PUCL QUYỂN 71 - CHƯƠNG TỘI PHÚC VÀ DỤC CÁI
15/12/2015
QUYỂN 71 Quyển này gồm hai chương: Tội phúc và Dục cái. 80. CHƯƠNG TỘI PHÚC 80.1. LỜI DẪN Thiện ác trái nhau như sáng tối, tội phúc báo ứng rõ ràng như ở trước mắt. Cho nên, tạo ác thì đọa lạc, làm thiện thì thăng cao. T...

QUYỂN 71
Quyển này gồm hai chương: Tội phúc và Dục cái.
80. CHƯƠNG TỘI PHÚC
Thiện ác trái nhau như sáng tối, tội phúc báo ứng rõ ràng như ở trước mắt. Cho nên, tạo ác thì đọa lạc, làm thiện thì thăng cao. Tạo phúc được hưởng giàu sang, gây họa phải chịu đau khổ. Thế nên biết, cần phải đoạn trừ tội ác, phải gieo trồng phúc thiện. Giáo lí bậc thánh nói rõ ràng, thiện ác lên xuống có thể xét biết.
80.2. NGHIỆP
* Lời bàn
Tên gọi của hành vi này Đức Phật nói không nhất định, về hành vi tội, các kinh gọi là Hắc hắc nghiệp hoặc Bất thiện nghiệp, về hành vi phúc của phàm phu, các kinh gọi là Hắc bạch nghiệp hoặc thiện nghiệp. Tuy có nhiều tên gọi, nhưng thể của hành vi không khác.
Thể của hành vi là gì? Luận Trí độ ghi: “Giết hại v.v... là nghiệp bất thiện, bố thí v.v... là nghiệpthiện”. Đoạn này nói về hai hành vi tội-phúc, trong đó nói giết hại v.v..., tức bao gồm mười điều ác, đều là hành vi tội, nói bố thí v.v..., tức bao gồm các nghiệp giới, định V.V.. của sự tu, cũng đồng là nghiệp thiện thế gian, đều là hành vi phúc.
Trong nghiệp thiện thế gian, tám thiền định, nếu so với loạn thiện ở cõi Dục thì đó là bất động hạnh. Nếu so với trí tuệ lí quán xuất thế thì thiền định này duyên nơi sự mà lập, nên gọi là hành vi phúc. Như nói sáu độ thì tâm an tĩnh đạt được trong năm độ trước cũng gọi chung là phúc.
Tuy nhiên, mỗi người có hành vi tội phúc không giống nhau, có người chuyên tu phúc, có người chỉ tạo tội, lại có người vừa tạo tội vừa tu phúc. Người chuyên tu phúc là người có tâm thanh tịnh, làm những việc đem lại lợi ích cho mình và người, như bố thí, trì giới v.v...
Người chỉ tạo tội là người không phát khởi tâm từ, bất kỳ hành động, lời nói và ý nghĩ nào cũng đều làm tổn hại người khác.
Người vừa tạo tội vừa tu phúc là khi tu phúc, tâm ý bên trong không thanh tịnh, có khi còn làm tổn hạimọi người. Đây chính là tạp nghiệp ở cõi Dục, vì chẳng thuần tịnh, nên cũng gọi là bất tịnh. Hành vi tội có biểu hiện thô thiển, có thể nhận biết, về tạp nghiệp, nếu so với hành vi phúc thanh tịnh lại có điểm giống, có điểm khác, ẩn kín khó nhận biết.
Nghĩa là những người tu phúc, nếu xét hình tướng bên ngoài thì có sự tin thích việc làm giống nhau. Nếu xét tâm ý bên trong thì có sự mong cầu cho mình, cho người mỗi mỗi sai khác, vi tế và thô thiển không giống. Vì những người tu phúc bên ngoài thì giống nhau, nhưng bên trong khác nhau, cho nên có hai nghiệp thuần tịnh và xen tạp sai biệt.
Nếu khéo điều phục tâm, từ bi thương xót chúng sinh, thì bất cứ làm việc gì cũng thành nghiệp thiện lớn. Nếu không nhiếp phục tâm ý, nhìn tướng để tu phúc, bên trong thô thiển, bên ngoài vi tế, chỉ tạo thành tạp nghiệp, thích hợp với kẻ ngu si. Dù là cao hơn lí thế gian, nhưng thật sự trái với đạo, cũng chẳng phải là phúc thanh tịnh. Vì khi tu phúc, người ấy không quán lí sinh không, chấp ngã, luôn hiện hành khắp ba tính, những nghiệp tạo tác đều tương ưng với ngã đảo này, đây là tính giả thủ, cho nên trái với đạo.Vì dùng tâm bất thiện cầu quả báo thế gian và cầu danh, cho nên chẳng phải là phúc thanh tịnh.
Đối với hai nghiệp thuần tịnh và xen tạp này người đời phân nhiều không hiểu rõ, nên nay luận bàn sơ lược để mọi người nhận biết mà thực hành.
Trước trình bày tạp nghiệp, sau trình bày phúc thanh tịnh.
80.2.1. Tạp nghiệp
Chỉ những tạp nghiệp mới có thô và tế. Nghiệp thô thì xấu ác và làm tổn hại người. Nghiệp tế thì chỉ mong cầu phúc báo thế gian riêng cho mình.
Đầu tiên luận về tạp nghiệp thô. Chẳng hạn về bố thí, có người dùng tài vật phi pháp để bố thí, như trộm vật của người khác để bố thí. Người này chiêu cảm quả báo ở đời sau thường bị hao tổn. Bố thí rồi sinh tâm hối tiếc thì cảm quả báo cũng như vậy. Cho nên, ưu-bà-tắc giới kinh ghi: “Nếu người nào bố thí rồi sinh tâm hối tiếc, hay đoạt lấy tài vật của người để bố thí thì đời sau người ấy tuy có được tài vật, nhưng thường bị hao tổn”.
Có người vừa bố thí vừa làm tổn hại người khác, nghĩa là trong lúc bố thí không giữ tâm thuần thiện, hoặc sinh tâm sân giận, hoặc khởi tâm kiêu mạn, thì sẽ bị rơi vào đường ác. Người ấy đời sau tuy được phúc báo, nhưng chỉ thụ thân trong loài súc sinh, chứ không cảm quả báo trời, người. Cho nên, kinh Phân biệt nghiệp báo có bài kệ
Hành bố thí rộng lớn
Nóng tính, nhiều sân hận
Không trụ trong chính niệm
Đời sau đọa thân rồng
Đã hành bố thí lớn
Cống cao, khinh miệt người
Do nghiệp này thụ sinh
Chim cánh vàng sức mạnh.
Nếu là người tu phúc để mong cầu quả báo thế gian, thì khi xả bỏ tài vật, chỉ mong cầu quả báo đời sau, hoặc vì sợ thân mạng và tài sản vô thường mà xả bỏ, hoặc vì mong được nổi tiếng, cầu lợi ích cho mình. Bố thí như vậy chẳng phải từ bi cứu giúp người nghèo khổ mà giống trao đổi, chẳng phải là nghiệp thuần tịnh, nên trong kinh gọi đó là bố thí không thanh tịnh.
Như Bách luận ghi: “Vì mong cầu quả báo mà bố thí thì gọi là bố thí không thanh tịnh, giống như trao đổi”. Cho nên, quả báo của sự bố thí này có hai loại: một, quả bảo đời này được nổi tiếng, mọi người kính mến v.v...; hai, đời sau được giàu sang v.v...; nhưng vẫn gọi là bố thí không thanh tịnh.
Ví như một khách buôn đến phương xa, tuy mang theo nhiều đồ vật và làm nhiều việc lợi ích, nhưng chẳng phải vì thương xót chúng sinh mà chỉ vì mong cầu lợi ích cho mình, đây là nghiệp không thanh tịnh. Bố thí để mong cầu quả báo cũng như vậy.
Từ minh chứng này có thể biết được, nếu không thật sự có tâm từ bi thương xót mà chỉ mong cầu tiếng tăm cho mình, hoặc quả báo đời sau, thì dẫu có bố thí rộng lớn cũng chẳng phải là nghiệp thanh tịnh. Vì nghiệp không thanh tịnh nên quả báo cũng không thanh tịnh.
Thế nên, kinh Phân biệt nghiệp báo có bài kệ:
Bố thí để sinh thiên
Hoặc mong cầu danh tiếng
Báo ân, hoặc mong đáp
Hoặc sợ hãi hành thí
Cảm quả không thanh tịnh
Chịu nhiều điều không tốt
Bố thí đã như vậy thì các việc thiện như trì giới v.v... mà không thanh tịnh cũng như thế.
Bách luận ghi: “Người giữ giới với tâm không thanh tịnh tức là giữ giới để mong cầu quả báo an vui cho riêng mình, như giữ giới vì mong cầu sinh về cõi trời để cùng vui chơi với các thiên nữ, hoặc mong cầugiàu sang ở cõi người để hưởng thụ năm thứ dục lạc, đó đều vì dâm dục vậy. Như người che giấu hành vi, bên trong ham muốn sắc đẹp, bên ngoài giả vờ thân thiện, đó là không thanh tịnh.
Ngoài thô tâm như trên, còn lại là tâm vi tế không thanh tịnh trì giới. Như bài kệ mà tôn giả A-nan nói với tôn giả Nan-đà:
Như dê đực húc nhau
Húc tới, lại đẩy lùi
Người vì dục giữ giới
Việc ấy cũng như vậy
Người mở lòng vì lợi ích người khác thì được nhiều phúc. Lại nữa, nếu bố thí cho người nghèo, người bệnh, người biết pháp mà thiếu thốn vật chất, đem lại lợi ích lớn lao cho họ thì người bố thí sẽ được nhiều phúc.
Kinh Hiền ngu ghi: “Đức Phật khen ngợi năm trường hợp bố thí được phúc vô lượng. Đó là bố thí cho người từ phương xa đến, bố thí cho người sắp đi xa, bố thí cho người bệnh tật, bố thí cơm nước cho người đói khát, bố thí cho người biết pháp. Năm trường hợp bố thí như vậy sẽ được phúc ngay hiện đời”. Cách bố thí này đúng pháp, hiện tại được nhiều phúc báo, không giống vì cầu danh mà bố thí chonhững đối tượng không cần thiết, bấy giờ cho dù xả bỏ nhiều tài vật nhưng không được quả báo thanh tịnh”.
Lại nữa, về người tùy hỉ tạp nghiệp bố thí này, nếu so với người làm các việc bất thiện lớn thì đây là tội nhỏ, cũng được gọi là thiện; nhưng sánh với người li dục và luôn vì lợi ích người khác thì tạp nghiệp này lại là tội.
Luận Trí độ ghi: “Người hành động thô thì có tội thô, người hành động tế thì có tội tế" Cho nên, tạp nghiệp này là hành vi vừa tội vừa phúc. Hễ có tâm mong cầu thì chẳng thuần tịnh, là nghiệp không thanh tịnh.
Trên đây là trình bày hành vi vừa tội vừa phúc, là tạp nghiệp không thanh tịnh ở cõi Dục.
80.2.2. Phúc thanh tịnh
Nếu luận về nghiệp thanh tịnh thì ngược lại phần trước. Cho nên, Bách luận ghi: “Người bố thí thanh tịnh thì được mọi người kính mến, đạt được lợi ích và phúc báo cũng nhiều”.
Kinh Nhân quả có bài kệ:
Nếu người nghèo khó nào
Bản thân không tài sản
Khi thấy người bố thí
Liền khởi tâm vui theo
Phúc báo vui theo ấy
Cũng bằng người bố thí.
Lại nữa, luận Đại trượng phu có bài kệ:
Thương xót thí một người
Công đức bằng đại địa
Vì mình thí nhiều người
Được phúc bằng hạt cải
Cứu một người gặp nạn
Hơn bố thí nhiều người
Ánh sáng tất cả sao,
Chẳng bằng một vầng trăng.
Nếu phàm phu tạo tội phúc mà chẳng hiểu nhân quả, thiện ác không có tự tính thì đó là mê lầm sự tướng, chấp trước tự tính, luôn bị trói buộc trong ba cõi.
Cho nên, luận Trí độ ghi: “Ví như ruồi nhặng bu đậu bất cứ nơi nào, chỉ trừ lửa dữ; chúng sinh cũng như vậy, đắm nhiễm tất cả pháp thiện và pháp bất thiện cho đến Phi tưởng, chỉ không duyên vào lửa lớn tính không Bát-nhã ba-la-mật”.
Từ minh chứng này có thể biết được, không có tính thiện ác mãi luân chuyển trong năm đường, tức sẽ không có Phật tính, chúng sinh.
Đây là trình bày sơ lược những đoạn kinh luận nói về hành vi tội phúc của phàm phu mê tướng, chấp tính.
80.3. HÀNH VI TỘI
* Lời bàn
Phần này nói về bậc thánh, căn cứ hành vi phúc ở sau mà nói có hành vi tội. Tuy nhiên, hành vi tội ở đây là do vọng thấy có cảnh nhiễm ô, chấp chặt vào ngã nhân, dính mắc nơi thuận nghịch, từ đó phân biệt ta người mà hình thành nghiệp ác. Do đó, trong kinh có bài kệ:
Tham dục không sinh diệt
Chẳng khiến tâm buồn phiền
Nếu người tâm chấp ngã
Và người chấp có đắc
Kẻ ấy bị tham dục
Dắt dẫn vào địa ngục.
Cho nên, ngoài tâm không có cảnh khác, nhưng vì chúng sinh mê lầm, vọng thấy có, rồi khởi tâm đắm nhiễm. Như người nằm mộng thấy cảnh rồi khởi các tâm tham, sân, vì người nằm mộng ấy cho rằng có cảnh thật. Thật ra, hoàn toàn không có cảnh, chỉ do tâm vọng thấy.
Do đó, luận Trí độ ghi: “Như người ở trong mộng, không có việc vui mà cảm thấy vui; không có việc sân mà lại sân, không có việc sợ hãi mà sợ hãi. Chúng sinh trong ba cõi cũng như vậy. Do vô minhche lấp nên điều không đáng sân mà lại sân v.v...”.
Thế nên biết, ngoài tâm không có cảnh khác, nhưng vì chúng sinh mê, vọng thấy rồi khởi tâm đắm nhiễm. Ngoài tâm tuy không có địa ngục v.v..., nhưng khi nghiệp ác thành thục thì vọng thấy có thụ khổ.
Như kinh Chính pháp niệm ghi: “Ngục tốt ở Diêm-ma-la chẳng phải là chúng sinh, nhưng người tội thấy bọn họ là chúng sinh, trong tay cầm kềm sắt cháy đỏ. Người ở địa ngục, đến lúc nghiệp ác hết, thì không còn thấy ngục tốt ở trong địa ngục ấy nữa. Vì sao? Bởi vì họ chẳng phải là chúng sinh. Giống như đèn hết dầu thì không cháy; nghiệp hết cũng như thế, cho nên không còn thấy ngục tốt Diêm-la nữa. Như ở cõi Diêm-phù-đề, mặt trời xuất hiện thì bóng tối không còn; khi nghiệp ác không còn thì ngục tốt Diêm-la cũng như vậy. Mắt dữ, miệng ác giống như sắc tướng đáng sợ của chúng sinh đều dần dần tiêu diệt. Như phá bỏ bức tường tranh thì hình vẽ cũng bị mất; cũng vậy, bức tường tranh nghiệp ác phá đi thì , không còn thấy cảnh đáng sợ của ngục tốt Diêm-la nữa”.
Đoạn kinh này minh chứng rằng, chúng sinh tạo nghiệp ác chiêu cảm quả khổ, vốn là rỗng không mà chúng sinh vọng thấy có cảnh địa ngục.
Hỏi: Người thấy địa ngục, thấy những cảnh ngục tốt cho đến hổ, sói v.v... có thể cho là vọng thấy, nhưng trong địa ngục kia, thật có cảnh vua Diêm-la ngồi phán xử tội nhân, tại sao nói là không có?
Đáp: Người kia thấy có chúa ngục cũng là vọng thấy. Chính do nghiệp ác của tội nhân huân tập vào tâm, khiến cho tâm người ấy biến dị, trong chỗ rỗng không mà vọng thấy có, chứ thật ra không có Diêm-la trong địa ngục. Cho nên luận Duy thức ghi: “Như trong địa ngục không có chúa ngục, nhưng chúng sinh ở địa ngục do nghiệp, nên tự nhiên thấy có chúa ngục và các thứ hình cụ. Từ tâm phát khởi mà thấy đây là địa ngục, đây là ban đêm, đây là ban ngày; hoặc vì nghiệp ác mà thấy chó, chim cắn mổ, hoặc thấy núi đè”. Đoạn văn này minh chứng rằng, nghiệp thiện ác huân tập vào tâm, khiến tâm thấy cảnh sai khác, chứ thật không có địa ngục. Cho nên ngoài tâm tuy không có địa ngục, nhưng khi nghiệp ác đã thành thì tự vọng thấy.
Hỏi: Nghiệp báo khổ này đã chẳng phải thiện, thì chỉ cần ngài nói việc thiện để chúng sinh tu tập? Đâu cần phải theo tâm mà trình bày nghiệp khổ?
Đáp: Nhân quả thiện ác là pháp đối lập nhau, nếu không nói tham v.v... là ác thì lấy gì để hiển bày bố thí v.v... là thiện. Nếu không nói ba đường ác là nơi thống khổ thì lấy gì để hiển bày cõi trời, người là cảnh an vui. Vì vậy, cần phải nói hành vi tội của phàm phu để mọi người nhận biết mà xa lìa nẻo ác, quay về đường thiện. Nếu là kẻ độn căn thì khi nghe nghiệp khổ này, liền sinh tâm xa lìa, mong cầu niềm vui ở đời, từ đó chuyên tâm tu tập các phúc nghiệp. Nếu là người lợi căn thì khi nghe nghiệp khổ này, liền sinhtâm xa lìa, mong cầu giải thoát, từ đó chuyên tâm tu tập các pháp quán, phát khởi nhân xuất thế ngay trong phiền não. Cho nên, kinh ghi: “Tất cả phiền não đều la hạt giống Phật!”.
Thế nên biết, nghiệp khổ là căn bản của sự xa lìa, là nhân duyên để sinh tâm thiện. Do đó cần phải nói, nếu không nói về nghiệp ác và hành vi tội này thì chúng sinh không nhận biết, cứ mãi gây tạo mà không đoạn trừ. Tuy lượng định tâm mà nói các nghiệp ác, nhưng thật ra, ngoài tâm không có nghiệp khổ nào khác, chỉ có thức, không có cảnh, thể của tâm thường thanh tịnh. Cho nên, kinh ghi: “Tuy nói lỗi của tham dục, nhưng thật ra không thấy có pháp nào đáng để tham đắm. Tuy nói lỗi của sân khuể, nhưng thật ra không thấy có pháp nào đáng để sân hận. Tuy nói lỗi của ngu si, nhưng biết các pháp không si, không ngại. Tuy trình bày nỗi khổ bị đọa vào tam đồ đáng sợ, nhưng thật không có các tướng địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh”.
Đoạn văn này minh chứng cho biết được nghiệp tội, nhân quả không ở ngoài tâm. Người ngu không hiểu Đức Phật thuận theo tâm họ mà lập phương tiện, nêu ra
nghiệp khổ. Hai môn ở trên căn cứ theo Thật giáo trình bày, thể của tội vốn chân thật, không có gì đáng phá, nhưng vì người ngu không hiểu, nên cần nêu rõ tội. Đây là trình bày cho người ngu không biếtchỗ chân thật mà hiểu sai lầm, cho nên cần nêu rõ hành vi tội.
80.4. HÀNH VI PHÚC
80.4.1. Nghiệp thiện tán loạn ở cõi Dục
Trước tiên trình bày hàng phàm phu tu thiện ở cõi Dục. Nếu người tạo những việc phúc thiện mà tâm tán loạn thì nhất định sinh về cõi dưới, gọi là nghiệp cõi Dục. Trong năm đường đều phát khởi nghiệp này.
Đầu tiên trình bày cõi địa ngục. Theo luận A-tì-đàm, chúng sinh ở địa ngục cũng có ba nghiệp thiện, chính là ba thiện căn của tâm. Ba thiện căn này chỉ thành tựu trong tâm chứ không hiện hành, vì chúng sinh ở nạn xứ này phần nhiều không được nghe pháp, tư duy đến đạo, nên không hiện hành. Nếu luận về sinh đắc thiện căn thì ở địa ngục cũng có. Như quốc vương Tiên Dự giết năm trăm bà-la-môn. Sau khi chết các bà-la-môn này bị đọa vào địa ngục, nhưng tại đây họ đã phát tín tâm, nên được sinh về nước Cam Lộ. Cho nên biết, ở địa ngục cũng có thiện căn hiện hành.
Luận Thành thật cũng ghi là ở địa ngục có thiện căn hiện hành. Tuy không có sức phương tiện khởi tu thiện để đạt được thánh đạo, nhưng nhờ sinh đắc thiện căn mà phát tâm thiện. Nghĩa là từ vô thỉ đến nay, chúng sinh trong thế gian từng tu các pháp tín, tiến,niệm v.v..chưa khởi tâm tà kiến, phản bác không có nhân quả, pháp thiện này không mất, cho nên vừa sinh ra liền có được, gọi là sinh đắc thiện, nương vào thiện căn này mà phát khởi thiện tâm. Nếu nghiệp xưa cảm được duyên mạnh, gặp Đức Phật ứng hiện, chuyển hóa khiến khổ não chấm dứt, thuyết pháp cho chúng sinh ấy nghe mà tu tập các pháp môn phương tiện.
Cõi súc sinh, rồng v.v... cũng có tu thiện. Như kinh Niết-bàn ghi: “Khi Đức Phật thuyết pháp, có vô lượng chim, thú phát tâm bồ-đề, được sinh lên cõi trời”. Theo luận A-tì-đàm, mười điều thiện của ngạ quỉ, súc sinh chẳng thuộc về luật nghi, vì hầu hết các loài chúng sinh đều phát sinh bảy luật nghi thiện của thân và miệng, nhưng riêng loài quỉ thần không phát sinh được. Thế nên, theo luận Tát-bà-đa ghi, súc sinh vì ngu si ám độn nên không phát khởi luật nghi. Nếu theo luận Thành thật thì quỉ thần, súc sinh, v.v... cũng có khả năng đắc giới.
Luận về cõi người thì ba nghiệp thiện của người ở châu Bắc Đan-việt chỉ thành tựu trong tâm mà không hiện hành. Vì thiện căn không bị đoạn mất, nên đến lúc kiếp tận mọi người đều tu thiền định. Riêng người ở châu này thì không thể lìa dục hoàn toàn, cònngười ở ba châu kia đều có mười nghiệp thiện, nhưng cũng có người không đủ.
Luận về sáu tầng trời cõi Dục thì chư thiên cõi này không có giới biệt giải thoát của hàng xuất gia, chỉ có mười nghiệp thiện và giới của tại gia. Cho nên, luận Thành thật ghi: “Như trời Đế Thích và loài rồng v.v... phần nhiều đều thụ trì tám trai giới, chứ không chỉ riêng loài người”.
Luận về chư thiên cõi sắc, theo A-tì-đàm thì chúng sinh hễ sinh lên tầng trời trên thì mất đi nghiệp thiện ở tầng trời dưới, nghĩa là tầng trời trên không phát khởi nghiệp thiện của tầng trời dưới vì nhân quả ở tầng trời ấy đã bị đoạn trừ. Khi thân sinh lên tầng trời trên thì pháp ở tầng trời dưới không còn. Đây là căn cứ theo nghiệp hữu lậu, ở tầng trời dưới tu tập để sinh lên tầng trời trên. Khi sinh lên tầng trời trên thì mất đi nghiệp thiện ở tầng trời dưới, nên không thể tu tập nghiệp thiện ở tầng trời dưới.
Nêu theo luận Thành thật thì tầng trời trên được thành tựu là nhờ ở tầng trời dưới, cũng là nưorng vào nghiệp thiện ở cõi dưới. Như các vị Phạm thiên thấy Phật liền đỉnh lễ, nói lời khen ngợi, tức là tán thiện. Đây là nưong vào nghiệp thiện ở cõi Dục.
Nếu theo các luận A-tì-đàm, Tì-bà-sa v.v..., Phạm thiên đinh lễ, khen ngợi Phật chẳng phải làthiện cõi Dục. Đây là tâm uy nghi ở cõi Sơ Thiền phát khởi. Theo sở y thì đây là vô kí, chẳng phải thiện, còn thân, miệng chính là nghiệp cõi sắc.
Đây là trình bày về nghiệp phúc thiện tán loạn ở cõi Dục nương vào thân mà phát khởi.
80.4.2. Tứ Thiền cõi sắc
Nếu loài ngạ quỉ, súc sinh, khi gặp Phật, nhờ duyên mạnh cũng có thể ngộ đạo, cũng có được nghiệp thiện do tu phát khởi. Vì nghiệp vô lậu này nương vào thiền định mà phát khởi, dù không có chính thể của thiền định căn bản sâu xa, ắt cũng có tâm thiền định vị lai cạn cợt. Thiền định vị lai này là nghiệp cõi Sắc.
Khi nương vào thiền định vị lai này để đoạn trừ phiền não cõi Dục thì nghiệp này cảm được quả Phạm thiên thuộc Sơ Thiền. Nếu từ cõi trời người mà luận, tức là tu tập nghiệp cõi sắc, trừ người ở châu Bắc Đan-việt không tu thiền, còn người ở ba châu kia cho các trời cõi Dục đều có mười thiện cõi sắc do tu tập phát khởi. Người chứng Sơ thiền, trong tâm có ba pháp: vô tham, vô sân và chính kiến. Nếu luận về bảy nghiệp thiện của thân và miệng, thì nương vào tâm định để phát khởi thiền giới. Thiền giới chính là bảy nghiệp thiện của thân và miệng. Cho nên, khi đắc thiền vẫn có mười nghiệp thiện cõi sắc. Nếu từ cõi Vô Sắc mà luận, theo A-tì-đàm thì các trời cõi Vô sắc không có nghiệp thiền định cõi sắc do tu tập khởi, vì khi sinh về cõi trên thì đoạn trừ thiện ở cõi dưới. Nếu theo luận Thành thật thì khi sinh về cõi Vô sắc cũngvẫn có nghiệp cõi sắc. Đây là trình bày phúc nghiệp thiền định và mười nghiệp thiện của chư thiên cõi sắc nương vào thân để phát khởi.
Nếu luận về nghiệp tứ không định cõi Vô sắc nương vào thân phát khởi, thì nghiệp của trời người trong ba cõi đều có do tu tập phát khởi.
Trên đây là trình bày về các hành vi phúc nương vào thân phát khởi.
Nếu luận về phúc nghiệp phát khởi của thánh nhân, thì không liên quan đến phàm phu, nên không đề cập.
Có bài kệ:
Xét nhân, cõi có khác
Xả bỏ lại tương đồng
Khổ hết, an vui đến
Vui hết, khổ lại sinh.
Tội phúc đâu sai khác
Đều do tâm nhiễm ô
Nếu đoạn nghiệp hữu lậu
Pháp thân thường hiện tiền.
80.5. CẢM ỨNG
Đời Đường, Khổng Khác: Vào niên hiệu Vũ Đức (618-626), đời Đường, quan Tổng quản phủ kí thấttham quân ở Toại châu là Khổng Khác đột ngột bi bệnh mà chết, một ngày sau thi sống lại. ông ta kể-“Tôi bị bắt đưa đến chỗ quan. Quan hỏi:
- Vì sao ông giết hai con trâu?
Tôi đáp:
- Tôi không giết.
Quan nói:
- Em trai ông làm chứng là ông giết, vì sao ông không thú nhận?
Quan bèn cho gọi người em chết đã mấy năm, người em mang gông cùm xiềng xích đến. Quan hỏi:
- Ông nói, anh ông giết trâu là đúng hay sai?
Người em đáp:
- Anh tôi trước đây vâng chiếu đi sứ để phủ dụ giặc Liêu, sai tôi giết trâu làm tiệc chiêu đãi. Thật ra, đó là tôi làm theo lời anh chứ chẳng phải tự giết.
Tôi nói:
- Tôi sai em giết trâu để chiêu đãi là có thật, nhưng đó là vì việc nước, sao lại có tội?
Quan nói:
- Ông giết trâu để chiêu đãi giặc Liêu, lấy việc phủ dụ lập công để mong được phong chức, đó là vì lợi mình, sao lại nói là vì việc nước?
Nhân đó, quan nói với em tôi:
- Vì ông làm chứng cho anh nên chúng tôi giữ ông lại lâu. Nay anh ông đã sai ông giết nên ông không có tội, chúng tôi thả ông ra cho đi thụ sinh.
Quan nói xong thì thấy người em bỗng nhiên biến mất, rốt cuộc hai anh em không nói được điều gì. Quan lại hỏi tôi:
- Tại sao ông giết hai con vịt?
Tôi nói:
- Trước đây, khi nhậm chức huyện lệnh, tôi giết vịt để đãi các quan thôi, há lại có tội ư?
Quan hỏi:
- Có thể dùng món khác thay cho vịt để đãi các quan, ông giết vịt đãi họ để được tiếng khen, chẳng phải là tội sao?
Quan lại hỏi:
- Tại sao ông luộc sáu cái trứng gà?
Tôi đáp:
- Lúc sinh tiền, tôi không ăn trứng gà, chỉ nhớ lúc chín tuổi vào ngày Hàn thực, mẹ tôi đưa sáu cái trứng, bảo tôi luộc mà ăn.
Quan nói:
- Vậy thì ông muốn đổ tội cho mẹ ông sao?
Tôi đáp:
- Không dám, tôi chỉ nói lí do thôi, nhưng đó là tự tôi giết hại.
Quan nói:
- Ông giết mạng sống của kẻ khác thì sẽ tự thụ lấy quả bảo.
Quan vừa nói xong, bỗng có mấy mươi người đến bắt giữ, kéo tôi ra ngoài.
Tôi kêu lớn:
- Các quan ở đây cũng xử oan quá!
Nghe vậy, quan gọi tôi lại và nói:
- Oan điều gì?
Tôi nói:
- Tội lỗi của tôi xưa nay, ông đều ghi chép không sót, còn việc phúc thì không được ghi vào, chẳng phải oan cho tôi sao?
Quan phủ hỏi vị chủ bạ:
- Người này tạo phúc gì, sao không ghi vào?
Chủ bạ đáp:
- Việc phúc cũng đều ghi chép, nhưng vì đang xét tội phúc nhiều hay ít, nếu phúc nhiều tội ít thì cho hưởng phúc trước, còn tội nhiều phúc ít thì cho chịu tội trước, nhưng người này phúc ít tội nhiều nên chưa bàn đến việc phúc của ông ta.
Quan phủ nổi giận, nói:
- Tuy ông ta chịu tội trước, nhưng sao không nêu việc phúc cho ông ta biết?
Quan phủ liền sai người đánh quan chủ bạ một trăm roi, trong chốc lát đã đánh xong, máu chảy lênh láng trên đất. Sau đó, quan nêu tất cả việc phúc mà tôi đã tạo từ trước đến nay cũng không sót. Quan phủ bảo tôi:
- Đáng lẽ ông chịu tội trước, nhưng tôi cho ông trở về bảy ngày, hãy siêng năng làm việc phúc.
Nhân đó, quan sai người đưa tôi ra ngoài thì tôi sống lại”.
Từ đó, ông mời các tăng ni đến tụng kinh, sám hối, chuyên tu khổ hạnh và kể lại việc này. Đến ngày thứ bảy, sau khi từ biệt người nhà, ông bỗng chốc qua đời. Người anh của Lâm tôi làm quan ở Toại châu cũng kể lại như vậy.
81. CHƯƠNG DỤC CÁI
81.1. NĂM DỤC
81.1.1. Lời dẫn
Xét trong kinh luận thì người tu đạo đều nói năm dục là cội gốc chướng ngăn thánh đạo, nếu không đoạn trừ thì không thể chứng quả thánh. Cội gốc ấy nói sơ lược có ba loại: năm căn bên trong, năm trần bên ngoài và năm thức do căn trần tiếp xúc sinh ra. Do ba loại này nên sinh ra đắm nhiễm dục.
Kinh Nỉết-bàn ghi: “Thiện nam! Ví như voi dữ tâm chưa điều phục, nếu có người cưỡi, nó sẽ không tuân theo, chạy khỏi xóm làng, đến nơi hoang vắng. Người không khéo nhiếp phục năm căn cũng như vậy, chúng sẽ dẫn dắt người rời bỏ thành niết-bàn, đến chốn đồng hoang sinh tử.
Thiện nam! Ví như gian thần luôn xúi giục vua làm ác; gian thần năm căn cũng như vậy, thường xúi giục chúng sinh tạo vô lượng điều ác.
Ví như đứa con hư hỏng không vâng lời dạy dỗ của sư trưởng, cha mẹ, thì không điều ác nào không làm; người không nhiếp phục năm căn cũng như vậy, không vâng lời chỉ dạy tốt lành của sư trưởng thì không điều ác nào không tạo.
Thiện nam tử! Hàng phàm phu không nhiếp phục năm căn, thường bị bọn giặc địa ngục, súc sinh, ngạ quỉ làm hại, cũng như kẻ oán thù, trộm cắp hại người lương thiện”.
Lại nữa, kinh Di giáo ghi: “Giặc năm căn gây họa đến nhiều kiếp, tai hại rất lớn, cần phải thận trọng! Thế nên, người trí chế ngự mà không chạy theo, phòng hộ nó như canh giữ giặc. Nếu để năm căn buông lung, thì chẳng bao láu người ấy cùng bị tiêu diệt”.
Cái là ngăn che, nghĩa là ngăn che người tu hánh khiến cho tâm tính mê muội, định tuệ không sáng, nhận chìm người thiện, là chướng ngại đối với người tu chính đạo.
Thế nên, luận Đối pháp ghi: “ ‘Cái’ khiến cho điều thiện không hiển lộ, ‘cái’ che lấp tâm, làm cho điều thiện không tăng trưởng”.
Năm dục từ năm trần phát sinh, còn năm triền cái từ năm căn sinh khởi.
81.1.2. Sự trói buộc cửa dục
* Lời bàn
Luận về năm dục, đã có năm căn thì liền phát sinh năm dục. Năm dục trói buộc chúng sinh khiến không được giải thoát Do đó kinh Niết-bàn ghi: “Hàng phàm phu bị năm dục trói buộc khiến ma Ba-tuần tự do dẫn đi, như người thợ săn bắt khi mang về nhà.
Này thiện nam! Ví như quốc vương khi ở trong nước của mình thì thân tâm an lạc, nhưng khi sang nước khác thì chịu nhiều đau khổ. Tất cả chúng sinh cũng như vậy, nếu ở trong cảnh giới của mình thì được an vui, nhưng nếu đến cảnh giới khác thì gặp ác ma, chịu nhiều khổ não. Cảnh giới của minh là bốn niệm xứ, cảnh giới khác là năm dục”.
Năm dục là sắc, thanh, hương, vị, xúc... được nhận biết nơi thân con người. Dục nghĩa là mong cầu; vì tham đắm năm trần nên gọi là dục; còn các cảnh mà ý căn tiếp xúc gọi là pháp trần. Sáu trần này không chỉ là trần mà còn gọi là ác tặc bởi những tác dụng của nó.
Kinh Niết-bàn ghi: “Như sáu tên giặc nguy hiểm có thể cướp hết tài sản của tất cả nhân dân. Giặc cướp sáu trần cũng như vậy, có thể cướp hết tài sản căn lành của hết thảy chúng sinh. Như sáu tên giặc nguy hiểm nếu xông vào nhà người thì có thể cướp hết tài sản hiện có, chẳng phân biệt tốt xấu, khiến nhà giàu sang bỗng trở nên nghèo khó; giặc cướp sáu trần cũng như vậy, nếu xông vào năm căn của con người thì có thể cướp hết tất cả pháp thiện. Khi pháp thiện đã hết thì thành người nghèo cùng, côi cút, làm kẻ nhất-xiển-đề. Thế nên, bồ-tát xem sáu trần như sáu tên giặc nguy hiểm”.
81.1.3. Sự chướng ngại của dục
Lời bàn: Lỗi của dục là ma dữ năm dục và giặc ác sáu trần. Đức Phật phán định đó là phiền não điên đảo vì ngăn che Phật tính.
Kinh Niết-bàn ghi: “Năm thức của chúng sinh tuy chẳng phải một niệm, nhưng đều là hữu lậu, tà kiến điên đảo, làm tăng trưởng lậu hoặc. Tất cả phàm phu đều chấp trước sắc cho đến chấp trước thức, do chấp trước sắc nên sinh tâm tham, do sinh tâm tham nên bị sắc trói buộc cho đến bị thức trói buộc, do bị trói buộc nên không thoát khỏi tất cả phiền não khổ đau sinh, già, bệnh, chết, ưu, bi”.
Lại ghi: “Nếu bồ-tát nào tự cho là giữ giới thanh tịnh, tuy không chuyện trò, đùa giỡn với người nữ, nhưng thích nghe tiếng nói của họ; hoặc khi thấy người nam đi theo người nữ, hay khi thấy người nữ đi theo người nam liền khởi tâm tham đắm, thì bồ-tát ấy đã nhiễm pháp dục, phá hủy tịnh giới, làm Vẩn đục Phạm hạnh, khiến giới bị cấu uế, nên không được gọi là trọn vẹn tịnh giới”.
Lại nữa, luận Trí độ ghi; “Bồ-tát quán sát các thứ bất tịnh, trong những mối nguy hại thì người nữ là nguy hại nhất. Những thứ như dao, lửa, điện chớp, sấm sét, oan gia, rắn độc vẫn có thể gần được; còn người nữ thì lòng bỏn xẻn, ganh ghét, sân giận, dua nịnh, khó chịu, nhơ bẩn, đấu tranh, tham lam, đố kị, không nên gần gũi. Vì sao? Vì người nữ là tiểu nhân, tâm trí cạn mỏng, chỉ thích gần dục, không màng đến giàu dang, trí đức, danh tiếng; chuyên làm dục ác, pháthiện căn của người. Gông cùm, xiềng xích, trói buộc, giam cầm tuy khó tháo nhưng vẫn dễ mở; còn khóa nữ sắc hễ trói người thì gốc rễ nhiễm trước sâu nặng, không thể tháo gỡ được; đó là bệnh nặng nhât.
Như Đức Phật thuyết kệ:
Thà lấy thanh sắt nóng
Đâm vào mắt của mình
Chẳng dùng tâm ô nhiễm
Lén nhìn sắc nữ nhân.
Mỉm cười lại làm duyên
Kiêu mạn, lại thẹn thùng
Quay mặt cùng liếc mắt
Lời ngon ngọt, giận hờn.
Với dáng đi yểu điệu
Làm mê hoặc lòng người
Lưới dâm dục giăng bủa
Khiến người dễ mất thân.
Lúc đi, đứng, nằm, ngồi
Liếc mắt nhìn, làm dáng
Kẻ ngu, trí mỏng cạn
Bị dục làm đắm say.
Cầm kiếm dẹp quân thù
Vẫn có thể thắng họ
Nữ tặc phá hại người
Không sao ngăn cản được.
Rắn hổ mang ngậm độc
Còn có thể bắt giữ
Nữ tình mê hoặc người
Thật chẳng nên tiếp cận.
Người có trí rõ biết
Nữ nhân chẳng đáng nhìn
Giả sử muốn nhìn họ
Phải xem như mẹ, chị.
Nhìn kỹ và quán tưởng
Là nơi chứa bất tịnh
Lửa dâm không dẹp trừ
Sẽ bị nó đốt cháy
Lỗi về sắc đã vậy, lỗi của hương, vị, xúc... cũng đều như thế. Từ xưa đến nay, tất cả chúng sinh luân chuyển trong sinh tử, không thể thoát li đều là do nữ sắc trói buộc. Kẻ tối tăm không có mắt tuệ, nên bị rơi xuống hàm sinh tử. Nay kẻ tăng, người tục không xem xét tai họa của dục, cứ mãi chạy theo, biết ngày nào mới quay đầu lại để thoát khỏi họa hại này. Tâm luôn đắm nhiễm, không thể tạm rời, giới còn không có thì làm sao có định, tuệ, để quán Phật tính ư?
Cho nên, trong kinh Niết-bàn có bài kệ:
Tạo ác, báo chưa đến
Như sữa kết thành lạc
Giống tro phủ lửa hầm
Người ngu giẫm đạp lên.
81.1.4. Họa của năm dục
Luận Trí độ ghi: “Người tu hành nên quở trách năm dục: Thương thay! Chúng sinh thường bị năm dục quấy nhiễu, lại tìm cầu không ngừng, sẽ rơi xuống hầm lửa lớn, phải chịu thống khổ lửa dữ thiêu nướng. Năm dục không ích lợi, giống như chó gặm xương. Năm dục gây thêm tranh đấu, giống như quạ tranh thịt. Năm dục đốt người, giống như cầm đuốc đi ngược gió. Năm dục hại người, giống như đạp phải rắn độc. Năm dục không thật, giống như cảnh trong mộng. Năm dục không bền, giống như vật mượn trong giây lát. Người đời ngu muội tham đắm năm dục, đến chết vẫn không từ bỏ, khiến đời sau phải chịu khổ tột cùng. Năm dục này chỉ là thú vui tạm thời, còn vĩnh viễn chịu nhiều đau khổ. Như người tham đắm vị ngọt, liếm mật bôi trên dao bén mà chẳng biết cái họa đứt lưỡi. Năm dục sắc, thanh, hương, vị, xúc là chướng ngại lớn cho người tu thiền, nếu muốn tu định cần phải buông bỏ”.
81.1.4.1. Lỗi tham đắm sắc: Như vua Tần-bà-sa-la vì tham đắm sắc mà tự thân sang nước kẻ thù, ở một mình trong phòng kĩ nữ A-phạm-bà-la. Vua Ưu điền cũng vì tham đắm sắc mà chặt tay chân của năm trăm vị tiên. Do những nhân duyên như thế nên quở trách lỗi tham sắc.
81.1.4.2. Lỗi tham đắm âm thanh: Âm thanh vô thường, vừa nghe liền diệt. Người ngu si không hiểu âm thanh là vô thường, biến đổi, nên vọng sinh tâm ưa thích; âm thanh đã tắt rồi mà tâm còn đắm nhiễm. Như năm trăm vị tiên sống trong núi, nghe tiếng hát của cô gái Chân-đà-la đang tắm nơi ao trong núi Tuyết, liền đánh mất thiền định. Tâm đắm nhiễm âm thanh, nó rong ruổi cuồng loạn, không kềm chế được, khiến con người mất các công đức, mai sau đọa vào đường ác. Người trí quán chiếu sự sinh diệt của âm thanh, trước sau không giống nhau, không liên tục, khi nhận biết như vậy thì không còn đắm nhiễm. Với người như thế, âm nhạc cõi trời còn không làm tâm loạn động, huống là âm thanh thế gian. Do những nhân duyên như thế nên quở trách lỗi tham đắm âm thanh.
Cho nên, luận ghi: “Như năm trăm vị tiên đang bay, nghe tiếng hát của cô gái Khẩn-đà-la, tâm đắm nhiễm, cuồng loạn, liền mất hết thần túc, đồng loạt rơi xuống đất.
Như tiếng đàn ca của Truân-luân-ma, vua Khẩn-đà-la, tấu lên để biểu đạt thật tướng của các pháp và ca ngợi Đức Phật, thì núi Tu-di và mọi cây cối đều lay động, các vị đại đệ tử như Đại Ca-diếp v.v... đangngồi trên tòa cũng đều múa may, không kềm chế được. Bồ-tát Thiên Man hỏi Đại Ca-diếp:
- Thầy là bậc đại trưởng lão, thực hành hạnh đầu-đà đệ nhất, sao hôm nay không kềm chế tâm mình cho an định?
Ca-diếp đáp:
- Tâm ta không hề lay động trước các dục của cõi trời, người, nhưng đây là âm thanh phúc báo từ vô lượng công đức của bồ-tát phát ra, lại do trí tuệ biến hóa tạo thành, nên ta không thể kềm chế được.
Ví như gió từ tám phương thổi đến không thể lay động núi Tu-di; nhưng gió Tì-lam vào thời kiếp tận thổi đến thì làm cho núi Tu-di cũng tan nát như cỏ mục.
Như cây đàn của a-tu-Ia thường tự phát ra âm thanh tùy theo sở thích của họ, dù không có người gãy. Tiếng đàn này không làm cho tâm tán loạn, cũng không làm cho tâm định tĩnh, là quả báo có được nhờ phúc đức, tùy theo sở thích mà phát ra âm thanh. Bồ-tát pháp thân cũng như vậy, không có tâm phân biệt, cũng không có tâm tán loạn, cũng không có tướng thuyết pháp. Đây là kết quả của vô lượng phúc trí”.
81.1.4.3. Lỗi tham đắm mùi thơm: Có người nói, tham đắm mùi thơm thì ít tội, nhưng đắm nhiễm mùi thơm sẽ mở cửa cho kết sử, cho nên tuy giữ giới trămnăm, có thể đánh mất trong phút chốc. Như có vị a-la-hán thường vào cung rồng khất thực, thụ trai xong, đem bát về đưa cho sa-di rửa. Trong bát còn sót vài hạt cơm, sa -di ngửi thấy thơm quá, ăn rất ngon, mới tìm cách núp dưới thằng sàng của thầy, hai tay nắm chặt chân ghế. Đến khi vị thầy vào cung rồng thì sa-di đó cũng vào theo.
Đến nơi, rồng hỏi:
- Người này chưa đắc đạo, sao ngài lại dẫn theo?
Thầy đáp:
- Tôi không biết!
Thế là sa-di đã được ăn uống, lại thấy rồng nữ thân hình xinh đẹp, thơm ngát không ai sánh bằng, nên sinh tâm đắm nhiễm, liền lập nguyện xấu ác: “Ta sẽ tạo phúc để đoạt lấy cung rồng và ở trong cung điện này”.
Long vương nói:
- Lần sau, ngài chớ dẫn theo sa-di này!
Sau khi trở về, sa-di hết lòng bố thí, trì giới, luôn cầu được như nguyện, sớm trở thành rồng. Một hôm, đi nhiễu quanh chùa, tự nhiên dưới chân phun ra nước, sa-di tự biết chắc được làm rồng, nên đến bò ao lớn, nơi mà trước kia thầy vào cung rồng, lấy ca-sa trùm đầu, nhảy vào ao liền chết, biến thành rồng lớn. Do có phúc đức lớn, sa-di giết được rồng chúa kia, máu nhuộm đỏ cả ao.
Trước đây, thầy và chúng tăng quở trách nguyện của sa-di. Sa-di thưa:
- Tâm con đã quyết định, tướng đã hiện, sẽ đưa thầy và chúng tăng đến ao xem.
Những việc ác như vậy là do lỗi tham đắm mùi thơm.
Lại có một tì-kheo đi kinh hành bên ao sen trong rừng, nghe hoa sen thơm, mũi ngửi tâm đắm, vị thần giữ ao hỏi:
- Tại sao ông rời chỗ ngồi thiền định trong rừng kia mà đến đây ngửi trộm hương của tôi?
Vì tham đắm mùi thơm, nên các kết sử đã lặng yên đều dấy khởi.
Cùng lúc ấy, có một người đi vào ao, hái nhiều hoa sen, nhổ rễ, bẻ cành, bỏ bừa bãi rồi đi, nhưng thần ào im lặng, không nói gì.
Thấy vậy, tì-kheo nói:
- Người kia bẻ hoa trong ao thì ông không nói gì, còn tôi chỉ đi bên bờ ao thì bị ông quở trách, cho là tôi ngửi trộm hương.
Thần ao nói:
À Người thế gian xấu ác thường ở trong phân nhơ tội lỗi, bất tịnh ngập đầu thì ta không nói tới. Còn ông là người tốt, hành thiền mà đắm nhiễm hương này là đánh mất việc thiện của ông, nên tôi quở trách! Ví như tấm lụa trắng sạch mà bị dính một chấm đen thì aicũng thấy, còn người ác kia giống như chiếc áo đen dẫu dính thêm vết mực thì cũng không ai thấy, chẳng ai hỏi làm gì.
Những nhân duyên như vậy là lỗi tham đắm mùi thơm.
81.1.4.4. Lỗi tham đắm vị ngon: Nên tự tỏ ngộ ta chỉ vì tham đắm vị ngon mà phải chịu các khổ uống nước đồng sôi, nuốt hòn sắt nóng. Nếu không quán sát thức ăn mà tâm cứ mãi tham đắm thì sẽ đọa làm loài trùng nhơ bẩn.
Như một sa-di thường ưa thích sữa, khi các đàn-việt cúng sữa cho chúng tăng, sa-di được phần còn dư, trong lòng ưa thích, vui sướng không nguôi. Sau khi qua đời, sa-di sinh vào trong bình chứa sữa dư này. Thầy của sa-di đã đắc quả A-la-hán nên biết được, mỗi khi chúng tăng chia sữa, thì thầy nói:
- Từ từ! Chớ làm tổn thương sa-di thích sữa! Chúng tăng thưa:
- Đó là loài trùng, sao thầy bảo là sa-di thích sữa? Thầy đáp:
- Con trùng ấy vốn là sa-di, đệ tử của ta, chỉ vì tham đám chút sữa còn dư mà sinh vào bình đó!
Từ trong phần sữa của thầy, con trùng bò ra, thầy bảo:
- Kẻ thích sữa kia vì sao đến đây?
Nói xong, thầy lấy sữa cho nó.
Lại nữa, thái tử con vua Nguyệt Phần ưa thích vị ngon. Người giữ vườn của vua ngày nào cũng đem quả ngon đến cho thái tử. Bấy giờ, trên cây lớn trong vườn có chim mẹ đang nuôi con. Chim mẹ thường bay đến Hương sơn lấy quả thơm ngon để nuôi con. Vì bầy chim con tranh nhau, nên có một quả rơi xuống đất. Sáng sớm hôm sau, người giữ vườn thấy quả này vô cùng kì lạ, liền dâng lên vua. Vua quí quả này vì màu sắc và mùi thơm của nó thật là đặc biệt. Thái tử thấy quả, liền theo xin vua. Vì thương con, nên vua ban cho. Thái tử ăn quả, thưởng thức hương vị, tâm tham đắm sâu nặng, ngày nào cũng mong được quả. Lập tức, vua gọi người giữ vườn đến hỏi nguyên do. Người giữ vườn tâu:
- Quả này không có ai trồng, thần nhặt dưới đất, không biết từ đâu đến?
Thái tử khóc lóc, không chịu ăn uống gì. Vua thúc giục, quở trách người giữ vườn:
- Hãy mau tìm cho được quả này!
Đến chỗ nhặt quả hôm nọ, người giữ vườn thấy có tổ chim, mới biết quả ấy do chim mang về. Thế là ông ta núp trên cây, rình để lấy quả. Khi chim mẹ bay về, ông cướp lấy quả rồi dâng lên vua. Ngày nào cũng như vậy, nên chim mẹ nổi giận, bay đến Hương sơn,hái lấy quả độc, màu sắc và mùi vị giống như quả trước đem về Người giữ vườn cũng cướp lấy, dâng lên vua. Vua cho thái tử ăn, chưa được bao lâu da thịt thối rữa mà chết.
Những nhân duyên như vậy là lỗi tham đắm vị ngon.
81.1.4.5. Lỗi tham đắm sự xúc chạm: Xúc chạm là nguyên nhân sinh ra kết sử, là cội gốc trói buộc tâm. Vì sao? Vì bốn căn kia mỗi thứ duyên với một phần tương ứng, còn xúc thì toàn thân đắm nhiễm và khó xả bỏ, thường tạo tội nặng.
Bấy giờ, đức Thế Tôn nói nhân duyên Bản sinh cho các tì-kheo:
- Vào thời quá khứ xa xưa, có vị tiên sống trong núi ở nước Ba-la-nại. Vào một đêm tháng tám, vị tiên đi tiểu trong bồn tắm, chợt thấy bầy nai đang giao hợp, thi tâm dâm sinh khởi, xuất tinh trong bồn. Một con nai cái đến uống nước ấy thì liền mang thai. Trước khi sinh, nó đến bên am của vị tiên. Đủ tháng, nó sinh ra một con vật, thân giống như người, nhưng đầu có một sừng và chân thì giống chân nai. Thấy con mình giống người, nai mẹ bỏ lại cho vị tiên rồi đi. Khi đi ra ngoài, vị tiên thấy nai con, tự nhớ lại duyên xưa, biết là con của mình, liền đem về nuôi. Khi lớn khôn, nó dược vị tiên dạy dỗ, nên thông hiểu mười tám bộkinh lớn của ngoại đạo. Nó lại học ngồi thiền, thực hành bốn vô lượng tâm, chứng năm thần thông.
Một hôm, nó lên núi, gặp trời mưa lớn, đường sá lầy lội, trơn trượt, chân đi không vững, nên té xuống đất, làm vỡ chiếc bình đựng nước, chân lại bị thương. Tức giận quá, nó đổ nước đầy bình, rồi chú nguyện, khiến trời không mưa. Vì phúc đức của vị tiên, nên các loài rồng, quỉ thần đều không dám tuôn mưa. Do không mưa, nên ngũ cốc, ngũ quả không thể sinh trưởng, nhân dân khốn khổ, không còn lối sống.
Thấy vậy, vua Ba-la-nại lo buồn, ra lệnh các đại thần nhóm họp để bàn việc cầu mưa. Một vị quan thông thái thưa:
- Thần nghe đồn, có vị tiên một sừng sống trong núi Tiên Nhân, chân đi không vững, vẫn cố leo núi, nên té xuống đất, chân bị tổn thương, nên nổi giận, chú nguyện khiến cho suốt mười hai năm không mưa.
Nghe vậy, vua suy nghĩ: “Nếu suốt mười hai năm không mưa, nước ta ắt diệt vong, nhân dân không còn!”.
Vua liền chiêu mộ: “Ai có khả năng khiến cho vi tiên mất năm thần thông, chịu qui phục, làm người dân bình thường, thì ta sẽ chia nửa quốc gia để trị vì”.
Lúc ấy, trong nước này có kĩ nữ Phiến-đà, xinh đẹp, giàu có, đến nhận lời chiêu mộ của vua. Cô ta hỏi mọi người:
- Đó là người hay chẳng phải người?
Mọi người đáp:
- Là người, do một tiên nhân sinh ra!
Kĩ nữ nói:
- Nếu là người, thì ta có thể phá được.
Nói xong, kĩ nữ lấy chiếc mâm vàng đựng đầy vật báu quí lạ và tâu vua:
- Tiểu nữ sẽ cưỡi trên cổ vị tiên ấy, dẫn đến đây!
Lập tức, kĩ nữ xin vua ban cho năm trăm cỗ xe chở năm trăm mĩ nữ, năm trăm xe nai chở các loại bánh Hoan Hỉ đều được làm bằng các loại cỏ thuốc, sau đó vẽ trên các bánh này, hòa thành những quả màu sắc khác nhau, lại đem theo nhiều loại rượu ngon có nồng độ cao với màu sác và mùi vị giống như nước. Kĩ nữ mặc áo bằng vỏ cây để giống như tiên nhân, đi vào rừng, cất am tranh bên cạnh am của tiên nhân để ở.
Tiên nhân một sừng đi ra, nhìn thấy. Các mĩ nữ ra đón tiếp, dâng cúng hoa đẹp, hương thơm, khiến tiên nhân vô cùng vui vẻ. Họ lại dùng lời dịu dàng kính cẩn thăm hỏi tiên nhân, rồi đưa vào phòng, mời ngồi trên giường nệm đẹp, dâng rượu
thơm ngon thay nước trong, mời bánh hoan hỉ thay trái cây. Sau khi ăn uống no nê, tiên nhân nói với các mĩ nữ:
- Từ khi sinh ra đến nay, ta chưa được thưởng thức quả ngon, nước ngọt thế này!
Các mĩ nữ thưa:
- Chúng tôi chuyên làm điều thiện, nên trời cho được toại nguyện, có quả ngon, nước ngọt này!
Tiên nhân hỏi các mĩ nữ:
- Vì sao các cô có nhan sắc xinh đẹp như thế?
Đáp:
- Chúng tôi nhờ ăn quả ngon, uống nước ngọt này nên có nhan sắc như vậy.
Kĩ nữ hỏi tiên nhân:
- Ngài không sống với người thế gian được sao?
Đáp:
- Sống cũng được!
Kĩ nữ hỏi:
- Ngài tắm gội với tôi được không?
Đáp:
- Cũng được!
Bàn tay của kĩ nữ mềm mại, vừa chạm vào da thịt thì tâm tiên nhân rung động, liền tắm gội với các mĩ nữ, lòng dục dấy khởi, nên thành việc dâm. Ngay đó, tiên nhân mất thần thông, trời tuôn mưa suốt bảy ngày đêm, khiến nhân dân mở hội ăn uống vui mừng. Sau bảy ngày, rượu và món ngon đều hết, đành dùng trái cây, nước suối, hương vị chẳng ngon, tiên nhân lại đòi các thứ trước đây.
Kĩ nữ nói:
- Những thứ ấy hết rồi! Chúng ta hãy đến một nơi cách đây không xa thì mới có.
Tiên nhân nói:
- Tùy ý các cô
Thế là họ lên đường. Cách thành không xa, kĩ nữ nằm ở giữa đường và nói:
- Tôi không thể đi được nữa!
Tiên nhân nói:
- Nếu cô không đi được, hãy leo lên cổ tôi, tôi cõng đi!
Trước đó, kĩ nữ sai người báo tin cho vua để vua đến chứng kiến tài trí của mình, nên vua ra lệnh chuẩn bị xa giá lên đường đến xem. Vua hỏi:
- Nguyên nhân nào mà ngươi làm được việc này?
Kĩ nữ tâu:
- Đó là nhờ tài khéo léo của tôi. Nay ông ta đã như vậy, không thể có thần thông trở lại. Hãy cho ông ta ở trong thành, hết lòng kính trọng cung cấp đầy đủ năm dục và phong cho làm đại thần.
Sống trong thành vài ngày, thân thể trở nên yếu gầy, ông ta nhớ lại tâm thiền định, chán dục lạc thế gian. Thấy vậy, vua hỏi:
- Sao ngài không vui, khiến thân thể trở nên yếu gầy như thế?
Tiên nhân đáp:
- Tuy có đủ năm dục, nhưng tồi nhớ mãi chốn núi rừng thanh vắng, nơi các tiên nhân dạo chơi, không thể quên được!
Vua suy nghĩ: “Nếu làm trái ý thì ông ta đau khổ, đau khổ tột cùng thì sẽ chết. Ta vốn mong cầu trừ dẹp tai họa, nay đã được rồi, vậy thì cưỡng ép ông ta làm gì nữa .
Vua liền cho ông ta trở về. Khi về núi, tiên nhân tinh tiến tu hành, không bao lâu chứng được năm thần thông.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Tiên nhân một sừng ấy là tiền thân của Ta. Kĩ nữ kia là Da-du-đà-la ngày nay. Thuở ấy, cô ta dùng bánh hoan hỉ để dối gạt Ta, do chưa đoạn trừ kết sử nên Ta bị mê hoặc. Nay cô ta lại dùng bánh hoan hỉ để mê hoặc Ta, nhưng không thể được.
Qua việc này nên biết, sự xúc chạm êm dịu có thể làm cho tiên nhân động tâm, huống là người phàm ngu muội!
Những nhân duyên như thế là lỗi tham đắm sự xúc chạm.
81.2. NĂM CÁI
Hỏi: Năm cái là gì?
Đáp: Đó là tham dục, sân khuể, thùy miên, trạo hối và nghi.
81.2.1. Tham dục
Tham dục nghĩa là đang lúc ngồi thiền, bỗng khởi dục giác, vọng niệm nối nhau, tham cầu không dứt, đến nỗi sinh bệnh.
Như luận Đại trí độ ghi: “Thuật-bà-già vì nhớ vương nữ, lòng dục dấy khởi thiêu đốt thân thể, cháy lan đến cả miếu thờ trời, huống là trong tâm nổi lửa dục mà chẳng thiêu đốt các pháp thiện sao? Nếu tâm nhiễm dục thì không do đâu gần đạo được. Cho nên, trong luận Đại trí độ có bài kệ:
Người tàm quí vào đạo
Khất thực hóa độ người
Sao buông lòng tham dục
Chìm đắm vào năm tình.
Đã bỏ năm dục lạc
Dứt hẳn chẳng ngó ngàng
Sao lại còn tham dục
Như ngu mửa lại ăn.
Mong cầu dục thì khổ
Lúc được, sợ hãi nhiều
Khi mất, càng phiền muộn
Chẳng lúc nào an vui.
Các tai họa như vậy
Làm sao dứt bỏ đây
Được phúc vui thiền định
Mới không bị dối lừa.
81.2.2. Sân khuể Sân hận là cội gốc đánh mất pháp thiện, là nguyên nhân đọa vào đường ác, là oan gia của pháp lạc, là giặc lớn của thiện tâm, là kho chứa lời ác, là dao búa gây tai họạ. Trong lúc tu hành, ta suy nghĩ: “Người này não hại ta và người thân của ta, khen ngợi kẻ ta thù oán”. Suy tính quá khứ, vị lai cũng như vậy. Đó là chín chỗ phiền não sinh ra sân hận, niệm sân hận che lấp tâm trí nên gọi là “cái”. Hãy mau dẹp bỏ, không để cho tăng trưởng.
Như luận Đại tri độ ghi: “Thích-đề-bà-na dùng kệ hỏi Phật:
Dẹp gì được an ổn ?
Dứt gì hết lo buồn?
Gì là gốc của độc
Nuốt mất các pháp lành?
Đức Phật đáp kệ:
Dẹp sân được an ẩn
Dứt sân hết lo buồn
Sân là gốc của độc
Sân diệt các pháp lành!
Khi biết như vậy, chúng ta nên tu tập tâm từ bi, dùng nhẫn nhục diệt trừ sân hận để tâm thanh tịnh; quán tiếng nói là rỗng không, giả tạm, chẳng nên nổi sân.
Cho nên, luận Đại trí độ ghi: “Bồ-tát biết các pháp không sinh, không diệt, tự tính vốn không. Nếu người nào sân giận, mắng chửi, đánh đập, giết hại ta thì ta đều xem như mộng, như huyễn”. Quán tiếng nói vốn rỗng không, chỉ là tiếng gió, do nhân duyên mà có, đâu đáng để nổi giận. Cho nên, luận ghi: “Như khi người sắp nói, gió ưu-đà-na từ trong miệng trở xuống đến rốn, chạm rốn phát ra âm thanh, khi âmthanh phát ra chạm vào bảy chỗ thì tạo thành tiếng, gọi là lời nói. Như bài kệ ghi:
Gió tên ưu-đà-na
Chạm rỗn thì chuyển lên
Trở ra qua bảy chỗ
Cổ, lợi, răng, môi, lưỡi
Cổ họng và lồng ngực
Mới phát ra tiếng nói
Kẻ ngu không hiểu rõ
Mê chấp sình sân hận
Kinh Ưu-bà-tắc ghi: “Nếu bị mắng chửi, người trí suy nghĩ: ‘Lời mắng chửi này không phát ra cùng một lúc. Khi chữ trước phát ra thì chữ sau chưa có, khi chữ sau phát ra thì chữ trước lại mất. Đã không cùng một lúc thì tại sao cho là mắng chửi. Chỉ là tiếng gió thoảng qua, sao ta nổi sân hận?”’.
81.2.3. Thụy miên
Trong tâm mê muội gọi là miên; năm căn mờ mịt, thân thể lừ đừ, nằm ngủ uể oải gọi là thụy. Thụy miên này có năng lực phá hủy niềm vui chân thật của đời này và đời sau, nên nó là pháp ác, bất thiện nhất. Vì sao? Vì các thứ ngăn che khác thì chúng sinh có thể nhận biết mà đoạn trừ, còn thụy miên thì như người chết, không thể nhận biết; vì không nhận biết nên khó diệt trừ.
Như luận Đại trí độ ghi: “Bồ-tát nói kệ răn dạy đệ tử về thụy miên:
Các ông chớ ôm thây chết ngủ
Những thứ bất tịnh tạm gọi người
Như thân bệnh nặng, tên bắn trúng
Các khổ chất chồng, ngủ được sao?
Như người bị trói sắp hành hình
Tai họa ập đến, ngủ được sao?
Giặc kết chưa dứt, hại chưa trừ
Như cùng rắn độc ngủ chung nhà.
Cũng như lâm trận giữa gươm đao
Bấy giờ có thế ngủ được sao?
Ngủ thì mê muội, không thấy biết
Ngày ngày dối gạt, cướp trí người
Vì ngủ che tâm không hiểu biết
Lỗi lớn như vậy, ngủ được sao? ”.
Cho nên, luận Đại trí độ ghi: “Bồ-tát quán chúng sinh, dù bị mắng chửi trong trăm nghìn kiếp cũng không khởi tâm sân hận, hoặc được khen ngợi suốt trăm nghìn kiếp cũng chẳng vui mừng, vì bồ-tát biết rõ âm thanh vốn sinh diệt, giống như mộng, như tiếng vang”.
81.2.4. Trạo hối
Trạo hối có ba trường hợp: một, miệng trạo hối, nghĩa là ưa thích ngâm vịnh, tranh cãi thị phi, bàn luận vô ích, nói chuyện thế tục v.v... Hai, thân trạo hối, nghĩa là ưa thích cưỡi ngựa, rong ruổi đó đây, đấu vật đọ sức, đánh đấm v.v... Ba, tâm trạo hối, nghĩa là tâm thức buông lung, ý duyên theo cảnh, trau dồi văn chương, tài nghệ thế gian và các ác giác quán v.v...
Sự trạo hối ấy phá hoại tâm xuất gia.
Cho nên, luận Đại trí độ có bài kệ:
Ông đã cạo đầu, mặc ca-sa
Mang bát khất thực khắp mọi nhà
Tại sao tham đắm sự trạo hối
Tâm ý buông lung mất lợi lành.
Trạo hối làm cho không đạt được lợi ích chính pháp, lại còn đánh mất niềm vui thế gian, nhận biết được lỗi này thì phải dứt bỏ ngay. Sở dĩ nói hối là vì nếu có trạo mà không có hối thì không thành pháp “cái”, bởi lẽ trạo vẫn còn ở trong duyên, đến lúc sắp vào định mới hối hận về những điều đã làm, lo buồn che lấp tâm, nên gọi là “cái”.
Sự trạo hối này có hai trường hợp: một, do trạo mà sau đó sinh tâm hối hận, như trên đã trình bày; hai, người phạm tội nặng, lòng luôn lo sợ, như mũi tên độc ghim vào tim, không thể nhổ được.
Như trong luận Đại trí độ có bài kệ:
Việc nên làm chằng làm
Không nên làm mà làm
Lửa hối hận thiêu đốt
Đời sau đọa ác đạo.
Người có tội biết hối
Hối rồi chớ lo buồn
Như vậy tâm an vui
Chẳng nên nghĩ nhớ hoài.
Có hai thứ hối hận
Nên làm thì chẳng làm
Chẳng nên làm lại làm
Đó là tướng kẻ ngu.
Do tâm không hối hận
Chẳng nên làm lại làm
Bao điều ác đã tạo
Chẳng thể khiến không làm.
81.2.5. Nghi
Nghi che lấp tâm nên không thể định tâm trước các pháp; do không có tâm định nên ở trong Phật pháp mà không đạt được gì. Như người đi vào núi báu, nếu không có tay thì không thể lấy được gì. Lại nữa, nghi có rất nhiều, nhưng chưa hẳn tất cả đều làm chướng ngại định.
Có ba mối nghi làm chướng ngại định là nghi bản thân, nghi thầy tổ và nghi giáo pháp.
1. Nghi bản thân: Hãy tự suy nghĩ: Các căn của ta mờ mịt, tội lỗi sâu dáy, chẳng phải là người ư? Khi đã nghi bản thân mình như vậy thì định tuệ không phát. Nếu muốn học pháp, chớ nên xem thường bản thân, vì thiện căn đời trước thật khó suy lường.
2. Nghi thày tổ: Uy nghi, tướng mạo của thầy thì như thế, bản thân cũng không tu theo chính đạo, làm sao chỉ dạy mình được? Khi khởi tâm ngã mạn, nghi ngờ như vậy, thì chướng ngại thiền định. Ví như vàng để trong túi da hôi thối, vì tham vàng nên chẳng thể vứt túi da; người tu hành cũng vậy, tuy thầy không tu hành thanh tịnh, nhưng mình nên quán tưởng như Phật để dẹp bỏ tâm nghi.
3. Nghi giáo pháp: Người đời phần nhiều chấp vào tâm mình, không có lòng kính tin thực hành các pháp đã thụ. Nếu do dự thì pháp sẽ không thâm nhập vào tâm. Vì sao? Vì nghi làm chướng ngại.
Như luận Đại trí độ có bài kệ:
Như người giữa ngã rẽ
Không biết chọn lối nào
Trong thật tướng các pháp
Nghi cũng lại như vậy.
Vì nghi không siêng cầu
Thật tướng của các pháp
Nghi ấy từ si sinh
Là ác trong các ác.
Trong pháp thiện, bất thiện
Sinh tử và niết-bàn
Quyết là pháp thật có
Nơi pháp chớ sinh nghi.
Nếu các ông nghi hoặc
Ngục tốt thần chết trói
Như sư tử bắt nai
Không thể được giải thoát.
Ở đời tuy có nghi
Nên tu theo pháp thiện
Ví như giữa ngã rẽ
Chọn đường tốt mà đi.
Hỏi: Pháp bất thiện nhiều vô số, vì sao chỉ trừ bỏ năm pháp?
Đáp: Năm pháp này tên gọi tuy hạn hẹp, nhưng nghĩa lí bao gồm ba độc, cũng thâu cả tám vạn bốn nghìn phiền não trần lao. Tham dục cái tức là tham độc, sân khuể cái tức là sân độc, thụy miên cái và nghi cái tức là si độc, trạo hối cái thuộc cả ba độc, cộng lại thành bốn món phiền não.
Trong một món có hai vạn một nghìn phiền não, trong bốn món tổng cộng có tám vạn bốn nghìn phiền não. Cho nên, nếu đoạn trừ được năm pháp “cái” này thì xá bỏ toàn bộ tất cả pháp bất thiện. Ví như mắc nợ đã trả xong, như bệnh nặng được lành, như người đói được đến nước giàu sang, như ở chỗ giặc ác mà được cứu thoát, an ổn, không hoạn nạn; người tu hành cũng vậy, đoạn trừ năm pháp “cái” này thì tâm thanh tịnh. Ví như mặt trời, mặt trăng bị năm thứ che mờ là khói, mây, bụi, sương và bàn tay của a-tu-la che lấp thìkhông thể chiếu sáng; tâm cũng như vậy, từ ví dụ có thể biết được.
Có bài tụng:
Năm dục mờ thần thức
Năm cái che phúc lực
Sáu căn gây nghiệp khổ
Sáu giặc loạn thân tâm.
Sóng dục duyên tình nổi
Lưới ải dệt theo tâm
Ba độc ngăn nhân không
Bốn dòng trôi không dứt.
Giờ đây tuy sửa đổi
Vô lượng đoạn không cùng
Chim-cò không phân biệt
Vượn chuyền đâu thế dừng.
Dục, cái chưa dứt sạch
Làm sao vượt cao xa
Cùng đến nơi thành báu
Diện kiến đấng Năng Nhân.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
01/01/2016
PUCL QUYỂN 85 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)
QUYỂN 85 Quyển này tiếp theo chương Lục độ (tiếp theo) 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ 85.6. TRÍ TUỆ 85.6.1. Lời dẫn Trong hai loại trang nghiêm, tuệ là tối thắng; trong ba phẩm thứ đệ, trí không gì sánh bằng. Thế nên kinh ghi: “Năm đ...
01/01/2016
PUCL QUYỂN 84 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)
QUYỂN 84 Quyển này tiếp theo chương Lục độ, 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt) 85.5. THIỀN ĐỊNH 85.5.1. Lời dẫn Thần thông thù thắng, nếu chẳng nhờ thiền định thì không thể phát sinh; trí tuệ vô lậu, nếu không nhờ tĩnh lặng thì từ đ...
25/12/2015
PUCL QUYỂN 83 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (TT)
Quyển này tiếp theo chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt) 85.4. TINH TẤN 85.4.1. Lời dẫn Bởi tâm nhẫn nhục còn mờ mịt, ý chỉ rốt ráo chưa được hiển bày, thế nên phải luôn sách tấn để tâm không biếng nhác. Kinh ghi: “Tì-k...
24/12/2015
PUCL QUYỂN 82 - CHƯƠNG LỤC Độ (tt)
QUYỂN 82 Quyển này tiếp theo chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC Độ (tt) 85.2. TRÌ GIỚI 85.2.1. Lời dẫn Trộm nghe, giới là thầy của loài người, nên đạo tục đồng vâng giữ. Tâm là chủ của hành động, phàm thánh đều phải chế phục....
24/12/2015
PUCL QUYỂN 81 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt)
QUYỂN 81 Quyển này tiếp theo chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ (tt) 85.1. BỐ THÍ (tt) 85.1.6. Lượng định đối tượng để bố thí * Lời bàn Có hai hạng người bố thí là trí và ngu. Người trí khi hành bố thí nên quán sát người t...
24/12/2015
PUCL QUYỂN 80 - CHƯƠNG LỤC ĐỘ
QUYỂN 80 Quyển này có một chương Lục độ. 85. CHƯƠNG LỤC ĐỘ 85.1. BỐ THÍ 85.1.1. Lời dẫn BỐ thí là nền tảng của muôn hạnh, đã được xếp đầu tiên trong lục độ, lại được nêu trước nhất trong tứ nhiếp. Cho nên, cấp Cô Độc dùn...
24/12/2015
PUCL QUYỂN 79 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
QUYỂN 79 Quyển này tiếp theo chương Mười nghiệp ác. 84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt) 84.13. NHẬN THỨC SAI LẦM 84.13.1. Lời dẫn Người mới học đạo cần phải lấy lòng tin làm đầu. Ví như người đến được núi báu, nếu không có đô...
24/12/2015
PUCL QUYỂN 78 - CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt)
QUYỂN 78 Quyển này tiếp theo chưorng Mười nghiệp ác. 84. CHƯƠNG MƯỜI NGHIỆP ÁC (tt) 84.12. SÂN HẬN 84.12.1. Lời dẫn Do bốn đại khuấy động mà ba độc lẫy lừng. Bởi sáu giặc xâm hại mà trăm mối lo dồn dập. Con người, hoặc d...
