PUCL QUYỂN 70 - CHƯƠNG THỤ BÁO (tt)
15/12/2015
QUYỂN 70 Quyển này tiếp theo chương Thụ báo. 79. CHƯƠNG THỤ BÁO (tt) 79.11. QUẢ BÁO ÁC Nêu có hình thì ảnh hiện, có tiếng tức có vang. Chưa thấy việc hình còn mà ảnh đã mất, tiếng đang dội mà vang đã dừng. Lẽ thiện ác có...

QUYỂN 70
Quyển này tiếp theo chương Thụ báo.
79. CHƯƠNG THỤ BÁO (tt)
Nêu có hình thì ảnh hiện, có tiếng tức có vang. Chưa thấy việc hình còn mà ảnh đã mất, tiếng đang dội mà vang đã dừng. Lẽ thiện ác có báo ứng rõ ràng không sai lệch. Xin nguyện tin sâu, chảng sợ mai sau mất mát. Quả báo khổ đau nặng hay nhẹ sẽ được trình bày đầy đủ ở phần sau.
79.11.1. Sát sinh là nỗi khổ lớn
Như thân tạo nghiệp sát, hoặc cắt thịt lóc da, hoặc luộc nấu sò hến, hoặc săn bắn chim thú, thì nhất định sẽ bị đọa vào trong các địa ngục mổ xẻ, cưa chém. Nếu chưng nấu, rang nướng chúng sinh thì nhất định đọa vào các địa ngục vạc dầu sôi, lò than đỏ. Do nghiệp sát sinh này, nên đọa vào địa ngục, quanh năm mãn kiếp chịu khổ đau cùng tột. Sau khi chịu khổ địa ngục xong, lại làm các loài trâu, ngựa, heo, dê, la, lừa, lạc đà, gà, chó, cá, chim, sò, ốc v.v... bị người giết hại. Các loài ốc hến thọ mạng chẳng trọn, bởi dùng thân mình làm món ăn ngon. Loài cầm thú phải chịu vô lượng kiếp sinh tử, nếu không có mảy may thiện thì vĩnh viễn không thoát. Ví như nhờ có chút phúc, đượclàm thân người, nhưng vừa gá thai đã bị hư sẩy, hoặc sinh ra liền chết, hoặc đến mười tuổi, hai mươi tuổi mà chưa hề biết gì, từ chỗ tối tăm lại vào chỗ tối tăm. Thật đáng xót thương! Nên biết mạng sống ngắn ngủi đều do sát sinh.
Luận Địa trì ghi: “Tội sát sinh eó_ thể khiến chúng sinh bị đọa vào ba đường ác. Nếu được sinh làm người, thì phảỉ chịu hai loại quả báo: Mạng sống ngắn ngủi, thân mang nhiều bệnh tật”.
Mười điều ác, mỗi mỗi đều có đủ năm quả báo:
Sát sinh có năm nỗi thống khổ lớn:
a. Sát sinh phải chịu khổ trong địa ngục: bởi vì sát sinh là làm cho chúng sinh phải chịu khổ, nên sau khi thân hoại mạng chung, tất cả các thứ khổ trong địa ngục đều dồn về bức bách mình.
b. Sát sinh phải bị sinh vào loại súc sinh: vì sát sinh là không có lòng từ bi, trái với đạo lí làm người, nên sau khi chịu khổ ở địa ngục xong, phải chịu làm thân súc sinh.
c. Sát sinh phải bị đọa vào loài ngạ quỷ: vì sát sinh ắt do tâm bỏn xẻn, tham đắm vị ngon, nên sau bị đọa làm ngạ quỷ.
d. Sát sinh khi được làm người thì tuổi thọ ngắn ngủi: vì sát sinh là tàn hại mạng sống của muôn vật, nên tuổi thọ ngắn.
e. Sát sinh thân nhiều bệnh tật: vì sát sinh làm trái đạo lí, chuốc lấy nhiều tai họa vào thân, nên thân sinh nhiều tật bệnh.
Kinh Tạp tạng ghi: “Một con quỷ bạch tôn giả Mục-kiền-liên:
- Mắt tôi lại ở hai vai, miệng và mũi trước ngực mà không có đầu. Đó là do nhân duyên gì?
Mục-kiền-liên đáp:
- Trong đời trước, ngươi thường là đệ tử của bọn đao phủ ‘đồ tể, mỗi khi giết người, ngươi rất vui thích, dùng dây thừng cột tóc người kéo đi. Do nhân duyên đó, nên ngươi phải chịu tội như vậy. Đây chỉ là hoa báo của việc ác, còn quả báo là sẽ bị đọa vào địa ngục ở đời sau!
Sau đó, lại có một con quỷ khác đến hỏi tôn giả Mục-kiền-liên:
- Thân tôi như khối thịt, chẳng có tay chân, mắt, tai, mũi v.v... thường bị chim đến mổ ăn, khổ thật không chịu nổi. Do nhân duyên gi mà bị như thế?
Mục-kiền-liên đáp:
- Ở kiếp trước, ngươi thường cho người ta uống thuốc phá thai, nên nay phải chịu tội như vậy. Đây mới chỉ là hoa báo, còn quả báo là đời sau bị đọa vào địa ngục!”
79.11.2. Trộm cắp là nỗi thống khổ lớn
Lại do nhân sát sinh, nên lòng tham càng nhiều. Lòng tham càng nhiều, thì không có tâm nhường nhịn, mà còn trộm cướp. Nay trộm cướp, sau khi chết bị đọa vào địa ngục Hang sắt, chịu nhiều khổ não trong vô lượng kiếp. Sau khi hết các khổ địa ngục, lại phải sinh vào loài súc sinh, thân thường mang chở nặng, lại bị roi gậy đánh đập, không có chút dừng nghỉ, chỉ ăntoàn cỏ nước. Ở trong loài súc sinh này trải qua vô lượng kiếp sinh tử. Nhờ nhân duyên xưa, nếu có một chút căn lành được sinh làm người thì thấp hèn, thường làm tôi tớ, bị người sai khiến không được tự do, trả nợ chưa xong thì chẳng được nghe pháp. Do chịu khổ này mà luân hồi không cùng tận.
Những người đời này ngăn che ánh sáng, không dâng ánh sáng cúng dường Tam bảo, mà ngược lại, lấy ánh sáng của Tam bảo để dùng riêng cho mình, thì sau khi chết nhất định bị rơi vào các địa ngục Hắc Nhĩ, Hắc Thằng, Hắc Ám chịu khổ vô lượng kiếp. Sau khi chịu khổ trong các địa ngục ấy rồi, lại bị đọa làm thân chí rận... không chịu nổi ánh sáng trải qua vô lượng sinh tử. Nhờ nhân duyên xưa, được chút căn lành, thì làm thân người thấp hèn, dung mạo xấu xí, thân đầy nốt đen, thường ở những nơi nhơ uế, hôi thối, người thấy đều nhờm gớm xa lìa, hai mắt mù lòa. Nên biết tội che lấp ánh sáng cũng do trộm cắp mà ra!
Luận Địa trì ghi: “Tội trộm cắp cũng khiến cho chúng sinh bị đọa vào ba đường ác. Nếu được sinh làm người thì bị hai loại quả báo là nghèo cùng và tài sản không được tự do tiêu dùng”.
Nên biết trộm cắp có năm quả báo khổ:
a. Trộm cắp bị đọa vào địa ngục: vì cướp đoạt, bóc lột, trộm cắp tài sản của người, làm khổ não chúng sinh, sau khi chết, đọa vào địa ngục Hàn Băng chịu nhiều nỗi thống khổ.
b. Trộm cắp bị sinh vào loài súc sinh: do không thực hành đạo làm người, nên chịu quả báo súc sinh,
thân thường mang nặng, đem thịt mình cung cấp cho người để đền nợ đời trước.
c. Trộm cắp bị đọa vào ngạ quỷ: do bỏn xẻn, tham lam dẫn đến trộm cắp. Vì thế, sau khi chịu khổ báo trong loài súc sinh xong, liền phải bị đọa vào ngạ quỷ.
d. Trộm cắp thường sinh làm người nghèo cùng: vì tội cướp đoạt khiến cho người ta mất hết tài sản, do đó mà chiêu cảm quà báo nghèo cùng.
e. Tài sản của năm nhà, không được tự do thụ hưởng: vì trộm cắp, nếu có tiền của thì cũng sẽ bị năm nhà1 cướp đoạt, nên không được tự do.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Một con quỷ thưa Mục-kiền-liên:
- Bạch đại đức! Bụng của con quá to giống như cái lu, cổ họng và tay chân lại nhỏ như cây kim, không thể ặn uống được. Do nhân duyên gì mà con phải chịu nỗi thống khổ này?
Tôn giả Mục-kiền-liên đáp:
- Trong đời trước, ngươi làm chủ một thôn xóm, tự ỷ mình giàu sang, ăn nhậu say sưa, khinh khi mọi người, cướp đoạt miếng ăn của người khác, khiến cho nhiều người đói khổ. Do nhân duyên đó, mà ngươi phải chịu tội này. Đây chỉ là hoa báo, còn quả báo là thân sau ngươi phải chịu khổ báo trong địa ngục.
Lại có một con quỷ khác đến bạch tôn giả Mục-kiền-liên:
- Hai bên nách của con thường có hai bánh xe sắt nóng, khiến cho thân thể con bị cháy nát. Do nhân duyên gì mà con bị như thế?
Tôn giả Mục-kiền-liên đáp:
- Trong đời trước, khi làm bánh cho chúng tăng, ngươi đã lén lấy hai cái bánh kẹp vào trong hai nách, do đó, ngưoi phải chịu tội như thế. Đây chỉ là hoa báo, còn quả báo là thân sau phải chịu khổ trong địa ngục.
79.11.3. Tà dâm là nỗi thống khổ lớn
Do trộm cắp mà tâm không ngay thẳng, trong sạch, buông lòng dâm dật. Đời này dâm dật, hiện tại gặp phải những điều hung ác, nguy hiểm, tâm luôn sợ hãi. Khi bị chồng biết được, là đến lúc bị ách nạn dao gậy đánh đập, đầu chân bị chặt lìa, thậm chí mất mạng. Sau khi chết bị đọa vào địa ngục, nằm trên giường sắt, hoặc ôm trụ đồng, bị quỷ trong ngục đốt lửa thiêu thân. Chịu tội trong địa ngục vừa xong, lại phải thụ thân súc sinh: gà, vịt, chim, sẻ, chó, heo, bươm bướm v.v... trải qua vô lượng sinh tử như thế, chịu khổ đau trong vô lượng kiếp. Sau khi chịu khổ trong loài súc sinh xong, nhờ nhân duyên xưa, nếu gặp được chút căn lành, thì được làm thân người thấp hèn, lại dâm loạn chốn khuê phòng, làm thê thiếp không trinh tiết. Nếu được sủng ái, thì bị người khác cướp đoạt, thường ôm lòng sợ hãi, nhiều mối nguy hiểm, hiếm khi an vui.
Luận Địa trì ghi: “Tội tà dâm cũng khiến cho chúng sinh bị đọa vào trong ba đường ác. Nếu được sinh vào loài người thì gặp hai loại quả báo: một là vợ không trinh tiết, hai là quyến thuộc không được như ý”.
Tà dâm có năm quả khổ lớn:
a. Tà dâm bị quả báo đọa vào địa ngục: vì tà dâm xâm phạm người khác, làm cho người khác bị khổ. Do đó, sau khi chết chịu khổ trong địa ngục.
b. Tà dâm bị quả báo đọa vào súc sinh: vì tà dâm không hợp đạo lí làm người, do đó khi chịu khổ báo ở địa ngục xong, phải thụ thân súc sinh.
c. Tà dâm bị quả báo đọa vào ngạ quỷ: vì tà dâm đều do xan tham, luyến ái dẫn đến, nên bị đọa làm ngạ quỷ.
d. Tà dâm bị quả báo gặp vợ không trinh tiết: vì xâm phạm vợ người ta, do đó mà thường gặp phải vợ không đoan chính, trinh tiết.
e. Tà dâm bị quả báo quyến thuộc không như ý: vì tà dâm là cướp đoạt người sủng ái của kẻ khác, cho nên gặp quyến thuộc không được như ý và thường bị kẻ khác đoạt mât người mình yêu quý.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Xưa có một con quỷ hỏi tôn giả Mục-kiền-liên:
- Con thường tự trùm kín đầu, lại luôn sợ người đến giết hại, tâm thường hoảng hốt, không thể chịu nổi. Do nhân duyên gì mà bị như thế?
Tôn giả đáp:
- Trong đời trước, ngươi tà dâm, sợ bị phát hiện hoặc sợ chồng bắt trói đánh giết, hoặc sợ pháp luật trừng trị, bêu thây nơi ph[s chợ, luôn ôm lòng lo sợ, hoảng hốt, bất an, nên nay ngươi phải chịu tội như thế. Đây chỉ là hoa báo của hạnh xấu, còn quả báo là đời sau phải chịu quả khổ trong địa ngục”.
79.11.4. Vọng ngữ là nỗi thống khổ lớn
Lại do tà dâm, mà dẫn đến lời nói đều không thật, dối gạt người khác. Đời nay dối gạt làm mọi người phải khổ não, thì sau khi chết nhất định phải đọa địa ngục Đề Khấp, chịu khổ vô lượng kiếp. Sau khi chịu khổ trong địa ngục đó xong, liền bị đọa vào loài ngạ quỷ chịu khổ sinh tử vô lượng kiếp. Nhờ vào nhân duyên xưa, nếu gặp được điều thiện nhỏ, thì làm người thấp hèn, chịu nỗi đau khổ bệnh tật, gầy ốm yếu đuối, khốn đốn khổ sở, thân mang nhiều chứng bệnh nguy kịch khó trị, không ai thương tưởng.
Luận Địa trì ghi: “Tội vọng ngữ cũng khiến cho chúng sinh đọa vào ba đường ác. Nếu được sinh vào loài người thì mắc hai quả báo: bị nhiều người phỉ báng và bị người dối gạt”.
Vọng ngữ có năm nỗi thống khổ lớn:
a. Vọng ngữ bị đọa vào địa ngục: do vọng ngữ là nói lời không chân thật, khiến cho người tin theo mà phải chịu khổ não, do đó sau khi chết phải chịu nỗi khổ trong địa ngục.
b. Vọng ngữ bị đọa vào súc sinh: vì vọng ngữ là dối trá, trái ngược với lòng tin chân thật của ngươi, do đó vừa ra khỏi địa ngục liền chịu quả báo khổ súc sinh.
c. Vọng ngữ bị đọa vào ngạ quỷ: vì vọng ngữ đều do bỏn xẻn, hư dối đưa đến, nên sau khi chết bị đọa vào ngạ quỷ.
d. Vọng ngữ bị người phỉ báng: vì vọng ngữ là không thành thật.
e. Vọng ngữ bị người dối gạt: vì vọng ngữ đã dối gạt, cám dỗ người.
79.11.5. Nói đôi chiều là nỗi thống khổ lớn
Vọng ngữ còn dẫn đến tội nói đôi chiều. Nếu đời nay nói lời không từ ái, phỉ báng, hủy nhục, nói lời hung ác, tạp loạn, thì sau khi chết sẽ bị đọa vào các địa ngục rót nước đồng sôi vào miệng, kéo lưỡi cho trâu cày, chịu khổ trong vô lượng kiếp. Thoát nỗi khổ trong địa ngục đó xong, liền đọa vào loài súc sinh, ăn các thứ phân dơ, như chim đề hồ (bồ nông) không có lưỡi. Ở trong loài này chịu vô lượng kiếp sinh tử. Nhờ nhân duyên xưa, nếu may gặp được chút thiện nhỏ, thì làm người thấp hèn, lưỡi không được toàn vẹn, hơi miệng hôi thối, câm ngọng, nói năng khó khăn, răng không trắng đều, mà lại thưa thiếu, nếu có nói ra lời lành mọi người cũng không tin. Nên biết sàm tấu, nhiễu loạn đều do nói đôi chiều sinh ra.
Luận Địa trì ghi: “Tội nói đôi chiều cũng khiến chúng sinh đọa vào ba đường ác. Nếu được sinh làmngười thì gặp phải hai loại quả báo: quyến thuộc xấu ác và quyến thuộc bất hòa”.
Nói đôi chiều bị chịu phải năm nỗi thống khỏ lớn:
a. Nói đôi chiều bị đọa vào địa ngục: vì nói đôi chiều làm cho những người thương yêu nhau phải chia lìa; thương yêu mà bị chia lìa là khổ não, cho nên phải chịu khổ não trong địa ngục.
b. Nói đôi chiều bị đọa vào loài súc sinh: vì nói đôi chiều gây ra việc đấu tranh hiềm khích, giống như loài chồn hoang, cho nên phải chịu thân súc sinh.
c. Nói đôi chiều bị đọa vào loài ngạ quỷ: vì nói đôi chiều cũng do bỏn xẻn, ganh ghét dẫn đến. Vì tội ấy, nên bị đọa vào ngạ quỷ.
d. Nói đôi chiều khi được làm người lại gặp phải quyến thuộc xấu ác: vì nói đôi chiều khiến bạn bè thân thiết bỗng hiềm ghét nhau.
e. Nói đôi chiều khi được làm người lại gặp phải quyến thuộc bất hòa: vì nói đôi chiều li gián mối quan hệ tốt, khiến trở thành bất hòa.
79.11.6. Ác khẩu là nỗi thống khổ lớn
Lại nữa, do lời nói đôi chiều dẫn đến nói lời thô ác. Nếu đời nay nói lời thô ác, khiến đấu tranh, tàn hại, xâm phạm lẫn nhau, giết hại các loài chúng sinh, thì sau khi chết sẽ bị đọa vào địa ngục đao binh, chịu vô lượng khổ não. Sau khi chịu khổ ở địa ngục ấy xong, lại đọa vào loài súc sinh, bị bẻ chân chặt cánh, chịukhổ vô lượng kiếp. Ở trong loài súc sinh chịu khổ sinh tử vô lượng kiêp. Nhờ nhân duyên xưa, nếu may gặp được chút thiện nhỏ, thì sẽ làm người thấp hèn, tay chân không được đầy đủ, bị chặt chân cắt mũi, thân hình tàn tật, quỷ thần không hộ vệ, bị người khinh bỏ. Nên biết tội tàn sát chúng sinh đều do ác khẩu phát sinh.
Luận Địa trì ghi: “Tội ác khẩu cũng khiến chúng sinh đọa vào ba đường ác. Nếu được sinh làm người thì bị hai quả báo là thường phải nghe những tiếng xấu ác và nói ra điều gì cũng thường có tranh cãi”.
Nên biết ác khẩu bị năm quả khổ lớn:
a. Ác khẩu bị đọa vào địa ngục: vì ác khẩu đều muốn hại người, khiến cho người nghe phải buồn khổ. Do đó, sau khi mạng chung bị đọa vào địa ngục chịu nhiều thống khổ.
b. Ác khẩu bị đọa làm súc sinh: vì ác khẩu thường mắng nhiếc, nhục mạ người, chửi người khác là súc sinh. Do đó, sau khi chịu khổ địa ngục xong, lại phải chịu quả báo làm súc sinh.
c. Ác khẩu bị đọa làm ngạ quỉ: do tham lam bỏn xẻn, nên ai xúc phạm thì mắng chửi họ, nên sau khi chịu khổ trong loài súc sinh rồi, lại bị đọa làm ngạ quỉ.
d. Ác khẩu thì khi được làm người thường bị quả báo nghe những tiếng ác: vì ác khẩu thường phátra lời thô lỗ, xấu xa, nên khi được làm người thường bị quả báo nghe những tiếng ác, lời cộc cằn.
e. Ác khẩu thì khi được làm người, nói ra điều gì cũng luôn gây tranh cãi: vì ác khẩu trái đạo đức, nên khi nói ra điều gì thường dẫn đến sự tranh cãi nhau.
79.11.7. Nói lời vô nghĩa là nỗi thống khổ lớn
Từ lời nói ác dẫn đến nói lời hoa mỹ, phù phiếm, hoàn toàn vô nghĩa, không đem lại lợi ích. Đời này kiêu ngạo, đến khi chết liền rơi vào địa ngục Trói buộc, chịu thống khổ trong nhiều kiếp. Khi chịu khổ ở địa ngục xong, lại đọa làm thân súc sinh, chỉ biết nghĩ đến cỏ và nước, không biết ơn dưỡng dục của cha mẹ. ở trong loài này trải qua vô lượng kiếp sinh tử. Nhờ nhân duyên xưa, nếu may gặp được chút thiện nhỏ, thì được làm người, nhưng thấp hèn, sinh vào những vùng biên địa, không biết trung, hiếu, nhân, nghĩa, không gặp Tam bào. Nếu sinh vào chốn thành thị thì chịu thân lùn xấu, lệch què, lưng gù, bị người lăng nhục. Nên biết kiêu mạn đều do nói lời đùa cợt vô nghĩa, không có phép tắc.
Luận Địa trì ghi: “Tội nói lời vô nghĩa, cũng khiến chúng sinh đọa trong ba đường ác, nếu sinh trong cõi người, phải chịu hai loại quả báo: nói ra mọi người không tin nhận và nói điều gì cũng không được rõ ràng’’.
Do đó, nói lời vô nghĩa phải chịu năm nỗi khổ lớn:
a. Nói lời vô nghĩa bị đọa vào địa ngục: vì nói lời vô nghĩa để thành tựu việc của mình, làm tổn hại người khác. Do đó, sau khi chết rơi vào địa ngục chịu vô lượng khổ.
b. Nói lời vô nghĩa bị làm súc sinh: vì nói lời vô nghĩa, trái với đạo lý làm người, nên khi ra khỏi địa ngục, lại phải làm thân súc sinh.
c. Nói lời vô nghĩa bị làm ngạ quỉ: vì nói lời vô nghĩa, nên luôn bị tâm bỏn xẻn ngăn che; vì tâm bỏn xẻn, nên phải bị đọa làm thân ngạ quỉ.
d. Nói lời vô nghĩa, sau khi được làm người, có nói ra lời gì, đều không ai tin nhận.
e. Nói lời vô nghĩa thì bị quả báo lời nói không rõ ràng: lời nói đã vô nghĩa, đều là do ngu si; vì ngu si nên lời nói diễn đạt không được rõ ràng.
79.11.8. Tham dục là nỗi thống khổ lớn
Do nói lời vô nghĩa nên không biết khiêm nhường, dẫn đến tham lam vô độ. Đời này bỏn xẻn, tham lam, không bố thí, nên sau khi chết phải trải qua nhiều kiếp chịu nỗi thống khổ trong địa ngục Phí thỉ. Sau khi chịu khổ trong địa ngục này xong, họ lại đọa vào súc sinh, ngạ quỉ không có áo mặc, phải cậy vào người, ăn các phân dơ, người không cho thì không có ăn. Ở trong các loài này trải qua vô lượng kiếp sinh tử. Nhờ nhân duyên xưa, nếu may gặp được chút duyên lành, được làm người, nhưng lại thấp hèn, đói rách trần truồng, khốn khổ nghèo cùng, không ai giúp đỡ, dù cầu xin cũng chẳng được; dẫu được chút ít của cải,cũng bị cướp đoạt mất. Ôm giữ nỗi thống khổ vô cùng tận cho đến lúc chết. Nên biết, không tu bố thí, đều do tham dục sinh ra.
Luận Địa trì ghi: “Tội tham dục cũng khiến chúng sinh rơi vào ba đường ác. Nếu được sinh trong loài người, thì phải chịu hai quả báo: Nhiều ham muốn, không biết đủ’
Nên biết tham dục có năm nỗi thống khổ lớn:
a. Tham dục bị đọa vào địa ngục: vì người tham dục tác động đến thân, miệng làm khổ não chúng sinh, nên sau khi thân hoại mạng chung, phái chịu khổ trong địa ngục.
b. Tham dục bị làm thân súc sinh: do tham dục khiến hành động trái với luân thường đạo lý của người; cho nên sau khi ra khỏi địa ngục liền bị làm súc sinh.
c. Tham dục lại bị làm ngạ quỉ: do tham dục nên tham lam bỏn xẻn; tội tham lam bỏn xẻn, nên bị đọa làm ngạ quỉ.
d. Tham dục lại càng nhiều ham muốn: do tham dục dẫn đến ham muốn nhiều.
e. Tham dục không nhàm chán, không biết đủ: do tham dục mà lòng mong cầu không bao giờ nhàm chán, không biết đủ.
79.11.9. Sân hận là nỗi khổ lớn
Do tham dục mà không thỏa mãn, nên sân hận nổi lên. Đời này nhiều sân hận, sau khi chết liền đọa vào địa ngục, chịu đủ các khổ trong nhiều kiếp. Saukhi chịu khổ ở đó xong, lại bị đọa vào loài súc sinh, làm rắn độc, hổ báo, chó sói trong vô lượng kiếp. Nhờ nhân duyên xưa, nếu may gặp được chút duyên lành, được làm người, thì chịu thân phận thấp hèn, tâm đầy sân hận, diện mạo xấu xí, bị mọi người ghét bỏ, không những không kết bạn, mà thật cũng không muốn nhìn. Nên biết phẫn hận đều là sân khuể, não hại sinh ra.
Luận Địa trì ghi: “Tội sân hận cũng khiến chúng sinh đọa trong ba đường ác. Nếu được sinh làm người, thì bị hai quả báo: thường bị mọi người thấy rõ chỗ hay dở của mình; thường bị mọi người não hại”.
Nên biết sân hận, não hại có năm nỗi thống khổ lớn:
a. Sân hận, não hại bị đọa địa ngục: vì sân hận gây não hại đến các chúng sinh, nên phải chịu khổ ở địa ngục.
b. Sân hận, não hại bị đọa làm súc sinh: vì sân hận thì không có lòng nhân từ, khoan dung, nên sau khi ra khỏi địa ngục lại phải làm thân súc sinh.
c. Sân hận, não hại bị đọa làm ngạ quỉ: sân hận từ lòng tham lam, bỏn xẻn mà khởi. Do tội tham lam bỏn xẻn, nên đọa làm ngạ quỉ.
d. Sân hận, não hại thường bị mọi người tìm chỗ hay dở của mình: vì sân hận không thể khoan dung tha thứ, nên thường bị mọi người tìm chỗ hay dở của mình.
e. Sân hận, não hại thường bị mọi người não hại: vì sân hận làm hại đến người, nên cũng bị người hại.
79.11.10. Tà kiến là nỗi khổ lớn
Do sân hận, nên lòng tà vạy, không tin chính đạo. Nay bản thân đã tà kiến lại còn ngăn cản người khác tụng kinh, nghe pháp, thì hiện đời không đủ ăn, khi chết liền đọa vào địa ngục ngu si và câm điếc, trải qua nhiều kiếp chịu các khổ não. Sau khi chịu khổ não trong địa ngục rồi, liền bị đọa vào loài súc sinh. Nghe nói đến Tam bảo, tứ đế, nào có hay biết đó là điều lành; bị đánh đập giết hại, cũng chẳng phân biệt được đây là việc ác. Người này ở trong loài súc sinh vô lượng kiếp, nếu may gặp được chút duyên lành, được làm người, thì thân phận thấp hèn, lại bị mù lòa, câm điếc không hề nghe thấy, chẳng khác tường vách, chẳng được nghe lời hay, tiếng tốt. Nên biết ngăn cản người nghe pháp đều do tà kiến sinh ra.
Luận Địa trì ghi: “Tội tà kiến cũng khiến chúng sinh rơi vào ba đường ác. Nếu được sinh vào loài người, thì bị hai quả báo: sinh vào nhà tà kiến và có tâm siểm nịnh”.
Nên biết tà kiến bị năm quả khổ lớn:
a. Tà kiến bị đọa vào địa ngục: vì từ tà kiến dẫn dắt đến tà đạo và quỷ thần, rồi chê bai Phật, pháp, tăng, không phụng thờ Tam bảo; đã không kính tin phụng thờ, lại còn ngăn cản người khác đến với chính đạo, khiến họ phải gặp nhiều đau khổ, nên sau khi chết, bị rơi vào địa ngục A-tỳ.
b. Tà kiến bị đọa làm súc sinh: vì tà kiến không biết chính lí, vì thế sau khi ra khỏi địa ngục, lại phải chịu những thống khổ trong loài súc sinh.
c. Tà kiến bị đọa làm ngạ quỉ: vì tà kiến này mà tâm bỏn xẻn bền chặt, cất chứa trái đạo, không chịu buông xả, nên phải bị đọa làm ngạ quỉ.
d. Tà kiến, khi được làm người lại bị sinh vào nhà tà kiến: vì tà kiến này mà tập khí tà vạy buộc tâm, nên khi được làm người, bị sinh vào nhà tà kiến.
e. Tà kiến, khi được làm người, thường có tâm siểm nịnh, tà vạy: vì tà kiến mà tâm không ngay thẳng, nên khi được làm người, thì thường siểm nịnh, tà vạy.
Như thế, mỗi mỗi nghiệp ác nhỏ nhiệm đều chịu vô lượng vô biên tội lỗi, bị đọa vào địa ngục, chịu nhiều thống khổ, không thể tính đếm. Ở đây chỉ nói sơ lược. Nếu bỏ ác làm lành, tức là thầy ta!
79.12. TÁM PHÁP LÀM THÀY
Kinh Bát sư ghi: “Đức Phật vì Phạm chí nói tám pháp làm thầy cho bản thân:
79.12.1. Không hung bạo sát sinh: giết hại mạng người và vật, hiện đời hoặc bị oan gia hành hình phanh thây, hoặc bị pháp luật triều đình trị tội, giết cả dòng họ. Sau khi chết bị đọa địa ngục thiêu đốt, khảo tra, khổ đau nối nhau ập vào thân, cầu chết cũng không được. Sau khi tội khổ trong địa ngục hết, được thoát ra thì làm ngạ quỉ, hoặc làm súc sinh, bị bọn đồ tể giết mổ, lột da, chết đi sống lại, thần thức đầu thai,lại tàn hại lẫn nhau. Thấy khổ báo của tội giết hại như vậy, nên ta không dám giết hại! Đó là vị thầy thứ nhất của Ta
Đức Phật nói bài kệ:
Hung bạo, chẳng nhân từ,
Mạnh yếu tàn hại nhau,
Sát sinh, họa sẽ sinh,
Kết nhiều kiếp oán thù,
Chịu tội, mạng chết yểu,
Thường lo âu gặp họa,
Vì ta sợ khổ báo,
Lòng từ độ hữu tình.
79.12.2. Không trộm cướp: cưỡng đoạt tài sản của người, bị người chủ tài sản dùng dao gậy, ngói đá đánh ném, hoặc bị pháp luật vua bắt trói giam vào ngục, đánh đập khảo tra, chịu đủ năm hình phạt, hoặc dẫn ra pháp trường xử trảm, thân tộc cũng bị tru diệt. Sau khi chết bị đọa vào địa ngục, tay bưng lò lửa, nước đồng sôi tuôn vào miệng, cầu chết cũng không được. Sau khi chịu tội trong địa ngục xong, phải làm ngạ quỉ, khi muốn uống nước, thì nước liền hóa thành máu mủ; muốn ăn thì thức ăn liền hóa thành than lửa, thân mang vác nặng, các khổ não đeo theo. Hoặc làm súc sinh, bị người phanh thây, đem thịt mình cung cấp cho người để trả nợ đời trước. Thấy tội báo của người trộm cướp khổ như vậy, ta không dám trộm cướp. Đó là vị thày thứ hai của Ta!
Đức Phật nói bài kệ;
Trộm, không cho mà lấy,
Đoạt tài sản nhà người,
Mất chẳng kể bao nhiêu,
Lòng buồn khổ sân hận.
Chết mang hình lục súc1,
Để trả nợ đời trước,
Vì ta sợ khổ báo,
Bỏ ngôi, thí tiền tài.
79.12.3. Không tà dâm: xâm phạm vợ con người khác, nếu bị chồng của người đàn bà kia biết được, thì phải chịu tai họa không lường, hoặc bị dao gậy đánh chém, đầu một nơi, chân một nẻo, họa lây đến cả dòng họ. Hoặc bị vua quan bắt giam vào ngục, tra khảo thảm khốc. Thân gây tạo tội ác, sau khi chết bị đọa địa ngục, nằm trên giường sắt nóng, hoặc ôm cột đồng, quỉ ngục châm lửa đốt cháy thân. Chịu tội địa ngục hết, lại phải làm súc sinh. Nếu đời sau được làm người, thì gặp vợ dâm loạn, xa lìa Phật pháp, không gần gũi các bậc hiền đức, lòng luôn lo sợ, nguy hiểm thì nhiều, an vui có được bao. Thấy như vậy, nên ta không dám tà dâm. Đó là vị thây thứ ba của Ta!
Đức Phật nói bài kệ:
Dâm là hạnh bất tịnh,
Mê lầm mất chính đạo,
Tiêu hình, tan hồn phách,
Tổn mạng, bị chết yểu,
Phải chịu tội ngu si,
Chết đọa vào đường ác,
Ta bố thí vợ con,
Lập chí vui sơn thủy.
79.12.4. Không nói đôi chiều, ác khẩu, vọng ngữ và thêu dệt: vu khống người vô tội, hủy báng Tam bảo, thì dẫn đến họa sát thân, cũng làm cho cửa nhà tan nát. Người này sau khi chết đọa vào địa ngục, bị quỉ thần trong ngục kéo lưỡi ra cho trâu cày bừa trên đó, hoặc rót nước đồng sôi vào miệng, thống khổ vô cùng, cầu chết cũng không được. Sau khi chịu tội hết, phải làm súc sinh, thường ăn gai gốc. về sau nếu được làm người, thì nói không ai tin, trong miệng thường hôi hám, bị nhiều tiếng chê bai, mắng nhiếc, khi ngủ thấy ác mộng, có miệng mà không nếm được vị tuyệt hảo của kinh Phật. Thấy như vậy, nên ta không dám ác khẩu. Đó là vị thầy thứ tư của Ta!
Đức Phật nói bài kệ:
Khinh người có bốn lỗi,
Sàm nịnh tổn người hiền
Chịu thân ngu, đui, điếc,
Câm ngọng, miệng tanh hôi,
Điên cuồng chẳng ai tin,
Chết đọa ngục Bạt Thiệt
Ta tu bốn tịnh khẩu,
Đạt được tám âm thanh
79.12.5. Không uống rượu: rượu là chất độc, là nguyên nhân chủ yếu sinh ra các tội ác. Nó hủy vương đạo, diệt đức nhân; bầy tôi kiêu mạn, mất trung kính; cha chẳng nghiêm, mẹ không từ; con hung bạo, hoại đạo hiếu; chồng bất tín, vợ hoang dâm; giòng họ tranh, tài sản mất; vong quốc, hại thân, tất cả đều do rượu gây ra. Rượu gây ra hơn ba mươi lăm tội lỗi. Thấy như vậy, nên ta tuyệt đối không uống rượu. Đó là vị thầy thứ năm của Ta.
Đức Phật liền nói bài kệ:
Người say là bất hiếu,
Họa từ trong sinh khởi,
Mê hoặc bậc thanh cao,
Loạn đức, bại trinh thục,
Ta quyết không uống rượu,
Lòng từ độ quần mê,
Trí tuệ vượt tám nạn,
Tự chứng Chính Đẳng Giác.
79.12.6. Tuổi già: già phải chịu nhiều nỗi khổ, đầu bạc răng long, mắt mờ, tai điếc, thịnh đi suy đến,mặt tóp, da nhăn, trăm đốt xương đau nhức, bước đi khó nhọc, đứng ngồi rên rĩ, lòng buồn áo não, tinh thần dần dần suy diệt, xoay qua liền quên, ngày tháng qua mau, mạng sống sắp hết. Nói đến điều này, nước mắt tuôn trào. Thấy biết vô thường suy biển như vậy, nên Ta tìm cầu chính đạo, không muốn trải qua. Đó là vị thầy thứ sáu của Ta!
Đức Phật liền nói bài kệ:
Ta nghĩ đời Vô thường,
Người sinh ắt phải già,
Thịnh qua suy lại đến,
Hình khô gầy, đầu bức,
Mệt mỏi trăm bệnh sinh,
Đứng ngồi đau thống khổ,
Ta lo sợ điều ấy,
Nên bỏ nước, câu đạo
79.12.7. Không muốn có bệnh hoạn: thân hình khi bệnh thì thịt hao mòn dần, chỉ còn trơ xương, trăm đốt đều đau nhức, giống như bị đánh. Tứ đại tăng giảm không đồng, tay chân không theo ý, khí lực cạn kiệt, ngồi đứng phải nhờ người dìu đỡ, môi miệng khô khan, gân cốt nhức buốt, mũi dãi chảy ra. mắt không còn nhìn thấy cảnh, tai không còn nghe rõ tiếng, thân thể tiết ra đồ bất tịnh, nằm liệt trên giường, lòng ôm bao nỗi thống khổ, than thở bi ai. Nay quán sát đời người, khi còn trẻ thì sức lực cường tráng, nhan sắc hồng hào, đến lúc phúc hết tội dồn về, vô thường biếnđổi trăm bề. Thấy nỗi thống khổ của bệnh hoạn như vậy, nên Ta cầu đạo, không muốn trải qua. Đó là vị thầy thứ bảy của Ta!
Phật liền nói bài kệ:
Nghĩ ngựời lúc già yếu,
Trăm bệnh đồng thời sinh,
Nước cạn, lửa hừng hực,
Gió đao vây khắp mình,
Xương gân mạch rã rời,
Mạng lớn sắp suy sụp,
Ta lo sợ bệnh yếu,
Nguyện cầu đạo Vô sinh!
79.12.8. Không muốn trải qua sự chết: lúc sắp chết có bốn trăm lẻ bốn thứ bệnh đồng thời phát tác, tứ đại sắp phân tán, thần hồn bất an. Phong đại thoát thì hơi thở dứt; Hỏa đại diệt thì thân lạnh. Phong đại hết trước, kế đến là hỏa đại. Lúc ấy thần hồn lìa khỏi xác, thân thể cứng đờ, không còn biết gì. Trong khoảng một tuần, thịt vữa nát, máu chảy ra, sình trướng hôi thối, không còn nguyên vẹn. Trong thân có dòi bọ đục khoét, ăn hết thịt, chỉ còn lại bộ xương trắng, gân mạch cũng rã nát, lóng đốt chia lia, đầu lâu xương đùi, mỗi thứ nằm rải rác một nơi, các loài chim muông đến tranh nhau ăn thây chết. Tất cả trời, rồng, quỉ, thân, vua chúa, thứ dân, nghèo giàu, sang hèn không một ai tránh khỏi nạn này. Thấy sự vô thườngbiến đổi của thân như vậy, nên ta cầu đạo, chẳng muốn trải qua. Đó là vị thầy thứ tám của Ta!
Đức Phật liền nói bài kệ:
Nghĩ đến già, bệnh, chết,
Nạn lớn trong ba cõi,
Phúc hết, thân mạng chung,
Vứt vào bãi tha ma,
Thân mục trả về đất,
Hồn phách theo nhân duyên,
Ta lo sợ như vậy,
Nên cầu đạo Niết-bàn
Nghe Đức Phật giảng như thế, tâm Phạm chí liền thông hiểu, chứng quả Tu-đà-hàm. Ông đỉnh lễ Phật cầu thụ năm giới làm cư sĩ: không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối-phụng thờ cha mẹ, không say rượu.
Bấy giờ, lòng Phạm chí vô cùng hoan hỷ đỉnh lễ Đức Phật rồi lui ra!
Lão Tử Đạo đức kinh ghi: “Năm sắc khiến người ta mù mắt; năm âm thanh khiến người điếc tai; năm mùi vị khiến người ta tê lưỡi; giận dữ thì tổn âm; quá vui thì hại dương; sắc đẹp là búa chém đứt bản tính; mùi vị ngon là chất độc làm mục nát thân. Người ngộ được ý chỉ này, đó là bậc đại sư!”
79.13. TRỤ XỨ
79.13.1. Bảy nơi thức thích trụ
Tạp A-tì-đàm tâm luận ghi: “Trong cõi Dục, chỉ lấy cõi thiện trời người làm một thức trụ; hai cõi trên, mỗi cõi lấy ba tầng trời trước, cộng thành bảy thức trụ”.
Luận ghi: “Vì sao bốn cõi xấu ác, Tứ Thiền và Phi Tưởng thiên không lập thức trụ?”, về điều này, trong luận cũng giải thích: “Nếu thức thích trụ nơi ấy thì lập thức trụ, nếu không thích trụ thì không lập thức trụ. Nghĩa là trong bốn cõi xấu ác, do thống khổ bức ép, nên thức không thích trụ. Trong tầng trời Tứ Thiền có cõi trời Tịnh Cư, chúng sinh nơi đây thích vào niết-bàn, nên thức cũng không thích trụ. Chúng sinh trong cõi Vô Tưởng không có tâm tưởng, nên thức cũng không thích trụ; những tầng trời khác trong Tứ Thiền thì không xác định, hoặc cầu vô sắc, hoặc cầu Tịnh Cư, hoặc cầu Vô Tưởng, nên thức cũng không thích trụ. Chúng sinh trong Hữu thứ nhất tối tăm, không nhanh nhẹn, nên thức không thích trụ, vì thế cho nên không lập”. Lại nói, nếu nơi ấy có các nhân duyên phá hoại thức, thì không lập thức trụ. Tức trong bốn cõi xấu ác, có khổ thụ gây não loạn thức. Trong cõi Tứ Thiền có định Vô tưởng và trời Vô Tưởng đoạn hoại thức. Trong cõi Phi Tưởng có Diệt tận định làm hại tâm thức. Do đó ba nơi này không lập thức trụ.
79.13.2. Chín nơi chúng sinh thích cư trụ Hỏi: Chín nơi chúng sinh cư trú là những nơi nào?
Đáp: Theo luận Tì-đàm thì bảy thức trụ ở trước cộng với trời Vô Tưởng và Phi Tưởng là thành chín.
Hỏi: Tại sao bốn cõi xấu ác và Tứ Thiền không thuộc nơi chúng sinh cư trú?
Đáp: Theo Ti-đàm, nếu chúng sinh thích trụ thì thành nơi chúng sinh cư trú, nếu không thích thì không lập thành nơi chúng sinh cư trú. Đó la vì bốn cõi xấu ác nhiều khổ não, Tứ Thiền có cõi Tịnh Cư ưa thích niết-bàn và các tầng trời khác trong cõi này bất định, như đã nói trên. Các nơi này chúng sinh không thích trụ, nên không lập thành nơi chúng sinh cư trú. 79.13.3. Trụ xứ hai mươi lăm hữu Hỏi: Hai mươi lăm hữu là gồm những nơi nào? Đáp: Theo luận Xá-lợi-phắt A-tì-đàm thì cõi Dục có mười bốn Hữu, cõi sắc có bảy, cõi Vô sắc có bốn, tổng cộng là hai mươi lăm. Mười bốn Hữu cõi Dục: Bốn cõi xấu ác, bốn thiên hạ, sáu tầng trời cõi Dục. Bảy Hữu cõi sắc: Tứ Thiền, trời Đại Phạm trong Sơ Thiền, trời Tịnh Cư và trời Vô Tưởng trong Tứ Thiền. Bốn Hữu cõi Vô sắc: bốn cõi Định Vô sắc. Có bài kệ:
Bốn châu, bốn cõi ác Phạm thiên, Lục Dục thiên Vô Tưởng, Ngũ Tịnh Cư Tứ Không và Tứ Thiền.
Hỏi: Vì sao trong cõi Sơ thiền chỉ lấy Đại Phạm thiên, trong Đệ tứ thiền lấy trời Vô Tưởng và Ngũ Tịnh Cư để lập làm ba Hữu? Vì sao chỉ chọn trong Sơ và Tứ thiền?
Đáp: Có thuyết cho rằng ngoại đạo chấp Đại Phạm thiên là cội gốc sinh vạn vật, nghịch gốc này thì chịu sinh tử, thuận gốc này thì được giải thoát. Hơn nữa, Đại Phạm thiên vương cũng tự chấp bản thân có khả năng làm chủ tạo hóa, là Nhất là Thường, là chân thật giải thoát. Như Lai muốn phá quan niệm này, nên lấy riêng nơi này làm một Hữu.
Còn trời Vô Tưởng, chúng sinh cõi này tâm được định, thụ báo năm trăm đại kiếp không tâm tưởng. Ngoại đạo không hiểu điều này, chấp đây là niết-bàn chân thật, nên thích tu định Vô tưởng cầu sinh về nơi ấy. Như Lai muốn phá kiến chắp này, nên lập nơi đây làm một Hữu.
Trong cõi Ngũ Tịnh Cư có thiên vương Ma-hê-thủ-la, ngoại đạo chấp vị trời này là cội nguồn của tạo hóa, nếu qui hướng thì được giải thoát. Vì muốn phá kiến chấp này, nên Như Lai lập làm một Hữu. Từ đây có thể rõ được mục đích lập riêng ba cõi ấy làm ba Hữu.
Hỏi: Vì sao trong sáu đường, bốn cõi ác lập bốn Hữu, cõi người lập bốn Hữu, cối trời lập mười bảy Hữu?
Đáp: Đều có nguyên nhân, đó là bốn cõi xấu ác quá thống khổ, chúng sinh không muốn sinh về, tâmmuốn trú rất nhẹ mỏng. Cho nên chỉ lập một Hữu; cõi người tốt đẹp hơn, chúng sinh thích cư trú, tâm cũng có chút thiết tha, cho nên tùy bốn phương mà lập bốn Hữu. Cõi trời tốt đẹp nhất, chúng sinh rất thích an trú. Cho nên theo mười bảy tầng trời mà lập mười bảy Hữu.
79.13.4. Bốn mươi hai nơi cư trú
Hỏi: chưa biết bốn mươi hai nơi là gì?
Đáp: Trong cõi Dục có hai mươi nơi: Tám địa ngục lớn, súc sinh, ngạ quỉ, bốn thiên hạ, sáu tầng trời cõi Dục. Cõi Sắc gồm mười tám nơi: mười tám tầng trời trong bốn cõi trời Thiền. Cõi Vô sắc có bốn tầng trời Không Định.
Hỏi: Tại sao địa ngục, trời và người lập rất nhiều nơi cư trú, còn ngạ quỉ và súc sinh, mỗi nơi chỉ lập một và a-tu-la thì hoàn toàn không lập?
Đáp: Cư trú tức trụ xứ an định, hễ có nơi cố định thì tùy nơi ấy mà lập, không có nơi cố định thì không lập. Như địa ngục có tám nơi cố định, người có bốn nơi, trời có hai mươi tám nơi. Vì thế ba cõi này lập nhiều nơi cư trú. Còn ngạ quỉ và súc sinh không có nơi nhất định riêng, chúng sinh loài này cư trú nhiều nơi, nên mỗi mỗi chỉ lập một; a-tu-la thì xếp vào các cõi khác nên không nói đến.
Hỏi: Theo Tì-đàm, chúng sinh cõi Tứ Không trú khắp hai cõi Dục và sắc, thì cũng không có trụ xứ riêng và cố định. Hơn nữa, họ không có hình sắc, thìkhông cần nơi an trụ gá nương. Vậy sao nói có nơi cư trú?
Đáp: Theo Tiểu thừa thì như vậy, nhưng theo Đại thừa thì khác. Đó là chúng sinh cõi Tứ Không cũng có hình sắc vi tế, mỗi mồi đều có cung điện, tất cả gồm bốn cõi, tự hình thành một nơi riêng biệt trong ba cõi, không lẫn lộn với hai cõi kia. Cho nên lập bốn nơi cư trú.
Hỏi: Vậy theo Ti-đàm, Phạm Vương và Phạm Phụ cùng một trụ xứ, không chia riêng; trong Tứ Thiền, trời Vô Tưởng và trời Quảng Quả cũng đồng một tầng, không lập trụ xứ riêng. Như thế sao lại lập thành hai nơi cư trú?
Đáp: Trong cõi Sơ Thiền, tuy Phạm thiên không có tầng trời riêng, nhưng trong tầng thứ hai là Phạm Phụ có riêng một đài cao rộng và trang nghiêm. Đại Phạm Thiên vương an trú tại đó mà không trụ chung với các trời Phạm Phụ. Vì phân biệt vua tôn quí ở trên, thần thấp hơn ở dưới. Còn tuy trời Vô Tưởng và Quảng Quả đồng một tầng, nhưng có hai trụ xứ riêng biệt. Giống như các địa khu hành chính tỉnh, huyện ở thế gian vậy. Vì thế lập hai nơi cư trú.
Có bài tụng:
Sắc tâm ồ nhiễm nhau
Nghiệp chướng luôn trói buộc
Mạt-na vừa phát khởi
Lại-da bị kẻo lôi
Chịu báo trong ba cõi
Sáu đường khổ triền miên
Nếu không chịu đoạn vọng
Làm sao được chắc bền.
79.14. CẢM ỨNG
79.14.1. Đời Hán, người mẹ sinh quái thai: Tháng sáu, niên hiệu Nguyên Thủy thứ nhất (01), một phụ nữ ở Trường An sinh ra một đứa bé hai đầu, hai cổ, hai mặt hướng vào nhau, bốn tay và ngực đều hướng về phía trước, mắt dài hai tấc sinh ở xương cùng. Kinh phòng Dịch truyện ghi:
- Khuê cô thấy heo con nằm trên đường đi. Yêu nhân có hai đầu hai cổ khác nhau. Hễ nhiều chân là điềm theo đường tà; thiếu chân là điềm không đủ sức đảm nhận công việc; chi bên dưới mà mọc phía trên là điềm bất kính, chi trên mà sinh ở dưới là điềm khinh mạn, sinh ra vật không đồng loại là điềm dâm loạn, sinh ra đã lớn là điềm mau thành, vừa sinh đã biết nói là điềm thích nói dối.
Lại nữa, niên hiệu Quang Hòa thứ hai (179), bên ngoài cửa tây thành Lạc Dương có một phụ nữ sinh ra đứa bé hai đầu, hai vai; bốn tay, ngực và mặt hướng vào nhau. Từ đó về sau triều đình đen tối, rối loạn, việc triều chính rơi vào tay quyền thần, đó là ứng nghiệm vào điềm đứa bé hai đầu. về sau Đỗng Trác phế thiên tử, giết thái hậu, bị mang danh bất hiếu. Từ nhà Chu đến đầu nhà Hán, chưa có họa nào lớn hơn họa này.
Niên hiệu Kiến Hưng thứ tư (226), Tây Đô bị mất, Nguyên Hoàng đế Lưu Thiền bị giáng làm Tấn vương, người trong nước đều hướng về. Ngày hai mươi hai, tháng mười năm ấy, Hồ thị hai mươi lăm tuổi, là vợ của Nhâm Kiều, huyện lại huyện Tân Tế sinh hai bé gái dính nhau ở bụng và ngực, còn từ ngực trở lên và từ rốn trở xuống thì rời nhau. Đây là quái thai chưa từng có trong đời. Bấy giờ Nội sử Lã Hội tâu:
- Theo Dị ứng đồ, cây có gốc rễ phân khai mà thân dính thì gọi là Liên lí; lúa ở khác thửa mà trỗ bông dính nhau thì gọi là Gia hòa. cỏ cây mà còn hiện các điềm như thế, nay hai có hai người đồng tâm, đó là trời ban cho điềm linh. Cho nên kinh Dịch ghi: ‘Hai người đồng tâm, sức bén chặt đứt vàng’. Nay điềm lành đã sinh tại nước Trần Đông. Đây chính là điềm người trong bốn biển đồng tâm.
Vua vô cùng vui mừng, mọi người kính cẩn vẽ hình dâng lên vua. Bây giờ có người biết, liền cười chê:
- Quân tử nói: ‘Thật khó đạt trí tuệ’, tài năng như Tang Văn Trọng, còn cúng tế Ái cư. Những việc ấy được ghi trong khắp sách vở, cả nghìn năm sau cũng không mất. Vì thế kẻ sĩ cần phải học. Người xưa nói: ‘Cây không có cành thì gọi là cây bệnh; người mà không học thì gọi là người mù. Điều không hiểu biếtthì nên tồn nghi vả để trống, như vậy há không cố gắng sao?
79.14.2. Người sinh súc sinh, súc sinh sinh người: đời Chu Liệt vương năm thứ sáu '(370BC), thị nữ của Lâm Bích Dương Quân sinh hai rồng con.
Đời Hán, vợ của Đậu Phụng, thái thú Định Tương sinh được một bé trai đặt tên là Vũ và một con rắn. Phụng bỏ rắn vào rừng. Còn Vũ được nuôi nấng lớn khôn, về sau nổi tiếng trong thiên hạ. Mẹ của Vũ chết, nhưng chưa chôn, thân thuộc và khách đến điếu tang đang tụ tập, bỗng nhiên một con rắn lớn từ rừng rậm bò đên khoanh tròn dưới quan tài, đâu cúi ngước liên tục, rồi dập vào quan tài, máu và nước mắt chảy tràn, tỏ vẻ vô cùng bi thương.
Chu Ai công năm thứ tám, một phụ nữ nước Trịnh một lần sinh bốn mươi người con, hai mươi chết, hai mươi sống. Năm thứ chín một con heo ở nước Tấn sinh ra người, nói được.
Nhà Ngô, niên hiệu Xích Ô thứ bảy (244), một phụ nữ sinh ra ba mươi người con.điềm trên không có thiên tử, dưới thì chư hầu đánh chiếm lẫn nhau.
79.14.3. Súc sinh sinh quái thai: Hán Văn đế năm thứ hai mươi (161BC), tại nước Ngô có một con ngựa mọc sừng gần tai chĩa lên trời. Sừng trái dài hai tấc, sừng phải dài ba tấc, chu vi hai tấc. Tháng sáu năm thứ hai mươi lăm (156), ngoài cửa thành Mật ứng có con chó mọc sừng. Lưu Hướng cho rằng ngựa không nên mọc sừng, giống như chư hầu không nên cử binh đánh thiên tử. Đây là điềm nước Ngô sắp làm phản.
Kinh phòng Dịch truyện ghi: “Bề tôi mà phạm vua thì nền chính trị không thuận. Ngựa mọc sừng là điềm trong nước không có hiền tài”.
Đời Hán, niên hiệu Tuy Hòa thứ hai (7BC), ở vùng Định Tương có ngựa đực sinh ra một con ngựa ba chân. Nó cũng theo bầy ăn uống. Ngũ hành chí ghi: “Cho rằng ngựa là sức mạnh của quốc gia, nay nên dùng voi”.
Tần Văn vương năm thứ năm, vua tuần hành đến vùng Câu Diễn, có người dâng một con ngựa năm chân, đây là điềm nhà Tần tận dụng sức dân. Kinh phòng Dịch truyện ghi: “Khi triều đình bắt nhân dân lao dịch, đoạt hết sức lực của họ, thì ngựa sinh con năm chân”. Hán Cảnh đế năm thứ sáu (152BC), Lương Hiếu vương cày ruộng ở Bắc Sơn, có người dâng một con trâu mà chân mọc trên lưng. Lưu Hướng cho đâylà họa từ trâu, là điềm xấu bên trong âm mưu phản loạn. Đến đời Hán Hoàn đế, niên hiệu Diên Hi thứ năm (162), tại huyện Lâm Nguyên có con trâu sinh ra gà, hai đầu bốn chân.
Đời Tấn, tháng ba niên hiệu Thái Hưng thứ nhất (318), trong nhà Vương Lượng, thái thú Vũ Xương có con trâu sinh nghé một thân, hai đầu, tám chân, hai đuôi. Lúc đầu nó không thể tự sinh, phải đến hơn mười người cột dây thừng kéo, con nghé mới ra được. Do đó nghé chết, nhưng trâu mẹ vẫn còn sống.
Đời Hán, tháng ba niên hiệu Tuy Hòa thứ hai (7BC), vùng Bình Tương, Thiên Thủy, chim yến sinh chim sẻ. Chim yến nuôi đến khôn lớn, thì chim sẻ bay đi mất. Kinh phòng Dịch truyện ghi: “Tặc thần tại triều thì có điềm chim yến sinh chim sẻ trống... Sinh con không cùng loài giống là điềm con không được kế thừa cha”.
Nhà Ngụy, trong khoảng niên hiệu Hoàng Sơ (220-226), có chim ưng sinh chim yến trong tổ, mỏ và móng đều màu đỏ. Đến niên hiệu Thanh Long (233-236), Minh đế làm cung Lăng Tiêu, lúc mới xây, có chim thước đến làm tổ. Đế hỏi Cao Đường Long, Long tâu: “Kinh Thi có câu: ‘Chim khách làm tổ, tu hú đến sống’. Đây là điềm cung điện này chưa hoàn thành, không được đến ở”.
79.14.4. Đời Hán, Đậu Anh: Đậu Anh tự là Vương Tôn, anh em họ với Đậu hoàng hậu của Hiếu Văn đế. Hiếu Văn đế phong ông làm Thừa tướng, tước Ngụy Kì hầu. về sau bị miễn chức. Đến khi Đậuhoàng hậu băng thì ông càng cô thế, không còn quyền hành gì. Vì bị biếm chức, nên ông bất đấc chí. Sau đó được kết giao với Thái bộc Quán Phu, ông vô cùng vui mừng, nhưng than:
- Tôi hận chúng ta biết nhau quá muộn!
Bấy giờ, Điền Phân là em cùng mẹ khác cha với Vương hoàng hậu của Hiếu Cảnh đế được phong làm Thừa tướng. Cậy được vua tin dùng, nên Phân làm nhiều điều ngang ngược. Một hôm Phân sai người đến ông xin mấy khoảnh ruộng phía nam thành, ông không cho mà còn nói:
- Lão đây tuy đã bị phế, Thừa tướng tuy được vinh quí, nhưng cũng đâu thể dùng quyền thế cướp đoạt của người khác!
Quán Phu cũng nói vào để chọc giận thêm. Vì thế Phân vô cùng oán hận. Đến lúc Phân lấy vợ, Vương thái hậu hạ chiếu bảo tất cả các Hầu gia, tôn thất phải đến chúc mừng. Quán Phu vốn là người cuồng tửu, trước kia có lần say rượu, gây xích mích với Phân, nên không chịu đến chúc mừng, ông bèn ép Quán Phu đến dự và cả hai đều đi. Đến phiên Quán Phu rót rượu, do hơi say, nên khi đến chỗ Phân, Phân bảo: “Không được rót đầy!”, thì Quán Phu nói năng, ngôn từ bất kính, nên Phân nổi giận nói:
- Đây là ta kiêu ngạo hay là tội của Quán Phu?
Thế là Phân sai người bắt trói Quán Phu và bảo Trưởng sử:
- Vương thái hậu ban chiếu bảo tất cả Hầu gia, tôn thất đến chúc mừng ta, mà Quán Phu lại bất kính mắng chửi ta. Ông cũng nên tấu trình Quán Phu là kẻ cường hào, bạo ác đối với nhân dân trong thôn xóm.
Nghe tâu như vậy, vua xử Quán Phu tội chết, bị chém đầu ngoài chợ. về nhà, ông nói với vợ:
- Không thể để một mình Quán Phu chết mà ta sống!
Thế là ông tâu:
- Việc Quán Phu uống quá say, thật không đáng tội chết.
Vua liền triệu kiến cả hai, ông và Phân tranh cãi đúng sai trước triều đình, vua hỏi quần thần ai đúng, quần thần đều cho là ông đúng. Thái hậu họ Vương nghe việc này, trong lòng tức giận đến nỗi bỏ cả ăn uống, bà nói: “Ta còn sống đây mà chúng nó khinh thường em ta như vậy, huống gì sau khi ta chết! Lúc ấy chắc chúng hãm hại em ta quá!”. Phân lại dùng những lời xấu ác vu khống ông tâu lên Cảnh đế. Cảnh đế biết Phân không đúng, nhưng chỉ vì thái hậu, nên xử ông tội chết và chém đầu ngoài chợ. Lúc sắp chết, ông mắng:
- Nếu sau khi chết, không biết gì thì thôi, nếu biết thì ta sẽ không để chết một mình.
Hơn một tháng sau, Phân bị bệnh, toàn thân đau nhức, như có ai đánh mạnh. Phân chỉ biết kêu gào, dập đầu tạ tội mà thôi. Cảnh đế sai người bắt quỉ đếnxem, thì thấy Đậu Anh và Quán Phu cùng tra tấn Phân không lâu sau, Phân chêt. Cảnh đế cũng mộng thấy Đậu Anh, đế vội tạ tội.
79.14,5. Đời Tấn, đại tướng quân Vương Đôn: Vương Đôn giết oan Điêu Huyền Lượng rồi vào núi Thạch Đầu. Một đêm nọ Đôn mộng thấy con chó trắng từ trên trời xuống cắn vào mình. Sau đó, Đôn về Cô Thục và bị bệnh. Một hôm ban ngày mà ông thấy Điêu đi một chiếc xe nhỏ dẫn ngục tốt đến ngẩng đầu, trợn mắt vào nhà bắt Đôn. Đôn sợ hãi bỏ chạy, nhưng không thoát chết.
Trương Lộc và Kinh Khoáng là quân triều đình, người Hà Gian. Tình bạn của hai người rất tốt. Vào ngày mồng năm tháng năm, niên hiệu Thái Nguyên mười bốn (389) đời Tấn, hai người cùng lên đỉnh Chung Nam ngồi uống rượu. Lộc say rượu,
tính trở nên hung bạo, mặt biến sắc vung đao chém chết Kinh Khoáng. Đêm ấy mẹ Khoáng nằm mộng thấy Khoáng về nói:
- Con bị Lộc giết chết, ném xác xuống khe, cởi quần phủ lên bụng con. Tuy vậy mẹ rất khó tìm thấy. Con sẽ khiến cho cái quần bay lên, để chỉ nơi con nằm.
Sáng hôm sau truy tìm, thì hoàn toàn đúng như mộng đã thấy. Lộc biết việc đã bại lộ, muốn chạy trốn, nhưng vừa ra khỏi cửa thì thấy Khoáng, tay cầm song đao đến chỉ vào mặt, thế là không thoát được. Mẹ Khoáng báo quan, Lộc cúi đầu nhận tội.
79.14.6. Đời Tấn, Đại tư mã Hoàn Ôn: Hoàn Ôn có công lao to lớn, sự nghiệp rất hiển hách, đầy đủ tài trí, từ lâu đã có ý muốn soán ngôi, nên phế Tấn đế xuống làm Hải Tây công, tự lập cối Kê vương làm vua, tức Giản Văn đế. Thái tể Vũ Lăng vương Hi rất thích võ công, săn bắn. Ôn thường nghi ngờ, nên lập tội trạng, tâu Văn đế miễn chức Hi và con là Tông Quan. Lại bức ép Tân Thái vương tên Hoảng kết tội chết cho Hi và Tông, đồng thời ghép Trước tác lang Ân Quyên, Thái tể, Trưởng sử Dữu Thanh vào tội phản nghịch, ôn nhiều lần tâu xin chém tất cả những người này. Đế hạ chiếu tha chết cho cha con Hi, chỉ đày đến Tân An. vốn do cha của Ân Quyên là Hạo, đã bị Ôn phế từ trước, nhưng Quyên rất có khí tiết, không đến cầu cạnh Ôn, mà giao du với Hi cho nên bị Ôn nghi và giáng tội. Dữu biết đến xin tội cho Quyên. Dữu là người có tài trí, danh vọng cao, hơn nữa thân tộc rất có thế lực. Do đó Ôn ghép tất cả những người này vào tội chết.
Giản Văn đế băng, di chiếu lập Hoàng thái tử lên ngôi, tạm giao việc triều chính cho Ôn, cứ y theo cách xưa của Gia Cát Lượng phò ấu chúa. Hoàn Ôn rất oán hận di chiếu này, cho là mình mất quyền lực, nên càng bức hiếp vua mạnh hơn. Một hôm Ôn đến thăm lăng Cao Bình của Giản Văn đế, vừa cúi lạy thì thấy Giản Văn đế hiện về đứng trước mộ, toàn thân không mặc y phục nói với Hoàn Ôn:
- Nước nhà bất hạnh, nên mới ủy thác không đúng người.Hoàn Ôn nói:
- Hạ thần không dám! Hạ thần không dám!
Sau khi lên xe, Ôn kể lại cho mọi người nghe, lại hỏi:
- Hình dáng Ân Quyên thế nào?
Mọi người đáp: “Lùn và mập”. Ôn nói: “Ta cũng thấy vậy”.
Hoàn Ôn ở bên cạnh vua khoảng hơn mười ngày thì bị bệnh. Do trong lòng quá lo sợ và phiền muộn mà chết.
79.14.7. Đời Tần, Diêu Trường: Diêu Trường tự là Cảnh Mậu, thuộc dân tộc Khương ở Xích Đình. Cha Diêu Trường tên Qua Trọng, là bề tôi của Thạch Lặc. Sau khi họ Thạch diệt vong, Diêu Trường cùng với anh là Ai đánh nhau với Phù Vĩnh cố ở Tam Nguyên, nhưng thất bại, Ai tử vong, Diêu Trường qui hàng Vĩnh cố, được cố phong chức vị, bổng lộc. về sau Diêu Trường được phong ấp, rồi dần dần thăng lên Long nhương tướng quân, quản lí việc quân ở hai châu Lương và ích. Vĩnh cố nói vói Diêu Trường:
- Trẫm cũng từ tước hiệu Long nhương tướng quân mà làm nên sự nghiệp. Xưa nay chưa từng trao cho ai, nay trẫm ủy thác vùng Sơn Nam cho khanh, vì thế đặc biệt trao cho khanh tước hiệu này.
Diêu Trường được Vĩnh cố sủng ái như thế. Nhưng về sau, Diêu Trường theo con của Vĩnh cố làDuệ tiến đánh Mộ Dung Hoàng, bị Hoằng đánh bại, Duê tử trận. Diêu Trường sai quan trưởng sử về báo cho Vĩnh Cố, cố nổi giận giết chết trưởng sử. Diêu Trường vô cùng sợ hãi, nên chạy đến Tây Xuyên, chiêu mộ quân sĩ tự lập làm chúa. Bấy giờ Vĩnh cố nhiều lần bị Mộ Dung Xung đánh bại, rồi chuyển sang vây ép, lại thấy yêu quái nổi lên. Do đó Vĩnh cố chạy vào Tương sơn. Diêu Trường liền sai Phiêu kị tướng quân Ngô Trung bao vây bắt và được Vĩnh cố đưa về.
Ngay hôm đó, Diêu Trường giam giữ Vĩnh cố, muốn lấy ngọc tỉ truyền quốc và bảo nhường ngôi. Vĩnh Cố không chịu, ghép Diêu Trường vào tội phản nghịch, Diêu Trường liền giết Vĩnh cố, rồi tự xưng đế. Sau đó quật mộ lấy thi thể Vĩnh cố, lột hết y phục, lấy roi đánh vào thây, dùng gai tiến cúng rồi đào huyệt chôn.
Sau đó, Diêu Trường bị bệnh, mộng thấy Vĩnh Cố dẫn theo Thiên quan sứ giả và mấy trăm quỉ binh đột nhập vào doanh trại của Diêu Trường. Diêu Trường vô cùng hoảng sợ chạy vào nấp sau bức màn. Các cung nhân chạy ngược đến đâm quỉ, nhưng trúng lầm hạ bộ của Diêu Trường. Bọn quỉ nói với nhau: “Đúng là nhằm vào chỗ chết.”, liền đâm vào một đao, khiến máu tuôn ra hơn một thạch. Diêu Trường giật mình tỉnh giấc, thấy hạ bộ sưng lớn. Sai thầy thuốc đến chích, thì máu tuôn ra giống như đã thấy trong mộng. Diêu Hưng lại nói bậy:
- Người giết bệ hạ là Ai, anh của thần, chứ chẳng phải tội của thân Diêu Trường. Xin chớ giết oan thần! Ba ngày sau Diêu Trường qua đời.
79.14.8. Đời Tần, Lí Hùng: Hùng làm vương đất Thục. Hùng chết, con thứ tư của Hùng là Kì nối nghiệp, sau đó Kì bị chú là Thọ phế làm Cung Đô công, rồi lại giết chết. Thọ tính tình bạo ngược, hay nghi kị. Bấy giờ có quan Bộc xạ Thái Xạ... vì chính trực chống trái ý Thọ, nên bị tru diệt. Không bao lâu Thọ bị bệnh, thường thấy Lí Kì, Thái Xạ... hiện hồn về quấy phá, nên thổ huyết mà chết.
79.14.9. Đời Tống, Trương Siêu: Siêu người làng Kim, huyện Cao Bình, từng bất hòa với Trạch Nguyện cùng huyện. Trong khoảng niên hiệu Nguyên Gia (424-453), Nguyện làm huyện lịnh huyện Phương Dư, bỗng nhiên bị người giết chết, tất cả đều nghi là Siêu giết, về sau, Siêu được làm huyện lịnh, rồi từ chức về quê, vào núi chặt cây. Bấy giờ con trai của anh Trạch Nguyên tên là Đồng Ô mang cung tên, rượu ngon vào núi đãi Siêu. Sau khi uống xong, Đồng Ô nói:
- Ngày xưa huyện lịnh giết hại chú của tôi, thù này thật không thể đội trời chung !
Nói xong dương cung bắn chết Siêu. Đêm ấy Đồng Ô mộng thấy Siêu về nói:
- Ta không giết chú ngươi mà bị ngươi giết oan. Ta đã tố cáo lên trên, bây giờ đến báo thù đây! Nóixong dùng đao đâm Đồng Ô, khiến Ô thổ huyết mà chết.
79.14.10. Đời Tống, Trương Bì: Gia thế của Bì nhiều đời vinh hiển, nhưng đến đời ông thì suy vi. Bì có một đứa cháu gái dung nhan xinh đẹp, có người trong làng đến hỏi về làm thiếp. Bì cho mình là hậu duệ của danh gia vọng tộc, nên sỉ nhục người ấy mà không chấp nhận. Người ấy tức giận đốt nhà, khiến Bì bị chết cháy. Lúc ấy con của Bì là Bang vắng nhà, khi trở về cũng biết được nguyên nhân cha chết. Nhưng một phần vì sợ thế lực người kia, một phần vì ham của, nên chẳng những không tố cáo, mà còn gả con gái cho kẻ thù. Một năm sau, đêm kia Bang nằm mộng thấy cha mình về nói:
- Ngươi là con mà lại trái lẽ trời, nghịch đạo hiếu, bỏ người thân mà theo kẻ sơ, gian trá đồng với kẻ ác!
Nói xong, Bì nắm đầu Bang, rồi dùng cây gậy đào đang cầm trong tay đâm Bang. Hôm sau Bang bị bệnh, qua hai đêm thì thổ huyết mà chết. Hôm Bang chết, người kia bỗng thấy Bì xô cửa bước vào nhà, trợn mắt, phẩy phẩy áo và nói:
- Ngươi cậy giàu sang, buông lòng làm nhiều điều vô cùng tàn ác, vô cớ giết oan ta. Nay ta đã tố cáo lên trên, sự việc cũng được biện bạch rõ ràng, vài hôm nữa ngươi sẽ biết.
Hôm sau người ấy bị bệnh, qua vài ngày thì chết.
79.14.11. Đời Tống, Lữ Khánh Tổ: Gia đình Khánh Tổ rất giàu, ông có một biệt viện lớn và sai một gia nhân tên Giáo Tử đến đó trông nom. Vào một ngày trong niên hiệu Nguyên Gia (424-453), ông đến biệt viện kiểm tra công việc, thì bị người giết chết, ông có một người em trong họ tên là Vô Kì, trước kia đã từng mượn nhiều tiền của ông mà chưa trả, nên mọi người nghi là do Vô Kì giết. Biết vậy Vô Kì mang rượu thịt đến trước linh cữu của anh mình và tế:
- Sao anh chết quá khốn khổ như thế! Là em đây! Nếu hôn anh có linh thiêng thì hãy cho biết ai đã giết anh!
Tế xong Vô Kì về nhà. Canh ba đêm ấy, Kì mộng thấy Khánh Tổ đến nói:
- Hôm trước anh đi kiểm tra biệt viện, thấy Giáo Tử không chăm sóc ruộng vườn, nên nói sẽ trị tội nặng. Giáo Tử bất ngờ dùng búa chém vào lưng anh, rồi lấy mũ nhét vào miệng, bị anh cắn nát ba ngón tay. Hắn lại dùng dao chém vào cổ anh rồi kéo xác bỏ ở cừa sau. Lúc giết anh, những người đi theo cũng ở tại đó. Bây giờ hắn muốn chạy trốn, nhưng anh đã đóng đầu hẳn vào tường rồi.
Nói xong liền biến mất. Sáng sớm hôm sau, Vô Kì báo với cha mẹ của Khánh Tổ; mọi người lén nhìn vào nơi Giáo Tử đứng, thì thấy một nắm tóc của hắn bị một thanh tre đóng chặt vào vách. Lại thấy các ngón tay của hắn bị thương, liền bắt hắn để tra hỏi vàchứng nghiệm, thì đúng như vậy. Hắn cúi đầu nhận tội. Mọi người lại hỏỉ:
- Ngươi đã có lòng phản nghịch, vì sao không chạy trốn?
Hắn đáp:
- Đầu của tôi như bị cột chặt, muốn chạy cũng không được.
Thật phù hợp với những gì mà mọi người đã chứng kiến. Sau đó mọi người thiêu sống Giáo Tử và hai đứa con của hắn.
79.14.12. Đời Đường, Đỗ Thông Đạt: Đạt người ở huyện Cao Viễn, Tề châu. Trong khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-650), huyện thừa bảo Đạt đưa một vị tăng lên hướng bắc. Đạt thấy hòm kinh của vị tăng thì cho rằng trong đó chứa vải lụa, nên cùng với vợ tìm kế đánh chết vị tăng. Trong lúc chưa chết, vị tăng niệm hai ba câu thần chú, bỗng nhiên có một con ruồi bay vào lỗ mũi của Đạt, lâu đến ngạt thở mà vẫn không bay ra. Bấy giờ, mắt, mũi, miệng của Đạt bỗng méo xệch, lông mày lông mi, râu tóc rụng hết, tinh thần tán loạn, không biết đường đi, Sau đó, Đạt mắc căn bịnh nan y, chưa được một năm thì chết. Lúc sắp chết, cọn ruồi bay ra rồi chui vao mũi người vợ. Người vợ liền bị bệnh, hơn một năm sau cũng tiêu đời.
79.14.12. Đời Đường, Hình Văn Tông: Văn Tông người vùng Hà Gian, nhưng gia đình sống gần U Yến. Bẩm tính Tông thô tháo và hiểm ác. Trong khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-650), Tông trúnggió độc, trong vòng mười ngày lông mi, lông mày và râu rụng sạch. Tông bèn đến chùa qui y và tỏ bày sám hối:
- Gần đây trên đường đến u châu, con gặp một người mang hơn mười xấp lụa, khi đến khu đầm lầy hoang vang, không người qua lại, con liền giết người ấy và cướp vải lụa. Lúc chưa chết người ấy nói: “Muốn vào thành mua giấy chép kinh, nhưng không tránh được nạn”. Lát sau có một vị tăng muốn đi đến phương nam thì gặp con. Sợ sự việc bại lộ nên con vung đao chỉ vào vị tăng, vị tăng xin tha mạng, thề suốt đời không tiết lộ. Nhưng con vẫn giết, ném xác vào đám cỏ ven đường., Hơn hai mươi ngày sau, có việc phải đi ngang qua nơi để xác vị tăng, con nghĩ xác đã thối rữa. Như khi đến gần thấy xác vẫn y như người sống. Con liền xuống ngựa, dùng roi đánh vào miệng vị tăng, bỗng nhiên một con ruồi vọt ra, phát tiếng kêu thật trong, rồi bay vào mũi của con mà không bay ra, từ đó con bị bệnh nặng như thế này”.
Hơn một năm thì Văn Tông chết.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
15/12/2015
PUCL QUYỂN 69 - CHƯƠNG THỤ BÁO
QUYỂN 69 Quyển này gồm một chương Thụ báo. 79. CHƯƠNG THỤ BÁO 79.1. LỜI DẪN Nghiệp dụng của thiện ác chính là biểu hiện của ba báo. Cả hai giống như bóng theo hình, rõ ràng như sáu đường đã minh chứng. Ba báo: - Hiện báo...
15/12/2015
PUCL QUYỂN 68 - CHƯƠNG NGHIỆP NHÂN
QUYỂN 68 Quyển này gồm một chương Nghiệp nhân. 78. CHƯƠNG NGHIỆP NHÂN 78.1. LỜI DẪN Bước vào dòng Thánh thì sông ái yên láng, ngũ trược trong xanh; đánh mất tông chỉ thì núi tà chân động, ba chướng nổi bùng. Tỉnh tâm mà...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 67 - CHƯƠNG OÁN KHỔ (tt)
QUYỂN 67 Quyển này tiếp theo chương khổ. 77. CHƯƠNG OÁN KHỔ (tt) 77.6. CÁC LOẠI VI TRÙNG TRONG THÂN Thiền bí yếu pháp ghi: “Lại nữa, Xá-lợi-phất! Lúc hành giả nhập thiền định, dục giác phát khởi gió tham dâm, kích động b...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 66 - CHƯƠNG OÁN KHỔ
QUYỂN 66 Quyển này có một chương Oán khổ. 77. CHƯƠNG OÁN KHỔ 77.1. LỜI DẪN Ba cõi xoay vần, sáu đường chìm nổi. Bản tính sáng suốt không biến hoại, ý thức phân biệt luôn chấp trì; chợt sinh chợt tử, lúc đến lúc đi, thân...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 65 - CHƯƠNG PHÓNG SINH, CỨU NGUY
QUYỂN 65 Quyển này gồm hai chương: Phóng sinh và Cứu nguy. 75. CHƯƠNG PHÓNG SINH 75.1. LỜI DẪN Từng nghe: chúng sinh si mê, loài nào cũng tham sống; hàm linh ngu độn, sợ chết là lẽ thường. Thế nên, hổ bị mất rừng cùng kh...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 64 - CHƯƠNG SĂN BẮN, CHÀI LƯỚI
QUYỂN 64 Quyển này gồm hai chương: Săn bắn-chài lưới, Từ bi. 73. CHƯƠNG SĂN BẮN-CHÀI LƯỚI 73.1. LỜI DẪN Kính nghĩ: Như Lai lập giáo, rất chuộng nhân từ, nên trong các giới điều, sát sinh là nặng nhất. Bởi chúng sinh tham...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 63 - CHƯƠNG CẦU MƯA VÀ VƯỜN CÂY
QUYỂN 63 Quyển này gồm hai chương: cầu mưa và Vườn cây. 71. CHƯƠNG CẦU MƯA 71.1. LỜI DẪN Thánh đạo rỗng lặng, nên biến hóa vô cùng; do biến hóa vô cùng, nên hễ ứng hiện thì đều khế hợp. Gần đây, âm dương vận hành không đ...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 62 - CHƯƠNG CÚNG TẾ VÀ XEM TƯỚNG
QUYỂN 62 Nội dung quyển này gồm hai chương: Cúng tế và Xem tướng. 69. CHƯƠNG CÚNG TẾ 69.1. LỜI DẪN Trộm nghe: Báu vật vàng và ngọc khác nhau, nhưng mọi người đều quí chuộng. Giáo nghĩa của Lão và Khổng sai biệt, nhưng tấ...
