PUCL QUYỂN 62 - CHƯƠNG CÚNG TẾ VÀ XEM TƯỚNG
11/12/2015
QUYỂN 62 Nội dung quyển này gồm hai chương: Cúng tế và Xem tướng. 69. CHƯƠNG CÚNG TẾ 69.1. LỜI DẪN Trộm nghe: Báu vật vàng và ngọc khác nhau, nhưng mọi người đều quí chuộng. Giáo nghĩa của Lão và Khổng sai biệt, nhưng tấ...

QUYỂN 62
Nội dung quyển này gồm hai chương: Cúng tế và Xem tướng.
69. CHƯƠNG CÚNG TẾ
Trộm nghe: Báu vật vàng và ngọc khác nhau, nhưng mọi người đều quí chuộng. Giáo nghĩa của Lão và Khổng sai biệt, nhưng tất cả mọi người đều tuân theo. Lẽ nào do Khổng Tử sinh ở nước ta mà lại muốn thờ ông ấy làm thầy, còn Đức Phật ở nơi xa xăm mà lại muốn lìa bỏ. Không kềm lòng với sự việc bức thiết này, nên tôi trình bày lẽ đúng sai, sáng tối chứ không dám tự cho ý mình là đúng.
Khổng Tử qua đời, khắc họa hình tượng thờ phụng nghìn năm; Đức Phật nhập diệt, dựng linh tháp tôn kính muôn đời, Đó là muốn cho người thấy hình thì tưởng nhớ, thấy tượng thì hồi tâm; trọng thầy và trung vua, đều cùng một nghĩa. Đến như ông Đinh Lan buộc đai kính thờ tượng mẹ bằng gỗ; cư sĩ Vô Tận cởi chuỗi ngọc dâng cúng tháp Phật Đa Bảo. Xét từ xa xưa, vì tưởng nhớ đến bậc thánh nhân cao đức, thật đã có rất nhiều người kính thờ, thì nay như vậy hẳn cũng không trái lẽ.
Kinh Lễ ghi: “Bậc thiên tử thì có bảy miếu, các vua chư hầu có năm miếu, đại phu và khanh sĩ đều có thứ bậc. Thiên gọi là thần, tế trời ở gò tròn. Địa gọi là kỳ, nên tế đất ở đầm vuông. Nhân gọi là quỷ, nên cúng tế ở tông miếu. Rồng thì có công làm mưa, trâu có khả năng kéo cày. Do đó, đều được lập hình trong làng xóm, dựng tượng ở cổng thành. Huống chi Phật là thầy của ba cõi, cha mẹ của bốn loài, có oai đức được muôn người tôn kính, phong thái thanh cao làm khuôn phép cho muôn loại. Cho nên người thiện đều hướng về, như trăm sông đều đổ về biển cả; ánh sáng rực rỡ bao trùm, như mặt trời mặt trăng ở giữa các vì sao. Cho nên, nước Nhục-chi giữ lại di ảnh, nước Ma-kiệt-đà để thân tro, xá-lợi được lưu bố rộng rãi, xây tháp thờ ở tinh xá Kì-hoàn. Các thánh hiền nương đây mà được phúc lớn, kẻ tôn quý nhờ đó mà an vui”.
69.2. DÂNG CÚNG PHẬT
Hỏi: Vào ngày rằm tháng bảy, Phật dạy nên tạo bồn cúng dường Phật, nhưng trong ngày này có rất nhiều người đến dự. Vậy không biết xuất khoản nào để tạo bồn và khoản đãi?
Đáp: Nếu có thí chủ cúng dường và các vật dùng chung thì lấy phần này khoản đãi.; Nếu không có thí chủ và các vật dùng chung thì phải xem đây là chùa lớn hay chùa nhỏ, chùa công hay chùa tư. Nếu là chùa nhỏ, khồng phải do quốc gia xây dựng, không có thí chủ bên ngoài cúng dường, không có những người giàu sang tôn quí đến dự, lúc bấy giờ phải cân nhắc kĩ, xem thử đời sống của tăng trong chùa sung túc hay thiếu thốn mà xuất ít hoặc nhiều vật của tăng thường trụ làm thức ăn hiến cúng Phật và tăng. Như vậy cũng không phạm lỗi, vì Phật cũng được xếp vào hàng tăng đáng thụ nhận vật cúng dường. Vì thế trong hai bữa ăn chính và phụ, các chùa thường soạn hai phần cho Phật và tăng. Vì thế mà biết trong trường hợp này được dùng chung. Nhưng lúc bố-tát thuyết giới thì không tính Phật vào tăng yết-ma, vì vị trí trong Tam bảo khác nhau.
Hỏi: Nếu là chùa lớn như chùa Tây Minh, chùa Từ Ân ở Trường An, trừ những đất đai cấp cho từng nhân khẩu trong chùa, còn có điền trang do triều đình ban cho. Những vật dụng sinh hoạt nơi đây đều do quốc gia cúng dường. Do đó vào ngày này mỗi năm, triều đình hiến cúng rất nhiều phẩm vật, có cả những người tấu nhạc và các quan phụ trách đưa bồn đến chùa; do đó có nhiều người tham dự. Vậy chưa biết lúc này chi xuất vật nào để tiếp đãi họ. Vả lại khi các quan chưa đưa bồn đến, thì những phẩm vật, đồ dùng cúng dường Phật được trích từ khoản nào để sắm sửa?
Đáp: Nếu có vật dùng chung cho Tam bảo thì trước hết dùng khoản này, nếu không có, lại không có ai cúng dường riêng, thì chỉ nên dùng phần của tăng thường trụ để khoản đãi tân khách và sắm sửa thức ăn cúng dường.
Hỏi: Theo luật, nếu tì-kheo có giới đức đến thì cúng dường, tì-kheo khuyết giới đức đến thì không được; vì đây là phần của tăng thường trụ, đâu cho phép người thế tục dùng?
Đáp: Như trong luật Tăng-kì, luật Thập tụng đều có ghi: Các thành phần như vua quan, thợ giỏi có khả năng làm lợi ích cho tăng, còn giặc cướp có thể gây tổn hại cho tăng. Đối với hai hạng làm lợi hoặc gây hại này, Đức Phật cho phép tri sự xuất phần của tăng khoản đãi, không phạm lỗi. Đây chẳng phải phần người thế tục được thụ dụng, nên chỉ cho phép tri sự làm vậy; nếu tri sự không khoản đãi những người này, sẽ tổn hại cho Phật và tăng. Đã biết như vậy, nhưng ngày nay quốc gia tạo bồn cúng dường, vua bảo trăm quan và các nhạc công, hộ tống Phật bồn đến chùa, há không khoản đãi những người này sao? Nếu không khoản đãi, họ sẽ trách móc, lại bị người ngoài chê cười: “Người xuất gia chỉ biết mong cầu vật của người khác, chứ bản thân thì vẫn còn bỏn xẻn”. Bởi người đời chỉ biết việc trước mắt mà không thấy việc mai sau, cứ cho là dùng được, chứ đâu biết quả báo mai sau. Đức Phật biết rõ lợi hại, cho nên mới tùy việc tùy lúc mà cấm ngăn hay cho phép.
Hỏi: Thức ăn cúng dường Phật, nếu dùng phần của tăng thường trụ chi dụng mua sắm, thì sau khi lễ cúng xong, sung vào phần của tăng thường trụ. Đây là lẽ tất nhiên, nhưng nếu có thí chủ bên ngoài dâng bồn cúng dường Phật, thì sau đó những phẩm vật nậy thuộc về phần nào?
Đáp: Việc này nên căn cứ theo ý của thí chủ cúng chung hay cúng riêng cho Phật. Nếu thí chủ theo kinh dạy mà tạo bồn để cứu giúp thân thuộc người còn kẻ mất. Việc này phải nhờ phàm thánh mười phương và chư tăng an cư tự tứ mới cứu người thân đã mất ra khỏi ba đường, sinh về cõi trời cõi người. Vì thế, sau khi cúng Phật tất cả các thức ăn uống dư thừa và gạo thóc, bún miến còn lại được chuyển vào phần tăng thường trụ, cúng lại cho tăng. Còn các vật khác như tiền bạc, vải vóc... thì nhập vào phần an cư, phân đều cho chủ và khách. Trong luật Tứ phần, thì không cho phân chia phần lương thực của hạ an cư, chỉ cho chia y thuộc hạ an cư và y cúng trong ngày tự tứ.
Nếu ý thí chủ chỉ muốn thức ăn cúng Phật nhập vào phần của tăng, thì những món khác như tiền bạc... hoặc nhập vào phần của Phật, của pháp hay của tăng cũng phải tùy thuận ý muốn của thí chủ, không được làm trái. Cho nên luận Tát-bà-đa ghi: “Nếu cúng dường Phật bảo, thì thí chủ nên đặt phẩm vật vào tháp thờ móng tay, thờ tóc của Phật để cúng dường pháp thân Như Lai”.
Luận Bà-sa ghi: “Hỏi: Khi Đức Phật còn tại thế, Ngài chỉ nhận phần của một người trong những vật cúng dường Tam bảo. Vì sao sau khi Ngài diệt độ, thì nhận cả một phần trong ba phần?
Đáp: Vì lúc ấy là sắc thân Như Lai thụ dụng, nên chỉ nhận phần của một người. Sau khi diệt độ, công đức pháp thân lớn hơn tăng, cho nên nhận nguyên một phần. Nếu cúng dường cho pháp thì nên chia làm hai phần, một phần cho kinh và một phần cho người tụng kinh, thuyết pháp. Nếu cúng dường cho pháp bảo, thì nên đặt phẩm vật vào tháp cúng dường lí pháp bảo. Nếu cúng dường tăng bảo, nên đặt trong tháp cúng dường Đệ nhất nghĩa đế tăng. Nếu nói cúng cho chúng tăng thì thánh hay phàm tăng đều có phần, vì không nói rõ ràng là cúng riêng cho ai. Đã biết như vậy, thì khi nhận phẩm vật cúng dường, phải hiểu rõ thuận nghịch, nên không nên, chứ không được dùng lẫn lộn để phải trái phạm”.
Theo ý này thì vào ngày rằm tháng bảy, các cư sĩ y cứ vào kinh, sắm vật thực cúng dường Phật tại nhà riêng của mình mong cứu độ người thân. Sau khi xong việc, nên dâng thức ăn này vào chùa, không được tự ý thụ dụng. Nếu chỉ để cúng Phật, thì không được nhập vào phần của tăng. Nếu mình thụ dụng cũng không phạm lỗi, nhưng trái với ý nguyện cứu thân mẫu.
Luận rằng: Ở đây, nếu căn cứ theo ý cúng dường riêng biệt của thí chủ thì như trước đã qui định. Còn nói chung, nếu tăng tục thiết trai cúng dường Phật và Thánh tăng với ý muốn cúng tất cả, thì sau khi xướng dư thực và cúng dường xong, thí chủ được nhận dùng, không cần phải chuộc lại và cấp cho người giúp việc. Nếu cúng riêng cho pháp và tăng thì so sánh theo ý trước để biết.
Hỏi: Vào ngày rằm tháng bảy, Phật đã cho phép tăng tục tạo bồn để hiến cúng, vậy không biết có thể tạo bồn bằng các kim loại quí hiếm hay không?
Đáp: Đều được! Kinh Tiểu bồn báo ân, không nói đến việc dùng kim loại quí tạo bồn, nhưng kinh Đại bồn Tịnh độ thì có. Kinh này ghi: “Mười sáu vị quốc vương nghe Đức Phật nói về việc Mục-kiền-liên cứu mẹ thoát nỗi khổ ba kiếp làm ngạ quỉ sinh về cõi người, mẹ con gặp nhau. Bấy giờ vua Bình-sa liền bảo vị quan giữ kho tàng tạo bồn cho vua cúng dường. Thế là vị quan ấy vâng lệnh dùng năm trăm bồn bằng vàng, năm trăm bồn bàng bạc, năm trăm bồn bằng lưu li, năm trăm bồn bàng xa cừ, năm trăm bồn bằng mã não, năm trăm bồn bằng san hô, năm trăm bồn bằng hổ phách, mỗi mỗi chứa đầy thức ăn thức uống thơm ngon tuyệt hảo, tất cả đều đúng pháp, đưa đến cúng dường Phật và tăng".Căn cứ theo lời kinh này thì nhất định được phép làm bồn bằng kim loại quí và châu báu.
Hỏi: Như kinh Tiểu bồn ghi: “Đức Phật bảo Mục-kiền-liên: ‘Vào ngày tự tứ rằm tháng bảy hằng năm, chư tăng trong mười phương nên sắm sửa -thức ăn tuyệt hảo, năm loại trái cây, bình chứa nước, thau bồn, dầu thơm, đèn sáng, giường nằm, mền mùng chiếu gối. Tất cả những quả phẩm ngon ngọt đặt vào trong bồn để dâng cúng các đại đức tăng mười phương. Khi nhận bồn, trước tiên nên đặt bồn trong tháp Phật, chư tăng chú nguyện xong, mới được thụ thực”’. Ở đây không nói đến việc cúng dường các loại hoa. Ngày nay có những chùa viện nhiều tiền của, dùng nhiều
vật liệu làm các loại hoa như báu vật, gạo miến, bạch lạp, chì thiếc, vải lụa nhiều màu sác. Do việc này mà có những tăng tục, người giàu sang quyền quí chê trách: “Vì mẹ của tôn giả Mục-kiền-liên sinh vào loài ngạ quỉ, nên Đức Phật dạy phải cúng dường Phật và tăng thức ăn thức uống thơm ngon. Vì sao lại cúng các loại hoa báu và các vật khác? Phật và tăng có thể ăn được hoa và các vật này chăng?
Đáp: Không nên vì mình thấp hèn mà làm ngại phúc lớn của người khác. Như kinh Đại bồn ghi: “Vua Bình-sa tạo năm trăm bát vàng đựng đầy hoa đủ màu, năm trăm bát bạc đựng bạch đàn hương nghìn sắc, năm trăm bát lưu li đựng hương tử kim nghìn sắc, năm trăm bát xa cừ đựng hoa sen vàng nghìn sắc, năm trăm bát mã não đựng hoa sen đỏ nghìn sắc, năm trăm bát san hô đựng thanh mộc hương nghìn sắc, trăm bát hổ phách đựng hoa sen trắng nghìn sắc. Vua kiểm xét thấy đã đúng như pháp, liền sai vị quan nắm binh quyền chuẩn bị mười bốn vạn quân binh hộ tống đến chùa Kì-hoàn lễ Phật dâng những các phẩm vật ấy cùng bồn và bát bảy báu cúng dường Phật, tăng. Sau khi tất cả thụ dụng xong, vua trở về bản quốc. Nhờ đó cha mẹ trong bảy đời của vua thoát khổi tội sinh tử trong bảy mươi hai kiếp.
Kế đó, cư sĩ là Tu-đạt, Tì-xá-khư-mẫu, hai trăm ưu-bà-di, rồi vua Ba-tư-nặc cùng phu nhân Mạt-lợi tuyên bố trong nước y theo pháp dâng bồn của ngài Mục-kiền-liên mà tạo bồn cúng dường. Mỗi mỗi đều dùng bồn bàng tử kim, hoàng kim, chứa đầy các thức ăn thức uống thượng hạng, lại dùng năm trăm xe bằng vàng ròng chở đầy các vật cần dùng của tăng. Mọi việc đã xong, tât cả tập hợp đến trước vua và phu nhân. Hai người thấy đã đúng như pháp, liền chuẩn bị xa giá cùng với mười tám vạn quân binh đến trụ xứ của Phật. Sau khi đã dâng một nghìn xe bằng vàng ròng chở các vật dụng và một nghìn bồn thức ăn thức uống, vua và phu nhân đỉnh lễ Phật rồi trở về. Do công đức này mà cha mẹ bảy đời của vua thoát khỏi tội sinh tử trong bảy mươi hai kiếp.
Hỏi: Như trước đã định, y theo kinh, thí chủ được phép dùng bồn báu và hoa báu cúng dường Phật tăng. Nhưng nếu không có thí chủ lo liệu, có được dùng phần của tăng thường trụ tạo hoa báu cúng dường chăng?
Đáp: Việc này cũng cần xem xét đúng lúc đúng thời, cân nhắc những lợi hại trước mắt. Nếu chùa nhỏ, không có hàng tôn quí thế lực giàu sang bảo trợ, lại không có thí chủ bên ngoài cúng dường, thì không nên dùng phần của tăng thường trụ để tạo các loại hoa quí cúng Phật. Nếu có hoa trồng trên đất của tăng, thì được phép dùng cúng Phật.
Luật Thập tụng ghi: “Được phép dùng hoa trồng trong vườn của tăng dâng cúng tháp Phật. Nếu có trái thì bảo người hái cúng cho tăng dùng”.
Luận Tì-ni-mẫu ghi: “Nếu đã phân xử đất trồng cây, mai sau cây lớn, được dùng sửa phòng tăng, không cần bạch tăng nữa. Nếu muôn dùng cây gỗ của tăng sửa tháp Phật, thì nên yết-ma, tăng đồng ý thì được dùng”.
Cho nên kinh Bảo ấn ghi: “Nếu dùng phần của tăng để tu bổ tháp Phật, cần phải y qui định, thực hiện pháp yết-ma, tăng chấp thuận mới lấy dùng, nếu không thuận thì khuyên tín thí phát tâm tu bô”.
Luận Tát-bà-đa ghi: “Đất đai của tăng bốn phương, nếu tăng không thuận thì không được làm tháp Phật hoặc vì Phật mà trồng hoa, cây trái trên đó. Nếu được tăng phân chia, thì cho phép tùy ý cúng dường. Nếu hoa quá nhiều, thì tùy ý cúng dường.”
Kinh Bảo ấn ghi: “Nếu thí chủ xây dựng chùa viện cúng dường, khi đã giao cho tăng rồi thì không được can dự vào nữa. Nếu thí chủ muốn lấy lại tiền tài, vật dụng thì phải trả lại cho tăng gấp bảy lần. Khi lập chùa mới, vị tì-kheo chủ trì phải thưa tăng: ‘Những hoa quả trồng trong chùa dành dâng cúng Phật; cành lá và hạt thì tăng hiện tiền sử dụng đồng thời cũng thí cho tất cả chúng sinh’. Nếu không thưa trước như vậy, sau này bất kể tăng tục, hễ ai dùng thì phạm tội”.
Luận rằng: Đã biết vật của Tam bảo mỗi mỗi riêng biệt, không được sử dụng lẫn lộn. Khi xây dựng chùa viện, nên lập điện Phật và phòng tăng ở hai nơi khác nhau. Như chùa lớn, lập riếng tháp thờ Phật, tất cả những cây trái trồng trong khuôn viên tháp, thì sử dụng cho tháp. Ngoài khuôn viên này thì thuộc tăng. Cho nên luật Thập tụng ghi: “Đức Phật cho phép nuôi người công quả cũng như voi ngựa, trâu dê trong chùa viện và tháp Phật, nhưng mỗi mỗi đều có chủ quản, không được dùng lẫn lộn”.
Luận Tát-bà-đa ghi“Nếu chùa viện trải qua thời gian hoang phế, không biết hỏi ai để phân biệt phần ruộng vườn của Phật, pháp, tăng, thì cần phải nhóm tăng lấy ý kiến. Nếu tăng chấp thuận thì tùy ý phân xử. Nếu nguồn nước của tháp, do công đức thuộc về tháp tạo, nếu tăng sử dụng thì phạm tội nặng. Nếu do công sức của tăng, thì tăng được dùng, nhưng phải lượng vừa đủ, nếu nhiều quá thì phạm tội nặng”.
Trên đây là nói về các ngôi chùa nhỏ, không có ngoại duyên trợ giúp, nên theo đó mà hành sự. Còn như các ngôi chùa lớn do quốc gia xây dựng, đã được triều đình chu cấp riêng, lại được ban cho điền trang, rồi các quan lại, người giàu sang quyền quí đến chùa ngày càng nhiều. Như vậy nếu không có phần sử dụng chung, lẽ nào không khoản đãi quan khách sao! Như ngày rằm tháng bảy, phẩm vật cúng dường trước Phật đâu được đơn sơ. Nếu không chuẩn bị nhiều thức ăn, thức uống, hoa quả cúng dường Phật mà chỉ thêm một chút thức ăn thường ngày dâng cúng, lỡ như hoàng thượng hỏi đến thì làm sao? Lại bị thế gian chê trách, cho rằng tăng bỏn xẻn, không bằng cư sĩ. Làm như vậy, chảng những không kính Phật, mà e ràng mai kia bị hoàng thượng trách tội. Đâu thể cứ cố chấp là phần của tăng thì không được cúng Phật. Đã biết như vậy, nếu không có phần chung cho Tam bảo, thì nên dùng phần của tăng thường trụ mua sắm hoa quả, sửa soạn thức ăn thức uống thơm ngon tuyệt hảo cúng dường Phật, khiến cho người đời thấy vậy khởi tâm sinh thiện diệt ác; làm như thế cũng không tổn hại gì. Dùng phần của tăng cúng Phật, tuy không thể cứu độ thân thuộc kẻ còn người mất, nhưng tránh được tội bị người đời cười chê.
Luật Ngũ phần ghi: “Có người thế tục vào chùa gặp lúc chư tăng thụ thực, nhưng tăng không cho, bị họ chê trách, phỉ báng. Đức Phật biết được, cho phép tăng thí thức ăn. Bấy giờ chư tăng đã cho, nhưng dùng chén bát thô xấu đựng thức ăn, họ lại nổi giận. Phật lại dạy nên dùng chén bát tốt”. Đây là do vị tăng tri sự Ma-ma-đế... gặp việc cân nhắc, hành sự đúng phép, mới hợp ý Phật; không được đánh đồng, khư khư cố chấp. Cho nến luật Ngũ phần lại ghi: “Dù là Ta bảo, nhưng ở những nơi không thanh tịnh, không đi cũng không phạm lỗi. Tuy Ta không bảo, nhưng ở những nơi thanh tịnh, nhất định phải đến”.
Kinh Phật thuyết trừ tai hoạn ghi: “Lúc ấy nước Duy-da-li bị thời khí độc hại, rất nhiều người tử vong vì dich bệnh, nhưng không biết phải làm sao. Vua quan nhóm họp nghị bàn, vua nói: “Đât nước gặp tai họa, bị tà độc xâm hại, lửa dịch bệnh thiêu đốt khiến vô số người chết, chúng ta nên tìm cách nào để trừ tai họa này?’. Có người bàn nên lập đàn tế tự tại cổng thành; có người lại bảo nên lập đàn nơi ngã tư đường lớn trong thành để cúng tế trừ tai họa. Lúc ấy trong hội có trưởng giả Đàn-ni {Hán dịch: Tài Minh), đã thụ năm giới của Phật, thực hành mười điều thiện, ông nói:
- Xin nghe tôi nói! Đất nước đang gặp tai họa, đã có vô số người chết. Theo như cách các vị đã bàn, đó là sát hại chúng sinh để cứu mạng mình; đâu được như vậy! Vì đời trước đã tạo nhiều việc bất thiện, nên nay phải gặp tai ách này. Chúng ta nên lập phương tiện, dùng thiện trừ ác, mong vĩnh viễn không còn khổ đau; chứ sao làm ngược lại là hại vật cầu an, để rồi phải mãi mãi chịu khổ, không có ngày thoát!
Nghe thế, có người hỏi trưởng giả:
-Vậy chúng ta phải làm sao?
Đàn-ni đáp:
- Hiện ở đời có một vị hiệu là Phật, thầy của trời người trong tam thiên đại thiên thế giới, Ngài thương xót che chở và bảo vệ tất cả chúng sinh, một mình dạo đi trong ba cõi, nếu được Ngài hạ cố đến nước ta, nhất định sẽ trừ được tai họa, khiến người và vật an lành.
Mọi người nghe trưởng giả trinh bày, đều khen ngợi và nói:
- Như lời ngài dạy, chúng tôi rất vui mừng; nhưng Phật hiện đang an trú tại thành Vương Xá của vua A-xà-thế. Chúng ta đang có chút hiềm khích với nước này, chắc họ không cho Ngài đến đây.
Đàn-ni nói:
- Đức Phật xuất hiện ở đời với bản hoài cứu khổ, giống như hư không chẳng có gì ngăn ngại, như ánh sáng mặt trời tất cả mọi loài đều được chiếu soi. Đức Phật xót thương lân bang gặp nguy ách, nhất định Ngài sẽ đến, không cần phải nghi ngờ. Nhưng cần phải sai sứ mang nhiều đồ vật sang cống nạp và tạ lỗi với vua A-xà-thế, mong cầu hai nước hòa hiếu.
Nghe trưởng giả nói, vua quan đều đồng ý và nói:
- Chỉ có thanh tín sĩ trưởng giả Tài Minh, đệ tử của Phật mới có thể làm sứ giả mà thôi!
Thế là Tài Minh nhận nhiệm vụ làm sứ giả. Lúc ông sắp lên đường, mọi người đều đứng dậy, hướng về nơi Phật an trú, rồi quì dài chắp tay, năm vóc sát đất, thành kính đỉnh lễ Phật. Tài Minh đến thành Vương Xá trình thư xin cống nạp, và trình bày đầy đủ chủ ý. Vua A-xà-thế bảo Tài Minh:
- Ông hãy đến chỗ Đức Phật trình bày mạng vận của quí quốc!
Tài Minh vâng sắc, vội đến tinh xá Trúc Lâm. Vừa gặp Phật, ông chí thành đỉnh lễ và tỏ bày ý nguyện thỉnh Phật. Đức Phật im lặng nhận lời thỉnh cầu. Tài Minh thấy Đức Phật im lặng nhận lời thỉnh, ông vô cùng vui mừng.
Bấy giờ tất cả thần kì, trời rồng, quỉ thần trong thành Vương Xá biết Đức Phật nhận lời thỉnh đến nước khác, nên lòng vô cùng buồn thảm, bất an. Vua A-xà-thế, các quan cùng mấy ức nghìn người chí thành đỉnh lễ, tự qui sám hối, khóc lóc tiễn đưa Đức Phật. Đức Phật liền hiện thần biến, rồi đến nước Duy-da-li. Nhân dân cả nước Duy-da-li năm vóc sát đất đỉnh lễ nơi chân Phật, nguyện qui y Tam bảo. Bấy giờ mọi người đốt hương, tung hoa, trỗi nhạc, che lọng lụa, treo cờ phướn phụng thỉnh Thế Tôn. Hoa thơm trải đầy đất trên đường Đức Phật đi, ngày ngày không dứt cho đến khi Đức Phật đến được nước ấy.
Bấy giờ Đức Phật cùng thánh chúng và trời rồng, quỉ thần an trú tại cổng thành, Ngài dùng cánh tay sắc vàng đầy đủ các đức tướng chạm vào then cài cổng thành, rồi với âm giọng thanh tịnh đầy đủ tám đặc tính, nói kệ:
Tất cả các chúng sinh
Sống trong thế giới này
Dù trú trên mặt đất
Hay bay trong hư không
Hãy thương xót chúng sinh
Giúp họ được an ổn
Ngày đêm nên siêng năng
Hướng về các pháp thiện.
Vừa nói bài kệ xong, mặt đất liền chấn động sáu cách, Đức Phật liền vào thành; còn các quỉ thần hư không vọt lên không trung bay đi, quỉ thần địa hành chen nhau ra khỏi cổng thành. Những loại quỉ thần mà thành không dung nạp cũng ào ạt tranh nhau chạy tứ tán. Khi Thế Tôn vừa vào thành, tất cả những nơi có vật dơ uế, nhà xí... đều chìm vào lòng đất, những nơi cao thấp, hố hầm, gò nổng đều trở nên bằng phảng, người điếc thì tai tự nhiên nghe, người mù thì mắt bỗng sáng, người câm nói được, người què thì chân lành lặn, người điên chợt tỉnh, voi ngựa trâu dê cùng nhau cất tiếng kêu buồn, đàn không hầu không người khảy mà tự vang lên cùng hòa điệu; những vòng châu ngọc trên thân người nữ bỗng chạm nhau phát ra âm thanh tuyệt diệu; đến nỗi những chén bát, vò bình bằng đất nung cũng tự nhiên kêu vang. Tất cả âm thanh êm dịu nhu hòa, cùng xướng lời pháp nhiệm mầu. Lại nữa những kho tàng trong lòng đất cũng tự nhiên xuất hiện. Bấy giờ tất cả chúng sinh giống như đang nóng khát gặp được dòng nước mát trong, liền uống thỏa thích, tắm gội mát mẻ, thân tâm an định, không còn bệnh tật, đều được giải thoát”.
* Lời bàn
Nên biết, thần lực của Phật không thể nghĩ bàn, nghiệp lực của chúng sinh cũng không thể nghĩ bàn. Cho nên luận Trang nghiêm ghi: “Nếu người có nghiệp thiện, thì tự nhiên sẽ được quả báo tốt, dù có sức vua trợ giúp cũng chẳng bằng sức của nghiệp.
Đúng thật như thế, chính tôi từng nghe: Thuở xưa, có một người nghèo suy nghĩ: ‘Ta nên đến đền thờ trời cầu cho ta hiện đời được nhiều tiền tài, châu báu’. Ông nói với người em:
- Chú ở nhà siêng năng cày cấy để sinh sống, đừng để gia đình thiếu thốn.
Nói xong, ông dẫn người em đến ruộng và bảo:
- Chỗ này có thể gieo mè, chỗ kia có thể trồng lúa, chỗ nọ có thể trỉa đậu.
Hướng dẫn xong, ông đến đền thờ trời, giúp các đệ tử thờ trời tổ chức lễ tế trời thật lớn, đem hương hoa cúng dường, dùng bột thơm tô trên đất, ngày đêm lễ bái cầu xin trời ban phúc, hi vọng đời này được giàu sang.
Thiên thần thấy vậy, suy nghĩ: ‘Ta phải quán sát người nghèo này đời trước có nhân duyên công đức bố thí nào khồng? Nếu có một chút duyên thì ta sẽ tìm cách giúp ông ta được lợi ích’. Quán sát xong, thiên thần thấy ông không có mảy may nhân duyên bố thí nào cả, nên nghĩ: ‘Người này đời trước không tạo duyên mà nay thành khẩn cầu xin ta, chỉ uổng công, nhọc sức, chẳng được gì, lại sẽ oán ta’. Thế rồi thiên thần hóa thành người em đi vào đền. ông ta thấy liền hỏi:
- Sao chú không chịu ở nhà gieo trồng mà đến đây làm gì?
Người em thưa:
- Em cũng muốn đến cầu xin thiên thần, mong thiên thần hoan hỉ ban cho cơm áo. Tuy em không gieo trồng, nhưng nhờ uy, lực của thiên thần mong trong ruộng tự nhiên đầy lúa thóc, ông trách người em:
- Đâu có ruộng nào không gieo giống mà thu hoạch! Việc này thật vô lí!
Ông lại nói kệ:
Đâu có ruộng đất nào
Trong cả thiên hạ này
Cho đến khắp mọi nơi
Không gieo mà thu hoạch
Người em lại hỏi:
- Vậy thì trong thế gian này, hễ không gieo giống thì không thu hoạch được gì ư?
Anh đáp:
- Đúng vậy, không gieo giống thì không có quả.
Bấy giờ, thiên thần hiện lại nguyên hình, nói kệ: Nay chính ông nói rằng:
Không trồng không có quả,
Đời trước ông không thí
Nay đâu thể giàu sang.
Dù ông chịu khổ nhọc
Nhịn ăn cúng dường ta
Chỉ nhọc công vô ích
Lại còn quấy nhiễu ta,
Làm sao giúp cho ông
Giàu có ở hiện đời.
Nếu muốn được của báu
Khuyên vợ con, quyến thuộc
Phải giữ gìn thân, miệng
Và thực hành bố thí.
Nếu không gieo mà được
Thì mặt trời, trăng sao
Không soi sáng thế gian,
Vì đã soi thế gian
Nên biết do nghiệp duyên.
Chư thiên trên cỗi trời
Mỗi mỗi cũng khác nhau,
Phúc nhiều, uy đức lớn
Phúc ít, uy đức kém
Cho nên biết thế gian
Tất cả đều do nghiệp. *
Bô thí được giàu sang
Giữ giới sinh cõi trời,
Không gieo duyên bố thí
Uy đức đều tổn giảm
Định tuệ được giải thoát
Ba việc được quả bảo
Như Đức Phật đã nói
Gieo giống này là nhân
Không nên quấy nhiễu ta
Vì thế phải tu thiện
Để cầu quả báo tốt.
Kinh Trường A-hàm ghi: “Tất cả nhà cửa của người dân, các đường phố, ngõ hẻm, bờ ruộng, lò mổ, chợ quán, cho đến núi đồi đều có quỷ thần ở. Các loài quỷ thần đều được đặt tên theo chỗ ở.
Con người mới sinh ra đều có quỷ thần theo hộ vệ. Những người sắp chết quỷ thần thâu lấy tinh khí. Dù chỉ một người hay trăm người, nghìn người làm mười điều ác cũng chỉ có một quỷ thần theo hộ vệ;
còn người làm mười điều thiện cũng giống như vua của một nước được trăm nghìn người bảo vệ”.
Kinh Thập phương thí dụ ghi: “Tất cả quỷ thần trong trời đất đều biết được thọ mạng, tội và phúc của con người sắp đến hoặc chưa đến, nhưng không thể kéo dài hoặc đoạt lấy mạng sống của họ, cũng không thể khiến cho họ giàu sang hay nghèo khổ. Chúng chỉ muốn khiến cho con người làm ác, phạm giới sát. Rồi nhân lúc phúc của người ấy suy hao, chúng sẽ làm cho hoảng loạn, rồi nói về tội phúc, khiến cho con người thiết lễ cúng tế chúng”.
Trong kinh Phổ dịệu ghi: “Tôn giả Ca-diếp dùng kệ thưa Đức Phật:
Nhớ lại việc cúng tế,
Trải qua tám mươi năm,
Thờ thần gió, lửa, nước,
Nhật, nguyệt và núi, sông,
Đêm ngày không biếng trễ,
Lòng không nghĩ việc khác,
Cuối cùng chẳng được gì,
Gặp Phật mới an ổn
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Ngày xưa, có một bà-la-môn ngày đêm cúng bái miếu thờ trời.
Vị trời hỏi:
- Ông muốn cầu điều gì?
Bà-la-môn đáp:
- Nay tôi muốn làm chủ ngôi miếu thờ trời này.
Vị trời nói:
- Đằng kia có một đàn trâu, ông hãy đến hỏi con đi đầu tiên thử xem!
Bà-la-môn liền đến hỏi:
- Hiện nay ngươi cảm thấy như thế nào? Là khổ hay vui?
Trâu đáp:
- Tôi rất khổ! Hai bên sườn luôn bị đau rát, lưng bị tổn thương, đeo gông, kéo xe chở nặng, không có thời gian nghỉ ngơi.
Bà-la-môn lại hỏi:
- Vì sao ngươi làm thân trâu?
Trâu đáp:
- Ngày xưa, tôi làm chủ miếu thờ trời, tự ý lấy vật trong miếu dùng, nên sau khi mạng chung đọa làm thân trâu, chịu nhiều đau khổ.
Sau khi nghe nói như thế bà-la-môn trở lại chỗ cũ. Vị trời liền hỏi:
- Nay ông muốn làm chủ miếu thờ trời nữa không?
Bà-la-môn đáp:
- Tôi thấy việc này rồi, thật lòng không dám làm nữa!
Vị trời nói:
- Người làm điều thiện hay ác, sẽ nhận lấy quả báo.
Bà-la-môn nghe rồi liền sám hối tội lỗi, tu các pháp lành, sửa đổi lỗi lầm xưa”.
Kinh Tạp bảo tạng lại ghi: “Ngày xưa, có một ông lão rất giàu có. Vì muốn ăn thịt, nên ông ta tìm cách nói dối, chỉ vào cội cây ở đầu ruộng, bảo các con:
- Sở dĩ hôm nay gia đình chúng ta giàu có đều nhờ ân đức của thần cây này. Nay các con nên bắt một con dê trong đàn làm thịt để cúng tế.
Các người con vâng lời, giết một con dê cúng tế để trả ơn và lập miếu thờ thần ngay gốc cầy. Sau đó, người cha mạng chung, theo nghiệp đã tạo, liền sinh vào bầy dê nhà mình. Đến lúc cung tế thần cây, các người con bắt một con dê làm thịt, chẳng ngờ lại bắt đúng con dê mà cha mình thụ sinh. Lúc sắp bị giết, con dê gào khóc và nói:
- Cây này không có thần linh gì đâu! Vì ngày xưa ta muốn ăn thịt, nên nói dối cho các con cúng.tế, để cùng nhau ăn thôi. Nay một mình gánh chịu, đền trả tội lỗi đời trước.
Bấy giờ, có vị a-la-hán đến khất thực, thấy cha của những người này chết đọa làm thân dê, vị a-la-hán liền cho người chủ mượn đạo nhãn để tự quan sát. Biết được con dê đó chính là cha mình, lòng vô cùng đau khổ, họ liền chặt cây thần đó, rồi sám hối tội lỗi, tu phúc, không còn giết hại chúng sinh nữa”.
69.3. CÚNG TẾ
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Đức Phật dạy:
- Có thuyết cho là người con tu pháp lành, cha làm việc ác, thì nhờ người con tu pháp lành mà người cha không đọa vào ba đường ác. Điều đó không đúng. Vì sao? Vì ba nghiệp thân, khẩu, ý của mỗi người khác nhau. Nếu người cha chết bị đọa làm ngạ quỷ, người con vì cha làm phúc, người cha sẽ hưởng được phúc đó. Nếu người cha sinh lên cõi trời thì không còn nghĩ đến những vật trong loài người. Vì sao? Vì cõi trời đã đầy đủ những vật báu. Nếu đọa vào địa ngục chịu đau khổ, không còn rảnh để nhớ nghĩ gì, cho nên không hưởng được phúc ấy. Sinh vào loài người hay súc sinh cũng giống như vậy.
Vì sao chỉ riêng loài ngạ quỷ hưởng được? vốn do tham tiếc, bỏn xẻn, mới đọa làm ngạ quỷ. Song lúc đã thụ thân ngạ quỷ thì chúng thường ăn năn tội lỗi xưa, luôn nhớ nghĩ muốn được thụ hưởng, vì thế chúng được hưởng. Nếu người được cầu phúc đã sinh vào các đường khác mà quyến thuộc của họ còn đọa trong loài ngạ quỷ thì cũng đều hưởng được. Vì thế, người trí nên vì loài ngạ quỷ tu tạo phúc đức”. (Đại ý kinh Chính pháp niệm cũng giống ở đây).
Hỏi: Nếu cúng tế thì ai thụ hưởng?
Đáp: Hễ cúng tế nơi nào thì quỷ thần ở đó thụ hưởng. Nếu cúng tế gần rừng thì thần cây ở đó thụ hưởng. Nếu gần nhà cửa, sông suối, giếng, núi rừng, gò đống cũng giống như vậy. Người cúng tế cũng được phúc. Vì sao? Vì họ khoến cho những kẻ thụ hưởng vui mừng. Do phúc đức cúng tế này mà bảo vệ được tính mạng và tài sản của họ.
Nếu nói giết chúng sinh để cúng tế mà được phúc, điều này không đúng. Vì sao? Vì ở thế gian chưa thấy ai gieo hạt y-lan mà mọc cây chiên-đàn bao giờ. Nếu giết thân mạng chúng sinh mà được phúc đức, điều đó không bao giờ có.
Nên dùng hoa thơm, quả ngọt, sữa bơ cúng tế. Nếu vì người chết mà làm phúc thì có ba thời điểm: tháng giêng mùa xuân, tháng năm mùa hạ, tháng chín mùa thu.
Nếu bố thí cho người khác các thứ cần dùng như phòng nhà, ngọa cụ, thuốc men, vườn rừng, ao giếng, voi ngựa, trâu dê, thì sau khi mạng chung sẽ được phúc. Tùy theo vật bố thí được thụ dụng lâu hay mau mà phúc đức thường sinh muộn hay sớm. Phúc theo người đó như bóng theo hình.
Có người cho rằng sau khi chết thì mất tất cả. Điều này không đúng. Vì sao? Vì vật hư hoại, sẽ tiêu mất trong sớm tối, còn mất thân mạng thì không phải mất là hết. Nếu người xuất gia học theo người tại gia, vào ngày đầu năm không ăn uống, thì không chân thật, vì tùy thuận pháp thế gian, cũng tin cả pháp thế gian và pháp xuất thế gian.
Nếu thường thích bố thí những vật có trong nhà, dù tốt hay xấu thì gọi là nhất thiết thí. Nếu bố thí cho người những vật quí trọng, từ các chi phần trên thân cho đến vợ con mình, thì gọi là Bất tư nghị thí”.
Luận Tỳ-bà-sa ghi: “Vì loài ngạ quỷ mà làm phúc, ngạ quỷ được ăn uống, thân chúng ta cũng tăng thêm lợi ích, như người có mùi hôi thì được thơm, người xấu trở thành đẹp”.
Kinh ưu-bà-tắc giới lại ghi: “Thức ăn uống của các loài ngạ quỷ không giống nhau, có loài ăn máu mủ, có loài ăn phân dơ. Nhưng khi được bố thí thì tất cả vật thí biến thành thức ăn ngon. Nếu loài ngạ quỷ thụ sinh vào các nơi khác, khi người thân bố thí cho họ, ngạ quỷ kia do nghiệp lực, từ xa biết được, sinh tâm vui mừng. Hoặc sinh trở lại trong nhà mình chịu các quả báo khổ đau, hoặc được hàng thân quyến bố thí, ngạ quỷ đích thân thấy được, nên sinh lòng vui mừng”.
Luận Tỳ-bà-sa ghi: “Có người cầu tiền tài một cách phi pháp, đến khi được rồi thì lại tham tiếc, không muốn cho người thân của mình, huống gì người ngoài? Vì không có tâm bố thí, nên sau khi mạng chung họ bị đọa vào loài ngạ quỷ, ở trong hầm xí dơ bẩn bên cạnh nhà mình. Những người thân của họ biết vậy rất đau khổ và nghĩ: ‘Người kia chất chứa tài vật, bản thân không dám tiêu xài, lại không bố thí cho người’. Vì đau khổ nên họ muốn mời những bà con, bạn bè, bậc tri thức, sa-môn, bà-la-môn đến để cúng dường các thức ăn uống.
Bấy giờ, ngạ quỷ thấy vật của người thân bố thí thì tưởng là của mình và nghĩ: ‘Những tài vật này do ta gom chứa, nay đem ra bố thí cho người khác’. Họ rất vụi mừng, sinh lòng kính tin ruộng phúc. Nếu sinh vào những đường khác, họ không hưởng được. Dù người chết không hưởng được phúc, nhưng người tạo phúc cho người chết sẽ được nhiều lợi ích, giống như khởi lòng từ thì mình sẽ được phúc”.
Luận Đại trí độ ghi: “Như người khởi lòng từ bi nhớ nghĩ chúng sinh, muốn họ đều được vui vẻ. Tuy chúng sinh không được vui vẻ, nhưng người nhớ nghĩ cũng được phúc rất lớn. Nếu người không gieo nhân bố thí, dù sinh lên cõi trời hay đắc thánh quả cũng vẫn bị thiếu y phục và thức ăn uống”.
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Người trì giới mà không thích bố thí, dù chứng quả A-la-hán vẫn không tránh khỏi nạn khổ đói khát. Nếu thích bố thí, tuy đọa vào loài quỷ, súc sinh cũng thường được no đủ”.
Kinh Vị tằng hữu ghi: “Có vị vua hỏi Đức Phật:
- Tiên, vương của tôi phụng thờ ngoại đạo, thường bố thí để cầu phúc của cõi Phạm thiên. Công đức như thế, tiên vương của tôi sinh vào cõi trời nào?
Đức Phật đáp:
- Tiên vương nay chịu quả báo bị đọa vào địa ngục. Vì sao? Vì tiên vương bố thí không đúng thời gian thích hợp, không gặp thiện tri thức, không có phương tiện khéo léo, cho nên dù tu tạo công đức, vẫn không tránh khỏi tội, nhưng công đức bố thí ấy vẫn không mất, đợi sau khi chịu tội xong sẽ hưởng phúc. Nên biết tội và phúc không lẫn lộn. Tiên vương có năm nghiệp ác mà phải rơi vào địa ngục: một, ngã mạn, đố kị, không luận tội nặng hay nhẹ đều xử phạt, không nhẫn nhục; hai, tham lam của cải, vật báu, phân xử không công bằng, khiến thiên hạ oán hận; ba, ham vui chơi, săn bắn, làm nhân dân khốn khổ, tổn hại sinh mạng chúng sinh; bốn, đam mê nữ sắc, được mới chán cũ, yêu thương không công bằng, dẫn đến mọi người oán hận; năm, phá giới”.
Dùng đoạn văn này để minh chứng thì biết hành vi tà vạy và tu phúc chiêu cảm thiện, ác khác nhau, quả báo khổ và vui không lẫn lộn. Lẽ nào bậc lợi căn, học nhiều, chính tín Tam bảo mà chiêu cảm quả khổ ư?
Kinh Duy Vô tam-muội ghi: “Đức Phật dạy A-nan:
- Này thiện nam! Người muốn cầu đạo tu thiền, trước hết phải dứt niệm. Người sống ở đời, sở dĩ tu hành không đắc đạo là do họ ngồi thiền mà tâm nhiều tạp niệm. Niệm này qua thì niệm kia đến, một ngày một đêm có đến tám ức bốn nghìn vạn niệm sinh khởi, niệm niệm không dừng. Khởi một niệm thiện cũng được quả báo tốt, khởi một niệm ác sẽ bị quả báo xấu, giống như vang theo tiếng, bóng theo hình. Cho nên thiện ác, tội phúc khác nhau”.
Kinh Trung A-hàm ghi: ‘Thân quyến vì người chết mà bố thí và cúng tế, nếu người ấy sinh vào loài ngạ quỷ thì hưởng được, còn sinh các đường khác thì không hưởng được. Vì mỗi loài đều có thức ăn nuôi mạng sống khác nhau. Dù người thân không sinh vào loài ngạ quỷ thì người bố thí cũng được phúc. Cho đến, người bố thí sau khi chết thụ sinh trong sáu đường, thì vật bố thí cũng thường theo người đó. Do trì giới mới được làm người, nhưng nhất định phải nhờ các phúc khác trợ giúp”.
Kinh Tùy nguyện vãng sinh ghi: “Vì người chết mà làm phúc, người chết hưởng được một phần, sáu phần còn lại thuộc về người làm phúc”.
Kinh Quán đỉnh ghi: “A-nan thưa Đức Phật:
- Nếu người qua đời được đưa vào trong núi vắng hoặc xây lăng mộ chôn cất thì linh hồn họ có ở trong đó không?
Đức Phật đáp:
- Cũng có mà cũng không. Nếu khi còn sống, người này không gieo trồng căn lành, không biết Tam bảo, không làm điều thiện để hưởng phúc, không tạo việc ác để chịu tai ương, lại không có người thân làm phúc cho họ, thì thần hồn vẫn ở trong lăng mộ, chưa có chỗ để thụ sinh. Thế nên, ta nói thần hồn ở trong đó suốt hai mươi mốt ngày. Vì sao? Vì thân trung ấm của người chết nhỏ như đứa trẻ, tội phúc chưa định, người thân nên vì họ mà tạo phúc để cầu cho thần thức người chết sinh về vô lượng cõi nước ở mười phương. Nhờ công đức này, người chết nhất định được thụ sinh. Người này lúc sống tạo nhiều nghiệp ác, lẽ ra phải rơi vào tám nạn, song nhờ công đức đốt đèn, treo tràng phan mà được thoát.
Hoặc người chết có nguyện được sinh vào nhà cha mẹ ở phương xa, nhưng thụ sinh chậm, nhờ công đức đốt đèn, treo tràng phan nên được nhanh chóng, không ngăn ngại. Khi được thụ sinh rồi, lại làm một người con phúc đức, khiến dòng tộc giàu sang, không để loài tà mị, quỷ quái có cơ hội nhiễu loạn. Cho nên phải tạo công đức phúc thiện đốt đèn, treo tràng phan. Lại nữa, trong bốn chúng có người sắp chết hay đã chết. Ngày đó, thân quyến làm lá phan màu vàng treo trên trụ cao, khiến cho người chết được phúc, xa lìa các khổ trong tám nạn, sinh vào cõi nước thanh tịnh của chư Phật trong mười phương. Treo tràng phan, bảo cái cúng dường thì sẽ đạt được như ý nguyện, cho đến thành tựu quả Bồ-đề.
Tràng phan tung bay trong gió, đến khi nát vụn như bụi. Gió thổi bụi bay khắp nơi, thì phúc đó vô lượng. Lúc lá phan mới lay chuyển thì phúc báo làm Chuyển luân thánh vương, cho đến khi gió thổi phan nát vụn như bụi bay đi thì phúc báo làm vị vua nhỏ. Lại đốt bốn mươi ngọn đèn chiếu sáng đến các nơi tối tăm, chúng sinh đau khổ đều nhờ ánh sáng này mà được thấy nhau. Do phúc này cứu giúp, tất cả chúng sinh đều chấm dứt sự đau khổ”.
Kinh Tịnh độ tam-muội ghi: “Vào những ngày bát vương, trời Đế Thích và ba mươi hai vi quan trấn giữ, Tứ trấn thiên vương, Ty mạng, Ty lục, Diêm-la đại vương, Bát vương sứ giả đi tuần khắp nơi. Cứ đến ngày mười lăm và ba mươi mỗi tháng, bốn vị thiên vương đem những việc làm thiện, ác của mọi người tâu lên để xét xử. Đồng thời, Diêm-la đại vương cũng sai các tiểu vương đi tuần tra khắp nơi, ai phạm tội thì ghi chép. Phạm tội trước ngày Bát vương trai, nếu người đó phúc nhiều thì được cứu, sẽ an ổn, không bị hại, nhờ phúc lớn nên được ân xá. Sau ngày bát vương trai, nếu tái phạm nhiều thì bớt tuổi thọ, điều chỉnh lại giờ, ngày, tháng, năm sẽ chết rồi đưa xuống địa ngục. Y theo văn thư ghi chép, địa ngục vương liền sai quỷ ngục ghi nhớ tên tuổi rồi truy tìm người đó. Quỷ ngục không có lòng từ, nên dù người chưa đến ngày chết, chúng xúi giục họ làm điều ác, khiến cho mạng sống mau hết. Người có phúc nhiều thì tuổi thọ càng tăng, được trời sai thiện thần bảo vệ, đồng thời truyền xuống địa ngục xóạ hết tội danh, miễn tử, được sống, sau khi chết được sinh lên cõi trời”.
Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Quỉ thần ở đồng hoang thưa Đức Phật:
- Chúng con thường ăn thịt chúng sinh, nay Ngài bảo không sát sinh thì chúng con ăn gì?
Đức Phật bảo quỷ vương:
- Chỉ cần các ngươi không giết hại chúng sinh, Ta sẽ bảo đệ tử bố thí cho các ngươi. Cho đến khi Phật pháp diệt, nhờ thần lực của Ta, các ngươi sẽ được no đủ.
Nghe xong, quỷ vương rất vui mừng, liền thụ trì năm giới cấm của Phật. Cho nên, kính Niết-bàn ghi: “Đức Phật dạy các đệ tử thanh văn, khi thụ thực, phải dùng cơm trong bát thí cho loài quỷ thần sống nơi hoang vắng”.
Luận Đại trí độ ghi: “Loài quỷ thần được người thí cho một ít thức ăn uống, thức ăn uống ấy có thể biến thành nhiều, khiến chúng được no đủ”.
Kinh Thí dụ ghi: “Đức Phật cùng A-nan đang đi dạo bên bờ sông, thấy năm trăm ngạ quỷ vừa đi vừa hát ngâm nga, lại thấy mấy trăm người thiện đi ngang qua khóc than.
A-nan liền bạch Đức Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Tại sạo loài ngạ quỷ ca múa, còn loài người vì sao lại khóc?
Đức Phật đáp:
- Bởi vì gia đình, con cái, quyến thuộc của loài ngạ quỷ làm phúc cho chúng, nên chúng được giải thoát, do đó mà chúng ca múa. Còn gia đình, con cái, quyến thuộc của những người thiện kia chỉ lo sát sinh, không tạo phúc đức, về sau luôn bị lửa lớn địa ngục thiêu đốt bức bách, do đó họ khóc”.
Kinh Túc nguyện quả bảo ghi: “Ngày xưa, có hai vợ chông bà-la-môn rât giàu có, của cải vô số, nhưng không có con nối dõi. Lúc sắp mạng chung, họ bảo nhau: ‘Mỗi người sẽ nuốt tiền để làm vốn liếng’. Theo phong tục của đất nước này, người chết không được chôn cất, chỉ đặt ở gốc cây. Thế là mỗi người nuốt năm mươi đồng tiền vàng, đến khi thân thể tan rã thì tiền lộ ra. Bấy giờ, trong nước có vị hiền giả đi ngang qua thấy vậy, thương cảm rơi lệ, xót xa cho sự tham lam, bỏn xẻn của họ, bèn lấy số tiền đó về làm phúc. Ông thỉnh Phật và chúng tăng đến, dùng hết số tiền mua sắm thức ăn bày trước Đức Phật để cúng dường, xưng tên và chú nguyện. Khi ấy, hai vợ chồng bà-la-môn kia đang chịu khổ trong loài ngạ quỷ, nhờ hiền giả thỉnh bốn chúng cúng dường, nên họ được sinh lên cõi trời. Lúc được sinh lên cõi trời rồi, họ liền được thiên nhãn, biết được việc làm phúc đó, nên từ trên cõi trời bay xuống, hóa thành một thiếu niên, làm vị đàn việt giúp đỡ chúng tăng.
Đức Phật dạy, vị thiếu niên này là đàn việt chân chính. Đức Phật nói pháp cho vị thiếu niên nghe thì người này và vị hiền giả kia liền thấy được Đạo tích. Chúng tăng nghe dạy, tâm vô cùng hoan hỷ, cũng đều được sinh lên cõi trời”.
Kinh Bách dụ ghi: “Ngày xưa, các thương nhân muốn ra biển tìm của báu, nên cần một người dẫn đường. Khi tìm được người dẫn đường, họ liền xuất phát. Trên đường ra biển, họ đi ngang qua vùng đồng vắng, gặp một ngôi miếu thờ trời, Theo lệ, phải giết một người để cúng tế, mới đi qua được. Khi ấy, những người khách buôn cùng suy nghĩ và nói: ‘Chúng ta đều là người thân thì làm sao giết được, trong đây chỉ có người dẫn đường này có thể dùng tế trời mà thôi.’ Thế là họ liền giết người dẫn đường tế trời. Khi tế trời xong, họ ra khơi và bị lạc trên biển, tình cảnh vô cùng khốn đốn, cuối cùng đều bị chết.
Người đời cũng như thế, nếu muốn ra biển tìm châu báu thì phải tu mười điều thiện để làm người dẫn đường. Ngược lại, không giữ mười điều thiện, vĩnh viễn không có ngày ra khỏi đường sinh tử mênh mông, phải trôi lăn trong ba đường, chịu khổ mãi mãi. Như những thương nhân kia muốn ra biển lớn mà giết mất người dẫn đường, nên không biết lối vào bờ, cuối cùng mắc nạn chết.
Có bài tụng:
Thần quỉ thật khó lường
Đến đi chẳng ai hay
Trao cho nền phúc đức
Dáng lên thức uống ăn
Cúng tế chúng u đồ
Mong trừ niệm đói khát
Đồng tế tự thánh phàm
Phúc đức không hề mất.
69.4. CẢM ỨNG
69.4.1. Miếu thần ở ích châu: Ngôi miếu này ở Vân Nam, phía tây ích châu, do đục vào núi đá mà thành, gọi là miếu Hoàng Thạch, luôn được nhân dân trong vùng thờ cúng. Người trong nước nói thần này là linh hồn của Hoàng Thạch Công mà Trương Lương đã thụ giáo. Nếu người nào giữ thân tâm trong sạch, không ăn cá thịt và sát sinh, nếu muốn cầu gì, thì sửa soạn một trăm trang giấy, hai cây bút, một thỏi mực, đặt vào thạch thất, rồi cầu xin. Đầu tiên nghe trong thạch thất có tiếng động, sau đó không lâu có tiếng hỏi: “Người đến muốn cầu điều gì?”. Mọi người chỉ nghe lời dạy những điều tốt xấu, nhưng không thấy hình.
69.4.2. Thần dế ở Lô Lăng: Thái thú Lô Lăng là Thái Nguyên Bàng Xí, tự Tử Cập. Ông từng kể: “Viễn tổ không biết bao nhiêu đời của tôi vô tội mà bị hạ ngục; do không chịu nổi sự tra khảo, nên tự nhận tội lỗi do người gán ép cho mình. Khi bị giam vào ngục, thường có một con dế quanh quẩn bên cạnh ông. Ông nói: ‘Nếu ngươi có phép thần thì giúp ta thoát chết, như vậy há không tốt sao!’. Nói xong ông ném cơm cho dế ăn, ăn xong dế bò đi. Một lát sau dế lại đến, nhưng thân hình lớn hơn một tí, ông không lấy làm lạ, vẫn đưa cơm cho ăn. Cứ đến đi như vậy, trải qua hơn mấy mươi ngày, bây giờ dế lớn bằng lợn con. ông báo cho biết sắp bị hành hình. Đêm trước khi hành hình, dế đến đào chân tường của nhà ngục một lỗ lớn, Sau đó phá gông cùm, dẫn ông đi mất. Trải qua một thời gian lâu thì được tha. Thế là ông ấy được sống”. Do đó họ Bàng đời đời nối nhau bốn mùa cúng tế thần dế tại những nơi đông người. Đến nhiều đời sau con cháu dần dần biếng trễ, không còn làm thức ăn uống đặc biệt nữa, chỉ ném thức ăn cúng tế còn thừa cho thần dế mà thôi. Đến nay vẫn như vậy.
69.4.3. Đời Ân, Bành Tổ: Ông là quan Đại phu từ thời nhà Ân qua nhà Hạ đến cuối đời nhà Thương, khoảng bảy trăm năm. Ông thường ăn một loại linh chi. Ở Lịch Dương hiện có miếu thờ tiên Bành Tổ, người xưa cho rằng ông cầu mưa gió luôn có linh nghiệm. Thường có hai con cọp canh hai bên miếu thờ. Ngày nay sau khi cúng tế tại miếu Bành Tổ xong, thì thấy trên đất có dấu chân hai con hổ.
69.4.4. Đời Hán, thần Chung sơn: Tưởng Tử Văn quê ở Quảng Lăng, bản tính rất phóng túng, lại đam mê tửu sắc, thường tự cho mình có tiên cốt, sau khi chết nhất định làm thần. Cuối đời Hán, ông làm quận úy Mạt Lăng, một lần truy đuổi giặc đến chân Chung sơn, bị giặc đánh trúng vào trán, ông tự cởi dây đeo ấn buộc vết thương, nhưng vết thương quá nặng, không bao lâu thì chết. Một hôm Ngô tiên chủ, ngày trước vốn là quan trên của Văn, thấy Tử Văn cưỡi ngựa trắng, cầm lông chim trắng theo hầu như lúc còn sống, nên sợ hãi bỏ chạy. Tử Văn đuổi theo nói:
- Nay ta làm thần ở đất này, sẽ ban phúc cho nhân dân. Ông nên bảo bách tính lập miếu thờ ta, nếu không sẽ có họa lớn.
Thế là mùa hè năm ấy xảy ra đại dịch, nhân dân lo sợ, nhiều người tự lập miếu thờ phụng. Tử Văn lại báo mộng cho họ Tôn:
- Ngài nên lập đền thờ ta, nếu không sẽ có tai họa trùng vào lỗ tai!
ít lâu sau, nhân dân trong vùng nhiều người bị một con vật nhỏ dài như rắn chui vào lỗ tai, ít lâu thì chết, không thể chữa trị được. Nhân dân vô cùng lo sợ, nhưng họ Tôn vẫn chưa tin. Tử Văn lại nhập đồng báo:
- Nếu không cúng tế ta, ta sẽ gây tai họa lửa thiêu.
Thế là năm ấy, lửa tự nhiên cháy lớn, mỗi ngày cháy mấy mươi chỗ và đã cháy đến nhà của họ Tôn. Huyện lịnh lo sợ, mọi người bàn rằng, nếu quỉ có nơi nương tựa mới không gây hại, nên có hành động gì để ngăn chặn. Thế là sai sứ đến phong cho Tử Văn làm Trung Đô hầu, em kế của Văn là Tử Tự làm Hiệu úy Trường Thủy, tất cả đều có tước vị và lập miếu thờ cúng, đổi hiệu là Chung Sơn thần để biểu hiện uy linh. Nơi ấy nay là Tưởng sơn. Từ đó không còn tai họa, nên nhân dân vô cùng tin kính, thờ phụng.
69.4.5. Đời Hán, Ngô Vọng Tử: Vọng Tử người Đông Dã, huyện Dĩnh, cối Kê. Cô mới mười sáu tuổi, dung nhan xinh đẹp. Một hôm trong làng có tổ chức tế thần, người trong làng mời cô. Trên đường theo bờ đê đến nơi ấy, cô gặp một quí nhân diện mạo xinh đẹp lạ thường, đang ngồi thuyền, có hơn mười thuyền phu, tât cả cũng rất đoan nghiêm. Người ấy bảo thuộc hạ hỏi cô đi đâu, cô thật tình trình bày. Người ấy cũng nói:
- Nay tôi cũng đến đó, mời cô lên thuyền cùng đi!
Vọng Tử từ chối:
- Thật không dám!
Bỗng nhiên cả đoàn biến mất. Khi đến nơi, Vọng Tử vào lễ lạy tượng thần, chợt thấy quí nhân gặp trên thuyền vừa rồi đang nghiêm trang ngồi phía trước, chính là tượng Tưởng Hầu. Người ấy hỏi:
- Sao cô đến chậm thế?
Nhân đó ném cho cô hai quả quýt. Do nhiều lần gặp mặt, nên cô cũng có cảm tình. Hễ cô muốn gì thì tự nhiên trên không sa xuống vật ấy. Có lần cô nghĩ muốn ăn chả cá, thì một đôi cá chép liền hiện đến. Tiếng thơm của cô lan xa mấy dặm, dự đoán mọi việc rất ứng nghiệm, do đó người dân trong vùng đều phụng sự cô. Trải qua ba năm, một hôm Vọng Tử có tình ý khác, từ đó thần không còn qua lại nữa.
69.4.6. Đời Tấn, Thư Lễ: Thư Lễ là một thầy pháp ở huyện Ba Khâu, ông bị bệnh và mất vào niên hiệu Vĩnh Xương thứ nhất (322). Lúc ấỵ thần thổ địa đưa ông vào địa ngục. Người đời cho rằng thầy pháp là đạo nhân. Cho nên khi dân ngang qua công phúc xá, thổ địa hỏi sứ giả:
- Đây là nhà gì?
- Nhà của đạo nhân.
Thồ địa nói: “Người này cũng là đạo nhân” rồi giao cho sứ giả đưa Lễ vào. Bên trong có mấy nghìn ngôi nhà ngói, tất cả đều có treo rèm trúc. Trong nhà có giường tòa tự nhiên, nam nữ ở khác chốn, có người tụng kinh, có người xướng kệ, có người ăn uống tự nhiên, vô cùng sưng sướng. Bấy giờ văn thư ghi tên của Lễ đã đến địa ngục, nhưng thân chưa đến, Diêm vương tra hỏi thổ địa, thổ địa đáp:
- Vừa rồi trên đường đi thấy mấy nghìn ngôi nhà ngói, mới hỏi sứ giả, sứ giả nói là nhà của đạo nhân, nên tôi mới giao cho sứ giả dẫn vào đó rồi!
Thế là Diêm vương lại sai thổ địa tìm bắt về. Lúc ấy Lễ xem chưa kịp hết cảnh trí nơi đây, thì bị một người tám tay, bốn mắt, cầm chày kim cang đến đánh, Lễ sợ hãi chạy thoát ra cổng. Thổ địa đang đợi sẵn, bắt đưa đến địa ngục. Thái Sơn Phủ quân hỏi:
- Lúc còn sống ngươi làm những gì?
Lễ đáp:
- Tôi phụng sự ba vạn sáu nghìn vị thần, giúp mọi người cúng tế giải trừ tai họa; hoặc giết trâu dê, gà vịt...
Phủ quân nói:
- Tội của ngươi quá nặng, phải bị bỏ trên vỉ sắt nóng.
Thế là Phủ quân sai ngục tốt lôi Lễ đến nơi có vỉ sắt nóng. Kế đó có một người thân người đầu trâu cầm chĩa sắt xiên vào thân Lễ rồi ném lên vỉ sắt nóng. Bấy giờ thân thể quằn quại, da thịt cháy tiêu, muốn chết cũng không được. Trải qua một đêm hai ngày, Phủ quân nói với chủ ngục ấy:
- Thọ mạng của Lễ đã hết, nên chóng đoạt mạng của hắn!
Bấy giờ vị quan quản lí sổ sách thưa:
- Xem lại sổ thấy thọ mạng của hắn còn tám năm!
Phủ quân bảo:
- Đưa lại đây!
Thế là ngục tốt đầu trâu lại dùng chĩa sắt xiên vào thân Lê rồi vứt qua một bên. Phủ quân bảo:
- Nay ta cho ngươi về lại nhân gian, sống hết số. Nhưng chớ sát sinh, làm việc ở miếu thần. Thế là Lễ sống lại, từ đó không làm thày pháp nữa.
69.4.7. Đời Tấn, Hạ Hầu Huỵền: Hầu Huyền tự là Thái Sơ, cũng là một bậc kì tài nổi tiếng đương thời, nhưng bị Tư Mã Cảnh vương đố kị giết chết. Một hôm thân tộc làm lễ cúng tế ông. Mọi người thấy ông hiện đến linh sàng, lấy đầu đặt qua một bên, đưa rượu thịt vào cổ, ăn xong thì đặt đầu lại như cũ và nói:
- Ta đã tố cáo lên thượng đế, Tư Mã Tử Nguyên nhất định không có người nối dõi.
Không lâu sau, Cảnh vương mất mà không có người thừa kế, em là Văn vương phong con thứ là Tề nối nghiệp Cảnh vương. Không lâu lại chết, cọn tên là Cố kế vị, không bao lâu cũng bị giết. Khi loạn Vĩnh Gia nổi lên, một thầy pháp gặp người em nói: “Sở dĩ gia tộc diệt vong là do Tào Sảng và Hạ Hầu Huyền oán hận tố cáo lên thượng đế”. ;
69.4.8, Đời Tấn, Trương ứng bỏ thần theo Phật: ứng người ở Lịch Dương, vốn thờ tục thần, khuyến khích dựng miếu thần. Niên hiệu Hàm Hòa thứ tám (333), ông di cư sang Vũ Hồ. Có lần vợ bị bệnh, ứng chí thành cầu khẩn thần, gia sản dùng vào việc này mà khánh kiệt. Vợ ứng vốn là đệ tử Phật, bà nói với chồng:
- Bệnh thiếp ngày một nặng hơn, cầu khẩn quỉ thần thật vô ích, xin chàng hãy làm các Phật sự.
Ứng nghe theo, đến tinh xá gặp ngài Trúc Đàm Khải. Ngài Đàm Khải nói:
- Phật như thuốc trị bệnh, thấy thuốc mà không chịu uống, thì dù thấy cũng vô ích mà thôi!
Ứng hứa thờ Phật. Ngài Đàm Khải định hôm sau đến nhà thụ trai, ứng về nhà, đêm hôm ấy, ông mộng thấy một người cao hơn một trượng, từ hướng nam đi vào nhà nói:
- Nhà ngươi lôn xộn, dơ dáy quá như vậy?
Lại thấy ngài Đàm Khải theo sau nói:
- Chủ nhà mới phát tâm, không thể trách họ được!
Ứng giật mình tỉnh thức, trước hết đốt đuốc dọn dẹp nhà cửa, đặt tòa cao và bàn cúng quỉ tử mẫu. Sáng sớm ngài Đàm Khải đến, ứng thuật lại điềm mộng, xin thụ năm giới, dẹp bỏ tượng thần, lập trai hội lớn cúng dường. Ngay hôm đó bệnh vợ ông thuyên giảm, không bao lâu thì lành hẳn.
Niên hiệu Hàm Khang thứ hai (336), ứng đến Mã Cấu mua muối, khi trở về ông ghé thuyền lại Vũ Hồ Bồ nghỉ qua đêm. Hôm đó ông mộng thấy ba người cầm móc đồng kéo, ông nói:
- Tôi là đệ tử Phật!
Nhưng họ vẫn kéo, không buông tha. Họ bảo:
- Từ lâu ngươi đã là tên phản đồ !
Ông sợ quá mới nói:
- Tha cho tôi, tôi sẽ cúng các vị một thăng rượu.
Ba người ấy liền thả, nhưng nói:
- Chỉ sợ những người đến sau lại bắt người!
Sau khi tỉnh gỉấc, bụng ứng đau, lại tiêu chảy, về đến nhà thì bệnh càng nặng hơn. Ông không gặp ngài Đàm Khải đã lâu, nay bệnh nặng liền cho người đến thỉnh, gặp lúc Đàm Khải đi vắng. Thế là ứng tắt hơi, qua một ngày thì sống lại kể:
- Có mấy người dùng móc đồng móc dẫn tôi đi về phía bắc, rồi xô xuống một sườn núi, tôi thấy dưới đó có nhiều dụng cụ tra tấn, trị phạt tội nhân như: vạc nước sôi, đao kiếm... Lúc ấy tôi mới biết đó là địa ngục, liền muốn gọi tên của thầy, nhưng quên mất từ Đàm Khải, chỉ gọi: “Hòa thượng cứu con!”. Có lúc tôi cũng gọi Phật. Trong chốc lát, có một người từ phía tây đến, thân cao hơn một trượng, tay cầm chày kim cang, muốn đánh những người móc tôi và nói:
- Sao lại đưa đệ tử Phật vào đây?
Những kẻ kia sợ hãi bỏ chạy tán loạn. Vị thần ấy dẫn tôi đi và nói:
- Mạng của ông cũng đã hết, không còn sống được bao lâu, nên tạm thời trở về nhà xướng tụng kệ Tam bảo và ghi nhớ danh hiệu hòa thượng, ba ngày sau mạng ông hết, được sinh về cõi trời.
Thế là ứng sống lại, thân tâm cũng an vui. Trong ba ngày ông trì trai, tụng kệ, sai người viết từ Đàm Khải. Đến trưa ngày thứ ba, sau khi ăn xong, ông lại lễ Phật, tụng kệ, từ biệt người trong nhà rồi tắm rửa, thay y phục, nằm yên mà qua đời, giống như người ngủ.
69.4.9. Đời Tống, Trần An Cư: An Cư người Tương Dương, bá phụ của ông lúc nhỏ phụng sự các thầy pháp, trong vườn dựng rất nhiều miếu thần và tượng thần. Nhưng cha ông rât kính tin Phật pháp, sáng tối ăn chay giữ giới. Sau đó bá phụ ông qua đời, vì không con nối dõi nên người cha chọn ông làm người thừa kế. Tuy ông ở nhà của bá phụ, nhưng tâm hạnh rất thanh tịnh, bỏ tất cả những việc cúng tế các thần.
Một hôm ông bị bệnh, khi bệnh phát thì hát các bài thần ca, tâm thần hôn mê, bất tỉnh, kéo dài hàng nặm như thế. Nhưng tâm ồng tin Phật rất kiên cố và thường phát nguyện: “Nếu tâm không sát sinh của tôi bị tổn giảm, thì nhất định tự cắt tay chân để thành tựu việc này”. Người trong gia đình khuyên can, nhưng An Cư không nghe theo. Trải qua hai năm, vào niên hiệu Vĩnh Sơ thứ nhất (?), bệnh lại tái phát, không bao lâu thì qua đời. Nhưng do ngực còn ấm, nên người nhà không liệm, đến đêm thứ bảy, người canh giữ thấy chân tử thi như có gió thổi đến lay động áo và tấm đắp, sau đó thì ông sống lại và lên tiếng. Lúc đầu người nhà sợ tử thi đứng dậy rượt đuổi, nên chạy trốn hết, sau đó ông dần dần cử động và cuối cùng muốn uống nước. Bấy giờ người nhà mới vui mừng, hỏi ông từ đâu về. Ông bèn thuật lại như sau:
- Đầu tiên có một người như sứ giả dẫn theo mấy mươi thuộc hạ, bảo dẫn tôi đi. Những người đi theo muốn trói tôi, nhưng sứ giả bảo: “Người này có phúc, không được trói!”. Dần đi khoảng hơn ba trăm dặm thì đến một tọa thành, lầu gác trang nghiêm, sứ giả đưa tôi vào đó. Nơi đây có mấy khu giống như chỗ ở của quan chủ sự vậy. Sau đó có một người trao giấy bút cho tôi và bảo: “Nên ghi hai mươi bốn người chết đã được báo danh”. An Cư liền làm theo lời bảo. Sau đó có một người từ bên trong ra, cất tiếng gọi lớn: “An Cư vào!’Y Khi đã vào bên trong, lại nghe nói: “Có hai ngục tốt lãnh mệnh giao người cho ngục Thích gian.” Rồi một người
bảo cho mang gông lớn; một người lại bảo chỉ cho mang gông ba thước, vì người này có phúc. Phủ quân còn nghi ngờ, nên bàn bạc, rồi xem lại văn thư, một hồi lâu mới trao cho tôi gông ba thước.
Một lát sau có một quí nhân dáng mạo thanh nhã, dẫn theo mấy mươi thuộc hạ đến nói với tôi: “Ngươi đâu được đến đây!”. Tôi liền thuật lại nguyên do, quí nhân ấy bảo: “Bác của ngươi có tội, đáng bị bắt trị phạt, nhưng khi xưa có gieo trồng chút phúc, nay tạm thời được an nhàn, nên mới dám tố cáo ngươi. Ta và cha ngươi quen biết nhau từ nhỏ, nay thấy ngươi vẫn như xưa. Ngươi hãy theo ta dạo xem!”. Nhưng ngục tốt không chịu tháo gông và nói: “Phủ quân không dạy, nên không dám tự ý”. Quí nhân ấy bảo: “Cứ giao cho ta, ta không để chạy trốn đâu!”. Ngục tốt nghe vậy liền tháo gông. Thế là quí nhân ấy dẫn tôi đi xem khắp các địa ngục, tận mắt chứng kiến đủ các nỗi khổ, giống như kinh văn đã nói. Chưa kịp đi xem khắp thì có lệnh truyền đến: “Phủ quân cho gọi An Cư!”. Lúc ấy tồi vô cùng lo sợ, cầu cứu quí nhân. Quí nhân bảo: “Ngươi vô tội, cứ nói sự thật, nhất định không có gì phải lo!”.
Khi đến sảnh đường, tôi thấy mấy trăm người mang gông cùm đồng thời tiến vào, tôi đứng vị trí thứ ba. Sau khi dẫn đến dưới thềm, thì một người đội mũ quan đứng trước các tội nhân đọc tội trạng. Đối với tội nhân đầu tiên, vị quan ấy đọc: “Người này, lúc mới cưới, vợ chồng lập thệ là dù có con hay không con thì suốt đời vẫn không bỏ nhau. Nhưng vốn là đạo sĩ, vợ ông ta cũng theo đạo này. Hai người cùng truyền đạo và có một đệ tử nữ. Sau đó người này đã gian dâm với nữ đệ tử ấy mà bỏ vợ mình. Do đó người vợ tô cáo”.
Phủ quân nói: “Vợ chồng các ngươi trái lời thệ, về nghĩa phu thê thì phải chịu tội một người. Còn thầy trò nghĩa nặng, đối với quân-sư-phụ mà gian dâm thì tội đồng như cha con thông dâm vậy. Nay giao cho pháp ti định tội”.
Kế đến là đọc tội trạng của người thứ hai, là một người nữ, tôi quên mất tên họ. Người ấy đọc: “Nhà tại làng Hoàng Thủy, huyện Quan Quân, Nam Dương. Trong nhà có đặt nồi nấu cơm tại miệng bếp, con dâu ngủ quên để đứa con nhỏ của mình bò lên bếp lò, rồi đại tiện trong nồi ấy. Khi con dâu thức dậy liền tạ lỗi thần kì, đồng thời chà rửa sạch sẽ. Nhưng mẹ chồng mắng con dâu: ‘Thật không có thiên đạo, quỉ thần hay sao mà để cô này làm ô uế nơi đây?’. Ti mạng nghe được nên bắt đến đây”. Phủ quân nói: “Ngủ quên bên bếp không có tội, đứa bé thì không hiểu biết, hơn nữa đã tạ tội thần minh rồi, cho nên Cô gái kia không có tội. Nhưng mẹ chồng mắng là không có thiên đạo, phỉ báng thần linh thì có tội nặng, nên bắt đến đây!”. Chớp mắt bà mẹ chồng kia bị đưa đến.
Kế đến Xích quan chỉ tôi, người đội mũ quan ấy đọc: “Người này bị bá phụ tố cáo...”. Phủ quân nói: “Người này thờ Phật, có đức lớn. Bá phụ người này giết hại loài vô tội, lừa dối bách tính, tội này nên trị đến cùng, nhưng do trước kia có gieo trồng chút phúc, nên tạm thời chưa định tội. Nay lại thêm vu cáo người vô tội, phải bắt gấp đến đây!”. Chưa kịp thấy dẫn bá phụ đến thì Phủ quân bảo tôi trở về và nói: “Nếu trở về, mà có thể hoàn thành sự nghiệp cao cả, thì ngươi có thể thọ đến chín mươi ba tuổi. Hãy tinh tiến, nỗ lực tu tập, chớ trở lại nơi đây nữa!”. Tôi vừa ra khỏi cửa, quan chủ bạ nói: “Ông hãy rút tên tử đi!”. Thế là tôi theo thứ tự rút tên mình ra khỏi sổ tử. Công việc đã xong, tôi muốn đến chỗ đã dạo với quí nhân lúc trước, nhưng quí nhân cũng lại đến, ông ấy nói: ‘Ta biết ngươi không hề gì mà! Được về là tốt rồi, hãy nỗ lực tu tạo công đức. Ta không đủ phúc để được sinh lên cõi trời, ở đây phụ tá Phủ quân cũng an nhàn. Giàu sang, sung sướng là điều tốt đẹp của quỉ thần. Nhà ta tại Uyển Lăng, tên đó họ đó. Khi trở về, ngươi cố gắng đến thăm và chuyển lời ta cho họ: “Nên dốc lòng phụng sự Phật pháp, không nên phạm giới Phật”. Ngươi cũng có thể thuật lại những gì đã thấy nghe ở đây cho họ biết”.
Nói xong, ông sai ba lực sĩ đưa tôi về, vừa ra khỏi cửa được mấy bước thì có lệnh truyền dạy đưa tín phù cho tôi. Người truyền lệnh bảo: “Ông có thể trình tín phù này ra khi qua Tuất la, chớ tự tiện lén qua. Nếu lén qua sẽ bị đày đi xa. Nếu gặp dòng sông thì ném tín phù này xuống nước, sẽ qua được”. Thế là tôi cầm tín phù mà trở về. Đi một hồi lâu thì gặp dòng sông lớn chặn đường, tôi theo lời dặn, ném tín phù xuống đó, thì cảm thấy mơ màng, rồi nhận ra đây là khoảng đất vuông trước nhà. Lại nghe có tiếng kêu khóc trong đó. Bấy giờ ba người đưa tôi về bảo tôi nhập thân. Tôi nói: “Thân tôi dơ dáy quá, tôi không thể vào được!”. Thế là ba người ấy đẩy mạnh tôi, tôi té vào chân của tử thi và sống lại”.
Sau khi sống lại, An Cư muốn nghiệm lại việc người con dâu ở Hoàng Thủy, nên đến huyện Quan Quân hỏi thăm, quả thật có người này. Vừa gặp nhau mà cảm thấy như đã quen biết từ lâu. An Cư nói mình chết rồi sống lại, cô nói rằng mẹ chồng chết vào ngày ấy và thuật lại mọi chuyện, giống như An Cư đã nghe luận tội dưới âm phủ. Sau đó An Cư cầu thụ năm giới nơi sư Tăng Mân, người Tương Dương, sau trụ chùa Trường Sa. Sư cùng quê với An Cư, nghe An Cư thuật lại chuyện này. Khi An Cư chết, thọ chín mươi ba tuổi, sư cũng chứng kiến.
69.4.10. Đời Tống, Tăng Khâm: Ông người ở Giang Lăng, lúc mới mười tuổi, một người giỏi xem tướng nói: “Cậu sống không quá mười tám tuổi!”. Nghe vậy, cha mẹ, anh em của ông vô cùng lo buồn. Nhưng cũng từ đó ông càng siêng năng trì trai, giữ giới, khổ hạnh tu tập.
Đến năm mười bảy tuổi, vào niên hiệu Cảnh Bình cuối cùng (424) đời Tống, ông bị bệnh nặng, cả gia đình phát nguyện trai giới cầu khẩn, cũng đến cả miếu thần cầu phúc, nhưng vẫn không thuyên giảm. Bấy giờ có một thầy pháp nữ nói:
- Chàng trai này phúc lực rất mạnh, quỉ mị không dám đến gần, tự có thiện thần bảo vệ. Nhưng bệnh đã lâu mà không bớt, có lẽ vận mệnh sắp hết. Thế gian có một thuật dò xem số mạng, tiểu nữ phụng sự thiên thần, biết rõ thuật này, sẽ làm thử xem!
Thế là vị thầy pháp nữ này dọn rượu và thịt khô nơi đồng váng, thắp đèn, đốt nhang, rồi lim dim như ngủ, chốc lát lại mở mắt. Mỗi ngày một hai lần như vậy vào chiều tối. Trải qua bảy ngày bảy đêm như vậy, rồi nói:
- Lúc đầu cảm thấy các vị thiện thần hiện về, tôi mới cầu xin cho chàng trai này tăng thêm hai toán, nhất định sẽ hết bệnh, không cần phải lo nữa!_Sau đó ông hết bệnh, càng tinh tấn tu tập. Hai mươi bốn năm sau Khâm qua đời, đúng như thầy pháp nữ đã nói.
69.4.11. Đời Lương, Thích Tăng Dung: Sư trụ chùa Đông Lâm, Cửu Giang, chuyên tâm nhất ý học rộng nghe nhiều, lấy việc du hóa làm sự nghiệp. Có lần sư khuyên một gia đình ở Giang Lăng thụ giới và tin thờ Phật. Trước kia gia đình có một miếu thần, nay không tin thờ nữa nên cúng dường Tam bảo. Sư liền sung vào chùa và ở lại để thiết trai tạo phúc cho gia đình ấy. Sau bảy ngày, mẹ của chủ nhân thấy một con quỉ cầm sợi dây đỏ muốn bắt trói bà. Bà vô cùng hoảng sợ, thỉnh chúng tăng tụng kinh, hành đạo. Quỉ mị liền tránh đi.
Một buổi chiều sư trở về Lô sơn, một mình qua đêm trong nhà trọ. Hôm ấy tuyết rơi, nửa đêm mới vừa chợp mắt, sư thấy có một bầy quỉ rất đông. Trong đó có một tướng quỉ, mặc giáp mang đao, thân hình cao lớn. Một con quỉ nắm lấy giường, ngồi xổm trước sư, nghiêm mặt lớn tiếng nói:
- Tại sao ông cho quỉ thần không linh? Mau kéo ông ta xuống đất!
Các quỉ định ra tay, sư thầm niệm “Nam-mô Quán Thế Âm”, chưa dửt lời, liền thấy phía sau hồ sàng, xuất hiện một vị tướng trời cao hơn trượng, mặc khố và áo da vàng, tay cầm chày kim cương. Quỉ kinh hãi chạy tán loạn, tất cả giáp trụ đều tan hoại thành tro bụi.
Cũng tại Giang Lăng, sư khuyên vợ chồng kia thụ năm giới. Một hôm giặc bắt chồng bà dẫn đi mất, người vợ bị quan quân bắt giam vào ngục. Trên đường dân đi, gặp sư, người vợ cầu xin cứu giúp. Sư dạy:
- Chỉ cần chí tâm niệm danh hiệu Quan Thế Âm, chứ không nên tin gì khác!
Người vợ bị giam trong ngục, chỉ chuyên tâm niệm bồ-tát Quan Thế Âm không nghỉ. Môt đêm bà mộng thấy một vị sa-môn đứng trước mặt, dậm chân bảo đi, bà liền cảm thấy gông cùm trên thân tự nhiên rơi hết, cửa ngục vẫn còn đóng, quân lính canh giữ nghiêm ngặt, không có cách nào thoát ra được. Bà lại ngủ, thì mộng thấy vị sa-môn lúc trước đến bảo:
- Sao không thoát sớm, cửa tự mở rồi!
Nghe vậy bà liền ngồi dậy thì thấy cửa đã mở toang. Thế là bà vội thoát ngục, chạy về hướng đồng nam mấy dặm, gặp được dân làng mà trời vẫn còn tối. Người chồng, lúc chạy trốn, ngày ẩn núp, đêm đi, nay bỗng nhiên trong đêm tối gặp nhau, hai người vô cùng hoảng sợ, hỏi ra mới biết là chồng mình. Sau đó vợ chồng theo đoàn thương nhân, đi đến một nơi xa, thoát nạn tù tội.
69.4.12. Đời Đường, Hoàng Phủ thị: Bà là vợ của Nghê Mại Đắc ở Khúc Phụ, Duyên châu. Một lần bà bị bệnh nặng, cầu khẩn ở Thái sơn thì bệnh lành. Nhưng cũng do đó, bà bị âm phủ sai làm Ti mệnh. Cứ mỗi lần bị sai khiến là bà chết, trải qua một hai ngày, xong việc âm ti thì sống lại như cũ. Cứ như thế, bà bị sai đi bắt rất nhiều người. Bà kể:
- Tôi từng bị Diêm vương sai bắt con gái nhỏ của Bàng lãnh quân trong làng. Khi tôi đến, thấy trước sân đang lập trai đàn tụng kinh, cho nên đợi hồi lâu mà không vào nhà được. Thừa giây phút tụng niệm lơ là, lại có người cầm đuốc đến chỗ đứa con gái bệnh đang nằm, tôi liền lẻn theo vào bắt mang đi.
Có người hỏi lí do bắt, bà nói là do con trai thứ tư của Phủ quân sai, chứ Phủ quân không hay biết. Bà kể viêc ở địa ngục rất rành mạch rõ ràng. Lại nói: “Người dưới địa ngục tố cáo rất nhiều người dương gian. Nhưng người nào có chút phúc thì bắt không được, nếu có tội thì rất dễ bắt”. Hoàng Phủ thị lúc ấy vẫn còn làm Ti mạng cho cõi âm. Lại nữa ở Duyên châu có ba bốn người nam làm Ti mạng sống, nhưng không biết tên họ.
70. CHƯƠNG XEM TƯỚNG
70.1. LỜI DẪN
Phật pháp vốn bình đẳng, bậc cao đức đồng cảm ngộ; phàm phu do duyên khác, nên giáo hóa có nhiều phương; bởi tâm cảnh nương nhau, nên nhận khổ vui sai khác. Như sáp ấn xuống bùn, ấn xong thì đường nét hiện, nhìn hình tướng có thể biết các loài. Như người và vật có thể phân biệt nhờ tiếng nói, người Hồ và Hán nhận dạng qua vóc hình. Sang hèn khác nhau chỗ sáng tối, thánh phàm không giống ở trí ngu.
70.2. DẪN CHỨNG
70.2.1. Nghi thân sau
Kinh Chỉnh Kiến ghi: “Lúc ấy, trong pháp hội của Đức Phật, có tì-kheo Chính Kiến, mới thụ đại giới, nên trong lòng còn nghĩ: ‘Phật nói có cuộc sống đời sau, nhưng người chết rồi không về báo lại, thì làm sao biết?’. Vị này chưa kịp hỏi, Đức Phật đã biết và bảo:
- Này các tì-kheo! Thí như cây kia sinh ra từ một hạt giống và nhờ bốn đại mà nảy mầm, thành thân, mọc cành ra lá, rồi phát triển thành một cây lớn. Cây lại sinh quả, quả lại thành cây, tăng trưởng theo năm tháng, tạo nên vô số như thế.
Đức Phật hỏi:
- Này các tì-kheo! Nếu muốn gom tất cả thân cành lá, hoa trái làm thành hạt giống như ban đầu, liệu có được không?
Các tì-kheo thưa:
- Bạch Thế Tôn! Không thể được. Cây cối luôn biến đổi, dần dần sẽ mục nát thì hạt giống lại sinh, trở thành cây to lớn. Sự sinh trưởng, biến đổi liên tục, cuối cùng mục nát, không thể trở lại thành hạt giống ban đầu.
Đức Phật bảo:
- Này các tì-kheo! Sự sinh tử cũng như vậy, vốn do si phát sinh, dần dần biến chuyển thành mười hai nhân duyên, bấy giờ thần thức tùy theo hành nghiệp mà đến gá sinh, nên lại có cha mẹ, rồi thụ nhận thân thể. Vì thế không thể trở lại thần thức ban đầu và cũng không về báo lại. Thí như người thợ luyện kim, luyện quặng để thành sắt thép, nấu chảy sắt thép để đúc thành vật dụng. Vậy vật dụng ấy có thể trở lại thành quặng được không?
Chính Kiến thưa:
- Thật không thể được!
Đức Phật bảo:
- Thần thức chuyển vào thân trung ấm, giống như quặng đã thành sất thép. Gá vào thai mẹ, thụ nhận thân mới giống như sắt thép đã thành vật dụng, hình thế thay đổi, nên không thể trở lại thức ban đầu. Vì vậy, thức thụ nhận thân người, lại có cha mẹ; đã có cha mẹ thì có sáu điều ngăn che: một là trụ tại thân trung ấm, không thể trở lại; hai là theo nghiệp thụ thân ở trong bào thai; ba là mới sinh ra đau đớn, nên quên hết chuyện xưa; bốn là vừa sinh ra, liền chạm đất, nên những hiểu biết ngày trước không còn, phát sinh nhận thức mới; năm là sinh ra liền đắm trước ăn uống, nên những hiểu biết ngày trước không còn; sáu là sinh ra, lớn lên, huân tập điều mới, quên lãng điều cũ.
Đức Phật lại bảo:
- Này các tì-kheo! Thần thức tùy nghiệp thiện ác đã tạo từ trước, khi chết theo nghiệp mà đi, hiện tướng chẳng phải là thân cũ, không thể khôi phục cái biết khi xưa để hồi báo với quyến thuộc. Nếu người chưa đạt đạo ý, không có tịnh nhãn, khi chết thức lìa thân, tùy theo hành nghiệp biến chuyển, lại thụ thân khác, không thể về báo được. Thí như đêm tối không trăng, đem vật có năm màu để trong chỗ tối, dù nghìn vạn ức người cũng không thể nhìn thấy vật ấy. Nhưng nếu có người cầm đuốc soi sáng, thì tất cả mọi người đều phân biệt rõ ràng năm màu. Như người ngu si tối tăm, đọa vào đường ác, chưa chứng tuệ nhãn, xoay vần qua lại, cũng như đêm tối không trăng mà muốn nhìn thấy vật có năm màu, nhất định không thể được. Nếu người tu hành tụng kinh, trì giới, thâu nhiếp tâm ý, cũng như cầm đuốc soi chiếu để thấy vật. Thí như không tay mà muốn viết chữ, mù mắt mà muốn nhìn, xâu kim nơi chỗ tối, tìm lửa ở trong nước, hoàn toàn chẳng được.
Này các tì-kheo! Hãy chuyên tâm trì kinh, giữ giới, tư duy kĩ sinh tử vốn từ đâu đến, cuối cùng về đâu thì thân tâm thanh tịnh, phiền não đoạn trừ, giải tỏa những mối nghi.
Chính Kiến nghe xong, hoan hỷ thụ trì”.
70.2.2. Tướng trạng chúng sinh trong sáu đường
Kinh A-dục vương thải tử pháp ích hoại mục nhân duyên ghi: “Sáu đường, mỗi đường có những tướng trạng khác nhau.
70.2.2.1. Tướng địa ngục
Căn nguyên con người,
Trôi dạt sinh tử,
Nổi chìm nối nhau,
Ở trong năm đường.
Chết kia sinh đây,
Đều có nhân duyên,
Nay ta nói rõ,
Tướng trạng từng người:
Bước đi nghiêng ngả,
Không tự hay biết,
Thích xem huyễn hoặc,
Thường vui, hay quên,
Cử động nhẹ nhàng,
Rong chơi đằng trống,
Người đó đến từ,
Địa ngục Đẳng hoạt.
Cơ khớp đau nhức,
Ngủ hay giật mình,
Mộng thấy điềm dữ,
Là người đến từ,
Địa ngục Dây đen .
Mắt trợn, tóc thô,
Răng dài, ưa giận,
Tiếng đục, bệnh nặng,
Là người đến từ,
Địa ngục Hợp hội.
Lớn tiếng cao giọng,
Không biết xấu hổ,
Ưa đánh, chửi nhau,
Chẳng biết thật giả.
Nằm ngủ thở than,
Mộng thường kêu hoảng,
Người đó đến từ,
Địa ngục khóc la.
Thường hay buồn khóc,
Lên cao, nhìn xa,
Gây gổ người nhà,
Không biết quen lạ.
Vừa nói liền sân,
Nhịn đói nhiều ngày,
Người đó đến từ,
Địa ngục khóc lớn.
Mình to, chân nhỏ,
Sức khỏe yếu suy,
Nói thường tắc nghẹn,
Giọng như vò bê,
Lòng không hiếu thuận,
Tinh thần bất định,
Người này đến từ,
Địa ngục A-tì .
Thân thế thỏ xấu,
Chịu khổ rét lạnh,
Thích nóng, luôn khát,
Ganh ghét, xẻn, tham.
Thấy người bố thí,
Lòng sinh não phiền,
Người đó đến từ,
Địa ngục Nóng đốt.
Thấy lửa sợ hãi,
Nhưng thích sưởi ấm,
Đi đứng tùy tiện,
Chẳng kể thời nghi,
Việc xong hối hận,
Nhưng lại muốn làm,
Người đó đến từ,
Địa ngục Đại nhiệt.
Mắt nhỏ, hay sân,
Quên điều đã nhận,
Việc làm thấp hèn,
Tâm địa chẳng rộng,
Thấy lớn sinh sợ,
Nhìn nhỏ lại vui,
Người đó đến từ,
Ngục Ưu-bát-la.
Mắt đỏ, hình xấu,
Thường thích đấu tranh,
Phỉ báng thánh hiền,
Và bậc đắc đạo,
Đêm ngày tìm xét
Việc xấu của người,
Người đó đến từ,
Ngục Bát-đầu-ma.
Mắt có ba góc,
Bất hiếu mẹ cha,
Sinh ra đoản mạng,
Là người đến từ,
Ngục Câu-mâu-đà,
Thích mang dao nhọn,
Khiêu khích đánh nhau,
Ắt bị người giết,
Là người đến từ,
Địa ngục Bân-trì.
Mình đầy ung nhọt,
Hơi miệng hôi hám,
Không có người thân,
Nên biết người này,
Đến từ ngục Khoáng.
Thân hình to lớn,
Bước đi run rẩy,
Tóc ít, da mỏng,
Bệnh tật liên miên,
Thấy người liền sân,
Tham ăn không chán,
Người này đến từ,
Địa ngục Đong lửa.
Da trắng, mắt xanh,
Nói phun nước bọt,
Chẳng có đuôi đầu,
Thích vọc đất cát,
Nhìn thấy bùn lầy,
Ưa nằm lên đó,
Người đó đến từ,
Địa ngục Sông tro.
Đầu rụt, mắt vàng,
Bị người ghét bỏ,
Gặp việc hoảng sợ,
Là người đến từ,
Địa ngục Rừng kiếm.
Tay thường cầm dao,
Nghe đấu liền vui,
Bị dao làm hại,
Là người đến từ,
Địa ngục Núi dao.
Mình đen, cổ nghẹn
Thích ở phòng tối,
Miệng thốt lời dữ,
Là người đến từ,
Địa ngục Tro nóng.
Sức yếu, hụt hơi,
Không được tùy ý,
Những việc được mất,
Chẳng do mình định.
Nếu gặp đồ tể,
Liền theo sát bên,
Nên biết người này,
Từ ngục Lột da.
Vui giận bất thường,
Tự biết hối cải,
Thường hay tạ tội,
Chẳng để qua đêm,
Tự trách tâm mình,
Như bị hình phạt,
Người đó đến từ,
Địa ngục Đánh câu.
Thích ở chỗ dơ,
Ưa ăn món dở,
Mặc đồ xấu xí,
Là người đến từ,
Địa ngục phân tiểu.
Dung mạo ghê rợn,
Lời nói hung hăng,
ưa chê, đánh người,
Từ ngục Hương thơm.
Nên xét hình mạo,
Biết từ đâu đến,
Để rồi xa lìa,
Như tránh kiếp thiêu
Tướng trạng địa ngục,
Lược nói như thế.
70.2.2.2. Tướng súc sinh Nói về súc sinh,
Thụ thân sai khác,
Chuyên tâm xét nghĩ,
Không tạo duyên này.
Người nói chậm rãi,
Chẳng khởi sân si,
Kính nhường tôn trưởng,
Từ loài voi đến.
Thân lớn hôi nhơ,
Chịu được nóng lạnh,
Sân hận khó trừ,
Từ lạc đà đến.
Đi xa, ăn khỏe,
Chẳng ngại hiểm nguy,
Nhớ việc, biết đúng
Từ loài ngựa đến.
Độ lượng, biết ơn,
Giỏi chịu nóng lạnh,
Việc làm chẳng nhớ,
Từ loài trâu đến.
To tiếng, chẳng thẹn,
Lòng nhiều luyến ái,
Không phân phải trái,
Từ loài lừa đến.
Không sợ lớn nhỏ,
Thường tham ăn thịt,
Tự do hành động,
Từ sư tử đến.
Thân lớn, mắt tròn,
Rong chơi đồng trống,
Ghét bỏ vợ con,
Từ loài cọp đến.
Lông dài, mắt nhỏ,
ít có giận hờn,
Chẳng ở một nơi,
Từ loài chim đến.
Tính không tráo trở,
Thích hại côn trùng,
Chỉ ưa hang gò,
Từ loài chồn đến.
Giọng nhỏ, mạnh mẽ,
Nhẹ nghiệp dâm dục,
Chẳng thương vợ con,
Từ loài sói đến.
Không thích mặc đẹp,
Rình bắt kẻ gian,
Ngủ ít, hay sân,
Từ loài chó đến.
Thân thấp, lông dài,
Tham ăn, mê ngủ,
Chẳng thích chỗ sạch,
Từ loài heo đến.
Lông vàng, lăng xăng,
Thích ở núi rừng,
Tham ăn hoa quả,
Từ loài khỉ đến.
Mặt mày gian dối,
Không ngại khó khăn,
Thường hay phản phúc,
Từ loài quạ đến.
Lòng mê sắc dục,
Tinh nghĩa chẳng màng,
Tâm không ghi nhớ
Từ bồ câu đến.
Việc làm trái nghịch,
Nói bướng, nhẫn nại,
Bất hiếu mẹ cha,
Loài tu hú đến.
Chẳng biết phép tắc,
Và điều sai trái,
Suốt đời ngu si,
Từ loài dê đến.
ưa dối, thích bàn,
Thân gần hào phú,
Mọi người thương mến,
Loài anh vũ đến.
Hành động vội vàng,
Thích chốn đông người,
Nói năng rườm rà,
Loài chim sáo đến.
Bước đi khoan thai,
Lòng có tính toán,
Hại nhiều sinh vật,
Từ loài hạc đến.
Thân nhỏ, hảo dâm,
Ý không chuyên định,
Thấy sắc mê đắm,
Từ chim sẻ đến.
Mắt đỏ, răng ngắn,
Nói phun nước bọt,
Nằm thì co thân,
Từ loài rắn đến.
Lời đầy phẫn hận,
Chẳng xét nghĩa ân,
Miệng tuôn lời độc,
Từ chim trấm đến.
Độc cư, tham ăn,
Giọng nói tắt nghẹn,
Đêm thường ít ngủ,
Từ loài mèo đến.
Đào tường trộm cắp,
Tham tiền, sợ hãi,
Chẳng biết lạ quen,
Từ loài chuột đến.
Xem kỹ tướng mạo,
Biết rõ ngọn nguồn.
70.2.2.3. Tướng ngạ quỷ
Thân cao, hay sợ,
Lông tóc quấn thân,
Áo quần dơ bẩn,
Từ ngạ quỷ đến.
Dâm dật, xan tham,
Ghét người thành tựu,
Chẳng ưa bố thí,
Từ ngạ quỷ đến.
Bất hiếu mẹ cha,
Lớn nhỏ trong nhà,
Chạm liền tranh cãi,
Từ ngạ quỷ đến.
Tâm không thành tín,
Việc làm vì mình,
Sức yếu, trí hèn,
Từ ngạ quỷ đến.
Tắt tiếng khàn giọng,
Giận dữ bất thường,
Thích ăn đồ nóng,
Từ ngạ quỷ đến.
Của cải ít ỏi,
Nghèo nàn túng thiếu,
Người trí chê cười,
Từ ngạ quỷ đến.
Nhà không thờ Phật,
Chẳng thích nghe pháp,
Dứt đường sinh thiên,
Từ ngạ quỷ đến.
Không thương vợ con,
Anh em, chị em,
Mọi người ghét bỏ,
Từ ngạ quỷ đến.
Sống đời cô độc,
Không người chăm sóc,
Chung quy thụ bảo,
Chẳng lìa duyên xưa,
Ý chí nhỏ hẹp,
Không thích trang sức,
Việc làm thấp hèn,
Từ ngạ quỷ đến.
Làm không kết quả,
Chỉ gây phiền hà,
Bị người xua đuổi,
Từ ngạ quỷ đến.
Việc làm thất bại,
Chẳng xét căn nguyên,
Không nghe can gián,
Từ ngạ quỷ đến.
Chẳng thích chỗ vắng,
Ưa ở cầu xí,
Diện mạo bẩn thỉu,
Từ thần gió đến.
Thân lớn, luôn vui,
Ham muốn ăn thịt,
Chỉ thích miếu thần,
Từ dạ-xoa đến.
Hay sân, ưa đấu,
Thấy vật tham đắm,
Không hề úy kị,
Từ dạ-xoa đến.
Người thấy rợn gáy,
Mắt nhìn đăm đăm,
Như mất vật gì,
Từ la-sát đến.
Thân ốm, da mỏng,
Nhan sắc tươi hòa,
Nghe nhạc vui thích,
Càn-thát-bà đến.
Ý thích phiêu bồng,
Thoa ướp hương thơm,
Có nhiều tài nghệ,
Càn-thát-bà đến.
Thường thích ca múa,
Nam nữ sánh vai,
Nói trước cười sau,
Chân-đà-la đến.
Tính tình mềm mỏng,
Hiểu rõ thời tiết,
Thường đoạn phiền não,
Chân-đà-la đến.
Đây tướng ngạ quỷ,
Da-xoa, la-sát.
70.2.2.4. Tướng A-tu-la
Sau đây lược nói,
Tướng a-tu-la,
Mặt vuông, mắt tròn,
Tóc hoe, thân vàng,
Biết đủ ngành nghề
A-tu-la đến.
Nhìn thẳng xuống đất,
Dáng vẻ tự tin,
Gặp thù liền đánh,
A-tu-la đến.
70.2.2.5. Tướng người Biết nơi sinh về,
Chấp chặt không quên,
Hiểu rõ sự nghiệp,
Từ cõi người lại.
Biết rõ hư dối,
Tự mình không làm,
Việc làm bình đẳng
Từ cõi người lại
Lời thiện và ác,
Chẳng hề lãng quên,
Không tin gian dối,
Từ cõi người lại.
Tham dâm, ganh ghét
Tâm chấp khó bỏ
Hiểu rõ tập tục,
Từ cõi người lại.
Tín tâm bố thí,
Rõ pháp, phi pháp,
Lòng không thiên vị,
Từ cõi người lại.
Chẳng phí thời gian,
Cũng không biếng nhác,
Cung kính thánh hiền,
Từ cõi người lại.
Nếu gặp sa-môn,
Trì giới, đa văn,
Dốc lòng phụng sự,
Từ cõi người lại:
Cúng dường chư Phật,
Chính pháp, chúng tăng,
Tùy thời nghe pháp,
Từ cõi người lại.
Nghe pháp hiểu rõ,
Thấy ác không làm,
Mau về niết-bàn,
Từ cõi người đến.
Đây là lược nổi,
Tướng mạo cõi người.
70.2.2.6. Tướng trời
Nương núi Tu-di,
Có năm tầng trời,
Tùy nghiệp đã tạo,
Nên tướng chẳng đồng.
Lưng nhỏ, chân to,
Thường hay cười mỉm,
Nên biết người này,
Từ Khúc thiên đến.
Thích điều tốt đẹp,
Vật chất thiếu thốn,
Sợ thấy đấu tranh,
Thi-khí thiên đến.
Da trắng, cao to,
Dung mạo đoan chính,
Không thích ánh lửa,
Kì-bà thiên đến.
Người luôn vui vẻ,
Nghe ác chằng sợ,
Cũng không làm ác,
Hỏa Lạc thiên đến.
Tư duy, chịu khổ,
Khéo phân biệt nghĩa,
Hiếu kính mẹ cha,
Tì-sa thiên đến.
Không thích ngủ nhà,
Vui chơi rừng núi,
Tâm nhớ nữ sắc,
Từ tam thiên đến.
Của cải tuy nhiều,
Sinh nhà ti tiện,
Tâm ưa thanh tịnh,
Cõi tam thiên đến.
Làm theo ý mình,
Công việc thất bại,
Ước nguyện không thành,
Viêm-ma thiên đến.
Thích dâm, bất chính,
Không giữ vợ mình,
Bị quỷ sai khiến,
Tha Hóa thiên đến.
Cung phụng cha mẹ,
Thường giữ phép tắc,
Theo người học hỏi,
Đâu-suất thiên đến.
Phi pháp cầu đạo,
Tâm không tham tiếc,
Không thích tại gia,
Từ Phạm thiên đến.
Tâm nguyện chân thật,
Thường ham ngủ nghỉ,
Không hiểu Phật pháp,
Vô Tưởng thiên đến.
***
Chúng sinh sáu đường,
Đều có căn nguyên,
Tính hạnh sai khác,
Ý chí chẳng đồng.
Có bài tụng:
Thiện ác luôn đối nhau
Đạo thánh phàm lại hợp
Thân năm ấm tuy đồng
Pháp sáu đường trải nghịch
Xem xét kĩ tướng hình
Biết rõ nghiệp ngày xưa
Nên đoạn ác, tu thiện
Mới ngừng dứt khổ đau.
70.3. CẢM ỨNG
70.3.1. Đời Hán, Hoàng đầu lang: Hán Văn đế nằm mộng thấy mình muốn lên trời, nhưng không được. Ngay lúc ấy có một Hoàng đầu lang đến đẩy đế lên, đế quay nhìn thì thấy áo của người này rách sau lưng, ngang hông. Tỉnh giấc, đế đến Tiệm Đài thì thấy Hoàng đầu lang Đặng Thông mặc áo rách sau lưng, đúng là người đã gặp trong mộng. Từ đó đế rất sủng ái Thông. Đế bảo một người rất giỏi xem tướng tên là Hứa Phụ xem cho Thông, Hứa Phụ xem xong liền nói: “Người này sẽ rất nghèo, đến nỗi phải chết đói”. Đế nghe nói, bèn ban cho Thông núi Đồng ở đất Thục, đúc tiền tự cấp. Bấy giờ gia tài Thông bằng nửa kinh đô. Khi Văn đế bị bệnh ung nhọt, Thông đích thân hút mủ. Đế hỏi:
- Ai thưomg yêu ta nhất?
Thông đáp:
- Chỉ có thái tử thương bệ hạ nhất!
Đế sai thái tử hút mủ, thái tử tuy vâng mệnh mà sắc diện thật khó chịu, do đấy thái tử oán hận Thông. Văn đế băng, Cảnh đế kế vị, kết tội Thông tự ý đúc tiền, cho nên tịch thu hết gia sản, sung vào triều đình. Sau đó Thông rơi vào cảnh nghèo túng và chết đói.
70.3.2. Đời Hán, Chu Á Phu: Ông là con thứ hai của Giáng hầu Bột. Lúc đầu Hứa Phụ xem tướng cho ông và nói:
- Ba năm nữa ông sẽ được phong tước hầu, năm năm sau được phong tể tướng, quí hiển cùng tột, nhưng về sau lại chết đói.
Ông đáp:
- Ôi! Tôi đâu có lí do gì mà như thế! Nếu đã đại quí, thì làm sao chết đói được!
Hứa Phụ nói:
- Không đúng! Ông đã có tướng chết đói, đó là có đường văn dọc kéo dài đến khóe miệng.
Ba năm sau con trưởng của Giáng hầu phạm tội bị phế, ông được kế thừa tước Hầu của cha; kế đó ông phá tan quân Ngô-Sở, lập đại công, nên được phong làm Thừa tướng. Nhưng vì lòng trung cang chính trực, nhiều lần ông xúc phạm Cảnh đế, nên bị giam vào ngục, cuối cùng bị chết đói.
70.3.3. Đời Tống, Lưu Linh: Không rõ người xứ nào, chỉ biết ông cư ngụ tại thôn Lộ Thành, phía đông Tấn Lăng. Ông kính tin Phật pháp, lập một ngôi tinh xá trong vượn, thường thiết trai thỉnh tăng cúng dường. Vào ngày mười bảy tháng ba niên hiệu Nguyên Gia thứ chín (432), cha ông bị bạo bệnh qua đời. Gia đình bên cạnh tin thờ một đạo sĩ tên là Ngụy Phả, thường dùng phù chú dối gạt người trong thôn. Ngụy Phả nói với Lưu Linh:
- Nhà ông chưa hết tai họa đâu! Do ông tin thờ thần người Hồ mà ra. Nếu ông tin đạo lớn, nhất định sẽ được phúc, nếu không thay đổi sẽ rước lấy họa diệt môn.
Thế là ông vội mời đạo sĩ đến nhà, không tin thờ Phật pháp nữa. Ngụy Phả lại bảo:
- Ông đốt hết kinh tượng, thì mới trừ được tai họa.
Ông nghe theo, liền đóng cửa phóng hỏa đốt tinh xá, lửa cháy mạnh hồi lâu mà chỉ ngôi nhà bị cháy, còn kinh tượng, tràng phan, tòa ngồi vẫn y nhiên như cũ. Nửa đêm hôm ấy, tượng Phật phóng ánh sáng rực rỡ. Lúc ấy hai mươi đạo sĩ tận mắt chứng kiến, có người trong lòng sợ hãi sự linh nghiệm này, nên âm thầm bỏ đi. Thế nhưng thầy trò Ngụy Phả vẫn còn chống báng mạnh mẽ, bọn họ xỏa tóc, cầm kiếm, dây lụa bước theo bộ pháp, miệng lớn tiếng hô: “Đuổi Phật về nước Hồ, không được lưu lại Trung Hạ làm hại nhân dân!”. Đêm đó Lưu Linh giống như bị nhiều người đánh té ngã trên đất. Người nhà đỡ dậy, hơi thở thoi thóp, tay chân tê liệt không thể đi đứng được. Bấy giờ thân thể Ngụy Phả mọc đầy ung nhọt, ngày chảy ra hai thăng máu mủ, chưa đến một tháng chịu đau đớn thì chết. Còn đồng bọn của Ngụy Phả cũng đều bị bệnh hủi.
Lúc ấy có rất nhiều người thấy việc này. Thái thú Đông An Thủy Khâu Hòa là hàng xóm, truyền việc này khắp vùng Đồng Dương.
70.3.4. Đời Lương, sa-môn Diễm, chùa Chiêu-đề: Sư xuất gia từ thuở nhỏ, lúc còn là sa-di, một thầy tướng giỏi nói với sư:
- Tuy thầy rất thông minh, trí tuệ nhạy bén, nhưng tuổi thọ ngắn ngủi, chỉ còn khồng quá mười ngày nữa!”
Sư nghe lời này, liền thỉnh các đại đức cùng luận bàn, nên tạo phúc gì để thọ mạng kéo dài. Sau cùng các đại đức bảo:
- Theo thánh giáo, công đức thụ trì kinh Kim cang Bát-nhã là lớn nhất, nếu siêng năng thụ trì, nhất định tuổi thọ sẽ kéo dài.
Sư theo lời dạy của các đại đức, lập chí vào núi, chuyên tâm thụ trì kinh Kìm cang Bát-nhã hơn năm năm. Thế là tuổi thọ đã được kéo dài, một hôm sư rời núi, gặp lại thầy tướng năm xưa. Thấy sư, thầy tướng vô cùng kinh ngạc, hỏi:
- Thời gian gần đây, ngài tu tạo công đức gì mà tuổi thọ kéo dài như thế?
Sư bèn thuật lại những việc đã làm. Thầy tướng ca ngợi, chúc mừng không thôi, về sau học vấn của sư tiến bộ vượt bậc, chuyên hoằng dương kinh luận,
nghiên cứu Phật pháp, đứng đầu trong các đại đức. Sư thọ đến hơn chín mươi tuổi và thị tịch tại chùa này.
70.3.5. Đời Lương, sa-môn Trí Tạng chùa Khai Thiện, Chung sơn: Sư họ cố, người quận Ngô. Thời bấy giờ có một bà già nhà quê rất giỏi tướng số, đoán chuyện cát hung cho người, trăm không sai một. Bà nói với sư: “Pháp sư thông minh, luận biện hơn người, nổi tiếng khắp thiên hạ. Nhưng chỉ tiếc là thọ mạng không được dài lâu, chỉ đến ba mươi mốt mà thôi”. Lúc ấy sư đã hai mươi chín tuổi, khi nghe lời này, sư bỏ hết việc giảng thuyết, chỉ chuyên tâm tu đạo, phát nguyện kiên cố không ra khỏi chùa.
Sư tìm gặp được bộ kinh Kim cang Bát-nhã trong tạng kinh, liền phát nguyện suốt đời thụ trì đọc tụng. Đến ngày cuối cùng của năm vận ách, sư dùng nước thơm tắm gội sạch sẽ, vào tĩnh thất tụng kinh đợi chết. Một lát sau, bỗng nghe trong thất có tiếng nói:
- Này thiện nam! Năm vừa qua, ngươi ba mươi mốt tuổi, là lúc hết tuổi thọ, nhưng nhờ uy lực kinh Kim cang Bát-nhã, nên tuổi thọ tăng đôi.
Sau đó sư xuất sơn, thử gặp lại bà lão xem tướng trước kia. Vừa thấy sư, bà ấy vô cùng kinh ngạc hỏi:
- Vì sao pháp sư vẫn còn sống? Trước kia tôi thấy sư có tướng đoản thọ, nay hoàn toàn không còn. Thật không thể xem tướng cho sa-môn được!
Sư liền hỏi:
- Như nay tôi thọ được bao nhiêu?
Bà lão đáp:
- Nhìn xương cốt của pháp sư, nhất định thọ hơn sáu mươi.
Sư nói:
- Năm mươi tuổi mà chết, đã chẳng phải là yểu mạng, huống chi hơn.
Sư liền thuật lại nguyên nhân tuổi thọ kéo dài, bà lão vui mừng và vô cùng kính phục. Sư cũng ghi nhớ lời dự đoán của bà lão về tuổi thọ của mình. Thế là tăng tục vùng Giang Tả chí thành trì tụng kinh này và cũng có ứng hiện nhiều điềm lành. Đó là bắt đầu từ sư cơ cảm vậy.
Vào ngày mười lăm tháng chín niên hiệu Phổ Thông thứ ba, sư thị tịch tại chùa, thọ sáu mươi lăm tuổi.
70.3.6. Đời Hậu Chu, Trương Nguyên: Ông người ở Vạn Thành, Hà Bắc, tự là Hiếu Thủy. Năm ông mười sáu tuổi, ông nội bị mù. Ông buồn khóc ba năm, ngày đêm tụng kinh hành đạo để cầu phúc. Khi xem kinh Dược Sư, thấy có đoạn ghi: “Người mù được mắt sáng.”, ông bèn thỉnh bảy vị tăng, đốt bảy ngọn đèn, liên tiêp bảy ngày bảy đêm trì tụng kinh Dược Sư. Mỗi ngày hành đạo, ông thường phát nguyện: “Nguyên làm cháu mà bất hiếu, khiến cho ông phải chịu mù lòa, nay nhờ ánh đèn chiếu soi khắp pháp giới thì ông mới sáng. Con nguyện chịu mù lòa thay cho ông nội”.
Thiết tha như thế, trải qua bảy ngày. Một đêm, ông mộng thấy có ông lão cầm cây kim vàng khêu mắt cho ông nội và bảo:
- Chớ lo buồn! Ba ngày sau mắt của nội ngươi sẽ sáng!_ Ông vô cùng vui mừng, giật mình tỉnh giấc. Sau đó ông kể lại việc này cho mọi người trong gia đình biết. Ba ngày sau quả nhiên mắt của ông nội sáng tỏ.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
15/12/2015
PUCL QUYỂN 70 - CHƯƠNG THỤ BÁO (tt)
QUYỂN 70 Quyển này tiếp theo chương Thụ báo. 79. CHƯƠNG THỤ BÁO (tt) 79.11. QUẢ BÁO ÁC Nêu có hình thì ảnh hiện, có tiếng tức có vang. Chưa thấy việc hình còn mà ảnh đã mất, tiếng đang dội mà vang đã dừng. Lẽ thiện ác có...
15/12/2015
PUCL QUYỂN 69 - CHƯƠNG THỤ BÁO
QUYỂN 69 Quyển này gồm một chương Thụ báo. 79. CHƯƠNG THỤ BÁO 79.1. LỜI DẪN Nghiệp dụng của thiện ác chính là biểu hiện của ba báo. Cả hai giống như bóng theo hình, rõ ràng như sáu đường đã minh chứng. Ba báo: - Hiện báo...
15/12/2015
PUCL QUYỂN 68 - CHƯƠNG NGHIỆP NHÂN
QUYỂN 68 Quyển này gồm một chương Nghiệp nhân. 78. CHƯƠNG NGHIỆP NHÂN 78.1. LỜI DẪN Bước vào dòng Thánh thì sông ái yên láng, ngũ trược trong xanh; đánh mất tông chỉ thì núi tà chân động, ba chướng nổi bùng. Tỉnh tâm mà...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 67 - CHƯƠNG OÁN KHỔ (tt)
QUYỂN 67 Quyển này tiếp theo chương khổ. 77. CHƯƠNG OÁN KHỔ (tt) 77.6. CÁC LOẠI VI TRÙNG TRONG THÂN Thiền bí yếu pháp ghi: “Lại nữa, Xá-lợi-phất! Lúc hành giả nhập thiền định, dục giác phát khởi gió tham dâm, kích động b...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 66 - CHƯƠNG OÁN KHỔ
QUYỂN 66 Quyển này có một chương Oán khổ. 77. CHƯƠNG OÁN KHỔ 77.1. LỜI DẪN Ba cõi xoay vần, sáu đường chìm nổi. Bản tính sáng suốt không biến hoại, ý thức phân biệt luôn chấp trì; chợt sinh chợt tử, lúc đến lúc đi, thân...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 65 - CHƯƠNG PHÓNG SINH, CỨU NGUY
QUYỂN 65 Quyển này gồm hai chương: Phóng sinh và Cứu nguy. 75. CHƯƠNG PHÓNG SINH 75.1. LỜI DẪN Từng nghe: chúng sinh si mê, loài nào cũng tham sống; hàm linh ngu độn, sợ chết là lẽ thường. Thế nên, hổ bị mất rừng cùng kh...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 64 - CHƯƠNG SĂN BẮN, CHÀI LƯỚI
QUYỂN 64 Quyển này gồm hai chương: Săn bắn-chài lưới, Từ bi. 73. CHƯƠNG SĂN BẮN-CHÀI LƯỚI 73.1. LỜI DẪN Kính nghĩ: Như Lai lập giáo, rất chuộng nhân từ, nên trong các giới điều, sát sinh là nặng nhất. Bởi chúng sinh tham...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 63 - CHƯƠNG CẦU MƯA VÀ VƯỜN CÂY
QUYỂN 63 Quyển này gồm hai chương: cầu mưa và Vườn cây. 71. CHƯƠNG CẦU MƯA 71.1. LỜI DẪN Thánh đạo rỗng lặng, nên biến hóa vô cùng; do biến hóa vô cùng, nên hễ ứng hiện thì đều khế hợp. Gần đây, âm dương vận hành không đ...
