, muốn cướp pháp thiện cần phải do bên trong có các tướng về hiểu biết về chúng sinh như thường, lạc, ngã, tịnh, bất không v.v... Nếu bên trong không có những tướng như vậy, thì giặc ác sáu trần chẳng thể cướp được tất cả pháp thiện. Người trí trong tâm không có những tướng ấy, còn phàm phu thì có, nên sáu trần thường đến cướp đoạt tài sản pháp thiện của họ”. Thế nên biết, ngã kiến là nguyên nhân phát sinh pháp ác, tiêu diệt pháp thiện.
Kinh Đại bảo tích ghi: “Như bệnh nghẹt thở có thể mất mạng bất cứ lúc nào. Trong tất cả kiến chấp, chỉ ngã kiến mới có năng lực đoạn dứt sinh mạng trí tuệ”.
83.2.2. Biên kiến
Nhân quả thế gian sinh diệt nối nhau, không nhất định là đoạn hay thường, đó là lí trung đạo. Người không hiểu lí này, chỉ chấp một bên, thì gọi là biên kiến.
Trung luận ghi: “Nhân quả sinh diệt nối nhau, nên chúng sinh qua lại ba cõi không ngừng. Vì sinhdiệt nên chẳng thường, vì nối nhau nên chẳng đoạn. Thế nên biết, nhân quả nối nhau trong ba đời là đạo lí đúng đắn nhất.
Luận Thành thật ghi: “Nhờ thế đế nên hình thành trung đạo. Vì năm ẩm nối nhau sinh nên chẳng đoạn, niệm niệm diệt nên chẳng thường. Lìa đoạn-thường này gọi là trung đạo”. Thế nên biết, nhân quả chẳng nhất định là đoạn hay thường. Đối với quả báo hiện tại, phàm phu ngu muội không quán thấy niệm niệm biến diệt liền chấp là thường, chẳng rõ niệm niệm sinh khởi liền chấp là đoạn. Đối với quả báo mai sau, người chưa đoạn dứt ái dục thì tùy theo nghiệp mà thụ sinh bất cứ loài nào trong sáu đường, chẳng phải người thì trở lại làm người. Nếu không biết như thế mà cho là thường, thì gọi là thường kiến. Nếu cho ràng, sau khi chết không còn thụ sinh, tâm thức mất hẳn, thì gọi là đoạn kiến.
83.2.3. Tà kiến
Tà kiến nghĩa là bài bác, cho không có nhân quả, trái với chính nên gọi là tà.
Theo luận Cẩu-xá, tất cả kiến giải trái với lí tính đều thuộc tà kiến. Chỉ gọi kiến chấp này là tà kiến, bởi kiến chấp này xấu ác nhất, có khả năng đoạn trừ căn lành.
Thân kiến, biên kiến tuy chẳng phải chính, nhưng vì mê lí, làm chướng ngại Thánh đạo, chứ không bài bác nhân quả, tâm tà mỏng nhẹ, không ngăn việc tu thiện, nên có thể chiêu cảm niềm vui thế gian.
Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Những tội như chẳng tin nhân quả, không học bát-nhã còn nặng hơn tội giết tám vạn cha mẹ”. Đây là do tà kiến mà cảm quả báo nặng như thế. Trung luận ghi: “Tà kiến có hai trường hợp: một, bác bỏ niềm vui thế gian là tà kiến thô, cho rằng không có tội phúc, không có Phật, hiền thánh, bỏ thiện làm ác; hai, bác bỏ đạo quả Niết-bàn, đám trước ngã, phân biệt có-không, nên không đạt được đạo quả Niết-bàn”.
83.2.4. Giới thủ
Những người vọng chấp giới thủ, tùy theo sự vọng chấp khác nhau mà có hai loại: một là độc đầu, hai là túc thượng.
“Độc đầu”, nghĩa là chỉ chấp trì giới là đạo, hoặc chấp khổ hạnh là đạo, hoặc chấp bố thí là đạo, cho đến chấp tám thiền định là chính đạo. Chỉ chấp các pháp hành như vậy, chẳng những không nhận biết được phi đạo mà còn vọng chấp phi đạo là đạo, nên gọi là độc đầu giới thủ.
“Túc thượng”, nghĩa là người ngu không hiểu chính lí, vọng chấp phải-trái, cho kiến giải của mình là đúng, rồi chấp là chính đạo, gọi là giới thủ.
Giới thủ này nương kiến thủ mà sinh khởi, kiến thủ làm căn bản cho giới thủ, làm nơi nương tựa cho giới thủ, nên gọi là cước túc.
Thế nên nói giới thủ là chính, gọi là túc thượng giới thủ phiền não. Vì vậy, hành giả nên khéo suy lường. Khó đạt đạo pháp, phải tìm bạn tốt, khôngđược tin tâm ngu tối, kiến chấp điên đảo của mỉnh, rồi chấp sai lầm, trái với chính đạo, trở thành bất thiện.
Nên biết, đạo chỉ là tuệ quán, còn các pháp thiện như giới, định v.v... là nhân-duyên xa, cần phải quán sắc và tâm của chúng sinh chẳng phải ngã. Hiểu được lí sở quán và trí năng quán này mới là đạo xuất thế. Ngoài pháp này ra, đều chẳng phải đạo. Cho nên, nếu chấp các pháp thiện khác là đạo thì đồng với người ngu chấp giới là đạo, thuộc về giới thủ phiền não. Do đó, luận Câu-xá ghi: “Chấp phi đạo là trung đạo gọi là giới thủ kiến”.
Lại nữa, luận Thập trụ tì-bà-sa ghi: “Đức Phật bảo tôn giả Ca-diếp:
- Có bốn hạng tì-kheo phá giới mà tợ như trì giới:
1. Những tì-khèo nghiêm trì đầy đủ các học giới, nhưng chấp có ngã.
2. Những tì-kheo tụng kinh, trì luật, giữ gìn giới hạnh, nhưng chấp chặt, không lìa thân kiến
3. Những tĩ-kheo thực hành đầy đủ mười hai hạnh đầu-đà, nhưng chấp các pháp là thật có.
4. Những tì-kheo duyên chúng sinh mà khởi lòng từ, nhưng nghe nói tướng các hành vô sinh thì trong lòng lo sợ.
Từ minh chứng này nên biết, người ngu tuy nương giới hạnh mà thân và khẩu không lỗi, nhưng chấp sai lầm, trái với lí, nên tâm không có Đạo cộnggiới. Nếu có khả năng quán sắc và tâm vô ngã, thì trí thanh tịnh nàỵ mới có Đạo cộng giới. Giới hạnh đã như vậy thì bổ thí v.v... cũng như thế.
83.2.5. Kiến thủ
Tương tự giới thủ, kiến thủ cũng có hai loại: một là độc đầu, hai là túc thượng.
“Độc đầu” nghĩa là chỉ chấp pháp thiện hữu lậu và quả bảo hữu lậu ở thế gian cho là pháp thiện vĩ diệu thù thắng bậc nhất. Như người chỉ chấp quả báo của cõi trời Vô tưởng là niết-bàn, là tốt đẹp nhất. Lại như thân này bất tịnh cho là tịnh. Như thế đều gọi là độc đầu kiến thủ.

Phần 6

“Túc thượng” nghĩa là người không hiểu pháp, lập càn phải-trái, cho kiến giải của mình là đúng, kiến giải của người khác là sai, rồi chấp kiến giải của mình là bậc nhất, nên gọi là túc thượng kiến thủ.
Nếu khởi thân kiến thì đó là chấp ngã điên đảo, người ngu không hiểu nên sau lại khởi tâm, chấp thân kiến này là bậc nhất. Kiến thủ như thế gọi là “túc thượng”. Các nghĩa khác giống như cách giải thích ở trên, đã giống như trên thì đâu có gì khác biệt. Nếu chấp sự nghiệp hữu lậu thế gian cho là đạo thì gọi là giới thủ; nếu chấp là hơn hết thì gọi là kiến thủ.
Do đó, luận Câu-xá ghi: “Bậc thánh xả bỏ tất cả pháp hữu lậu, nếu chấp pháp này là tối thắng, thì gọi là kiến thủ”.
Luận Thành thật ghi: “Nếu người chấp trì giới là thanh tịnh, đó gọi là giới thủ phiền não. Nếu cho pháp sở thủ là thật có, ngoài ra đều là vọng ngữ, đó gọi là kiến thủ kết. Nếu cho pháp thế gian là bậc nhất thì đồng với người ngu, chấp kiến giải của mình là hơn hết, đây đều gọi là kiến thủ phiền não”.
Luận Tân bà-sa ghi:
Hỏi: Trong khoảng một sát-na, kiến thủ ấy suy lường như thế nào?
Đáp: Vì tính chất mạnh mẽ, lanh lợi, nên có khả năng suy lường. Vì một mực chấp thủ, nghĩa là thường chấp chặt nên gọi là kiến chấp. Kiến chấp này chấp sai lệch về cảnh sở thủ, chỉ gươm trí tuệ của bậc thánh mới có thể chặt bỏ được, chỉ đệ tử Phật cầm gươm trí tuệ chặt gãy răng kiến chấp ấy mới xả bỏ được. Như có loài thú biển tên là Thất-thủ-ma-la, hễ con vật nào bị nó cắn, nếu không dùng dao thì chẳng thể thoát được, nghĩa là nếu nó cắn các loài cỏ cây v.v... phải bẻ răng của nó thì nó mới nhả ra.
Có bài tụng:
Kẻ ngu si chấp thủ
Như cá chiên ngoạm mồi
Bị thủ-ma-la cắn
Dùng dao mới thoát thân.
“Vào sâu cảnh sở duyên” nghĩa là tính chất của kiến thủ ấy mạnh mẽ, nhạy bén chấp sâu cảnh sở duyên như kim rơi xuống bùn, nên gọi là kiến chấp.
83.2.6. Lỗi của kết sử tham, kết sử sân, kết sử si
* Kết sử tham: Tham có nhiều dạng, hoặc quí thân mình, thân người khác; hoặc yêu vợ con, nhà cửa, ruộng vườn; hoặc thích pháp thiện như thích Phật, bồ-tát v.v... Theo Đại thừa, những trường hợp ấy đều là kết sử, còn theo Tiểu thừa, tham pháp thiện chẳng phải là kết sử.
Về kết sử này thật khó nói hết, chỉ trình bày sơ lược mà thôi.
* Kết sử sân: Những phiền não như giận hờn, ganh ghét, không vui đều thuộc về kết sử sân.
Luận Đại trang nghiêm ghi: “Thân như củi khô, sân giận như lửa, tuy chưa đốt cháy người khác, nhưng đã đốt cháy thân mình”.
Kinh Chỉnh pháp niệm ghi: “Tâm sân như lửa thiêu đốt tất cả giới. Sân như chiếc búa lớn có năng lực phá vỡ cầu chính pháp. Sân ở trong tâm như kẻ oan gia vào nhà”. Thế nên biết, tâm sân khởi thì chướng ngại các pháp thiện”.
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Trong tất cả điều ác, không điều nào ác lớn hơn sân. Vừa khởi một niệm sân liền bị trăm nghìn môn chướng ngại đạo pháp”.
Kinh Bồ-tát địa ghi: “Nếu các bồ-tát phạm tội tham nhiều như số cát sông Hằng, không gọi là phá giới. Nếu phạm một nhân duyên sân thì gọi là phá giới. Tâm sân hận thường xả bỏ chúng sinh, nên gọi là phiền não trọng. Tâm tham ái thường bảo hộ chúng sinh, nên không gọi là phiền não. Thế nên, trong kinh, đức Như Lai dạy: Kết sử tham tuy khó đoạn, nhưng không gọi là trọng. Kết sử sân dễ đoạn, lại gọi là trọng”.
* Kết sử si: Theo luận A-tì-đàm, đặc tính của tâm si ám là không có tuệ chiếu soi, nên gọi là vô minh.
Theo luận Thành thật, tâm tà phân biệt, không có chính tuệ soi sáng, nên gọi là vô minh.
Luận A-tì-đàm ghi: “Kết sử vô minh có hai loại: một là bất cộng, hai là tương ưng.
‘Bất cộng’ nghĩa là duyên với lí tứ đế cho đến sắc, thanh, hương, vị, xúc v.v..., mà không nhận biết, tức là vô minh.
Đây là vô minh đơn lẻ, không dung hợp với các kết sử khác, nên gọi là bất cộng vô minh.
Tương ưng vô minh, ngoại trừ bất cộng vô minh kể trên, còn tất cả tâm vô tri trong các phiền não đều gọi là vô minh, do dung hợp với các kết sử khác, nên gọi là tương ưng vô minh”.
Theo luận Thành thật, vô minh cũng có hai loại: một là thủ tính, hai là hiện khởi.
“Thủ tính” nghĩa là thuận theo mà không biết các pháp giả hợp, tâm mê muội chấp tính, đó là trái với lí,thuộc tính ác bất thiện. Đây là vô minh vi tế, phàm phu thường có. Vì vậy, trong hai tính thiện và vô kí, cần phải quán vô tính mới dần dần đoạn trừ được tính chấp thủ này. Thế nên, khi tu thiện phải quán vô tính, nếu mê mờ sự tướng, chấp thu lí tính tức thành hữu lậu.
83.2.7. Lỗi của kết sử mạn
Mạn có tám loại:
1. Mạn: đổi với người kém hơn mình, cho là mình hơn, người kém; đối với người ngang mình cho là bằng mình. Lỗi này nhẹ, nên chỉ gọi là mạn.
Hỏi: Trường hợp này không tự cao tự thị, vì sao gọi là mạn?
Đáp: Luận Thành thật ghi: ‘‘Trong đây có lỗi chấp tướng ngã nên nói là mạn. Nghĩa là con người có sự hơn kém là do tâm phân biệt; nếu biết tâm mình hơn, đúng sự thật thì không có lỗi. Mê mờ các pháp như thế, cho là mình hơn người, hoặc cho là người bằng mình, tức là tự cậy vào tâm mình, nên gọi là mạn.
2. Đại mạn: đối với người bằng mình lại cho là mình hơn người.
3. Mạn mạn: đối với người hơn mình lại cho là mình hơn người. Lỗi này rất nặng.
4. Bất như mạn: đức hạnh của người hơn mình rât nhiều, mình phải tu hành nhiều đời mới có thể bằng người, mà cho là hiện nay mình chỉ kém hơn một ít về đức hạnh, mà hơn người ấy về nhiều mặt.
5. Kiêu mạn: không cung kính các bậc trưởng thượng, như cha mẹ, thầy tổ...
6. Ngã mạn: đối với các pháp vô ngã như sắc, tâm... chấp là có ngã, rồi sinh tâm cống cao.
Trong các loại mạn này, ngã mạn thuộc tâm chấp ngã. Ngã mạn này khó chế phục và đoạn trừ nhất, phải chứng quả A-la-hán mới dứt trừ được. Nhưng hàng phàm phu ngu muội chưa học pháp quán, nên không kể là thô hay tế, tất cả ngã kiến đều rất mạnh, nên gọi là hiện tướng ngã mạn. Nếu có thể quán lí để trở thành bậc thánh trí tuệ, thì ngã kiến chỉ còn nhỏ nhiệm, từng phần đoạn trừ tướng thô, nên gọi là không hiện tướng ngã mạn.
7. Tăng thượng mạn: chưa chứng quả thánh mà cho là đã chứng, lấy thánh trí làm hạnh tăng thượng, rồi khởi tâm mạn đối với pháp tăng thượng xuất thế này.
8. Tà mạn: những người ác, không có đức mà tự cao, cậy ác hiếp người.
Tám tâm mạn này đều gọi là kết sử mạn.
83.2.8. Lỗi của kết sử nghi
Nghi có hai loại: một là nghi sự, hai là nghi lí.
* Nghi sự: Như ban đêm nhìn thấy cây thì nghi là người v.v... Tâm nghi sự này không chiêu cảm quả sinh tử. Cho nên, Tiểu thừa không cho nghi là kết sử vì chằng phải phiền não, bậc a-la-hán vẫn chưa dứt trừ tâm nghi này.
Do đó, luận Trí độ ghi: “Bậc a-la-hán tuy không nghi tứ đế, nhưng đối với các sự vật khác đều có khởi nghi”. Nếu theo Đại thừa, các nghi sự này là tâm mê vọng, cảm quả báo biến dịch sinh tử, cũng gọi là kết sử.
* Nghi lí: tức cho thân tâm sinh diệt chẳng phải ngã, mà nghi là ngã thường còn. Cho nên, luận Thành thật ghi:
Hỏi: Nghi có lỗi gì?
Đáp: Nếu đa nghi thì tất cả việc thế gian và xuất thê gian đều chẳng thể thành tựu. Lại nữa, nếu đã nghi pháp thì không thể học pháp, nghi thầy thì không thể kính thầy, nghi mình thì không tự học đúng thời. Ba điều nghi này cũng là nguyên nhân

Phần 7

chướng đạo, chỉ cần khởi tâm quyết định tu học thì không còn nghi ba điều này nữa.
Phàm phu chưa quán lí thì không kể là cõi trên hay dưới đều có mười kết sử. Cõi trên tuy không hiện tướng sân thô, nhưng chín kết sử còn lại thường có đủ. Người đã được định tuy chế phục được kết sử tham dục, nhưng do còn kết sử sân nên không được quả xuất thế.
83.3. MÊ LÍ
* Lời bàn
Mê lí không giống nhau, bởi chúng sinh từ vô thỉ đến nay luân hồi sinh tử, không đoạn trừ được lậu hoặc, không chứng quả xuất thế, khiến cho mười kếtsử phiền não trở thành nghiệp chướng ngại, pháp bốn thánh đế trở thành lí bị chướng ngại.
Bốn đế là khổ, tập, diệt, đạo. Nếu giải thích đầy đủ về sự giống nhau và khác nhau giữa bốn đế Đại thừa-Tiểu thừa và thứ lớp nhân quả của bốn đế thì sợ văn dài dòng, nên nay chỉ giải thích sơ lược về danh từ bốn đế để biết rõ nhân quả.
Sinh diệt vô thường đúng thật là khổ, nỗi khổ này bức ngặt người tu hành, nên gọi là khổ đế. Đế nghĩa là chắc thật, chính xác như vậy, không sai lầm. Chữ “đế” trong ba đế còn lại cũng có nghĩa như vậy. Nghiệp thiện ác hữu lậu đều có khả năng sinh ra quả, nguyên nhân chắc thật sinh quả ấy gọi là tập đế. Phiền não được đoạn tận gọi là diệt, chắc thật bất sinh gọi là diệt đế. Quán lí để dứt trừ sự ngăn che, chân thật không dối gọi là đạo đế.
Nếu ngay nơi con người mà luận về bốn đế thì quả báo hữu lậu khổ vui của thân tâm này là khổ đế. Nếu không quán lí thì nghiệp thiện ác sinh khởi cho đến tám thiền định là tập đế. Nếu quán thân tâm sinh diệt vô ngã thì trí tuệ quán chiếu này là đạo đế. Nhờ trí tuệ quán chiếu này mà thấy vô ngã, thì cảnh giới đoạn hoặc là diệt đế.
về mê lí, các luận trình bày không giống nhau.
Luận A-tì-đàm ghi: “Thân kiến, biên kiến chỉ mê khổ đế. Phàm phu đều chấp quả báo khổ làm ngã, cho nên thân kiến duyên khổ đế mà sinh khởi. Nương vàoquả báo khổ của thân mà chấp đoạn, chấp thường. Cho nên, biên kiến cũng do mê khổ đế mà sinh khởi”.
Luận Tạp tâm ghi: “Thân kiến, biên kiến khởi từ quả báo, do mê khổ đế mà có. Phàm phu chấp tội phúc là do ngã tạo tác mà không nhận nghiệp nhân thiện ác làm ngã, cho nên thân kiến không nương tập đế mà sinh khởi. Biết tập chẳng phải ngã thì không gọi là mê tập đế. Biên kiến nương vào thân, không nương tập đế, cũng không nhận diệt đế, đạo đế làm ngã; chấp đoạn, chấp thường cũng đồng như vậy. Cho nên, thân kiến, biên kiến chỉ nương vào quả báo khổ, gọi là mê khổ đế”.
Luận về giới thủ: Giới thủ mê khổ đế và đạo đế. Chẳng hạn, có người ngu chỉ nghe nói: “Tinh tiến khổ hạnh có năng lực đoạn trừ sinh tử”, nhưng không hiểu lời này có nghĩa là “sớm tối chuyên tâm, siêng năng quán chiếu khổ không, mới đoạn trừ được sinh tử”, liền cho rằng “trong sự, thân khổ là đạo” mà không biết thân khổ chẳng phải là Thánh đạo. Cho nên, giới thủ do mê khổ đế mà sinh khởi.
Hoặc có người không chấp thân khổ là đạo, chỉ chấp các phúc hạnh về bố thí, trì giới v.v... là đạo. Đây là đem tập nhân chuyển làm đạo. Giới thủ như vậy gọi là mê đạo đế.
Thật ra, phàm phu không biết tập nhân, vọng chấp làm đạo, đáng lẽ là mê tập đế, nhưng tâm mê ấy không chấp phúc hạnh là tập nhân, mới chuyển làm đạo, nên không gọi là mê tập đế. Khác với chấp khổcho là đạo, tức là chấp khổ là đạo, nên gọi là mê khổ đế. Vì thế, giới thủ có mê khổ đế, có mê đạo đế, không mê tập đế. Diệt đế là thánh quả, là điều chúng sinh mong cầu, không chấp thủ, mê làm về diệt đế nhân hạnh của đạo. Cho nên, giới thủ không mê diệt đế.
Luận về tà kiến, kiến thủ và nghi thì ba kết sử này đều mê cả bốn đế.
Luận về tà kiến: Bác bỏ, không tin nhân quả, bao gồm cả phàm phu và bậc thánh, cho nên tà kiến mê cả bốn đế.
Luận về kiến thủ: Chấp quả báo tự thân là trên hết, tức mê khổ đế; chấp nghiệp thiện thế gian là trên hết, tức mê tập đế; chấp các cõi Phạm thiên, Vô tưởng thiên là niết-bàn, tức mê diệt đế; chấp đạo lí do giới thủ kia đề cập là trên hết, tức mê đạo đế. Cho nên, kiến thủ mê cả bốn đế.
Luận về tâm nghi: Không biết nhân quả của phàm phu và bậc thánh là có hay không, rồi sinh tâm nghi ngờ, không dứt khoát, cho nên nghi cũng mê cả bốn đế.
Năm kiến hoặc và nghi được trình bày trên đây chỉ mê lí bốn đế, không mê sự.
Vì mê lí nên khi quán chiếu, biết rõ không có ngã-nhân, mới đoạn trừ được tâm chấp ngã và chứng biết tuệ quán, từ đó đoạn trừ được phi đạo phiền não khổ quả và tập nhân của phàm phu, biết quán chiếu là đạo mới đoạn trừ được giới thủ. Nhận biêt đúng đắn về diệt đế và đạo đế là bậc nhất, không chấp quả hữulậu là hơn hết, biết thế gian đáng chán mới đoạn trừ được kiến thủ. Do hiểu rõ bốn đế, không sinh tâm nghi ngờ, đạt được niềm tin quyết định mới đoạn trừ được tà kiến và nghi.
Thế nên, thân kiến, biên kiến, giới thủ, kiến thủ, tà kiến và nghi do mê lí bốn đế mà sinh khởi, ngược lại hiểu rõ lí bốn đế thì các kết sử này được đoạn trừ. Không nhận các trần cảnh như sắc, thanh v.v... làm ngã-nhân, nhưng lại chấp đoạn, chấp thường v.v... thì cho dù nhận biết đúng đắn các pháp sắc, thanh v.v... vẫn không đoạn trừ được tâm chấp ngã cho đến kết sử nghi.
Bốn kết sử tham, sân, si, mạn làm chướng ngại cả kiến đạo và tu đạo vì đều mê cả lí và sự. Nghĩa là bốn kết sử này, nếu nương thân kiến mà sinh khởi thì gọi là mê lí, nếu nương sự mà sinh khởi thì gọi là mê sự.
Do thân kiến mà tham sinh khởi, như ái thân kiến thì gọi là tham; do ái thân kiến khiến tâm trở nên mê muội. Nếu khi quán sinh không, biết thân là vô ngã, thì nhàm chán ngã kiến, kết sử tham này liền đoạn trừ.
Do thân kiến mà sân sinh khởi, khi tâm chấp ngã, nghe nói thân này là vô ngã liền sân hận. về sau, khi quán vô ngã, biết rõ không có nhân, nghe nói sinhkhông, tâm liền hoan hỉ. Cho nên, khi thấy lí bốn đế kết sử sân liền được đoạn trừ.
Do thân kiến mà si sinh khởi, nên không biết lỗi cùa thân kiến, về sau, khi hiểu rõ lí bốn đế, kết sử si liền được đoạn trừ.
Do thân kiến mà mạn sinh khởi, cậy vào thân kiến rồi tự cao. về sau, khi hiểu rõ lí bốn đế, kết sử mạn liền được đoạn trừ.
Thế nên, các kết sử tham v.v... do thân kiến mà sinh khởi cũng đều là mê lí, khi hiểu rõ lí bốn đế, các kết sử ấy mới được đoạn trừ.
Nếu do thân kiến mà bốn kiến hoặc còn lại sinh khởi thì so sánh cũng có thể biết được.
Tham v.v... do sự mà sinh khởi, là nương vào trần cảnh sắc, thanh, hương v.v... mà khởi tâm tham liên tục khó dứt. Cho nên, khi hiểu rõ lí bốn đế, thì kết sử tham vẫn chưa được đoạn trừ. về sau, phải tu đạo miên mật thì kết sử tham mới dần dần được đoạn trừ. Tương tự, kết sử sân, si, mạn v.v... do sự mà sinh khởi cũng đều như vậy.
Sau đây là trình bày sự khác biệt của mười kết sử mê lí.
Giải thích theo tâm phàm phu cõi Dục: Mê khổ đế có mười kết sử, mê đạo đế có tám kết sử, mê tập đế và diệt đế mỗi đế có bảy kết sử, mê sự có bốn kết sử, tổng cộng có ba mươi sáu kết sử.
Nếu luận về tâm phàm phu cõi sắc thì có ba mươi mốt kết sử, vì cõi sắc không có kết sử sân.Trong năm hành, mỗi hành bỏ đi một kết sử, nên chỉ có ba mươi mốt kết sử. Tu đạo của bốn đế gọi là năm hành.
Tâm phàm phu cõi Vô sắc cũng có ba mươi mốt kết sử.
Như vậy, luận chung về ba cõi, tổng cộng có chín mươi tám kết sử, mê lí bốn đế có tám mười tám kêt sử, mê sự trong ba cõi có mười kết sử.
Đây là căn cứ luận A-tì-đàm mà giải thích sơ lược như vậy. Nếu căn cứ luận Thành thật thì mười kết sử phiền não đều có tính chấp thủ vả đều thông đạt lí bốn đế, nghĩa là mê lí không vố tính của bốn đế. Cho nên, nói chung, khi quán lí không vô tính của bốn đế, đoạn trừ tính chấp thủ thô, gọi là Kiến đạo. về sáu, khi đoạn trừ tính chấp thủ vị tế, gọi là Tu đạo.
83.4. ĐOẠN CHƯỚNG
* Lời bàn
Đoạn trừ mười kết sử phiền não có khó và dễ, phàm phu đều có đủ tính của kết sử này. Nay nói rõ vấn đề vào đạo nên nêu ra sự khó và dễ. Trong đó, các kiến hoặc thì khó nhận biết mà dễ đoạn trừ; còn bốn kết sử tham, sân, si, mạn thì dễ nhận biết mà khổ đoạn trừ.
Kiến hoặc “khó nhận biết”, nghĩa là phàm phu thường mê lí bốn đế. “Dễ đoạn trừ”, là khi hiểu rõ líbốn đế thì liền đoạn trừ. Nếu có thể tu tập, quán chiếu vô ngã, thì khi sáng tỏ lí bốn đế, gọi là chứng Sơ quả, tức trước tiên đoạn trừ tám mươi tám kết sử. Tuy nhiên, lúc mới quán lí bốn đế, nếu là người có căn cơ linh lợi thì quán chung các pháp đều là giả tạm, không có tự tính, không thấy có ngã nhân, đoạn trừ tám mươi tám kết sử trong một niệm, ngay niệm này gọi là Kiên đạo. Nếu là người có căn cơ chậm lụt thì quán riêng bốn đế, theo thứ lớp dần dần đoạn trừ tám mươi tám kết sử.
Cho nên, luận Phật tính ghi: “Nếu là người có căn cơ linh lợi quán bình đẳng cả bốn đế ngay trong một niệm, thì tám mươi tám kết sử đồng loạt đều được đoạn trừ, gọi là Kiến đế. Nếu là người có căn cơ chậm lụt, theo thứ lớp quán chiếu, thì niệm đầu tiên quán về khổ, không thấy ba đế kia; đoạn trừ khổ xong, tiếp tục đoạn trừ các đế còn lại”.
Đoạn kinh này minh chứng rằng, quán chung hoặc quán riêng các pháp đều được vào đạo, không được chấp một bên. Nếu căn cứ vào các kinh, dẫn dắt người vào đạo phần nhiều chỉ nói quán sinh diệt vô ngã thì đoạn trừ các kết sử, thoát khỏi sinh tử.
Kinh Địa trì ghi: “Sự thụ thân và nơi sinh ra của chúng sinh ở thế gian đều do chấp ngã. Nếu lìa chấp ngã thì không có nơi để thụ thân này ở thế gian”.
Lại nữa, kinh ghi: “Người có tính duyên giác không hiểu danh từ của pháp môn bốn đế, chỉ nương trần cảnh mà quán thân này là vô ngã, liền đoạn trừ được các kết sử, hơn hẳn các hàng thanh văn. Hàng duyên giác chỉ tu một pháp quán vô ngã, tuy không quán riêng bốn đế, nhưng khi quán vô ngã như thế thì có đủ bốn đế. Hàng duyên giác quán báo thân hữu lậu niệm niệm sinh diệt, đây là quán về lí khổ tập, từ niệm trước gọi là khổ, sinh ra niệm sau gọi là tập. Khi biết rõ vô ngã tức thấy được khổ đế. Ngay lúc biết rõ vô ngã tức đoạn trừ được sự tập đế. Những phiền não đã đoạn không sinh khởi nữa tức chứng diệt đế. Trí năng quán này tức là đạo đế”. Thế nên, khi chỉ quán vô ngã thì đã có đủ bốn đế, đoạn trừ kết sử, được giải thoát, không cần quán riêng bốn đế mới được giải thoát.
Cho nên, luận Thành thật dẫn kinh Chân-thúc-ca ghi: “Tất cả pháp đều là nhân duyên đắc đạo, chẳng phải chỉ tu bốn đế mới đắc đạo”. Thế nên biết, vào đạo chẳng cần phải quán riêng, chỉ quán chung một pháp vô ngã cũng được. Nếu có khả năng thấy rõ thân tâm vô ngã tức là Kiến đạo, đoạn trừ được các kiến hoặc.
Tuy nhiên, nếu phân biệt kiến hoặc này theo bốn đế thì ba cõi tổng cộng có tám mươi tám kết sử. Nếu luận về tâm mê ngay nơi một người thì chung qui chỉ là năm kiến hoặc và nghi. Sáu kết sử này so với người ngu thì gọi là khó nhận biết, nếu so

Phần 8

với người trí thì gọi là dễ đọạn trừ. Nghĩa là phàm phu ngu muội tu học pháp thiện phân nhiều đều biết chán tham, sân, si,mạn; còn đối với tâm chấp ngã cho đến chấp giới thủ v.v... thì không biết đó là lỗi, cho nên khó nhận biết. Vì khó nhận biết nên kinh nói là nặng.
Kinh Niết-bàn ghi: “Vì những kết sử ngã kiến, giới thủ cho đến tâm nghi v.v... không những tất cả chúng sinh thường sinh khởi mà còn khó nhận biết, giống như bệnh thường phát, nên gọi là bệnh nặng. Lại vì khó nhận biết nên cũng gọi là bệnh nặng”.
Luận Thành thật ghi: “Người thế gian không thấy lỗi của giới thủ, nên bị kết sử trói buộc”.
Thế nên biết, đối với kết sử bén nhạy, người ngu không nhận biết, nhưng đối với người trí thì dễ đoạn trừ. Nghĩa là nếu tu học, quán chiếu thân tâm sinh diệt, thấy rõ vô ngã, thì khi phiền não nhẹ mỏng, tức biết trí tuệ quán chiếu là đoạn pháp đạo, sáu kết sử trong tâm tự nhiên vĩnh viễn không còn. Khi biết rõ thân tâm sinh diệt chẳng phải nhân thì không còn tâm chấp ngã, biên kiến tự nhiên được đoạn trừ. Nhờ quán thấy lí bốn đế, biết rõ thánh đạo, có niềm tin sâu sắc, không còn nghi ngờ, thì sự bác bỏ không có nhân quả tự nhiên được đoạn trừ. Chỉ có trí tuệ là đạo, còn giới thủ v.v... chẳng phải là thắng pháp, thì không còn giới thủ; kiến thủ tự nhiên được đoạn trừ.
Cho nên, sáu kết sử này khó nhận biết mà dễ đoạn trừ. Vì khó nhận biết nên chúng sinh mê muội từ vô thỉ đến nay, vì dễ đoạn trừ nên khi hiểu rõ lí bốn đế thì liền được đoạn trừ, không giống như các kết sử tham v.v... dễ nhận biết mà khó đoạn trừ. Vì dễ nhậnbiết nên con người phần lớn không chấp thủ, vì khó đoạn trừ nên bậc a-na-hàm cũng có.
Vì vậy, kết sử bén nhạy mê lí bốn đế, chính tâm tà kiến che lấp thánh trí, nên không giải thoát, không giống như các kết sử tham v.v... duyên riêng từng cảnh mà sinh khởi, chỉ chướng ngại cho sự tu tập quán chiếu, còn tự thân không mê lí bốn đế.
Do đó, các bậc thánh Tiểu thừa tuy có tham, sân, nhưng không bị chướng ngại, vẫn hiểu rõ lí bốn đế, không còn nghi ngờ. Cho nên, trong lúc tu học các pháp, người trí chỉ quán chiếu để hiểu rõ bốn đế, đoạn trừ mê muội để vào đạo.
Nếu tu học quán hạnh, tuy là phàm phu mê muội, nhưng khi hiểu chút ít về lí bốn đế thì không còn kiến chấp sai lầm. Nếu không tu học để hiểu rõ, thường mê đạo pháp, thì tuy tu các pháp thiện vẫn không đoạn trừ được kiến chấp tà vạy, không những chấp thủ sai lầm mà tự thân không thể giải thoát.
Đa số những người phỉ báng chính pháp và phỉ báng người hành đạo đều do tâm mê muội, chưa phân biệt chính-tà, không biết người là đúng, hễ không giống mình liền cho mình là đúng, cho họ là sai. Thế nên, người mê tâm không có đạo pháp, phần lớn căn cứ vào pháp thiện ở thế gian mà vọng chấp sai quấy lẫn nhau.
Cho nên, luận Câu-xá ghi: “Người tại gia do chấp năm trần mà khởi lên đấu tranh với người xuất gia.Người xuất gia do chấp các kiến hoặc mỗi người khác biệt mà khởi lên đấu tranh với người xuất gia”.
Luận Thành thật ghi: “Nếu người cho giới thủ là pháp thanh tịnh, thì gọi là kết sử giới thủ. Nếu cho những điều mình chấp là chân thật, những điều khác đều là vọng ngữ, gọi là kết sử kiến thủ. Hai kết sử này là nguyên nhân đấu tranh của người xuất gia, cũng gọi là thuận theo khổ. Lại do giới thủ này có thể bỏ tám thánh đạo. Giới thủ này chẳng phải chính đạo, chẳng phải đạo thanh tịnh, thường thuận theo khổ. Lại nữa, giới thủ trói buộc người xuất gia, các dục trói người tại gia. Người chấp giới thủ tuy tu tập các pháp xuất gia, nhưng luống công, không được gì cả. Lại do giới thủ này có thể phỉ báng chính đạo và người thực hành chính đạo. Giới thủ cũng là chỗ khiến các ngoại đạo khởi tâm kiêu mạn mà suy nghĩ rằng: “Ta nhờ pháp này mà hơn mọi người”.
Đoạn kinh này minh chứng rằng, giới thủ V.V... chỉ là pháp thiện ở thế gian chiêu cảm quả sinh tử, nên gọi là thuận theo khổ, chẳng phải đạo pháp chân thật. Người ngu phần nhiều mê muội, chấp thủ sai lầm sinh ra tội lỗi. Cho nên, mười kết sử tuy đều là pháp bất thiện, nhưng luận về nguyên nhân chướng ngại đạo pháp và phát sinh lỗi lầm thì chỉ có sáu kết sử mê tâm là căn bản. Nếu không đoạn trừ sáu kết sử này, chẳng những không giải thoát mà còn tạo tội nặng phải rơi vào đường ác.
Thích Vương thành xa xa
Vui đỉnh Thứu vòi vọi
Nghiệp trói trong ba cõi
Mười kết sử lợi độn.
Xấu ác đọa đường dưới
Đoạn lậu lên cõi trên
Chấp ngã chịu quả khổ
Sợ voi, nhảy giếng khô.
Kiệt xuất mong hướng thượng
Niệm niệm trừ tâm bệnh
Nhờ xưa gặp Thế Tôn
Kính trọng bậc Đại tiên.
Phá kết sử vô minh
Tỏ ngộ lí chân chính
Buông gánh, tâm an vui
Nghỉ ngơi đều yên tĩnh.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục