PUCL QUYỂN 65 - CHƯƠNG PHÓNG SINH, CỨU NGUY
11/12/2015
QUYỂN 65 Quyển này gồm hai chương: Phóng sinh và Cứu nguy. 75. CHƯƠNG PHÓNG SINH 75.1. LỜI DẪN Từng nghe: chúng sinh si mê, loài nào cũng tham sống; hàm linh ngu độn, sợ chết là lẽ thường. Thế nên, hổ bị mất rừng cùng kh...

QUYỂN 65
Quyển này gồm hai chương: Phóng sinh và Cứu nguy.
75. CHƯƠNG PHÓNG SINH
Từng nghe: chúng sinh si mê, loài nào cũng tham sống; hàm linh ngu độn, sợ chết là lẽ thường. Thế nên, hổ bị mất rừng cùng khốn, phải nương mạng nơi am tranh; chim bị gãy cánh kinh tâm, đành ẩn thân bên cạnh án. Đến như Dương Sinh nuôi chim sẻ, đâu có ý muốn vòng ngọc, họ Khổng thả rùa vốn vô tình với ấn vàng; thế mà nhân lành âm thầm đến, quả tốt đáp trả chẳng sai. Mới hay, việc gây nhân thụ quả rõ ràng như ban ngày.
Vả lại, từ bi giáo hóa lấy cứu khổ làm đầu, tâm nguyện rộng lớn lấỵ độ sinh làm gốc. Song danh gia vọng tộc ở năm đô đều bày đỉnh mà khoe sang giàu;
Luật Thập tụng ghi: “Đức Phật dạy:
- Vào thời quá khứ, gần chân núi Tuyết có con nai đầu đàn tên là Uy Đức, thống lĩnh đàn nai năm trăm con. Bấy giờ có người thợ săn đặt thức ăn rồi giăng lưới, nai đầu đàn đi trước, chân phải mác vào lưới. Nó suy nghĩ: ‘Nếu ta vẫy vùng thì cả đàn nai sẽ không dám đến ăn, phải đợi cả đàn ăn xong mới kiếm cách thoát thân’.
Cả đàn ăn xong, nai đầu đàn vẫy vùng, các con khác đều bỏ đi, chỉ còn một con nai cái ở lại. Nó nói kệ:
Đại vương! Hãy nên biết,
Thợ săn sắp đến rồi,
Xin cố gắng tìm cách,
Thoát khỏi mảnh lưới này.
Nai đầu đàn dùng kệ trả lời:
Ta cố tìm nhiều cách,
Đã dùng hết sức rồi,
Lưới ngày càng thắt chặt,
Không thể nào thoát ra.
Lúc ấy thợ săn đến, nai cái liền nói kệ:
Ông hãy dùng dao bén,
Trước giết chết thân tôi,
Sau đó xin hãy thả,
Nai chúa được ra đi.
Ta sẽ không giết ngươi,
Cũng không giết nai chúa,
Mà sẽ thả cả hai,
Muốn đi đâu tùy ý.
Nói rồi thợ săn liền tháo dây mở lưới thả nai đầu đàn.
Đức Phật dạy :
- Nai đầu đàn thuở ấy chính là Ta, đàn nai năm trăm con chính là năm trăm tì-kheo hôm nay.
Còn nữa, thuở xưa có con nhạn đầu đàn bị thợ săn bắt được, lại có một con nhạn bạn nó muốn dến thế mạng. Nhạn đầu đàn bèn nói kệ đáp tạ ý tốt của bạn. Thợ săn thấy thế động lòng thương xót nên thả cả hai. Sau đó, chim nhạn tìm châu báu đền ơn thợ săn. Đại ý cũng giống như câu chuyện trên"
Luận Đại trí độ ghi: “Vua nghe nai đầu đàn trình bày, liền đứng dậy thuyết kệ:
Ta thật là súc sinh,
Chính là người đầu nai,
Ngươi tuy là thân nai,
Mà là nai đầu người.
Theo lí mà luận bàn
Chớ lấy tướng định người,
Nếu giàu lòng từ bi,
Tuy thú nhưng là người.
Bắt đầu từ hôm nay,
Ta không ăn cá thịt,
Sẽ dùng vô úy thí,
Để lòng ngươi được an ”.
Luật Thiện kiến ghi: “Một hôm, ngài Mục-kiền-liên-tử Đế-tu nói kinh Bản sinh cho vua A-dục nghe:
Đại vương! Thuở xưa có một con chim chá cô bị người bắt nhốt trong lồng rồi đặt dưới đất. Nó rầu rĩ lo sợ, kêu gào inh ỏi. Bấy giờ, bầy chim chá cô nghe tiếng kêu liền tụ tập đến và tất cả đều bị người kia bắt giết. Thấy vậy, chim chá cô sinh nghi, hỏi đạo nhân:
- Đồng loại bị giết, tôi có tội không?
Đạo nhân hỏi lại:
- Lúc ngươi kêu gào có tâm muốn giết chúng không?
Chim chá cô nói:
- Tôi chỉ kêu cứu mạng, bạn tôi kéo đến chứ tôi không có tâm giết hại.
Đạo nhân nói:
- Nêu ngươi không có tâm giết hại thì không có tội.
Chẳng do nghiệp mà phạm,
Chẳng do tâm mà khởi,
Người trí khéo nhiếp ý,
Tội chẳng đến thân ngươ"
Luật Tăng-kì ghi: “Phật dạy các tì-kheo:
- Vào thời quá khứ, tại Hương sơn có một vi tiên nhân ẩn tu. Cùng lúc ấy, có một con ba ba sống trong hồ cách núi này không xa.
Một hôm, ba ba lên bờ kiếm ăn, sau khi ăn uống no nê, nó hướng về phía mặt trời há miệng mà ngủ. Bấy giờ bầy khỉ trong Hương sơn xuống hồ uống nước, khi lên bờ chúng thấy con ba ba đang há miệng nằm ngủ. Một con khỉ liền đến làm chuyện dâm dục, nó dùng sinh căn đưa vào miệng con ba ba. Ba ba chợt tỉnh giấc ngậm miệng lại và thu sáu chi vào trong mai. Giống như bài kệ:
Người ngu si chấp tướng,
Như ba ba ngậm vật,
Thất thủ, Ma-la bắt,
Không chặt thì chẳng tha.
Bấy giờ, ba ba cắn chặt con khỉ muốn lôi xuống hồ, khỉ vô cùng sợ hãi, nghĩ: ‘Nếu ta bị kéo xuống nước chắc chắn phải chết’. Nhưng vì đau đớn, kiệt sức, khỉ mặc tình cho ba ba kéo đi. Ba ba lôi khỉ đi một
đoạn thì gặp phải chỗ gập ghềnh nên bị lật ngửa. Tức thì, khỉ dùng hai tay nhấc ba ba lên và nghĩ: ‘Ai sẽ giúp ta thoát khỏi khổ nạn này?’. 'Khỉ biết có vị tiên nhân ở trong núi, nó thầm nghĩ: ‘Người này sẽ cứu ta’. Thế rồi, nó ôm con ba ba đi đến chỗ vị tiên nhân. Từ xa trông thấy chúng, tiên nhân nghĩ: ‘Trời ơi! Thật là việc kì lạ! Con khỉ đang làm gì đây? Có phải nó muốn đùa giỡn chăng?’. Tiên nhân cất tiếng hỏi:
- Này khỉ ! Ngươi được bảo vật gì đựng đầy bát đem đến đây? Nghe được tin tức gì mà đến đây?
Bấy giờ con khỉ liền nói kệ :
Tôi, con khỉ ngu si,
Vô cở phạm kẻ khác,
Xin hiền sĩ cứu nguy,
Chứ mạng chẳng còn lâu.
Hôm nay bà-la-môn,
Nếu người không cứu tôi,
Sinh chi sắp bị đứt,
Cùng khốn trở về rừng.
Tiên nhân nói kệ đáp:
Ta giúp ngươi thoát được,
Trở về với núi rừng,
Sợ ngươi là giống khỉ,
Thói cũ ấy lại sinh.
Thế rồi, tiên nhân kể cho ba ba một câu chuyên về kiếp trước của nó:
Ba ba ngươi ngày xưa,
Có tên là Ca-diếp,
Khỉ kia trong kiếp ấy,
Hiệu là Kiều-trần-như,
Xưa đã làm dâm dục,
Nay nên dứt duyên này,
Ca-diếp! Thả Trần-như,
Được trở về núi rừng.
Có bài tụng:
Xét tất cà thân thuộc Cách đời liền dối nhau Chỉ tìm vui trước mắt Chẳng biết mai khổ sầu Kéo ta vào ba đường Thống khổ, vạn hiểm nguy Chảng hành từ, phóng xả Mạng sống chẳng dài lâu.
75.3. CẢM-ỨNG
Đời Đường, Mã Gia Vận ở quận Ngụy: Vào buổi tối một ngày tháng giêng, niên hiệu Trinh Quán thứ sáu (632), ông vừa ra cửa chính, thì gặp hai người dắt hai con ngựa đang đứng tại gốc cây bên ngoài. Ông hỏi là ai, thì họ đáp:
- Đông Hải công sai chúng tôi đón Mã Sinh đây!
Gia Vận là người có học thức, nổi tiếng khắp châu huyện, thường được sứ giả trong triều và khách quí khắp nơi mời diện kiến. Cho nên khi nghe nói như vậy, ông chẳng mảy may ngạc nhiên, liền nói:
- Ta không có ngựa!
Người kia đáp:
- Dâng ngựa! Chúng tôi dùng ngựa này để đón Mã Sinh!
Ông liền đến bên gốc câỵ, vọt lên ngựa mà đi, tức thì thân ông ngã nằm trên đất. Thần thức ông được hai người kia dẫn đi một đoạn thì đến một phủ quan, khi bước qua cổng lớn thì thấy mấy mươi nam nữ đang đứng bên ngoài, giống như đang đi kiện. Trong số đó có một phụ nữ họ Nguyên từng quen biết, vốn là vợ của Trương Công cẩn, người cùng quận. Trong tay bà này đang cầm một tờ giấy, đến nói với ông:
- Mã Sinh còn nhớ tôi không? Ngày xưa Trương tổng quản có giao du với ngài, nên tôi đã mấy lần được diện kiến. Tổng quản độc ác, vô cớ giết chết tôi, nay tôi tố cáo hắn ta lên thiên tào, đến nay đã ba năm. Nhưng do Vương Thiên chủ bảo vệ Công cẩn, cho nên luôn bị xử ép. Hôm nay mới được minh oan, quan đã truy bắt hắn, không bao lâu nữa sẽ dẫn đến, nghi ràng một mình tôi bị hại oan, Mã tiên sinh cũng đến đây sao?
Ông vốn biết bà họ Nguyên bị giết, bây giờ thấy bà, ông mới biết mình cũng đã chết. Lúc ây sứ dẫn ông vào cửa sảnh đường, người gác cửa nói:
- Hải công còn ngủ, chưa thể gặp được! Mời đến chỗ ti hình Hoắc ngồi đợi.
Ông thấy quan ti hình chính là Hoắc Chương, vốn là quan Hành đài lang trung ích châu. Thấy ông đến, Hoắc Chương nói:
- Phủ này thiếu quan Kí thất, Đông Hải công nghe huynh tài cao, học rộng, nên muốn mời nhận chức vụ này. Ông nói:
- Kẻ hèn này, chỉ muốn chăm sóc vợ con, không có ý muốn làm quan. Nếu được miễn cho, thì may mắn quá!”
Hoắc Chương nói:
- Nếu không muốn làm thì nói mình không có học. Tôi có một người quen, có thể đề cử ông ta đảm nhiệm”
Bỗng có người đến báo:
- Hải công đã thức giấc, hãy đưa Gia Vận vào!
Khi vào, ông thấy một người da đen sì, lùn mập đang ngồi trong sảnh đường. Vị này gọi ông đến trước mặt và bảo:
- Nghe nói ngươi tài cao học rộng, ta muốn mời nhận chức Kí thất nơi đây. Làm được chăng?
Ông lễ tạ rồi thưa:
- Thật là may mắn cho hạ dân, nhưng kẻ hèn này quê mùa, hằng ngày chỉ dạy kinh thư cho học trò, nên không đủ khả năng nhận chức Kí thất.
Công lại hỏi:
- Biết Hoắc Chương không?
Đáp: “Dạ biết!”. Công liền cho gọi đến, rồi hỏi về tài học của Gia Vận. Hoắc Chưomg đáp:
- Lúc còn sống chỉ biết ông ta giỏi kinh thư, chứ không thấy sáng tác văn chương.
Công lại hỏi:
- Vậy ai có tài văn chương?
Ông đáp:
- Trần Tử Lương là người giỏi văn chương.
Công ra lệnh:
- Hãy cho Gia Vận trở về !
Sau đó Đông Hải công ra lệnh truy bắt Tử Lương. Khi ông từ biệt, Hoắc Chương nói:
- Xin huynh về thuật lại lời này với cẩu nhà tôi rằng: ‘Lúc sắp chết, ta bảo con bán con vật ta cưỡi hằng ngày để xây tháp Phật. Sao nay ngươi lại bán con ngựa ấy để tiêu xài riêng! Hãy mau theo lời ta bảo mà tạo tháp đi! Nói cẩu nhà tôi, tức là đứa con trưởng đó!
Ông lại hỏi:
- Vừa rồi tôi có gặp vợ Trương Công cẩn, bà ta có đề cập đến Thiên chủ, đó là ai vậy?
Đáp: Đó là người họ Vương, sống cùng làng với Công Cẩn, đã thụ năm giới của Phật, nên sau khi chết được làm thiên chủ. Nhờ họ Vương nhiều lần cứu giúp, nên Công cẩn mới an ổn đến hôm nay. Nhưng bây giờ hầu như không thoát được nữa !
Nói xong Hoắc Chương từ biệt, sai sứ giả đưa ông trở về. Khi sứ giả dẫn đến một đoạn đường nhỏ ghồ ghề, sứ giả chỉ về phía trước và bảo: “Ông cứ theo con đường này mà trở về”
Thế là ông sống lại và thuật hết mọi việc cho mọi người biết. Tháng bảy năm ấy, Trần Tử Lương người Miên châu bị chết đột ngột, qua một đêm thì sống lại nói Đông Hải công muốn mời làm Kí thất, nhưng từ chối, vì không biết chữ. Lại có một người cũng tên là Trần Tử Lương ở đất Ngô chết, Công cẩn cũng chết. Sau khi hai người này chết, một hôm ông cùng mọi người đang đi trên đường, bỗng nhiên thấy quan phủ, ông lộ vẻ lo lắng, rồi sợ hãi vụt chạy, hồi lâu mới dừng. Mọi người hỏi, ông đáp: “Vừa rồi tôi thấy sứ giả của Đông Hải công đến nói: ‘Tôi sắp đến ích châu bắt người. Trần Tử Lương tố cáo ông dữ lắm. Ti hình Hoắc cũng vì ông mà bị trách vấn. Có lẽ ông khó tránh nạn này, nhưng do ông có phúc chuộc mạng nên mới thoát tội!’. Đó là việc do khi ông còn ở đất Thục, một hôm mọi người tát ao
bắt cá, ông dùng mười xấp lụa có được do giảng kinh thư để chuộc mạng số cá này.
Trong niên hiệu Trinh Quán (627-650), Thái tông đến cung Cửu Thành, nghe nói đến việc này, nên sai Trung thư thị lang sầm Văn Bản đên hỏi, rồi soạn tấu văn trình lên vua. về sau Gia Vận được triều đình bổ dụng làm Quốc tử bác sĩ, ông giữ chức này đến suốt đời.
76. CHƯƠNG CỨU NGUY
76.1. LỜI DẪN
Bày sức từ bi rộng lớn để đáp lời cầu phúc tiêu tai, nhưng chí thành mới cảm. Tuy các bậc thánh đều như thế, nhưng riêng Quán Âm đại sĩ có hạnh lắng nghe khắp cùng. Cho nên đối với người rơi vào lửa lẽ ra phải chịu họa cháy thân, kẻ bị nước cuốn trôi hẳn phải chịu nạn chết chìm; nhưng nếu trong chớp mắt một lòng nhớ nghĩ, xưng niệm danh hiệu ngài, thì lửa dữ liền tắt, biển lớn cạn khô. Hoặc đao bén kề cổ mà chẳng thể làm tổn thương, rơi xuống hầm sâu mà thân vẫn nguyên vẹn; hay gông cùm xiềng xích buộc thân bỗng nhiên đứt gãy. Năng lực nhiệm mầu như thế chẳng thể ghi chép hết. Nếu khẩn thiết nhớ nghĩ, nhất định sẽ cảm điều linh dị, còn như biếng nhác qua loa, nạn đến thì vô phương cứu giúp.
76.2. BỒ-TÁT
Kinh Tăng-già la-sát ghi: “Có một vị bồ-tát ẩn tu trong núi, tâm từ vô lượng, hằng ngày ngồi ngay thẳng tư duy, thân thể bất động, đến nỗi chim làm tổ, ấp trứng trên đàu. Biết vậy, nhưng bồ-tát sợ trứng rơi vỡ, cho nên không dám cử động. Sau đó bồ-tát quán xét rồi đứng dậy kinh hành, nhưng tổ chim vẫn không động. Đến khi chim non mọc cánh, nhưng chưa biết bay, bồ-tát vẫn không bỏ đi nơi khác”.
Kinh Di-lặc sở vẩn bản nguyện ghi: “Đức Phật dạy:
- Này A-nan! Khi xưa Ta siêng năng cầu đạo đã chịu biết bao gian khổ. Như vào quá khứ có vị thái tử tên là Bảo Hoa, dung mạo đoan chính. Một hôm, thái tử vừa ra khỏi vườn thì gặp một người bị bệnh hủi, liên hỏi: “Dùng thuốc gì để chữa lành bệnh của ngươi?”. Người ấy đáp: “Dùng máu và tủy của người trong hoàng tộc thoa lên thân tôi, thì bệnh sẽ lành”. Nghe vậy, thái tử liền tự chẻ xương mình lấy máu và tủy trao cho người bệnh, với lòng chí thành, không mảy may hối tiếc. Thái tử ấy chính là Ta. Có thể lường tính được số lượng nước trong bốn biển lớn, chứ không thể tính được số lượng máu tủy... Ta đã ban cho chúng sinh. Vì Ta cầu Chính giác vậy”.
Kinh Đại tập ghi: “Bấy giờ năm trăm vị bồ-tát, mỗi vị hiện ra các loại thân hình khác nhau như: bồ-tát Khoáng Dã hiện thân quỷ, bồ-tát Tán Chỉ hiện thân nai, bồ-tát Tuệ Cự hiện thân khỉ, bồ-tát Li Ái hiện thân dê dực, bồ-tát Tận Lậu hiện thân ngỗng chúa... Thân các vị phát ra hương thơm và ánh sáng. Mỗi một vị bồ-tát tay cầm đèn cúng dường chư Phật trong mười phương. Từ thời bảy vị Phật quá khứ đến nay, các vị thường làm quyến thuộc của bảy Đức Phật, giữ gìn năm giới, phát tâm bồ-đề. Vì muốn điều phục tất cả chúng sinh, khiến họ phát tâm bồ-đề, nên các ngài mang đủ các loại thân hình như thế”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Thuở xưa có vị a-la-hán nuôi một chú sa-di, cũng biết chú sa-di bảy ngày sau sẽ chết. Vì thế ngài mới cho sa-di về thăm nhà và dặn qua bảy ngày mới trở về chùa. Sa-di từ giã thầy trở về nhà. Trên đường đi chú thấy đàn kiến bị nước cuốn trôi, sinh lòng thương xót, cởi áo bưng đất đắp ngăn dòng nước, rồi đem đàn kiến đặt ở chỗ cao ráo. Đàn kiến nhờ vậy mà thoát chết.
Đến ngày thứ bảy chú trở về chùa. Người thầy trông thấy chú trở lại vô cùng ngạc nhiên liền nhập định, dùng thiên nhãn quan sát, biết chú sa-di tuy đã hết phúc, nhưng nhờ cứu sống đàn kiến nên được như vậy. Trong vòng bảy ngày chẳng những chú không chết mà còn được kéo dài tuổi thọ” (nếu tu sửa tháp cũ, đắp vá tường vách chùa cũng kéo dài tuổi thọ).
76.3. TRƯỞNG GIẢ LƯU THỦY
Kinh Kim quang minh ghi; “Ngày xưa Lưu Thủy đã trị bệnh khổ cho các chúng sinh trong nước của vua Thiên Tự Tại Quang, khiến họ bình phục. Do đã lành bệnh, nên họ tu tập phúc nghiệp, lấy việc bố thí rộng khắp tự vui. Họ cùng đến nhà trưởng giả tử này, tỏ lòng tôn kính và đồng thưa:
- Hay thay, hay thay! Ngài làm những việc nuôi lớn phúc đức, giúp cho chúng tôi mãi được an ổn, tăng thêm thọ mạng. Ngài thật là bậc Đại lực y vương, bồ-tát đại bi, rất giỏi y dược, chữa lành bệnh cho tất cả chúng sinh.
Lời ca ngợi này lan khắp thành thị xóm làng. Bấy giờ Lưu Thủy có người vợ tên là Thủy Không Long Tạng, hai con tên là Thủy Không và Thủy Tạng. Ngày kia Lưu Thủy dẫn hai con lần lượt đi khắp xóm làng thành thị. Một hôm qua vùng đầm lầy hoang vắng, hiểm nguy đáng sợ, họ thấy các loài cầm thú ăn thịt: sói-cáo-điêu-thứu đều chạy hoặc bay cùng về một hướng. Lưu Thủy suy nghĩ: ‘Vì sao tất cả đều chạy hoặc bay cùng về một hướng, ta nên theo sau để xem cho biết!’. Ông liền đi theo, chỉ một lát sau, gặp hồ nước lớn tên là Dã Sinh, nước sắp cạn, trong hồ bày nhiều tôm cá. Thấy vậy lòng ông thương xót vô cùng. Lúc ấy một vị thần cây hiện nửa thân hình nói rằng: ‘Hay thay, hay thay! Ông có thật tên là Lưu Thủy chăng? Nếu đúng thì nên thương xót giúp cho các loài cá này có nước để sống. Danh từ Lưu Thủy có hai ý nghĩa, một là làm cho dòng nước lưu thông, hai là cấp nước. Ông nên thuận theo tên mình mà làm!’.
Lưu Thủy bèn hỏi:
- Có bao nhiêu cá sống trong hồ này?
Thần cây liền đáp:
- Khoảng mười ngàn con.
Lưu Thủy nghe thế càng thêm bi cảm. Lúc ấy do ánh mặt trời nóng đốt, nên nước trong hồ không còn bao nhiêu, mười ngàn cá này hầu như sáp chết, bơi lội xoay trở vô cùng khó khăn. Thấy trưởng giả tử, bầy cá lóe lên một tia hi vọng, nhìn theo không rời. Lưu Thủy thấy vậy, chạy quanh tìm nước, nhưng không thể nào. Nhìn thấy gần đó có một cây cao, ông liên trèo lên bẻ vài cành lá che nắng rồi tìm nguồn nước của hồ.
Đi mãi ông mới gặp được dòng sông tên là Thủy Sinh. Những ngư dân sống ở hai bên bờ, vì muốn bắt cá, nên tại một đoạn hiểm yếu ở vùng thượng lưu sông này đã khơi một nhánh, dẫn nước chảy về hướng khác mà không cho chảy xuống vùng hạ lưu. Chỗ khơi này rất khó ngăn đắp. Lưu Thủy suy nghĩ: ‘Vực này rất sâu và thật hiểm yếu, dẫu trăm ngàn người thi công ba tháng chưa chắc đã xong, huống chi mình ta! ’
Ông liền về thành để diện kiến vua. Vào đến hoàng cung, ông lễ lạy vua, rồi đứng một bên, chắp tay thưa:
- Thần đã chữa lành các bệnh cho dân trong khắp đất nước, khiến cho mọi người đều được an ổn. Một hôm thần đi đến vùng đầm vắng tên là Dã Sinh, nước trong đầm này sắp khô cạn, bầy cá mười ngàn con sống trong đó, hằng ngày bị mặt trời thiêu đốt sắp chết. Cúi xin đại vương từ bi thương xót, giúp cho hai mươi thớt voi lớn, gấp đến chuyển nước vào đầm cứu sống bầy cá, như thần đã ban thọ mạng cho những người bệnh!
Nhà vua lập tức ra lịnh cho một đại thần trong triều giao đủ đại tượng cho vị y vương. Đại thần nhận lệnh, thưa trưởng giả tử: ‘Hay thay Đại sĩ! Ngài đến chuồng voi, tùy ý chọn lấy đủ hai mươi con để cứu chúng sinh!’. Thế là Lưu Thủy cùng hai con nhận hai mươi thớt voi, lại vào những nhà bán rượu mượn các túi da, cuối cùng đến chỗ khơi dòng lấy nước cho voi chuyên chở đổ vào đầm cạn. Không bao lâu sau, đầm lại đầy nước như xưa. Trưởng giả tử dạo quanh đầm nhìn ngắm, đàn cá cũng tụ ven bờ bơi theo. Trưởng giả tử nghĩ: Vì sao đàn cá lại bơi theo ta, chắc chúng bị đói, muốn xin thức ăn, ta nên cho chúng’.
Lưu Thủy liền nói với các con rằng: ‘Các con hãy chọn một voi mạnh nhất, đi gấp về nhà thưa với ông nội, tất cả những gỉ ăn được trong nhà, kể cả phần ăn của cha và mẹ, vợ con nô tì đều cho phép gom hết mang đến đây’. Hai người vâng lời, chọn một con voi khỏe nhất, trở về thưa với ông nội như thế, rồi gom tất cả những gì ăn được, đặt lên lưng voi, nhanh chóng trở lại. Thấy hai con quay lại, Lưu Thủy vô cùng mừng vui, vội lấy thức ăn tung rải vào đầm, khiến đàn cá kia thụ dụng no đủ. Ông lại suy nghĩ: ‘Ngày nay ta thí thức ăn, cứu sống đàn cá, nguyện đời sau ta ban cho pháp thực cứu giúp vô biên. Trưởng giả lại nghĩ rằng trong kinh có dạy: Nếu lúc lâm chung, người nào nghe được danh hiệu của đức Bảo Thắng Như Lai, sẽ được sinh về các cõi trời.
Thế là ông vào đầm nước xướng: ‘Nam-mô quá khứ Bảo Thắng Như Lai, ứng Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Lưu Thủy lại vì đàn cá giảng nói diệu pháp sâu xa: Vì đây có nên kia có, vì đây sinh nên kia sinh. Nghĩa là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc; danh sắc duyên lục xứ, lục xứ duyên xúc, xúc duyên thụ, thụ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên lão tử sầu bi khổ não. Đây diệt nên kia diệt, tức là vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì lục xứ diệt, lục xứ diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thụ diệt, thụ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sinh diệt, sinh diệt thì lão tử diệt, lão tử diệt thì sầu bi khổ não diệt, như thế các uẩn thuần khổ đều diệt’.
Đức Phật lại bảo thần cây bồ-đề:
- Trưởng giả Lưu Thủy cùng với hai con vào đầm thí nước, thức ăn và thuyết diệu pháp cho đàn cá rồi, liền trở về nhà. Sau đó, nhân một lễ hội, ông xem múa hát, uống rượu say nằm. Lúc ấy trong đầm, đàn cá mười ngàn con cũng đều chết, đồng sinh lên cõi trời Ba Mươi Ba thành các vị trời. Các vị trời này đông một suy nghĩ: ‘Vì nhân duyên gì mà chúng ta được sinh lên cõi trời?’. Họ cùng nói với nhau rằng: ‘Trước kia chúng ta đọa vào bàng sinh, làm thân loài cá, sống cõi Diêm-phù. Nhờ có trưởng giả Lưu Thủy thí cho chúng ta nước và thức ăn, lại thuyết pháp yếu mười hai duyên khởi sâu xa vi diệu và đà-la-ni, lại vì chúng ta mà niệm danh hiệu đức Phật Bảo Thắng, nên chúng ta mới được sinh cõi trời. Vậy chúng ta nên đến nhà trưởng giả cúng dường báo ân’.
Thế là mười ngàn vị trời xuống cõi Diêm-phù, đến nhà y vương. Bấy giờ Lưu Thủy đang ngủ trên lầu, mười ngàn vị trời bèn đặt bên đầu, dưới chân, hông phải, hông trái trưởng giả, mỗi nơi mười ngàn xâu chuỗi trân châu, rồi đồng tuôn mưa hoa mạn-đà-la, hoa ma-ha mạn-đà-la ngập đến đầu gối, phóng ánh sáng rực, trỗi lên các loại nhạc trời phát ra âm thanh hay tuyệt, làm cho những người đang ngủ say ở cõi Diêm-phù-đề và trưởng giả tử cũng đều tỉnh giấc. Sau khi cúng dường, các vị trời này vọt lên hư không bay đi mất. Cõi nước của vua Thiên Tự Tại Quang, nơi nơi đều mưa hoa sen cõi trời. Mười ngàn vị trời bấy giờ bay đến khu đầm ngày xưa, tuôn các hoa trời, rồi về thiên cung thụ hưởng năm dục”.
76.4. THƯƠNG CHỦ
Kinh Đại bi ghi: “Đức Phật bảo A-nan:
- Vào thời quá khứ có một thương chủ dẫn các thương nhân ra biển tìm châu báu. Trên đường trở về, thuyền chở đầy châu báu bị vỡ giữa biển khơi. Các thương nhân đều rơi xuống biển, trong lúc sợ hãi, có người bám vào mảnh ván thuyền, có người đang bồng bềnh, có người đã chết... Bấy giờ, vị thương chủ đang ôm chiếc phao, có thể an toàn vào bờ. Nhưng lúc ấy, có năm thương nhân đang bồng bềnh trên mặt nước gọi:
- Đại nhân ơi! Xin ngài hãy cứu lấy chúng tôi, hãy giúp chúng tôi được an ồn.
Thương chủ bảo họ:
- Này các vị, chớ có sợ hãi! Tôi sẽ đưa các vị an toàn vào bờ thoát khỏi biển.
A-nan! Lúc ấy, vị thương chủ mang bên mình một cây kiếm bén, trong lòng nghĩ: ‘Theo đặc tính của biển là không bao giờ dung chứa tử thi, do đó ta nên xả thân mạng này để cho các thương nhân thoát được kiếp nạn’.
Thế rồi, thương chủ bèn gọi các thương nhân:
- Này các bạn ! Hãy bám chặt vào thân tôi.
Lúc ấỵ các thương nhân, có người ngồi lên lưng, có người nắm hai vai, có người ôm vào bắp đùi. Vị thương chủ vì muốn cứu sống họ, lòng đại bi khơi dậy mạnh mẽ liền lấy kiếm bén đâm vào thân mình, nhận lấy cái chết. Thế rồi, biển đẩy tử thi vào bờ, năm người kia nhờ thế mà sống sót trở về Diêm-phù-đề.
A-nan! Vị thương chủ lúc ấy đâu phải người nào khác mà chính là Ta. Năm thương nhân kia nay chính là năm tì-kheo. Năm tì-kheo ngày xưa ở trong biển được Ta cứu thoát, nay trong biển lớn sinh tử cũng được Ta độ thoát, an ổn không sợ hãi, đến bờ giải thoát niết-bàn”.
76.5. VUA LOÀI THÚ
Luận Trí độ ghi: “Thời quá khứ vô lượng a-tăng-kì kiếp, trong khu rừng nọ có rất nhiều cầm thú. Một hôm, bỗng lửa từ ngoài lan vào làm cháy khắp cả ba mặt của khu rừng, chỉ còn lại một phía giáp với con suối. Những con thú sống trong khu rừng này lâm vào đường cùng, không có lối thoát.
Đức Phật nói:
- Lúc ấy, Ta là một con nai lớn, với sức lực mạnh mẽ, nên dùng hai chân trước gác bờ bên kia, hai chân sau gác bờ bên này để những con thú đạp lên lưng qua bờ bên kia thoát nạn, vì thế, thịt da trên lưng Ta đều bị rách nát. Với lòng từ bi, Ta chịu đựng sự đau đớn cho đến chêt. Có một con thỏ đi sau cùng, sức lực Ta lúc đó đã cạn kiệt, nhưng cố hết sức để nó qua được bờ kia. Sau khi thỏ qua được bờ, xương sống Ta bị gãy, rơi xuống dòng nước mà chết.
Những việc như thế, Ta đã làm từ nhiều đời trước, chứ chẳng phải chỉ hôm nay thôi đâu. Những con thú được thoát nạn khi xưa, nay đều là đệ tử của Ta. Con thỏ qua sau chính là Tu-bạt-đà-la.
Phật đời đời cần khổ tinh tấn, đến nay vẫn còn chưa dừng”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Vào thời quá khứ rất lâu xa, lúc Như Lai còn là bồ-tát, gặp lúc đói kém, Ngài khởi lòng từ bi cứu độ, nên hóa làm một con cá lớn, thân dài đến năm trăm do-tuần để cung cấp thịt cho nhân dân khắp nước. Không kể là người hay vật đều có thể đến lấy thịt để dùng, khi vừa cắt xong thì thịt trên thân liền lại như cũ. Ta cung cấp như vậy suốt mười hai năm”.
Kinh Thụ sinh chép: “Ngày xưa, có một vị bồ-tát làm ba ba chúa, sống giữa đại dương để giáo hóa đồng loại. Con dân của ba ba đều làm những việc nhân đức, còn ba ba chúa thì thực hành lòng từ bi, cứu giúp chúng sinh như con ruột. Biển cà sâu rộng, mênh mông không bờ bến lại đầy dẫy hiểm nguy, nhưng không đâu mà ba ba không đến.
Bấy giờ, ba ba lên bờ biển nghỉ ngơi, trải qua nhiều ngày tháng, lưng nó khô cứng như mặt đất. Những người thương buôn từ xa đến, đều dừng nghỉ trên lưng nó. Họ chẻ củi, nhúm lửa nấu ăn và còn đẩy cả xe cộ chở cát đá, cột cả ngựa, bò trên lưng nó.
Lúc ấy, ba ba chúa muốn xuống nước, nhưng sợ sẽ nhấn chìm tất cả, mất lòng nhân từ. Nó muốn gắng chịu đựng, nhưng quá đau đớn, nên tìm cách bò xuống chỗ nước cạn, dập tắt ngọn lửa đang thiêu đốt mà chẳng làm hại đên các thương nhân. Các thương nhân lúc ấy hốt hoảng lo sợ cho rằng thủy triều đang dâng cao, nên kêu la thống thiết, chí thành cầu trời cứu giúp.
Ba ba chúa thấy thế, trong lòng lại càng thương xót. Nó nói với các thương nhân:
- Các ngươi chớ sợ hãi, ta bị lửa đốt nóng, nên muốn xuống nước để dập tắt ngọn lửa, mong bớt đau đớn mà thôi. Các người vẫn bình an, ta không làm nguy hại đến các người.
Các thương nhân nghe vậy biết là còn sống, nên cùng nhau niệm: “ Nam-mô Phật”.
Ba ba chúa khởi tâm đại từ đưa tất cả thương nhân vào bờ. Được an toàn, họ rất vui mừng không ngớt khen ngợi ân đức của ba ba:
- Ngài là chiếc cầu đưa người qua sông, là con thuyên lớn đưa chúng sinh vượt khỏi ba cõi. Khi đắc Phật đạo, xin ngài trở lại cứu nạn sinh tử cho chúng tôi.
Ba ba chúa nói:
- Hay thay, hay thay! Tôi sẽ làm theo ý nguyện của các người!
Nói rồi, mỗi bên đi mỗi đường.
Đức Phật bảo:
- Ba ba chúa ngày ấy chính là Ta, năm trăm thương nhân kia, nay là năm trăm đệ tử của Ta, như ông Xá-lợi-phất”.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Nếu thấy kẻ phạm pháp bị tội chết, nên dùng tiền của để chuộc, giúp họ thoát mà không cần báo đáp. Người làm như thế, đến khi mạng chung, được sinh lên cõi trời Hoan Hỷ, khi tuổi thọ hết, sinh xuống làm người cũng không gặp nạn vua quan áp bức.
Người nào giữ giới, khi thấy chúng sinh bị lửa dữ thiêu đốt, nên lấy nước dập tắt, cứu họ thoát nạn, đến khi mạng chung được sinh lên cõi trời Hành Đạo, thụ hưởng vô số niềm vui"
Kinh Độ cẩu ghi: “Ngày xưa, tại một nước nọ, lúa thóc khan hiếm, khiến nhân dân đói khổ. Bấy giờ, có một sa-môn vào thành khất thực, đã đi khắp mọi nhà nhưng không xin được thứ gì. Sau đó, sa-môn đến gia đình trưởng giả giàu có, xin được chút cơm hẩm. Sa-môn vừa định ra khỏi thành thì chợt gặp một người thợ săn, trên tay đang ôm con chó đem về làm thịt. Thấy vị sa-môn, anh ta vui mừng hành lễ, sa-môn cầu nguyện và chúc cho người thợ săn sống lâu.
Vị sa-môn biết anh đang ôm con chó, nghi là đem về giết, nên hỏi:
- Anh đang mang thứ gì vậy?
Đáp:
- Tôi đi tay không có mang gì đâu?
Sa-môn nói:
- Tôi đã thấy rồi, anh đâu cần giấu giếm? Anh nên biết tội sát sinh rất nặng, ta xin đem bát cơm này đổi lấy con chó, trước là cứu nó thoát chết, sau là giúp anh được phúc vô lượng.
Thợ săn đáp:
- Tôi không thể đổi cho ngài được, bởi tôi còn nuôi sống cả gia đình, chút cơm của ngài chúng tôi làm sao ăn đủ?
Sa-môn hết lòng thuyết phục, nhưng thợ săn vẫn chống chế, không chịu đổi.
Sa-môn bèn nói:
- Nếu anh không đổi thì hãy để tôi nhìn con chó một lát, có được không?
Thợ săn liền đưa con chó ra. Sa-môn lấy bát cơm của mình cho chó ăn, lấy tay xoa đầu nó, rơi lệ mà chú nguyện:
- Ngươi mang tội phải làm thân chó, đã không được tự do, lại còn bị người giết ăn thịt. Ta cầu mong cho ngươi đời đời tội diệt phúc sinh, lìa bỏ thân chó được làm thân người, ở đâu cũng gặp được Phật pháp, tin kính Tam bảo.
Con chó được thức ăn, trong lòng phát khởi thiện tâm, vui mừng khôn xiết, biết tự qui y.
Thợ săn đem chó về giết thịt rồi cùng nhau ăn. Sau khi mạng chung, chó được sinh vào cõi người, làm con trong một gia đinh trưởng giả giàu có. Lúc vừa chào đời, đứa bé đã có từ tâm.
Bấy giờ, vị sa-môn kia theo thứ tự đi khất thực, dần đến nhà ông trưởng giả. Đứa bé con ông trưởng giả vừa thấy vị sa-môn, chợt nhớ lại việc xưa, nên đến cúi đầu hành lễ dưới chân sa-môn, xin được cúng dường những thức ăn ngon.
Thế rồi, đứa bé đến trước cha mẹ thưa:
- Con nay muốn theo đại hòa-thượng làm đệ tử, thụ học kinh giới, xin cha mẹ bằng lòng!
Cha mẹ rất yêu thương con, nên không bằng lòng. Ông bà nói:
- Gia đình ta chỉ có mình con kế thừa gia nghiệp, vì sao con muốn bỏ đi?
Đứa bé khóc lóc không chịu ăn uống, thưa:
- Nếu cha mẹ khồng đồng ý thì con sẽ chết.
Cha mẹ thấy thế, liền đồng ý. Đứa bé theo thầy học đạo, cạo bỏ râu tóc, đắp ba pháp y, đọc tụng kinh điển, hiểu sâu nghĩa lí. Không bao lâu, chú đắc tam-muội, không còn thoái chuyển, giáo hóa mọi người, khuyên phát đạo tâm.
Ở đời, gặp Phật là khó, được nghe giáo pháp là khó. Nếu có duyên được gặp Phật pháp thì mọi loài đều được độ. Súc sinh còn đắc đạo, lẽ nào loài người không chứng quả thánh sao? Nếu có sai phạm điều gì thì phải biết sinh lòng hổ thẹn. Ánh sáng thanh tịnh chiếu đến thì trần cấu tối tăm tự diệt”.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Vào thời quá khứ, có một con chim tên La-bà bị chim ưng gắp bay lên hư không. Ở trên cao chim La-bà kêu:
- Tôi vừa ra khỏi nơi có cha mẹ thân yêu để đến nơi khác, do không cảnh giác, nên gặp nạn này. Tại sao hôm nay tôi bị kẻ khác trói buộc, không được tự do?
Chim ưng nói với la-bà:
- Ngươi phải ở nơi đâu mới gọi là được tự do?
La-bà đáp:
- Đồi gò, ruộng nương chính là chỗ tự do của tôi. Nơi đó hoàn toàn không có các nạn và cũng chính là nơi cha mẹ tôi đang sinh sống.
Chim ưng ngạo mạn nói với La-bà:
- Bây giờ ta thả ngươi về lại gò ruộng, có chắc chắn ngươi được thoát nạn không?
Thế là La-bà thoát khỏi móng vuốt của chim ưng trở về gò ruộng. Sau khi về được chỗ an ổn dưới đống đất, La-bà lên trên khiêu chiến với chim ưng. Thấy vậy, chim ưng đùng đùng nổi giận nói:
- Ngươi là con chim nhỏ mà dám khiêu chiến với ta?
Chim ưng dốc sức lao xuống mổ La-bà, La-bà chui núp dưới đống đất, chim ưng không kìm lại được, nên va vào đống đất vỡ ngực mà chết.
La-bà núp dưới đống đất, ngước lên nói kệ:
Chim ưng lao xuống mổ,
Ta trốn dưới đống đất,
Do vì quả sân giận,
Đưa đến họa tan thân.
Ta đã đủ khôn khéo,
Nương vào nơi mình sống,
Phục thù, tuy tâm vui,
Vừa ý với sức mình.
Dầu ngươi có hung dữ,
Sức như nghìn voi lớn,
Nếu sánh trí tuệ ta,
Chỉ một phần mười sáu.
Trí ta thật siêu việt
Tiêu diệt được chim ưng.
Có bài tụng :
Có thức đều sợ chết
Có mạng ngán hiểm nguy
Như cá trong ao cạn
Khó gặp nước tràn vào
Thân sơ đều cha mẹ
Đâu được xâm hại nhau
Từ bi cứu khổ nạn
Phúc báo tự nhiên về.
76.6. CẢM ỨNG
76.6.1. Đời Lưu Tống, sa-môn Thích Đạo Quynh: Quê quán, dòng họ và những chuyện linh dị của sư đã được thuật rõ trong phần Cảm ứng, chương Đốt đèn, quyển ba mươi lăm, ở đây không nêu lại mà chỉ thuật những điều chưa được ghi ở phần trước mà thôi.
Niên hiệu Nguyên Gia mười chín (442), Lâm Xuyên Khang vương trấn nhậm Quảng Lăng đã thỉnh sư đến cúng dường. Tháng chín năm ấy, tổ chức trai hội Quán Thế Âm mười ngày tại gian phía tây. Đến đêm thứ chín, vừa qua canh tư, chúng tăng còn đang ngủ, sư thức dậy lễ lạy, sau đó lại muốn tọa thiền. Bỗng sư thấy trên bốn vách vô số sa-môn hiện bán thân, lại thấy rõ ràng một tướng nhục kế của Phật. Lại có một người cao lớn, đội mũ đỉnh bằng, mặc y phục vải mịn, tay cầm đao dài, tướng mạo thật uy dũng.
Ông này cầm hương trao cho sư, nhưng sư không nhận. Lúc ấy một vị sa-môn trên vách bảo:
- Sư nên nhận hương này để che chở cho chủ
nhân!
Vị này nói vừa xong, chớp mắt sư không còn thấy gì nữa. Ngay lúc ấy sư không thấy chư tăng trong trai hội, chỉ thấy tượng đức Thích-ca đã tôn trí mà thôi.
76.6.2. Đời Tấn, Lữ Tủng: Ồng tự là Mậu Cao, người ở Duyên châu, nhưng ngụ cư tại huyện Thỉ Phong. Phía nam huyện này có một dòng suối uốn lượn quanh co, nước chảy rất xiết, hai bờ vách đá cao và hiểm trở; lòng suối có rất nhiều đá lớn, người đi trên suối, ban ngày còn phải sợ gặp nguy hiểm. Tủng tự kể:
- Có lần cha ông đi thuyền trên con suối này, khi cách nhà khoảng mười dặm, thì trời đã về chiều. Lúc ấy bỗng nhiên mưa to gió lớn kéo đến, trời đất tối đen như mực, không còn thấy gì. Trong lòng cha ông nghĩ là thuyền sẽ chìm, cho nên nhất tâm niệm danh hiệu bồ-tát Quan Thế Âm; không bao lâu trên bờ có ánh lửa, giống như có người cầm đuốc đi đến, chiếu sáng cả dòng suối. Cha ông nhờ đó mà trở về nhà, bấy giờ ánh lửa đó luôn cách thuyền khoảng hơn mười bước dẫn đường, về sau ông thuật lại chuyện này với Si Gia Tân rồi Tân truyền lại cho mọi người cùng biết.
76,6.3. Đời Tấn, Từ Vinh: Ông quê ở Lang Da, một hôm có việc đến Đông Dương trở về, khi qua Định sơn thì người lái thuyền, vì không quen đường nên lạc vào vùng nước xoáy, khiến thuyền bị sóng dập, tròng trành sắp chìm. Lúc ấy, ông thật vô kế khả thi, chỉ một lòng niệm bồ-tát Quán Thế Âm mà thôi. Trong chớp mắt, bỗng nhiên có mấy mươi người dốc sức kéo thuyền vọt ra khỏi vùng nước xoáy, đến nơi bình lặng. Thế là thuyền theo dòng mà đi, bấy giờ mặt trời đã lặn, mưa to gió lớn kéo đến, chung quanh tối mịt, không phân biệt được phương hướng, sóng càng lúc càng lớn. Ông liền tục tụng kinh không dừng nghỉ, một lát sau thấy trên đỉnh núi có một vầng lửa sáng rực rỡ, liền quay thuyền hướng về nơi ấy, thì thẳng một đường về bến, cả thuyền đều bình yên. Sau đó thì không thấy ánh lửa ấy nữa, mọi người đều lấy làm lạ, nghi không phải là lửa nhân gian. Sáng hôm sau, hỏi những người trên bến về ánh lửa đêm qua trên đỉnh núi, thì họ đều ngạc nhiên và đồng nói:
- Đêm hôm qua mưa to gió lớn như thế, lẽ nào lại, có lửa! Chúng tôi khồng ai thấy cả!
Bấy giờ mọi người mới biết là ánh sáng thần dị. về sau ông làm Đốc hộ phủ cối Kê đã kể lại cho Tạ Phu nghe chuyện này. Lại nữa trên thuyền lúc ấy có sa-môn Chi Đạo uẩn, là một người chân thật, cẩn thận cũng đã chứng kiến, sau đó cũng đã kể lại cho Phó Lượng nghe giống như vậy.
76.6.4. Đời Tấn, Trương Sùng: Sùng người Đỗ Lăng, Kinh Triệu. Vào khoảng niên hiệu Thái Nguyên (376-397), Phù Kiên bại vong, hơn nghìn gia đình ở Trường An chạy về đất Tấn, bị quan quân trấn thủ nơi đây bắt giam. Vì cho ràng họ là giặc cướp, nên quan binh giết hết trai tráng, cầm tù phụ nữ. Bấy giờ Sùng và năm người khác tay chân bị cùm, chôn đến lưng, mỗi người cách nhau hai mươi bước, đợi sáng hôm sau, làm mục tiêu cho bọn quan binh cưỡi ngựa bắn tên vui chơi. Sùng nghĩ đã hết hi vọng sống còn, chỉ lắng tâm chuyên niệm danh hiệu Quán Thế Âm.
Khi đêm xuống, bỗng nhiên gông cùm tự đứt gãy, rời khỏi thân. Nhân đó Sùng và đồng bạn chạy thoát. Bấy giờ chân ông bị đau, khi đi ngang qua một ngôi chùa, liền chí tâm xưng niệm danh hiệu Quán Thế Âm và chí thành lễ lạy. Ông đặt một hòn đá trước mặt, phát nguyện: “Nay tôi muốn qua Giang Đông báo loạn binh lên Tấn đế, trình bày nỗi oan này, mong cứu được vợ con. Nếu tâm nguyện này thành thì xin hòn đá này vỡ làm hai!”.
Nguyện xong Sùng lễ lạy, tức thì hòn đá liền vỡ như nguyện, Thế là Sùng đến kinh đô nhà Tấn viết cáo trạng, chân thật trình bày nỗi oan. Tấn đế liền ban lệnh miễn tội số dân ấy, những ai bị bán làm nô lệ thì chuộc lại và cho nhập hộ khẩu. Đạo nhân Trí Sinh biết rõ việc này.
76.6.5. Đời Tấn, Vương Ý: Ý tự là Trọng Đức, quê ở Thái Nguyên, làm chức Xa kị tướng quân. Gia đình ông nhiều đời tin Phật Cha ông tên là Miêu làm thái thú Trung Sơn thời Phù Kiên, bị bộ tộc Đinh Linh sát hại. Bấy giờ ông cùng với người anh là Trọng Đức đưa mẹ về phương nam. Khi trèo qua núi cao hiểm trở, ba mẹ con đều kiệt sức, lương thực lại cạn, không còn kế nào khác, chỉ biết nhất tâm nghĩ nhớ Tam bảo. Bỗng nhiên một đồng tử dắt con trâu lông xanh hiện đến, thấy ông và mọi người đói khát, bèn cho mỗi người một bát cơm, rồi bỗng nhiên biến mất.
Sau đó ông gặp trời mưa lớn và kéo dài nhiều ngày, nước dâng tràn, ông thấy trước mắt toàn một vùng nước mênh mông, không biết chỗ nào cạn để đặt chân. Ngay lúc ấy có một con sói trắng lòng vòng phía trước, lội qua nước rồi quay lại, ba lần như thế, giống như muốn dẫn đường. Thế là cả đoàn theo sau con sói lội qua, nước chỉ đến đầu gối. Mọi người đi một lát thì đến đường, thẳng về nam qui phục nhà Tấn.
Về sau, khi ông làm thứ sử Từ châu, có lần muốn thiết trai cúng dường, ban đêm ông rưới nước quét dọn đạo tràng, sắp bày hương hoa, tôn trí kinh tượng, bỗng nhiên nghe trong pháp đường có tiếng tụng kinh, âm giọng tuyệt hay và rất trôi chảy. Ông liền đến xem thì thấy năm vị sa-môn đang ngồi trước tượng Phật, uy dung vị nào cũng kì vĩ, thần khí siêu xuất. Ồng biết đây là thánh tăng, nên trong lòng vô cùng vui mừng và cung kính. Ông thấy các vị tì-kheo quay lại nhìn ông, có ý như thân thiết từ lâu; nhưng chưa kịp hỏi han thì bỗng nhiên các vị sa-môn vọt lên hư không bay đi mất. Lúc ấy có rất nhiều bạn bè, thân thuộc, tân khách, đồng liêu chứng kiến, tất cả đều rất vui mừng, càng tin sâu Tam bảo.
76.6.6. Đời Tấn, Chu Tử Trường: Ông ngụ cư tại đầu xóm Đông, phố Ngũ Trượng, Vũ Xương. Vào một ngày trong niên hiệu Hàm Khang thứ ba (337), vì có việc, nên ông đến nhà họ sầu tại phố Tái Khê cách đó mấy dặm. Trời sắp tối ông trở về, khi còn cách Ngũ Trượng khoảng một dặm, ông thấy xóm Đông vốn hoang vắng, nay bỗng nhiên nhà cửa bằng gạch ngói mọc ngay trên đường đi. Lính canh cửa vừa thấy Tử Trường liền nắm đầu; ông vội nói:
- Ta là đệ tử Phật, vì sao lại bắt ta?
Tên lính ấy nói:
- Nếu là đệ tử Phật, vậy có biết tụng kinh không?
Tử Trường từng tụng kinh Tứ Thiên vương và kinh Lộc tử, nên liền tụng cho ba bốn biến. Nhưng tên lính ấy vẫn cố nắm giữ, không chịu buông. Bấy giờ ông mới biết là quỉ, nên mắng:
- Này quỉ ngốc Vũ Xương! Ta nói với ngươi, ta là đệ tử Phật, ta đã tụng cho ngươi nghe mấy bài kệ rồi, sao ngươi vẫn không tha người?
Quỉ liền thả người, đồng thời nhà cửa cũng biến mất. Ông tiếp tục đi về, nhưng quỉ vẫn đuổi theo, khi đến trước cửa, quỉ chặn lại không cho vào, cũng không cho lên tiếng, nhưng trong tâm ông lại muốn dẫn quỉ đến chùa Hàn Khê. Khi đến cổng chùa, ông nắm ngực quỉ và nói:
- Quỉ ngốc Vũ Xương! Bây giờ ta sẽ dẫn ngươi đến chùa, giao cho hòa thượng phân xử!
Quỉ cũng nắm lấy ngực của ông. Cả hai kéo nhau đi qua đê Ngũ Trượng rồi đi về phía tây. Các quỉ đi sau nói với con quỉ đang năm ngực ông:
- Hãy buông ra! Ông ấy sắp dẫn chúng ta đến chùa rồi!
Con quỉ ấy đã buông Tử Trường, lại còn cố nói với mấy con quỉ đi sau:
- Trong chùa chắc có các đạo nhân mà còn chưa chịu sợ ư?
Một con quỉ đi sau nói nhỏ:
- Ngươi đến gần phía đông thành xem mặt đạo nhân và hỏi vì sao bị bại?
Nói xong, chúng cùng cười lớn. Tử Trường về đến nhà thì đã qua canh ba.
76.6.7. Đời Tống, sa-môn Trúc Tuệ Khánh: Sư người Quảng Lăng, thông suốt kinh luận, giới hạnh tinh nghiêm. Niên hiệu Nguyên Gia mười hai (435), vùng Kinh Dương bị nạn lụt lớn, nước dâng tràn khắp nơi, không phân biệt đâu là sông đâu là đất liền. Bấy giờ sư cùng các đồng học đi thuyền vào Lô sơn. Vì thuyền nhỏ, lại gặp sóng to gió lớn, khi các bạn đều đã cập bờ, mà thuyền của sư vẫn còn trên sông. Đang lúc gió mạnh, sóng lớn, thuyền sắp chìm, sư định tâm lắng niệm tụng kinh Quán Thế Âm. Ngay lúc ấy, người trên bờ từ xa thây thuyền của sư tự nhiên đón gió, cắt dòng tiến thẳng vào bến, như có mấy mươi người kéo vậy. Thế là mọi người trên thuyền đều thoát nạn.
76.6.8. Đời Tống, Đàm-vô-kiệt: Sư là một sa-di ở chùa Hoàng Long, chuyên tụng kinh Quán Thế Âm, dốc lòng tu tập khổ hạnh. Vào niên hiệu Nguyên Gia thứ nhất (424), sư cùng hai mươi lăm đồng học sang Ấn Độ. Trên đường đi trải qua nhiều gian khổ, nguy hiểm, nhưng sư vẫn kiên tâm bền chí. Trên đường đến nước Xá-vệ, gặp bầy voi hoang, sư liền tụng kinh và xưng danh hiệu chư Phật, bỗng có sư tử từ trong rừng vọt ra, khiến bầy voi kinh sợ bỏ chạy. Sau đó, có một bầy trâu rừng vừa rống vừa xông đến muốn sát hại, sư lại tụng niệm như trước, bỗng có kên kên bay đến, khiến cả bầy sợ hãi chạy tán loạn. Mọi người thoát nạn.
76.6.9. Đời Tống, Thích Pháp Tiến: Sư họ Đường, còn gọi là Đạo Tiến, người Trương Dịch, Lương châu. Thuở nhỏ sư đã siêng năng khổ nhọc tụng đọc và nghiên cứu kinh điển, có chí thoát trần, rất được Thư Cừ Mông Tốn kính trọng. Con của Mông Tốn là Cảnh Hoàn chiếm cứ Cao Xương, bị người Hồ đánh phá, Mông Tốn hỏi sư:
- Nay muốn đánh lấy Cao Xương, có thể thắng không?
Sư đáp:
- Chắc thắng, nhưng sợ nạn đói, nếu rút quân thì an định !
Ba năm sau, Cảnh Hoàn mất, em là An Chu kế thừa. Năm ấy mất mùa, nhân dân đói khát, người chết vô số kể. An Chu vốn là đệ tử cùa sư, nên sư thường đến xin lương thực cứu giúp những người đói khổ. Đến lúc quốc khố hơi vơi, thì sư không đến xin nữa, mà tắm gội sạch sẽ, mang dao và muối vào hang sâu, nơi những người đói khổ khốn cùng đang ở. Trước tiên, sư truyền tam qui cho họ, sau đó sư treo y bát lên cành cây, rồi gieo thân trước những người đói ấy và bảo: “Thí cho các người cùng ăn!”. Mọi người tuy đang đói khát, nhưng không ai nỡ nhận. Thế là sư
tự cầm dao cắt thịt mình chấm muối rồi ăn. Khi thịt trên hai đùi của sư đã hết, thì tâm hơi mê, sức yếu dần, không thể tự cắt, nên bảo mọi người:
- Các người hãy cất giấu số thịt còn lại của ta, có thể dùng trong vài ngày nữa. Nếu người của vua đến đây thấy được, nhất định họ sẽ lấy mang đi!
Nhưng người đói kia nghe vậy, lại càng bi thương, không ai nhẫn tâm làm theo lời sư. Lát sau, đệ tử sư, người của vua đến, thế là người cả nước cùng kéo đến, ai cũng kêu gào than khóc. Sau đó đưa sư về cung. Chu An ban sắc xuất kho ba trăm hộc gạo để cấp cho những người đói khổ kia, đồng thời mở một kho khác bố thí cho nhân dân. Đến sáng sớm hôm sau, sư thị tịch, đại chúng chuyển thân sư ra phía bắc thành để trà-tì, khói xông lên hư không, bảy ngày mới dứt. Toàn thân đều cháy, nhưng lưỡi vẫn còn nguyên vẹn. Mọi người lập ngôi tháp ba tầng và dựng bia ngay nơi ấy để tôn thờ.
76.6.10. Đời Chu, Thích Tuệ Trấn: Sư trụ tại một ngôi chùa ở phủ Khai Nguyên, Thượng Đãng. Sư trì luật tinh nghiêm, lấy việc tọa thiền sám hối làm sự nghiệp tu tập. Niên hiệu Kiến Đức thứ sáu (577), Chu Vũ đế hủy diệt Phật pháp, sư mang kinh tượng vào ẩn cư trong núi sâu. Ngày kia có một người dung mạo rất xinh đẹp, mặc y phục nô bộc, cưỡi ngựa trắng bờm đỏ, từ đỉnh núi đi xuống. Khi đến trước mặt sư, vị này nói:
- Đêm nay sẽ có giặc đến, sư mau lánh đi nơi khác!
Nơi sư đang ở là vực sâu, không còn con đường nào khác để vào. Sư nghi là sơn thần, nên nói:
- Ngày nay Phật pháp bị hủy diệt, bần đạo không có chốn dung thân, cho nên mới đến nương nhờ đàn việt. Bây giờ lại gặp giặc, chắc ở đây chịu chết, chứ biết trốn nơi đâu?”
Thần nói:
- Sư đã từ xa đến chỗ của đệ tử, thì đệ tử cũng có thể bảo vệ sư! Ngài cứ ở lại đây! Nói xong vị thần biến mất.
Đêm ấy bỗng nhiên tuyết rơi dày hơn trượng, lấp hết đường đi, do đó sư thoát được nạn cướp. Mấy hôm sau, trời nắng tuyết tan, bọn giắc lại đến. Thần liền báo cho dân làng sống nơi chân núi: “Giặc muốn cướp sư Trấn, các người mau đến cứu giúp!”. Thế là dân làng trang bị vũ khí vào núi chống giặc cướp. Bọn giặc thấy vậy, hoảng sợ bỏ chạy. Từ đó về sau, sư luôn nhờ thần bảo vệ, sống an nơi núi rừng, về sau không biết sư thị tịch vào lúc nào.
76.6.11. Đời Chu, Thích Tăng Thật: Sư họ Trình, người ở Linh Vũ, Kiều Dương, trụ tại chùa Đại Truy Viễn, kinh đô. Thuở nhỏ bản tính sư đã chính trực, thành tín, thanh cao không ai bằng. Niên hiệu Thái Hòa cuối cùng (483), nhà Băc Ngụy, trên đường đi từ kinh đô về đất Lạc, sư được Tam tạng Lặc-na trao cho pháp thiền. Tuy thông ba học giới định tuệ, nhưng chỉ dùng Cửu thứ đệ định để điều tâm. Do đó nước định lắng trong, rừng thiền xanh tốt. Từ đó sư hoàng hóa tại kinh đô, Phật pháp ngày càng hưng thịnh.
Một hôm, vào buổi trưa, chư tăng đang nghỉ ngơi, bỗng nhiên sư lên lầu gióng đại hồng chung rất gấp. Chúng tăng ngạc nhiên, vội vã ra khỏi phòng hỏi nguyên do. Sư bảo:
- Các vị hãy nhanh chóng chuẩn bị hương đèn, nhóm họp tại chính điện.
Sau khi chư tăng vân tập đầy đủ, sư tuyên cáo:
- Các vị hãy chuyên tâm hành Phật sự, đồng tụng kinh Quán Ầm để cứu Giang Nam. Hiện ngôi chùa ấy ở đất Lương sắp sụp đổ, sợ đạo tục tổn thương, nên chúng ta phải cứu gấp.
Cùng lúc ấy một ngôi chùa tại Dương Đô, đang tổ chức pháp hội giảng kinh, cả nghìn tăng tục nhóm họp chật cả giảng đường, bỗng nghe phía tây bắc có khói hương lạ xông lên và tiếng tụng kinh, tiếng nhạc trên hư không dồn dập từ cổng phía bắc giảng đường tuôn vào rồi thoát thẳng ra cổng nam. Chúng hội đều kinh ngạc, vội vã chạy ra, lắng tai nghe theo những âm thanh ấy mà không kịp mang giày dép. Khi mọi người đã ra hết, thì cả ngôi giảng đường đổ ập xuống. Thế là mọi người đều an toàn, tránh được kiếp nạn.
Sau đó có người tâu lên vua Lương, vua Lương sai sứ sang hỏi nhà Chu, thì thật có việc sư đã cứu giúp. Vua Lương ba lần thỉnh sư, nhưng vua Chu không cho đi. Vua Lương đành phải từ xa dốc lòng cung kính đỉnh lễ sư, đồng thời dâng sai sứ dâng cúng báu vật, ba tấm y bằng vỏ cây, ghế ngồi, phất trần và các vật của tăng. Sư chỉ giữ lại ba tấm y và chiếc ghế, còn những vật khác thì bố thí hết. Những vật này hiện cất giữ tại chùa Thiền Lâm và được chư tăng thay nhau quản lí.
Ngày mồng tám, tháng bảy, niên hiệu Bảo Định thứ ba (563), sư thị tịch tại chùa Đại Truy Viễn, hưởng thọ tám mươi tám tuổi. Từ vua quan cho đến thứ dân đều thương xót, bầu trời đổi sắc, hai nước kinh động. Mộ tháp của sư hiện còn trong vườn chùa.
76.6.12. Đời Trần, Thích Tuệ Bố: Sư họ Hách, người Quảng Lăng, trụ tại chùa Thê Hà, Nhiếp sơn. Thuở nhỏ sư đã có khí tiết cao xa, bản tính chính trực, chí hạnh siêu việt, ít ai sánh bằng, rất được các quân vương kính trọng. Khi thấy người thích sinh Tây phương, sư nói:
- Tây phương là cõi tịnh, không phải là nguyện của ta. Điều ta mong là giáo hóa chúng sinh. Sao phải ở trong hoa sen mười kiếp hưởng thụ niềm vui, chi bằng vào ba đường khổ đau để cứu chúng sinh!
Đến năm bảy mươi tuổi, một hôm sư từ biệt đại chúng:
- Mạng của ta lẽ ra còn ít năm nữa, nhưng nay đã già suy, không thể hành đạo, sống thêm có ích gì. Ta luôn nguyện sinh biên địa, nơi không có Tam bảo để thực hiện Phật sự. Mong các vị ở lại mạnh khỏe, cố gắng tu tập!
Sau đó sư nhịn ăn, vua ban sắc cho thầy thuốc đến xem mạch, nhưng sư không chịu. Thẩm Hoàng hậu cũng muốn truyền hương báo tin, nhưng sư cũng không đồng ý. Sư dạy:
- Sống mãi chẳng vui, chiều chết cũng chẳng buồn. Vì sinh mà không có chỗ sinh, diệt mà không có chỗ diệt.
Trước khi sư thị tịch bảy ngày, trời đất chấn động liên tiếp. Khi chuyển thân sư vào rừng, thì núi rừng lại chấn động. Đúng ngày sư thị tịch, quan Thái sử tâu:
- Ngôi sao bản mệnh của bậc đắc đạo đã tắt. Cũng trong thời gian này, sư nói trước đại chúng:
- Đêm qua có hai vị bồ-tát, một là sinh thân bồ-tát, hai là pháp thân bồ-tát đến, ta đã đồng ý. Lát sau lại có các vị trời đến đón, vì không phải là nguyện của ta, nên ta không chịu.
Lúc ấy ánh sáng chiếu rực đến phòng của thiền sư Khản, thiền sư lấy làm lạ, ra khỏi phòng quan sát, thì thấy hai người vào phòng của sư, nhưng Khản không biết đó là thánh nhân. Đến sáng thuật lại thì hợp với lời kể của sư. Sư báo cho đại chúng vừa xong thì ngồi ngay thẳng mà thị tịch. Lại có người từ xa nhìn thấy cờ hoa rợp cả chùa, ánh sáng chiếu rực hư không, họ không biết là chuyện gì, bèn vào núi xem mới biết sư đã thị tịch.
Bấy giờ là ngày hai mươi ba tháng mười một, niên hiệu Trinh Minh thứ nhất (587), đời nhà Trần, Trung Quốc, sư thọ hơn bảy mươi tuổi.
76.6.13. Đời Đường, Thích Trí Thông: Không biết sư người xứ nào, chỉ biết đầu tiên sư ở chùa Bạch Mã, Dương Đô. về sau sư qua sông, dừng chân ở chùa An Lạc, Dương châu. Khi nhà Trần diệt vong, không có cách nào quay về cố hương, nên sư ẩn trong đám lau sậy bên sông tụng kinh Pháp hoa, bảy ngày không đói, thường có bốn con. cọp nhiễu quanh, nhưng không làm tổn thương sư. Trải qua mấy ngày không ăn, sư bảo:
- Mạng ta chỉ còn trong giây lát, nếu cần, ngươi hãy ăn thịt ta đi!
Cọp bỗng nhiên nói tiếng người:
- Thuở khai thiên lập địa không có lẽ này!
Bỗng có ông lão khoảng tám mươi tuổi kéo thuyền đến và nói:
- Thầy muốn qua sông đến chùa Thê Hà thì hãy mau lên thuyền!
Khi ấy, bốn con cọp nhìn sư ứa lệ. Sư nói:
- Cứu nguy giúp nạn, ngay lúc này đây! Ông hãy cho bốn con cọp cùng đi!
Thế là, người vật xuôi thuyền sang bờ nam, khi cập bờ thì ông già biến mất. Sư dẫn bốn con cọp đến trụ phía tây tháp xá-lợi, chùa Thê Hà. Từ đó sư chuyên kinh hành và tọa thiền phát nguyện không nằm, cùng với tám mươi đồ chúng tu tập, không bao giờ rời viện. Nếu có việc chẳng lành thì một con cọp vào chùa rống to thông báo cho đại chúng biết để cảnh giác, việc này trở thành lệ thường.
Ngày mùng tám tháng tư, niên hiệu Trinh Quán hai mươi ba (649), tiểu thực xong, sư đến chùa Chỉ Quán đỉnh lễ linh tượng đại sư, cầm lò hương lễ khắp nơi, lại đến mộ ngài Hưng Hoàng đỉnh lễ rồi trở về phòng ngồi ngay thẳng thị tịch, thọ chín mươi chín tuổi. Bấy giờ có mùi hương lan tỏa khắp phòng. Hơn ba nghìn đạo tục ở vùng Đơn Dương kéo đến để tang, gào khóc vang cả rừng núi.
76.6.14. Đời Đường, Từ Thiện Tài: Ông cư trú tại huyện Lễ Tuyền, một đời chuyên trì trai giữ giới, tụng kinh Quán Thế Âm hơn nghìn biến. Ông thường ở chỗ luật sư Huyền Uyển chùa Diên Hưng tại kinh đô tạo công đức, cung kính khắc in Nhất thiết kinh.
Vào tháng mười một, niên hiệu Vũ Đức thứ hai (619), vì có việc, ông trở về nhà. Trên đường, ông bị giặc Hồ bát dẫn đi. Khi đến địa phận phía nam U châu, bọn giặc Hồ tàn ác đã bắt được hơn nghìn người Hán, tất cả đều bị trói hai tay ra sau lưng. Chúng dẫn mọi người đến bên bờ vực sâu, sai thuộc hạ lần lượt chém chết, đầu rơi xuống vực. Thấy những người đứng trước mình đều bị chết, ông nghĩ mình cũng không thoát, chỉ còn biết nhất tâm niệm danh hiệu bồ-tát Quán Thế Âm liên tục, không gián đoạn.
Đến phiên ông, khi hạ đao, ông thấy hạ đao, khi chém thì ông không biết gì. Lúc chém đúng vào giờ Thân, đến đầu đêm, ông tỉnh lại thì thấy mình ngồi trên cành cây dưới khe sâu, cách bờ hơn ba trăm thước. Ông suy nghĩ tại sao mình lại ở đây, hồi lâu nhớ lại là hôm nay mình bị giết, nhưng sao không chết, mà lại ngồi trên cành cây? Ông sờ vào cổ, cảm thấy hơi đau, nhưng không có vết thương nào. Chính là do niệm bồ-tát Quán Thế Âm mà bảo toàn thân mạng. Bấy giờ là ngày rằm, ánh trăng chiếu sáng, thân không mảnh vãi, lại không ăn uống đã mấy ngày, cho nên ông cảm thấy rất đói.
Đến sáng ông xuống đất, men theo khe đi về phía đông hai dặm, thì nhặt được một bộ áo quần da dê và một đôi giày. Ông liền mặc vào và không còn cảm thấy lạnh. Đi thêm một dặm, ông lại gặp cái giỏ một thăng, trong đó có đào và táo màu xanh, hồng, rất tươi, tựa như mới hái về. Ông liền ăn và không còn đói nữa. Nếu chẳng phải thần lực của đức Quán Thế Âm, thì sao mùa đông rét mà lại có đào và táo tươi.
Đã hết đói rét, khí lực lại sung mãn, ông dần dần trèo lên bờ nam. Lên đến rồi, ông quay lại nhìn, từ xa thấy doanh trại của giặc kéo dài mấy dặm, tiếng người ngựa ồn náo, như còn chưa đi ngủ. Tuy đã sang được bờ nam, nhưng sợ quân giặc truy bắt, nên ông đi nhanh về nhà. Được khoảng mười lăm dặm, biết đã cách xa quân giặc, ông dừng chân dưới một tàng cây ngồi kiết già tụng niệm. Thân mệt mỏi đã lâu, bất giác ngồi đến canh tư, bỗng nhiên tỉnh thức.
Ông mở mắt thì thấy một con sói lông đen to lớn, đang ngồi chồm hổm trước mặt, đưa miệng chạm vào mũi ông. Thấy vậy, ông nhắm mắt, phát nguyện: “Nếu thật ta có oán thù với ngươi, xin cứ ăn thịt ta, để trả oan nghiệp ngày trước, sau đó cả ta và ngươi cùng xả oán thù, cùng khởi lòng nhân từ. Còn nếu là bồ-tát Quán Âm, thì xin cứu giúp đệ tử được an ổn”. Nguyện xong, ông mở mắt thì không thấy gì cả. Nên biết, sức thiện căn từ của Phật, tùy duyên cảm hiện, lợi ích khắp chúng sinh. Ngày nay sở dĩ người tụng niệm không có kết quả là do tâm không chí thành, lại do nghiệp ác quá khứ và hiện tại tác động, vì thế khó cảm bậc thánh ứng hiện.
Thiện Tài bình an về đến nhà, ông đem những quả đào và táo còn lại trình cho tăng tục thấy biết, để minh chứng là sự thật chứ không hư dối.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
15/12/2015
PUCL QUYỂN 70 - CHƯƠNG THỤ BÁO (tt)
QUYỂN 70 Quyển này tiếp theo chương Thụ báo. 79. CHƯƠNG THỤ BÁO (tt) 79.11. QUẢ BÁO ÁC Nêu có hình thì ảnh hiện, có tiếng tức có vang. Chưa thấy việc hình còn mà ảnh đã mất, tiếng đang dội mà vang đã dừng. Lẽ thiện ác có...
15/12/2015
PUCL QUYỂN 69 - CHƯƠNG THỤ BÁO
QUYỂN 69 Quyển này gồm một chương Thụ báo. 79. CHƯƠNG THỤ BÁO 79.1. LỜI DẪN Nghiệp dụng của thiện ác chính là biểu hiện của ba báo. Cả hai giống như bóng theo hình, rõ ràng như sáu đường đã minh chứng. Ba báo: - Hiện báo...
15/12/2015
PUCL QUYỂN 68 - CHƯƠNG NGHIỆP NHÂN
QUYỂN 68 Quyển này gồm một chương Nghiệp nhân. 78. CHƯƠNG NGHIỆP NHÂN 78.1. LỜI DẪN Bước vào dòng Thánh thì sông ái yên láng, ngũ trược trong xanh; đánh mất tông chỉ thì núi tà chân động, ba chướng nổi bùng. Tỉnh tâm mà...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 67 - CHƯƠNG OÁN KHỔ (tt)
QUYỂN 67 Quyển này tiếp theo chương khổ. 77. CHƯƠNG OÁN KHỔ (tt) 77.6. CÁC LOẠI VI TRÙNG TRONG THÂN Thiền bí yếu pháp ghi: “Lại nữa, Xá-lợi-phất! Lúc hành giả nhập thiền định, dục giác phát khởi gió tham dâm, kích động b...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 66 - CHƯƠNG OÁN KHỔ
QUYỂN 66 Quyển này có một chương Oán khổ. 77. CHƯƠNG OÁN KHỔ 77.1. LỜI DẪN Ba cõi xoay vần, sáu đường chìm nổi. Bản tính sáng suốt không biến hoại, ý thức phân biệt luôn chấp trì; chợt sinh chợt tử, lúc đến lúc đi, thân...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 64 - CHƯƠNG SĂN BẮN, CHÀI LƯỚI
QUYỂN 64 Quyển này gồm hai chương: Săn bắn-chài lưới, Từ bi. 73. CHƯƠNG SĂN BẮN-CHÀI LƯỚI 73.1. LỜI DẪN Kính nghĩ: Như Lai lập giáo, rất chuộng nhân từ, nên trong các giới điều, sát sinh là nặng nhất. Bởi chúng sinh tham...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 63 - CHƯƠNG CẦU MƯA VÀ VƯỜN CÂY
QUYỂN 63 Quyển này gồm hai chương: cầu mưa và Vườn cây. 71. CHƯƠNG CẦU MƯA 71.1. LỜI DẪN Thánh đạo rỗng lặng, nên biến hóa vô cùng; do biến hóa vô cùng, nên hễ ứng hiện thì đều khế hợp. Gần đây, âm dương vận hành không đ...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 62 - CHƯƠNG CÚNG TẾ VÀ XEM TƯỚNG
QUYỂN 62 Nội dung quyển này gồm hai chương: Cúng tế và Xem tướng. 69. CHƯƠNG CÚNG TẾ 69.1. LỜI DẪN Trộm nghe: Báu vật vàng và ngọc khác nhau, nhưng mọi người đều quí chuộng. Giáo nghĩa của Lão và Khổng sai biệt, nhưng tấ...
