Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 66 - CHƯƠNG OÁN KHỔ

11/12/2015

QUYỂN 66 Quyển này có một chương Oán khổ. 77. CHƯƠNG OÁN KHỔ 77.1. LỜI DẪN Ba cõi xoay vần, sáu đường chìm nổi. Bản tính sáng suốt không biến hoại, ý thức phân biệt luôn chấp trì; chợt sinh chợt tử, lúc đến lúc đi, thân...

PUCL QUYỂN 66 - CHƯƠNG OÁN KHỔ
Phần 1

QUYỂN 66
Quyển này có một chương Oán khổ.
77. CHƯƠNG OÁN KHỔ

77.1. LỜI DẪN
Ba cõi xoay vần, sáu đường chìm nổi. Bản tính sáng suốt không biến hoại, ý thức phân biệt luôn chấp trì; chợt sinh chợt tử, lúc đến lúc đi, thân mạng này bỏ đi nhiều không sao kể xiết. Ôi! Xác thân ta đã bỏ, rải khắp mặt đất gò hầm; máu lệ ta đổ xuống, ngập tràn khắp sông biển. Từ đây mà quán sát thì tất cả chúng sinh đều là quyến thuộc. Người và quỉ hình hài tuy khác, nhưng sinh diệt vốn đồng. Tình ân ái lúc nào cũng theo nhau như bóng theo hình, như vang theo tiếng. Kẻ tà độc ngu si nên chẳng biết thân sơ, bèn giết mạng chúng sinh kia để nuôi dưỡng thân mình; tàn hại lẫn nhau, kết gieo oán đối, nhiều kiếp hận thù, chất chồng khổ báo. Nếu tĩnh tâm suy nghĩ việc này, há không xót lòng ư?
77.2. BI THƯƠNG
Kinh Trung A-hàm ghi: “Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn dạy các tì-kheo:
- Chúng sinh từ vô thỉ đến nay luân chuyển mãi trong đêm dài sinh tử, không biết được cội nguồn của khổ đau. Các tì-kheo nghĩ sao? Nếu chặt tất cả cỏ cây trên đại địa này làm thẻ, mồi thẻ dài bốn lóng tay, thì số lượng thẻ này vẫn chưa đủ đế so với số lượng cha mẹ mà các vị đã nương gá từ vô thỉ kiếp sinh tử. Các tì-kheo! Chúng sinh lưu chuyển trong sinh tử dài lâu cũng như thế đó!
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Trong vòng luân hồi sinh tử các thầy đã bú sữa mẹ nhiều hơn nước sông Hằng và bốn biển. Vì sao? Vì trong đêm dài sinh tử, các thầy khi sinh trong loài voi, bú sữa voi mẹ vô số vô lượng. Hoặc sinh trong loài cầm thú như lạc đà, ngựa, trâu, lừa v.v... bú sữa loài mẹ cũng không kể xiết. Trong đêm dài sinh tử các thầy bỏ thân mạng nơi nghĩa địa, máu mủ chảy ra cũng giống như thế. Hoặc đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, máu tủy chảy ra cũng y như vậy.
Đức Phật bảo các tì-kheo: - Trong đêm dài sinh tử lưu chuyển, máu thân ta chảy ra cũng nhiều vô kể, hơn cả nước trong sông Hằng và bốn bể. Trong đêm dài sinh tử ấy, các thầy đã từng sinh trong loài voi, bị cắt tai, mũi, đầu, đuôi, bốn chân, máu tuôn ra vô lượng. Hoặc làm thân loài cầm thú như ngựa, lạc đà, trâu, lừa v.v... bị cắt thân thể, như cắt tai, mũi, đầu, chân... máu tuôn ra cũng không thể lường. Hoặc khi thân hoại mạng chung bỏ xác nơi nghĩa địa, máu mủ chảy ra cũng vô lượng vô biên. Hoặc đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, rã xác tiêu hình máu huyết chảy ra cũng y như thế! Trong đêm dài sinh tử lưu chuyển, nước mắt khóc tiễn biệt cha mẹ, anh em, chị em, bạn bè thân thuộc, hoặc khóc khi mất của cải cũng nhiều không thể lường, hơn cả nước trong bốn biển.
- Nếu các thầy gặp chúng sinh sống an ổn vui vẻ thì phải nghĩ: ‘Trong đêm dài sinh tử, ta cũng từng cảm thụ vô lượng niềm vui này’. Hoặc gặp chúng sinh chịu nhiều đau khô thì phải nghĩ: ‘Ta từ xưa đến nay lưu chuyển trong đêm dài sinh tử, cũng từng chịu vô lượng nỗi khổ như thế’. Hoặc gặp chúng sinh mà lòng sợ hãi, toàn thân rúng động thì phải nghĩ: ‘Trong quá khứ chúng ta nhất định đã từng sát hại, làm tổn thương nhau, là ác tri thức, nên bị lưu chuyển trong đêm dài sinh tử từ vô thỉ đến nay, không biết được cội gốc của khổ’. Hoặc gặp chúng sinh mà sinh tâm vui mừng yêu mến thì phải nghĩ: ‘Trong đời quá khứ họ đã từng là cha mẹ, anh em, chị em, vợ con, thân thuộc, thầy bạn tốt, lưu chuyển trong đêm dài sinh tử đến nay, nhưng do vô minh che lấp, ái nhiễm ràng buộc, mà không biết được cội nguồn của khổ đau’. Cho nên các thầy phải nên tu học như thế, siêng năng lập phương tiện đoạn trừ tận gốc khổ não, đừng cho tăng trưởng. Bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ Một người trong một kiếp,
Nếu lưu giữ hài cốt,
Đừng để cho hủy hoại,
Chất bằng Tì-phú-la.
Như các thánh đệ tử
Chính trí đạt chân đế,
Khổ và nguyên nhân khổ,
Lìa khổ được tịch diệt.
Tu tập bát chính đạo,
Hướng thẳng đến niết-bàn,
Cùng tột là bảy lần,
Sinh qua lại trời người,
Thoát khỏi mọi ràng buộc,
Vượt khỏi bờ khổ đau.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Chúng sinh từ vô thỉ đến nay lưu chuyển mãi trong đêm dài sinh tử, không biết được nguồn gốc của khổ đau. Không một nơi nào mà ta chưa từng sinh ra và chết đi. Cũng không một nơi nào mà không có cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc, dòng họ và thầy của ta.
Ví như trời mưa lớn, bọt nước chợt thành chợt tan. Cũng như vậy, chúng sinh bị vô minh che lấp, ái nhiễm buộc ràng, xoay vần trong đêm dài sinh tử mà không biết được nguồn gốc của khổ đau.
Ví như một trận mưa lớn, đông, tây, nam, bắc nơi nào cùng ngập nước. Cũng như thế, sự thành hoại của vô lượng quốc độ trong bốn phương như trời mưa khắp nơi không sót một chỗ nào. Nỗi khổ sinh tử của chúng sinh xoay vần trong đêm dài cũng không bờ mé.
Ví như tung gậy lên hư không, có thể đầu gậy rơi xuống trước, hoặc đuôi gậy rơi xuống trước, hoặc gậy rơi ngang xuống đất. Cũng như thế, chúng sinh từ vô thỉ chìm đắm trong đêm dài sinh tử, hoặc đọa vào địa ngục, hoặc đọa vào súc sinh, hoặc đọa vào ngạ quỷ”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Bấy giờ, một vị thiên tử trên cõi trời Ba Mươi Ba đã hiện năm tướng chết: một, mũ hoa tự nhiên héo; hai, y phục tự nhiên cáu bẩn; ba, dưới nách xuất mồ hôi; bốn, không thích chỗ ngồi của mình; năm, ngọc nữ phản bội. Vị thiên tử này thấy vậy, trong lòng vô cùng sầu khổ, đấm ngực thở than. Đế Thích nghe tiếng than này liền hỏi một vị trời:
- Âm thanh gì mà vang thấu đến đây?
Vị trời ấy liền thuật nguyên do, Đế Thích nghe vậy, liền đến hỏi vị thiên tử kia:
- Hôm nay vì sao ông lo buồn khổ não như vậy?
Vị thiên tử ấy đáp:
- Thưa ngài, đâu thể không lo buồn! Mạng tôi sắp hết, năm tướng suy lạ đã hiện. Rồi đây cung điện bảy báu sẽ mất, năm trăm thiên nữ bỏ đi, cam lộ không còn vị thơm ngon.
Đế Thích nghe vậy, liền nói:
- Ông không nghe đức Như Lai nói bài kệ: ‘Các hành đều vồ thường, có sinh ắt có tử, không sinh hẳn không tử, như vậy vui tột cùng\ hay sao mà ông lại lo buồn như thế? Tất cả các hành đều vô thường, muốn cho chúng thường hằng thì nhất định không được !
Vị thiên tử kia lại đáp:
- Thưa Thiên đế! Vì sao không lo buồn cho được, khi mà thân của tôi hôm nay sạch sẽ không nhiễm dơ, ánh sáng rực rỡ hơn cả nhật nguyệt, chiếu soi khắp nơi, mà lại bỏ đi để gá sinh vào bụng heo nơi thành La-duyệt-kì. Sau đó sinh ra, lại ăn uống phân tiểu, bị người phanh thây, xẻ thịt.
Đế Thích lại nói:
- Nếu hôm nay ông có thể qui y Phật, pháp, chúng thì sẽ không rơi vào ba cõi xấu ác. Như Lai thuyết kệ:
Chúng sinh qui y Phật Chẳng rơi ba đường ác Lậu tận sinh cõi trời Niết-bàn, nhất định đến.
Vị trời kia lại hỏi:
- Hiện nay Như Lai đang trú tại đâu?
Đế Thích đáp:
- Như Lai đang an trú tại vườn tre Ca-lan-đà, thành La-duyệt, nước Ma-yết-đà.
Vị thiên tử kia lại nói:
- Tôi muốn đến đó, nhưng bây giờ không còn sức.
Phần 2

Đế Thích bảo:
- Ông hãy quì gối, chắp tay hướng về phương dưới mà bạch: ‘Cúi xin Thế Tôn quán xét kĩ chốn cùng tận này. Cúi xin Ngài thương xót. Nay con tự qui y Tam bảo, Như Lai Vô Sở Trước’.
Vị thiên tử kia liền y theo lời Đế Thích, quì gối chắp tay, hướng xuống phương dưới, tự xưng tên họ, qui y Phật pháp tăng, suốt đời làm một Phật tử chân chính, không cần làm một vị trời. Nói ba lần như thế, vị thiên tử này không còn phải sinh vào bụng heo, mà sinh vào nhà trưởng giả.
Thật vậy, khi thọ mạng cõi trời hết, vị thiên tử này sinh vào nhà một đại trưởng giả trong thành La-duyệt-kì. Lúc ấy vợ trưởng giả biết mình có thai, sau mười tháng thì sinh được một bé trai có dung mạo đoan chính, hiếm có trên đời. Năm bé lên mười tuổi, vợ chồng trưởng giả đưa con đến chỗ Phật. Đức Phật thuyết pháp, đứa bé lập tức rũ sạch trần cấu, chứng Pháp nhãn tịnh, không còn phiền não. Sau đó đứa bé lìa tục, xuất gia tu hành và đắc quả A-la-hán”.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Bấy giờ vua trời Dạ-ma nói tóm lược cho thiên chúng nghe:
- Cõi trời, cõi người thuộc về đường lành có mười sáu nỗi khổ: nỗi khổ làm thân trung ấm, ở trong thai, lúc sinh, mong cầu ăn uống, ghét nhau mà gặp nhau, thương yêu mà xa lìa, thời tiết nóng lạnh, bệnh hoạn, bị người sai khiến, tìm cầu lao nhọc, gần ác tri thức, người thân lâm nạn, đói khát, bị người khác khinh chê, già, chết.
Đây là mười sáu nỗi khổ lớn trong nhân gian, đến khi chết vẫn còn chịu những nỗi khổ khác. Ở trong sinh tử thật không thể chịu nổi. Trong cõi hữu vi chẳng có mảy may vui thú, tất cả đều vô thường, tất cả đều sẽ hủy hoại. Bấy giờ, vua trời Dạ-ma nói bài kệ:
Ở trong cõi đời này,
Có thân thì có khổ,
Có sinh thì có tử,
Có tử thì có sinh.
Khi thụ thân trung ấm,
Do nghiệp chịu khổ đau,
Trong đêm dài tăm tối,
Khổ này nói sao cùng!
Như rơi vào hố xí,
Như lửa đốt cháy thân,
Đó là khổ trong thai,
Làm sao nói cho cùng!
Vì tham mùi vị ngon,
Tâm luôn luôn mong cầu,
Từ đỏ sinh khổ lớn,
Biết nói sao cho cùng!
Phàm phu luôn mong cầu,
Tham muốn không biết đủ,
Phải chịu các khổ não,
Khổ này nói sao cùng!
Oán ghét lại gặp nhau,
Giống như ngọn lửa dữ,
Gây ra bao não phiền,
Khổ này nói sao cùng!
Thương yêu mà lìa xa,
Lòng vô cùng khổ não
Cùng tận, không chịu nổi,
Khổ này nói sao cùng!
Lạnh nóng thật đáng sợ,
Cũng sinh muôn nghìn khổ,
Hữu tình phải gánh chịu,
Khổ này nói sao cùng!
Bệnh hoạn hại thân người,
Sứ giả của thần chết,
Chúng sinh chịu khổ này,
Nói sao cho hết được!
Bị người khác sai khiến,
Thân tâm không tự do,
Chịu bao điều cay đắng,
Khổ này nói sao cùng!
Lửa ái dục thiêu thân,
Vẫn cầu để chịu khổ,
Dần dần đến ngày chết,
Khổ này nói sao cùng!
Gần gũi bạn bè xấu,
Mãi mãi chịu khổ đau,
Sẽ rơi vào nẻo ác,
Khổ này nói sao cùng!
Thấy người thân buồn khổ,
Thì sinh lòng đau thương,
Còn hơn ở địa ngục,
Khổ này nói sao cùng!
Bị đói khát bức ép,
Như lửa đốt ruột gan,
Hủy hoại cả thân tâm,
Khổ này nói sao cùng!
Bị bạn bè, thân thuộc,
Và mọi người khinh chê,
Thì sinh lòng buồn chán,
Khổ này nói sao cùng!
Bị tuổi già bức bách,
Thân gầy, tâm suy sụp,
Đi đứng phải chống gậy,
Khổ này nói sao cùng!
Thần chết cướp mạng người,
Từ đây sang cõi khác,
Đây là nỗi khổ lớn,
Sao nói được bằng lời! ”.
Kinh Cửu hoạnh ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo: ‘Có chín nguyên nhân làm cho người chưa đến lúc chết mà chết oan:
- Một, ăn thức ăn không nên ăn: tức là thức ăn không hợp ý, ăn no bụng sẽ không ổn.
- Hai, ăn không lượng định: tức không biết tiết độ, ăn quá no.

Phần 3

- Ba, uống ăn không quen: cũng gọi là không đúng thời, tức vào mùa đông hay hạ đến nước khác, không hiểu phong tục thời gian, chưa quen giờ giấc uống ăn.
- Bốn, không xuất sinh: thức ăn cũ chưa tiêu lại ăn thêm, không uống thuốc để nôn hoặc đại tiện ra hết. Do tiêu hóa không đúng lúc.
- Năm, nín nhịn: khi đại tiểu tiện, hoặc khi ợ, nôn mửa, hạ phong đến thì nín nhịn, không chịu đi liền.
- Sáu, không giữ giới: phạm năm giới tại gia, bị quan quân bắt giam, đánh đập, đâm chém; hoặc bị kẻ oán thù giết chết; hoặc do sợ hãi nghĩ đến tội, nên sinh tâm lo buồn mà chết.
- Bảy, thân cận bạn xấu: do không xa lìa bạn xấu, nên không biết thiện ác.
- Tám, vào xóm làng không đúng lúc: cũng gọi là đi lén, gặp lúc trong làng có tranh tụng, bị quan quân đuổi bắt, đã không tránh mà còn phi pháp đi vào nhà người.
- Chín, không tránh những việc nên tránh: tức gặp voi dữ, ngựa, xe trâu, rắn độc, hầm sâu, nước lụt, lửa cháy, đao gậy, người say quấy nhiễu mà không tránh.
Đó là chín nguyên nhân khiến mạng người chưa hết mà vội chết oan’”.
Lại trong kinh Ngữ ấm dụ, Đức Phật thuyết kệ:
Sắc như bọt nước tụ
Thụ như bong bóng nước
Tưởng như là sóng nắng
Hành như thần cây chuối
Thức như vật huyễn hóa
Chư Phật dạy như thế
Nên quản pháp yếu này
Xét kĩ mà nghĩ suy
Quán kĩ hư không kia
Chẳng thấy là thường còn
Muốn thấy ấm như thế
Bậc trí nổi không sai
Khi ba việc đoạn rồi
Thân này không đáng quí
Mạng, hơi ấm, thức
Bỏ thân qua đời sau
Thân chết nằm trên đất
Như cây cỏ vô tri
Thấy tướng trạng như vậy
Như huyễn mà ngu chấp.
Thân này thật bất an
Lại cũng không bền chắc
Biết năm ấm như vậy
Tì-kheo nên tinh tấn
Ngày đêm luôn tự giác
An trụ trong chính trí
Tu tập đạo tịch diệt
Hành diệt, tối an vui
77.3. CÁC TÊN GIẶC DỮ
Kinh Niết-hàn ghi: “Thí như vị vua kia nhốt bốn con rắn độc trong một cái hộp, rồi giao cho một người nuôi dưỡng và dặn dò:
- Nếu ngươi để cho một con nổi giận, ta sẽ theo phép nước dẫn ngươi ra pháp trường xử trảm.
Người ấy nghe nghiêm lệnh của vua, lòng vô cùng hoảng sợ, bỏ cái hòm nhỏ chạy trốn. Nhà vua lại sai năm người Chiên-đà-la vung đao đuổi theo. Người ấy quay nhìn lại thấy năm người đuổi theo sau thì bỏ chạy nhanh hơn. Lúc đó, năm người dùng kế ác, giấu kín đao, rồi sai một người trá làm thân thiện đến nói với kẻ trốn: ‘Ông nên trở về!’. Người ấy chẳng tin, chạy vào một thôn xóm, muốn ẩn kín mình. Sau khi vào trong xóm, người ấy nhìn thấy nhà cừa trống vắng, chẳng có người; chén bát, nồi niêu đều trống không. Đã không thấy người, lại chẳng có thức ăn, người ấy liền ngồi phịch xuống đất. Bỗng nghe trong hư không có tiếng nói:
- Ôi! Này nam tử! Xóm này trống rỗng, không có dân cư, đêm nay sẽ có sáu tên giặc dữ đến, nếu ngươi gặp phải thì mạng chẳng còn. Ngươi sẽ làm thế nào để thoát đây?
Lúc bấy giờ, nỗi sợ hãi tăng thêm, người ấy lại bỏ đi. Trên đường, người ấy lại gặp một dòng sông, nước sông chảy mạnh, lại không có thuyền bè. Vì quá sợ, nên người ấy lấy đủ thứ cỏ cây kết bè, rồi lại suy nghĩ: ‘Giả sử đứng ở đây thì sẽ bị năm Chiên-đà-la rắn độc mà một tên trá giả thân thiện và sáu tên giặc lớn giết hại. Nếu qua sông này mà bè không chắc chắn thì ta sẽ phải chết chìm. Ta thà chìm chết, chứ nhất định không để rắn độc và giặc kia hại’. Thế là người ấy đẩy bè cỏ xuống sông, nằm trên bè ấy, vận động tay chân, cắt dòng mà qua. Sang được bờ bên kia, người ấy yên ổn, không còn nạn khổ, thân tâm thư thái, không còn sợ hãi.
Bốn con rắn độc dụ cho bốn đại, năm tên Chiên-đà-la là năm ấm, một tên trá thân thiện dụ cho tham ái, vào thôn xóm dụ cho sáu nhập, sáu tên giặc dữ đến là dụ cho sáu trần. Sáu tên giặc dữ này chỉ có các vua mới có khả năng ngăn chặn, dụ cho việc chỉ có chư Phật và bồ-tát mới trị được. Dù các vua có thể chặt hết tay chân của chúng, nhưng không thể làm cho tâm của chúng đoạn ác được. Giặc sáu trần cũng như thế, tuy tu-đà-hoàn, tư-đà-hàm, a-na-hàm và a-la-hán có thể chặt tay chân chúng, nhưng chẳng thể ngăn được việc chúng cướp thiện pháp. Chỉ người mạnh mẽ mới có thể tiêu diệt hàng phục sáu tên đại tặc này. Các Đức Phật, bồ-tát cũng như vậy, mới có thể tiêu diệt hàng phục giặc ác sáu trần”.
77.4. TÁM KHỔ

Kinh Ngũ vương ghi: “Đức Thế Tôn dạy năm vị vua:

- Người đã sinh ra trong đời thì thân phải chiu muôn nghìn đau khổ. Hôm nay các ông hãy lắng nghe, Ta lược nói tám nỗi khổ: sinh, già, bệnh, chết, thương yêu mà xa lìa, mong cầu mà không thỏa mãn, ghét nhau mà gặp nhau, lo lắng buồn phiền.
* Thế nào là khổ do sinh?
Con người khi chết, thần thức không biết sẽ đi về đâu? Khi chưa tìm được nơi sinh thì phải thụ thân trung ấm. Trong khoảng hai mươi mốt ngày, đợi khi cha mẹ giao hợp liền vào thụ thai, ở trong thai, bảy ngày đầu tựa như sữa loãng, bảy ngày thứ hai như sữa ngưng đọng, bảy ngày thứ ba như sữa đặc, bảy ngày thứ tư như hòn thịt, bảy ngảy thứ năm thai nhi hình thành. Bấy giờ gió mát nhập bụng mẹ, thổi vào thai nhi khiến hình thành sáu căn. ở trong thai mẹ, thai nhi nằm dưới sinh tạng, trên thục tạng. Khi mẹ ăn chén canh nóng thì thai nhi như nằm trong vạc nước sôi. Nếu mẹ uống bát nước lạnh thì thai nhi như bị băng giá xát vào thân. Khi mẹ ăn no thì thai nhi bị ép ngặt, đau không thể nói. Lúc mẹ đói, trong bụng trống rỗng thì thai nhi như bị treo ngược, khốn khổ vô cùng. Đến thời kỳ sinh, đầu hướng xuống sản môn, như bị chẹt giữa khe núi đá. Lúc sinh, mẹ gặp hiểm nguy, cha lo sợ, hài nhi mới sinh ra thân thể mềm yếu, chạm phải lá cỏ cũng đau như dao cắt, cất tiếng khóc lớn! Như thế có khổ không?
Năm vị vua đáp:
- Thật là quá khổ!
- Thế nào là khổ do già?
Để nuôi nấng con trưởng thành, cha mẹ phải dốc hết sức lực, không quản khó nhọc, chẳng màng gian lao, khiến thân thể già nua, thịnh đi suy đến, đầu bạc răng long, mắt mờ tai điếc, da chùn mặt nhăn, xương khớp đau nhức, đi lại khó khăn, đứng ngồi than thở, ôm lòng buồn tủi, tinh thần sa sút, khi nhớ khi quên, ngày chết sắp đến, đứng ngồi nhờ người, nói ra thật chảy nước mắt! Như thế có khổ không?
Đáp : Thật là quá khổ!
* Thế nào là khổ do bệnh?
Con người do bốn đại hòa họp mà thành, một đai không hòa thì một trăm lẻ một bệnh phát sinh, bốn đại không hòa thì bốn trăm lẻ bốn bệnh đồng thời phát sinh, địa đại không hòa thì toàn thân nặng nề, thủy đại không hòa thì toàn thân phù thủng, hỏa đại không hòa thì toàn thân nóng bức, phong đại không hòa thì toàn thân phát động mạnh, xương cốt đau nhức như bị gậy đập. Bốn đại không hòa thì chân tay run rẩy, khí lực cạn kiệt, đứng ngồi nhờ người, môi miệng khô khan, gân đứt, mũi nghẹt, mắt không thấy sắc, tai chẳng nghe tiếng, thân tiết ra đồ bất tịnh rồi nằm trên đó, ôm lòng khổ não, cất tiếng bi thương! Thân nhân ở bên cạnh đêm ngày chăm sóc không lúc nghỉ ngơi, thức ăn ngon đưa vào miệng liền thành đắng chát. Như thế có khổ không?
Đáp: Thật là quá khổ!
* Thế nào là khổ do chết?
Con người lúc chết, bốn trăm lẻ bốn bệnh đồng thời phát sinh. Bốn đại sắp tan rã, thần thức bất an. Lúc sắp chết, có ngọn gió lạnh bén như dao thổi cắt thân thể, đau đớn vô cùng. Bấy giờ mồ hôi toát ra, hai tay quơ quào, người thân vây quanh khóc lóc thảm thiết, đau tận xương tủy, không thể kiềm chế. Người chết, hơi thở ngừng đập, khí lực chấm dứt, hơi ấm không còn, thân thể cóng lạnh. Khi chết phong đại đi trước, hỏa đại theo sau, rồi thần thức mới lìa khỏi xác, thân thể trở thành vô tri. Khoảng một tuần sau, toàn thân trương phình, máu thịt tan rã, hôi thối không ai dám gần, ném ngoài đồng, chim chóc ăn thịt, chỉ còn xương khô ngổn ngang đây đó. Như thế có khổ không?
Đáp: Thật là quá khổ!
* Thế nào là khổ do yêu thương mà xa lìa?
Gia đình, anh em, vợ con, nội ngoại sum họp thương mến nhau, bỗng chốc lìa tan, bị người cướp đoạt, khiến cho mỗi người mỗi ngả, cha đông, mẹ nam, con trai tây, con gái bắc, không ở một chỗ, hoặc bị ép buộc phải làm tôi tớ, chỉ biết tự buồn than. Tình cốt nhục chia lìa, biệt tăm biệt tích, xa xăm mù mịt, không biết khi nào mới được gặp nhau. Những điều như thế có khổ hay không?
Năm vị vua đều đáp:

Phần 4

- Thật là quá khổ !
* Thế nào là khổ do mong cầu khống thỏa mãn? Những người dùng tiền tài mua lấy chức quan,
hi vọng được giàu sang, nên luôn dốc lòng tìm cầu, đến khi được làm chức quan ở vùng biên địa, chưa được bao lâu thì tham lấy của dân, bị người tố cáo. Một hôm quan phủ đưa xe tù đến chở đi. Lúc sắp bị giết, họ đau khổ vô cùng, không biết sống chết ngày nào? Như vậy có khổ không?
Năm vị vua đáp:
- Thật là quá khổ!
* Thế nào là khổ do thù ghét mà gặp nhau? Hàng phàm phu thế gian cùng ở trong cảnh ái
dục, tranh giành những điều tầm thường mà sát hại lẫn nhau, gây nên oán thù. Hai bên muốn tránh nhau, nhưng không nơi ẩn náu, nên tự mài dao, vót tên, mang cung, cầm gậy chống giữ đề phòng. Họ rất sợ gặp nhau, nhưng oan gia ngõ hẹp đâu thể tránh được! Thế là đao kiếm, cung tên, chém giết lẫn nhau, chưa biết ai thắng ai thua, ngay lúc đó sợ hãi vô cùng. Như thế có khổ không?
Năm vi vua đều đáp:
- Thật là quá khổ!
* Thế nào là khổ do lo lắng buồn phiền?.
Người ở đời, sống thọ thì đến trăm năm, đoản
mạng thì chết trong bào thai. Cho dù, người sống đến một trăm năm, nhưng ban đêm chiếm hết một nửa, còn lại năm mươi năm thì thời gian say sưa, bệnh tật và không biết làm người chiếm mất năm năm. Từ nhỏ đến mười lăm tuổi khờ khạo chưa biết lễ nghĩa, tám mươi tuổi trở lên, đần độn vô trí, không còn minh mẫn, tai điếc, mắt mờ, quên cả phép tắc, lại mất thêm bốn mươi năm. Tổng cộng mất chín mươi năm. Mười năm còn lại, có lắm chuyện lo buồn như thiên hạ loạn lạc cũng lo, hạn hán cũng lo, lũ lụt cũng lo, sương lạnh cũng lo, mất mùa cũng lo; con cháu nội ngoại bệnh tật cũng lo; nắm giữ gia sản, kinh doanh sợ mất của cũng lo; quan gia chưa đến thu thuế cũng lo; gặp lúc người trong nhà bị tù tội chưa biết khi nào tha cũng lo; anh em đi xa chưa về kịp cũng lo; gia đình nghèo nàn không đủ cơm áo cũng lo; xóm giềng có việc cũng lo; không tròn nghĩa vụ đối với đất nước cũng lo; trong nhà có người chết, không tiền chôn cất cũng lo; đến mùa gieo giống mà không có trâu cày cũng lo. Cứ như thế, mỗi thứ mỗi lo, không lúc nào vui vẻ. Đến ngày lễ cùng nhau tụ tập, đáng lẽ vui vẻ, nhưng lại nhìn nhau thương khóc. Những điều như thế có khổ không? Đáp: Thật là quá khổ!"
Lại nữa, kinh Kim sắc vương ghi: “Có vị thiên nữ nói cho Kim sắc vương nghe bài kệ:
Pháp nào là khổ nhất?
Đó chính là nghèo hèn.
Nỗi khổ nào lớn nhất?
Đó cũng là nghèo hèn.
Khổ nghèo và khổ chết
Cả hai thật giống nhau.
Nhưng thà chịu chết khổ,
Không thể chịu sống nghèo!
Luận Phật địa ghi: “Có năm nỗi sợ hãi: sợ không đủ sống, sợ tiếng xấu, sợ chết, sợ đường ác, sợ đứng trước đông người hoặc trước người có uy đức. Khi chứng Thanh tịnh ý lạc mới dứt trừ được năm nỗi sợ hãi này”.
Kinh Ba-tư-nặc vương thái hậu băng ghi: “Thế Tôn thuyết cho vua nghe bài kệ:
Người đời đều phải chết
Không ai tránh nạn này
Tùy theo nghiệp thiện ác
Mà lãnh thụ họa phúc
Tạo ác đọa địa ngục
Làm thiện sinh cõi trời
Tuệ sáng khéo phân biệt
Phúc thiện trừ được ác.
Đại vương! Có bốn nỗi sợ hãi mà con người không thể tránh được: một, già là nỗi sợ hãi lớn, vì thân chỉ còn da bọc xương; hai, bệnh là nỗi khổ lớn, vì nó cướp mất đi ý chí kiên cường; ba, chết là nỗi khổ lớn, vì nó lấy mất thọ mạng; thương yêu mà xa cách là nỗi khổ lớn, vì không thể giữ lại. Bốn nỗi khổ này không thể dùng vũ khí, chú thuật, thuốc men trừ diệt cũng không thể dùng voi ngựa, nhân dân, châu báu, thành quách có thể chuộc lại được. Thí như có đám mây lớn, sấm sét đánh vào, mây sẽ tan trong chốc lát. Thọ mạng con người rất ngắn, tối đa chỉ trăm năm, ít có người thoát khỏi. Chỉ nên tu quán vô thường, trừ dẹp ân ái, mới vượt khổ đau.
77.5. NHỮNG NẠN KHÁC
Kinh Phụ nhân ngộ cô ghi: “Khi Đức Phật còn tại thế, một hôm có người đến nước Xá-vệ cưới vợ rồi đưa về quê nhà. Thời gian sau anh ta đã có hai đứa con, đứa lớn bảy tuổi, đứa nhỏ còn ẵm bồng. Vợ anh lại có thai sắp sinh. Theo phong tục Thiên Trúc, khi sinh thì phải về nhà cha mẹ. Bấy giờ vợ chồng cùng hai đứa con ngồi xe đến thành Xá-vệ. Trên đường đi, gia đình anh dừng lại một nơi nọ để nghỉ ngơi, ăn uống, chăn dắt trâu. Lúc ấy một con rắn độc quấn lấy chân trâu, trâu bứt dây chạy thoát. Anh ta đến dắt trâu, chuẩn bị lên đường gấp, thì thấy trâu bị rắn độc cắn. Rắn thấy người liền bỏ trâu, đến quấn và cắn chết anh ta. Người vợ từ xa thấy vậy, lòng vô cùng sợ hãi, than khóc kêu trời, nhưng không ai cứu. Bấy giờ trời sắp tối, không xa là một dòng sông, bên bờ đối diện có cư dân sinh sống. Người vợ sợ trời tối gặp giặc cướp, bèn bỏ xe dẫn hai con đến bờ sông. Bà để đứa con lớn bên bờ và ôm đứa nhỏ bơi qua sông. Khi vừa ra giữa dòng, thì chó sói đến cắn xé đứa lớn, nó kêu la gọi mẹ. Bà ngoái nhìn vào bờ, thấy con bị sói án thịt, trong lòng vô cùng đau xót và hoảng sợ, bất giác buông tay làm rơi đứa con nhỏ trôi theo dòng mà chết. Người mẹ này lại bi thương cùng tột, tâm trí hoảng loạn, ngụp lặn trong dòng sông, do đó lại sẩy luôn đứa con trong bụng.
Khi qua được bờ kia, bà tìm hỏi người đi đường về tin tức của cha mẹ tại. thành Xá-vệ. Người ấy báo rằng: ‘Tối hôm qua lửa cháy thiêu chết cha mẹ của cô, không ai sống sót’. Lại hỏi người khác, thì được trả lời: ‘Tối hôm qua giặc cướp đến, đã giết hết cha mẹ của cô, cả nhà không ai thoát’. Nghe vậy, tâm trí bà mê loạn, cởi hết áo quần, điên cuồng chạy bừa khắp nơi, mọi người đều lấy làm lạ cho rằng người này bị bệnh tà hoặc ma quỉ dựa nhập.
Bấy giờ Đức Phật đang thuyết pháp cho đại chúng nghe tại tinh xá cấp Cô Độc, nước Xá-vệ, thì bà chạy đến. Đức Phật dạy:
- Theo pháp của chư Phật, hễ người mù gặp Phật thì mắt sáng, người điếc gặp Phật thì tai thông, người câm thì nói được, người bệnh liền lành, người yếu gầy sẽ có sức mạnh, người trúng độc được giải trừ, người mê loạn được định tâm’. Bà vừa thấy Phật, tâm liền an tỉnh, không còn đau buồn. Thấy mình thân thế lõa lồ, bà hổ thẹn nằm xuống đất. Đức Phật bảo A-nan trao quần áo cho bà; mặc xong, bà đỉnh lễ nơi chân Phật, rồi ngồi sang một bên. Đức Phật tùy cơ thuyết pháp chỉ rõ tội phúc. Ngài lại dạy các pháp yếu như mạng người vô thường, có tụ hội ắt có chia li, giúp cho bà khai thông tâm ý mà phát tâm Vô thượng chính chân, và đạt giai vị Bất thoái chuyển”.
Luận Đối pháp ghi: “Lúc sinh vì sao khổ? Đó là bị các nỗi khổ bức ép, các khổ khác theo đây mà phát khởi. Nghĩa là khi sinh ra phải chịu nỗi khổ thân thể bị ép chặt; còn có các nỗi khổ khác như lão, bệnh, tử nương theo đây mà khởi. Già vì sao lại khổ? Vì thời gian làm thân thể biến hoại. Bệnh vì sao lại khổ? Vì do các đại biến dị. Chết vì sao lại khổ? Vì thọ mạng biến hoại. Oán thù gặp nhau vì sao khổ? Vì tụ hội. Yêu thương mà xa lìa vì sao khổ? Vì khi xa cách, cầu mà không được vì sao khổ? Vì mong cầu mà không được. Tổng gom tất cả ngũ thủ uẩn vì sao khổ? Vì quá thô trọng”.
Kinh Tạp thí dụ ghi: “Người thế gian vào biển tìm châu báu thường gặp bảy nạn:
1. Gió lớn từ bốn phía cùng lúc thổi mạnh làm lật thuyền.
2. Thuyền bị thủng, sắp hư hoại.
3. Rơi xuống nước, lúc sắp chết mới lên được bờ.
4. Hai con rồng trên bờ muốn ăn thịt.
5. Ba com rắn độc trên đất liền đuổi theo muốn cắn.
6. Cát nóng, người đi bị bỏng chân.
7. Không thấy mặt trời, mặt trăng, tối tăm không nhận được phương hướng.
Đức Phật bảo các đệ tử: ‘Cũng như vậy, các ông cũng có bảy nạn lớn:
1. Gió từ bốn phía thổi đến, dụ cho sinh, già, bệnh, chết.
2. Sáu căn tiếp xúc vô lượng trần cảnh, ví như thuyền bị thủng
3. Rơi xuống nước sắp chết, tức bị ma bắt
4. Hai con rồng trên bờ muốn ăn thịt, là dụ cho ngày tháng gặm nhấm mạng sống.
5. Ba con rắn độc ở đất bằng, dụ cho ba độc tham, sân, si.
6. Cát nóng làm bỏng chân, dụ cho lửa trong địa ngục.
7. Không thấy mặt trời, mặt trăng, là dụ cho nơi chịu tội tối tăm không có ngày ra.
Đức Phật dạy:
- Các ông nên biết, chớ nên gặp chúng, phải siêng thực hành sáu độ mới được giải thoát”.
Kinh Niếi-bàn ghi: “Nếu những ngoại đạo tự nhịn đói... mà đắc đạo thì tất cả súc sinh cũng đắc đạo. Cho nên các phái ngoại đạo như: tự nhịn đói, ngâm mình trong vực sâu, nhảy vào lửa, buông mình từ núi cao, luôn đứng một chân, hơ thân giữa năm thứ lửa, nằm trên tro đất, dùng gai đâm thân thể, nằm trên cỏ lá, nằm trên phân trâu, mặc áo vải thô, y phấn tảo, y khâm-bà-la thô, ăn rau quả, ngó sen, bã dâu; hoặc khất thực giới hạn chỉ vào một nhà, nếu chủ nhà nói không thì liền bỏ đi, dẫu có gọi lại thì cũng không quay đầu; hoặc không ăn thịt muối, năm thứ cay nồng, chỉ uống nước lọc, nước đường, nước ép trái cây.
Như vậy mà họ cho đó là nhân giải thoát vô thượng thì thật vô lí Ta chưa thấy có đại bồ-tát nào thực hành các pháp này mà được giải thoát cả. Vì thế người tu hành, trước hết phải điều tâm, không nên chỉ khổ thân, như thế mới được đạo quả”.
Kinh Tu hành đạo địa ghi: “Thí như đứa bé bắt được con chim sẻ, giữ trong tay khiến con chim lo buồn. Sau đó đứa bé buộc dây vào chân chim rồi thả cho bay xa, bấy giờ con chim vô cùng vui mừng, cho rằng đã thoát nạn, vĩnh viễn không còn gặp nguy hiểm. Nó đậu trên cây, bay xuống ao uống nước, tự do an ổn. Nhưng khi dây buông đã hết, nó lại bị đứa bé kéo về nắm giữ trong tay, lại vẫn chịu khổ não như cũ, không có gì khác. Người tu hành cũng như thế, nên suy nghĩ: ‘Tuy sinh đến Phạm thiên, nhưng rồi cũng sẽ trở lại cõi Dục, chịu khổ như xưa. Cho nên lược tụng:
Thí như chim sẻ, chân bị buộc
Bay xa, chỉ hết bị kéo về
Tu hành dù được lên cõi
Phạm vẫn về cõi Dục chịu khổ sầu

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục