PUCL QUYỂN 68 - CHƯƠNG NGHIỆP NHÂN
15/12/2015
QUYỂN 68 Quyển này gồm một chương Nghiệp nhân. 78. CHƯƠNG NGHIỆP NHÂN 78.1. LỜI DẪN Bước vào dòng Thánh thì sông ái yên láng, ngũ trược trong xanh; đánh mất tông chỉ thì núi tà chân động, ba chướng nổi bùng. Tỉnh tâm mà...

QUYỂN 68
Quyển này gồm một chương Nghiệp nhân.
78. CHƯƠNG NGHIỆP NHÂN
Bước vào dòng Thánh thì sông ái yên láng, ngũ trược trong xanh; đánh mất tông chỉ thì núi tà chân động, ba chướng nổi bùng. Tỉnh tâm mà xét, lí này thật không sai. Cho nên biết, lòng lành do tín tâm phát khởi, niệm ác do ý tà mở đường. Vì thế một niệm ác có thể mở toang năm cửa bất thiện, một niệm lành khéo trừ tai họa nhiều đời. Cho nên đối với thiện, phải nỗ lực gọt dũa, mới có lời giáo huấn của thánh nhân; đối với ác, phải xét mình trừ lỗi, mới có việc sám hối. Nếu không làm như vậy, chí luống nhọc sức trưởng dưỡng thân, uổng phí tô vỗ bên ngoài cho chiếc bình; rốt cuộc cũng tan nát nơi thế trần, khổ đau trong chốn u đồ mà thổi. Mong hết thảy tăng tục xét soi, gắng tu tâm ý,
78.2. CÁC LOẠI NGHIỆP NHÂN
Luận Đối pháp ghi: “Có bốn loại nghiệp: Hắc hắc dị thục nghiệp; Bạch bạch dị thục nghiệp; Hắc bạch hắc bạch dị thục nghiệp; Phi hắc bạch vô dị thục nghiệp năng tận chư nghiệp.
1. Hắc hắc dị thục nghiệp: nghiệp bất thiện; do tâm nhiễm ô, cảm quả dị thục không vừa ý
2. Bạch bạch dị thục nghiệp: nghiệp thiện trong ba cõi; do tâm không nhiễm ô, cảm quả dị thục vừa ý.
3. Hắc bạch hắc bạch dị thục nghiệp: tạp nghiệp ở cõi Dục, tức nghiệp thiện ác xen lẫn nhau.
4. Phi hắc bạch vô dị thục nghiệp năng tận chư nghiệp: các nghiệp vô lậu trong phương tiện đạo, vô gián đạo. Vì phương tiện đạo, vô gián đạo là những pháp đối trị các nghiệp ấy. Phi hắc là lìa các phiền não, bạch là hoàn toàn thanh tịnh; vô dị thục là trái với sinh tử; năng tận chư nghiệp là do nghiệp vô lậu mà vĩnhviễn trừ sạch ba nghiệp hữu lậu và tập khí dị thục”.
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi:
- Nếu người nam nào không hiểu rõ đươc nghiệp duyên như thế, thì bị trôi lăn sinh tử trong nhiều đời, nhiều kiếp, dẫu có sinh về cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng thọ tám vạn kiếp, khi phúc báo hết thì cũng bị đọa trở lại trong ba đường ác, cho nên Đức Phật dạy: ‘Này thiện nam! Hết thảy các họa sư, không ai tài hơn ý, ý vẽ ra phiền não, phiền não vẽ ra nghiệp, nghiệp lại vẽ ra thân”.
Phẩm Nghiệp trong A-tỳ-đàm~tạp luận ó bài kệ:
Nghiệp kiến tạo thế gian,
Các cõi và chủng tính,
Vì thế nên tư duy
Cầu giải thoát thế gian,
Thân, miệng, ý tạo nghiệp,
Trong tất cả các hữu,
Nghiệp ấy là các hành,
Trang sức các loại thân,
Thân nghiệp có hai loại,
Là tác và vô tác,
Khấu nghiệp cũng như thế,
Ý nghiệp chính là tư.
Kinh Niết-bàn ghi:
- Này thiện nam! Có năm nhân: sinh nhân, hòa hợp nhân, trụ nhân, tăng trưởng nhân, viễn nhân. Sinh nhân tức là nghiệp phiền não trong tâm và các loại hạt giống cỏ cây bên ngoài. Hòa họp nhân, tức nhân thiện cùng thiện hòa hợp, nhân bất thiện với bất thiện hòa hợp, nhân vô ký với vô ký hòa hợp. Trụ nhân, tức nhân chống giữ, như bên dưới có trụ chống thì nhà chẳng sập, núi, sông, cây cối nương vào đất đai mà đứng vững; bên trong có bốn đại, vô lượng chúng sinhphiền não được trụ. Tăng trưởng nhân, tức các nhân giúp các pháp tăng trưởng; như quần áo, thức ăn thức uống v.v... giúp cho chúng sinh tăng trưởng. Như các hạt giống chẳng bị lửa đốt cháy, chẳng bị chim ăn mất thì nó được tăng trưởng; như các sa-môn, bà-la-môn nương vào hòa thượng, thiện tri thức mà được tăng trưởng; như nhờ cha mẹ mà con được tăng trưởng. Viễn nhân tức nhân xa; thí như nhờ thần chú mà quỉ chẳng thể hại, chẳng thể trúng độc; nhờ quốc vương mà không có đạo tặc; như mầm cây nương nhờ đất nước lửa gió mà phát triển; như nước, sự khuấy và người là nhân xa của sữa đặc; như ánh sáng, màu sắc.v.v... là nhân xa của thức; tinh huyết cha mẹ là nhân xa của chúng sinh.
- Này thiện nam tử! Thể của niết-bàn chẳng phải do năm nhân này tạo thành, thì đâu thể cho đó là nhân vô thường. Lại có hai nhân là tác nhân và liễu nhân. Như bánh xe và sợi dây của người thợ gốm là tác nhân. Như đèn đuốc.v.v... chiếu rõ vật trong tối là liễu nhân. Này thiện nam tử! Đại niết-bàn chẳng từ tác nhân mà có, chỉ từ liễu nhân mà thôi. Liễu nhân tức là ba mươi bảy pháp trợ đạo, sáu ba-la-mật.
Kinh Niết-bàn còn ghi:
- Ba cửa giải thoát, ba mươi bảy phẩm trợ đạo có thể làm bất sinh sinh nhân của tất cả phiền não và cũng làm liễu nhân cho niết-bàn. Này thiện nam! Lìa xa phiền não thì thấy rõ ràng niết-bàn. Vậy nên niết-bàn chỉ có liễu nhân, không có sinh nhân.phiền não được trụ. Tăng trưởng nhân, tức các nhân giúp các pháp tăng trưởng; như quần áo, thức ăn thức uống v.v... giúp cho chúng sinh tăng trưởng. Như các hạt giống chẳng bị lửa đốt cháy, chẳng bị chim ăn mất thì nó được tăng trưởng; như các sa-môn, bà-la-môn nương vào hòa thượng, thiện tri thức mà được tăng trưởng; như nhờ cha mẹ mà con được tăng trưởng. Viễn nhân tức nhân xa; thí như nhờ thần chú mà quỉ chẳng thể hại, chẳng thể trúng độc; nhờ quốc vương mà không có đạo tặc; như mầm cây nương nhờ đất nước lửa gió mà phát triển; như nước, sự khuấy và người là nhân xa của sữa đặc; như ánh sáng, màu sắc.v.v... là nhân xa của thức; tinh huyết cha mẹ là nhân xa của chúng sinh.
- Này thiện nam tử! Thể của niết-bàn chẳng phải do năm nhân này tạo thành, thì đâu thể cho đó là nhân vô thường. Lại có hai nhân là tác nhân và liễu nhân. Như bánh xe và sợi dây của người thợ gốm là tác nhân. Như đèn đuốc.v.v... chiếu rõ vật trong tối là liễu nhân. Này thiện nam tử! Đại niết-bàn chẳng từ tác nhân mà có, chỉ từ liễu nhân mà thôi. Liễu nhân tức là ba mươi bảy pháp trợ đạo, sáu ba-la-mật.
Kinh Niết-bàn còn ghi:
- Ba cửa giải thoát, ba mươi bảy phẩm trợ đạo có thể làm bất sinh sinh nhân của tất cả phiền não và cũng làm liễu nhân cho niết-bàn. Này thiện nam! Lìa xa phiền não thì thấy rõ ràng niết-bàn. Vậy nên niết-bàn chỉ có liễu nhân, không có sinh nhân.
Kinh này lại ghi:
- Nếu lìa ba mươi bảy phẩm thì nhất định chẳng thể được chính quả Thanh văn, cho đến quả Vô thượng chính đẳng chính giác, chẳng thấy Phật tính và quả của Phật tính. Do nhân duyên này nên Phạm hạnh tức là ba mươi bảy phẩm. Vì sao? Vì tính của ba mươi bảy phẩm chẳng điên đảo mà có thể hủy hoại điên đảo. Tính ấy chẳng phải ác kiến mà có thể hủy hoại ác kiến, chẳng sợ hãi mà có thể hủy hoại sự sợ hãi. Tính ấy chính là tịnh hạnh, có thể khiến cho chúng sinh rốt ráo tạo tác Phạm hạnh thanh tịnh.
* Lời bàn
Từ trên đến đây, tuy trích dẫn kinh luận để minh chứng có nhiều loại nghiệp nhân, nhưng đến khi định tội thì chưa nói rõ nặng nhẹ, nên ở đây trích dẫn kinh ưu-bà-tắc giới phân biệt để nói về nghiệp nhân bất đồng. Kinh nêu ra bốn đôi: về hữu tình và tâm, có bốn trường hợp; về nặng nhẹ có tám trường hợp; về thượng, trung, hạ cũng có tám trường hợp; hữu tâm, vô tâm cũng có tám trường họp. Tuy phân biệt như vậy, nhưng đến khi phán xét tội thì đều gom chung tất cả.
a. Thứ nhất, về hữu tình với tâm, có bốn trường hợp:
1. Hữu tình nặng tâm nhẹ: như người giết hại cha mẹ với tâm không ác độc.
2. Hữu tình nhẹ tâm nặng: như người giết hại súc sinh với tâm ác độc.
3. Hữu tình nặng tâm nặng: như người giết hại cha mẹ với tâm vô cùng ác độc.
4. Hữu tình nhẹ tâm nhẹ: như người giết hại súc sinh với tâm không ác độc.
b. Thứ hai, nghiệp ác như thế, có tám trường hợp nặng nhẹ khác nhau:
1. Phương tiện nặng, căn bản và thành dĩ nhẹ.
2. Căn bản nặng, phương tiện và thành dĩ nhẹ.
3. Thành dĩ nặng, phương tiện và căn bản nhẹ.
4. Phương tiện và căn bản nặng, thành dĩ nhẹ.
5. Phương tiện và thành dĩ nặng, căn bản nhẹ.
6. Căn bản và thành dĩ nặng, phương tiện nhẹ.
7. Phương tiện, căn bản và thành dĩ nặng.
8. Phương tiện, căn bản và thành dĩ nhẹ.
Chỉ là một loại hữu tình, nhưng do tâm lực, nên chiêu cảm quả nặng nhẹ khác nhau. Như kinh Thập thiện nghiệp đạo ghi: “Có ba việc phương tiện, căn bản, thành dĩ: Như người siêng năng lễ bái, cúng dường cha mẹ, sư trưởng, hòa thượng và các bậc có đức; trước khởi tâm thăm hỏi, kế đến nói lời dịu dàng, đó là phương tiện. Như các việc đã làm xong, tâm niệm luôn vui vẻ không hối hận, đó gọi là thành dĩ. Khi hành động luôn chuyên chú, gọi là căn bản”. Mười nghiệp thiện đã thế, mười nghiệp ác cũng vậy.
c. Thứ ba, mười thiện nghiệp này lại có ba giai đoạn: giai đoạn trước, giai đoạn giữa và giai đoạn sau. Có trường hợp phương tiện là giai đoạn trước, căn bản giai đoạn giữa, thành dĩ là giai đoạn sau; có trường hợp phương tiện giữa, căn bản trước, thành dĩ sau; cótrường hợp phương tiện sau, căn bản trước, thành dĩ giữa (Thay đổi qua lại tạo thành tám trường hợp, căn cứ theo trước có thể biết).
d. Thứ tư, theo luận Tát-bà-đa thì phương tiện, căn bản và thành dĩ do hữu tâm hoặc vô tâm tạo tác gồm có tám trường hợp, căn cứ theo trước có thể biết.
A-tì-đàm tâm luận ghi: “Có năm loại quả: quả báo, quả sở y, quả tăng thượng, quả thân lực, quả giải thoát. Nếu là pháp thiện hữu lậu thì có bốn hoặc năm quả. Trong đó, nếu đoạn kết sử thì có năm quả; nếu không đoạn kết sử thì có bốn quả, trừ quả giải thoát. Nếu là pháp vô lậu thì có bốn quả hoặc ba quả. Trong đó nếu đoạn kết sử thì có bốn quả, trừ quả báo; nếu không đoạn kết thì có ba quả, trừ quả báo và quả giải thoát. Nếu là pháp vô kí thì có ba quả, trừ quả báo và quả giải thoát.
78.3. PHÁT KHỞI MƯỜI NGHIỆP ĐẠO BẤT THIỆN
Căn cứ ba cõi, sáu đường mà phát khởi nghiệp ít hay nhiều khác nhau.
78.3.1. Phát khởi nghiệp bất thiện ở địa ngục
Như luận A-tỳ-đàm ghi: “Có năm nghiệp đạo: ác khẩu, ỷ ngữ, tham, sân, tà kiến. Trong đó, khi người phạm tội thụ khổ ở địa ngục thì ba nghiệp ác khẩu, ỷ ngữ và sân hiện hành. Mắng nhiếc ngục tốt, tức ác khẩu hiện hành. Đã ác khẩu thì nói không đúng thời, trái phép tắc, bất chính tức rơi vào ỷ ngữ; bấy giờ, phân nộ nổi lên, tức là tâm sân hận. Đây là banghiệp bất thiện hiện khởi ở địa ngục. Còn nghiệp tham và tà kiến thì ngầm ở trong tâm chứ không hiện hành. Vì tâm thô trong địa ngục chưa đoạn được phiền não, cho nên tham và tà kiến ngầm chứa trong tâm. Trong địa ngục, các nam nữ đều thường phải chịu khổ bức, nên không có việc nam nữ hành dâm với nhau, vì thế tâm tham dục không hiện hành. Vì thường chịu khổ bức, nên tâm thức bị ám độn, không thể suy nghĩ nhân quả có hay không, do đó tâm tà kiến cũng không hiện hành. Những nghiệp khác như giết hại, trộm cướp, vọng ngữ, lưỡng thiệt cũng hoàn toàn không hiện hành ở địa ngục”.
Hỏi: Nếu nghiệp tham và tà kiến không hiện hành ở địa ngục, tại sao nói hai nghiệp ấy đã thành tựu?
Đáp: Hai nghiệp phiền não này thuộc về tâm pháp, nếu chưa đoạn trừ, dù không hiện hành, nhưng tính hằng thành tựu, không giống với bảy nghiệp của thân và miệng thuộc về sắc pháp, là những pháp tạo tác thô, hễ phát động liền thành, còn không có chỗ tạo tác thì không thành tựu. Vì thế Tạp tâm luận ghi: “Ở địa ngục không có việc giết hại nhau, nên không có nghiệp sát; không nhận tài vật, nên không có nghiệp trộm cướp; không đắm say người nữ, nên không có nghiệp dâm. Lời nói khác với ý nghĩ nên gọi là vọng ngữ, ở địa ngục không có như thế nên không có nghiệp vọng ngữ; thường muốn xa lìa, nên không có lưỡng thiệt; vì bị khổ bức bách, nên có ác khẩu; nói không đúng thời, nên có ỷ ngữ; tham và tà kiến thành tựu ở trong tâm mà không hiện hành”.
78.3.2. Phát khởi nghiệp bất thiện trong cõi ngạ quỉ và súc sinh
Chúng sinh nơi đây đều có đủ mười nghiệp ác, nhưng không có bảy ác luật nghi của thân và miệng- .
Hỏi: Ngày nay loài súc sinh tuy không biết nói, nhưng có phát ra âm thanh, vậy thành tựu khẩu nghiệp không?
Đáp: Khi loài súc sinh phát khởi tâm sân, từ miệng phát ra tiếng, tuy không phải lời nói, nhưng vẫn thành khẩu nghiệp. Do đó luận Thành thật ghi:
Hỏi: Tiếng của súc sinh có phải là khẩu nghiệp không?
Đáp: Tuy không có ngôn ngữ, nhưng vẫn do tâm phát khởi, nên cũng gọi là nghiệp. Cũng có loài đây đủ mười nghiệp, như vua rồng có thể biết được ý người, nên có đủ mười nghiệp. Riêng loài súc sinh ngu si, ám độn, chỉ có sáu nghiệp của thân và ý, còn bốn nghiệp của miệng thì không đủ, vì không nói và không hiểu được lời nói. Nếu là súc sinh trong kiếp sơ, hiểu và nói được tiếng nói của người, thì cũng có thể đủ mười nghiệp ác.
78.3.3. Phát khởi nghiệp bất thiện trong loài người
Loài người trong ba châu Nam Diêm-phù, Đông Phất-vu, Tây Cù-na đều khởi nhiều nghiệp ác, nên có đủ mười nghiệp ác. Nhưng người ở Đông và Tây thì nghiệp nhẹ, còn Nam rất nặng, vì có thụ ác luật nghi. Còn Bắc uất-đơn thì chỉ cỏ bốn nghiệp bất thĩện: ỷ ngữ, tham, sân và tà kiến. Do có ca vịnh nên ý ngữ, tham, sân và tà kiến thành tựu trong tâm, nhưng không hiện hành.
Hỏi: Chúng sinh Bắc uất-đơn có việc hành dục, tại sao nói không có nghiệp tà dâm?
Đáp: Phương ấy không có việc vợ chồng giao phôi nhau, tuy có việc dâm, nhưng không có sự cưỡng bức, lăng nhục lẫn nhau, do đó không có tà dâm.
Hỏi: Đã có hành dâm, tức là tham dục hiện hành, tại sao lại cho là chỉ thành tựu chứ không hiện hành?
Đáp: Người phương ấy khởi tham dâm, thế tục chẳng thể đoạn dứt, nên tuy luôn hiện hành, nhưng Phật cho là không tội. Nhưng nghiệp dâm do tâm tham này phát khởi, còn chẳng phải tội, không đưa đến khổ báo, huống gì tham chỉ khởi trong tâm; như vợ chồng ở thế gian, không ngăn câm tham ái.
Hỏi: Người phương bắc đã có ca vịnh, tức không đúng pháp, là vọng ngữ, tại sao không nói có nghiệp vọng ngữ?
Đáp: Người ở phương ấy mộc mạc, chân thật, không gian xảo, không dối gạt, cho nên chẳng có vọng ngữ. Người ở phương ấy thọ nghìn tuổi, nên không giết hại mạng sống; cơm ăn, áo mặc, lúa gạo ngon ở phương ấy do đất sinh ra, từ cây tự nhiên lưu xuất y phục quí báu, không cần cất giữ, nên không có trộm cướp. Người ở phương ấy hòa thuận dịu dàng, cho nên không có nghỉệp lưỡng thiệt, ác khẩu. Cho nên Tạp tâm luận ghi: “Uất-đơn-việt có bốn nghiệp thiện, tuổi thọ dài lâu, nên không có nghiệp sát sinh; không tham tài của, nên không có nghiệp trộm; không tham đắm người nữ, nên không có nghiệp tà dâm; không dối người khác, nên không có nghiệp vọng ngữ; thường hòa hợp, nên không có nghiệp lưỡng thiệt; vì nhu thuận, nên không có lời nói thô ác; vì có ca vịnh, nên có ỷ ngữ. Còn về ý nghiệp, thì tuy có mà không hiện hành”.
78.3.4. Phát khởi nghiệp bất thiện ở cõi trời
Trước là nói về sáu tầng trời cõi Dục có nghiệp sát sinh, trộm cướp... Tuy có mười nghiệp bất thiện, nhưng không có bảy ác luật nghi của thân và miệng, nên luận Tạp tâm ghi: “Sáu tầng trời cõi Dục có mười nghiệp đạo, nhưng lìa bất luật nghi, tuy không hại loài trời, nhưng lại giết hạí những loài khác, như giết hại a-tu-la. Nếu chặt đứt tay chân, thì liền được sinh lại, nhưng nếu chặt đầu thì chết ngay, xoay vần đoạt mạng lẫn nhau, cho đến hết thảy mười nghiệp đạo đều có đủ. Cũng có các vị trời bặc phúc, thiếu của cảỉ, tài sản, nên lén lấy của nhau, do đó có nghiệp trộm cắp; hoặccó các trời tự bội bạc vợ mình, hành dâm với những thiên nữ đẹp khác, nên có nghiệp tà dâm”. Còn bảy nghiệp kia, theo ý có thể biết rõ.
Về cõi sác và Vô Sắc, theo A-tỳ-đàm đại thể đều là nghiệp thiện. Nhưng xét theo lí thì cũng có ba nghiệp bất thiện vi tế, đó là ý nghiệp có tà mạn v.v... về lỗi của nghiệp thân, miệng, như trong Sơ Thiền, vua Bà-già-phạm nói với Phạm chúng:
- Các người được trụ ở đây, ta có thể khiến các người thoát khỏi cảnh già chết, các người không cần phải đến chỗ Cù-đàm!
Tì-kheo Hắc Xỉ đến hỏi:
- Tam-muội cõi Sơ Thiền, nương vào tam-muội nào mà sinh, từ tam-muội nào mà diệt?
Phạm vương đáp:
- Ta là bậc tôn kính trong Phạm chúng.
Tì-kheo Hắc Xỉ nói:
- Tôi không hỏi Phạm vương là bậc tôn quí hay thâp hèn, mà chỉ hỏi tam-muội Sơ Thiền từ tam-muội nào sinh, từ tam-muội nào diệt?
Phạm vương không trả lời được, bèn nắm tay kéo tôn giả Hắc Xỉ ra khỏi chúng, rồi nói:
- Ta không thể biết được tam-muội cõi Sơ Thiền từ tam-muội nào sinh, từ tam-muội nào diệt, sao ông nỡ hạ nhục ta trước Phạm chúng thế?
Lời của Phạm vương là những lời phiền não siểm trá, bất thiện. Ông ta nói Phật không có khả năng giúp cho người giải thoát, tức là ỷ ngữ, ác khẩu hủy báng Phật. Cõi này chỉ có lời siểm trá như thế phát động nghiệp bất thiện nhỏ nhiệm của thân khẩu, không khởi những hạnh thô gây tổn hại cho người khác. Vì người sinh về hai cõi này từng được định, lìa bỏ hoàn toàn các tâm tham, sân v.v... thô ở cõi Dục, nên được sinh về cõi ấy, lại tiếp tục tu thiền định, nên tuy có phiền não, nhưng chỉ là tâm si. Vì mê đạo, nên khởi ái, mạn V.V... thích tu tập pháp thiện, mong được sinh về cõi cao hơn. Những phiền não này bị thiền định phá trừ, nên không gây tổn hại vật, không xâm hại lẫn nhau. Nếu căn cứ A-tỳ-đàm thì phiền não ở hai cõi này không phải bất thiện, mà là vô ký. Tâm tham vi tế này có thể làm nhiễm ô tâm thanh tịnh, nên tuy là vô ký, nhưng lại nhiễm ô, không giống với các pháp sắc tâm, khổ vui và oai nghi của báo sinh đều là bạch tịnh vô ký. Luận cho là nhiễm ô vô ký, vì nhiễm ô này mà nhuận nghiệp thụ sinh. Nếu phiền não này không thấm tẩm nghiệp thì hạt giống nghiệp sẽ bị tiêu hủy, không còn khả năng dẫn đến quả báo. Chúng sinh hai cõi trên không phải sinh trở lại, nhưng vì có nhuận nghiệp nên mới có sinh trở lại.
Hỏi: Phiền não ở hai cõi trên, đã có năng lực nhuận nghiệp, nhuận sinh thụ quả báo, tại sao cho là vô kí?
Đáp: Phiền não ở hai cõi trên tuy có nhuận nghiệp, nhưng chỉ là tông báo thụ sinh mà thôi. Không phải do những hoặc nghiệp này làm nhân chính để cảm ứng quả vui, chiêu cảm quả khổ. Cho nên nó là vô kí, không giống với những bất thiên phiền não ở các cõi dưới chiêu cảm quả khổ tổng báo và biệt báo.
Nếu theo luận Thành thật, tà kiến phát khởi trong hai cõi trên, đều thuộc bất thiện. Như luận ghi: “Chúng sỉnh ở cõi sắc và Vồ sắc cho đây là niết-bàn khi lâm chung thấy thân trung ấm ở cõi Dục và cõi Sắc liền sinh tà kiến cho rằng không có niết-bàn, rồi hủy báng pháp vồ thượng". Vì thế, nên biết nơi ấy có nghiệp bất thiện. Lại nữa, luận ghi: “Tà kiến ở hai cõi trên là nhân duyên khổ. Theo lẽ thì hai cõi trên phải căn cứ theo địa vị của họ mà phán định. Như chúng sinh có tâm niệm vi tế, phát khởi phiền não nhỏ nhiệm, phần nhiều không thành nghiệp, cho nên gọi là vô kí. Nếu luận chung thì chúng sinh cõi này cũng khởi tà kiến thô thành nghiệp bất thiện. Ở đây đúng với nghĩa mà luận A-tỳ-đàm đã nói ở trước, cũng hợp vơi nghĩa mà luận Thành thật sẽ trình bày ở sau.
Lại nữa, nói về lí thì phiền não nhỏ nhiệm kia đều trái với đạo lí, đều thuộc bất thiện. Theo luận Thành thật, thì nghiệp ác bất thiện trong ba cõi đều phát khởi như nhau, chỉ có khác nhau là nhiều hay ít, tăng hay giảm mà thối.
* Lời bàn
Từ trước đến đây chỉ căn cứ vào phàm phu mà trình bày các tội chướng phát khởi từ thân và miệng. Nếu căn cứ theo thánh nhân mà luận thì các bậc tu-đà-hoàn... khi xuất định, mất chính niệm vẫn khởi ý bất thiện nhỏ nhiệm, sinh các nguyện xấu, có phiền não cõi Dục. Tham sân tuy mạnh, hơi giống với phàm phu, có thể khởi ngay tham dục, sân, mạn, nhưng không suy nghĩ tính lường để khởi tà kiến và không khởi tâm giết hại, trộm cắp v.v... Thẹp luận A-tỳ-đàm, đối với quyến thuộc có những hành động như đánh đập... thì thuộc nghiệp bất thiện nhẹ. Theo luận Thành thật, giả sử có tâm bất thiện, dấy động thân, miệng cũng không thành nghiệp báo, như giọt nước rơi trên lò sấy nóng, tuy ướt liền khô ngay.
Kinh Di-lặc bồ-tát sở vấn ghi: “Tất cả phảp ác thuộc mười nghiệp bất thiện đều phát sinh từ tham, sân, si.
Từ ba độc khởi nghiệp sát sinh: như có người dò lòng tham khởi, ưa thích thịt cá, ham muốn tiền tài mà giết hại sinh mạng v.v... Như có người do tâm sân khởi, dẫn đến giết hại kẻ thù oán v.v... Như có người do tâm si khởi cho rằng giết rắn, rít v.v... để bớt đikhổ não cho chúng sinh, nên tuy giết hại mà không có tội. Hoặc nước Ba-la-tư V.V... cho rằng giết bỏ cha mẹ già và những người bệnh nặng thì không bị tội báo.
Từ ba độc khởi nghiệp trộm cắp: như người do lòng tham khởi, hoặc vì bản thân mình, hoặc vì người khác, hoặc vì ăn uống v.v... mà trộm cắp. Như người do tâm sân khởi mà trộm lấy vật của người mình giận, cho đến vật của hàng thân thuộc của người ấy. Từ tâm si khởi, như có bà-la-môn nói tất cả tài sản trên quả đất này đều là của ta. Vì sao? Vì trước kia, vị vua của nước ấy đã cấp cho ta rồi, nhưng do ta không có sức lực nên bị người ngoài đoạt lấy; thế nên, nay ta lấy dùng, vì nó chính là vật của ta, không phải là trộm cắp.
Từ ba độc mà khởi tà dâm: như người do lòng tham khởi, đối với chúng sinh khởi tâm dục nhiễm, không tu hành đúng như pháp v.v.. Từ tâm sân dấy khởi tà dâm, như có người giữ gìn của cải cho người khác, do tâm sân khởi lên, liền hành dâm với thê thiếp của người cừu oán, hoặc hành dâm với người mà kẻ ấy thương yêu v.v... Từ tâm si dấy khởi, như có người nói tất cả người nữ như hoa nở, trái chín, đồ ăn thức uống, dòng sông, đường đi v.v... nên hành dâm với họ là không có tội; hoặc như phong tục ở nước Ba-la-tư cho rằng tà dâm với mẹ v.v... không có tội.
Như người do ba độc mà dấy khởi vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ đều có thể biết. Do tâmtham dấy khởi, tức do tâm tham kết sinh, theo thứ tự hai tâm hiện tiền. Từ tâm sân kết sinh, gọi là do tâm sân dấy khởi; từ tâm si kết sinh, gọi là do tâm si dấy khởi. Tham sân và tà kiến cũng như thế.
Hỏi: Xin nói đến tướng tác bất tác, tướng vô tác? Trong nghiệp nào có tính quyết định, nghiệp nào không có tính quyết định?
Đáp: Trừ nghiệp tà dâm, còn sáu nghiệp kia đều bất định. Nghĩa là nếu chính mình làm thì thành tựu nghiệp tác và nghiệp vô tác; nếu sai người làm thì chỉ có nghiệp bất tác, không có nghiệp tác. Nhưng trong nghiệp tà dâm nhất định có nghiệp tác, không có bất tác. Vì sao? Vì tà dâm hoàn toàn do tự tác, không thể bảo người làm thay. Cho nên kinh nói:
- Có lúc nào chẳng do thân nghiệp tạo tác mà thành tội sát không?
- Có! Như dùng miệng sai người giết thì thành tựu tội sát.
- Có lúc nào chẳng do khẩu nghiệp tạo mà thành tựu tội vọng ngữ không?
- Có! Như dùng thân nghiệp tạo mà thành tựu tội vọng ngữ của khẩu nghiệp.
- Có trường hợp nào chẳng do thân nghiệp tạo, chẳng phải khẩu nghiệp tạo mà thành tựu thân và khẩu nghiệp chăng?
- Có! Như nương vào tâm sân của tiên nhân mà tạo, nhưng chỉ có ở sắc thân cõi Dục. Trong nghiệp đạo thiện, có tác và vô tác; trong giới vô lậu thiền định thì không có giới vô tác. Vì sao? Vì nương vào tâm. Trong thiền Trung gian thì bất định, nếu có tâm sâu dày, tâm rốt ráo cung kính phát động nghiệp thân miệng, thì thành tựu nghiệp tác và vô tác. Nếu có tâm sâu dày, tâm kết sử phát động nghiệp thân miệng thì cũng thành tựu nghiệp tác và vô tác. Nếu không có tâm sâu dày, tâm rốt ráo cung kính phát động nghiệp thân miệng, thì chỉ có nghiệp tác mà không có nghiêp vô tác; nếu chẳng có tâm kết sử sâu dày phát động nghiệp thân miệng, thì cũng chỉ có nghiệp tác mà không có nghiệp vô tác. Nếu dùng phương tiện tạo nghiệp, nhưng lại hối hận thì chỉ có nghiệp tác, không có nghiệp vô tác.
Hỏi: Trong nghiệp đạo, nghiệp nào là tiền quyến thuộc, nghiệp nào là hậu quyến thuộc?
Đáp: Nếu khởi phương tiện sát sinh, như người đồ tể mua dê, dẫn con vật đến lò mổ, ngay nhát đao đầu tiên, hoặc hai, ba nhát tiếp theo mà con vật vẫn chưa chết, những nghiệp ác đó gọi là tiền quyến thuộc. Còn bất cứ một nhát đao nào đâm theo, làm chết con vật, trong tâm niệm lúc ấy, dầu khởi tác nghiệp hay vôtác nghiệp", đều gọi là căn bản nghiệp đạo. Những nghiệp tạo tác do thân gây ra tiếp theo sau gọi là nghiệp hậu quyến thuộc sát sinh; cho đến ý ngữ cũng như vậy. Nên biết, trong các nghiệp tham, sân, si khác, không có tiền quyến thuộc vì vừa khởi tâm liền thành tựu căn bản nghiệp đạo.
Vậy tất cả mười nghiệp bất thiện của thân, khẩu, ý đều có tiền quyến thuộc, hậu quyến thuộc. Nghĩa này là thế nào? Như người khởi tâm muốn đoạn mạng sống của chúng sinh này, nhưng lại giết chúng sinh khác. Như muốn cúng tế trời mà giết hại chúng sinh, tức là đoạt mạng sống của sinh vật khác. Hay muốn giết người kia để hành dâm với vợ của họ, đã khởi tâm như vậy rồi, lại xúi giục người vợ về giết chồng. Lại dùng nhiều ngôn từ bạo loạn phá hoại gia quyến của người kia; nói không đúng lúc, không chân thật. Lại tham tài sản của người rồi khởi tâm sân mà muốn giết họ. Khởi tà kiến này, rồi nuôi lớn nó đến lúc giết hại người ấy và cả vợ con của họ nữa. Người này lần lượt khởi sinh đủ mười nghiệp bất thiện. Những nghiệp bất thiện như thế gọi là tiền quyến thuộc. Tất cả mười nghiệp bất thiện cũng như vậy.
Lại nữa, xa lìa nghiệp đạo thiện chằng phải là phưong tiện; tu hành nghiệp đạo thiện chính là phương tiện, bởi vì đã xa lìa căn bản, xa lìa phương tiện. Nói phương tiện, như một vị sa-di muốn thụ giớicụ-túc, khi đến giới trường đỉnh lễ túc số tăng,
thỉnh hòa thượng đàn đầu, thụ trì ba y, tác bạch lần thứ nhất, tác bạch lần thứ hai; tất cả các việc này đều gọi là tiền quyến thuộc. Khi tác bạch lần thứ ba đến khi tác pháp yết-ma xong, thì khởi tác nghiệp hay khởi vô tác nghiệp... tất cả đều gọi là căn bản nghiệp đạo. Tiếp đến khi giảng nói về pháp tứ y, cho đến không bỏ những thiện hạnh đã thụ, tác nghiệp hoặc vô tác nghiệp của thân khẩu, những việc như thế đều gọi là hậu quyến thuộc.
Hỏi: Xin nói về quả của mười nghiệp đạo bất thiện và nhân tùy thuận.
Đáp: Có ba loại quả: quả quả báo, quả tập khí và quả tăng thượng. Mỗi một nghiệp đạo đều có ba loại quả này. Nếu đủ mười bất thiện, có ba bậc thượng trung hạ; trong đó nếu sinh vào địa ngục thì gọi là thụ quả quả báo. về quả tập khí, nếu từ địa ngục sinh lại làm người, nhưng do sát sinh nên đoản thọ, do trộm cắp nên nghèo cùng, do tà dâm nên không thể giữ được vợ, do vọng ngữ nên bị người chê bai, do lưỡng thiệt nên quyến thuộc chia lìa, do ác khẩu nên không nghe được lời hay, do ỷ ngữ nên người không tin tưởng, do khi xưa tham nên tâm tham tăng trưởng, do khi xưa sân nên tâm sân tăng trưởng, do khi xưa tà kiến nên tâm si tăng trưởng, tất cả những quả như thếđều gọi là quả tập khí. về quả tăng thượng, nếu căn cứ theo mười nghiệp đạo bất thiện, tất cả các vật bên ngoài đều xấu ác mà thân phải lãnh chịu, như đất đai cao thấp, nạn chim chuột, mưa đá phá hoại mùa màng, nơi chốn hôi dơ sinh nhiều rắn rít, bò cạp, lúa thóc ít hạt, hạt nhỏ hạt lép, ít quả, quả nhỏ cho đến quả đắng chát, đều gọi là quả tăng thượng.
Lại có quả tương tự, như người sát sinh gây cho kẻ bị sát hại chịu nhiều nỗi khổ. Vì khiến người khổ, cho nên sinh vào địa ngục chịu các khổ. Sau đó sinh làm người, vì khi xưa đoạn mạng căn kẻ khác nên chịu quả báo đoản thọ, vì đoạn noãn xúc của người nên tất cả các vật dụng sinh hoạt hàng ngày của bản thân không tốt đẹp.
Mười nghiệp đạo bất thiện, tuỳ ý nghĩa tương ứng từng nghiệp mà giải thích, cũng có thể biết được. Như trộm cắp, tà dâm tuy không gây cho người khác những nỗi khổ đau, bức ép nặng, nhưng vì có tâm phá hoại nên cũng chịu quả khổ; dù không có tâm phá hoại, không sân, không ác khẩu, nhưng vì có tâm ác nên vẫn phải chịu tội.
78.4. PHÁT KHỞI MƯỜI NGHIỆP ĐẠO THIỆN
Căn cứ mười nghiệp thiện để phân biệt, như luận A-tỳ-đàm ghi: “Chúng sinh ở địa ngục, chỉ có ba nghiệp thiện của ý, nhưng chỉ thành tựu trong tâm chứkhông hiện hành. Chúng sinh Bắc Câu-lô cũng như vậy. Còn tất cả các nơi khác đều có đủ mười nghiệp”.
Kinh Dì-lặc bồ-tát sở vấn ghi: “Bồ-tát tạo mười nghiệp đạo bất thiện, do tập nhân duyên, nên rơi vào ba cõi xấu ác. Nếu tạo mười nghiệp đạo thiện, cũng do tập nhân duyên mà sinh vào trời người. Nếu dùng trí tuệ quán xét, hòa hợp tu hành, nhưng tâm nhỏ hẹp, nhàm chán ba cõi, không có tâm đại bi, nghe đạo lí từ người khác giảng thuyết, từ nhân duyên nghe âm thanh mà tỏ ngộ, nên thành Thanh văn thừa. Nếu không từ người khác nghe mười nghiệp đạo thiện thanh tịnh mà tự tỏ ngộ chính xác, thông đạt pháp nhân duyên sâu xa, nhưng không có tâm đại bi, nên thành Bích-chi-phật thừa. Nếu đầy đủ mười nghiệp đạo thiện thanh tịnh, tâm lượng rộng lớn, khởi tâm thương xót chúng sinh, tu tập Nhất thiết chủng trí, khiến hoàn toàn thanh tịnh, tức thành Bồ-tát thừa,
Hỏi: Thế nào là nghiệp đạo?
Đáp: Bảy nghiệp thuộc thân miệng là tướng tự thể; ba nghiệp thuộc ý là tương ưng tâm. Bảy nghiệp ấy hay tạo ra đạo quả, nên gọi là nghiệp đạo.
Hỏi: Nếu nghiệp gọi là đạo, thì tất cả đều có thể dẫn đến địa ngục v.v... tại sao ba nghiệp thuộc"ý không phải là nghiệp đạo?
Đáp: Bởi vì ba nghiệp thuộc ý là nền tảng của bảy nghiệp, lại vì tương ưng, nhưng không thể tạo tác như bảy nghiệp, cho nên không gọi là nghiệp đạo.
Hỏi: Tất cả các hành động xấu ác như uống rượu, ăn thịt, đánh đấm, đùa cười và tất cả các hành vi thiện như lễ bái, cung kính cúng dường, xa lìa rượu thịt v.v... vì sao không cho là nghiệp đạo?
Đáp: Xa lìa rượu chỉ là tâm nghiệp, có thể phát động bảy nghiệp, nhưng không phải nghiệp thân miệng, vì thế không phải nghiệp đạo. Nếu hành vi ấy tương ưng với tâm thì cũng được gọi là nghiệp đạo.
Hỏi: Nếu nối nghiệp ấy có thể tạo ra đạo quả, nên gọi là nghiệp đạo, vậy tất cả pháp đối với tâm đều có thể gọi là nghiệp đạo. Vì sao chỉ nói mười nghiệp đạo, mà không nói vô lượng nghiệp đạo?
Đáp: Vì căn cứ theo tính chất vượt hơn và nặng hơn vậy. Nghĩa là trong tất cả các hành vi thiện và ác thì mười nghiệp đạo này là nặng nhất, còn tất cả các hành vi khác đều nhẹ, cho nên không nói vô lượng. Hơn nữa, bảy nghiệp đạo thuộc thân miệng đều nặng, còn ba nghiệp thuộc ý thì vừa nặng vừa nhẹ. Nghiệp uống rượu ... không như thế, vì lẽ này nên chỉ nói mười hành vi trên là nghiệp đạo, những hành vi khác thì không gọi là nghiệp đạo.
Hỏi: Xa lìa sát sinh, vì sao gọi sát sinh... là tương ưng thuyết?
Đáp: Sát sinh có tám trường hợp: cố ý, người khác, định và bất định tướng chúng sinh, tâm nghi,khởi phương tiện xả mạng, tác, tướng bất tác, tướng vô tác. Đó gọi là thân nghiệp sát sinh, thân khẩu ý nghiệp sát sinh.
Hỏi: Thế nào gọi là cố ý?
Đáp: Nếu không cố ý mà thành tội sát sinh thì a-la-hán không thể chứng Niết-bàn. Vì a-la-hán đã đoạn nhân thế gian, với tâm bất tác mà sát hại chúng sinh, lẽ ra cũng nên trở lại thế gian thụ tội, nhưng sự thật không phải như thế. Vì thế, không cố ý sát thì không thành tội báo.
Hỏi: Thế nào gọi là người khác?
Đáp: Tức không phải mạng chính mình. Nếu có một người khác để giết, thì người giết mới phạm tội sát sinh. Vì tự Sát thì không có đối tượng để sát. Tự đoạn mạng mình, không bị ác báo. Như a-la-hán tự sát mà không bị tội báo. Vì sao? Vì đã lìa tâm sân..., do đó tự sát không phạm tội sát.
Hỏi: Thế nào gọi là định và bất định tướng chúng sinh?
Đáp: Định tướng chúng sinh, như có trăm nghìn người tụ tập, mà chỉ khởi tâm quyết định giết một người trong số đó, nếu giết thì phạm tội sát; nếu giết lầm người khác thì không phạm tội sát. về bất định, vì xả tất cả, không quyết định người nào, cho nên hễ giết thì phạm tội sát. Vì người ấy không lìa tướng chúng sinh.
Hỏi: Thế nào gọi là nghi?
Đáp: Sát sinh với tâm nghi cũng chịu tội sát, vì đối tượng bị giết là chúng sinh, vì đã lìa bỏ tâm từ bi, cho nên cũng phạm tội sát.
Hỏi: Thế nào gọi là khởi phương tiện xả mạng?
Đáp: Nếu đối với việc giết mà khởi tâm bất thiện, nhất định muốn lấy mạng chúng sinh, không có tâm từ bi, tìm cách giết hại, gọi là khởi phương tiện.
Hỏi: Thế nào gọi là tướng tác, tướng bất tác, tướng vô tác?
Đáp: Tác tức là tạo tác, bất tác tức không tạo tác. Khi cùng khởi một hành động gì, sau đó tuy hành động này chấm dứt, nhưng các pháp thiện và vô kí vẫn nối tiếp, không gián đoạn. Như kinh nói: “Có một cư sĩ tín tâm tu tập mười công đức, đi đứng nằm ngồi luôn tạo công đức, ngày đêm luôn tăng trưởng công đức”. Vậy nếu lìa nghiệp thân khẩu mà không có nghiệp vô tác, thì làm sao tâm pháp sai biệt mà có thể tăng trưởng. Cho nên biết lìa thân khẩu vẫn có pháp vô tác. Lại nữa, chính mình không làm, khiến người khác làm, nếu không có nghiệp vô tác làm sao có ý này. Nếu không có pháp vô tác, thì lìa ba-la-đề-mộc-xoa lẽ ra cũng không có giới vô tác. Như vậy thì biết có pháp vô tác.
Hỏi: Thế nào là xa lìa trộm cắp?
Đáp: Trộm cắp có chín trường hợp:
- Lấy vật mà người khác đang giữ gìn.
- Nghĩ là cùa người: Nếu không khởi ý niệm cho vật ấy là của mình, không nói là vật của mình thì không có tội báo.
- Tâm nghi ngờ: Tâm nghi ngờ, không biết là vật của mình hay của người mà vội lấy; cần phải phân biệt rõ là của ai.
- Biết chẳng thuộc người: Biết là vật của người, nhưng lại nghĩ người ấy sẽ tùy thuận mình nên lấy dùng.
- Muốn đoạt lấy: tức khởi tâm muốn tổn hại người.
- Biết vật của người khác mà cho là của mình: Đó là thấy giống của mình mà lấy, hoặc lén lấy, hoặc lây nhanh, hoặc lấy các vật khác, hoặc lấy vật của người khác, hoặc lấy vật tưởng là của mình.
- Tác bất tác tướng, vô tác tướng: Giống như phần sát sinh ở trên.
Hỏi: Thế nào là xa lìa tà dâm?
Đáp: Tà dâm có tám trường hợp:
- Tà dâm với người nữ được cha mẹ... bảo vệ
- Nghĩ có người bảo vệ: Đã biết người nữ kia có cha mẹ bảo vệ và cũng khởi ý niệm có người bảo vệ mà vẫn hành tà dâm.
- Tâm nghi: Trong lòng nghi không biết người nữ này là của mình hay của người, hay có cha mẹ bảovệ, hay chẳng có ai bảo vệ, nếu hành dâm với người này, tức thành tà dâm.
- Đạo phi đạo: Hành dâm thuộc đạo và phi đạo. Đạo tức có đạo, phi đạo tức chẳng phải đạo.
- Hành dâm với người nữ không có ai bảo vệ.
- Hành dâm không đúng nơi, không đúng lúc.
- Tác bất tác tướng và Vô tác tướng thì như trong phần sát sinh đã hói. Nhưng trong phần tà dâm, không có pháp bất tác, vì chỉ cần tự tác liền thành.
Hỏi: Thế nào là xa lìa vọng ngữ?
Đáp: Vọng ngữ có bảy trường hợp:
- Thấy nghe hay biết mà vọng ngữ.
- Việc điên đảo và chẳng điên đảo: Việc điên đảo tức nghe đúng như việc ấy mà lại vọng ngữ; chẳng điên đảo tức biết đúng như việc ấy lại vọng ngữ.
- Tâm nghi ngờ mà vọng ngữ: Trong tâm còn nghi việc ấy như vậy hay chẳng phải như vậy, hoàn toàn như vậy hay hoàn toàn không như vậy mà lại vọng ngữ.
- Khởi tâm che giấu: Che giấu sự thật, nói khác với việc đã thấy biết.
- Tướng tác và bất tác thì giống như trong phần sát sinh.
Hỏi: Thế nào là xa Ha lưỡng thiệt?
Đáp: Lưỡng thiệt có bảy trường họp: khởi tâm bất thiện mà lưỡng thiệt, hoặc nói chân thật hoặc nóihư vọng, có tâm phá hoại, trước phá khiển cho người không hòa hợp, tác tướng, tướng bất tác. Bảy trường họp này dễ hiểu nên không cần giải thích.
Hỏi: Thế nào là xa lìa ác khẩu?
Đáp: Ác khẩu có bảy trường hợp: nương ý bất thiện, khởi tâm não loạn, nương tâm loạn, dùng lời ác mắng người, tướng tác, tướng bất tác, tướng vô tác.
Hỏi: Thế nào là xa lìa ỷ ngữ?
Đáp: Ỷ ngữ có bảy trường hợp:
- Nương ý bất thiện: tức nương vào tâm tương ưng với phiền não Tu đạo cõi Dục mà nói năng, thì thuộc ỷ ngữ.
- Nói lời vô nghĩa, không đúng thật nghĩa.
- Nói không đúng lúc: lời nói tuy có nghĩa, nhưng nói không đúng lúc, hoặc khi giảng thuyết trước đại chúng mà nói tùy tiện thì đều thuộc ỷ ngữ.
- Tương ưng với pháp ác: Đó là những lời nói vui đùa, lời phi pháp, lời ca múa... tương ưng với pháp bất thiện, đều thuộc ỷ ngữ.
- Tướng tác và bất tác thì như trong phần sát sinh đã nói.
Các nghiệp tham, sân, tà kiến vì dễ hiểu nên ở đây không cần phải giải thích.
Luận bàn: Trong kinh Sa-già-la long vương sở vắn, Như Lai dạy: “Long vương xa lìa sát sinh sẽ được mười pháp mát mẻ, không còn nóng bức, đó là:
một, ban cho tất cả chúng sinh sự vô úy; hai, an trú trong niệm đại từ; ba, đoạn trừ các tập khí phiền não lỗi lầm; bốn, được quả báo không bệnh tật; năm, tăng trưởng chủng tử thọ mạng; sáu, thường được phi nhân bảo vệ; bảy, ngủ nghỉ an ổn; tám, không thấy ác mộng, không còn tâm oán hận; chín, không sợ tất cả ngoại đạo; mười, sau khi chết sinh về cõi trời.
Này long vương! Nếu hồi hướng căn lành không sát sinh này về Vô thượng bồ-đề, thì khi vừa đắc Bồ-đề, tâm liền được tự tại, thọ mạng vô lượng. Như bồ-tát lìa nghiệp sát sinh, thực hành bố thí, thì được giàu có, của cải vô lượng, không gì có thể phá hoại, thọ mạng dài lâu, tu tập hạnh Bồ-tát, vượt qua tất cả những phiền não xấu ác của thế gian. Này long vương! Mười nghiệp đạo thiện cũng như vậy, có năng lực thành tựu những lợi ích lớn”.
78.5. DẪN CHỨNG
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Vua Ba-tư-nặc có một người con gái tên là Thiện Quang thông minh, đoan chính. Vua và hoàng hậu hết lòng thương yêu, tất cả cung phi đều kính mến. Vua cha nói với Thiện Quang:
- Con nhờ oai lực của ta mà trong cung ai cũng kính mến.
Thiện Quang thưa:
- Con vốn có nghiệp riêng, đâu cần nhờ vào phụ vương!
Vua cha nghe Thiện Quang nói, liền nổi giận nói:
- Nay ta sẽ thử xem sức nghiệp của con nhứ thế nào?
Vua liền sai cận thần tìm một người ăn xin hết sức thấp hèn, nghèo khó, gả cho Thiện Quang.
Vua nói:
- Con vốn. có-nghiệp riêng, không cần nhờ vào ta, từ nay có thể nghiệm biết!
- Con vốn có sức nghiệp riêng!
Thiện Quang vẫn trả lời như vậy, rồi cùng người nghèo ấy dắt nhau ra đi. Thiện Quang hỏi chồng:
- Chàng có cha mẹ không?
Người chồng đáp:
- Cha mẹ ta trước đây là một vị trưởng giả đứng đầu trong thành Xá-vệ này. Nay cha mẹ ta đã qua đời cả rồi, ta không còn chỗ nương tựa, do đó phải đi xin ăn.
Thiện Quang hỏi:
- Nay chàng còn nhớ ngôi nhà cũ của mình không?
Người chồng đáp:
- Nhớ chứ! Nhưng ngôi nhà đã bị hư hoại, chỉ bãi còn đất trống thôi!
Nói xong, người chồng dắt vợ trở về ngôi nhà cũ. Thiện Quang đi dạo quanh, nơi nàng đi qua thì kho báu tự nhiên xuất hiện. Thiện Quang liền dùng châubáu ấy, xây dựng nhà cửa, chưa được một tháng thì hoàn thành. Ngôi nhà như cung điện có rất nhiều kĩ nữ, tớ trai, tớ gái. Một hoom, vua chợt nhớ đến con gái và nghĩ: 'Không rõ cuộc sống của con ta như thế nào?’.
Lúc đó, có người tâu:
- Công chúa Thiện Quang hôm nay có cung điện, gia sản không kém bệ hạ!
Ngay hôm đó, công chúa bảo chồng đến thỉnh vua cha, vua cha nhận lời mời, đến thăm con gái. Vua thấy nhà cửa, cung thất của con trang nghiêm, ca ngợi là việc chưa từng có. Vua đem việc này đến thưa hỏi Đức Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Người con gái này đời trước tạo phúc nghiệp gì, mà đời nay được sinh vào dòng vua chúa, thân có ánh sáng?
Đức Phật dạy:
- Vào thời quá khứ cách đây chín mươi mốt kiếp, sau khi Đức Phật Tỳ-bà-thi nhập niêt-bàn, có vua Bàn-đậu tôn thờ xá-lợi Phật trong bảo tháp bằng bảy báu. Phu nhân của vua thấy vậy, liền dùng thiên quan đội lên đầu tượng, dùng hạt ngọc như ý trong thiên quan treo vào đầu cửa tháp, nhân đó phát lời nguyện: ‘Xin cho con đời sau, thân có ánh sáng màu vàng ròng, được sinh vào nhà giàu có tôn quý, không bị đọa vào ba đường ác, tám chỗ nạn’. Phu nhân ngày xưa nay chính là Thiện Quang.
Về sau, vào thời Đức Phật Ca-diếp, người vợ dùng món ăn ngon để cúng dường Phật và tăng, nhưng bị người chồng ngăn cản, người vợ liền cầu xin:
- Nay thiếp đã thỉnh cầu, xin chàng giúp cho mọi việc được hoàn mãn!
Người chồng đồng ý.
Người vợ lúc ấy chính là Thiện Quang bây giờ. Người chồng nay chính là chồng của Thiện Quang, do ngày xưa ngăn cản vợ cúng dường nên thường bị nghèo khó; nhờ đồng ý cho vợ cúng dường, nhưng cần phải làm chồng của Thiện Quang mới giàu sang; khi không còn làm chồng nữa thì lại nghèo khó. Do nhân duyên này mà nghiệp thiện ác đeo đuổi theo thân, cảm thọ quả báo, chẳng bao giờ mất”.
Kinh Tạp bảo tạng lại ghi: “Một hôm vua Ba-tư-nặc đang ngủ, nghe hai vị quan thị vệ cùng tranh luận đạo lý. Một vị nói:
- Ta sống nhờ vua.
Vị kia nói:
- Ta sống theo nghiệp của mình, không nhờ vào vua.
Vua nghe người nói sống nương nhờ vào vua, liền muốn ban thưởng cho ông ấy. Lập tức sai người hầu báo với phu nhân:
- Nay ta sẽ sai một người đến, nàng ban thưởng tài vật cho người ấy!
Vua liền bảo người sống nhờ vua ấy mang rượu đến dâng cho phu nhân. Người này vừa ra khỏi cửa, thì hộc máu mũi không thể đi được, mới nhờ người sống do nghiệp đi thay. Phu nhân gặp người này liền ban thưởng trọng hậu, nào là tài vật, y phục, chuỗi báu. Khi trở về chỗ vua, vua lấy làm lạ, liền gọi người sống nhờ vua đến và hỏi:
- Ta sai ngươi đi, tại sao ngươi không đi?
Người kia liền kể lại mọi việc. Nghe xong, vua rất vui và nói:
- Lời của Đức Phật rất chân thật! Tự tạo nghiệp thì nhận lấy quả báo, không ai đoạt lấy được.
Do đó, biết rõ thiện ác báo ứng do nghiệp dẫn dắt, chứ không do trời, không do vua ban tặng, chính là do tự làm thì tự hưởng. Phát khởi chính kiến, tin quả báo là do nghiệp, gần thì đạt được quả báo trời người, xa thì đạt được quả Phật; nếu trái với thánhgiáo, thì chịu đủ những đau khổ như trước đã nêu”.
Kinh Luân chuyển ngũ đạo ghi: “Giữa nước Xá-vệ và nước Ca-duy-la có cây ni-câu-loại cao hai mươi dặm, cành lá che phủ một vùng rộng sáu mươi dặm. Trái trên cây nhiều vô số kể, có thể hái đến mấy nghìn van hộc. Vị của trái này ngọt như mật và rất thơm, khi chín thì rơi rụng. Nếu ai có bệnh, ăn vào sẽ lành, mắt lại sáng. Một hôm Đức Phật đến ngồi nơi cội cây này, các tì-kheo nhặt trái ni-câu-loại để ăn. Đức Phật bảo A-nan:
- Tất cả vạn vật trong trời đất này đều có duyên xưa.
- Những gì là duyên xưa?_A-nan thưa.
- Con người tạo phúc, giống như cội cây này dần dần lớn lên cho vô số quả. Như có người do ngày xưa kính lễ Tam bảo mà nay làm bậc tôn quí, trưởng giả, quốc vương. Có người do ngày xưa bố thí mà nay giàu có, tài vật vô lượng. Có người do xưa trì giới mà nay sồng lâu, không bệnh tật, thân thể khoẻ mạnh, cường tráng. Có người khi xưa tu nhẫn nhục mà nay dung mạo đoan chính, nhan sắc xinh đẹp, trong sáng bậc nhât, mọi người đều thích nhìn. Có người ngày xưa tinh tấn mà nay siêng năng, thích tu tạo phúc đức. Lại có người khi xưa tu tập thiền định mà nay dáng vẻ ung dung, ngôn hạnh cẩn mật. Có người ngày xưa tu tập trí tuệ mà nay thông minh, thấu tỏ pháp sâu xa. Có người ngày xưa dùng lời ca hát, tán dương Tam bảo mà ngày nay có được âm giọng trong và vang, ai cũng thích nghe. Có người khi xưa tu tâm từ mà nay được thân tâm thanh khiết, không bị bệnh khổ.
Thế Tôn vừa nói đến đây thì A-nan vội thưa: ‘Thế nào gọi là từ?’. Phật dạy:
- Một là lòng từ đối với chúng sinh như mẹ thương con; hai là lòng bi đối với thế gian, muốn tất cả đều được giải thoát; ba là tâm luôn hoan hỉ đối với đạo tâm giải thoát; bốn là hộ trì tất cả, để không khuyết phạm.
Đức Phật dạy tiếp:
- Ngày nay được quả báo thân hình cao lớn là do xưa cung kính mọi người, có thân hình thấp bé là do xưa khinh mạn người, thân thể thô xấu là do khi xưa thích sân hận, vừa sinh ra đã vô tri là do khi xưa không học hỏi, ngu si là do khi xưa không chỉ dạy cho người, câm ngọng là do khi xưa hủy báng người, tai điếc là do xưa không nghe giáo pháp, làm nô bộc là do khi xưa có nợ không chịu trả và không kính lễ Tam bảo, thân hình đen xấu là do khi xưa che chắn ánh sáng trước Phật.
Người bị sinh vào nước Lõa Hình là do khi xưa là do mặc y phục mỏng vào tinh xá, bị sinh vào nước Mã Đề là do khi xưa mang guốc dép đứng trước Phật, sinh vào nước Xuyên Hung là do khi xưa làm phúc mà lại hối tiếc, sinh vào các loài hươu-nai-mang-hoẵng là do khi xưa thích dọa dẫm người, sinh vào loài rồng là do khi xưa đùa cợt và sân hận người.
Thân bị các bệnh ung bướu-cùi hủi không thể chữa trị đau đớn cùng tột là do khi xưa thích đánh đập chúng sinh. Người khác nhìn thấy mình đều vui là do ngày xưa lòng vui khi nhìn người; người khác nhìn thấy không vui là do ngày trước không vui khi nhìn người. Ngày nay bị quan quân bắt giam vào ngục, thân bị xiềng xích gông cùm là do ngày xưa thích bắt nhốt cột trói chúng sinh. Ngày nay bị sứt môi là do ngày xưa dùng móc câu làm rách miệng cá.
- A-nan! Những kẻ ngày nay ngồi trong pháp hội mà không lắng nghe, lại nói những lời đâm thọc làm rối loạn tâm thính chúng, mai sau sẽ sinh làm loài lừa ngựa tai dài. Ngày nay tham lam bỏn xẻn, hẹp lượng, thích ăn một mình, sau khi chết rơi vào loài ngạ quỉ, sau sinh làm người thì nghèo cùng khốn khổ, không đủ cơm ăn, không có áo mặc. Người dành thức ăn ngon cho mình, bố thí cho người thức ăn thô dở, mai sau sinh vào loài heo và bọ hung. Người thích lột trần người khác, đời sau sinh vào loài dê, sẽ bị người lột da. Người thích sát sinh, mai sau sinh vào loài phù du, sáng sinh chiều chết. Người ưa trộm căp, đời sau làm nô tì, trâu ngựa. Người thích nói dối, loan truyền điều xấu của người khác, sau khi chết nhât định rơi vào địa ngục, uống nước đồng sôi, kéo lưỡi cho trâu cày, sau đó lại sinh làm cú mèo, ai nghe tiếng kêu cũng đều sợ hãi, đồng nói: ‘Tai họa, tai họa! Mong cho mầy chết đi!’. Người thích hành dâm với vợ người, sau khi chết rơi vào địa ngục, nam thì ôm cột đông nóng đỏ, nữ thì nằm giường sắt nóng, sau lại sinh vào loài voi, gà, vịt đa dâm. Người uống rượu say, phạm đủ ba mươi sáu lỗi, sau khi chết rơi địa ngục phân tiểu, rồi sinh làm loài Tinh tinh, sau được là người thì ngu si vô trí. Vợ chồng không hòa thuận, luôn tranh cãi, xua đuổi nhau, sau khi chết sẽ làm loài bồ câu. Người ngày xưa tham ưa sức mạnh, sau khi chết sinh vào loài voi.
Đức Phật lại dạy:
- Người làm quan hưởng bổng lộc triều đình thì không có tội, nhưng nếu tham ô của nhân dân, vô cớ bắt bớ đánh đập, đày đi nơi xa khiến họ không có chỗ kêu oan, gông cùm xiềng xích chẳng biết tha thứ, thì sau khi chết rơi vào địa ngục, thần thức chịu khổ mấy nghìn vạn kiếp, thụ tội địa ngục xong lại sinh làm trâu, xỏ mũi xâu tai, kéo xe kéo thuyền, bị đánh bị đập liên miên không dứt để đền tội trước đã gây. Thân thể dơ bẩn, không sạch sẽ, người này vừa từ loài heo sinh đến. Người tham lam bỏn xẻn, không biết bố thí, là người vừa từ loài chó sinh đến. Tính tình hung bạo, ngang bướng tùy tiện, người này vừa từ loài dê sinh đến. Không ung dung, không nhẫn nại, người này vừa từ loài khỉ vượn sinh đến. Lòng hung dữ ác độc, người này vừa từ loài rắn độc sinh đến. Thích ăn ngon, dọa sợ chúng sinh, không có tâm thiện, người này vừa từ loài chồn sói sinh đến"
Kinh Phật thuyết Tu-ma-đề nữ ghi: “Trưởng giả Úc-già ở thành La-duyệt-kì có một cô con gái tám tuổi tên là Tu-ma-đề. Cô này nhiều đời phụng kính vô số trăm nghìn Đức Phật quá khứ, tích lũy công đức nhiều không thể tính kể. Một hôm Tu-ma-đề đến trụ xứ của Phật, đỉnh lễ nơi chân Ngài rồi đứng qua một bên chấp tay bạch:
- Bạch Thế Tôn! Con có điều muốn thưa hỏi, xin Ngài chỉ dạy!
Đức Phật bảo:
- Không rõ điều gì, con cứ hỏi, Ta sẽ giải thích thỏa đáng.
Thế là Tu-ma-đề bạch:
- Bạch đức Thế Tôn! Vì sao các vị bồ-tát sinh ra nơi nào, khi nhìn thấy mọi người đều vui? Vì sao luôn giàu sang, có vô lượng châu báu? Vì sao không bị người khác xa lìa? Vì sao không ở trong thai mẹ, luôn được hóa sinh trong hoa sen nghìn cánh, đứng trước đấng Pháp vương? Vì sao được thân túc, có thể từ cách xa vô lượng cõi nước đến đỉnh lễ Phật? Vì sao không có ai oán thù, ganh ghét? Vì sao nói ra điều gì mọi người đều tin nhận, vui vẻ hành trì? Vì sao không có tai họa, các việc thiện mà các ngài tu tạo không gì có thể phá hoại? Vì sao ma không có cơ hội quấy phá? Vì sao lúc lâm chung được Phật hiện đến trước mặt nói kinh pháp, khiến không rơi vào nơi thống khổ?
Đức Phật nói:
- Thật hay thay, những ý nghĩa mà con đã hỏi! Như Lai vui lắm! Đúng như vậy! Nếu con muốn nghe, Như Lai sẽ nói rõ!
Tu-ma-đề liền thưa: ‘Quí thay! Con mong được nghe!’.
Đức Phật dạy:
- Do bốn pháp mà khi nhìn thấy bồ-tát, mọi người đều vui: một, không sân hận, xem oan gia như thiện tri thức; hai, trải lòng từ đến khắp muôn loài; ba, luôn cầu pháp Vô thượng; bốn, tạo hình tượng Phật.
- Do thực hành bốn việc mà bồ-tát vô cùng sang giàu: một, bố thí đúng lúc; hai, sau khi bố thí, lòng càng vui hơn; ba, sau khi bố thí, tâm không hối tiếc; bốn, bố thí mà không mong báo đáp.
- Do thực hành bốn việc mà bồ-tát không bị người khác rời bỏ: một, không truyền những lời xấu ác để khiến đây kia tranh đấu; hai, dẫn dắt người ngu si vào Phật đạo; ba, nếu có người phá hoại chính pháp thì bảo vệ được toàn vẹn; bốn, khuyên bảo, thúc giục mọi người cầu Phật đạo, khiến tâm họ kiên cố, không xao động.
- Do tu tập bốn việc mà bồ-tát không trụ trong thai mẹ, luôn được hóa sinh trong hoa sen nghìn cánh, đứng trước đấng Pháp vương: một, nghiền chung bốn loại hoa sen hồng, xanh, vàng, trắng thành bột mịn rồi dâng cúng Phật, tháp hay xá-lợi Phật; hai, không làm cho người khác khởi tâm sân hận; ba, tạo hình tượng Phật ngồi trên hoa sen; bốn, thành tựu Tối chính giác, tâm luôn hoan hỉ.
- Do hành bốn việc mà bồ-tát được thần túc, có thể đi từ cõi Phật này đến cõi Phật khác cách nhau vô lượng cõi nước: một, thấy người đang tạo công đức, không ngăn cản; hai, thấy người đang thuyết pháp,không chặn nửa chừng; ba, luôn thắp đèn trong chùa tháp; bốn, chuyên tâm cầu tam-muội.
- Do tu tập bốn việc mà bồ-tát không có ai oán thù, ganh ghét: một, không dua nịnh thiện tri thức; hai, không tham lam bỏn xẻn, không ganh tị với người; ba, thấy người bố thí thì cổ vữ để người vui; bốn, không chê bai phỉ báng các việc làm của bồ-tát.
- Do hành bốn việc mà bồ-tát nói ra điều gì mọi người đều tin theo, vui vẻ hành trì: một, lời nói và tâm niệm đồng nhất; hai, luôn khởi tâm chí thành đối với thiện tri thức; ba, nghe người thuyết pháp không khởi tâm bàn luận đúng sai; bốn, thấy người đến thỉnh thuyết pháp, không tìm lỗi của họ.
- Do thực hành bốn việc mà bồ-tát không có tai họa, các việc thiện mà các ngài tu tạo không gì có thể phá hoại, mau chóng được tịnh trụ: một, tâm ý luôn nghĩ đên pháp thiện; hai, luôn giữ giới, tu tập trí tuệ, thực hành tam-muội; ba, vừa phát tâm bồ-tát, liền khởi Nhất thiết trí, độ thoát nhiều chúng sinh; bốn, khởi lòng thương xót tất cả chúng sinh.
- Do tu bốn pháp mà bồ-tát không bị quấy phá: một, luôn nghĩ nhớ Phật; hai, nhất tâm tinh tấn; ba, luôn niệm tụng kinh pháp; bốn, luôn kiến lập công đức.
- Do thực hành bốn việc mà lúc lâm chung, bồ-tát được Phật hiện đến trước mặt nói kinh pháp, khiến không rơi vào nơi thống khổ: một, vì tất cả chúng sinh mà thành tựu các nguyện; hai, nếu thấy người bố thíkhông đầy đủ, thì nghĩ muỗn làm cho đầy đủ; ba, thấy người bố thí nhiều vật dụng, nếu có thiếu thốn thì hỗ trợ; bốn, luôn muốn cúng dường Tam bảo.
Tu-ma-đề nghe Phật dạy, liền thưa: ‘Bạch Thế Tôn! Bốn mươi việc mà Ngài vừa dạy, con sẽ cung kính thực hành trọn vẹn, không thiếu sót, không sai lệch.
Kinh Trưởng giả tử Biện Ý ghi! ‘‘Lúc Đức Phật đang thuyết pháp cho vô số đại chúng nghe, thì đại trưởng giả tử Úc-già cùng năm trăm trưởng giả tử khác từ thành Xá-vệ đến đỉnh lễ Ngài rồi chắp tay thưa:
- Bạch Thế Tôn! Con có điều muốn hỏi, cúi xin Thế Tôn xót thương chỉ dạy! Do nhân duyên gì mà được sinh lên cõi trời, vào loài người, rơi địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh? Do nhân duyên gì mà sinh vào dòng họ cao quí được mọi người tôn kính; sinh vào hàng nô tì bị người khinh chê? Do nhân duyên gì mà sinh làm người, hơi miệng thơm sạch, thân tâm thường an ổn, được người khen ngợi, không bị khinh chê? Do nhân duyên gì đã được sinh làm người mà bị người phỉ báng, ghét bỏ, thân hình xấu xí, thân tâm bất an, lòng luôn lo sợ? Do nhân duyên gì mà sinh ra nơi nào cũng được gặp Phật, nghe pháp, phụng sự chúng tăng, không chút trái nghịch, gặp thiện tri thức liền được tâm thiện, nếu làm sa-môn sẽ được sở nguyện.
Những điều con muốn hỏi như vậy, cúi xin Thế Tôn phân tích, giảng nói khiến chúng hội nghe được chính giáo, nguyện tất cả được qua bờ kia an lạc.
Đức Phật dạy:
- Này trưởng giả tử! Các vị hãy lắng nghẹ và suy nghĩ kĩ, Ta sẽ giảng nói những điều cốt yếu sâu xa cho các ông nghe.
- Do thực hành năm việc mà được sinh cõi trời: một, khởi tâm từ, không sát sinh, thương yêu nuôi dưỡng chúng sinh, khiến chúng được an ổn; hai, lương thiện, không trộm vật dụng của người khác, thường bố thí, cứu giúp những kẻ nghèo khổ, không tham lam; ba, giữ lòng trong sạch, không phạm sắc dục nam nữ, siêng năng giữ giới trì trai; bốn, chân thật, không dối gạt người, giữ gìn bốn lỗi của khẩu nghiệp, không được tham lam dối trá; năm, không uống rượu. Nếu thực hành năm việc này mới được sinh lên cõi trời.
- Do thực hành năm việc mà được sinh vào cõi người: một, bố thí, tức ban ân huệ nhuần thấm kẻ nghèo khốn; hai, giữ giới, không phạm mười điều ác; ba, nhẫn nhục, không làm loạn tâm mọi người; bốn, tinh tấn, tức khuyên hóa người, không bao giờ nhàm bỏ; năm, một lòng tận trung, tận hiếu. Nếu thực hành năm việc này mới được sinh vào cõi người, lại được giàu sang, sống lâu, thân hình đoan chính, đầy đủ uy đức, làm chủ thiên hạ, tất cả đều tồn kính phụng sự.
- Do gây tạo năm việc, nên sau khi chết rơi vào địa ngục ức kiếp mới thoát: một, không tin có Tam bảo, phỉ báng, xem thường thánh đạo; hai, phá hoại chùa Phật, tôn miếu; ba, phỉ báng bổn chúng, không kể tội lỗi, không có tâm kính thuận; bốn, phản nghịch, không tùy thuận nhau, không phân biệt trên dưới, vua tôi, cha con; năm, mai sau xin vào đạo, khi đã được rồi thì không chịu nghe lời dạy của thầy tổ mà cống cao ngã mạn, khinh chê thầy
- Do gây tạo năm việc, nên sau khi chết rơi vào ngạ quỉ: một, tham lam không muốn bố thí; hai, trộm cắp, không hiếu thuận với cha mẹ; ba, ngu si, không có lòng từ; bốn, chỉ biết cất giữ tài vật, không dám ăn mặc; năm, lại cũng không cung cấp cho cha mẹ, anh em, vợ con, nô bộc.
- Do gây tạo năm việc, nên sau khi chết rơi vào loài súc sinh: một, phạm giới và trộm cắp; hai, thiếu nợ mà không trả; ba, sát sinh lấy thân chúng để trả nợ; bốn, nghe pháp với tâm bất thiện; năm, thường cho là khó khăn, nên trai giới, bố thí đều lấy thế tục làm nhân duyên.
- Do thực hành năm việc mà làm người tôn quí, được mọi người kính trọng: một, bố thí rộng khắp; hai, lễ kính Tam bảo và các bậc tôn trưởng; ba, nhẫn nhục, không sân hận; bốn, nhu hòa, khiêm hạ; năm, hiểu rộng kinh và giới.
- Do tạo năm việc mà sinh vào nhà kẻ thấp hèn, làm nô bộc cho người: một, ngã mạn, không cungkính cha mẹ; hai, ngang bướng, không biết kính thuận ba, buông lung, không biết kính lễ Tam bảo; bốn, trộm cắp của người để sinh sống; năm, mắc nợ, lần trốn không chịu trả.
- Do thực hành năm việc mà được sinh làm người hơi miệng thơm sạch, thân tâm thường an ổn, được người khen ngợi, không bị khinh chê: một, chân thành, không dối gạt người; hai, khi tụng kinh tâm ý chuyên nhất; ba, giữ giới nghiêm, không chê thánh đạo; bốn, dạy người làm lành lánh ác; năm, không xét nét điều hay điều dở của người khác.
- Do tạo năm việc mà sinh làm người thường bị phỉ báng, ghét bỏ, thân hình xấu xí, thân tâm bất an, lòng luôn lo sợ: một, không chân thành, hay dối gạt người; hai, phỉ báng người thuyết pháp trong pháp hội lớn; ba, gặp bạn đồng học thì xem thường, muốn thử tài; bốn, không thấy việc làm của người mà cho là làm sai; năm, nói lời đâm thọc làm cho đây kia tranh đấu nhau.
- Do thực hành năm việc mà sinh ra nơi nào cũng được gặp Phật, nghe pháp, phụng sự chúng tăng, không chút trái nghịch, gặp thiện tri thức liền được tâm thiện, nếu làm sa-môn sẽ được sở nguyện: một, bản thân kính thờ Tam bảo, khuyên người kính thờ Tam bảo; hai, khi tạo hình tượng Phật, phải nhất tâm thanh tịnh; ba, tuân lời Phật dạy, không trái phạm những điều đã lãnh thụ; bốn, trải lòng từ đến khắp muôn loài, xem như cha mẹ, như con ruột, không saikhác; năm, ngày đêm tụng đọc, thụ trì những kinh giáo đã lãnh thụ.
Trưởng giả tử Biện Ý nghe Đức Phật thuyết nghĩa căn bản của năm mươi việc, trong lòng vô cùng vui mừng, hoát nhiên đắc Pháp nhẫn. Năm trăm trưởng giả tử đều được Pháp nhãn tịnh; đại chúng trong hội đều đạt được ý nguyện của mình”.
Có bài tụng:
Tâm cảnh cùng nương nhau
Nghiệp kết luôn trói buộc
Thức thứ bảy phát động
Thức thứ tám làm nhân
Thụ báo khắp sáu đường
Đổi dời trong ba cõi
Việc việc đều tạo nghiệp
Chốn chốn thảy buộc ràng
Khiến năm ấm nhọc nhằn
Chín não thật khốn đốn
Nếu chẳng có Từ tôn
Làm sao tâm lợi ích
Hàm linh đều nhuần thấm
Muôn loại ngộ bến huyền
Duỗi ra thì lợi vật
Nắm lại tự an nhiên.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
15/12/2015
PUCL QUYỂN 70 - CHƯƠNG THỤ BÁO (tt)
QUYỂN 70 Quyển này tiếp theo chương Thụ báo. 79. CHƯƠNG THỤ BÁO (tt) 79.11. QUẢ BÁO ÁC Nêu có hình thì ảnh hiện, có tiếng tức có vang. Chưa thấy việc hình còn mà ảnh đã mất, tiếng đang dội mà vang đã dừng. Lẽ thiện ác có...
15/12/2015
PUCL QUYỂN 69 - CHƯƠNG THỤ BÁO
QUYỂN 69 Quyển này gồm một chương Thụ báo. 79. CHƯƠNG THỤ BÁO 79.1. LỜI DẪN Nghiệp dụng của thiện ác chính là biểu hiện của ba báo. Cả hai giống như bóng theo hình, rõ ràng như sáu đường đã minh chứng. Ba báo: - Hiện báo...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 67 - CHƯƠNG OÁN KHỔ (tt)
QUYỂN 67 Quyển này tiếp theo chương khổ. 77. CHƯƠNG OÁN KHỔ (tt) 77.6. CÁC LOẠI VI TRÙNG TRONG THÂN Thiền bí yếu pháp ghi: “Lại nữa, Xá-lợi-phất! Lúc hành giả nhập thiền định, dục giác phát khởi gió tham dâm, kích động b...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 66 - CHƯƠNG OÁN KHỔ
QUYỂN 66 Quyển này có một chương Oán khổ. 77. CHƯƠNG OÁN KHỔ 77.1. LỜI DẪN Ba cõi xoay vần, sáu đường chìm nổi. Bản tính sáng suốt không biến hoại, ý thức phân biệt luôn chấp trì; chợt sinh chợt tử, lúc đến lúc đi, thân...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 65 - CHƯƠNG PHÓNG SINH, CỨU NGUY
QUYỂN 65 Quyển này gồm hai chương: Phóng sinh và Cứu nguy. 75. CHƯƠNG PHÓNG SINH 75.1. LỜI DẪN Từng nghe: chúng sinh si mê, loài nào cũng tham sống; hàm linh ngu độn, sợ chết là lẽ thường. Thế nên, hổ bị mất rừng cùng kh...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 64 - CHƯƠNG SĂN BẮN, CHÀI LƯỚI
QUYỂN 64 Quyển này gồm hai chương: Săn bắn-chài lưới, Từ bi. 73. CHƯƠNG SĂN BẮN-CHÀI LƯỚI 73.1. LỜI DẪN Kính nghĩ: Như Lai lập giáo, rất chuộng nhân từ, nên trong các giới điều, sát sinh là nặng nhất. Bởi chúng sinh tham...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 63 - CHƯƠNG CẦU MƯA VÀ VƯỜN CÂY
QUYỂN 63 Quyển này gồm hai chương: cầu mưa và Vườn cây. 71. CHƯƠNG CẦU MƯA 71.1. LỜI DẪN Thánh đạo rỗng lặng, nên biến hóa vô cùng; do biến hóa vô cùng, nên hễ ứng hiện thì đều khế hợp. Gần đây, âm dương vận hành không đ...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 62 - CHƯƠNG CÚNG TẾ VÀ XEM TƯỚNG
QUYỂN 62 Nội dung quyển này gồm hai chương: Cúng tế và Xem tướng. 69. CHƯƠNG CÚNG TẾ 69.1. LỜI DẪN Trộm nghe: Báu vật vàng và ngọc khác nhau, nhưng mọi người đều quí chuộng. Giáo nghĩa của Lão và Khổng sai biệt, nhưng tấ...
