Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 64 - CHƯƠNG SĂN BẮN, CHÀI LƯỚI

11/12/2015

QUYỂN 64 Quyển này gồm hai chương: Săn bắn-chài lưới, Từ bi. 73. CHƯƠNG SĂN BẮN-CHÀI LƯỚI 73.1. LỜI DẪN Kính nghĩ: Như Lai lập giáo, rất chuộng nhân từ, nên trong các giới điều, sát sinh là nặng nhất. Bởi chúng sinh tham...

PUCL QUYỂN 64 - CHƯƠNG SĂN BẮN, CHÀI LƯỚI
Phần 1

QUYỂN 64
Quyển này gồm hai chương: Săn bắn-chài lưới, Từ bi.
73. CHƯƠNG SĂN BẮN-CHÀI LƯỚI

73.1. LỜI DẪN
Kính nghĩ: Như Lai lập giáo, rất chuộng nhân từ, nên trong các giới điều, sát sinh là nặng nhất. Bởi chúng sinh tham chấp, chỉ quí tiếc mạng mình, giết hại các loài để nuôi sống tự thân. Do đắm vị ngon này mà đánh bắt muôn đường, bởi tham béo bổ kia mà lưới giăng vạn lớp. Hoặc thả chim, xua chó lùng sục khắp núi gò; hoặc cầm kiếm, dương mâu đâm xiên cùng rừng rậm. Hoặc buông câu nơi sông biển, hoặc thả lưới khắp sông hồ. Cho đến dùng mồi ngon câu cá, đạn sắt bắn chim, khiến cho loài vảy mềm phải bỏ mạng, cánh yếu phải mất thân, trên tổ không còn trứng cũ, trong hang không sinh thai mới. Đã lùng sục khắp rừng núi hang đầm, liền kêu nhau trở về thôn xóm. Bấy giờ, mỡ tiêu trong vạc, thịt nát thân khô, thức nương trong nồi canh, hồn gá nơi từng miếng thịt. Sao cho thân này là đáng trọng, mạng nọ lại khinh thường? Đổ rồi giết hại muôn loài dưỡng nuôi thân xác. Chỉ vì ngon miệng no thân, mà không nghĩ đến nỗi bi thương; chỉ vì món ngon mà nhẫn tâm giết hại; khiến cho oan gia cừu hận cùng chốn u minh, trái chủ đuổi theo khắp hư không giới. Mãi dùng nghiệp tướng bất thiện vun đắp nơi thân, các ác luật nghi chẳng bao giờ từ bỏ.
Bồ-tát vì việc này mà chau mày, đại sĩ cũng vì đây mà tuôn lệ. Nhưng bốn loài qua lại, sáu nẻo xuống lên, hoặc hôm nay oán thù, ngày trước lại chí thân; hoặc nhiều kiếp thâm giao, hôm nay thành xa cách; biến hình đổi dạng, chẳng thể biết nhau; chết kia sinh đây, làm sao lường được. Chỉ có đạo Từ bi dùng việc cứu vớt làm đầu; bản hoài của bồ-tát lấy hạnh thương giúp làm sự nghiệp. Cho nên, các ngài luôn dạo khắp các địa ngục chịu khổ thay tội nhân, độ khắp chúng sinh ban cho họ sự an lạc.
73.2. DẪN CHỨNG
73.2.1. Ác luật nghi
Kinh Niết-bàn ghi: “Có mười sáu ác luật nghi:
1. Vì lợi, nuôi dê cho mập rồi đem bán.
2. Vì lợi, mua dê về làm thịt.
3. Vì lợi, nuôi lợn cho mập rồi đem bán.
4. Vì lợi, mua lợn về làm thịt.
5. Vì lợi, mua trâu bò nghé về nuôi mập rồi đem bán.
6. Vì lợi, mua trâu bò về làm thịt.
7. Vì lợi, nuôi gà cho béo mập rồi đem bán.
8. Vì lợi, mua gà về làm thịt.
9. Câu cá.
10. Làm thợ săn.
11. Làm giặc cướp.
12. Giết thuê, hoặc làm đao phủ.
13. Giăng lưới bắt chim.
14. Nói lưỡi đôi chiều.
15. Làm lính giữ ngục.
16. Luyện chú sai khiến rồng.
Người thường vì chúng sinh mà dứt hẳn mười sáu nghiệp ác trên, thì gọi là người trì giới”.
Tạp A-tì-đàm tâm luận ghi: “Có mười hai ác luật nghi:
- Mổ dê: Nghĩa là giết dê. Với tâm cố ý giết hại nên hoặc là nuôi, hoặc bán, hoặc giết đều gọi là mổ dê.
- Nuôi gà: Cũng như trên.
- Nuôi heo: Cũng như trên.
- Bắt chim: Dùng nghề bắt giết chim để kiếm sống.
- Đánh cá: Dùng nghề đánh cá để nuôi sống.
- Săn bắn: Dùng nghề săn bắn để kiếm sống.
- Làm giặc: Thường đi cướp của, giết người.
- Giết thuê: Giết người để nuôi sống.
- Làm đao phủ: Giết người để nuôi sống.
- Giữ ngục: Làm nghề giữ ngục để kiếm sống.
- Chú rồng: Dùng bùa chú sai khiến rồng, rắn làm các trò vui kiếm sống.
- Làm thịt chó: Chỉ cho nghề làm thịt chó của hạng chiên-đà-la.
- Chủ đoàn thợ săn: Các vương gia thường làm chủ đoàn săn bắn”.
Luận Đối pháp ghi: “Những người nào làm trái luật nghi? Đó là những người vì nuôi sống thân mạng mà thích làm những việc tổn hại chúng sinh như: giết dê, nuôi gà để bán, nuôi heo để bán, bắt chim, đánh cá, săn nai, bẫy thỏ, trộm cướp, giết thuê, đao phủ, mổ bò, ở trong rừng huấn luyện thuần phục voi, lập đàn chú rồng, giữ ngục, đặt điều gièm pha...”.
Những Bất luật nghi như thế, hoặc có người do sinh vào gia đình làm nghề ấy, hoặc có người học theo nghề nghiệp ấy. Nghĩa là có người sinh vào nhà đã làm như thế, hay sinh vào nhà khác sau mới học theo nghiệp ấy. Nói thời gian quyết định nghiệp ấy hiện hành, nghĩa là dùng phương tiện thân, miệng làm đầu để quyết định thời gian hiện hành ác nghiệp. Đó gọỉ là Bất luật nghi.
Kinh Xuất diệu ghi: “Nam hải bỗng nhiên nổi lên một con sóng lớn dội vào bờ, đẩy ba con cá lớn đến chỗ nước cạn. Chúng nói với nhau: ‘Chúng ta bị mắc cạn ở đây, phải nhân lúc nước chưa rút, ta bơi ngược dòng trở về biển khơi’. Bơi được một đoạn, chúng gặp chiếc thuyền chắn ngang, cả ba đều không qua được. Thế là con thứ nhất dốc hết sức phóng qua thuyền và bơi đi. Con thứ hai nương đám cỏ mà vượt qua. Riêng con thứ ba vì hơi tàn, sức kiệt nên bị người đánh cá bắt. Phật thấy như thế liền nói kệ:
Ngày nay đã qua,
Mạng sống giảm dần,
Như cá cạn nước,
Nào có vui gì? ”.
73.2.3. Sa-môn Sư-chất
Kinh Bồ-tát bản hạnh ghi: ‘‘Vua Ba-tư-nặc có vị đại thần tên là Sư-chất của cải vô số, đã đến lúc đáng được hóa độ.
Sáng hôm ấy, tôn giả Xá-lợi-phất đắp y, ôm bát đến nhà Sư-chất khất thực. Thấy tôn giả đến, Sư-chất liền đỉnh lễ, thăm hỏi, mời ngồi rồi thiết trai cúng dường. Dùng cơm xong, tôn giả rửa tay, súc miệng rồi nói với Sư-chất:
- Vinh hoa phú quí là nguồn gốc của các khổ. Ân ái gia đình khác nào lao ngục! Những thứ ta đang có đều vô thường. Những vật quí giá trong ba cõi là huyễn hóa. Chết đi sống lại trong năm đường, thân này thay đổi muôn hình vạn trạng, không có thật ngã.
Nghe giáo pháp ấy, Sư-chất sợ hãi, không còn luyến tiếc vinh hoa phú quí, chẳng còn thích tình ân ái vợ chồng, thấy nhà cửa giống như nấm mộ. Thế rồi, ông trao sản nghiệp lại cho em trai, cạo bỏ râu tóc, đắp ca-sa, vào rừng sâu ngồi thiền, hành đạo.
Vợ Sư-chất nhớ chồng, mãi buồn rầu, không thể nào vui với người chồng mới. Người chồng hỏi:
- Gia đình ta giàu có, cùa cải châu báu vô số, đâu thiếu thử gì! Vì sao nàng lại buồn như thế?
Người vợ đáp:
- Thiếp nhớ Sư-chất không nguôi, nên mới buồn bã như vậy.
Người chồng hỏi:
- Bây giờ nàng đã là vợ tạ, sao còn nhớ thương chồng cũ?
Người vợ trả lời:
- Chàng ấy đối xử với thiếp rất tốt, không ai có thể sánh bằng.
Phần 2

Thấy chị dâu mãi nhớ anh’ mình, người em lo sợ một ngày nào đó anh sẽ xả giới trở về giành lại sản nghiệp. Cậu ta đến nói với tướng cướp:
- Ta trả cho ông năm trạm đồng tiền vàng, hãy chặt đầu vị sa-môn kia đem về đây.
Tướng cướp nhận tiền rồi đi vào núi gặp sa-môn Sư-chất. Vị ấy hỏi:
- Tôi không có tài sản, chỉ có một bộ y cũ rách. Ông đến đây để làm gì?
Tướng cướp trả lời:
- Em trai của ông thuê tôi đến giết ông.
Vị sa-môn sợ hãi nói:
- Tôi mới làm sa-môn, lại chưa được gặp Đức Phật, chưa hiểu giáo pháp, xin đừng vội giết tôi! Đợi tôi gặp được Đức Phật, thông hiểu một ít giáo pháp rồi hãy giết cũng chưa muộn.
Tướng cướp bảo:
- Không được! Ta phài giết ông ngay bây giờ.
Sa-môn Sư-chất liền đưa một cánh tay ra rồi nói với tướng cướp:
- Xin ông hãy chặt lấy cánh tay này, để lại tấm thân cho tôi gặp Đức Phật!
Tướng cướp liền chặt một cánh tay mang về cho người em.
Sa-môn Sư-chất đến gặp Đức Phật, đỉnh lễ Ngài rồi lùi ngồi một bên. Đức Phật dạy:
- Từ vô số kiếp đến nay, ông thường cắt tay, chân, đầu não của chúng sinh đến nỗi máu đổ nhiều hơn nước bốn biển, xương chất cao hon núi Tu-di, nước mắt nhiều hơn nước trăm sông, sữa mẹ đã uống nhiều hơn nước hồ lớn. Ông đã thụ các thân hình từ vồ số kiếp chứ không phải chỉ một đời này đâu! Tất cả chúng sinh có thân đều chịu các khổ. Các khổ đều từ tập sinh ra. Do ái tập mới có các khổ. Nếu đoạn trừ được ngu si tham ái thì không huân tập các hành. Không huân tập các hành thì không có thân. Đã không có thân thì các khổ liền diệt. Ông hãy tư duy bát chính đạo.
Nghe Đức Phật dạy, sa-môn Sư-chất hoát nhiên đại ngộ, chứng quả A-la-hán. Ngay lúc ấy, thầy xả bỏ báo thân, vào niết-bàn tịch tĩnh.
Tướng cướp mang cánh tay của a-la-hán Sư-chất về giao cho người em. Cậu ta đem đến trước mặt chị dâu nói:
- Chị thường bảo nhớ chồng cũ của mình. Vậy, cánh tay của anh ấy đây này!
Nghe thế, cô ta nghẹn ngào thương khóc, liền đến tâu vua. Vua điều tra quả đúng sự thật, bèn giết người em tàn nhẫn đó.
Các vị tì-kheo thưa hỏi Đức Phật:
- Vị sa-môn này đời trước đã làm việc gì mà đời nay bị chặt tay, đã tu cội đức gì mà đời nay gặp đức Thế Tôn, chứng quả" A-la-hán?
Phật bảo các tì-kheo:
- Vào thời quá khứ trong nước Ba-la-nại có vị vua tên Bà-la-đạt. Một hôm, ông ta ra ngoài săn bắn, mãi đuổi theo thú rừng nên bị lạc đường. Nơi đó, cây cối rậm rạp không có cách nào ra được, nhà vua vô cùng sợ hãi. Bỗng gặp vị bích-chi phật, vua hỏi:
- Trẫm bị lạc đường, không biết tùy tùng đang ở đâu. Làm sao có thể ra khỏi chốn này?
Khi ấy, vị bích-chi phật đang có một mụt độc nơi tay nên không thể nhấc lên được, bèn dùng chân chỉ đường. Nhà vua phẫn nộ, vì cho rằng người này là dân của ta, vậy mà gặp ta không đứng dậy chào còn dùng chân chỉ đường nữa!
Nhà vua liền rút đao chặt tay vị ấy. Vị bích-chi phật suy nghĩ: ‘Nếu nhà vua không biết ăn năn, về sau sẽ mắc tội nặng, chẳng khi nào thoát được’.
Nghĩ xong, ngài ở trước nhà vua, bay lên hư không hiện các phép thần thông. Thấy vậy, nhà vua gieo mình xuống đất gào khóc, ăn năn về lỗi lầm của mình. Vua thưa:
- Mong ngài hạ xuống đất nhận sự sám hối của con!
Vị bích-chi phật liền hạ xuống nhận sự sám hối. Nhà vua đầu mặt lễ chân ngài và bày tỏ:
- Xin ngài thương xót nhận sự sám hối của con. Mong ngài đừng để con chịu đau khổ lâu dài!
Bấy giờ, vị Bích-chi phật liền xả bỏ báo thân nhập Vô dư niết-bàn. Nhà vua trà-tì, xây tháp, mang hương hoa đến cúng dường xá-lợi. Ông thường đến trước tháp sám hối, cầu nguyện được độ thoát.
Đức Phật bảo:
- Nhà vua lúc bấy giờ, nay chính là sa-môn Sư-chất. Do chặt tay vị bích-chi phật, nên trong năm trăm đời, ông ta thường bị chặt tay mà chết. Nhờ biết sám hối nên ông ta không bị đọa địa ngục, luôn có trí tuệ, hiểu rõ các pháp, được độ thoát, thành A-la-hán. Này các tì-kheo! Tất cả tai ương hay phúc báo không bao giờ bị hư mất cả.
Nghe Đức Phật dạy, các tì-kheo đều kinh sợ về những việc ác. Họ cùng đỉnh lễ Ngài rồi lui ra”.
Có bài tụng:
Dục lạc do buông lung Khiến thân thêm kho sầu Vinh chỉ tăng sủng nhục Nguy hiểm tựa mây trôi Săn, chài tâm hiếu sát Trái lòng từ, tổn tâm Oan gia trở về báo Thống khổ làm sao bày.
73.3. CẢM ỨNG
73.3.1. Nước Sở, Dưỡng Do Cơ giỏi bắn cung: Sở vương đang dạo trong rừng, bỗng thấy một con vượn trắng, liền bảo một tay thiện xạ bắn. Bắn mấy phát, vượn đều bắt được tên và cười đùa. Vua liền bảo Do Cơ bắn, Do Cơ vừa vỗ cung thì vượn ôm cây kêu la.
Vào thời Lục quốc, Canh Luy tâu Ngụy vương:
- Chỉ cần thần buông không dây cung cũng hạ được chim.
Ngụy vương bảo:
- Thế thì có thể bắn một phát khiến chim rơi đến đây chăng?
Canh Luy tâu: “Được!”.
Bấy giờ có một con nhạn từ phương đông bay đến, Canh Luy giương cung buông giây không, chim liền rơi.
73.3.2. Gia Cát Khác: Ông làm Thái thú Đan Dương, một hôm đi săn ở khe núi, gặp một sinh vật như đứa bé đưa tay muốn dẫn. Ông bảo mọi người kéo rời cô địa, vừa rời cố địa thì vật ấy chết. Sau đó Tham Vị hỏi nguyên nhân, mọi người cho là thần linh, nhưng Cát Khác nói: “Việc này, trong Bạch trạch đồ ghi: ‘Tinh của khe núi như đứa bé, khi thấy người thì đưa tay muốn dẫn người, gọi là Sĩ Dần, nếu rời cố địa thì chết”. Mọi người đều cho là thần minh mà kính trọng. Còn các vị vẫn chưa thấy được nó”.
73.3.3. Tề Tương công giết Lỗ Hoàn công: Văn Khương là phu nhân của Lỗ Hoàn công, cũng là em của Tề Tương công. Tề Tương công thông gian với em gái, Hoàn công mắng Văn Khương, Văn Khương thuật lại với Tương công. Tương công nổi giận mời Hoàn công uống rượu. Tiệc xong, Hoàn công vừa ra khỏi cung, Tương công sai công tử Bành Sinh đưa Hoàn công lên xe. Bành Sinh có sức mạnh, bóp sườn Hoàn công khiến ông này chết trên xe.
Người nước Lỗ nói với Tề Tương công:
- Vua nước tôi sợ uy của đại vương, không dám ở yên, nên đến vun đắp mối cựu giao, nhưng sau khi lễ thành, không trở về nước, cũng không có chỗ về, mà sao có tiếng xấu ác vang khăp các nước chư hâu. Xin ngài bắt Bành Sinh để trừ nỗi sỉ nhục cho vua nước tôi!
Thế là người nước Tề đổ tội cho Bành Sinh và giết chết. Sau đó, một hôm Tương công đi săn ở Bối Phụ, thấy một con heo lớn, nhưng tùy tùng nói:
- Thần thấy con heo chính là Bành Sinh!
Tương công nổi giận nói: “Bành Sinh sao dám gặp ta?”, rồi giương cung định bắn, con heo liền đứng thăng như người mà khóc. Tương công quá sợ hãi, nên từ xe rơi xuống đất, bị thương ở chân, liền truyền lệnh trở về cung, về sau hai vị đại thần là Liên Xứng và Quản Chí Phủ làm loạn, giết chết Tề Tương công.
73.3.4. Đời Ngô, rắn báo thù: Tục Sưu thần kí ghi: “Vào cuối đời Ngô, Trung Quốc, có một người ở Lâm Hải vào núi làm nhà tạm trú để săn bắn. Đêm nọ, có người cao một trượng, mặc áo vàng, thắt lưng trắng đến nói: ‘Ta có kẻ thù, hẹn

Phần 3

sáng mai đắnh nhau. Anh có thể giúp ta, ta sẽ báo đáp’. Thợ săn nói: ‘Tôi giúp anh, nhưng đâu cần phải báo đáp!’. Người áo vàng nói tiếp: ‘Sáng mai, khoảng giờ ăn, anh đến bên suối, kẻ địch từ phía bắc đến, ta đứng phía nam. Thắt lưng trắng là ta, vàng là địch’. Người thợ săn đồng ý.
Sáng sớm hôm saụ, anh ra bờ suối, quả nhiên nghe bờ bắc có âm thanh giống như mưa to gió lớn, cây cối bốn phía ngã rạp; phía nam cũng như vậy. Lúc ấy, anh ta thấy hai con rắn dài khoảng hơn mười trượng, vừa gặp, chúng liền xông vào quấn lấy nhau. Rắn trắng có vẻ yếu thế, anh ta liền dương cung bắn rắn vàng. Rắn vàng liền bỏ mạng. Đến khi trời sắp tối, anh ta thấy người hôm trước đến cảm tạ và nói: ‘Anh có thể ở lại đây săn bắn trong một năm, sang năm chớ đến nữa. Nếu không sẽ gặp họa’. Anh ta đáp: ‘Được!’
Thế là anh ta ở lại săn bắn một năm, thu hoạch rất nhiều, gia đình trở nên giàu có. Vài năm sau, anh ta nhớ lại nơi kia rất nhiều thú mà quên mất lời dặn, nên lại đến săn bắn. Người thắt lưng trắng gặp anh ta và nói: ‘Ta đã dặn anh chớ đến nơi này nữa mà anh không nghe ta. Con của kẻ thù đã lớn, nay nhất định sẽ báo thù anh, ta không làm gì được!’. Anh ta nghe vậy, vô cùng sợ hãi, liền muốn trở về, nhưng không kịp. Ba người mặc áo đen cao tám thước đột nhiên xuất hiện, đồng há miệng hướng về anh ta, khiến anh thợ săn lập tức vong mạng”.
Lã thị Xuân Thu ghi: “Vua Thang thấy một người giăng lưới bốn phía rồi nói: ‘Các loài từ trên trời sa xuống, các loài từ dưới đất chui lên, các loài từ bốn phương đến đều sa vào lưới của ta!’. Vua Thang bèn nói: ‘Ôi! Vậy thì bắt sạch rồi! Chẳng phải là Kiệt thì ai mà làm như vậy.”’.
73.3.5. Đời Tống, Nguyễn Trĩ Tông: Ông người Hà Đông, Trung Quôc. Niên hiệu Nguyên Gia mười sáu (439), ông theo Thái thú quận Chung Li là Nguyễn Âm đến trú tại quận này. Một lần Âm sai ông đến một thôn xa, có nhân viên của quận là Cái cẩu và Biên Định đi theo. Khi vào một nhà dân, mơ màng như ngủ mà không thể thức dậy được. Người dân cho là ông đã chết, bèn đưa ra ngoài thành để lo liệu quan quách tẩm liệm. Qua một đêm thì ông tỉnh dậy và kể:
- Có khoảng hơn trăm người đến bắt trói và dẫn tôi đi. Đi vài mươi dặm thì gặp một ngôi chùa Phật. Tăng chúng nơi đây cúng dường không khác thế gian. Lúc ấy có một vị tăng nói: “Ông thích săn bắn và câu cá, nay phải chịu tội báo!”. Nói xong vị đạo nhân liền lột da, lóc thịt tôi giống như cách làm thịt gia súc, thú rừng; kế đó ném tôi vào dòng nước sâu, dùng lưỡi câu móc vào miệng kéo lên, lại mổ xẻ, cắt chặt giống như làm nem chả, rồi chưng nấu, chiên nướng khiến da thịt nát nhừ. Sau đó sống lại như cũ, toàn thân đau đớn, thống khổ muôn phần. Đến ba lần như thế mới thôi. Bấy giờ đạo nhân hỏi tôi: “Muốn sống không?”. Tôi liền dập đầu xin tha mạng. Đạo nhân bảo tôi ngồi xổm trên đất, dội nước lên người rồi nói: “Dội một lần trừ tội trong năm trăm đời”.*
Tôi thiết tha cầu xin dội nhiều lần, nhưng đạo nhân bảo chỉ ba lần là đủ. Lúc ấy tôi thấy có vài con kiến, đạo nhân chỉ và nói: “Sinh vật nhỏ bé như thế cũng không được giết, nói gì đến những loài lớn. Nếu cá hoặc thú tự chết thì có thể ăn được. Vào ngày trai hội phải mặc y phục mới, nếu không có thì mặc y phục cũ cũng được, nhưng phải thật sạch sẽ”. Nhân đây tôi hỏi: “Ba người cùng đi, vì sao chỉ một mình tôi chịu tội khổ?”. Đạo nhân nói: “Hai người kia tự biết tội phúc, biết mà vẫn cố phạm. Chỉ mình ngươi ngu muội chẳng biết nhân duyên quả báo, cho nên mượn việc này để răn nhắc ngươi”. Sau đó tôi sống lại mấy ngày sau có thể ngồi dậy.
Từ đó ông không săn bắn, câu cá nữa.
73.3.6. Đời Lương, Trâu Văn Lập: Ngôi chùa Tiểu Trang Nghiêm tại làng Định Âm, Kiến Khang vốn là miếu Linh Lăng vương đời Tấn. Niên hiệu Thiên Giám thứ sáu (507), thiền sư Độ muốn xây dựng chùa nơi đây. Bấy giờ có Trâu Văn Lập sinh sống bằng nghề giết mổ. Có lần sắp giết một con nai, nai quì xuống khóc lóc. Ván Lập cho là điềm xấu, liền giết chết, khi mổ ra mới biết nai có thai sắp sinh. Văn Lập mang vào nhà bếp mà lòng cảm thấy bi thương. Do đây ông ngã bệnh, râu tóc rụng hết, toàn thân nổi ung nhọt. Bấy giờ Văn Lập vô cùng hổ thẹn, hối hận tự trách, đến thiền sư Đạo Độ thiết tha tỏ bày sám hối, lập thệ nguyện lớn dốc hết gia sản mua lại vùng đất này để lập già-lam.
73.3.7. Đời Tùy, Phiêu kị tướng quân họ Vương: Niên hiệu Khai Hoàng cuối cùng (600), Vương tướng quân người Đại châu trấn giữ Bồ châu. Ông này rất thích săn bắn, đã giết vô số thú rừng. Lúc đầu ông có năm con trai, về sau sinh được một cô con gái, dung mạo đoan chính và rất xinh đẹp, ai thấy cũng yêu mến. Vợ chồng Vương quí con gái như châu ngọc.
Khi về quê, tất cả họ hàng thân tộc sắm sửa y phục cho bé và cùng nhau yêu thương chăm sóc. Khi bé lên bảy tuổi, một hôm bỏ nhà đi đâu mất, tìm kiếm khắp nơi vẫn không thấy. Cha mẹ nghi người làng bên đùa giấu đi, bèn sang hỏi, nhưng cũng không có. Các người anh cưỡi ngựa đi xa truy tìm thì gặp em gái ở một nơi cách nhà ba mươi dặm, nhưng ngựa các người anh đuổi theo không kịp, phải huỵ động mấy mươi kị mã bao vây cả vùng mới dẫn về được. Lúc bấy giờ miệng bé gái phát ra những tiếng kêu như loài thỏ, chân bị gai đâm đầy khắp, khêu ra đầy một vốc. Từ đó bé không ăn uống, trải qua hơn một tháng thì qua đời. Vợ chồng Vương đau xót không cùng, bởi cha săn bắn mà con gái phải gặp họa. Từ đó cả nhà ăn chay giữ giới, siêng năng tu hành.
73.3.8. Đời Tùy, Nhạn Dương lang tướng Khương Lược: Lược người Thiên Thủy, lúc nhỏ rất thích săn bắn, giỏi phóng chim, thả chó đuổi thú. về sau bị bệnh thấy bầy chim cả nghìn con không đầu vây quanh giường kêu bằng tiếng người: “Hãy mau trả đầu đây!”. Lược cảm thấy đầu vô cùng đau đớn đến ngất xỉu, hồi lâu mới tỉnh lại. Nhân đó, chim bảo ông thỉnh chúng tăng cấp tốc làm pháp sự cầu siêu cho mình; ông đồng ý, đàn chim mới chịu bay đi, bệnh của ông cũng lành. Từ đó, suốt đời ông khống ăn thịt, uống rượu, không sát hại sinh mạng. Lâm gặp Khương Lược tại Lũng Tả, lúc này Lược hơn sau mươi tuổi
Một sáng ngày kia, người trong làng còn đang say ngủ, bỗng có người đến gõ cửa nhà, gọi tên đứa bé ây. Cha mẹ bảo nó ra gặp, thì một người nói:
- Quan gọi ngươi!
Đứa bé hỏi: Gọi đi làm lao dịch ư? Để tôi vào lấy lương thực và y phục!
Người kia nói: “Không cần!”. Thế là người kia dẫn nó đi, một lát sau thì đến một ruộng dâu ở phía nam thôn. Ruộng đã được cày, nhưng chưa gieo giống. Tại đây nó thấy bên phải cánh đồng có một tòa thành nhỏ, bốn mặt có lầu cổng màu đỏ, canh phòng rất nghiêm. Đứa bé lấy làm lạ hỏi:
- Thành này có từ bao giờ vậy?
Người kia mắng, bảo nó không được hỏi, rồi dẫn sang cổng phía bắc và bảo nó vào trước. Nó vừa vào, cổng thành tự nhiên đóng chặt, không thấy một ai, chỉ là một tòa thành trống. Trên mặt đất toàn là tro nóng và than lửa vụn, lút đến mắt cá chân, nó bỗng kêu la và chạy sang cửa nam, nhưng vừa đến thì cổng liền đóng. Nó chạy sang cổng đông và tây thì cũng như thế. Lúc ấy rất đông nam nữ trong thôn ra đồng hái dâu, thấy đứa bé đang ở trong ruộng, miệng kêu lạ, rảo chạy khắp nơi. Mọi người đều cho điên hay sao mà từ sáng sớm đến giờ cứ chạy đùa mãi như thế.
Đến trưa, những người hái dâu về hết mà nó vẫn còn. Cha mẹ nó hỏi:
- Gặp con tôi chăng?
Họ đều nói:
- Con ông đang vui đùa, chạy nhảy tại đám ruộng phía nam thôn này. Chúng tôi gọi mãi mà nó không chịu về!
Cha nó vội đến. Từ xa ông thấy nó đang chạy, liền kêu lớn tên nó. Chỉ một lần kêu là nó liền dừng, thành tro cũng biến mất. Thấy cha, nó té ngã, miệng chỉ gào khóc mà không nói gì. Bấy giờ từ đầu gối trở lên, máu thịt khô teo, từ đầu gối trở xuống thì bị phồng rộp như bỏng lửa. Cha nó vội bồng về nhà chạy chữa. Sau đó từ đùi trở lên thì lành lặn như cũ, nhưng từ đầu gối trở xuống thì trở thành xương khô. Người trong làng nghe vậy đến thăm và hỏi nguyên do, cha nó bèn kể lại những điều đã thấy. Mọi người thấy chỗ nó chạy qua hiện dấu chân rất rõ ràng, hoàn toàn không có tro than nóng. Bởi do nghiệp tội, nên nơi đâu cũng có thể thấy là địa ngục. Từ đó nam nữ trong thôn đều ăn chay giữ giới, suốt đời không bỏ.
Việc này do pháp sư Đạo Tuệ người làng bên với gia đình đứa bé đã kể lại cho Lâm.
73.3.10. Đời Đường, Toại An công Lí Thọ: Lí Thọ làm đô đốc Giao châu, vốn dòng tôn thất nên được phong vương. Niên hiệu Trinh Quán thứ nhất (627) Thọ bị bãi chức trở về kinh thành. Thọ rất thích săn bắn, trong nhà thường nuôi mấy cặp chim ưng, nên hay giết chó nhà người khác lấy thịt cung cấp chim này. Khi Thọ bị bệnh, ông thấy năm con chó đên đòi mạng. Thọ nói:
- Giết các ngươi là nô bộc Thông Đạt! Đó là lỗi của nó chứ không phải tội của ta
Các con chó đồng nói:
- Thông Đạt há tự ý giết chúng ta sao? Vả lại chúng ta đã không trộm thức ăn của ông, chỉ chạy ngang qua cửa nhà ông, mà ông vô cớ giết oan chúng ta. Chúng ta nhất định phải báo thù, không thể bỏ qua!

Phần 4

Nghe vậy Thọ tạ tội, xin được cầu siêu truy tiến chúng. Bốn con đồng ý, còn một con nói:
- Ông đã giết oan tôi, trong lúc ta chưa chết, ông còn sai người lóc thịt ta ra từng miếng từng miếng, khiến ta phải chịu đau đớn không cùng. Mỗi khi ta nghĩ đến nỗi đau này, tha cho ông được sao?
Lúc ấy bỗng nhiên xuất hiện một người xin tha mạng cho Thọ, người ấy nói:
- Giết chết ông ấy thì ngươi cũng không được lợi gì, chi bằng tha, để ông ấy cầu minh phúc cho ngươi. Như thế há không tốt sao?_ Bấy giờ con chó này mới chịu.
Lát sau Thọ tỉnh lại, nhưng toàn thân tê liệt, không cử động được. Thọ bèn tạo minh phúc cho năm con chó ấy, nhưng bệnh của ông rốt cuộc vẫn không lành. Diên An công nói em vợ của Thọ kể lại chuyện này cho Lâm.
73.3.11. Đời Đường, Phương Sơn Khai: Khai người Thành Vũ, Tào châu. Lúc nhỏ Khai đã thiện xạ, nên lấy việc săn bắn làm kế sinh nhai, đã giết rất nhiều chim thú. Niên hiệu Trinh Quán mười một (637), Khai qua đời, qua một đêm thì sống lại và kể rằng:
- Lúc vừa chết, tội bị hai người dẫn đi. Cả ba đi khoảng hơn mười dặm thì đến một tòa núi, bấy giờ trong đoàn có đến ba con quỉ, tất cả theo bậc cấp mà lên. Lúc sắp đến đỉnh, bỗng nhiên có một con chim ưng trắng lớn, mỏ và móng đều bằng sắt bay đến quặp vào má trái tôi rồi bay đi. Sau đó lại có một con chim ưng đen mỏ và móng cũng bằng sắt bay đến quặp vào vai phải tôi rồi bay đi. Khi lên đến đỉnh, quỉ dẫn tôi vào sảnh đường. Nơi đây có một người mặc áo bào đỏ, đầu vấn khăn đen hỏi tôi: “Lúc còn sống ngươi tạo công đức gì?”. Tôi đáp: “Từ khi làm người đến nay, tôi không tạo công đức gì”. Vị quan ấy bảo: “Hãy dẫn người này đến khu viện phía nam để xem"
Hai người tuân mệnh dẫn tôi đi về hướng nam đến một tòa thành cao vút, họ gõ vào cửa bắc của thành mấy cái thì cửa liền mở. Tôi thấy trong đó lửa cháy hừng hực, cạnh cửa có mấy con rắn độc dài khoảng hơn mười trượng, đầu lớn bằng cái hộc năm đấu, miệng đang phun lửa như muốn bắn vào người. Tôi vô cùng sợ hãi, không biết tránh nơi đâu, chỉ biết dập đầu niệm Phật mà thôi. Thế là cửa thành tự nhiên đóng lại. Bây giờ tôi lại thấy vị quan ấy có ý muốn đưa tôi đi thụ tội khổ, nhưng một thuộc quan khác can: “Sơn Khai chưa đúng lúc phải chết, nếu vào thành này e rằng không ra được. Chẳng bằng tha cho về trần gian tu tạo công đức”.
Vị quan liền nghe theo, sai hai người đưa tôi theo đường cũ xuống núi, lại gặp hai con chim ưng muôn quặp tôi, nhưng nhờ hai người kia giúp đỡ nên thoát được. Sau khi xuống núi thì gặp một cái hầm chứa toàn là vật dơ. Trong lúc dần dà, bị hai người kia xô xuống hầm, một lát sau thì thấy mình sống lại. vết sẹo do hai con chim ưng quắp vào rất sâu, suốt đời không liền lại được, về sau Sơn Khai xa lìa vợ con vào nương chùa Phật, hàng ngày siêng năng tụng đọc kinh điển.
73.3.12. Đời Đường, Lưu Ma Nhi: Ma Nhi người thôn Huyền Tuyền, huyện Hiếu Nghĩa, Phan châu. Ngày hai mươi bảy tháng tám, niên hiệu Hiên Khánh thứ tư (659), Ma Nhi bị bệnh mà qua đời. Sáng hôm sau, con trai của Ma Nhi là Sư Bảo cũng chết. Cha con Ma Nhi đều là những kẻ hiểm ác. Bấy giờ có Kì Long Uy người ở thôn phía bắc, lúc đi hái củi bị xe cán chết, qua một ngày thì sống lại. Long Uy kể rằng:
- Tôi thấy con trai của Ma Nhi là Sư Bảo bị ném vào vạc nước sôi, chỉ trong chốc lát thì da thịt tiêu hết, chỉ còn lại bộ xương trắng. Một hồi lâu thì trở lại bản hình. Long Uy đến hỏi nguyên do, Sư Bảo đáp: “Do ngày trước tôi săn bắn, giết chim thú, nên chịu tội này”. Tôi lại hỏi: “Cha anh đang ở đâu?”. Đáp: “Cha tôi phạm tội rất nặng, không thể tùy tiện gặp được! Sau khi anh về trên đó xin nói với gia đình vì chúng tôi mà thiết trai tu phúc”. Nói vừa xong, thì tôi bị sứ giả thôi thúc, dẫn tôi đến một phủ quan rất nguy nga, bên trong có hơn hai mươi người cầm gậy. Vị quan
hỏi tôi: “Ngày trước ngươi tạo phúc nghiệp gì?”. Xôi đáp: “Tháng giêng năm ngoái, tại thôn Độc, tôi đọc Nhất thiết kinh, cởi một tấm áo dài bố thí, đồng thời cũng đã thụ năm giới, đến nay chưa từng phạm”. Vị quan nói: “Như lời ngươi nói thì công đức vô lương sao lại đến đây?”.
Vị quan liền sai người đưa sổ bộ đến xem, thì thấy trong sổ ghi: “Người này thật đã đến lúc chết. Nhưng bên cạnh có ghi chú: Nhưng do phúc đức thụ giới và bố thí trợ giúp, nên được kéo dài tuổi thọ” Thế là vị quan sai người đưa trở về, tức thời được sống lại.
73.3.13. Đời Đường, Lí Tri Lễ: Tri Lễ người Lũng Tây, thuở nhỏ đã có sức mạnh và nhanh nhẹn, giỏi bắn cung, có thể vừa cưỡi ngựa vừa phóng tên rất chính xác. Do đó Lễ đã giết hại rất nhiều chim thú, cũng có lúc bắt vô số cá tôm. Vào niên hiệu Trinh Quán mười chín (645), ông bị cơn bệnh nhẹ, nhưng ba bốn ngày sau thì qua đời. Lúc ấy, ông thấy tên quỉ dắt theo một con ngựa lớn hơn loài ngựa mà người trần gian thường cưỡi, đến nói với ông:
- Vua Diêm-la truy tìm ông!
Quỉ bảo ông lên ngựa, trong chớp mắt đã đến trước Diêm vương. Diêm vương ra lịnh:
- Ta sai ngươi bắt giặc, nhất định phải thắng. Nếu thất bại, ta sẽ giết ngươi!
Cùng đi có hai mươi bốn người, tất cả đều đi về hướng đông bắc, nhưng không thấy giặc, chỉ thấy trời đất mênh mông, tối tăm mờ mịt, bụi tung mù như mưa sa. Tri Lễ và đồng bọn đại bại quay về. Trên đường, Tri Lễ nói:
- Lệnh vua rất nghiêm, thà tiến về phía trước mà chết, chứ không chịu thất bại quay về.
Thế là Lễ quay đầu ngựa, tiến về phía trước, đầu tiên bắn ba phát, quân địch hình như hơi thoái lui. Ông bắn hết năm phát, thì quân giặc đại bại, lui tan. Chiến thắng trở về, Lễ lại bị vua trách :
- Tuy quân địch đã lui, nhưng vì sao lúc mới đánh lại thua?
Thế là vua bắt từng người nằm trên tảng đá lớn, dùng một tảng đá lớn khác đè lên người nghiền nát. Đã bốn người, thân thể bị nghiền nát như thế, kế đến là Tri Lễ. Lễ la lớn:
- Đánh bại quân địch là công lao của Lễ, vua đã không khen thưởng mà còn sát hại Lễ!
Vua nghe vậy bèn tha, lại không dặn dò điều gì, để Lễ tùy ý đi khắp nơi. Trải qua ba ngày đi về hướng tây bắc, Lễ vào một tòa nhà có tường vây quanh. Trong đó có một đàn thú đứng chật ba mẫu đất, tất cả đều đến đòi mạng. Chúng dần dần đến rất gần Lễ, trong đó một con chó đực đã bị Lễ bắn chết, đầu tiên nhảy đến cắn vào mặt, sau đó là toàn thân, không nơi nào không bị thương tích. Tiếp đến có ba con quỉ cao khoảng một trượng rưỡi, to cũng như vậy cùng đến lột da thịt của Lễ, trong chớp mát toàn thân chỉ còn lại mặt, mắt và bộ xương, thấy cả ngũ tạng. Các quỉ phân phát tất cả thịt này cho chim thú. Khi thịt trên thân vừa hết thì lại sinh, sinh rồi thì lại bị lột hết, ba lần như thế, đau đớn thống khổ khồng thể kể xiết. Khi xong việc này thì ba con quỉ và các loài chim thú cũng biến mất. Bấy giờ Tri Lễ quay đầu nhìn thì thấy không còn ai, bèn vọt tường chạy qua hướng nam mà không biết đi đâu. Trong lòng nghĩ mình đã vượt qua nghìn dặm. Bấy giờ Lễ lại thấy một con quỉ đuổi kịp, chụp một cái nơm sắt xuống đầu, lại bị vô số cá trong nơm tranh nhau đến rỉa thịt. Một hồi lâu quỉ quay về, cá cũng biến mất.
Ngày xưa gia đình Trí Lễ có cúng dường một vị tăng, vị tăng ấy đã thị tịch, nay hiện đến dẹp bỏ cái nơm cho Lễ rồi nói:
- Đàn việt đã đói lắm rồi!
Vị tăng trao cho Lễ ba viên màu trắng như trái táo và bảo Lễ ăn. Ăn xong ba viên này, Lễ cảm thấy rất no. Vị tăng lại bảo:
- Đàn việt hãy về nhà!
Nói xong vị tăng cũng đi. Khi đến phía bắc khu đất của gia đình, Lễ thấy một cái hầm lớn, trong đó thương và mâu cắm dày đặc, không thể qua được. Lại thấy con gái của người anh và tì nữ mang rương, cùng với tiền bạc, vải lụa và một bát đựng thức ăn thức uống đang đứng tại phía đông bắc của hầm này. Tri Lễ nghĩ là cháu gái và tì nữ đang dạo chơỉ, nhưng rất lấy làm lạ. Bấy giờ Lễ quay đầu nhìn về hướng bắc, bỗng thấy một con quỉ cầm kiếm xông thẳng về phía mình, Lễ vô cùng hoảng sợ, liều thân nhảy xuống hầm, thì bỗng nhiên sống lại.
Từ khi Lễ chết đến khi sống lại là sáu ngày, về sau hỏi người nhà, mới biết lúc cháu gái và tì nữ đốt giấy tiền, giấy vải lụa hiến cúng Tri Lễ, nhưng khi ấy Lễ thấy là tiền đồng và vải lụa thật.
73.3.14. Đời Đường, heo chết sống lại: Khi Từ Ngọc làm thứ sử Tấn châu, có một đồ tể ngụ tại khu phố phía đông chợ. Có lần ông ta giết một heo, trụng nước sôi, cạo sạch lông, heo chết đã nửa ngày, nhưng ông ta chưa xẻ thịt, lại giết những con heo khác. Đến sáng hôm sau, trước khi mổ, ông ta vạch một đường dài trên bụng heo, khi mũi dao sắp ấn xuống, thì con heo này bỗng nhiên vùng dậy chạy ra khỏi nhà, thẳng đến vách tây của chợ, rồi vào nằm dưới giường trong cửa hàng của một

Phần 5

người hiền. Người trong chợ tranh nhau đến xem. Bấy giờ đồ tể còn cầm dao đuổi theo, mọi người hỏi nguyên nhân, ông ta thuật lại đầy đủ và nói:
- Tôi mổ heo cả đời chưa từng thấy việc này.
Ông ta vẫn còn muốn mang heo về. Mọi người đều giận trách tên đồ tể này, tranh nhau góp tiền chuộc heo, rồi cùng làm nhà cho heo ở. ít lâu sau, lông mọc lại như cũ, những vết cắt nơi cổ và bụng tuy đã lành, nhưng tạo thành một bướu thịt lớn và dài như cánh tay. Điều kì lạ là con heo này rất thích sạch sẽ, không giống những con heo bình thường; dù thường xuyên ra vào, đến đi nhưng không bao giờ làm dơ ngôi nhà của nó. Đến bốn năm năm sau, heo mới chết.
74. CHƯƠNG TỪ BI
74.1. LỜI DẪN
Tất cả hàm sinh đều có linh tri, nên dù côn trùng hay chim thú cũng đều sợ chết. Từ đó bồ-tát lập hạnh lấy cứu tế làm đầu, chư Phật xuất thế dùng đại bi làm gốc. Cho nên, ngồi bên sông mà mong được cá, chẳng bằng về nhà đan lưới; nhìn người khác hưởng phúc, chi bằng chính mình tạo nhân. Muốn cầu phúc báo, không gì bằng trước phải làm điều lành; dù kẻ sang hay hèn, người tốt hoặc xấu đều ban phát với tâm bình đẳng, bởi bốn loài đồng kính phúc điền Tam bảo. Nhưng phải đúng thời cứu giúp, bố thí y thực; dốc hết của báu trong tay, ban hết những niềm vui của tai mắt, xả bỏ vật mình để phụng thí, tùy tâm của người mà ban cho niềm vui.
Thật vậy, dùng vật quí giá để tưởng thưởng lòng người, đem lụa là vàng ngọc để biểu thị lòng thành tín. Thế thì thịt da, xương tủy... còn không nuối tiếc, huống gì tài vật ngoài thân mà lại tham luyến sao? Cho nên hàng bồ-tát bố thí không đợi tìm cầu; tuy tâm không đợi vật, mà vật cũng biểu thị được tâm, tâm vật gồm đủ, phúc trí song hành.
74.2. BỒ-TÁT
Kinh Đại tập ghi: “Đức Phật dạy:
- Ngày xưa, Ta vì tất cả chúng sinh mà tu hạnh Bồ-tát, vì Pháp nhãn này mà khởi tâm đại từ đối với tất cả chúng sinh, ban phát cho họ máu của thân nhiều như nước biển lớn, ban phát đầu mắt tay chân và tai nhiều như núi Tì-phú-la, ban phát mũi lưỡi nhiều bằng mười Đột-lô-da, ban phát da nhiều đến nỗi phủ kín một cõi Diêm-phù-đề và cũng ban vô lượng vợ con, nô tì, voi ngựa, cho đến vương vị, đất nước, thành ấp, xóm làng, cung điện, lầu gác. Lại thụ trì, giữ kĩ giới cấm của chư Phật, chưa từng khuyết phạm.
Đối với mỗi Đức Phật, Ta cúng dường vô lượng phẩm vật, học vô lượng na-do-tha trăm nghìn pháp môn, thụ trì-đọc tụng-tu tập các môn tam-muội. Ta cũng từng cung kính cúng dường vô lượng bậc thánh Tam thừa, bốn quả Thanh văn, cha mẹ, thầy tổ, những người bị bệnh khổ. Người không có ai cứu giúp bảo vệ, Ta sẽ cứu giúp bảo vệ; người không có nơi nương tựa, Ta sẽ làm nơi nương tựa; người không có chỗ hướng đến, Ta sẽ làm chỗ hướng đến, giúp họ an trụ.
Ta đã như vậy, nên trong ba đại a-tăng-kì kiếp, khởi lòng từ mẫn đối với tất cả chúng sinh đau khổ, phát tâm kiên cố, dũng mãnh tu tập hạnh Vô thượng bồ-đề từ lâu xa. Hôm nay, khi mà chúng sinh thế gian ngu si, tăm tối không có bậc Đại đạo sư, không có giáo pháp, Ta lại vì các chúng sinh ấy, phát nguyện thành tựu A-nậu-đa-la tam-miệu-tam bồ-đề, giúp cho các bồ-tát Tam thừa không lui sụt. Lại nguyện đưa chúng sinh ba cõi ác vào trú trong đường thiện, cho đến giúp họ đạt được niết-bàn an lạc”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Khi Đức Phật bị côn trùng già-đà-la cắn ở gót chân, máu chảy không cầm, thoa đủ loại thuốc mà vẫn không cầm, các vị a-la-hán vào núi Hương tìm các thứ thuốc hay về bôi mà cũng không hiệu nghiệm. Khi ấy, tôn giả Thập Lực Ca-diếp đến bên Thế Tôn nói:
- Nếu Đức Phật Như Lai đối với tất cả chúng sinh đều có tâm bình đẳng, đối với Đề-bà-đạt-đa cũng giống như La-hầu-la, thì máu hãy ngưng chảy đi!
Tôn giả vừa nói xong, máu liền cầm, vết thương cũng bình phục”.
Luật Tứ phần ghi: “Đức Phật dạy:
- Vua Tuệ Đăng bảo những người ở cõi Diêm-phù-đề, dù nam hay nữ, nếu biết nói thì nên thực hành mười điều thiện. Lúc vua vừa sinh ra, trong cõi nước tự nhiên xuất hiện tám vạn bốn nghìn kho tàng. Vua mang tất cả của cải và vật báu trong bốn kho tàng này đặt nơi đất trống, hễ ai đến xin thì đều ban phát Lúc ấy Đế Thích nghĩ:
- Vua Tuệ Đăng ban phát cho tất cả những ai đến xin, e rằng đời sau sẽ đoạt mất ngôi vị của ta. Ta cần phải đến đó thử xem vua này vì cầu đạo Vô thượng mà bố thí hay cầu các pháp thoái chuyển mà bố thí?
Thế là Đế Thích hóa thành một người nam, nói với mọi người: ‘Vua Tuệ Đăng bảo chúng ta thực hành mười việc ác như sát sinh cho đến tà kiến’. Các vị đại thần nghe vậy liền đến hỏi, vua đáp: ‘Lúc trước ta bảo những loài chúng sinh có khả năng nói được ở cõi Diêm-phù-đề đều phải hành mười điều thiện như không sát sinh cho đến không tà kiến, thì ta mới làm vua. Vì thế ta không nói những lời ấy. Hôm nay các ngươi chuẩn bị xe voi, ta muốn tự thân du hành giáo hóa nhân dân!’.
Xe voi trời đã đến, vua liền ngự giá và bảo: ‘Hãy chỉ cho ta biết người đã nói rằng ta dạy nhân dân trong nước hành mười điều ác’. Quần thần chỉ cho vua thấy người ấy. Vua hỏi: ‘Tuệ Đăng dạy ngươi thực hành mười điều ác ư? Kẻ ấy đáp: ‘Đúng thật như vậy!’. Vua hỏi: ‘Có cách gì để thực hành mười điều thiện chăng?’. Kẻ ấy đáp:‘Có!’. Vua hỏi: ‘Như thế nào?’. Đáp: ‘Phải ăn thịt sống và uống máu tươi của người thành tựu hạnh Bồ-tát, rồi mới thực hành mười điều thiện '
Bấy giờ vua suy nghĩ: ‘Từ vô thỉ đến nay ta đã chịu vô lượng thống khổ trong năm đường, nào là bị chặt tay chân, cắt tai mũi, khoét mắt mà không đem lại ích lợi gì’. Thế là vua cầm dao bén tự cắt thịt đùi mình, lấy bát hứng máu rồi trao cho kẻ kia và bảo: ‘Này thiện nam! Ngươi có thể uống máu và ăn thịt này rồi thực hành mười điều thiện!’. Bấy giờ người nam kia không chịu nổi uy đức của Tuệ Đăng, nên biến mất. Bỗng nhiên Đế Thích lại hiện ra trước mặt hỏi vua: ‘Nay ngài bố thí vì mong cầu thống lãnh một hay hai, ba, bốn thiên hạ? Hay làm Nhật thiên tử, Nguyệt thiên tử, Đế Thích, Ma vương, Phạm vương?’. Vua đáp: ‘Ta bố thí không vì những phúc báo đó, chỉ cầu Nhất thiết trí Vô thượng chính chân, độ người chưa được độ, khai mở cho người chưa được khai mở, đưa vào niết-bàn những ai chưa niết-bàn, giúp xa lìa tất cả sinh lão bệnh tử, sầu bi khổ não’.
Nghe vua nói, Đế Thích suy nghĩ: ‘Nếu nay ta để cho vua Tuệ Đăng phải chết vì các vết thương này thì thật không đúng. Nên rưới cam lộ cõi trời lên thân vua mới đúng’. Thế là Đế Thích làm đúng như vậy, các vết thương trên thân vua liền lành như cũ.
Đức Phật nói với vua Bình-sa: ‘Vị vua làm lợi ích chúng sinh lúc ấy chính là phụ vương Bạch Tịnh của Ta, đệ nhất phu nhân của vua tức mẫu hậu Ma-gia, còn Tuệ Đăng chính là Ta. Quá khứ, Ta đã giáo hóa nhân dân cõi Diêm-phù-đề thực hành mười điều thiện, vì thế dưới bàn chân ta có tướng bánh xe nghìn căm, phóng ánh sáng chiếu soi tam thiên đại thiên thế giới”.
Kinh Đại bi phân-đà-lợi ghi: “Đức Phật dạy:
Này thiện nam! Thuở xưa, cách nay vô lượng a-tăng-kì đại kiếp, cõi này có tên là Vô Trần Di-lâu-yểm. Trong thời tượng pháp của đức Liên Hoa Hương Như Lai, khi tuổi thọ con người còn trăm năm trong đại kiếp ấy, Ta là chuyển luân vương Vô Thắng ở cõi Diêm-phù-đề. Ta và nghìn người con đều phát tâm Vô thượng chính đẳng chính giác và cùng xuất gia, tu tập Phạm hạnh trong giáo pháp của đức Liên Hoa Hương Như Lai. Nhưng có sáu đứa con của Ta không muốn xuất gia, không phát tâm Bồ-đề. Ta thường hỏi:
- Vì sao các con không chịu xuất gia?
Chúng đáp:
- Chúng con không thể xuất gia. Vì sao? Vào tượng pháp thế gian xấu ác, có người xuất gia nhưng không thể giữ đủ giới thân, thiếu bảy thứ tài sản của bậc thánh, thường ở dưới vực sâu sinh tử. Họ cũng sẽ mất công đức trời, người. Có người không giữ đủ giới cấm của Phật, ở mãi trong ba đường. Vì thế, chúng con không thể xuất gia.
Ta lại hỏi:
- Vì sao các con không phát tâm Bồ-đề?
Chúng đáp:
- Nếu cha có thể cho chúng con cả cõi Diêm-phù-đề, chúng con sẽ phát tâm Vô thượng chính đẳng chính giác.
Nghe vậy, Ta rất vui mừng, tự nghĩ: ‘Ta đã giúp tất cả chúng sinh trong cõi Diêm-phù-đề lãnh thụ ba qui y, khuyên tu tám trai giới, học tập ba thừa. Nay Ta nên chia cõi Diêm-phù-đề thành sáu phần, cho sáu đứa con, khuyến khích chúng phát tâm Bồ-đề. Ta nên xuất gia tu Phạm hạnh’. Nhưng sáu vương tử ấy không hòa thuận, dấy binh đánh nhau, không nơi nào được yên ổn, khiến khắp cõi Diêm-phù-đề xảy ra nạn đói khát, trời lại không mưa, ngũ cốc không có hạt, cây cối và các cỏ thuốc

Phần 6

cũng không sinh trưởng, chim thú đói khát, bị các khổ bức ép. Ta liền nghĩ: ‘Nay đúng là lúc Ta nên bố thí thân, đem máu thịt giúp cho chúng sinh được no đủ’. Thế là, Ta liền lìa bỏ khu rừng, đến núi Chướng Thủy lập thệ nguyện:
Như Ta hôm nay xả thân mạng,
Chỉ vì tâm bi, không làm trời,
Vì lợi người đời và chư thiên,
Khiến thành núi thịt cấp chúng sinh.
Ta bỏ thân này nhận diệu thân,
Không cầu Thích, Phạm và ma vương,
Vì lợi người đời và chư thiên,
Khiến máu thịt Ta thành Di-lâu.
Trời, rồng, dạ-xoa, người, hãy nghe,
Có thần cây núi ở tại đây,
Ta vì thương xót cả chủng sinh
Dùng máu thịt mình mà cứu giúp.
Khi Ta lập nguyện, cung a-tu-la rung chuyển dữ dội, mặt đất chấn động mạnh, núi Di-lâu lắc lư, nước biển nổi sóng, trời và các thần thảy đều buồn khóc. Ta liền từ trên núi Chướng Thủy gieo mình xuống đất. Do bản nguyện, thân trở thành núi thịt cao rộng một do-tuần. Người và chim thú đến ăn máu thịt ấy. Cũng do bản nguyện, núi thịt ấy ngày đêm sinh trưởng, dần dần cao rộng đều nghìn do-tuần, chung quanh đều có đầu người, với đầy đủ tóc, mắt, tai, mũi, lưỡi, miệng, răng. Các đầu người ấy lớn tiếng nói rằng:
- Hỡi các loài chúng sinh! Các người tùy theo ý muốn, đến đây tha hồ ăn thịt, uống máu, hoặc lấy các căn... , mong cầu điều gì cũng đều thỏa mãn; hoặc phát tâm Vô thượng chính đẳng chính giác, hoặc Thanh văn thừa, hoặc Bích-chi-phật thừa. Đây là vật nuôi thân của các người, không bao giờ hết; các người không hề có tội, lại giúp cho mạng sống của các người được dài lâu. Trong số những chúng sinh có trí tuệ giải thoát, có người phát tâm Thanh văn thừa, có người phát tâm Bích-chi-phật thừa, có người phát tâm Vô thượng chính đẳng chính giác, có người tâm cầu hưởng phúc trời, người. Trong số những kẻ ăn thịt uống máu, có người lấy mắt, có người lấy tai, có người lấy mũi, có người lấy môi, có người lấy răng, có người lấy lưỡi. Do bản nguyện, các vật bị lấy đi liền hiện trở lại, không giảm không hết. Suốt trong mười nghìn năm, Ta dùng máu thịt của thân giúp cho loài người, dạ-xoa và các loài chim thú trong cõi Diêm-phù-đề được no đủ. Trong mười nghìn năm, Ta bố thí mắt nhiều như cát sông Hằng, bố thí máu nhiều như nước bốn biển lớn, bố thí thịt thân nhiều như nghìn núi Tu-di, bố thí lưỡi nhiều như núi Thiết Vi, bố thí thân nhiều như núi Di-lâu vừa, bố thí mũi nhiều như núi Di-lâu lớn, bố thí răng nhiều như núi Kì-xà-quật. Ta bố thí thịt khắp cõi Sa-ha.
Này thiện nam! Quan sát trong mười nghìn năm, Ta dùng một thân mạng mà bố thí vô lượng vô biên a-tăng-kì như thế, mà không khởi một niệm hối hận. Ta lại lập nguyện:
- Nếu Ta thành tựu Vô thượng chính đẳng chính giác như ý nguyện, như máu thịt của bản thân làm no đủ tất cả chúng sinh ở trong một thiên hạ này, thì sẽ khiến cho Ta trong hằng hà sa số nghìn năm, ở trong các phương của cõi Vô Trần Di-lâu-yểm mà dùng máu, thịt, da, mắt, tai, mũi, lưỡi, môi, răng và tóc giúp cho chúng sinh ở mỗi phương được no đủ trong mười nghìn năm và khuyên họ tu theo ba thừa. Nếu ý nguyện ấy không viên mãn, Ta không bao giờ thấy các Đức Phật Thế Tôn đã chuyển bánh xe pháp, hiện đang trụ thế nói pháp trong các thế giới khác ở mười phương, Ta cũng không thành Vô thượng chính đẳng chính giác; cũng khiến cho Ta không được nghe danh từ Phật, pháp, tăng, thanh văn, duyên giác, bồ-tát mà ở mãi trong địa ngục A-tì.
Phật lại dạy:
- Ta nhớ vô số kiếp ở quá khứ, cõi Phật này cũng có tên là Nguyệt Minh. Vào thời năm trươc, ở cõi Diêm-phù-đề này, Ta là chuyển luân vương Đăng Minh, chuyên dùng pháp lành giáo hóa tất cả chúng sinh. Khi Ta ra khỏi thành vào vườn dạo chơi, bỗng thấy một người bị trói ngược hai tay ra sau rất chặt, liền hỏi các quan:
- Người này tội gì?
Các quan đáp:
- Người này phạm phép vua. Là con dân trong nước, hằng năm theo lệ thường phải đóng một phần sáu thuế ruộng, nhưng người này trái lịnh. Đã ở trên đất của vua, cày cấy sinh sống mà không đóng thuế, cho nên bị trói.
Vua liền bảo các quan:
- Mau cởi trói cho ông ta! Hãy dự trữ lương thực, bơ dầu. Chớ để nhân dân phải khổ sở tìm cầu!
Các quan tâu:
- Tâu đại vương! Không một ai có tâm tốt mà nộp phẩm vật cho vua cả. Các vật cần dùng hàng ngày nhà trù dâng lên đại vương, phu nhân và các quyến thuộc, đều lấy từ dân mà ra, nếu chẳng phải do quyền lực của đại vương thì không bao giờ có được!
Nghe thế, Ta lo buồn, lại tự nghĩ: ‘Ngôi vua ở cả cõi Diêm-phù-đề này nay không biết sẽ giao phó cho ai?’. Cuối cùng vua quyết định khuyên năm trăm người con phát tâm Bồ-đề, chia đều cõi Diêm-phù-đề này thành năm trăm phần để chia cho chúng, rồi vào rừng tu Phạm hạnh của tiên đạo, ngồi thiền trong rừng Ưu-đàm-ba-la ở gần phía nam biển lớn, ăn trái cây, rễ củ để nuôi thân mạng, không bao lâu đã đạt được đầy đủ năm thần thông.
Bấy giờ, ở cõi Diêm-phù-đề có năm trăm người ra biển tìm châu báu gặp, họ gặp được một bãi châu . báu. Người trưởng đoàn tên Túc Vương, nhờ phúc lực nên nhặt được ma-ni Như ý cùng nhiều trân bảo và ma-ni khác từ nơi ấy. Khi thuyền rời bến, biển nổi sóng, các rồng khuấy động, thần biển gào khóc. Trong đó có môt rồng thần tên Mã Tạng, thật là bồ-tát nhưng vì bản nguyện nên sinh vào loài rồng. Vị đại bồ-tát này ủng hộ đoàn người buôn vượt biển trở về. Có một la-sát hung ác đi theo đoàn buôn ấy, lúc nào cũng bám theo chờ dịp làm hại. La-sát ấy ngày đêm gây ra mưa to gió lớn, khiến cho đoàn buôn quên mất đường lối, không biết hướng đi. Trong lòng vồ cùng sợ hãi, họ gào khóc, cầu khẩn các vị trời, thần gió, thần sông, cho đến gọi tên con cái mà họ yêu thương.
Bấy giờ, Ta dùng thiên nhĩ nghe được âm thanh ấy, liền đến trấn an họ:
- Này các thương nhân! Gác ông chớ sợ hãi. Ta sẽ chỉ đường, giúp các ông an ổn về đến cõi Diêm-phù-đề.
Ta liền buộc vải lên nắm tay, nhúng vào dầu rồi châm lửa, chí thành nguyện:
- Ba mươi sáu năm Ta ở trong rừng, dạo chơi bốn Tứ Phạm xứ, vì lợi ích chúng sinh nên ăn các thứ trái cây, rễ củ, đã giúp cho tám mươi bốn nghìn rồng, dạ-xoa an trụ nơi quả vị không lui sụt. Nhờ căn lành nghiệp báo này, hãy làm cho tay ta cháy sáng, giúp các thương nhân thấy đường đi, trở về cõi Diêm-phù-đề an ổn.
Tay Ta cháy như thế suốt bảy ngày bảy đêm, đã giúp các thương nhân ấy về đến cõi Diêm-phù-đề an ổn. Lúc ấy, Ta lập nguyện: ‘Nếu ta thành Vô thượng chính đẳng chính giác, sẽ khiến cho Ta được làm trưởng đoàn buôn tìm châu như ý, ở trong mỗi phương của hằng hà sa số cõi nước ngũ trược, không có Phật, bảy lần tuôn rải các thứ báu như mưa, tùy tâm mong câu đều được đầy đủ, lại làm cho vô lượng a-tăng-kì chúng sinh tu tập ba thừa’”.
Trong luận Đại trượng phu, bồ-tát Đề-bà thuyết kệ:
Thiện trượng phu phúc đức Tâm bi, tay huệ thí Kẻo người không đủ sức Khỏi vũng lầy nghèo cùng.
Luận lại ghì:
- Khi bồ-tát bố thí, tất cả những người nghèo khổ đều đến nương. Như cây cao bóng mát mọc giữa đồng hoang, người bộ hành gặp lúc trưa hè ắt đến tránh nắng. Bồ-tát ưa thích bố thí, gọi là được thắng xứ, vì sao? Vì nếu có người đến xin thì ta sẽ được phúc bố thí, vì được phúc nên gọi là được thắng xứ. Vì thế, nếu tất cả chúng sinh đều nhóm họp đến, bồ-tát phải nên kính lễ họ. Nếu bồ-tát có tâm an vui, tức cảm biết thân nhẹ nhàng. Vì hiện các tướng này, nên bồ-tát biết nhất định có người đến xin. Nếu có người đến báo: ‘Có người cầu xin đến đây!’, bồ-tát cảm thấy vui mừng, lập tức lấy tài vật ban cho người đã có công thông báo ấy. Sau đó lấy các vật khác ban cho người đến xin. Thấy người đến xin, bồ-tát vô cùng vui mừng, đồng thời khởi tâm quí kính. Khi nghe họ mở lời cầu xin, thì trong lòng bồ-tát khởi lên niềm xót thương vô hạn.
Nếu người đến xin không biết bản tính của bồ-tát ưa thích bố thí, thì bồ-tát cầm tay họ, vui vẻ chuyện trò, xem như người thân, để họ biết được bản tính của bồ-tát ưa

Phần 7

thích bố thí, đồng thời cũng làm cho những người bên cạnh thấy được mà hoan hỉ. Nếu có người đến xin, bồ-tát nên hỏi: ‘Bạn đã đến đây, cứ tùy ý lấy những gì mà mình muốn!’. Sau đó động viên an ủi họ rằng: ‘Này bạn tốt! Bạn đến đây thật quí hóa quá, không có gì phải sợ hãi! Tôi sẽ làm chỗ nương tựa cho bạn’. Làm như vậy, để cho tâm người đến xin được an ổn. Nếu bố thí như vậy, gọi là người sống, nếu không thì gọi là người chết.
Nếu không có người đến xin thì bồ-tát tự mình đến tận nơi để bố thí. Có người đến xin, bồ-tát còn không tiếc thân mạng, huống gì tiền tài. Không có tâm bi, không phải là thí; có tâm bi bố thí tức là giải thoát. Nếu để người đến xin được tùy ý, hợp với mong cầu của họ thì gọi là thí chủ tốt; nếu không, dù vô cùng giàu có cũng gọi là kẻ nghèo cùng. Người giàu, khi bố thí mà không có lòng thương xót, tuy có bố thí mà không được gọi là thí chủ; có lòng thương xót bố thí mới được gọi là thí chủ.
Nếu vì cầu báo đáp mà bố thí, thì thương nhân cũng được gọi là thí chủ vậy. Mong báo đáp mà bố thí, quả báo đã vô lượng, huống gì đã có tâm bi, lại không mong cầu quả báo mà bố thí, nhất định được phúc báo không thể tính kể. Nếu bố thí mà cầu phúc báo, chỉ giúp bản thân tự vui, uổng phí công lao, không thể cứu giúp muôn loại. Bố thí với tâm bi, cứu giúp được muôn loài, về sau đắc quả Bồ-đề, lợi ích vô cùng to lớn. Tu thí được giàu sang, tu định được giải thoát, tu bi được Vô thượng bồ-đề là quả vị cao nhất.
Bồ-tát suy nghĩ:
- Do người cầu xin ấy mà ta chứng Bồ-đề; do bố thí mà ta được niềm vui không gì sánh. Trong lúc tu nhân, hành bô thí mà còn được niềm vui như vậy, huống gì Vô thượng bồ-đề! Như vậy, người cầu xin có ân rất lớn đối với ta, không thể lấy gì báo đáp. Nếu dùng tài vật, châu báu thì không đủ để báo ân, ta phải dùng Vô thượng bồ-đề mà ban cho họ. Với phúc đức của ta, nguyện đời tương lai, những người này cũng như ta hôm nay, thành đại thí chủ chứng Vô thượng bồ-đề. Người không nhớ ân, sẽ không có tâm bi; nếu không có tâm bi, không thể bố thí; không thể bố thí thì không thể cứu chúng sinh thoát sinh tử. Nếu không hành thí thì tâm bi bị che lấp, giống như khắc trên đá, thì biết rõ thật giả. Người có tâm bi bố thí, dù có oan gia đến xin cũng trở thành bạn thân; nếu người có tâm bỏn xẻn, dù người thân đến xin cũng trở thành oan gia vậy”.
74.3. QUỐC VƯƠNG
Kinh Phật thuyết Nhật Minh bồ-tát ghi: “Đức Phật dạy:
- Vào quá khứ, cõi Diêm-phù-đề này có vua Trí Lực tin sâu Tam bảo, luôn làm các Phật sự. Lúc ấy tì-kheo Chí Thành tu tập tam-muội, có lòng từ bi, thương xót chúng sinh. Trong lòng vua Trí Lực lúc nào cũng muốn gặp tì-kheo này. Một hôm trên đùi của tì-kheo nổi lên một nhọt độc, tất cả thầy thuốc trong nước không thể chữa lành. Nhà vua vô cùng lo buồn, đến nỗi tuôn lệ, hai vạn phu nhân thấy thế cũng buồn theo. Một hôm vua đang nằm ngủ, mộng thấy một vị trời đến nói: "Nếu muốn tì-kheo kia lành bệnh, thì phải cho uống máu và ăn thịt của người sống’. Giật mình tỉnh giấc, trong lòng không vui, vua suy nghĩ: ‘Tì-kheo này bị bệnh nặng, mới cần đến thuốc ấy, nhưng thật khó tìm’. Vua bèn hỏi các quan, lúc ấy thái tử thứ nhất của vua tên là Trí Chỉ cũng được biết, bèn tâu: ‘Xin phụ vương chớ quá lo buồn, máu thịt con người là vật vô cùng tầm thường chỉ có người đời xem trọng, chứ đối với đạo thì nó không có giá trị gì!’. Vua nghe vậy liền nói: ‘Hay thay, hay thay!’. Thái tử im lặng vào phòng ăn, dùng dao bén cắt lấy thịt đùi và máu, rồi mang đến dâng cho tì-kheo. Sau khi dùng xong, mụt nhọt liền lành, thân thể an ổn. Nhà vua vô cùng vui mừng, chỉ quan tâm đến tì-kheo kia mà không nhớ nghĩ đến nỗi đau đớn của thái tử. Do vua hoan hỉ mà mọi người đều khởi tâm chí thành kính tin Tam bảo; sau đó thân thể thái tử cũng tự bình phục như cũ”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Thuở xưa, có hai anh em vương tử bị đuổi ra khỏi nước. Khi đến đoạn đường hoang vắng, lương thực đã cạn, người em liền giết vợ mình chia thịt cho vợ chồng người anh cùng ăn. Người anh nhận được thịt này, không ăn mà đem cất kĩ, rồi tự cắt thịt chân mình để vợ chồng cùng ăn. Dần dần, thịt ấy cũng hết, người em lại muốn giết chị dâu. Người anh nói:
- Em chớ giết chị dâu, vì thịt em cho anh trước kia anh vẫn còn giữ đây, nay trả lại cho em dùng!
Qua khỏi đoạn đường hoang vắng, đến chỗ ở của thần tiên, mọi người hái hoa quả để ăn. về sau người em bịnh chết, chỉ còn lại vợ chồng người anh. Bấy giờ gặp một người bị cụt hết tay chân, vị vương tử động lòng thương xót, hái quả lấy hạt nuôi sống người ấy. Vương tử là người ít lòng dục, không ham muốn việc dâm. Một hồm vương tử đi trước hái hoa trái, người vợ đi sau thông dâm với người cụt tay chân. Do tư thông nên cô ta sinh lòng ghét bỏ chồng. Một hôm nọ, theo chồng hái hoa quả, đến bên vực sâu, cô ta nói với chồng:
- Chàng hãy hái hoa quả ở ngọn cây kia!
Vương tử nói:
- Bên dưới là vực sâu nguy hiểm, dễ bị rơi!
Người vợ nói:
- Chàng dùng sợi dây buộc vào hông, thiếp sẽ nắm chặt!
Vương tử làm theo, khi vương tử lần đến sát bờ vực, người vợ liền đẩy vương tử rơi xuống vực sâu. Nhưng nhờ lòng từ bi, sức tu thiện, nên tuy chàng rơi vào dòng sông, nhưng toàn thân lại nổi lên mặt nước trôi đi, không bị chết chìm.
Tại vùng hạ lưu, có một vị quốc vương vừa băng, thầy tướng nước đó đang tìm trong nước xem ai sẽ lên kế vị? Bỗng trông thấy từ xa, trên dòng sông có một tán mây màu vàng. Thầy tướng liền bốc một quẻ, rồi nói:
- Bên dưới tán mây màu vàng kia, nhất định có thánh nhân!
Nói xong, thầy tướng và quần thần liền sai người ra giữa dòng nghinh đón vương tử về cung và lập làm vua.
Lúc ấy người vợ cũ của vương tử, cõng người cụt tay chân kia xin ăn, dần dàn đến nước của vương tử, mọi người thấy vậy đều loan truyền nhau:
- Có một phụ nữ xinh đẹp cõng người chồng cụt tay chân rất cung kính, hòa thuận!
Tiếng đồn đến tai, vua liền sai người gọi bọn họ đến trước cung điện. Vua hỏi người phụ nữ:
- Người cụt chân tay này có thật là chồng của cô chăng?
- Tâu Đại vương! Đúng vậy! Cô ta đáp.
Vua nói:
- Cô có biết ta không?
- Dạ không biết! Cô ta đáp.
Vua nói:
- Ngươi biết người tên đó họ đó không?
Cô ta liền ngước lên nhìn kỹ vua, chợt nhận ra là vương tử, lòng cô vô cùng xấu hổ. vốn có lòng từ bi, nên vua sai người nuôi dưỡng bọn họ.
Đức Phật dạy:
- Nên biết vương tử thuở nọ, chính là Ta ngày nay. Người vợ thuở ấy, nay chính là người phụ nữ bà-la-môn Chiên-già độn gỗ vào bụng để vu khống Ta. Người cụt tay chân lúc đó, nay là Đề-bà-đạt-đa!”.
Kinh Bồ-tát bản hạnh ghi: “Đức Phật dạy:
- Thuở quá khứ lâu xa về trước, trong cõi Diêm-phù-đề này có thành Bất Lưu Sa do vua Bà-đàn-ninh cai trị. Phu nhân của vua tên Bạt-ma-kiệt-đề. Thời ấy, lúa thóc khan hiếm, nhân dân đói khát lầm than, lại gặp dịch bệnh. Bấy giờ, nhà vua cũng lâm bệnh, phu nhân đích thân ra ngoài cầu khẩn trời thần. Có gia đình kia đang sống trong một ngôi nhà bên đường, gặp lúc người vợ sinh con mà chồng lại đi vắng, không ai chăm sóc, cũng chẳng có thức ăn, cô ta đói sắp chết, bèn nghĩ quẫn: “Cái chết gần kề, ta không biết phải làm thế nào, chỉ còn cách ăn thịt con để giữ mạng sống!”,
Cô cầm dao định giết con, nhưng bỗng thấy xót thương, liền òa lên khóc. Đúng lúc phu nhân định hồi cung, nghe tiếng khóc thảm thiết thì động lòng thương cảm bèn dừng lại lắng nghe. Người mẹ cầm dao định giết con, nhưng lại suy nghĩ: ‘Sao ta đành nhẫn tâm ăn thịt con mình?’. Thế rồi cô lại khóc. Phu nhân bước vào nhà hỏi:
- Vì sao cô khóc thảm thiết như thế? Cô định làm gì?
Người mẹ ấy trả lời:
- Nhà con không còn gì để ăn cả. Đã vậy, sau khi sinh, thân thể quá suy nhược, nên định giết con mình làm thức ăn để bảo toàn mạng sống.
Nghe cô ta nói, phu nhân vô cùng thương xót liền bảo:
- Đừng giết con mình! Để ta về cung mang thức ăn đến cho cô!

Phần 8

Cô ta đáp:
- Phu nhân tôn quí! Có thể bà sẽ đến chậm, hoặc là quên mất, mà mạng sống của con chỉ còn trong từng hơi thở, không đợi được nữa. Chi bàng ăn thịt con mình để bảo toàn tính mạng.
Phu nhân hỏi:
- Nếu có thịt khác cô chịu ăn không?
- Chỉ cần được cứu sống, dở hay ngon con cũng bằng lòng.
Phu nhân liền cầm dao tự cắt vú mình rồi phát nguyện: ‘Nay tôi xin bố thí thịt của mình để cứu người mẹ trẻ này qua cơn nguy ách. Tôi không cầu làm Chuyển luân thánh vương, Đế Thích, Ma vương hay Phạm vương, xin đem công đức này cầu thành đạo Vô thượng chính chân!’.
Phát nguyện xong, phu nhân trao thịt của mình cho người mẹ trẻ ấy. Thế rồi, bà ta định cầm dao cắt vú còn lại. Ngay lúc ấy, cả Tam thiên đại thiên thế giới chấn động. Cung điện của các vị trời rung chuyển. Trời Đế Thích dùng thiên nhãn quan sát, thấy phu nhân tự tay cắt vú cứu người gặp nguy ách. Lập tức, ông cùng vô số các vị trời bay xuống đứng giữa hư không, thương khóc, nước mắt như mưa. Trời Đế Thích hiện đến trước phu nhân và nói:
- Hạnh bố thí của phu nhân thật hiếm thấy! Người muốn cầu điều gì?
Phu nhân đáp:
- Ta nguyện đem công đức này cầu đạo Vô thượng chính chân, hầu độ thoát cho tất cả chúng sinh bị khổ ách.
Trời Đế Thích hỏi:
- Phu nhân lấy gì chứng minh cho lời nguyện của mình?
Khi ấy, phu nhân bèn phát thệ nguyện: ‘Nếu công đức bố thí này quả thật giúp ta thành Chính giác thì vú của ta sẽ bình phục như cũ’.
Vừa dứt lời, vú của phu nhân liền bình phục. Thiên đế khen ngợi:
- Hay thay! Hay thay! Chảng bao lâu nữa phu nhân sẽ thành Phật!
Các vị trời khác cũng vui mừng, hiện nguyên hình, khen ngợi phu nhân rồi hỏi:
- Phu nhân bố thí như thế có thấy hối hận, đau đớn không?
Phu nhân đáp:
- Ta không hề hối hận hay cảm thấy đau đớn!
Các vị trời lại hỏi:
- Lấy gì chứng minh, phu nhân không hối hận?
Khi ấy, phu nhân liền phát thệ nguyện: ‘Nếu vì cầu Phật đạo mà ta không hề hối hận về việc làm của mình thì xin cho ta biến thành người nam’.
Ngay lập tức, phu nhân biến thành người nam. Các vị thiên thần đều tán thán:
- Quí thay! Quí thay! Chẳng bao lâu nữa phu nhân sẽ thành Phật đúng như lời nguyện!
Bấy giờ, vua, quan, nhân dân đều thán phục sự kì diệu ấy, họ vui mừng khôn xiết. Kể từ lúc đó, mọi dịch bệnh trong nước đều tiêu trừ, ngũ cốc dồi dào, không còn khan hiếm, nhân dân hưởng cuộc sống thái bĩnh, an lạc.
Thời gian sau, vua băng, các quan cùng nhau bàn luận việc chọn vua mới. Trời Đế Thích hiện xuống nói:
- Bạt-ma-kiệt-đề đã hóa thành người nam có đầy đủ phúc đức, rất xứng đáng làm vua!
Các quan đều rất vui mừng, tôn Bạt-ma-kiệt-đề lên ngôi. Từ đó, nhân dân càng đông đúc, đất nước được thái bình, vững mạnh.
Đức Phật bảo vua Ba-tư-nặc:
- Bạt-ma-kiệt-đề thuở xưa, nay chính là Ta. Ngày xưa, Ta bố thí không quí tiếc thân mạng như thế, nên được biến thành người nam, làm vua một nước. Nhờ công đức ấy, đời nay Ta được thành Phật cứu giúp muôn loài. Bồ-tát thực hành bố thí ba-la-mật dũng mãnh như thế.
Bấy giờ, các vị đệ tử của Đức Phật, vua, quan, nhân dân đều rất vui mừng, cùng nhau đỉnh lễ Ngài rồi lui ra”.
74.4. SÚC SINH
Kinh Nhất Thiết Trí Quang tiên nhân từ tâm bất thực nhục ghi: “Khi Đức Phật trú tại đạo tràng Tịch Diệt nơi tinh xá Tự Tại Thiên, ở thôn Di-gia Nữ, nước Ma-già-đề, có người con của bà-la-môn Ca-ba-lợi tên là Di-lặc, thân tướng sắc vàng, đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp, uy quang rực rỡ đi đến chỗ Phật.
Lúc ấy năm trăm vị Phạm chí tóc búi từ xa thấy Di-lặc có uy tướng trang nghiêm thanh tịnh, liền bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Cậu bé này có hào quang rực rỡ, không khác gì Phật, là do ban đầu phát đạo tâm ở vị Phật nào, trì tụng kinh gì? Cúi mong Thế Tôn giảng rõ cho chúng con!
Phật bảo Phạm chí Thức-kiền:
- Các ông hãy lắng nghe và suy nghĩ kĩ! Hôm nay Ta sẽ giảng nói rõ ràng khiến ông sinh vui mừng:
- Vào thời quá khứ vô lượng vô số kiếp có thế giới tên là Thắng Hoa Phu, giáo chủ cõi ấy là Phật Di-lặc. Ngài thường đem lòng từ giáo hóa hết thảy. Ngài nói kinh Đại từ tam-muội quang đại bi hải vân. Nếu người nghe kinh này liền được vượt thoát tội sinh tử trong trăm ức vạn kiếp, nhất định sẽ được thành Phật.
Bấy giờ trong nước ấy có một vị bà-la-môn nổi tiếng tên là Nhất Thiết Trí Quang Minh, thông minh, đa trí, làu thông các kinh, nghe Phật thị hiện ở đời nói kinh Đại từ tam-muội quang đại bi hải vân, liền đem tất cả những nghị luận của thế gian chất vấn Phật Di-lặc. Ông dùng hết ngôn ngữ, luận nghị của mình mà vẫn không tháng được Ngài, nên tin phục xin làm đệ tử, rồi phát tâm A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Ông bạch Phật:
- Nay con ở trong Phật pháp tụng trì kinh Đại từ tam-muội quang đại bi hải vân, nguyện đem công đức này ở đời vị lai trải qua số kiếp không thể tính đếm sẽ thành Phật hiệu là Di-lặc.
Thế là ông bỏ nhà vào rừng sâu tu tập Phạm hạnh, trong tám nghìn năm sống thiểu dục, an tịnh, khất thực nuôi thân, tụng trì kinh ấy, nhất tâm dứt trừ loạn tưởng.
Bấy giờ vua nước ấy hoang dâm vô độ, hạn hán kéo dài, lại có sao chổi xuất hiện, khiến mưa mãi không ngớt, nước dâng tràn ngập. Tiên nhân không khất thực được, nên nhập định trải qua bảy ngày. Lúc ấy trong rừng có đàn thỏ trắng năm trăm con, thỏ chúa cùng với con nó thấy tiên nhân bảy ngày không ăn, liền nói với nhau:
- Vị tiên nhân này tu hành Phật đạo, không ăn đã nhiêu ngày, mạng sống có lẽ chẳng được bao lâu. Như thế thì cờ pháp sẽ đổ, biển pháp sẽ cạn. Chúng ta chẳng nên tiếc thân mạng của mình để giúp pháp lớn vô thượng tồn tại lâu dài.
Thế là chúng nói với đàn thỏ:
- Tất cả các hành đều là vô thường, chúng sinh vì yêu tiếc thân mạng, nên để thân này sống chết luống uổng, chưa từng vì pháp. Ta nay muốn vì hết thảy chúng sinh làm chiếc cầu lớn, khiến cho chính pháp trụ lâu ở đời mà cúng dường đại sư.
Thỏ chúa lại bảo đàn thỏ:
- Nay ta muốn dùng thân này cúng dường pháp sư, các ngươi hãy nên vui vẻ thuận theo.
Bấy giờ, thụ thần bèn chất củi thơm để nổi lửa. Mẹ con thỏ chúa nhiễu quanh tiên nhân đủ bảy vòng rồi bạch:
- Đại sư! Con nay vì pháp mà cúng dường ngài.
Tiên nhân đáp:
- Ngươi là loài thú, tuy có tâm từ, nhưng lấy gì để cúng dường?
Thỏ chúa thưa:
- Con tự đem thân mình để cúng dường nhân giả, vì để cho chính pháp trụ lâu ở đời khiến cho chúng sinh được lợi ích.
Nói lời ấy rồi, thỏ chúa bèn bảo thỏ con:
- Con có thể tùy ý đi tìm cỏ nước, nhưng luôn buộc tâm chính niệm, nghĩ nhớ Tam bảo.
Thỏ con nghe mẹ nói lời ấy, liền quỳ xuống thưa thỏ chúa:

Phần 9

- Như mẹ nói “vì pháp lớn vô thượng, nên muốn đem thân cúng dường”, con nay cũng muốn cúng dường.
Nói vừa xong, thỏ con liền lao vào đống lửa, thỏ mẹ lao theo sau. Ngay lúc bồ-tát xả thân, trời đất chấn động, cho đến trời sắc giới cùng các cõi trời khác đều tuôn mưa hoa cúng dường. Sau khi thịt chín, thụ thần thưa tiên nhân:
- Mẹ con thỏ chúa vì cúng dường ngài, nên đã lao thân vào lửa, nay thịt đã chín, ngài có thể thụ dụng.
Nghe thụ thần nói, tiên nhân buồn thương không nói nên lời, vội đặt quyển kinh mình thường tụng lên lá cây, rồi thuyết kệ:
Thà đốt thân này, mắt mù lòa,
Không nỡ giết hại, ăn chúng sinh
Kinh điển từ bi Đức Phật thuyết
Dạy người luôn tu tập hạnh từ.
Thà đập xương tủy, đầu vỡ nát
Không nỡ ăn thịt của chúng sinh
Như Phật nói rằng người ăn thịt
Chẳng thể trọn vẹn hạnh từ bi
Thường bị chết yểu, thân nhiều bệnh
Khó thành quả Phật, mãi trầm luân.
Tiên nhân nói kệ xong rồi phát nguyện:
- Nguyện cho con đời đời không khởi niệm giết hại, không bao giờ ăn thịt chúng sinh, nhập Bạch Quang Minh Từ tam-muội cho đến khi thành Phật, giữ giới trọng không ăn thịt.
Nói xong, tiên nhân lao vào đống lửa chết cùng thỏ. Lúc ấy, trời đất nổi sáu hình thái chấn động. Nhờ sức của thiên thần, nên cây phóng ánh sáng màu vàng chiếu sáng đến nghìn cõi nước.
Nhân dân các nước thấy ánh sáng này từ rừng cây phát ra liền theo ánh sáng mà đến. Họ thấy tiên nhân cùng hai con thỏ chết trong đống lửa, lại thấy bài kệ được viết trên lá cây và bản kinh Phật liền đem về dâng lên vua. Vua nghe pháp ấy truyền lệnh cùng tuyên đọc, khiến người nghe đều phát đạo tâm Vô thượng chính chân.
Phật bảo Thức-kiền:
- Ông nên biết, vua thỏ trắng lúc ấy chính là tiền thân của ta Thích-ca Văn-ni Phật, thỏ con chính là La-hầu-la. Tiên nhân tụng kinh lúc ấy là đại bồ-tát Di-lặc con bà-la-môn vậy. Năm trăm con thỏ lúc ấy nay chính là nhóm năm trăm tì-kheo như Ma-ha Ca-diếp v.v... Hai trăm năm mươi thụ thần lúc ấy nay chính là nhóm hai trăm năm mươi đệ tử tì-kheo như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên... Một nghìn vị vua lúc ấy nay chính là một nghìn bồ-tát như ông Bạt-đà-ba-la... Người dân của các cõi nước được nghe kinh lúc ấy là những đệ tử học theo Phật pháp được đắc đạo ở trong khoảng thời gian từ khi ta thành Phật cho đến Phật Lâu-chí xuất hiện ở đời.
Bồ-tát cầu pháp trải qua nhiều kiếp chuyên cần, khổ nhọc không tiếc thân mạng. Tuy chịu nghiệp báo thụ thân súc sinh, nhưng thường vì pháp không tiếc thân mạng, như lao vào đống lửa, dùng thân cúng dường, nên vượt qua được tội sinh tử của chín trăm vạn ức kiếp, thành tựu quả Phật.
Khi Phật nói nhân duyên này, năm trăm Phạm chí như Thức-kiền v.v... đều lễ Phật xin xuất gia, sau đó đều thành a-la-hán. Vị tiên nhân lao vào đống lửa mạng chung sinh về Phạm thiên, cho đến thành Phật. Người ăn thịt sẽ phạm tội nặng, sau khi chết sinh vào địa ngục uống nước đồng sôi”.
Kinh Đại tập ghi: “Đức Phật dạy:
Thiện nam tử! Thời quá khứ có một sư tử chúa sống trong núi sâu, nó thường suy nghĩ: ‘Ta là vua của loài thú, có khả năng bảo vệ chúng’. Lúc ấy trong núi có vợ chồng khỉ sinh hai con. Một hôm vợ chồng khỉ nói với sư tử:
- Nếu đại vương có thể bảo vệ tất cả loài thú, chúng tôi sẽ giao hai con của tôi cho ngài trông nom, để chúng tồi đến nơi khác tìm thức ăn.
Sư tử chấp nhận. Thế là vợ chồng khỉ giao hai con cho sư tử chúa, rồi đi xa. Bấy giờ trong núi có một con kên kên chúa tên là Lợi Kiến thừa dịp sư tử chúa ngủ say, nó bắt hai khỉ con, rồi mang lên vách núi hiểm trở. Khi thức giâc, sư tử thấy vậy liền nói Với kên kên bằng bài kệ:
Ta nay cầu thỉnh Đại thứu vương
Mong ngài lắng nghe lời ta nói
Xin hãy vì ta thả khỉ ra
Chớ để thất tín, lòng hổ thẹn.
Kên kên chúa cũng thuyết kệ đáp:
Ta có năng lực bay trên không
Vượt cõi của ngươi, ta chẳng sợ
Nếu muốn bảo vệ hai khỉ này
Vì ta, ngươi hãy xả thân mình.
Sư tử liền đáp:
Ta vì bảo vệ hai khỉ này
Xả thân không tiếc, như cỏ khô
Nếu ta quí thân mà nói dối
Đâu xứng với câu “như thuyết hành”.
Nói xong, sư tử chúa liền lên chỗ cao, lúc sắp xả thân, kên kên chúa lại thuyết kệ:
Ai vì kẻ khác, xả thân mình
Sẽ được niềm vui thật tối thượng
Ta nay sẽ thả hai khỉ này
Xin Đại pháp vương chớ hại mình.
Đức Phật dạy:
Sư tử chúa ấy chính là tiền thân của Ta, khỉ đực là Ca-diếp, khỉ cái là tì-kheo-ni Thiện Hộ, hai khỉ con là A-nan và La-hầu-la, kên kên chúa là Xá-lợi-phất. Đó là vì bảo vệ người đến nương tựa mình mà Ta không tiếc thân mạng”.
74.5. QUÁN KHỔ
Kinh Chỉnh pháp niệm ghi: “Bồ-tát Khổng Tước nói với chư thiên:
- Ai có tâm bi thì người ấy cách niết-bàn không xa, tâm bi là đại trang nghiêm. Nếu khởi tâm bi đối với chúng sinh trong năm đường thì có thể phá được phiền não. Thế nào gọi là khởi tâm bi với chúng sinh trong địa ngục? Những chúng sinh nơi đây vì sao bị bản nghiệp dối gạt? Do tâm oan gia gây tạo, nên phải chịu vô lượng khổ đau mà không thể nào nói được. Trong địa ngục lớn có một trăm ba mươi sáu địa ngục nhỏ. Một khi chúng sinh rơi vào đây, thân thể bị phanh xẻ, cắt chặt, nấu nướng.... mà không có ai cứu, không có nơi nương tựa, rong chạy khắp nơi cầu xót thương giải thoát, nhưng không thể được. Như thế mà khởi tâm bi với họ thì sẽ tăng trưởng vô lượng phúc như Phạm thiên.
Nếu ai vì lợi ích chúng sinh, hãy quán sát những cơn đói khát của loài ngạ quỉ đốt cháy tự thân như đốt rừng cây, chúng rượt đuổi chạy khắp nơi, va chạm lẫn nhau, lửa mạnh thiêu đốt, toàn thân cháy rực; chúng thiết tha khẩn cầu cứu giúp, nhưng không ai cứu được. Những chúng sinh này đến bao giờ mới thoát được những nỗi khổ đau ấy? Nếu quán nỗi khổ của ngạ quỉ như vậy mà khởi tâm bi thì đời sau sẽ sinh Phạm thiên.
Nếu có người muốn quán loài súc sinh mà khởi tâm bi, thì nên nghĩ chúng phải chịu vô lượng khổ não, sát hại lẫn nhau. Các loài bay trên không trung, bơi lội trong nước, sống trên đất liền phải chịu vô số trường họp bỏ thân mạng, chúng lại tàn hại, ăn thịt lẫn nhau. Những chúng sinh này biết bao giờ mới thoát những nỗi khổ đau ấy. Quán nỗi khổ của súc sinh như vậy mà khởi tâm bi, thì sẽ được sinh Phạm thiên.
Nếu muốn quán chư thiên sáu tầng trời cõi Dục, thì nên quán niềm vui cõi trời này thật không thể thí dụ, nào là non cao, hang sâu, vườn rừng đều là những nơi để hưởng thụ khoái lạc. Sau khi hưởng thụ rồi, hết phúc sẽ rơi vào nơi xấu ác như địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh chạy nhảy khắp nơi, mê loạn vô tri, chịu khổ não cùng cực. Nếu quán nỗi khổ của chư thiên như vậy mà khởi tâm bi, thì sẽ sinh Phạm thiên.

Phần 10

Nếu muốn quán loài người mà khởi tâm bi, thì nên quán sát do các nghiệp mà phải sinh vào loài người chịu các quả báo khổ vui, hoặc có người nghèo khổ phải nương tựa kẻ khác, ganh ghét đố kị, sợ người khinh thường, tìm cầu việc làm để tự nuôi sống... Quán nỗi khổ của loài người như thế mà khởi tâm bi thì đây là pháp thiện bậc nhất, đưa đến niết-bàn.
Quán năm nỗi khổ của năm đường chúng sinh như thế mà khởi tâm bi thì được trạng thái an ổn tối thắng, dẫn đến Niết-bàn"
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Một hôm Đức Phật lấy một ít đất vào móng tay rồi hỏi các tì-kheo:
- Các ông nghĩ sao, đất trong móng tay ta nhiều, hay đất trên đại địa nhiều?
- Bạch Thế Tôn! Đất trong móng tay của ngài quá ít, không thể so sánh với đất trong đại địa vô lượng vô số được!
- Số lượng chúng sinh luôn luôn hay chỉ trong một khoảnh khăc khởi tâm từ đối với muôn loài thì ít như đất trong móng tay. Còn số lượng chúng sinh không thể luôn luôn hay chỉ trong khoảnh khắc khởi tâm từ với muôn loài thì nhiều như đất trong đại địa. Cho nên các ông phải luôn luôn khởi tâm từ đối với tất cả chúng sinh”.
Kinh Tu hành đạo địa có bài kệ:
Nên phát khởi tâm từ
Xem oán như người thân
Xoay vần trong sinh tử
Càng tăng thêm thân tộc
Giống như cây trổ hoa
Dần dần kết thành quả
Cha mẹ vợ và con
Thân tộc cũng như thế
Nếu người tu hạnh từ
Tâm không hề thương ghét
Chẳng phân biệt thân sơ
Đó mới là Đại từ
Bình đẳng hành đại bi
Khắp chúng sinh ba cõi
Người hành từ như vậy
Đức vượt cả Phạm thiên
Đao bén chẳng thể hại
Quan binh, oán giặc, lửa
Ác quỉ cùng la-sát
Rắn độc và sấm chớp
Sư tử, cọp, voi cuồng
Và những ác thú khác
Đều chẳng dám đến gần
Không thể làm tổn thương.
Luật Thiện kiến ghi: “Nếu nơi ấy có sư từ, cọp sói, cho đến loài nhỏ bé như kiến thì không được ở. Nếu kiến có hang và chúng đang sống trong đó cũng không được làm phòng xá. Nếu kiến đã đi tìm thức ăn, thì có thể đuổi chúng đi nơi khác và được trú tại đó”.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Thế Tôn dạy các vị tì-kheo:
Vào thời quá khứ, có lần chư thiên và a-tu-la đánh nhau, a-tu-la thắng trận, chư thiên đại bại. Bấy giờ quân của Đế Thích chạy toán loạn, vô cùng sợ hãi, dong xe chạy sang hướng bắc, trở về thiên cung. Con đường dưới núi Tu-di đi ngang qua một khu rừng, trong đó có tổ chim cánh vàng với rất nhiều chim non. Đế Thích sợ xe cán chết chim non, nên bảo vị trời đánh xe:
- Hãy quay xe trở lại, chớ cán chết chim non!
- Quân A-tu-la đang đuổi sát phía sau, nếu quay xe nhất định sẽ bị nguy khốn Vị trời đánh xe thưa.
- Thà quay xe để bị A-tu-la giết, chứ không để quân chúng đạp chết chúng sinh Đế Thích nói.
Thế là Đế Thích quay xe chạy sang hướng nam. Quân a-tu-la từ xa thấy Đế Thích quay lại, cho rằng có mưu kế, liền thoái lui. Lúc ấy quân binh hoảng sợ, trận địa tan rã, nên đồng lui về cung a-tu-la.
Đức Phật lại dạy:
- Đế Thích làm vua tự tại trên cõi Ba Mươi Ba, do sức từ cho nên có uy lực phá tan quân a-tu-la. Các ông cũng nên ca ngợi công đức của tâm từ”.
Kinh Đại bi ghi: “Đức Phật bào A-nan:
- Nếu tâm an trú nơi pháp từ thì được mười một lợi ích: một, ngủ nghỉ an ổn; hai, không thấy ác mộng; ba, nhân và phi nhân mến thích; bốn, chư thiên bảo vệ; năm, các loại độc không thể làm hại; sáu, gươm giáo cung tên không thể làm tổn thương; bảy, lửa không thể đốt cháy; tám, nước không thể nhận chìm; chín, luôn được thức ăn thức uống ngon bổ, giường nệm, thuốc thang tốt; mười, gặp được pháp của bậc thượng nhân; mười một, sau khi qua đời được sinh lên cõi trời Phạm”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Thế Tôn dạy các tì-kheo:
- Có sáu năng lực bình thường: một, năng lực tiếng khóc trẻ con ; hai, năng lực sân hận của người nữ ; ba, sức nhẫn của tì-kheo; bốn, sức ngạo mạn của vua chúa; năm, sức tinh tấn của bậc a-la-hán; sáu, sức đại bi của Đức Phật. Các ông nên niệm sức đại từ bi của Phật”.
Có bài tụng:
Năng Nhân thương huyễn khổ Tâm thánh xót mê tình Thương phàm ngu, nhiếp thụ Chỉ bày phương tiện môn Pháp thân khắp pháp giới ứng hóa hiện Kì-hoàn Tiêu trừ năm đường khổ Giải thoát bốn oán ma Ba tu trừ ý mã Sáu niệm diệt tâm viên Ao thiền lắng nước định Giác ý dẹp náo ồn Gió tuệ giục trống pháp Chấn động gốc vô minh Thường nên gần bạn tốt Học những điều chưa nghe.
74.6. CẢM ỨNG
74.6.1. Đời Tùy, sa-môn Thích Tuệ Việt: Sư người Lĩnh Nam, trụ tại núi La Phù. Bản tính sư từ ái, hay cứu giúp chúng sinh. Sư sống nơi núi rừng hoang vắng, nhưng các loài thú dữ không bao giờ quấy nhiễu. Có lần thú dữ đến trước mặt, sư thuyết pháp cho chúng nghe, hổ gối đầu lên chân, sư vuốt râu nó, không chút sợ hãi, mọi người đều thấy cảnh này.
Sư giáo hóa vùng Ngũ Lĩnh, tiếng tăm vang đến tận Tam Sở. Niên hiệu Khai Hoàng cuối cùng (601), sư được vua thỉnh về Tuệ Nhật đạo tràng. Tuổi già sư trở về Dương châu, nhưng trên đường đi, bị bệnh mà thị tịch. Nhục thân đặt trên thuyền nhiều ngày mà vẫn tươi nhuận như lúc còn sống. Ban đêm có ánh sáng từ chân phóng ra rồi thu vào đỉnh đầu; lại từ đỉnh đầu phóng ra rồi thu vào chân, suốt đêm như thế. Đạo tục thấy vậy cho là điều chưa từng có.
75.6.2. Đời Đường, sa-môn Thích Đạo Tích: Sư người nước Thục, trụ tại chùa Phúc Cảm, ích châu. Sư chuyên tụng kinh Niết-bàn và lấy đó làm sự nghiệp tu tập. Khi muốn giảng giải, trước hết sư tắm gội thân thể, thay y phục sạch, rồi mới thăng tòa. Tính sư trầm tĩnh suy xét, nhân từ đối với muôn loài. Sư gom những người bị bệnh ung nhọt, thân dính máu mủ hôi dơ về một nơi để chữa trị, giặt vá quần áo, cùng sống chung với họ mà lòng không bao giờ nhờm gớm, ghét bỏ. Mọi người thấy lạ mới hỏi, sư đáp: “Cảnh không có tịnh hay uế, tịnh uế do tâm. Tâm không động thì niệm yêu ghét làm sao sinh?”.
Vào một ngày tháng năm, niên hiệu Trinh Quán thứ nhất (627), sư thị tịch tại chùa Phúc Cảm, thọ bảy mươi tuổi. Lúc ấy thời tiết nóng bức, thân thể của sư vẫn để ngồi kết già một trăm ngày mà vẫn không biến hoại. Mọi người cho là điều lạ, bèn đắp vải phết sơn lên thân, tôn thờ ở Ba Thục.
75.6.3. Đời Đường, Thích Từ Tạng: Sư họ Kim, người nước Tân-la. Thuở niên thiếu sư đã thông minh đĩnh ngộ, tâm tính rỗng lặng, nhàm chán vinh hoa, thích đạo xuất thế, một mình tọa thiền trong rừng sâu, không sợ cọp sói. Sư trì giới tinh nghiêm không ai sánh bằng, lại có lòng từ bi, lấy việc cứu độ làm đầu. Một mình sư ẩn cư trong núi sâu, không người qua lại; có lúc hết lương thực, chim linh

Phần 11

ngậm quả đến cúng dường, chim cũng đậu trong tay cùng sư thụ thực. Chim đến rất đúng giờ, không bao giờ sớm hay muộn. Đức hạnh của sư cảm được những điềm kì diệu hiếm có như vậy.
Lòng sư lúc nào cũng đau đáu xót thương các loài chúng sinh, luôn tìm cách cứu họ thoát sinh tử. Một hôm sư mộng thấy hai người nam đến bảo:
- Ngài sống nơi núi rừng sâu thẳm này để mong được lợi ích gì?
Sư đáp:
- Chỉ mong đem lại lợi ích cho chúng sinh.
Thế là họ trao cho sư năm giới và nói:
- Ngài có thể dùng năm giới này làm lợi ích chúng sinh! Chúng ta từ cõi trời Đao-lợi xuống đây trao năm giới cho ngài.
Nói xong cả hai vọt lên hư không đi mất. Sau đó sư xuống núi, truyền giới cho rất nhiều người trong nước.
Niên hiệu Trinh Quán mười hai (638), sư đến Trung Quốc. Vừa đến kinh đô, sư đã cứu giúp mọi người, hằng ngày có cả nghìn người đến sư cầu thụ giới, trong đó có người mù bỗng nhiên mắt sáng, người bệnh được lành. Sư rất thích nơi vắng vẻ, nên tâu vua xin hạ an cư ba tháng tại chùa Vân Tế. Nơi đây sư thấy vô số quỉ thần lớn, mang giáp, cầm gậy đến nói: “Nay mang chiếc xe vàng này đến nghinh đón Từ Tạng. Sư lại thấy một vị thần khác cũng to lớn đến đánh nhau với vị thần kia, ngăn cản không cho rước Từ Tạng. Bấy giờ sư nghe mùi hôi thối xông khắp hang cốc, sư liền đến thẳng sàng thông báo từ biệt. Có một đệ tử của sư bị quỉ đánh chết, sau đó sống lại. Thấy vậy, sư liền xả y bát, tư tài cúng dường chư tăng, lại nghe hương thơm lan khắp thân tâm. Vị thần ấy nói: “Nếu hôm nay sư không chết, sẽ thọ hơn tám mươi”,
Năm bảy mươi tuổi sư trở về quê hương Tân-la xiển dương Phật pháp giống như tại Trung Quốc. Vua Tân-la thỉnh sư đến chùa Hoàng Long giảng Bồ-tát giới bản. Trong suốt bảy ngày bảy đêm ấy, trời rưới cam lộ, mây lành che phủ giảng đường, bốn chúng kinh ngạc.
Từ đó danh tiếng sư vang khắp bốn phương, về sau, sư hiện cơn bệnh nhẹ rồi thị tịch, nhằm niên hiệu Vĩnh Huy (650-656) đời Đường, Trung Quốc.
75.6.4. Đời Đường, Lư Nguyên Lễ ở Phạm Dương: Vào niên hiệu Trình Quán cuối cùng (650), ông làm huyện úy Liên Thủy, Tứ châu. Một hôm bị cơn bệnh năng, ông đột ngột qua đời, nhưng qua ngày sau thì sống lại và kể:
- Lúc đầu có một người dẫn tôi đến một phủ quan, nơi đây tôi thấy một quan nhân đến mà không có thị vệ. Tôi liền đến ngồi vào ghế của vị quan nhân, ông ta liền nhìn người hầu, người này bước đến, một tay nâng đầu tôi, một tay nắm chân tôi ném xuống thềm. Một hồi lâu tôi mới đứng dậy được. Kế đó tôi bị dẫn đến một biệt viện, rồi đi qua hướng nam vào một sảnh đường rộng lớn. Tôi thấy trong đây có hàng trăm bếp lò, bên trên có hơi nước bốc lên nghi ngút như mây cuộn, tiếng nước sôi sùng sục, xen lẫn âm thanh ồn náo của hàng nghìn, hàng vạn người. Tôi ngước nhìn thì thấy như có những cái lồng nhốt đầy người treo phía trên đám hơi nước này, thì ra đây là nơi nấu tội nhân. Thế là tôi phát nguyện lớn: “Nguyên Lễ tôi nguyện chịu tội thay cho tất cả chúng sinh”. Nói xong tôi cởi hết y phục rồi nhảy vào vạc nước sôi. Lúc ấy tôi mê man, nên không cảm thấy đau đớn. Lát sau có một vị sa-môn đến kéo tôi ra khỏi vạc và nói: “Biết ông có tâm chí thành, nên cho trở về dương thế”. Thế là tôi sống lại.
Từ đó về sau ông không ăn cá thịt, ba bốn năm sau ông qua đời tại đất Lạc.
75.6.5. Thỏ thiêu thân cúng dường: Truyện Tây quốc hành của pháp sư Huyền Trang đời Đường ghi: “Phía tây hồ Liệt-sĩ, nước Bà-la-ni-tư có tháp Tam Thú, là nơi Như Lai thiêu thân khi còn tu hạnh Bồ-tát. Đó là vào kiếp sơ, trong khu rừng vắng này có ba con thú là chồn, thỏ và vượn hòa hợp chung sống. Bấy giờ Đế Thích muốn thử những loài tu hạnh bồ-tát, nên hóa thành một cụ già, đến khu rừng này hỏi ba con thú:
- Ba ngươi an ổn không, chảng sợ hãi chứ?
Ba thú đồng đáp:
- Bước trên cỏ mềm, dạo khắp rừng xanh, mọi loài chung vui, đã an mà còn lạc nữa!
Ông lão nói:
- Nghe nói ba ngươi giao tình thân thiết, không phân biệt trẻ già, nên từ xa tìm đến đây. Bây giờ ta đang đói, không biết có gì ăn không?
Cả ba đồng thưa:
- Xin ông tạm ở lại đây giây lát, chúng tôi sẽ tìm”.
Thế là cả ba cùng đi, bấy giờ chồn men theo bờ suối bắt được một con cá chép; vượn trèo lên cây hái quả đem về, chỉ có thỏ trở về không. Thấy vậy, ông lão nói:
- Theo ta thấy, các ngươi chưa thật sự hòa hợp. Chồn và vượn đồng lòng, cả hai thật đã dụng tâm, chỉ cỏ thỏ về không, chẳng có gì hiến cho ta. Theo đó thì có thể biết được thế nào rồi!
Thỏ nghe ông lão luận như thế, liền nói với vượn và chồn:
- Sau khi gom đủ củi, thì tôi mới có cách!”
Thế là hai thú kia tranh nhau lấy củi, con thì mang cỏ khô, con thì kéo cành cây gom lại thành đống lớn, rồi đốt cháy. Bấy giờ thỏ mới nói:
- Thưa nhân giả! Thân thể tôi bé nhỏ, khó mà tìm được thức ăn. Nay xin dâng thân này cho ngài thụ dụng!
Nói xong, thỏ nhảy vào đổng lửa tự thiêu chết mình. Tức thời ông lão trở lại nguyên hình Đế Thích. Thân thỏ đã cháy hết, chỉ còn xương, Đế Thích nhặt lấy mà lòng cảm thương, ông than thở một hồi lâu mới nói với chồn và vượn:
- Sao lại đến nỗi này! Ta cảm động tấm lòng của thỏ, nên không để mất dấu tích của thỏ!
Đế Thích bèn gửi bóng thỏ lên mặt trăng để lưu truyền đến đời sau. Cho nên biết, con thỏ trong mặt trăng từ việc này mà có. Người đời sau đã xây tháp nơi đây để kỉ niệm ba con thú ấy”.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục