PUCL QUYỂN 67 - CHƯƠNG OÁN KHỔ (tt)
11/12/2015
QUYỂN 67 Quyển này tiếp theo chương khổ. 77. CHƯƠNG OÁN KHỔ (tt) 77.6. CÁC LOẠI VI TRÙNG TRONG THÂN Thiền bí yếu pháp ghi: “Lại nữa, Xá-lợi-phất! Lúc hành giả nhập thiền định, dục giác phát khởi gió tham dâm, kích động b...

QUYỂN 67
Quyển này tiếp theo chương khổ.
77. CHƯƠNG OÁN KHỔ (tt)
Thiền bí yếu pháp ghi: “Lại nữa, Xá-lợi-phất! Lúc hành giả nhập thiền định, dục giác phát khởi gió tham dâm, kích động bốn trăm lẻ bốn mạch, khiến cho từ nhãn căn cho đến thân căn đồng thời dao động, các căn ngưng trệ, kích động gió tâm, khiến tâm điên cuồng. Do phát cuồng mà bị quỷ mị bám lấy, ngày đêm chỉ nghĩ tưởng đến dục. Vì thế phải nhanh chóng trị tham dục như cứu lửa cháy trên đầu.
Phương pháp trị dục tâm là dạy cho hành giả quán tử tạng. Tử tạng nằm dưới sinh tạng, trên thục tạng, có chín mươi chín lớp màng, như cái bào thai heo chết. Bốn trăm lẻ bốn mạch nơi tử tạng tỏa ra như rễ cây, lan khắp các căn, như bọc chứa phân dơ. Một nghìn chín trăm chi tiết phân bố như tàu lá chuối, tám vạn ổ vi trùng bao quanh. Một trăm lẻ bốn mạch và tử tạng như ruột ngựa, nối thẳng xuống sản môn như vòng đeo tay, đoạn to đoạn nhỏ, trên tròn dưới nhọn, giống như bối xỉ. Trong chín mươi chín lớp mô, giữa mỗi lớp có bốn trăm lẻ bốn con trùng, mỗi con trùng có mười hai đầu và mười hai miệng. Khi người uống nước, tinh chất của nước thấm vào mạch, phân ra khắp các con trùng, rồi vào đầu trùng Tì-la, thẳng xuống sản môn, cứ mỗi nửa tháng xuất ra nước bất tịnh, các loài trùng đều nhả nước giống như bọc mủ vỡ, chảy vào miệng chín mươi con trùng khác. Từ trong sáu lỗ của mười hai con trùng lại tiết ra một chất như dịch đỏ, trong đó lại có những con trùng nhỏ như đầu sợi lông.
Các Thiện nam! Do tội ác từ đời trước, nên bốn trăm lẻ bốn mạch máu từ nhãn căn phân tán ra tứ chi, rồi dẫn vào ruột, đến dưới sinh tạng, trên thục tạng, ở hai bên mạch của phổi, tì, thận, mỗi mạch đều có sáu mươi bốn con trùng, mỗi con cũng có mười hai đầu và mười hai miệng, quấn lấy nhau cuộn tròn như chiếc nhẫn, chứa đầy mủ màu xanh như tinh heo rừng, hôi tanh không chịu nổi. Khi đến âm tạng thì phân làm ba nhánh, hai nhánh ở trên phân bố giống như tàu lá chuối, có mười nghìn hai trăm mạch, trong mỗi mạch lại sinh ra Phong trùng rất nhỏ như đầu sợi lông, giống mỏ chim Tì-lan-đa. Các trùng này lại sinh ra trùng Cân sắc. Bảy vạn tám nghìn trùng quấn bọc lấy nhau, tạo thành hình như nhiều chiếc vòng xếp chồng lên nhau, giống như mắt chim Cù-sư-la. Chín mươi tám mạch xông thẳng vào tim cho đến đỉnh đầu.
Này các thiện nam! Mắt tiếp xúc với nữ sắc, thì Phong trùng kích động đến tâm, khiến cho bốn trăm lẻ bốn mạch chuyển động không ngừng. Tám vạn ổ trùng đồng thời há miệng, từ mắt của nó tiết ra mủ, chảy vào các mạch, cho đến đầu trùng, các trùng liền kích động mạnh, khiến cho ta điên cuồng không tự chủ, muốn chạm vào nữ căn. Tinh của người nam màu trắng xanh là nước mắt của các trùng, tinh của người nữ màu đỏ hồng là mủ của các trùng. Chín mươi tám sử là pháp để huân tu; tám vạn ổ trùng tác động đến đất, nước, lửa, gió.
Đức Phật bảo:
- Này Xá-lợi-phất! Nếu có bốn chúng đắp y tàm quí, uống thuốc tàm quí, muốn cầu giải thoát, cứu khổ cho đời, phải học pháp này như uống cam lộ. Người học pháp này, trước hết quán tử tạng rồi đến nữ căn, nam căn, đều có các trùng to nhỏ há miệng, nhe răng, trừng mắt, nhả mủ. Kế đến ngửa hai bàn tay đặt ngay ngắn trên gối trái, dùng phép quán sổ tức để định tâm, quán một nghìn chín trăm chín mươi chín lần. Phép quán này thành rồỉ, thì chuyển qua gối phải, cũng quán như vậy. Lại dùng tay úp trên đỉnh đầu, quán tưởng những chất bất tịnh của các trùng, trước tiên chảy vào hai mắt, đến tai, mũi và miệng không sót chỗ nào. Quán việc này rồi, thì khi thấy sắc đẹp của người nữ, người nam, cho đến thiên tử, thiên nữ, cũng như thấy trùng trong mụt ghẻ Na-lợi của người bệnh hủi, hình dạng như quỷ thần Bán-đa-la trong địa ngục Mũi Tên, như lửa cháy hừng hực nơi ngục A-tì. Hành giả phải nên quán sát thật kĩ thân mình và thân người, thân của hết thảy chúng sinh trong cõi Dục này đều bất tịnh như vậy.
Xá-lợi-phất! Ông nên biết! Chủng tử căn bản tạo nên thân của chúng sinh đều bất tịnh, không thể nói hết, chỉ nên dùng phép sổ tức để nhất tâm quán sát nó. Nếu ai uống được thuốc này là bậc đại trượng phu, thầy của trời người, là bậc Điều Ngự, thoát khỏi vũng lầy ái dục, không bị chìm nổi trong dòng sông ân ái. Người dâm dật không nhận rõ sự nguy hại của yêu quỉ huỵễn sắc, chưa thoát khỏi sinh tử. Người tu tập, thân thể tỏa hương thanh khiết như hoa ưu-ba-la. Người này là hương tượng, là long vương, là lực sĩ trong loài người, trời Ma-hê-thủ-la cũng không thể bì kịp. Đó là bậc đại lực trượng phu, trời người phải kính trọng.
Đức Phật lại bảo:
- Xá-lợi-phất! Ông hãy thụ trì và nói lại cho bốn chúng nghe, chớ quên sót!
Xá-lợi-phất, A-nan v.v... nghe Phật dạy xong, vui mừng cung kính vâng theo”.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Tì-kheo tu hành, phải thấy rõ như thật về thân, theo thứ tự quán sát từ đầu đến chân. Từ đó dùng văn tuệ hoặc thiên nhãn quán trong đầu lâu có trùng di chuyển, gọi là trùng Não hành. Trùng này đi trong xương, sống trong não, hoặc đi hoặc đứng, luôn ăn não này. Lại có các trùng ở trong đầu lâu, hoặc đi hoặc ăn, trở lại ăn đầu lâu. Lại có trùng Tóc ở bên ngoài xương, ăn chân tóc, vì trùng nổi giận nên tóc rơi rụng. Lại có trùng Tai ở trong tai, ăn thịt trong tai, vì trùng nổi giận nên tai người đau, hoặc bị điếc. Lại có trùng Mũi ở trong lỗ mũi, ăn thịt trong mũi, khi trùng nổi giận thì hút hết nước do não tiết ra, nên làm cho người ăn uống không cảm thấy ngon. Lại có trùng Mỡ ở trong mỡ, thường ăn mỡ người, vì trùng nổi giận mà khiến người đau đầu. Lại có trùng Tục sống ở giữa các khớp. Trùng Thân xâm nhập vào trong mạch, khi trùng nổi giận thì khiến cho mạch người đau đớn như bị kim châm. Lại có trùng Thực diên ở cuống lưỡi, vì trùng nổi giận mà khiến cho miệng người khô nóng. Lại có trùng Nha căn ở dưới chân răng, vì trùng này nổi giận mà khiến người nhức răng. Lại có trùng Ẩu thổ, người dùng thức ăn không phù hợp thì trùng này làm cho nôn mửa. Đây là nội tu, hành giả tuần tự quán thân. Mười loại trùng này ở trong đầu.
Dùng văn tuệ, hoặc dùng thiên nhãn, đầu tiên quán yết hầu có trùng Thực diên, lúc nhai thức ăn giống như nôn mửa, nước bọt hòa lẫn. Khi nuốt vào thức ăn hòa hợp với nước nhờn trong óc, trùng Diên hút thức ăn này để nuôi sống. Nếu trùng tăng trưởng thì khiến người ho, đau. Nếu ăn nhiều chất béo, hoặc nhiều thức ăn không vệ sinh, hoặc ăn những thức ăn cay nồng, hoặc ăn chua, hoặc uống nước lạnh, trùng liền tăng trưởng khiến cổ họng người bị đau đớn.
Dùng văn tuệ, hoặc dùng thiên nhãn quán trùng Tiêu thóa sống trong cổ họng. Nếu người không dùng những thức ăn béo, cay... kể trên, thì trùng an ổn, giúp tiêu hóa nước miếng, cùng với các vị ngon từ trong mười mạch tiết ra, khiến người an ổn vui vẻ. Nếu người có nhiều nước bọt thì trùng sẽ bị bệnh, vì trùng bệnh nên khiến người tiết ra nước bọt nhạt nhẽo và bị tức ngực. Quán trùng tiêu thóa như thế rồi, ta thấy rõ như thật về thân.
Dùng văn tuệ, hoặc dùng thiên nhãn quán trùng Thổ sống trong thân. Trùng này ở trong mười mạch và di chuyển đi các nơi. Khi người ăn uống, trùng này từ mạch nhảy vọt lên, chạy vào cổ họng khiến người nôn mửa. Có năm trường họp nôn mửa: phong, ấm, thóa, tạp, dăng. Nếu trùng này an ổn thì ta ăn uống được ngon miệng. Lại dùng văn tuệ, hoặc thiên nhãn quán con ruồi ăn đồ bất tịnh bay vào trong cổ họng kích động trùng Thổ khiến người nôn mửa.
Dùng văn tuệ, hoặc dùng thiên nhãn quán trùng Túy vị. Trùng này sống nơi đầu lưỡi, cho đến huyết mạch, ở trong đó hoặc đi hoặc đứng, nhỏ bé không chân. Khi ta ăn thức ăn ngon thì trùng say mê thưởng thức mà ngày càng sinh trưởng, ngược lại trùng sẽ suy yếu dần dần. Còn nếu ta không ăn, trùng sẽ bệnh, không an ổn. Quán trùng Túy như thế rồi, ta thấy rõ như thật về thân.
Dùng văn tuệ hoặc dùng thiên nhãn quán trùng Phóng dật ở trên đỉnh đầu. Trùng này chuyển đến vùng não thì gây bệnh, chuyển lên đỉnh đầu thì làm cho thân mọc mụt, vào trong cổ họng sẽ gây ngứa ngáy khó chịu như kiến bò, nếu trùng ở yên thì không gây ra bệnh. Quán trùng Phóng dật như thế rồi, ta thấy rõ như thật về thân.
Dùng văn tuệ, hoặc dùng thiên nhãn quán trùng Lục vị. Nếu trùng này thích hay ghét vị nào thì ta cũng thích hay ghét vị đó. Nếu ta mắc bệnh nhiệt thì trước đó trùng đã bị bệnh này. Do vậy mà khiến người bệnh ăn uống chẳng thấy ngon. Quán trùng Vị như thế rồi, ta thấy rõ như thật về thân.
Dùng văn tuệ hoặc dùng thiên nhãn quán trùng Trữ khí. Trùng này nổi giận sẽ ăn lủng não người, hoặc làm cổ họng đau đớn, hoặc bị tắc nghẹn. Nên dù ta đang sống mà phải chịu khổ như chết. Trùng này cùng với tất cả các trùng khác sống trong cổ họng cùng nhau quấy nhiễu sinh ra mọi sự thống khổ. Trùng Khí thường bị nước bọt vây phủ. Loại trùng này ngắn nhỏ, có mặt và chân. Quán trùng Khí như thế rồi, ta thấy rõ như thật về thân.
Dùng văn tuệ, hoặc dùng thiên nhãn quán trùng Tắng vị ở trong cuống họng. Tại sao trùng này làm ta đau bệnh, hoặc an ổn? Trùng này ghét tất cả các vị, chỉ thích một vị, hoặc là ngọt, hoặc là chua... Trùng này ưa thích hay chán ghét vị nào thì ta cũng ưa thích hay chán ghét vị đó. Các mạch ở đầu lưỡi tùy thuận theo trùng Vị. Khi trùng nổi giận khiến cho lưỡi khô nóng, đau nhẹ rồi sưng phù, hoặc làm cho cổ họng bị đau. Nếu trùng an ổn thì không có các chứng bệnh như trên. Quán trùng Tắng vị như thế rồi, ta thấy rõ như thật về thân.
Lại dùng văn tuệ, hoặc dùng thiên nhãn quán trùng Thị thùy. Trùng này nhỏ như hạt bụi, sống ở trong tất cả các mạch, di chuyển đến nơi có vị, hoặc sống trong tủy, trong thịt, trong xương đầu, xương gò má, xương răng, xương cổ, trong tai, trong mắt, trong mũi, trong tóc mai, theo sức gió trong thân di chuyển khắp nơi. Khi trùng bị bệnh hoặc mỏi mệt thì nó trú tại tim. Tim giống như đóa hoa sen, ban ngày xòe nở, ban đêm khép lại, trùng ẩn náu trong đó, lấn chiếm nhiều chỗ. Khi các căn mỏi mệt, trùng sẽ ngủ nghỉ; lúc ẩy người cũng vậy. Tất cả chúng sinh ai ai cũng nghỉ ngơi. Nếu trùng này ban ngày mỏi mệt thì người cũng buồn ngủ. Quán trùng Thị thùy như thế rồi, ta thấy rõ như thật về thân.
Dùng văn tuệ, hoặc dùng thiên nhãn quán trùng Thũng. Trùng này di chuyển trong thân, hình dáng rất nhỏ bé. Trùng hút máu nơi nào thì nơi ấy sưng nhẹ rồi đau nhức. Trùng này ở trên mặt, trên đỉnh đầu, trong cổ họng, trong vùng não, chỗ nào trùng ở đều bị sưng phù, còn nếu ở trong gân thì không gây ra bệnh. Quán trùng Thũng như thế rồi, ta thấy rõ như thật về thân.
Lại có mười loại trùng di chuyển đến gan và phổi gây ra bệnh: 1. Trùng Thực mao; 2. Trùng Khổng huyệt hành; 3. Trùng Thiền-đô-ma-la; 4. Trùng Xích; 5. Trùng Thực trấp; 6. Trùng Mao đăng; 7. Trùng Sân huyết; 8. Trùng Thực nhục; 9. Trùng Tập tập; lO.Trùng Thố. Các trùng này có hình dáng cực kì nhỏ bé, không có chân và mắt, chuyển động trong máu, làm cho người đau đớn, ngứa ngáy.
Vì vậy dùng văn tuệ hoặc dùng thiên nhãn quán trùng Thực mao, trùng này nổi giận sẽ ăn râu, lông mi lông mày làm cho rơi rụng, khiến người bị bệnh ghẻ; quán trùng Khổng huyệt hành, trùng này nổi giận di chuyển trong máu làm cho thân thể sần sùi, đầu óc tê liệt khù khờ; quán trùng Thiền-đô-ma-la, trùng này di chuyển trong máu, trong mũi, hoặc trong miệng gây nên mùi hôi khó chịu; quán trùng Xích, trùng này nổi giận, di chuyển trong máu, làm mọc mụt nhọt ở cổ họng; quán trùng Thực trấp, trùng này nổi giận, chuyển động trong máu làm cho thân thể xanh xao, đen thâm hay vàng vọt; quán trùng Mao đăng, trùng này nổi giận di chuyển trong máu làm phát sinh ra các bệnh như mọc mụt, nóng sốt, ghẻ lở. Lại quán trùng Sân huyết; trùng này nổi giận, di chuyển trong máu làm người bị bệnh xích, người nữ thì bị chảy máu, thân thể ngứa ngáy, mọc mụt ung mủ, lở loét; quán trùng Thực nhục, trùng này nổi giận thì gây ra bệnh khổ, làm cho đầu ốc quay cuồng, khiến cổ họng, trong miệng, hậu môn đều mọc mụt; quán trùng Tập tập trùng này di chuyển trong máu làm phát sinh các bệnh tật, khiến cơ thể mỏi mệt, ốm yếu, chẳng thích
ăn uống; quán trùng Thố, trùng này nổi giận cũng làm cho người mắc phải những chứng bệnh như trên.
Lại có mười loại trùng di chuyển trong thân: trùng Sinh sang, trùng Thích, trùng Bế cân, trùng Động mạch, trùng Thực bì, trùng Động chỉ, trùng Hòa tập, trùng Xú, trùng Thấp sinh, trùng Nhiệt.
Vì vậy nên dùng văn tuệ, hoặc dùng thiên nhãn quán trùng Sang, nơi nào có vết thương thì trùng này vây quanh gặm rỉa, hoặc làm cổ họng làm cho mọc mụt. Lại quán trùng Thích, trùng này nổi giận thì gây ra chứng kiết lị, nóng bức như lửa thiêu, trong miệng thường khô khan, ăn uống chẳng tiêu. Nếu người buồn khổ thì trùng sẽ vui mừng. Trùng này cắn mạch máu, nên người bị suy não, hạ huyết áp, kiết lị.
Quán trùng Bế cân, trùng này di chuyển trong những sợi gân lớn, gân nhỏ. Nếu người có cảm giác trùng đi trong gân thì bị đau đớn, ngược lại thì không. Do đó tất cả xương thịt đều bị suy tổn hao gầy, trong thân đau nhức; trùng nổi giận thì người không ăn được, nếu trùng sống trong gân mà hút máu thì khiến người sức lực kém, nếu trùng ăn thịt thì làm cho người gầy yếu.
Quán trùng Động mạch, trùng này đi khắp tất cả các mạch; vì nó nhỏ nên di chuyển rất dễ dàng không bị trở ngại. Nếu trùng ở trong thực quản thì gây ra bệnh thân khô nóng, chẳng thích ăn uống. Nếu trùng ở trong mạch Thủy thì miệng khô khan, nếu trùng ở trong tuyến mồ hôi thì làm cho tất cả các lỗ chân lông không tiết mồ hôi. Nếu ở trong đường tiết niệu thì người mắc bệnh lâm, hoặc làm suy tinh, phải chịu sự thống khổ. Nếu trùng nổi giận sẽ di chuyển xuống hậu môn khiến cho đại tiện không thông, phải chịu khổ như sắp chết.
Quán trùng Thực bì. Vì người ăn quá nhiều khiến trùng này tức giận, làm cho sắc diện của người xấu xí, hoặc mắc bệnh pháo, ngứa ngáy, ửng đỏ, vàng vọt, hoặc bị lở loét, tóc móng rơi rụng, hay bị các chứng bệnh trầm trọng, hoặc bị nứt da, thịt thối rữa.
Quán trùng Động chỉ. Trùng này sống trong mỡ, nếu người ăn nhiều hay ngủ nhiều, trùng sẽ nổi giận không giúp tiêu hóa thức ăn, hoặc sinh ghẻ lở, hoặc bị mụn độc, viêm lỗ chân lông, trướng bụng, táo bón, thân hôi, hoặc khi ăn chảy mồ hôi.
Quán trùng Hòa tập. Trùng này có hai thân: thân giác và thân bất giác. Thân giác gồm da, thịt, má; thân bất giác gồm tóc, móng, răng. Người ăn uống quá no trùng sẽ suy yếu, do đó mà người cũng không còn sức lực, đi lại không nhanh nhẹn, ngủ thường mộng mị, hoặc bị nóng sốt; da thịt, xương máu, tinh tủy đều bị tổn giảm.
Quán trùng Xú, trùng này ở trong thịt, phân, nước tiểu. Vì người ăn uổng quá nhiều khiến trùng nổi giận làm cho da thịt, phân, nước tiểu, nước mắt, nước miếng đều hôi hám, trong mũi ung mủ. Hễ trùng đến chỗ nào thì chỗ đó hôi thối, như quần áo, tọa cụ, thức ăn, chân răng. Vì trùng này hôi hám nên tất cả cũng hôi theo, cho đến trên lưỡi có nhiêu bợn màu trắng rất hôi, thân cũng hôi hám.
Quán trùng Thấp hành, trùng này di chuyển trên lưng, khi biết thức ăn đã tiêu rồi thì đi vào ba lỗ nơi hông, xử lí những chất dơ uế của con người, nước bẩn thì thành nước tiểu, cặn bã thành phân, khiến cho thải ra ngoài.
Lại nữa, người tu hành tuần tự quán xét nội thân có mười loại trùng chuyển động. Tất cả thân người đều nhờ đây mà có. Mười loại đó là: trùng Tập tập, trùng Chuyết chuyết, trùng Miêu hoa, trùng Hỏa diễm, trùng Hắc, trùng Đại thực, trùng Noãn hành, trùng Tác nhiệt, trùng Hỏa, trùng Đại hỏa. Tất cả các loại trùng này đều sống trong bao tử.
Dùng văn tuệ hoặc dùng thiên nhãn quán trùng Tập tập. Vì người ăn quá nhiều, nên trùng này nổi giận ăn lông mi, làm ứa nước mắt, chảy ghèn. Trùng này nhỏ bé, màu đỏ, nếu di chuyển trong mắt thì gây ra nhiều bệnh, hoặc làm mù mắt, nếu vào con ngươi thì mắt bị màng trắng. Nếu trùng không nổi giận thì không gây ra bệnh.
Quán ưùng Chuyết chuyết, trùng này sống trong thân người, di chuyển trong bao tử thì khiến da màu vàng sậm. Trùng này nếu vào trong xương sẽ khiến người nóng bức; nếu di chuyển trong thịt thì suốt ngày đêm thịt và tay chân đều nóng; nếu vào trong da thì thân đổ mồ hôi.
Quán trùng Miêu hoa, trùng này di chuyển trong bao tử, mỏ nhọn, chân ngắn, thân như đống lửa, khiến người chẳng muốn ăn uống. Trùng đến chỗ nào thì chỗ đó nóng hực, thân nhiệt tăng trưởng và nóng bức. Nếu trùng thuận thì không gây ra bệnh.
Quán trùng Hỏa diêm, trùng này di chuyển trong bao tử, có lúc yên có lúc động. Vì người ăn quá nhiều, nên trùng này nổi giận di chuyển xuyên suốt từ đầu đến chân, làm cho tất cả máu trong thân nóng, nên sinh ra ung nhọt; hoặc khiến tai, miệng, bao tử chảy máu. Nếu trùng không giận dữ thì không có những bệnh này.
Quán trùng Hắc, trùng này di chuyển trong bao tử, có lúc được yên có lúc động. Vì người ăn quá nhiều, nên trùng nổi giận làm cho da mặt nhăn nheo; hoặc mọc nhiều nốt ruồi đen, vàng hay đỏ; hoặc làm cho thân hôi thối, đỏ mắt; mọc mụt ở trong miệng và chỗ cơ quan đại tiện, tiểu tiện. Nếu trùng không giận dữ thì không có những bệnh này.
Quán trùng Đại thực. Vì người ăn quá nhiều, nên trùng này nổi giận. Trùng Đại thực ở trong bao tử, khiến người hễ vừa ăn liền tiêu hóa, làm cho các chức năng của mắt, tai, mũi, lưỡi... trên cơ thể đều bị suy giảm. Nếu trùng không giận dữ thì không gây ra bệnh.
Quán trùng Noãn hành. Trùng này ưa thích thức ăn nóng, ghét thức ăn lạnh, nếu người ăn thức ăn lạnh, trùng này sẽ nổi giận, miệng tiết ra nhiều nước, hoặc khiến người lười biếng, buồn ngủ, tâm ý mơ màng, thân thể đau đớn dữ dội, có nhiều nước bọt, trong cổ họng sinh bệnh. Nếu trùng không giận dữ sẽ không có những bệnh này.
Quán trùng Nhiệt sống trong thân. Vì người ăn quá nhiều nên sinh ra nhiều loại bệnh làm trở ngại đường hô hấp, thân thể thô, cổ họng không thông, đại tiện, tiểu tiện đều có chất nước màu trắng, không thích lạnh, không muốn ăn thức ăn nhạt.
Quán trùng Thực hỏa sống trong thân. Trùng này di chuyển trong bao tử. Lúc khí trời lạnh thì trùng này vui vẻ, khiến người muốn ăn uống; còn lúc nóng nực, nhiệt độ tăng cao thì trùng suy yếu, khiến người không muốn ăn. Vì thế vào mùa đông trời lạnh thì bao tử mát mẻ, lúc nóng thì bao tử nóng bức.
Quán trùng Đại hỏa. Nếu người không thích mà gắng gượng ăn, thì sẽ làm cho trùng này nổi giận ăn những con trùng khác ở trong thân, khiến cho ruột, tay và chân của người bị nhói đau, nó ăn trùng ở chỗ nào thì chỗ ấy bị đau đớn. Nếu trùng không giận dữ thì không có những triệu chứng trên”.
Lại nữa, người tu hành dùng văn tuệ, hoặc dùng thiên nhãn quán trong xương có mười loại trùng: trùng Thỉ, trùng Khiết cốt, trùng Cát tiết, trùng Xích khẩu xú, trùng Lạn, trùng Xích khẩu, trùng Đầu-đầu-ma, trùng Thực bì, trùng Phong đao, trùng Đao khẩu. Mười loại trùng này di chuyển trong xương. Nếu làm trái ý, chúng sẽ nổi giận gây tổn hại cho thân (chi tiết được ghi đầy đủ trong kinh Chỉnh pháp niệm xứ).
Lại nữa, người tu hành dùng văn tuệ hoặc dùng thiên nhãn quán mười loại trùng chuyển động trong nước tiểu: trùng Sinh, trùng Châm khẩu, trùng Tiết, trùng Vô túc, trùng Tán trấp, trùng Tam tiêu, trùng Phá trường, trùng Bế tắc, trùng Thiện sắc, trùng uế môn sang. Mười loại trùng này có màu sắc xấu xí, sống trong phân tiểu. Nếu làm trái ý, chúng sẽ nổi giận gây tổn hại cho thân (chi tiết được ghi đầy đủ trong kinh Chính pháp niệm xứ).
Lại nữa, người tu hành dùng văn tuệ hoặc dùng thiên nhãn quán mười loại trùng di chuyển trong tủy, trong tinh trùng: trùng Mao, trùng Hắc khẩu, trùng Vô lực, trùng Đại thống, trùng Phiền muộn, trùng Hỏa, trùng Hoạt, trùng Hạ lưu, trùng Khởi thân căn, trùng ức niệm hoan hỷ. Mười loại trùng này nếu bị trái ý, chúng sẽ nổi giận gây tổn hại cho thân (chi tiết được ghi đầy đủ trong kinh Chính pháp niệm xứ).
Kinh Tội nghiệp báo ứng giáo hóa địa ngục ghi: “Bấy giờ, bồ-tát Tín Tướng vì các chúng sinh bạch Đức Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Có những chúng sinh đã phạm tội gì mà bị các ngục tốt đâm chém, cắt chặt thân thể, khiến từ đầu tới chân đứt lìa, liền có gió lạnh thổi đến làm họ sống lại, rồi lại bị chém chặt như trước?
Đức Phật dạy: ‘Vì đời trước, người ấy không kính tin Tam bảo, bất hiếu cha mẹ, làm đồ tể chém giết chúng sinh, nên mắc tội này’.
- Bạch đức Thế Tôn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà bị bệnh hủi, thân hình xấu xí, bại liệt, râu tóc rơi rụng, toàn thân lở loét, sống trong tổ quạ, ngủ nơi hang nai, bặt dấu chân người, làm xấu xa họ hàng, không ai muốn nhìn?
Đức Phật dạy: ‘Do đời trước, người ấy không kính tin Tam bảo, bất hiếu cha mẹ, phá hoại chùa tháp, bóc lột đạo nhân, bắn chém hiền thánh, làm hại sư trưởng, không biết báo đáp, quên ơn trái nghĩa, thô lỗ cộc cằn, dâm loạn tôn ti, không chút kiêng dè, nên mắc tội này’.
- Bạch đức Thế Tôn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà cơ thể cao lớn, ngu điếc, không chân, di chuyển bằng bụng, chỉ ăn đất bùn để tự nuôi thân, lại bị các loài trùng nhỏ cắn rỉa, vồ cùng đau đớn, không thể chịu nổi?
Đức Phật dạy: ‘Do đời trước, kẻ ấy được người tin dùng mà không nghe theo lời hay ý tốt, lại thêm bất hiếu cha mẹ, phản bội quân vương. Nếu được làm đại thần của vua, trấn nhậm bốn phương, thống lãnh châu quận, trưởng sử, tướng quân thì cậy quyền ỷ thế, chiếm đoạt tài sản của dân, chẳng có phép tắc, khiến người dân đau khổ, than vãn bỏ đi, nên mắc tội này.’
- Bạch đức Thế Tôn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà hai mắt mù lòa, không thấy đường đi, hoặc húc phải cây, hoặc rơi xuống rãnh, sau đó mạng chung, lại thụ thân khác cũng bị như thế?
Đức Phật dạy: ‘Do đời trước, người ấy không tin tội phúc, ngăn ánh sáng của Phật, bịt mắt chim thú, trói nhốt chúng sinh, rồi lấy dãy da trùm kín đầu chúng, nên mắc tội này’.
- Bạch đức Thế Tồn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà nói năng ngọng nghịu, không thốt nên lời, nếu muốn nói gì thì phải nhắm mắt, đưa tay ra dấu?
Đức Phật dạy: ‘Vì đời trước, người ấy phỉ báng Tam bảo, khinh chê thánh đạo, luận bàn việc tốt xấu của người, tìm chỗ hay dở của kẻ khác, vu khống người lương thiện, ganh ghét bậc hiền tài, nên mắc tội này’. _
- Bạch đức Thế Tôn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà bụng to, cổ nhỏ, không ăn uống được, nếu ăn thứ gì, thì thức ăn liền biến thành máu mủ?
Đức Phật dạy: ‘Do đời trước, người ấy trộm cắp thức ăn của chúng tăng, hoặc ở chỗ khuất lấy trộm, lén dùng thức ăn trong các đại hội bố thí, xẻn tiếc tài vật của mình, tham lam tài sản của người, thường mang tâm ác, cho người uống thuốc độc để họ tắt thở, nên mắc tội này’.
- Bạch đức Thế Tôn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà bị ngục tốt dùng đinh sắt cháy đỏ đóng vào trăm khớp xương. Khi vừa đóng xong, tự nhiên lửa bốc lên, đốt cháy toàn thân?
Đức Phật dạy: ‘Do đời trước, người ấy làm thầy châm cứu, châm thân thể người, nhưng bệnh không lành, lại gạt lấy tiền của, khiến họ phải chịu khổ não, buồn đau, nên mắc tội này’.
- Bạch đức Thế Tôn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà thường bị ngục tốt đầu trâu dùng chĩa ba bằng sắt xiên vào thân, ném vào chảo nước sôi, nấu cho rục rã. Lại có gió lạnh thổi đến làm họ sống lại, rồi tiếp tục nấu rục?
Đức Phật dạy: ‘Vì đời trước, người ấy tin theo tà kiến, thờ cúng quỉ thần, giết hại chúng sinh, dội nước sôi lên mình chúng để vặt lấy lông, rồi bỏ vào chảo nước sôi đun nấu, nhiều không thể lường được, nên mắc tội này’.
- Bạch đức Thế Tôn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà thường ở trong thành lửa, than nóng ngập đến ngực, bốn cửa thành đều mở, nếu muốn chạy ra, thì cửa liền đóng lại. Họ chạy đông chạy tây, nhưng không ra khỏi, bị lửa thiêu cháy?
Đức Phật dạy: ‘Do đời trước, người ấy đốt cháy sông núi, thiêu nướng chúng sinh, thân cháy, da bong, nên mắc tội này’.
- Bạch đức Thế Tôn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà thường ở trong núi băng tuyết, gió lạnh thổi đến, da bong, thịt nứt, muốn chết không được?
Đức Phật dạy: ‘Vì đời trước, người ấy làm giặc hung bạo, lột xé áo người, khiến họ chết rét vào những ngày đông giá lạnh; lại còn lột sống da trâu dê, khiến chúng đau đớn không cùng, nên mắc tội này’.
- Bạch đức Thế Tôn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà thường ở trong rừng kiếm, núi dao, mỗi khi nắm bắt, liền bị cắt đứt, thân thể tan nát?
Đức Phật dạy: ‘Do đời trước, người ấy làm nghề đồ tể, đun nấu, cắt chặt, lột xé chúng sinh, làm cho xương thịt tan nát, đầu một nơi, chân một nẻo, rồi treo trên cao để cân bán, hoặc treo sống chúng sinh khiến cho chúng đau đớn cùng cực, nên mắc tội này’.
- Bạch đức Thế Tôn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà năm căn không đủ?
Đức Phật dạy: ‘Do đời trước, người này phóng chim ưng, thả chó dữ vây bắt chim thú, rồi hoặc chặt đầu, chặt chân, nhổ sống lông chim, nên măc tội này’.
- Bạch đức Thế Tôn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà chân rút, lưng còng, co duỗi khó khăn, chân thọt, tay quắp, không thể cầm nắm, cũng không đi được?
Đức Phật dạy: ‘Do đời trước, ở nơi đồng trống, hoặc trên đường đi, hoặc cắm chông, cài tên, đào hố giăng bẫy, để chúng sinh sa hầm, bể đầu, gãy chân, làm tổn thương vô số, nên mắc tội này'.
- Bạch đức Thế Tôn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà bị ngục tốt cùm trói thân thể, không thể thoát ra?
Đức Phật dạy: ‘Do đời trước, người ấy giăng lưới đánh bắt chúng sinh, giam người, nhốt thú, để cho đói khát, khổ đau; hoặc làm quan châu, quan huyện tham lấy tiền của, bức ép người lành, tiếng oán ngập trời, vẫn chưa vừa lòng, nên mắc tội này’.
- Bạch đức Thế Tôn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà bị điên cuồng, ngu si, ngây dại, không biết tốt xấu?
Đức Phật dạy: ‘Do đời trước, người ấy uống rượu say loạn, phạm ba mươi sáu lỗi, thân tâm si dại, tợ như người say, không biết trên dưới, không phân phải trái, nên bị tội này’.
- Bạch đức Thế Tồn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà bị thân hình bé nhỏ, nhưng bộ phận sinh dục rất lớn, thân phải kéo lê, nặng nề mỏi mệt, đi đứng nằm ngồi đều rất khó khăn?
Đức Phật dạy: ‘Do đời trước, người ấy sinh sống bằng nghề buôn bán, tự khen tài vật của mình, chê bai của cải người khác, lường thăng tráo đấu, mua già bán non, dối gạt mọi người, nên mắc tội này’.,
- Bạch đức Thế Tôn! Lại có chúng sinh đã phạm tôi gì mà nam căn không đủ, làm thân huỳnh môn, không thể lấy vợ?
Đức Phật dạy: ‘Do đời trước, người ấy thiến các loài vật như voi, ngựa, bò, dê, heo, chó... làm chúng đau đớn chết đi sống lại, nên mắc tội này’.
- Bạch đức Thế Tôn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà cả cuộc đời không có con cái, sống một mình đơn độc?
Đức Phật dạy: ‘Do đời trước, người ấy độc ác, không tin tội phúc. Đến mùa chim sinh nở, người này mang bình hoặc giỏ, men theo bãi sông, tìm nhặt trứng các loài chim, như hồng hạc, anh vũ, thiên nga, nhạn... đem về nấu ăn, khiến cho các chim này mất con, kêu rên thảm thiết, mắt tuôn máu lệ, nên mắc tội này’.
- Bạch đức Thế Tôn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà chịu mồ côi, nghèo nàn từ nhỏ, không có cha mẹ, anh em, làm tôi tớ cho người khác, khổ nhọc vất vả để sống qua ngày; đến khi lớn lên, gây nhiều tội lỗi, bị quan bắt trói, giam vào lao ngục, không người thăm nuôi, đói khổ khốn cùng, chẳng biết kêu ai?
Đức Phật dạy: ‘Do đời trước, người ấy thích tìm bắt các loài chim ưng, kên kên, diều hâu, hùm, gấu, cọp, beo... mang về cột trói, nhốt nuôi, khiến cha mẹ, anh em của chúng phải sống cô độc, không ai nuôi dưỡng, thường bị đói khát, da liền với xương, muốn chết chẳng được, nhớ thương sầu khổ, kêu khóc bi ai, cảm động lòng người nên mắc tội này’.
- Bạch đức Thế Tôn! Lại có chúng sinh đã phạm tội gì mà thân xấu xí, da đen như sơn, cặp mắt lại xanh, trán má nhô lồi, mặt mụn, mũi xẹp, con ngươi vàng đỏ, hàm răng thưa thiếu, hơi miệng tanh hôi, thấp lùn, bụng to, hông lớn, tay chân co rút, lưng gù, sườn vẹo, ăn mặc lôi thôi, ghẻ lở máu mủ, phù thủng, đau đầu, hủi lác, ung nhọt, hết thảy bệnh ác đều mang vào thân, tuy gần gũi người, nhưng chẳng ai ưa; còn bị kẻ khác đánh đập, giam cầm, chưa từng gặp Phật, chẳng nghe được pháp, không biết đến tăng?
Đức Phật dạy: ‘Do đời trước, người ấy bất hiếu với cha mẹ, không trung với vua, khinh thường kẻ dưới; đối với bạn bè thì không giữ chữ tín; đối với hàng xóm thì không kể trẻ già; trong chốn quan trường chẳng phân tước vị; luôn dối gạt người, tâm ý điên đảo, không có phép tắc, không tin Tam bảo, giết vua, hại thầy, chiếm nước, hại dân, công thành, phá lũy, cướp trại, trộm cắp, tạo vô số tội; lại còn khen mình chê người, ức hiếp người già và kẻ cô độc, phỉ báng hiền thánh, khinh mạn người trên, khi dối kẻ dưới; phạm hết tất cả tội ác, đến nay quả báo nhóm họp, nên mắc tội này’.
Nghe Phật thuyết giảng như vậy, tất cả những người chịu tội khóc than thảm thiết, rơi lệ đâm đìa, rồi bạch Phật:
- Xin đức Thế Tôn trụ lâu ở đời thuyết pháp giáo hóa, giúp chúng con đều được giải thoát.
Đức Phật dạy:
- Nếu ta trụ lâu ở đời thì những người đức mỏng không chịu gieo trồng căn lành, cho rằng Thế Tôn thường còn, nên không nghĩ đến vô thường. Này thiện nam! Thí như đứa bé thường có mẹ bên cạnh thì nó không nghĩ người mẹ khó gặp; khi mẹ đi xa, con mới ngóng trông; lúc ấy mẹ trở về, người con rất vui mừng. Ta nay cũng như vậy, biết các nghiệp duyên thiện ác, thụ báo tốt xấu của tất cả chúng sinh, nên nhập niết bàn.
Khi ấy, đức Thế Tôn nói kệ:
Nước chảy thường không đầy,
Lửa mạnh chẳng cháy lâu,
Mặt trời mọc rồi lặn,
Trăng tròn rồi lại khuyết,
Dù giàu sang, quyền quỳ,
Cũng thoáng chốc qua mau,
Luôn nghĩ nên tinh tấn,
Kính lễ đức Thế Tôn
Kinh Cựu tạp thí dụ ghi: “Thuở xưa, có sáu người kết bạn với nhau, vì cùng tạo tội, nên đều đọa địa ngục và cùng ở trong một vạc nước sôi. Cả ba đều muốn kể lại tội cũ của mình. Người thứ nhất nói ‘sa’, người thứ hai nói ‘na’, người thứ ba nói ‘đặc’, người thứ tư nói ‘thiệp’, người thứ năm nói ‘cô’, người thứ sáu nói ‘đà-la’. Thấy vậy, Đức Phật cười, Mục-kiền-liên hỏi:
- Vì sao Ngài cười?
Đức Phật bảo:
- Có sáu người kết bạn với nhau, đều đọa địa ngục, cùng chịu tội trong một vạc nước sôi. Mỗi người đều muốn kể lại tội cũ của mình, nhưng do nước sôi sùng sục, nên không thể nói nhiều, mỗi người chỉ nói được một tiếng rồi chìm xuống. Người thứ nhất nói ‘sa’, nghĩa là sáu trăm ức nghìn năm ở thế gian mới bằng một ngày ở địa ngục, không biết lúc nào ra khỏi. Người thứ hai nói ‘na’, nghĩa là không có thời hạn ra khỏi địa ngục, cũng không biết lúc nào mới được thoát. Người thứ ba nói ‘đặc’, nghĩa là ôi... ôi! Cần gì phải buôn bán làm ăn! Nghĩ như thế, nên không kềm chế tâm ý, đoạt lấy tài vật của người để cúng dường Tam bảo, tham lam không biết đủ, nay hối hận có ích gì! Người thứ tư nói ‘thiệp’, nghĩa là ta làm ăn không chân thật, nên tài sản lại thuộc về người khác, phải chịu khổ đau. Người thứ năm nói ‘cô’, nghĩa là đâu thể bảo đảm ta ra khỏi địa ngục, sẽ không phạm điều răn cấm, được sinh lên trời hưởng sự vui sướng. Người thứ sáu nói ‘đà-la’, nghĩa là trước kia tôi không hề nghĩ đến sự khổ nơi địa ngục này. Thí như lái xe lạc vào đường hiểm, trục xe bị gãy, hối hận không kịp”.
Có bài tụng:
Tuổi trẻ tính buông lung
Hung tàn, khuyên chẳng bỏ
Mạng người như sương sớm
Lúc già, bệnh đến thân
Xương khớp đều đau nhức
Khi trăm bệnh bủa vây
Nhà cao rồi cũng bỏ
Chịu khổ tại u đồ ”.
77.8. CẢM ỨNG
77.8.1. Chu Tuyên vương giết Đỗ Bá: Đỗ Bá vô tội mà bị Chu Tuyên vương giết, trước khi chết, Đỗ Bá nói với Tuyên vương: “Nếu đã chết mà biết được, thì ba năm sau ta sẽ làm cho ngươi biết”. Ba năm sau, một hôm Chu Tuyên vương đi săn ở Phủ Điền, người ngựa theo rất đông. Đến trưa, bỗng thấy Đỗ Bá cưỡi ngựa trắng, mặc áo trắng; Tư Công Kì bên trái, Chúc bên phải mặc áo đỏ, đội mũ đỏ, tay cầm cung đỏ lắp tên đỏ, xuất hiện bên trái đường đi, bắn một phát trúng ngay tim Tuyên vương xuyên qua lưng, rơi xuống đất mà chết.
77.8.2. Tần Thủy Hoàng chặt cây ở núi Chung Nam: Thời bấy giờ ở Chung Nam có một cây thị rất lớn. Chu vi thân cây mấy trăm người ôm không giáp, bóng cây che rợp cả cung vua. Tần Thủy Hoàng rất ghét, nên sai quân đến đốn hạ. Vừa chặt mấy búa thì trời bỗng nhiên nổi mưa to gió lớn, cát đá bay mịt mù, mọi người kinh hoàng bỏ chạy. Đến tối thì vết chặt trên cây liền lại như cũ. Có một người bị trúng mưa gió, cảm thương hàn không thể đi khỏi, nên ở lại. Đêm hôm ấy, nghe có quỉ đến hỏi cây:
- Vua Tần hung bạo, đem người đến chặt cây, ngươi có bị tổn thương chăng?
Thần cây đáp:
- Ta đã nổi gió mưa đánh đuổi đi. Đâu làm gì được ta!
Lại nói: “Vua Tần sai ba trăm người trùm đầu, buộc chỉ đỏ quanh cây để chặt, nhưng không tránh khỏi thất bại”. Sau đó thần cây im lặng. Người này trở về tâu lên Tần Thủy Hoàng. Có thuyết cho rằng khi chặt đứt cây này, từ trong đó có một con trâu đen xuất hiện, chạy xuống Hoàng hà. Thế là Tần Thủy Hoàng lập đội kị binh tiên phong tùy tùng xa giá.
77.8.3. Đời Tấn, Trương Phùng: Nhà Trương Phùng ở quận Ngô, một hôm có con quỉ đến nói:
- Ông cho tôi thức ăn, tôi sẽ phò hộ gia đình ông.
Trương đồng ý, trải chiếu trên đất, bày biện rượu thịt thơm ngon bố thí cho quỉ. Quỉ được thức ăn, từ đó không còn xúc phạm người, về sau vì làm thức ăn, nên dùng dao chặt vào chỗ dọn ăn của quỉ, bỗng nghe tiếng khóc thật ai oán của mấy mươi người, chúng than:
- Chết rồi làm sao có được quan tài. Nghe chủ nhân có chiếc thuyền bằng gỗ cậy thị, các nô bộc rất quí tiếc, nên lấy thuyền này làm quan tài.
Ông lại thấy có người vác thuyền đến, lại nghe có tiếng cưa xẻ, đục đẽo. Sau khi sửa thuyền xong, ông nghe có tiếng bảo đưa tử thi vào thuyền, tiếng bảo ban, phân chia công việc mà thôi, chứ không thấy gì, cũng không nghe có tiếng đóng đinh. Nhưng bỗng chốc thấy thuyền từ từ bay lên hư không, rồi biến mất vào trong mây. Hồi lâu tự nhiên thuyền từ hư không rơi xuông vỡ thành từng mảnh, rồi có tiếng mấy trăm người cười lớn và nói:
- Ngươi đâu thể giết ta, ta sẽ bị ngươi làm khốn khổ sao? Chỉ biết ngươi có tâm ác, ta ghét hình dáng của ngươi, cho nên mới đập thuyền vỡ nát.
77.8.4. Đời Ngụy, Lưu Xích Phủ: Một hôm Xích Phủ mộng thấy Tưởng hầu đến mời làm Chủ bạ, thời gian rất gấp. Ông vội đến miếu thần cầu xin:
- Tôi còn mẹ già và con thơ, tình cảnh thật rất khó khăn, cúi xin ngài tha cho. Tại cối Kê có Ngụy Biên đa tài, có thể phụng sự tốt cho thần.
Thần miếu nói:
- Ta chỉ đặc biệt mời ngươi thôi. Ngụy Biên là ai mà ngươi định tiến cử vào đây?
Xích Phủ thiết tha cầu khẩn, nhưng cuối cùng thần vẫn không chấp nhận. Thế là Xích Phủ qua đời ngay sau đó.
77.8.5. Ngô vương Phù Sai giết Công Tôn Thánh: Thánh là đại thần của Ngô vương, bị Ngô vương vô cớ giết hại. Khi Việt đánh Ngô, Phù Sai bại trận. Trên đường chạy trốn, Phù Sai nói với Thái tể Ba Bĩ:
- Trước kia ta giết chết Công Tôn Thánh và ném xác xuống Tư sơn, hôm nay trốn chạy, chắc phải đi qua nơi ấy. Ta, trên thì sợ trời, dưới thì hổ thẹn với đất nhấc chân mà chẳng bước, lòng không nỡ đến đó. Ngươi thử gọi xem, nếu Thánh vẫn còn thì lên tiếng!
Bá Bĩ liền hướng về núi Dư Hàng gọi: “Cồng Tôn Thánh!”. Thánh từ trên không đáp: “Ta đây!”. Bá Bĩ ba lần gọi, Tôn Thánh ba lần đáp như thế. Ngô Phù Sai vô cùng hoảng sợ, ngửa mắt lên trời than:
- Trời xanh ơi là trời xanh! Quả nhân há có thể trở về được sao? Thế là Ngô chúa tự sát mà không trở về.
77.8.6. Đời Tấn, Trương Tộ, Trương Thôi: Trương Tộ người An Định, làm thứ sử Lương châu. Vào tháng giêng niên hiệu Vĩnh Hòa thứ mười (354), tự xưng là Lương vương. Bấy giờ thứ sử Hà châu là Trương Thôi, quân chúng hùng mạnh, Tộ nghi ngờ nên đem binh đánh Thôi. Thôi dẫn quân chống cự và giết Tộ. về sau Thôi mấy lần thấy Tộ mang giáp, dẫn thuộc hạ đến chỉ tay vào mình và nói:
- Tên nô tài kia, ta sẽ lấy đầu ngươi!
Thôi vào Cô Tang lập Trương Huyền Tĩnh làm Lương vương, còn mình thì làm Lương châu mục. Sau đó Thôi muốn phế Huyền Tĩnh để tự lập làm vương. Trong lúc sự việc chưa thành, một hôm Thôi cùng với Huyền Tĩnh ngồi xe xuất thành từ
cửa tây, cầu đang chắc chắn bỗng nhiên gãy sụp. Lệ thường của thứ sử là thả chim đưa tin vào sáng sớm, nhưng hôm ấy Thôi vừa buông tay thì chim chết. Lại có chim Quán đến làm tổ tại cửa Quảng Hạ, bắn đuổi cũng không đi. Thôi đích thân đến xem. Lúc ấy Tống Côn người Đôn Hoàng sai em là Tống Trừng đến chỗ tổ chim giết Thôi. Lúc sắp chết, Thôi nói:
- Ngươi gánh vác việc hôn nhân mà lại phản nghịch, trời cao đất dày nhất định soi xét. Ta có thể chết, nhưng sẽ khiến cho ngươi khốn khổ hơn ta!
Tống Côn làm Thượng thư lịnh phụ chính, một hôm bị bệnh, ban ngày mà thấy Thôi từ mái nhà hiện xuống, lặng lẽ nhập vào cây cột, cây cột như bị lửa đốt cháy. Cồn sai người đào lên thì không thấy gì. Do đó Côn bệnh nặng thêm mà qua đời. Còn Tông Trừng, một hôm thắp đèn thấy dầu biến thành máu, ngựa trong chuồng bỗng nhiên mất đuôi, đứa con trai ba tuôi nói giọng ông già: “Tông Côn và Tông Trừng chặt đầu ngươi.”, phía đông thành phát hỏa. Trừng thấy nhiều điềm kì lạ như thế, ba năm sau bị Trương Ung giết chết.
77.8.7. Đời Tống, Đào Kế Chi: Khoảng niên hiệu Nguyên Gia (424-454), Lí Long dẫn đồng bọn ban đêm đi cướp, lúc ấy Kế Chi là huyện lịnh Mạt Lăng âm thầm truy tìm và bắt được Lí Long. Bấy giờ Long có dẫn theo một nhạc công, không biết tên họ. Số là ngay đêm bọn cướp xuất phát, người này cùng với đồng bạn đến nhà người để cùng tấu nhạc. Đào Kế Chi không tra xét rõ ràng vội lập cáo trạng, kết tội người này đồng lõa với bọn cướp. Đến lúc chủ nhà trọ và tất cả các hào quí, tân khách đồng làm chứng, thì Đảo Kế Chi mới biết mình định tội oan. Nhưng văn thư đã ban hành, không muốn tự thay đổi, nên dẫn mười tên cướp ra cổng quận chém đầu.
Nhạc công này rất giỏi đàn ca, nói năng lại khéo léo, nên ngày xử chém, những người thân và bạn bè quen biết đến xem rất đông. Người ấy nói:
- Thân phận tôi tuy thấp hèn, nhưng từ nhỏ trong tâm đã mến mộ điều thiện, chưa từng làm gì sai trái. Tôi thật chẳng phải cướp, Đào huyện lịnh cũng đã biết rõ là mình giết oan tôi. Tôi chết rồi, nếu không có linh hồn thì thôi, nếu có thì tôi sẽ tố cáo.
Nói xong người này khảy đàn tì bà, ca môt khúc nhạc rồi chịu chết. Mọi người biết anh này bị chết oan, nên ai cũng rơi lệ. Hơn tháng sau, một đêm Kế Chi mộng thấy người này đến trước án nói:
- Ngày trước ngươi không phân biệt rõ, đã giết oan ta; ta đã tố cáo lên thiên đình, luật trời đã thuận. Vì thế hôm nay đến bắt ngươi đây!
Nói xong, người này vọt vào trong miệng Kế Chi rồi chạy luôn xuống bụng. Kế Chi giật mình thức dậy, lát sau té ngã chết giấc trên đất, giống như bị bệnh động kinh, hồi lâu mới tỉnh, có lúc lại tái phát. Khi ấy thân hình vặn vẹo, đầu bật ngược ra sau lưng. Bốn ngày sau thì chết. Từ đó về sau gia đình Kế Chi trở nên nghèo cùng, một đứa con chết sớm, một đứa cháu bần cùng khốn khổ, lang thang khắp nẻo.
77.8.8. Đời Tống, Tiêu Nghi: Dự Chương vương Tiêu Nghi chết, một hôm bỗng hiện về nói với Thẩm Văn Lí:
- Ta bị bệnh chưa đáng chết, nhưng do Hoàng thái tử thêm mười một loại thuốc vào cao, cho nên bệnh không thuyên giảm; lại thêm một loại thuốc vào thang khiến ta bị lị không cầm được. Ta đã tố cáo, trước đã hứa cho ngươi về Đông Thành, nay sẽ định việc này!
Tiêu Nghi lấy từ ngực ra một tờ văn thư màu xanh trao cho Văn Lí và nói:
- Niệm tình chúng ta quen nhau từ nhỏ, xin anh giúp tôi trình văn thư này lên chúa thượng!
Nói xong liền biến mất. Văn Lí sợ không dám tiết lộ. ít lâu sau thái tử Văn Tuệ qua đời.
77.8.9. Đời Ngụy, Thành Dương vương: Thành Dương vương Nguyên Huy lúc đầu vì Hiếu Trang đế mà vạch kế hoạch giết Nhĩ Chu Vinh. Đến khi Nhĩ Chu Triệu vào Lạc Dương hại Hiếu Trang, Nguyên Huy sợ hãi chạy đến nương nhờ Khấu Tổ Nhân đang làm Lạc Dương lịnh. Cha, chú và anh em của Tổ Nhân gồm ba người đều làm thứ sử, là nhờ công sức của Nguyên Huy cả. Sau đó Chu Triệu phong thưởng tước Vạn Hộ hầu cho ai bắt hoặc giết Nguyên Huy. Tham lợi, Tổ Nhân giết chết Nguyên Huy, mang đầu đến dâng cho Chu Triệu, đồng thời chiếm đoạt trăm cân vàng và năm mươi con ngựa của Nguyên Huy. Chu Triệu tuy đã có đầu Nguyên Huy, nhưng không thưởng tước hầu cho Tổ Nhân. Một đêm, Chu Triệu nằm mộng thấy Nguyên Huy hiện về nói:
- Hai trăm cân vàng và một trăm con ngựa của ta đang cất giữ tại nhà Tổ Nhân, ngươi có thể đến đó lấy!
Chu Triệu thức dậy nói:
- Nhà Thành Dương vương rất giàu, nhưng tối hôm qua vây bắt và lục soát thì không tìm thấy vàng bạc. Mộng này nhất định là thật.
Sáng hôm sau, Chu Triệu dẫn người đến bắt Tổ Nhân, Tổ Nhân lại thấy Nguyên Huy hiện đến nói:
- Chừng ấy đủ để báo thù ngươi rồi!
Tổ Nhân nộp một trăm cân vàng và năm mươi con ngựa, nhưng Triệu không tin. Tổ Nhân bèn gom góp hết tài sản của thân thuộc, cũng chỉ thêm được ba mươi cân vàng và ba mươi con ngựa, vẫn không đủ số, Triệu nổi giận, treo đầu Tổ Nhân lên cây, dùng đá buộc vào chân, rồi đánh đến chết.
77.8.9. Đời Đường, tháp chùa Đại Từ bị cháy: Chùa nằm tại núi Cát Lâu, phía tây đài Tam Tước, Tương châu. Vào năm Đại Nghiệp cuối cùng (617), giặc cướp nổi lên khắp nơi, nên dân làng sống trong vùng cùng nhau đến đây xây thành cố thủ. Người vật đông vô số kể, ở chật kín cả chùa tháp. Do đó trong sinh hoạt hằng ngày, họ thải ra những chất dơ uế đầy dẫy khắp nơi, hôi thối không thể chịu nổi. Sau khi giặc tan, mọi người cũng đi hết, chư tăng trong chùa không đủ sức tẩy trừ, bỗng nhiên lửa cháy thiêu rụi tất cả, toàn cảnh chỉ còn điện thờ tượng Thái tử tư duy tại góc đông nam chùa mà thôi. Đây có thể cho là lửa trừ sạch tất cả những dơ uế.
Ngôi tháp này do Tùy Cao đế tự tay viết sắc chỉ xây dựng. Lúc nhà Tùy mới sáng nghiệp đế, thiên hạ chưa qui phục, bấy giờ có Ngô quốc công úy Huýnh vôn là một đại thân nhà Chu, trấn thủ vùng Hà Bắc, cai quản cả kinh đô của triều trước. Ông nghe tin họ Dạng có được thiên hạ, trong lòng không phục, bèn tập hợp quân lính, cử binh chống lại. Nhưng mới đánh một trận thì thua tan. Triều đình bắt được trăm vạn tù binh, tất cả đều bị giam cầm tại vườn Du Dự phía bắc chùa, đợi sáng hôm sau chém hết. Khu vườn này vốn có một lỗ rộng, tù binh từ đây trốn thoát. Đến sáng, khi dẫn đến bờ sông Chương xử chém, chỉ còn khoảng sáu mươi vạn. Bấy giờ thây chết làm nghẽn dòng, máu tràn đỏ sông một tháng. Đêm đêm oan hồn than khóc, âm thanh ai oán, xót xa lòng người. Quan quân tâu việc này lên Tùy Cao đế, đế nói:
- Việc tru diệt lần này có rất nhiều người bị oan. Chỉ có Úy Huýnh là giặc, còn tất cả đều bị xua theo mà thôi! Những người có lòng trắc ẩn bấy giờ đều biết việc này. Vì thời cơ lúc mới dựng nước, nên không thể tha. Do đó phải lập chùa Đại Từ trên ngọn Cát Lũ sơn, phía nam vườn Du Dự. Có thể phá đài Tam Tước để xây dựng. Ngày đêm sáu thời lễ Phật, lại thêm một lễ vì những người chết oan trong vườn. Sau khi chùa hoàn thành, đế cho thỉnh tăng cư trú, y theo sác chỉ xướng tên đỉnh lễ, từ đó tiếng khóc lóc oán than mới chấm dứt.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
15/12/2015
PUCL QUYỂN 70 - CHƯƠNG THỤ BÁO (tt)
QUYỂN 70 Quyển này tiếp theo chương Thụ báo. 79. CHƯƠNG THỤ BÁO (tt) 79.11. QUẢ BÁO ÁC Nêu có hình thì ảnh hiện, có tiếng tức có vang. Chưa thấy việc hình còn mà ảnh đã mất, tiếng đang dội mà vang đã dừng. Lẽ thiện ác có...
15/12/2015
PUCL QUYỂN 69 - CHƯƠNG THỤ BÁO
QUYỂN 69 Quyển này gồm một chương Thụ báo. 79. CHƯƠNG THỤ BÁO 79.1. LỜI DẪN Nghiệp dụng của thiện ác chính là biểu hiện của ba báo. Cả hai giống như bóng theo hình, rõ ràng như sáu đường đã minh chứng. Ba báo: - Hiện báo...
15/12/2015
PUCL QUYỂN 68 - CHƯƠNG NGHIỆP NHÂN
QUYỂN 68 Quyển này gồm một chương Nghiệp nhân. 78. CHƯƠNG NGHIỆP NHÂN 78.1. LỜI DẪN Bước vào dòng Thánh thì sông ái yên láng, ngũ trược trong xanh; đánh mất tông chỉ thì núi tà chân động, ba chướng nổi bùng. Tỉnh tâm mà...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 66 - CHƯƠNG OÁN KHỔ
QUYỂN 66 Quyển này có một chương Oán khổ. 77. CHƯƠNG OÁN KHỔ 77.1. LỜI DẪN Ba cõi xoay vần, sáu đường chìm nổi. Bản tính sáng suốt không biến hoại, ý thức phân biệt luôn chấp trì; chợt sinh chợt tử, lúc đến lúc đi, thân...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 65 - CHƯƠNG PHÓNG SINH, CỨU NGUY
QUYỂN 65 Quyển này gồm hai chương: Phóng sinh và Cứu nguy. 75. CHƯƠNG PHÓNG SINH 75.1. LỜI DẪN Từng nghe: chúng sinh si mê, loài nào cũng tham sống; hàm linh ngu độn, sợ chết là lẽ thường. Thế nên, hổ bị mất rừng cùng kh...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 64 - CHƯƠNG SĂN BẮN, CHÀI LƯỚI
QUYỂN 64 Quyển này gồm hai chương: Săn bắn-chài lưới, Từ bi. 73. CHƯƠNG SĂN BẮN-CHÀI LƯỚI 73.1. LỜI DẪN Kính nghĩ: Như Lai lập giáo, rất chuộng nhân từ, nên trong các giới điều, sát sinh là nặng nhất. Bởi chúng sinh tham...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 63 - CHƯƠNG CẦU MƯA VÀ VƯỜN CÂY
QUYỂN 63 Quyển này gồm hai chương: cầu mưa và Vườn cây. 71. CHƯƠNG CẦU MƯA 71.1. LỜI DẪN Thánh đạo rỗng lặng, nên biến hóa vô cùng; do biến hóa vô cùng, nên hễ ứng hiện thì đều khế hợp. Gần đây, âm dương vận hành không đ...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 62 - CHƯƠNG CÚNG TẾ VÀ XEM TƯỚNG
QUYỂN 62 Nội dung quyển này gồm hai chương: Cúng tế và Xem tướng. 69. CHƯƠNG CÚNG TẾ 69.1. LỜI DẪN Trộm nghe: Báu vật vàng và ngọc khác nhau, nhưng mọi người đều quí chuộng. Giáo nghĩa của Lão và Khổng sai biệt, nhưng tấ...
