PUCL QUYỂN 69 - CHƯƠNG THỤ BÁO
15/12/2015
QUYỂN 69 Quyển này gồm một chương Thụ báo. 79. CHƯƠNG THỤ BÁO 79.1. LỜI DẪN Nghiệp dụng của thiện ác chính là biểu hiện của ba báo. Cả hai giống như bóng theo hình, rõ ràng như sáu đường đã minh chứng. Ba báo: - Hiện báo...

QUYỂN 69
Quyển này gồm một chương Thụ báo.
79. CHƯƠNG THỤ BÁO
Nghiệp dụng của thiện ác chính là biểu hiện của ba báo. Cả hai giống như bóng theo hình, rõ ràng như sáu đường đã minh chứng. Ba báo:
- Hiện báo: vì làm vui lòng thiên hậu mà loan truyền ân sâu của Cửu sắc; chim đậu vào lòng vua mà được toàn mạng, thân chịu năm hình phạt thật tàn khốc.
- Sinh báo: chúng sinh chìm đắm trong chốn tối tăm, thần thức trôi lăn không dừng nghỉ, thân hình nhiều kiếp chịu khổ đau, không hiểu nỗi khổ mù mắt của vương tử.
- Hậu báo: ngoại đạo gieo họa sinh về cõi trời Phi Tưởng, mê pháp mà vĩnh viễn lầm lẫn một đời,cuối cùng phải làm loài chồn dữ có cánh, phải bay lên không bắt chim, lặn xuống nước bắt cá chịu khổ không cùng.
Xét rõ chúng sinh ba đời bị chìm đắm, thấu nỗi khổ thay hình đổi dạng, mà ngộ được ngôi nhà tứ đế, tam minh, ngõ hầu vượt ra khỏi màn, tối ba báo, năm khổ.
79.2. DẪN CHỨNG
Kinh ưu-bà-tắc giới ghi: “Phật dạy: Này thiện nam! Chúng sinh gây tạo nghiệp có bốn loại:
- Hiện báọ: thân đời nay gây tạo nghiệp cực thiện hay cực ác, thì ngay hiện đời sẽ thụ nhận quả bảo.
- Sinh báo: thân đời nay gây tạo nghiệp thiện ác, thì thân tiếp theo sau sẽ thụ nhận quả báo.
- Hậu báo: thân đời nay gây tạo nghiệp thiện ác, nhưng thân tiếp theo chưa thụ nhận quả báo mà cách hai, ba hay nhiều đời sau mới thụ nhận quả báo.
- Vô báo: giống như nghiệp vô kí.
Lại cộ bốn loại;
- Thời gian nhất định, nhưng quả báo không nhất định. Loại này đối với ba thời-thì nhất định không thay đổi, nhưng do nghiệp có thể chuyển, nên quả báo không nhất định.
- Quả báo nhất định, thời gian không nhất định. Bởi do nghiệp lực nhất định, không thể thay đổi, nhưng thời gian có thể thay đổi, nên thời gian không nhất định.
- Thời gian và quả báo đều nhất định. Do nghiệp nhất định, nên thời gian và quả báo cũng nhất định.
- Thời gian và quả báo đều không nhất định. Do nghiệp không nhất định, nên thời gian và quả báo cũng không nhất định.
Chúng sinh tạo nghiệp, có người tạo đủ ba nghiệp, có người tạo không đủ. Nếu trước suy nghĩ rồi sau mới tạo gọi là tạo tác đầy đủ ba nghiệp. Nếu không suy nghĩ, mà chỉ tạo tác thì gọi là tạo tác không đây đủ. Lại có người đã gây tạo, nhưng không đây đủ, như nghiệp đã gây tạo, mà quả báo chưa nhất định. Lại có người đã tạo và cũng đã đầy đủ, nghĩa là nghiệp gây tạo đã định, sẽ nhận quả báo. Lại có người đã gây tạo nhưng không đầy đủ, như quả báo tuy đã nhất định, nhưng thời gian không nhất định. Lại có người đã gây tạo nghiệp cũng đã đầy đủ, thời gian và quả báo đều nhât định. Lại có người gây tạo nghiệp rồi nhưng không đầy đủ, như trì giới và có chính kiến. Lại có người tạo nghiệp, cũng đã đầy đủ, nhự phá giới, tà kiến. Lại có người đã tạo nghiệp mà không đầy đủ, tức là trong ba thời sinh tâm hối hận. Lại có người tạo nghiệp đã đầy đủ, tức là trong ba thời không hối hận. Nghiệp ác đã như vậy, thì nghiệp thiện cũng không khác”.
79.3. THỤ THAI
Luật Thiện kiến ghi: “Ngươi nữ khi sắp mang thai, thì Nguyệt hoa thủy (một loại máu) chảy ra. Bấy giờ tại tử cung sinh một cục máu, sau bảy ngày tự vỡ. Nếu máu từ đây chảy ra không dứt thì tinh trùng củangười nam không trụ được trong đó, mà cùng theo máu tuôn ra ngoài. Nếu máu hết chảy, thì tinh trùng trở lại nơi ấy và kết thành thai. Lại nữa, người nữ có bảy trường hợp đưa đến thụ thai: một là tiếp xúc nhau; hai, nhận áo; ba, rơi tinh; bốn, xoa tay; năm, thấy sắc; sáu, nghe tiếng; bảy, ngửi mùi”
Hỏi: Thế nào là tiếp xúc nhau thụ thai?
Đáp: Khi người nữ có Nguyệt thủy thì rất thích người nam, nếu người nam dùng thân mình tiếp xúc với phân thân của người nữ, liền đắm trước mà mang thai.
Hỏi: Thế nào là nhận áo thụ thaỉ?
Đáp: Như Ưu-đà-di cùng với vợ xuất gia, nhưng dục ái vẫn không dứt, nên hai người thăm hỏi nhau, tâm dâm bộc phát, xuất tinh vấy vào áo, người vợ dùng lưỡi liếm tinh đó và bỏ vào nữ căn, do đó mà thụ thai.
Hỏi: Thế nào là hạ tinh thụ thai?
Đáp: Như Lộc Mầu do dục tâm mà uống tinh của đạo sĩ, liền mang thai sinh ra đạo sĩ Lộc Tử.
Hỏi: Thế nào là thụ thai do dùng tay xoa?, ,
Đáp: Như cha mẹ của bồ-tát Thiểm Tử sắp bị mù, Đế Thích biết được, bèn xuống gặp và bảo: ‘Âm dương hòa hợp mới sinh con!. Nhưng vợ chồng người ấy đã xuất gia, nên thưa vơi Đế Thích: ‘Chúng tôi đã xuất gia, theo giới luật thì không được làm như vậy’. Đế Thích mới bảo: ‘Như vậy nên lấy tay xoarốn. Hai vợ chồng bèn làm theo lời chỉ bảo của Đế Thích liền mang thai sinh ra Thiểm Tử.
Hỏi: Sao gọi là thấy sắc thụ thai?
Đáp: Có một cung nữ, đến kỳ kinh nguyệt mà không được giao hợp với người nam, vì tình duc quá mạnh, nên chỉ thấy người nam liền thụ thai.
Hỏi: Sao gọi là nghe âm thanh thụ thai?
Đáp: Như loài hạc trắng chỉ có chim mái mà không có chim trống, đến mùa xuân, khí dương bắt đầu bao phủ, tiếng sấm vừa vang, chim hạc mái lắng nghe tiếng sấm, liền mang thai. Gà cũng có khi nghe tiếng gà trống mà mang thai.
Hỏi: Sao gọi là ngửi mùi thơm liền thụ thai?
Đáp: Như trâu cái chỉ ngửi mùi trâu tơ mà mang thai.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các thầy tì-kheo: ‘Có ba nhân duyên thần thức không thể thụ thai:
- Một, người mẹ khởi tâm dục, cha mẹ cùng ở một chỗ, nhưng bên ngoài thần thức chưa đến, thì không thụ thai. Nếu thần thức đã đến mà cha mẹ không cùng ở một chỗ, thai cũng không thành.
- Hai, nếu người mẹ không khởi tâm dục, người cha khởi tâm dục mạnh, vì người mẹ không ưa thích việc dục, nên không thụ thai.
- Ba, nếu cha mẹ cùng ở một chỗ, người mẹ khởi dục mạnh, nhưng người cha không ưa thích thì cũng không thụ thai.
Lại có ba trường hợp:
- Một, nếu cha mẹ cùng ở một chỗ, cha bị bệnh phong, mẹ bị bệnh hàn, thì không thụ thai.
- Hai, nếu mẹ có bệnh phong, cha có bệnh hàn thì cũng không thành thai.
- Ba, nếu thân thể cha có nhiều thủy khí, dù mẹ không bị cũng không thụ thai.
Lại có ba trường hợp:
- Một, nếu cha mẹ cùng ở một chỗ, mà tướng cha có con nhưng tướng mẹ không có con thì không thụ thai.
- Hai, nếu tướng mẹ có con, nhưng tướng cha không có con thì cũng không thụ thai.
- Ba, nếu tướng cha mẹ đều không có con thì không thể thụ thai.
Lại có ba trường hợp:
- Một, đúng thời, thần thức đến, nhưng cha đi xa thì không thụ thai.
- Hai, nếu đã đúng thời, cha mẹ lẽ ra cùng ở một chỗ, nhưng mẹ đi xa thì cũng không thụ thai.
- Ba, cha mẹ cùng ở một chồ thì thụ thai.
Lại có ba trường hợp:
- Một, nếu đã đúng thời cha mẹ cùng ở một chỗ, nhưng cha bị bệnh nặng, dù thần thức đến, cũng không thụ thai.
- Hai, nếu mẹ bị bệnh nặng, cũng không thụ thai.
- Ba, nếu cha mẹ đều bị bệnh nặng thì không thụ thai, cha mẹ không bị bệnh, thần thức đến, cha mẹ đều có tướng sinh con thì thụ thai’
Luận Du-già ghi: “Thai tạng này có tám vị khác nhau: yết-la-lam, át-bộ-đàm, bế-thi, kiện-nam, bát-la-xa-khư, phát mao trảo, căn, hình. Thai vừa kết tụ nhưng vẫn còn lỏng, gọi là yết-la-lam. Nếu trong ngoài như sữa đặc, mà chưa phát triển thành thịt, gọi là át-bộ-đàm. Khi đã phát triển thành thịt, nhưng còn rất mềm thì gọi là bế-thi. Khi đã săn cứng, có khả năng chịu đựng xúc chạm gọi là kiện-nam. Khi khối thịt này phát triển lớn dần và xuất hiện các tướng chi phân, gọi là bát-la-xa-khư. Khi tóc, lông, móng... xuất hiện, thì gọi là phát mao trảo. Khi các căn như mắt, tai v.v... phát sinh, gọi là căn. Từ đây về sau, sở y của các căn hiện bày rõ ràng, gọi là hình.
Ở trong thai, đứa bé do nghiệp lực trước kia, hoặc do mẹ không tránh lực bất bình đẳng, nên phát sinh gió tùy thuận, khiến thai nhi này, hoặc tóc, hoặc màu sắc, hoặc da, cho đến các chi phần bị biến đồi. Tóc biển đổi, là do nghiệp tạo tác đời trước, có thể chiêu cảm nghiệp ác bất thiện này và do người mẹ có thói quen dùng các vị mặn, hoặc ăn mặn hoặc uống mặn, khiến cho tóc của thai nhi thưa thớt. Màu sắc biến đổi, là do nghiệp đời trước và do người mẹ khi mang thai hay gần với khói lửa, nên khiến cho thai nhi khi sinh ra có da màu đen. Lại do người mẹ khi mangthai ở gần chỗ quá lạnh, nên khiến thai nhi sinh ra có da màu trắng.
Lại do người mẹ ăn nhiều đồ nóng, khiến thai nhi có màu hồng. Da biến đổi là do nghiệp đời trước và do thói quen của người mẹ khi mang thai thường khởi dâm dục, khiến thai nhi khi sinh ra hoặc da bị xấu xí lở loét v.v... Chi phần biến đổi là do nghiệp đời trước và do người mẹ khi mang thai quen thói chạy nhảy và không tránh các duyên bất bình đảng hiện tại... nên khiến thai nhi khi sinh ra các căn và các chi phần khuyết thiếu.
Lại nữa, nếu thai nhi là nữ thì nằm bên hông phải của người mẹ, tựa vào xương sống, mặt hướng về bụng; nêu thai nhi là nam thì năm bên hông trái của mẹ, tựa vào bụng, mặt hướng vào xương sống.
Lại khi thai nhi đã đầy đủ vóc hình, người mẹ không mang nổi, sức gió bên trong lại phát sinh, khiến rất khổ não, cũng do nghiệp báo của thai nhi này mà gió Sinh phần phát khởi, khiến cho đầu hướng xuống, chân hướng lên, thai nhi được thai y quấn kín rồi hướng đến chỗ sinh ra. Đến giờ sinh, thai y tách ra thành hai lá. Khi ra khỏi bụng mẹ, gọi là chính sinh. Sau khi sinh, các căn lần lượt tiếp xúc với cảnh, tức là nhãn xúc cho đến ý xúc”.
79.4. TRUNG ẤM
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Có mười bảy loại trung ấm hữu. Ông nên buộc niệm tu tập đạo tịch diệt. Nếu trời người nhớ nghĩ đạo này, sẽ hoàn toàn khôngsợ sứ giả Diêm-la làm hại. Sau đây là mười bảy thân trung ấm hữu:
Một. Chúng sinh ở cõi người, sau khi chết nếu sinh về cõi trời, thì hiện trung ấm tướng vui. Bấy giờ trung ấm giống như tấm lụa trắng tinh, mềm mại, rơi xuống; lại thấy vườn, rừng, hoa, ao; nghe các tiếng ca múa đùa cười; ngửi các mùi thơm. Các thứ đáng ưa thích như thế nhiều vô lượng. Trung ấm hòa hợp tiếp xúc, liền sinh về cõi trời. Nhờ nghiệp thiện nên nay được thú vui ở cõi trời, tâm vui vẻ, miệng mỉm cười, dung nhan sáng sạch. Bấy giờ dù thân quyến đang thương xót khóc than, nhưng nhờ tướng thiện nên không nghe, không thấy, tâm cũng không nhớ nghĩ. Sau khi chết, liền sinh về chỗ vui, thân giống chư thiên, như in như ấn. Lại thấy cõi trời thù thắng, nên sinh tâm ưa thích cảnh trời, liền thụ thân trời.
Hai. Nếu người ở cõi Diêm-phù-đề sau khi chết, sinh về cõi Uất-đan-việt, thì thân trung ấm sẽ thấy tấm lụa màu đỏ mềm mại đáng ưa, liền sinh tâm đắm trước và đưa tay nắm bắt như nắm bắt hư không, quyến thuộc cho rằng hai tay quờ quạng vào hư không. Lại có gió thổi đến, nếu người bệnh gặp mùa đông lạnh, thì có gió ấm thổi đến đẩy lùi nỗi khổ bị lạnh. Nếu gặp lúc nóng bức thì gió mát thổi đến xóa tan không khí nóng, khiến tâm vui vẻ. Vì tâm duyên theo niềm vui ấy, nên không nghe tiếng than khóc xót thương. Nếu nghiệp của người ấy dấy động thì tâm họ dấy động, nghe tiếng bi ai kia liền bị gió nghiệp thổi đến nơi khác. Cho nên khi có người thân chết, màthương xót, khóc than thì chướng ngại cho việc thụ sinh. Nếu không bị trở ngại thì sẽ được sinh về cõi Uất-đan-việt. Trong thời gian đó, lần lượt thấy các tướng thiện xuất hiện, như ao sen xanh, trong ao có nhiều ngỗng, Vịt, uyên ương, thân trung ấm liền chạy đến, vào đó vui đùa. Nếu muốn vào thai mẹ, thì trung ấm ra khỏi ao sen và lên bờ, thấy cha mẹ nhiễm dục giao hợp. Do việc bất tịnh này mà khởi kiến chấp điên đảo, thấy người cha chính là ngỗng đực, người mẹ là ngỗng cái. Nếu sinh làm người nam thì tự thấy thân mình là ngỗng đực; nếu sinh làm người nữ thì tự thấỵ thân mình là ngỗng cái. Nếu sinh làm người nam thi ghét cha; mà yêu thích mẹ. Nếu sinh làm người nữ thì mến cha mà ghét mẹ.
Ba. Nếu chúng sinh trong cõi Diêm-phù-đề chết, sinh về cõi Cù-da-ni, khi sắp chết, thấy nhà cửa đều màu vàng như mây màu vàng ròng che phủ khắp; lại thấy trong hư không có dải lụa vàng, liền đưa tay nắm bắt. Anh em, thân quyến cho rằng hai tay người bệnh nắm bắt hư không. Bấy giờ, thọ mạng người này sắp hết, thấy thân mình như trâu và thấy các bầy trâu, như thấy trong giấc mộng, Nếu sinh làm người thì thấy cha mẹ giao hợp, tự thấy thân mình biến thành rất nhiều phòng nhà. Nếu sinh làm người nam, thì thấy hình tướng cha mình giống như trâu đực, liền đuổi người cha đi để giao hợp cùng người mẹ. Nếu sinh làm người nữ thì tự thấy thân mình giống như trâu cái, liền nghĩ: “Cớ gì trâu đực kia giao hợp vớitrâu cái này mà không giao hợp với ta?”. Nghĩ như vậy rồi liền thụ thân người nữ.
Bốn. Nếu người cõi Diêm-phù-đề sau khi chết sinh về cõi Phất-bà-đề, thì lúc sắp chết thấy một dải lụa xanh, màu xanh trùm khắp hư không và thấy phòng nhà trống rỗng. Sợ tấm lụa màu xanh rơi, liền dùng tay ngăn lại. Anh em quyến thuộc cho rằng người này ngăn che hư không. Khi sắp chết, thân trung ấm như hình dáng con ngựa, thấy cha mình giống như ngựa đực, mẹ giống như ngựa cái. Khi cha mẹ ân ái giao hợp, nếu sinh làm người nam thì nghĩ: “Ta sẽ cùng với ngựa cái này giao hợp”. Nếu sinh làm người nữ, thì tự thấy thân mình như hình ngựa cái và nghĩ: “Ngựa đực như thế, tại sao không cùng ta giao hợp?”, nghĩ như vậy rồi, liền thụ thân người nữ cõi Phất-bà-đề.
Năm. Nếu người ở cõi Uất-đan-việt thuộc nghiệp bậc hạ khi sắp chết, trung ấm có tướng di chuyển lên phương trên. Nếu tâm nghiệp lớn, tự tại sinh về cõi trời thì đưa tay nắm bắt hư không. Như những gì đã thấy trong mộng, ngửi hương hoa thơm ngát, nắm trong tay hoa đẹp với màu sắc và hương thơm bậc nhất. Vừa thấy hoa, liền sinh tâm tham đắm, liền suy nghĩ ta nên leo lên cây đẹp này! Nghĩ như vậy rồi liền leo lên cây, chính là leo lên núi Tu-di, thấy hoa quả ở cõi trời vô cùng xinh đẹp. Nghĩ rằng “Ta đang dạo chơi”, liền'thụ sinh vào cõi Uất-đan-việt.
Sáu. Người ở cõi Uất-đan-việt thuộc nghiệp thuộc bậc trung, khi sắp chết sinh về cõi trời, thì thấyao sen nở rất đẹp, có đàn ong cũng xinh đẹp, các nơi đều tỏa hương thơm. Người đó bước lên hoa sen này rồi trong khoảng sát-na bay lên hư không, giống như trong giấc mộng, được sinh về cõi trời. Người ấy liền nghĩ: “Nay ta sẽ đến ao sen tuyệt đẹp nàỵ!
Bảy, Người ở cõi Uất-đan-việt do nghiệp thù thắng, nên được sinh về Thiện pháp đường của cõi trời Ba Mươi Ba. Khi sắp chết, người này thấy pháp đường xinh đẹp trang nghiêm bậc nhất. Bấy giờ, người này liền bay lên pháp đường, sinh làm thiên tử trong cung điện này.
Tám. Người ở cõi uất-đan-việt sinh về cõi trời Ba Mươi Ba khi sắp chết, thấy vườn rừng xinh đẹp, tỏa hương thơm dễ chịu, nghe càng thích thú, không có các khố não, tâm không vẩn đục. Nhờ tâm thanh tịnh nên bay lên cung điện trong hư không, cũng thấy các vị trời bay trong hư không, giống như trong mộng, thấy cõi trời Ba Mươi Ba thật xinh đẹp, có đầy đủ năm món dục lạc. Thế là, người này chết liền sinh về cõi trời. Đây là tướng Trung ấm hữu tương tục đạo thứ tám.
Chín. Người ở cõi Cù-da-ni sau khi chết sinh về cõi trời, có hai loại nghiệp là Dư nghiệp và Sinh nghiệp. Khi sinh về cõi trời, nhờ nghiệp thiện, cho nên khi sắp bỏ thân, hơi thở không uất nghẹn, không hôi, mạch không đoạn dứt, các căn thanh tịnh. Người nàythấy mình vào một ao lớn, muốn qua bờ kia. Nước ao trong vắt, mát mẻ, dễ chịu, nước đẩy thân trôi đến bờ kia. Qua được bờ, người ấy thấy các thiên nữ xinh đẹp tuyệt vời, trang điểm đủ loại, ca múa cười đùa. Thấy các cảnh ấy, người này muốn gần gũi, đến ôm người nữ, lập tức được sinh về cõi trời hưởng thụ khoái lạc như trong giấc mộng, trung ấm liền diệt. (Người ở cõi Cù-da-ni sinh về cõi trời có ba phẩm nghiệp thượng, trung và hạ đều có thân trung ấm như nhau, ánh sáng như nhau, không giống như ba loại người ở cõi Uất-đan-việt thụ sinh khác nhau).
Mười. Người ở cõi Phất-bà-đề khi lâm chung thấy tướng chết, thấy nghiệp của chính mình, hoặc nghiệp của người khác, hoặc thấy cung điện trang nghiêm thù thắng, tâm sinh hoan hỷ, muốn được sinh về chỗ ấy. Thấy có nhiều thể nữ vui chơi, ca hát cùng với những người nam bên ngoài cung điện. Ngay lúc đó, thân trung ấm nghĩ: “Ta muốn cùng vui chơi”, liền nhập vào nhóm đó, giống như đi vào giấc ngủ, liền sinh về cõi trời.
Mười một. Các loài ngạ quỉ khi nghiệp ác đã hết, thụ các nghiệp thiện. Các nghiệp thiện này vốn được tạo ở các cõi khác, như yêu thương cha mẹ, khi sắp sinh về cõi trời thì có các tướng xuất hiện. Lúc ở trong cõi ngạ quỉ, chúng sinh ấy bị đói khát
thiêu đốt, thường ham ăn, thường nhớ thức uống, nhưng khi sắp chết, vì nghiệp thiện đã đến, nghiệp ác đã lìa, tuy thấy thức ăn uống, nhưng chỉ dùng mắt nhìn mà khôngkhởi niệm ham thích; như người trong mộng thấy cõỉ trời xinh đẹp, liền chạy đến và được sinh về cõi trời.
Mười hai. Chúng sinh do ngu si nên thụ thân súc sinh, chịu trăm nghìn ức thân sinh tử, đọa vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh trôi lăn trong thế gian không thể cùng tận. Do còn nghiệp thiện, nên sau khi bỏ thân súc sinh có thể sinh về cõi Ba Mươi Ba hoặc cõi Tứ Thiên Vương. Súc sinh, khi quả báo khổ sắp hết sẽ thoát thân súc sinh. Khi sắp chết, nhờ còn nghiệp thiện nên thấy ánh sáng hiện, tâm ngu si mỏng dần; hoặc thây cõi an vui, giống như những điều đã thấy trong mộng, liền chạy đến, ngay đó được sinh về cõi trời.
Mười ba. Chúng sinh trong địa ngục rất khó được sinh lên cõi trời, nhưng nhờ còn nhân lành, nên khi nghiệp thành thục, nghiệp báo hết sẽ thoát địa ngục. Chúng sinh này, khi thọ mạng địa ngục sắp hết thì có các tướng hiện ra, như bị các ngục tốt ném vào trong chảo thì thân tan thành bọt nước, không còn sinh lại địa ngục. Nếu dùng gậy đánh, hễ đánh liền chết, không còn sinh lại địa ngục. Hoặc bị ném vào trong thùng sắt, vừa ném liền chết, không còn sinh về địa ngục; hoặc bị ném vào sông tro, vừa bị ném xuống liền tiêu tan, không còn sinh lại địa ngục; hoặc bị đánh bằng gậy sắt, vừa đánh liền chết, không còn sinh vào địa ngục; hoặc bị các loài chim sắt, các loài thú dữ ăn thịt, sẽ không còn sinh lại địa ngục. Chúng sinh trong địa ngục này, nghiệp ác đã hết, sau khi chết không còn thấy Diêm-la ngục tốt, như dầu hết thì đèntắt, thân trung ấm địa ngục không xuất hiện. Bỗng nhiên nghe giữa hư không có tiếng ca múa, cười đùa, gió thơm thổi vào thân, chúng sinh này cảm thụ sự vui sướng tột bậc, liền được sinh về cõi trời Ba Mươi Ba, hoặc sinh về trời Tứ Thiên Vương.
Mười bốn. Nếu chúng sinh trong cõi người chết sinh lại cõi người, thì lúc đó họ thấy bóng núi đá lớn đang ở trên đầu. Bấy giờ, người này nghĩ: “Quả núi này sẽ đè trên thân ta!”, cho nên đưa tay muốn ngăn quả núi lại. Thân quyến thấy vậy, cho là người này năm bắt hư không. Sau đó, người này lại thấy quả núi giống như dải lụa trắng, liền bay lên dải lụa ấy; rồi thấy dải lụa đỏ... lần lượt thấy như thế cho đến lúc sắp chết thì thấy ánh sáng, thấy cha mẹ ân ái hòa hợp liền khởi tâm điên đảo. Nếu sinh làm người nam, thì tự thấy thân mình giao hợp với người mẹ; người này cho người cha làm chướng ngại. Nếu sinh làm người nữ, thì tự thấy thân mình giao hợp với người cha, cho người mẹ làm chướng ngại. Ngay lúc ấy, thân trung ấm này hoại, thân kế tiếp hình thành, như ấn sáp ấn xuống bùn, ấn sáp hoại thì đường nét thành.
Mười lăm. Chư thiên ở cõi trời sau khi chết sinh về cõi trời trên thì không có khổ não. Các vị trời này không mất những vật dụng trang nghiêm thân mình, cũng không có vị trời khác ngồi vào chỗ của mình, liền sinh về cõi trời tốt đẹp hơn. Như các vị trời ở Tứ Thiên Vương sau khi chết sinh lên cõi trời Ba Mươi Ba, có tướng tốt đẹp, đáng ưa thích. Nhưng cũng có các vị trời khi sắp chết, do có nỗi khổ thươngyêu chia lìa, nên bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.
Mười sáu. Nếu các vị trời từ cõi trời trên sinh xuống cõi trời dưới, thì lúc đó thấy các cảnh hoa sen, vườn cây, ao hồ v.v... đều không bằng nơi mình đang ở. Khi thấy như vậy rồi, liền đói khát, khổ não, mong muốn được đến được ấy. Như vậy, tuy cùng sinh về cõi trời, nhưng trung ấm có hai tướng sinh khác nhau
Mười bảy. Nếu chúng sinh ở cõi Phất-bà-đề sinh vào cõi Cù-đà-ni, có những tướng gì? Chúng sinh ở cõi Cù-đà-ni sinh vào cõi Phất-bà-đề có những tướng gì? Người trong hai cõi ấy sinh qua lại lẫn nhau đều cùng một tướng. Khi sắp chết, họ thấy một hang tối, trong hang đó có tia chớp đỏ chiếu xuống như lá phướn, hoặc màu đỏ, hoặc màu trắng. Người ấy nhìn thấy, liền đưa tay bắt, theo phướn mà vào trong hang này, lúc ấy sinh ấm diệt, thụ thân trung ấm. Khi sắp thụ thân sau, cũng giống như đã trình bày ở trước. Hoặc thấy hai con trâu, hoặc hai con ngựa ân ái giao hợp, liền sinh tâm dục; khi sinh tâm dục liền thụ sinh ấm.
79.5. QUẢ BÁO HIỆN ĐỜI
Kinh Phật thuyết hành thất hành hiện bảo ghi: “Bấy giờ đức Thế Tôn dạy;
- Này các thầy tì-kheo! Có bảy hạng người đáng tôn kính, là ruộng phúc bậc nhất trong thế gian: người tu tập hạnh từ, người tu tập hạnh bi, người tu tập hạnhhỷ, người tu tập hạnh hộ, người tu tập hạnh không; người tu tập hạnh vô tướng, người tu tập hạnh vô nguyện. Nếu có chúng sinh nào tu tập bảy pháp này thì có được phúc báo ở trong pháp hiện tại!
Tôn giả A-nan bạch Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Sao Ngài không đề cập đến các quả vị Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Bích-chi phật mà chỉ nói bảy hạng người này?
Đức Phật dạy:
- Bảy hạng người này, về hạnh thì giống Tu-đà-hoàn cho đến Phật, nhưng về sự thì không giống. Cho nên tuy cúng dường tu-đà-hoàn v.v... nhưng không đạt được phúc báo hiện tại, song nếu cúng dường bảy hạng người này thì sẽ được phúc báo ở đời hiện tại. Vì thế, này A-nan! Hãy nỗ lực dũng mãnh để thành tựu bảy pháp ấy!”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Thuở xưa, tại nước Càn-đà-vệ, có một đồ tể sắp đem năm trăm con nghé đi thiến, lúc ấy có một thái giám dùng vàng bạc mua hết số nghé đó rồi thả đi. Nhờ nhân duyên ấy, lập tức ông được lại thân tướng người nam. Lát sau, ông trở về cung vua, nhưng không dám vào mà cho người thông báo cho vua biết: ‘Có người tên đó họ đó đang đứng bên ngoài’.
Vua nói:
- Người này là gia nhân của ta, tùy ý ra vào, xưa nay chưa từng báo, vì sao giờ lại như thế?
Vua liền gọi ông ta vào hỏi nguyên do. Ông liền thưa:
- Hôm trước vì thấy người đồ tể định thiến năm trăm con nghé, thần liền mua hết số nghé đó và thả cho đi, nhờ nhân duyên đó mà thân thể được trọn vẹn, nên thần sợ, không dám vào!
Sau khi nghe, vua vô cùng kinh ngạc, hết lòng kính tín Phật pháp”.
Hoa báo mà còn có cảm ứng như thế, huống gì quả báo, đâu thể lường được?
Luận Tân Bà-sa ghi: “Xưa có ngươi buôn trâu, cùng với nhiều người lùa trâu đi trên đường. Đến một hôm, lương thực cạn sạch, tất cả đều đói khát mỏi mệt, họ dừng lại nghỉ ngơi và bàn: ‘Bầy trâu này chẳng phải là tài sản của mình, ta nên cắt lưỡi nó để cứu đói cho mọi người’. Nghĩ vậy, mọi người lập tức dùng muôi bôi lên miệng trâu. Vì thèm vị mặn, trâu thè lưỡi ra liếm, họ liền dùng dao bén cắt lấy lưỡi trâu, đốt lửa nướng rồi cùng nhau ăn. Sau khi ăn xong, cùng nhau xuống sông tắm gội, súc miệng, xỉa răng. Xỉa răng xong, họ dùng ngón tay cái nạo lưỡi. Do sức nghiệp ác chiêu cảm, nên lưỡi của mọi người bị chín nhừ, cùng lúc rơi rụng hết”.
79.6. QUẢ BÁO ĐỜI SAU
Kinh Niết-bàn ghi: “Này Thiện nam! Khi một người sắp bỏ thân mạng, họ phải chịu nhiều nỗi thống khổ, quyến thuộc vây quanh, đau xót kêu gào khóc than, người này kinh hoàng sợ hãi, không biết nương tựa, cầu cứu vào ai? Tuy có năm giác quan, nhưng không còn hay biết, tay chân tê cứng, không thể làm chủ, thân thể lạnh ngắt, hơi ấm sắp tàn, những tướng nghiệp báo thiện ác đã tạo từ trước kia hiện ra trước mắt. Như mặt trời sắp lặn, bóng núi gò đều ngả vê hướng đông, không bao giờ chuyển sang tây. Nghiệp quả của chúng sinh cũng như thế, khi thân ngũ ấm này diệt, thì thân ngũ ấm sau tiêp tục sinh. Như đèn thắp sáng thì bóng tối diệt, đèn tắt thì bóng tối xuất hiện.
Này Thiện nam! Như ấn sáp xuống bùn, ấn và bùn tiếp xúc nhau, ấn hư hoại mà đường nét đã hiện. Nhưng cái ấn sáp này chẳng phải biến mất trong bùn, nét vẽ cũng không phải ở trong bùn hiện ra, cũng không từ chỗ khác đến, nhưng nhờ ấn, mới thành nét vẽ. Cũng vậy, thân ngũ ấm hiện tại diệt, thì thân trung ấm sinh. Thân ngũ ấm hiện tại rốt cuộc chẳng biến thành thân trung ấm. Thân trung ấm chẳng phải tự sinh, cũng không từ nơi khác đến, nhưng nhờ ấm thân hiện tại mà có trung ấm. Như đóng ấn vào bùn, tuy ấn hoại mà đường nét đã thành. Danh từ tuy không sai biệt, nhưng thời gian mỗi mỗi có khác. Cho nên ta nóinhục nhãn và. thiên nhãn không thể nhìn thấy thân trung ấm.
Thân trung ấm có ba loại thức ăn: tư thực; xúc thực và ý thực. Thân trung ấm có hai loại: Trung ấm từ quả của nghiệp thiện và quả cửa nghiệp ác. Từ nghiệp nhân thiện, nên đạt được giác quán thiện; từ nghiệp nhân ác, nên đạt được giác quán ác. Khi cha mẹ giao hợp, tùy theo sức của nghiệp nhân mà dẫn đến chỗ thụ sinh. Đối với mẹ thì sinh lòng luyên ái, đối với cha thì khởi tâm sân hận. Khi tinh cha chảy ra, thì cho là mình hiện hữu, bèn sinh tâm vui mừng, ưa thích. Vì nhân duyên ba thứ phiền não này, nên thân trung âm hoại diệt, thân ngũ ấm sinh trưởng. Giống như đóng ấn vào bùn, ấn hoại mà đường nét thành.
Khi sinh ra, có người đầy đủ các căn, có người không đầy đủ. Người đầy đủ các căn, thấy sắc liền sinh lòng tham đám; do tham đắm nên gọi là ái; do cuồng mà
sinh tham, nên gọi là vô minh. Từ hai nhân duyên tham ái và vô minh, nên cảnh giới được nhìn thấy đều điên đảo’’.
Kinh Tu hành đạo địa ghi: “Hành vi của người không thuần nhất, hoặc thiện, hoặc ác, nếu được sinh vào loài người, khi cha mẹ giao hợp, tinh cha khôngbị hư hoại, thân trung ấm liên gá vào. Thai mẹ thông suốt không có gì trở ngại, lòng luôn vui vẻ, không có tà niệm thì dịu dàng đón nhận thai nhi. Tinh cha không trong không đục, điều hòa, không mạnh cũng không hư, cũng không đỏ, không đen, không bị gió, bị lạnh và các thứ độc xen lẫn, lại cách biệt với nước tiểu, ngay lúc đó thích hợp cho việc thụ sinh; nếu trung ấm đến thì tinh thần phấn chấn. Bấy giờ nếu là nam mà không được giao hợp với người nữ, thì do năm dục tương thông, nên trung ấm nam kính nghĩ muốn hướng đến người nữ. Khi cha xuất tinh, trung ấm rất hoan hỷ, cho là ta đã hiện hữu. Bấy giờ trung ấm liền mất, thân ngũ ấm liền gá vào bào thai. Khi tinh cha mẹ hòa hợp là ngũ ấm đã có mặt trong bào thai, càng vui mừng, đó là sắc ấm; khi vui mừng, đó là thụ ấm; lúc nhớ nghĩ đến tinh, đó là tưởng ấm; do duyên tội phúc xưa kia mà vào thai, đó là hành ấm; thần thức ở trong thai, đó là thức ấm. Sự hòa hợp như thế gọi là ngũ ấm.
Khi mới nhập thai thì liền có ý căn và thân căn. Tuần đầu tiên ở trong thai không tăng không giảm. Đến tuần thứ hai, tinh huyết dần dần chuyển biến, giống như váng sữa mỏng. Tuần thứ ba, giống như sữa đông sống. Tuần thứ tư, tinh huyết ngưng đặc như sữa đông chín. Tuần thứ năm tinh thai biến đổi giống như sinh tô. Tuần thứ sáu biến thành như bướu thịt mềm. Tuần thứ bảy chuyển dần thành một cục thịt.Tuần thứ tám chất cứng dần như cục đất. Tuần thứ chín, hình thành năm chi phần: hai cánh tay, hai đùi và cổ. Tuần thứ mười, lại phát triển tiếp năm chi phần: hai cổ tay, hai cổ chân và đầu. Tuần thứ mười một, từ đây tiếp tục phát triển thêm mười bốn chi phần: năm ngón tay, năm ngón chân, mặt, tai, mũi và miệng. Tuần thứ mười hai, hình dạng các chi phần này phát triển dần dần hoàn chỉnh. Tuần thứ mười ba, thì hình thành vùng bụng. Tuần thứ mười bốn hình thành gan, phổi, tim, lá lách và thận. Tuần thứ mười lăm, hình thành đại tràng (ruột già). Tuần thứ mười sáu, hình thành tiểu tràng (ruột non). Tuần thứ mười bảy, hình thành vùng dạ dày. Tuần thứ mười tám, hình thành sinh tạng, thục tạng. Tuần thứ mười chín, hình thành xương đầu gối, xương sườn, xương ngực, xương bàn tay, xương bàn chân, xương cánh tay, các đốt xương, dây gân. Tuần thứ hai mươi phát triển cơ quan sinh dục, rốn, vú, cổ. Tuần thứ hai mươi mốt, bắt đầu hoàn thành hai xương vùng đầu, ba mươi hai xương vùng miệng, bảy xương cổ, hai xương đùi, hai xương khuỷu tay, bốn xương cánh tay, mười hai xương vùng ngực, mười tám xương sống, hai xương chậu, bốn xương đầu gối, bốn mươi xương chân, và nhiều xương nhỏ khác, tất cả một trăm lẻ tám xương kết hợp với thịt toàn thân; lại gồm mười tám xương ở hai bên hông, hai xương vai.
Như vậy toàn bộ trong thân thể người gồm ba trăm xương kết nối nhau. Trong thời gian này xương còn mềm như quả bầu non. Tuần thứ hai mươi hai,xương hơi cứng dần như quả bầu sắp chín. Tuần thứ hai mươi ba xương cứng như quả hồ đào, ba trăm xương này liên kết chặt nhau. Xương chân nâng giữ chân, xương cẳng chân nâng giữ cảng chân. Như thế, xương chậu, xương đùi, xương sống, xương ngực, xương sườn, xương vai, xương cổ, xương má, xương cánh tay, xương cổ tay, cẳng chân v.v... mỗi mỗi đều liên kết chặt chẽ với nhau. Nhóm xương như thế giống như huyễn hóa, tùy theo sức gió nơi thân mà điều khiển cử động. Tuần thứ hai mươi bốn, phát triển một trăm sợi gân để kết chặt toàn thân. Tuần thứ hai mươi lăm phát triển bảy nghìn mạch máu, nhưng vân chưa hoàn thành. Tuần thứ hai mươi sáu, các mạch máu đều liền lạc, hoàn chỉnh, thông rỗng như rễ sen. Tuần thứ hai mươi bảy, có ba trăm sáu mươi ba sợi gân được hoàn chỉnh. Tuần thứ hai mươi tám, bắt đầu hình thành các cơ bắp. Tuần thứ hai mươi chín, các cơ bắp hơi dày chắc. Tuần thứ ba mươi, hình thành da bao bọc quanh thân. Tuần thứ ba mươi mốt, da dần dần dày và cứng. Tuần thứ ba mươi hai, lớp da hoàn chỉnh. Tuần thứ ba mươi ba, tai, mũi, môi, các ngón tay, đốt chân hình thành. Tuần thứ ba mươi tư, hình thành chín mươi chín vạn lỗ chân tóc và lỗ chân lông, nhưng vẫn chưa hoàn chỉnh. Tuần thứ ba mươi lăm, các lỗ chân lông và tóc hoàn chỉnh. Tuần thứ ba mươi sáu, các móng bắt đầu phát sinh. Tuần thứ ba mươi bảy, thai nhi trong bụng mẹ, do sức gió dấy khởi, nên mắt, tai, mũi, miệng bắt đầu mở; khi có gió tác động thì lông tóc, hoặc xinh đẹp, hoặc thô xấu.
Lại có gió khởi thì tạo thành nhan sắc của thân thể, hoặc trắng, hoặc đen đỏ, hoặc đẹp xấu, tất cả đều do nghiệp xưa tạo thành. Trong tuần này, phát sinh hơi lạnh, nóng, các đường đại tiện, tiêu tiện đều thông. Đến tuần thứ ba mươi tám, thai nhi trong bụng mẹ, tùy theo nghiệp xưa, tự nhiên có sức gió. Nếu nghiệp xưa là thiện, thì có mùi thơm làm cho thân và ý dễ chịu, mềm mại không tì vết, gân cốt ngay thẳng, khiến cho xinh đẹp ai cũng kính mến. Nếu nghiệp xưa xấu ác, thì có mùi hôi, khiến cho thân thể bất an, tâm ý khó chịu, tác động đến gân cốt, khiến xương cong lưng gù, thân tướng không được đoan nghiêm. Lại có trường hợp bất năng nam, mọi người không ưa thích. Lúc này đã ba mươi tám tuần, thiếu bốn ngày đủ chín tháng, thai nhi đã hoàn chỉnh xương cốt toàn thân, đã thành người. Thai nhi nhận đủ hai phần: một phần từ cha, một phần từ mẹ. Các thứ mềm như lông tóc, gò má, mặt, lưỡi, cổ họng, tim, gan, lá lách, thận, ruột, máu đều từ mẹ sinh trưởng; còn những thứ khác hơi cứng hơn như móng, răng, xương, gân, tủy, não, mạch v.v... đều từ cha sinh ra.
Thai nhi nằm trong bụng mẹ, ở dưới sinh tạng, trên thục tạng. Nếu là bé trai, nằm ở bên hông trái, lưng hướng ra ngoài, mặt hướng vào trong; nếu là bé gái, thì nằm ở hông bên phải, mặt hướng ra ngoài, lưng hướng vào trong. Thai nhi nằm chỗ hôi dơ, khó chịu, toàn là bất tịnh. Tất cả xương gân co gấp, không được duỗi thẳng, bọc trong túi da, trói trong bụng mẹ, nơi chứa đầy máu mủ, ô nhiễm, chỗ ở bức ép, lẫn vàochỗ phân tiểu, ngập chìm trong chỗ dơ uế. Thai nhi ở trong ấy chín tháng.
Trong bốn ngày sau cùng, ngày thứ nhất, ngày thứ hai, nếu đời trước tạo nghiệp lành, thì phát khởi nghĩ: ‘Ta ở trong vườn hoặc ở cảnh trời’. Nếu đời trước tạo nghiệp ác, thì khởi nghĩ: ‘Ta ở trong địa ngục, hoặc ở thế gian; ngày thứ ba sầu lo, không vui; đến ngày thứ tư sức gió trong bụng mẹ phát động, hoặc trên hoặc dưới, xoay chuyển khiến thân thể thai nhi treo ngược, đầu hướng xuống sản môn. Nếu là người có phúc thì nghĩ: ‘Ta trầm mình vào trong ao nước để bơi lội vui chơi, giống như rơi từ trên giường cao xuống vườn hoa đầy hương’. Nếu là người thiếu phúc, tự nghĩ: ‘Ta rơi từ trên núi cao xuống bờ ao, rừng cây, trong chuồng xí, hoặc như rơi vào địa ngục lưới gai, hoặc trong rừng kiếm, giữa núi đá hoang vu’, nên tâm buồn rầu, không vui. Như thế, quả báo thiện ác hoàn toàn không giống nhau. Khi đứa bé vừa sinh ra, bị gió bên ngoài thổi đến, tay người xúc chạm, dùng nước ấm tắm rửa, khiến thân thể bị bức bách đau đớn, giống bị ung nhọt. Do những nỗi khổ não này mà lòng sợ chết, do đó có si hoặc, nên mê muội không biết gì.
Đứa bé sinh ra toàn thân dính đầy máu mủ và chất bất tịnh, nên các quỉ mị đến quấy phá, nào là quỷ khiến động kinh, quỷ tử thi xúc não, trùng ngải, quỷ gây bệnh điên tà, mỗi mỗi đều rình chờ để xâm phạm đứa trẻ. Như cục thịt rơi ở ngã tư đường, chim, diều hâu, chó sói đua nhau đến giành giật. Bọn yêu quỷđều muốn thừa dịp làm hại đứa trẻ kia, nên vây quanh giành giựt cũng giống như vậy. Nhưng nếu đời trước tạo nhiêu phúc đức, thì yêu tà không thể làm hại được. Đứa trẻ được nuôi dưỡng khôn lớn từ các thứ thức ăn và không khí, khiến cho thân thể nó sinh ra tám mươi loại vi trùng:
- Hai loại ở chân tóc là Thiệt đề, Trọng đề. - Ba loại ở đầu là Kiên cố, Thương tổn, Hủy hại.
- Một loại ở trong não và hai loại ở ngoài não là Triết chu, Mao nhiễu, Hội loạn.
- Hai loại ở trán là Ti hạ, Hủ hủ.
- Hai loại ở mắt là Đề, Trọng đề.
- Hai loại ở trong tai là Thức vị, Hiện vị.
- Hai loại ở vành tai là Xích, Phục xích.
- Hai loại ở mũi là Phì, Phục phì.
- Hai loại ở miệng là Diêu, Động diêu.
- Hai loại ở trong răng là Ác tệ, Hung bạo.
- Ba loại ở chân răng là Suyễn tức, Hưu chỉ, Tốt diệt.
- Một loại ở lưỡi là Cam mỹ.
- Một loại ở cuống lưỡi là Nhu nhuyến.
- Một loại ở đầu lưỡi là Vãng lai.
- Một loại ở yết hầu là sấu hầu.
- Hai loại ở con ngươi gọi là Sinh, Bất thục.
- Hai loại ở vai gọi là Thùy, Phục thùy.
- Một loại ở cánh tay gọi là Trụ lập.
- Một loại ở tay là Chu toàn.
- Hai loại ở ngực là Ngạch khanh, Quảng phổ.
- Một loại ở tim là Ban bác.
- Một loại ở vú là Chúng hiện.
- Một loại ở rốn là Vi nhiễu.
- Hai loại ở hông gọi là Nguyệt, Nguyệt diện.
- Hai loại ở xương sống là Nguyệt hành, Nguyệt mạo.
- Một loại giữa các đốt xương sống là An phong.
- Một loại ở trong da gọi là Hổ trảo.
- Hai loại ở thịt là Tiêu phu, Thiêu thụ.
- Bốn loại ở xương là Thậm độc, Tập độc, Tế cốt, Tạp độc.
- Năm loại ở tủy là Sát hại, Vô sát, Phá hoại, Tạp hài, Bạch cốt.
- Hai loại ở ruột già là Đường lang, Đường lang chủy.
- Hai loại ở ruột non là Nhi tử, Phục tử.
- Một loại ở gan là Ngân chủy.
- Một loại ở sinh tạng gọi là Kỹ mục.
- Một loại ở thục tạng gọi là Thái tức.
- Một loại ở hậu môn gọi là Trùng thân.
- Ba loại ở trong phân là Cân, Mục kết, Mục biên phát.
- Hai loại ở xương cùng là Lưu hạ, Trùng lưu.
- Năm loại ở trong bào thai là Tông tính, Àc tộc Ngọa ngộ, Nhi ngộ, Hộ chấp.
- Một loại ở bắp vế gọi là Qua chi.
- Một loại ở đầu gối gọi là Hiện thương.
- Một loại ở cẳng chân gọi là Thiết chủy.
- Một loại ở ngón chân là Thiêu nhiên.
- Một loại ở giữa lòng bàn chân gọi là Thực bì.
Đó là tám mươi loại trùng ở trong thân người,ngày đêm cắn rứt cơ thể.
Trong thân người, do phong khí chuyển động, nên phát sinh ra một trăm lẻ một chứng bệnh, nóng lạnh kết hợp mỗi mỗi cũng có một trăm lẻ một chứng bệnh, tổng cộng có bốn trăm lẻ bốn chứng bệnh. Như gỗ sinh ra lửa, lửa trở lại đốt cháy gỗ. Cũng như thế, bệnh vốn phát sinh từ thân, trở lại làm tổn hại thân người. Như trùng ở trong thân, luôn quấy nhiễu làm cho thân thể bất an.
Ba mươi sáu vật, giả kết hợp lại, tạm gọi là người, vọng che đậy, dối gạt phàm phu, cho nên mới khởi tâm yêu thương, gần gũi. Bậc trí thấy rõ là hư vọng, nào dám gần! Giống như đồ gốm, cuối cùng cũng bị hư hoại. Cũng vậy, thân này giả tạm, mạng sống ngắn ngủi. Kẻ giàu người nghèo đều mê lầm, đến chết vẫn không hay biết. Giống như bốn cửa thành lớn bị lửa lần lượt thiêu thành tro bụi. Sinh, lão, bệnh, tử cũng như vậy!
Luận Du-già ghi: “Ở trong thai ba mươi tám tuần, thai nhi đầy đủ tất cả các chi phần, bốn ngày sau đó mới được sinh ra”.
Nếu nói thai nhi hoàn toàn đầy đủ, thì phải trải qua chín tháng, hoặc hơn chín tháng. Nếu chỉ tám tháng cũng tạm gọi là đầy đủ; nếu chỉ có bảy tháng, hoặc sáu tháng thì gọi là thiếu tháng. Cho nên kinh Pháp hoa có bài kệ:
Thụ thai hình bé nhỏ,
Tháng ngày lớn dần lên,
Nếu đức mỏng, thiếu phúc,
Bị các khổ bức bách.
Kinh Tam-muội ghi: “Trong thân người, do phần lửa dần dần tăng trưởng, phần nước dần dần suy giảm, nên già-la-la đông đặc và cứng dần, biến thành cục thịt. Vì thế, nếu chúng sinh phúc mỏng, từ nhỏ đến lớn đều chịu các khổ”.
Kinh Thiền bỉ yếu ghi: “Thân người có ba phần, rốn là phần trung tâm, đầu là điện đường, trán là thiên môn”.
Kinh Xử thai ghi;. “Khi con người thụ thai, tuần thứ nhất hình thành bốn đại; tuần thứ hai do gió phát động, thai dần dần xoay chuyển hướng về phíahông của người mẹ; đến tuần thứ ba mươi tám có loại gió tên là Hoa trong bụng mẹ thổi, khiến cho thai nhi xoay đầu về sản môn”.
Kinh Thí dụ ghi: “Gió tác động đến nước, nước tác động đến đất, đất tác động đến lửa. Nếu tác động mạnh là nam, yếu là nữ. Gió với nước tác động nhau là nam, đất với nước tác động nhau là nữ”.
Luận Giải thoát đạo ghi: “Phần đất trong thân con người, nếu tán thành bụi thì có thể lường được một hộc hai thăng”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Trong cơ thể của một người gồm có ba trăm hai mươi cái xương; chín mươi chín nghìn lỗ chân lông, gân và mạch máu, mỗi loại có năm trăm; tám mươi ổ trùng”
Kinh Ngũ đạo thụ sinh ghi: “Đứa trẻ lên ba uống tất cả một trăm tám mươi hộc sữa. Ngoài ra, khi còn ở trong thai việc ăn uống của mẹ cũng có phần của nó. Người ở Đông Phất-vu-đãi uống một nghìn tám trăm hộc sữa. Người ở Tây Cù-da-ni uống một nghìn tám trăm hộc sữa. Người ở Bắc uất-đan-việt, bảy ngày là thành thân người, ngày mới sinh ra, đứa bé được đặt ở ven đường, người đi đường dùng ngón tay cho nó bú, vì thế nên không uống sữa”.
79.7. QUẢ BÁO NHIỀU ĐỜI SAU
Luân Tỳ-bà-sa ghi: “Có một người từ bảy đời trước đến nay thường làm nghề mổ thịt, nhưng lại không đọa vào ba đường ác, mà được sinh lên cõi trời, cõi người. Đây là nhờ người này đã cúng dường chovị bích-chi phật một bữa ăn cách nay bảy đời, khiến cho anh ta từ đó đến nay không đọa vào đường ác. Nhưng do tạo nghiệp sát sinh suốt bảy đời, nên anh ta sẽ lần lượt chịu quả báo, không thể tránh khỏi”.
Kinh A-bà-đàn-na ghi: “Đức Phật ở Kỳ Viên, sau khi thụ trai, Ngài cùng với tôn giả Xá-lợi-phất kinh hành. Lúc ấy, có một con chim ưng đuổi bắt chim bồ câu. Bồ câu bay đến đậu gần đó. Khi Đức Phật kinh hành ngang qua, bóng của Ngài che lên chim bồ câu, nó cảm thấy được an ổn, không còn sợ hãi, không hốt hoảng kêu la nữa. Khi bóng tôn giả Xá-lợi-phất che đến, thì bồ câu liền hoảng hốt kêu vang, run sợ như lúc bị chim ưng rượt đuổi. Thấy vậy, tôn giả Xá- lợi-phất bạch Phật:
- Đức Phật và con, thân đều không còn ba độc, vì sao khi bóng của Thế Tôn che thì bồ câu không kêu la sợ hãi; nhưng khi bóng của con che, thì nó liền kêu vang, run sợ như vậy?
Đức Phật dạy:
- Vì tập khí ba độc của ông vẫn còn, nên khi bóng của ông che, thì bồ câu sợ hãi!
Đức Phật lại bảo tôn giả Xá-lợi-phất:
- Ông hãy quán sát nhân duyên đời trước của chim này, xem thử nó đã làm bồ câu trong bao nhiêu kiếp?
Tôn giả Xá-lợi-phất liền nhập Túc mạng trí tam-muội. Ngài quán thấy chim bồ câu này từ tám vạn đại kiếp đến nay thường làm thân bồ câu. Những kiếp trong quá khứ xa hơn nữa, tôn giả không thể thấy được. Tôn giả Xá-lợi-phất bèn xuất định, đứng dậy bạch Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Con quán sát thấy chim này thường làm thân bồ câu trong tám vạn đại kiếp, còn những kiếp về trước xa hơn nữa, con khồng thể biết được!
Đức Phật dạy:
- Nếu ông không thể biết hết được đời quá khứ của nó, vậy ông thử quán xem đời vị lai, đến khi nào chim này mới thoát kiếp bồ câu?
Tôn giả Xá-lợi-phất liền nhập tam-muội, quán thấy tám vạn đại kiếp kế tiếp, chim này vẫn chưa thoát khỏi kiêp bồ câu. về sau xa hơn nữa, thì tôn giả không thể quán biết được, nên không thể biết đến khi nào chim này mới thoát khỏi thân bồ câu.
Đức Phật dạy:
- Trừ số kiếp mà các thanh văn và bích-chi phật biết, con chim này sẽ phải trải qua hằng hà sa đại kiếp làm thân bồ câu, khi tội hết mới thoát, nhưng lưu chuyển trong năm đường. Sau đó, được làm người, trải qua năm trăm đời mới được thông minh lanh lợi.Lúc ấy, có Phật ra đời, độ vô lượng a-tăng-kỳ chúng sinh sau khi nhập Vồ dư niết-bàn, giáo pháp của Ngài được lưu truyền ở đời. Bấy giờ chim bồ câu là vị ưu-bà-tắc giữ gìn năm giới, nghe các vị tì-kheo ca tụng công đức cửa Phật, bèn phát nguyện làm Đức Phật. Sau đó, trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp tu tập sáu ba-la-mật, đầy đủ giai vị Thập địa. Sau khi thành Phật, độ vộ lượng chúng sinh, rồi mới nhập niết-bàn.
Khi đó, tôn giả Xá-lợi-phất hướng về Đức Phật cầu xin sám hối và bạch:
- Đối với một con chim, mà con chưa biết rõ quá khứ và vị lai của nó, huống chi các pháp khác! Nêu con có được trí tuệ như Ngài, dẫu có vào địa ngục A-tỳ chịu khổ vô lượng kiếp, cũng không lấy làm khó!”.
79.8. QUẢ BÁO NHẤT ĐỊNH
Kinh Phật thuyết nghĩa túc ghi: “Đức Phật bảo vị Phạm chí:
- Người đời có năm việc không thể tránh khỏi: hao tổn, mất mát, bệnh tật, già yếu và chết”.
Kinh Phật thuyết tứ bất khả đắc ghi: “Sáng sớm, Đức Phật cùng với các vị tì-kheo và bồ-tát ôm bát vào thành Xá-vệ khất thực, cả bốn chúng cùng đi theo. Trên hư không, các trời rồng quỉ thần cũng bay theo rải hoa hương, trỗi nhạc cúng dường.
Bấy giờ, Đức Phật dùng đạo nhãn quán sát thấy có bốn anh em đồng sản lìa bỏ gia đình, sự nghiệp, vào núi tu tập và chứng được năm thần thông, đều thành tiên nhân. Vô thường đến, tự biết mạng sống sáp hết, nên họ muốn lẩn tránh, bèn bàn với nhau:
- Chúng ta đều có thần thông, bay trên hư không, tự do đi đến bất cứ nơi đâu, không gì ngăn ngại. Nhưng nay lại sắp bị vô thường cướp mất mạng sống, chúng ta nên tìm cách tránh khỏi tai họa này, không thể để nó đến được!
Thế rồi, một người cho rằng bay lên hư không để ẩn mình, vô thường làm sao có thể tìm được.
Một người cho rằng đi vào trong chợ để lánh thân, ở chỗ rộng lớn người đông đúc ôn ào, vô thường làm sao tìm được.
Một người cho rằng đi vào biển lớn, cách bờ ba trăm ba mươi sáu vạn dặm, lặn sâu xuống biển, ở khoảng giữa đáy và mặt nước, ở đó vô thường làm sao tìm được.
Một người tính vào trong núi lớn không người, tách quả núi làm đôi, rồi chui vào trong đó, khép quả núi lại, vô thường làm sao tìm được.
Bấy giờ, mỗi người theo cách của mình đi lánh nạn nhưng cuối cung cũng không thể thoát chết được.
Người trốn trong hư không thì tự rơi xuống đất, giống như quả chín rơi rụng. Người ở trong núi thì tự chôn mình, lại bị cầm thú ăn thịt. Người ở trong biển cũng chết, bị cá ăn thịt. Người vào trong chợ, cũng bị chết giữa đám đông người.
Đức Thế Tôn thấy vậy, cho họ là kẻ ngu si, không hiểu biết. Muốn bỏ oán của đời trước mà không trừ ba độc, chưa được tam đạt và tuệ vô cực, thì xưa nay chưa có ai thoát khỏi cái chết. Đức Phật liền tụng kệ:
Dù trốn trong hư không,
Hay lặn sâu giữa biển,
Hoặc chui vào lòng núi,
Để tự giấu thân mình.
Muốn tìm nơi không chết,
Việc ấy thật không thể,
Phải tinh tấn tu học,
Không thân mới được an!
Đức Phật bảo các tì-kheo: “Người đời có bốn việc không thể đạt được:
- Trẻ mãi không già: tuổi trẻ nhan sắc hồng hào, tóc đen, răng trắng, hình dáng xinh đẹp, khí lực sung mãn, đi đứng, ra vào thong dong tự tại, lên xe xuống ngựa, nhiều người hầu hạ, ai cũng ngưỡng mộ. Nhưng thoáng một chốc bỗng trở thành già nua, đầu bạc rănglong, da nhăn mặt sạm, thân thể nặng nề, đi đứng phải chống gậy, hơi hụt thở dài. Do đó, người muốn trẻ mãi không già, sẽ không bao giờ được,
- Khoẻ mãi không bệnh: thân thể cường tráng, xương cốt cứng cáp, đi đứng nhanh nhẹn, ăn uống tùy theo sở thích, trang điểm lộng lẫy, cho rằng không ai bằng mình, giương cung lắp tên, vung đao múa gậy. Như có ai hại, chẳng hề suy xét phải trái, chửi mắng nguyền rủa, cho là cường hào. Tự cho mình không bao giờ bị suy tổn. Đến khi lâm bệnh, nằm liệt trên giường, tay chân không cử động được, thân thể đau đớn như vừa bị đánh; tai, mắt, mũi, miệng không nghe, không thấy, chẳng biết mùi vị ngon dở, đứng ngồi phải nhờ người khác, tiêu tiểu tự tuôn rồi lăn trên đó, bao nhiêu khổ nạn khó mà kể hết. Giả sử có người muốn mãi mãi an vui khỏe mạnh, thì cũng không bao giờ được.
- Sống mãi không chết: muốn cầu sống lâu ở cõi đời này đến vô cùng, tránh khỏi bệnh chết. Nhưng mạng sống đã ngắn ngủi, mà còn ôm nỗi lo muôn kiếp. Tuổi thọ ít mà lo nhiều, chẳng hiểu vô thường, chạy theo năm dục, buông lung tâm ý, tạo ra các nghiệp giết hại, trộm cướp, dâm dật, nói đôi chiều ác khẩu, nói dối, ỷ ngữ, tham lam tà kiến, bất hiếu cha mẹ, không vâng lời thầy bạn, xem thường người lớn, phản nghịch vô đạo. Lại mong cầu giàu sang, cho rằng có thể trường tồn, xem thường thánh đạo; cho ta là hơn tất cả, ngã mạn tự cao, chạy theo danh vọng thế gian, chẳng biết nguyên do tạo lập trời đất, trong ngoài;chẳng hiểu rõ tứ đại do nhân duyên hợp thành, giống như nhà ảo thuật; không biết được thế gian hưng khởi xưa nay, không nghe theo lời chỉ dẫn, chẳng biết từ đâu sinh đến, chết đi về đâu? Tâm tại trời đất, cho đó là ta, khi vô thường đến, giống như gió thổi mây tan. Mong được sống lâu, nhưng mạng sống bỗng chốc tiêu tan, không được tự tại. Muốn vô thường không đến, thì chẳng bao giờ được.
- Mọi người không khổ: cha mẹ anh em, thân bằng quyến thuộc, bạn bè thân thích, ân ái thỏa thích, tiền của giàu sang, quan tước bổng lộc, xe ngựa dạo chơi, thê thiếp con cái, hưởng thụ dục lạc, ăn uống thỏa mãn, gia nô tồi tớ, không cần biết đến ai, luôn tự ngắm mình, bước đi ngạo nghễ, coi thường mọi người, cho mình là hơn tất cả; mắng chửi người làm, xem họ đồng súc vật, ra vào tùy tiện, không kể thời gian, chẳng suy sau trước; cho rằng mình đáng được có những quyến thuộc và tùy tùng như thế. Đến khi nghiệp xưa chín mùi thì như băng tuyết bị dội nước sôi, lòng mới hoảng hốt hoang mang, lúc này mới cầu xin cứu vớt hoạn nạn, thì làm sao mà như ý nguyện được? Than ôi! Mạng sống đã đoạn, quỷ thần dẫn đi. Lúc đó, dẫu cha mẹ anh em, vợ con thân tộc, bạn bè thân thích, quyến thuộc ân ái đều tự lo liệu riêng mình; quan tước của tiền, kẻ hầu người hạ cũng tự tan theo mỗi ngã. Mong được thoát chết, thì cũng không bao giờ được.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Từ khi có trời đất đến nay, không ai thoát khỏi bốn khổ nạn này. Chính vì bốn khổ nạn này nên Ta mới thị hiện ở đời!'’
79.9. QUẢ BÁO BẤT ĐỊNH
Luận Thập trụ tì-bà-sa ghi: “Biết rõ pháp bất định là khi các pháp chưa sinh, chưa thể phân biệt”.
Kinh Phật phân biệt nghiệp ghi: “Đức Phật bảo A-nan:
- Có người, thân làm việc thiện, miệng nói lời thiện, ý nghĩ điều thiện mà sau khi chết bị rơi vào địa ngục. Có người, thân làm việc ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ điều ác mà sau khi chết lại được sinh về cõi trời!
A-nan bạch Đức Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Vì sao như thế?
Đức Phật dạy:
- Do nghiệp nhân tội phúc đời trước của người này đã chín, nghiệp nhân tội phúc ở đời nay chưa chín; hoặc lúc sắp chết, tâm chính kiến hoặc tà kiến, thiện hay ác khởi lên nên đưa đến như thế. Tâm thức của người lúc sắp chết có năng lực rất lớn”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các thầy tì-kheo:
- Ở đời có bốn hạng người: có người trước khổ, sau vui; có người trước vui, sau khổ; có người trước khổ, sau càng khổ; có người trước vui, sau cũng vui.
Thế nào là người trước khổ, sau vui?
Có người sinh vào nhà thấp hèn, nghèo khó không đủ cơm ăn, áo mặc. Nhưng nhờ không có tà kiến, nên người ấy biết được quả báo của công đức bố thí đời trước, sẽ cảm sinh vào nhà giàu sang; nếu nay không bố thí thì mai sau sẽ sinh vào nhà nghèo khó, không có đủ cơm ăn, áo mặc. Biết vậy, người này liền hướng tâm cầu sám hối, ăn năn, sửa đổi lỗi lầm xưa kia. Tất cả của cải có được đem chia cho mọi người. Người này đời sau, nếu được sinh vào loài người, thì có nhiều tiền tài của báu, không bị thiếu thốn.
Thế nào là người trước vui, sau khổ?
Có người được sinh vào nhà dòng dõi quí tộc, cơm áo đầy đủ, nhưng người này tà kiến và biên kiến, nên đời sau ắt sinh vào địa ngục. Nếu được sinh làm người, thì sinh vào nhà nghèo cùng, không đủ cơm ăn áo mặc.
Thế nào là người trước khổ, sau khổ?
Có người sinh vào nhà nghèo cùng không đủ cơm ăn áo mặc, lại còn tà kiến và biên kiến, đời sau bị rơi vào địa ngục. Nếu sinh vào loài người, thì rất nghèo khổ, không có cơm ăn áo mặc.
Thế nào là người trước vui, sau càng vui?
Có người sinh vào nhà thuộc dòng dõi quí tộc, giàu sang, lại còn biết kính trọng Tam bảo, thường tu bố thí, đời sau được sinh về cõi trời, cõi người luôn được giàu sang.
Bấy giờ, Đức Phật bảo các thầy tì-kheo:
- Có chúng sinh trước khổ, sau vui; có chúng sinh trước vui, sau khổ; có chúng sinh trước khổ, sau khổ; có chúng sinh trước vui, sau vui! Như người sống trăm năm, chỉ là mười lần mười. Trong khoảng trăm năm đó, hoặc tạo các công đức, hoặc tạo các nghiệp ác. Vào khoảng thời gian nào đó, người kia hoặc mùa đông được sung sướng, nhưng mùa hạ chịu khổ sở. Hoặc có người lúc trẻ tạo phúc, khi lớn gây tội, thì đời sau, lúc trẻ hưởng phúc, khi lớn chịu tội khổ. Hoặc có người lúc trẻ tạo tội, khi lớn làm phúc, thì đời sau, lúc trẻ chịu tội, nhưng khi lớn được hưởng phúc. Hoặc có người lúc nhỏ gây tội, khi lớn cũng gây tội, thì người này ở đời sau, trước chịu khổ, sau cũng chịu khổ. Hoặc có người lúc nhỏ làm phúc, lớn lên cũng làm phúc, thì người này ở đời sau, trước vui, sau cũng vui!
Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các thầy tì-kheo:
- Ở đời có bốn hạng người: người thân vui mà tâm không vui; người tâm vui mà thân không vui; người thân tâm đều vui; người thân tâm đều không vui.
Thế nào là người thân vui mà tâm không vui?
Đó là các phàm phu tạo phúc, cúng dường đầy đủ bốn món như: y phục, thức ăn món uống, giường mùng chăn chiếu và thuốc men, nhưng không thoát khỏi nỗi khổ trong ba đường ác.
Thế nào là người tâm vui mà thân không vui?
Đó là bậc a-la-hán, mặc dầu không tạo công đức không thể tự lo liệu bốn món cần thiết trong sinh hoạt hằng ngày, nhưng có thể thoát được nỗi khổ trong ba đường ác.
Thế nào là người thân tâm đều không vui?
Đó là hạng phàm phu không tạo công đức, không cúng dường bốn món, thì không thể thoát khỏi nỗi khổ trong ba đường ác.
Thế nào là người thân tâm đều vui?
Đó là bậc a-la-hán tạo nhiều công đức, đã đây đủ bốn món cần thiết trong sinh hoạt hằng ngày, lại thoát khỏi nỗi khổ trong ba đường ác”.
79.10. QUẢ BÁO THIỆN
Luận Di-lộc bồ-tát sở vấn kinh ghi:
Hỏi: Thế nào là quả báo của bố thí?
Đáp: Nói chung, bố thí chỉ có quả thụ dụng. Quả thụ dụng lại chia ra hai: quả thụ dụng hiện tại và quả thụ dụng vị lai. Lại có ba loại quả, đó là hai loại quả trên, cộng với bát-nhã. Lại có bốn loại quả: hữu quả vô dụng, hữu dụng vô quả, hữu quả hữu dụng và vô quả vô dụng.
- Hữu quả vô dụng: không thành tâm bố thí, không tự tay mình bố thí, bố thí với tâm khinh thường. Bố thí như thế tuy được nhiều quả báo, nhưng không thể thụ dụng. Như thiên chủ ở Xá-vệ tuy có vô lượng của báu, nhưng không thể thụ dụng.
2. Hữu dụng vô quả: tự mình không bố thí, nhưng thấy người khác thực hành bố thí thì khởi tâm tùy hỷ, do đó tuy được thụ dụng, nhưng mình không được quả. Như tất cả sa-môn, bà-la-môn v.v... tuy thụ dụng y phục, thức ăn và vật dụng của vua, nhưng không được quả. Như tứ binh tuy nhận được y phục, thức ăn của chuyển luân thánh vương mà không được quả.
3. Hữu quả hữu dụng: bố thí với tâm chí thành, bố thí không có tâm khinh thường; như các vị trưởng giả Thụ-đề-già v.v...
4. Vô quả vô dụng: bố thí rồi, nhân bố thí liền nhập diệt; hoặc bị thánh đạo xuất thế ngăn chặn. Cũng giống như thánh nhân xa lìa phiên não.
Lại có năm loại phúc quả, đó là được năm thứ: thọ mạng, sắc tướng, sức lực, an lạc, biện tài. Như nhờ thức ăn mà giữ được mạng sống, cho nên thí thực tức là thí mạng. Do nhân duyên này về sau được quả báo thọ mạng dài lâu. Bố thí sắc tướng, bố thí sức lực, bố thí sự an lạc, bố thí biện tài cũng giống như thế.
Lại có năm loại quả báo tốt đẹp do cung dưỡng cho cha, mẹ, người bệnh, pháp sư, bồ-tát mà có. Vì cha mẹ có ân sinh thành nuôi dưỡng thân mạng ta, cho nên cung dưỡng cho cha mẹ thì được quả báo tốt đẹp. Người bệnh cô độc rất đáng thương, do đó nên khởi lòng từ bi, cung dưỡng cho người bệnh thì được phúcbáo tốt đẹp. Người thuyết pháp có khả năng sinh pháp thân, tăng trưởng pháp thân cho ta, giúp ta phân biệt được thiện ác, chính tà, điên đảo hay không điên đảo, cho nên cung dưỡng cho người thuyết pháp thì được phúc báo tốt đẹp. Bồ-tát có năng lực thâu nhiếp giữ gìn, làm lợi ích cho chúng sinh, thường khởi tâm từ bi giữ gìn nhân Tam bảo không để đoạn tuyệt. Do đó, cúng dường cho bồ-tát thì được phúc báo tốt đẹp (vì bồ-tát vì phát tâm dõng mãnh, sức bỉ nguyện độ sinh rất lớn).
Kinh Tăng nhắt Á-hàm ghi: “Đức Thế Tôn bảo các tì-kheo:
- Nay Như Lai sẽ nói về bốn phúc được sinh về Phạm thiên:
1. Xây dựng thâu-bà ở những nơi chưa có.
2. Sửa chữa chùa cũ.
3. Hòa hợp thánh chúng.
4. Các trời, người khuyến thỉnh Đa-tát-a-kiệt sơ chuyển pháp luân.
Các tì-kheo bạch Đức Thế Tôn:
- Phúc sinh về Phạm thiên nhiều hay ít?
Đức Thế Tôn đáp:
- Công đức của tất cả chúng sinh trong châu Diêm-phù-đề bằng công đức của một Chuyển luân thánh vương. Công đức của tất cả người trong châu Diêm-phù-đề cộng với công đức của một Chuyển luân thánh vương mới bằng cồng đức của một người ở châu Cù-da-ni. Công đức cùa hai châu Diêm-phù và Cù-da-ni không bằng cồng đức của một người ở châu Phất-vu-đãi. Phúc của người ở trong ba châu nói trên không bằng phúc của một người ở châu Uất-đơn-việt. Phúc của người trong bốn châu thiên hạ đó, không bằng phúc của Tứ Thiên Vương. Cho đến phúc của người trong bốn châu thiên hạ và phúc của trời Lục Dục không bằng phúc của một Phạm Thiên vương. Đây chính là số lượng phúc mà thiện nam, thiện nữ cầu sinh về Phạm thiên sẽ có”.
Kinh Trung A-hàm ghi: “Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các thầy tì-kheo:
- Nếu người nào thực hành bảy việc, thì được sinh về chỗ của Đế Thích.
Ngài liền nói kệ:
Cúng dường cha và mẹ,
Bậc tôn trưởng trong nhà,
Nhu hòa và khiêm tốn,
Bỏ nói ác, đôi chiều,
Điều phục tâm keo kiệt,
Thường nói lời chân thật.
Vua trời Ba Mươi Ba,
Thấy người hành pháp này,
Mỗi mỗi đều bảo rằng,
Sẽ sinh về Đế Thích).”
Kinh Tạp bảo tạng có bài kệ:
Phúc nghiệp như quả chín,
Cầu thần đâu thể được,
Người cưỡi xe trì giới,
Sau được sinh cõi trời.
Tâm định như đèn tắt,
Đạt đến cõi niết-bàn,
Tất cả do tu hành,
Cầu trời làm sao được.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
15/12/2015
PUCL QUYỂN 70 - CHƯƠNG THỤ BÁO (tt)
QUYỂN 70 Quyển này tiếp theo chương Thụ báo. 79. CHƯƠNG THỤ BÁO (tt) 79.11. QUẢ BÁO ÁC Nêu có hình thì ảnh hiện, có tiếng tức có vang. Chưa thấy việc hình còn mà ảnh đã mất, tiếng đang dội mà vang đã dừng. Lẽ thiện ác có...
15/12/2015
PUCL QUYỂN 68 - CHƯƠNG NGHIỆP NHÂN
QUYỂN 68 Quyển này gồm một chương Nghiệp nhân. 78. CHƯƠNG NGHIỆP NHÂN 78.1. LỜI DẪN Bước vào dòng Thánh thì sông ái yên láng, ngũ trược trong xanh; đánh mất tông chỉ thì núi tà chân động, ba chướng nổi bùng. Tỉnh tâm mà...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 67 - CHƯƠNG OÁN KHỔ (tt)
QUYỂN 67 Quyển này tiếp theo chương khổ. 77. CHƯƠNG OÁN KHỔ (tt) 77.6. CÁC LOẠI VI TRÙNG TRONG THÂN Thiền bí yếu pháp ghi: “Lại nữa, Xá-lợi-phất! Lúc hành giả nhập thiền định, dục giác phát khởi gió tham dâm, kích động b...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 66 - CHƯƠNG OÁN KHỔ
QUYỂN 66 Quyển này có một chương Oán khổ. 77. CHƯƠNG OÁN KHỔ 77.1. LỜI DẪN Ba cõi xoay vần, sáu đường chìm nổi. Bản tính sáng suốt không biến hoại, ý thức phân biệt luôn chấp trì; chợt sinh chợt tử, lúc đến lúc đi, thân...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 65 - CHƯƠNG PHÓNG SINH, CỨU NGUY
QUYỂN 65 Quyển này gồm hai chương: Phóng sinh và Cứu nguy. 75. CHƯƠNG PHÓNG SINH 75.1. LỜI DẪN Từng nghe: chúng sinh si mê, loài nào cũng tham sống; hàm linh ngu độn, sợ chết là lẽ thường. Thế nên, hổ bị mất rừng cùng kh...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 64 - CHƯƠNG SĂN BẮN, CHÀI LƯỚI
QUYỂN 64 Quyển này gồm hai chương: Săn bắn-chài lưới, Từ bi. 73. CHƯƠNG SĂN BẮN-CHÀI LƯỚI 73.1. LỜI DẪN Kính nghĩ: Như Lai lập giáo, rất chuộng nhân từ, nên trong các giới điều, sát sinh là nặng nhất. Bởi chúng sinh tham...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 63 - CHƯƠNG CẦU MƯA VÀ VƯỜN CÂY
QUYỂN 63 Quyển này gồm hai chương: cầu mưa và Vườn cây. 71. CHƯƠNG CẦU MƯA 71.1. LỜI DẪN Thánh đạo rỗng lặng, nên biến hóa vô cùng; do biến hóa vô cùng, nên hễ ứng hiện thì đều khế hợp. Gần đây, âm dương vận hành không đ...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 62 - CHƯƠNG CÚNG TẾ VÀ XEM TƯỚNG
QUYỂN 62 Nội dung quyển này gồm hai chương: Cúng tế và Xem tướng. 69. CHƯƠNG CÚNG TẾ 69.1. LỜI DẪN Trộm nghe: Báu vật vàng và ngọc khác nhau, nhưng mọi người đều quí chuộng. Giáo nghĩa của Lão và Khổng sai biệt, nhưng tấ...
