Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 63 - CHƯƠNG CẦU MƯA VÀ VƯỜN CÂY

11/12/2015

QUYỂN 63 Quyển này gồm hai chương: cầu mưa và Vườn cây. 71. CHƯƠNG CẦU MƯA 71.1. LỜI DẪN Thánh đạo rỗng lặng, nên biến hóa vô cùng; do biến hóa vô cùng, nên hễ ứng hiện thì đều khế hợp. Gần đây, âm dương vận hành không đ...

PUCL QUYỂN 63 - CHƯƠNG CẦU MƯA VÀ VƯỜN CÂY
Phần 1

QUYỂN 63
Quyển này gồm hai chương: cầu mưa và Vườn cây.
71. CHƯƠNG CẦU MƯA

71.1. LỜI DẪN
Thánh đạo rỗng lặng, nên biến hóa vô cùng; do biến hóa vô cùng, nên hễ ứng hiện thì đều khế hợp. Gần đây, âm dương vận hành không đúng tiết, hạn hán kéo dài nhiều ngày; dù đài phía bắc lễ tế đã bày từ lâu, mà cơn mưa ở thành tây vẫn chưa ứng nghiệm. Thánh thượng lo cho muôn dân mất sản nghiệp, lại sợ ngũ cốc chẳng được mùa, nên tiết giảm ăn uống, không dụng trọng hình. Hơn nữa, trời còn tối mà vua đã thức, đêm đã xuống lại chưa ăn, lòng chí thành cảm thông thiên hạ, hành tế tự khắp các núi sông. Nhưng nước linh chưa tuôn, mây lành chưa tụ.
Kính nghĩ: đuốc tuệ chiếu soi, khiến chốn tối tăm đều rực sáng; sức thần thật khó lường, hễ có cảm nhất định ứng hiện. Vì thế, kính mong Tam bảo diễn rộng giáo Nhất thừa, tụng đọc lời nhiệm mầu mà kiến lập phúc lớn. Nguyện giáo pháp vừa bắt đầu thì mây từ giăng khắp, lời nhiệm mầu vừa tuyên thì mưa tuôn cả xa gần. Khiến cho lúa tốt trổ đầy bông trên đồng ruộng, quả lành kết đậu khắp núi rừng. Y phục chỉ mặc vải bát tàm, gạo thóc nhất định ăn lúa thất hoạch. Bấy giờ, thế giới ngát thơm như cõi nước Chúng Hương, hàm sinh an lạc như sống cõi An Dưỡng.
Không thỉnh thì chẳng gặp, có cầu nhất định ứng. Tất cả đồng tắm gội trong dòng nước định, nối tiếp cội nguồn thành trí, dứt trừ lưới ái dục, vượt trên cảnh hữu vô.
71.2. CẦU CÚNG
Kinh Đại vân luân thỉnh vũ ghi: “Đức Phật dạy:
- Nếu muốn biết pháp cầu mưa lớn và cách dứt mưa thì các ông hãy lắng nghe! Đầu tiên người chủ câu mưa phải khởi lòng từ bi thương xót tất cả chúng sinh và thụ trì tám trai giới. Sau đó chọn khoảng đất trống, giăng màn màu xanh, treo mười lá phướn màu xanh, quét dọn sạch sẽ khu đất ấy, dùng phân bò trét nền đàn, mời thầy tụng thần chú lên tòa cao. Nếu người tụng chú là tại gia thì nên thụ tám trai giới, nếu tì-kheo thì nên giữ gìn giới cấm, mặc y phục sạch sẽ, đốt các loại hương thơm. Lại dùng hương bột rải trên tòa pháp sư, dâng cúng ba loại thức ăn thanh tịnh là sữa bò, lạc và gạo rang.
Khi tụng phẩm Đại vân luân này, nên ngồi hướng mặt về phương đông, ngày đêm chí thành tụng niệm không gián đoạn, đồng thời cúng dường tất cả các Đức Phật. Lại dùng bình sạch đựng nước sạch đặt bốn phía đàn, tùy khả năng tài chính của mình mà sắm sửa thức ăn dâng cúng cho loài rồng. Lại rải hoa thơm khắp đạo tràng và chung quanh pháp tòa. Bốn mặt pháp tòa dùng nước thuần phân bò mới và sạch vẽ hình rồng. Cách mặt đông của pháp tòa ba khuỷu tay trở ra vẽ hình rồng một thân ba đầu cùng với các rồng quyến thuộc; cách mặt nam pháp tòa năm khuỷu tay trở ra vẽ hình rồng một thân năm đầu cùng với quyến thuộc; cách mặt tây pháp tòa bảy khuỷu tay trở ra vẽ hình rồng một thân bảy đầu cùng quyến thuộc; cách mặt bắc pháp tòa chín khuỷu tay trở ra vẽ hình rồng một thân chín đầu cùng quyến thuộc. Bấy giờ vì hộ thân, nên thầy tụng trì chú vào nước, hoặc vào tro trắng, nhất tâm ấn định phạm vi đạo tràng, rồi dùng tro hoặc nước sạch ấy vạch ranh giới, có thể trong vòng một bước, hoặc nhiều bước. Hoặc trì chú vào sợi chỉ rồi đeo vào cổ, hoặc buộc vào tay hay vào chân. Nên nhớ, khi trì chú vào nước sạch hoặc tro trắng, nên dùng các vật này rải trên đỉnh hoặc trán mình và nguyện: “ Người có tâm ác không được vào phạm vi này”.
Người tụng chú nên khởi lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh, khuyến thỉnh các Đức Phật, bồ-tát xót thương gia hộ. Sau đó hồi hướng tất cả công đức này cho loài rồng cùng hưởng. Nếu vẫn không mưa thì tụng kinh này một ngày, hoặc hai ngày cho đến bảy ngày liên tục không gián đoạn giống như trên, nhất định trời sẽ mưa.
Thủy triều biển lớn còn có thể giữ lại lâu hơn chứ y theo pháp này thực hành mà không mưa thì thật vô lí, chỉ trừ người bất tín và không chí tâm”,
Đại vân thỉnh vũ kinh lược yếu ghi: “Đức Phật bảo các vua rồng:
- Hôm nay Ta muốn nói pháp đà-la-ni mà Ta đã nghe được từ đức Đại Bi Vân Sinh Như Lai ở quá khứ. Các Đức Phật quá khứ đã thuyết đà-la-ni uy thần này, nay Ta cũng nên tùy thuận mà thuyết để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, xót thương ban cho họ niềm an lạc. Vào đời vị lai, nếu gặp lúc trời hạn hán, có thể nhờ thần chú này mà khiến tuôn mưa. Gặp lụt lội cũng có thể khiến ngừng dứt, cũng có thể trừ tất cả dịch bệnh và các hiểm nạn; có thể tập họp loài rồng, có thể làm cho chư thiên hoan hỉ, lại có năng lực phá tan cảnh giới ma, giúp chúng sinh được mọi an lạc. Dạy xong Thế Tôn liền thuyết thần chú:
- Đát điệt tha ma ha nhã na bà bà tát ni, thât lị đế thù la ki di, địa lí đồ tì ca ra ma bát da ra tăng ha đát nễ, ba la ma tị ra xà, ni ma la cầu na khê đầu tô lật da ba la tì, tì ma lam già da sư trí, bà ha ra bà ha ra.
- Nam mô nhã na, sa già la tì lô già an da, đã tha kiệt đa da, nam mô tát bà phật đà, bồ đề tát để tì ha.
Lại có bài thần chú:
- Đát trá đát trá, đế trí đế trí, đấu thư đấu thư, ma ha ma ni, ma câu trá, mao lâm đạt la thi tì sa, vu lưu sắt na, tam ma la tha, đé lị át ra na địa sư trá nam bạt chiết ra đà la tát để na, bạt lị sa tha y ha diêm phù đề địa tất tóa ha.
- A bà hà dạ mị, tát bà na kiềm, mê đế la chất để na, bồ đề chất đá phất bà kềm mị na, na la na la, nễ lị nễ lị, nô lô nô lô, sa ha.
Lại có bài thần chú:
- Thích ca la tát để na, bát la bà la sa địa, ma ha na già, y ha diêm phù đề tì sa ha.
Lại có bài thần chú:
- A sư trá ma ca, tát để na, bát ra bà lị sa tha, ma ha na già, y ha diêm phù đề tì sa ha ”.
Kinh Đại phương đẳng đại vân ghi: “Đức Phật dạy:
- Nếu quốc gia nào muốn cầu mưa, vào sáu ngày trai mỗi tháng, quốc vương nước ấy tắm gội sạch sẽ, cúng dường Tam bảo, tôn trọng ca ngợi và xướng tên long vương.
Này thiện nam! Tính cùa bốn đại có thể thay đổi, nhưng nếu trì tụng thần chú này mà trời không tuôn mưa, thì không bao giờ có. Trong kinh này có thần chú, vì chúng sinh nên các Đức Phật ba đời đều tuyên thuyết: Úc cứu lệ, mâu cứu lệ, đầu để tì đầu để, đà ni yết để, đà na lại để, đà na tăng đáp hề.
71.3. TUÔN MƯA
Kinh Phân biệt cồng đức ghi: “Trời và rồng đều có khả năng tuôn mưa, vậy làm sao phân biệt? Trời chỉ tuôn mưa phùn, rồng tuôn mưa lớn. Lại nữa, khi a-tu-la và trời đánh nhau cũng có hai loại mưa tuôn xuống nhân gian, đó là mưa vui mừng và mưa sân hận. Nếu mưa tuôn nhẹ êm, đó là mưa vui mừng; nếu mưa có kèm theo sấm sét, đó là mưa sân hận”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Đức Phật dạy:
- Thế gian như thế, thật chẳng thể nghĩ bàn, cảnh giới rồng cũng chẳng thể nghĩ bàn. Làm sao từ miệng rồng có thể phun mưa như thế? Đáp: ‘Chẳng phải từ miệng rồng’. Hỏi: ‘Vậy từ mắt, tai mũi, thân phun ra ư?’. Đáp: ‘Cũng chẳng phải từ những nơi ấy. Chỉ khi rồng khởi niệm, dù thiện hay ác cũng đều khiến tuôn mưa, hoặc do bản hạnh nguyện mà tuôn mưa’. Như lưng chừng núi Tu-di có một vị trời tên là Đại Lực có khả năng biết được suy nghĩ của chúng sinh. Vị trời này cũng có thể làm mưa. Nhưng mưa không từ miệng, mũi, tai, mắt của vị trời này tuôn ra, mà do thần lực của vị ấy tạo ra”.
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Này Phật tử! Giống như loài rồng lớn tùy ý tuôn mưa, mưa ấy không từ bên trong cũng không từ bên ngoài. Cảnh giới Như Lai cũng như vậỵ, tùy niệm khởi mà mỗi niệm xuất sinh vô lượng chẳng thể nghĩ bàn trí tuệ, nhưng trí tuệ ấy không từ một nơi nào đến. Tất cả nước trong biển lớn đều từ tâm nguyện của long vương mà có; trí tuệ Như Lai cũng như vậy, đều từ sức đại nguyện mà lưu xuất. Biển trí Như Lai vô lượng vô biên, không thể diễn đạt, không thể nghĩ bàn, Ta chỉ có thể nói một thí dụ nhỏ, các ông hãy lắng nghe! Như hai nghìn năm trăm con sông trong châu Diêm-phù-đề, năm nghìn con sông trong châu Câu-na-di, tám nghìn bốn trăm con sông trong châu Phất-ba-đề, một vạn con sông trong châu Ưất-đơn-việt đều tuôn ra biển lớn. Vậy nước biển lớn ấy nhiều chăng?
Đáp: Bạch Thế Tôn! Rất nhiều.
- Này Phật tử! Lại có mười long vương Quang Minh tuôn mưa vào biển lớn nhiều hơn số nước kể trên; lại có trăm long vương Quang Minh tuôn mưa vào biển lớn nhiều hơn số nước vừa kể; cho đến tám mươi ức long vương tuôn mưa vào biển lớn lần lượt gấp nhiều số lượng nước vừa nêu trên; lại có thái tử của long vương sa-già-la tên là Phật Sinh mưa vào biển lớn còn nhiều hơn tổng số trên.
- Này Phật tử! Kế đó, nước trong ao của mười long vương Quang Minh đang cư trú chảy ra biển lớn nhiều hơn tất cả số nước trên; nước trong ao của trăm long vương Quang Minh đang cư trú chảy ra biển lớn nhiều hơn tất cả số nước vừa kể
Phần 2

trên; cứ như thế lần lượt đến nước trong ao của thái tử con long vương Sa-già-la chảy ra biển lớn nhiều hơn tất cả số nước nêu trên.
- Này Phật tử! Tám mươi ức long vương cho đến thái tử của Sa-già-la tuôn mưa và ao hồ trụ xứ của họ chảy vào biển, thì lượng nước cũng không bằng chính một mình long vương Sa-già-la tuôn mưa và ao hồ trụ xứ của long vương này tuôn vào biển lớn. Nước màu lưu li xanh từ ao hồ của long vương vọt lên chảy đầy trong biển lớn. Vì nước vọt lên rất đúng thời, nên thủy triều trong biển lớn lên xuống cũng rất đúng lúc.
Này Phật tử! Nước trong biển lớn này thật vô lượng, châu báu cũng vô lượng, chúng sinh cũng vô lượng, đại địa cũng vô lượng. Các ông nghĩ sao? Nước trong biển ấy vô lượng chăng? Thật đúng như vậy. Này Phật tử! Biển nước ấy sâu rộng không thể ví dụ. Tuy thế, nếu so với biển trí tuệ vô lượng của Như Lai thì biển lớn kia chưa bằng một phần trăm, cho đến không thể ví dụ. Chỉ tùy thuận giáo hóa mà lập thí dụ này thôi”.
71.4. SÔNG BIỂN
Luận Tân Bà-sa ghi: “Châu Thiệm-bộ này có bốn con sông lớn, mỗi sông lớn có bốn chi lưu, tùy theo phương hướng riêng mà chảy ra biển. Như châu Thiệm-bộ này có hồ Vô Nhiệt Não, nước từ hồ này chảy ra biển theo bốn con sông: Khắc-già, Tín-độ, Phạ-sô, Tư-đa. Trong đó sông Khắc-già phát nguồn từ miệng voi vàng ở mặt đông, chảy quanh hồ một vòng theo chiều bên phải rồi tuôn ra biển Đông; sông Tín-độ phát nguồn từ miệng trâu bạc ở mặt nam, chảy quanh hồ một vòng theo chiều bên phải rồi tuôn ra biển Nam; sông Phạ-sô phát nguồn từ miệng ngựa Phệ-lưu-li ở mặt tây, chảy quanh hồ một vòng theo chiều bên phải rồi tuôn ra biển Tây; sông Tư-đa phát nguồn từ miệng sư tử Pha-chi-ca mặt bắc, chảy quanh hồ một vòng theo chiều bên phải rồi tuôn ra biển Bắc.
Lại sông Khắc-già có bốn chi lưu: Diêm-mẫu-na, Tát-lạt-thâu, A-thị-la-phiệt-để, Mạc-hê. Sông Tín-độ có bốn chi lưu: Tì-ba-xa, Cát-la-phiệt-để, Thiết-trớ-đồ-lô, Tì-trớ-sa-đa. Sông Phạ-sô có bốn chi lưu: Phiệt-lật-noa, Phệ-trớ-lạt-ni, Phòng-xa, Khuất-mẫn-bà. Sông Tư-đa có bốn chi lưu: Tát-lị, Tị Ma, Nại Địa, Điển Quang. Như vậy chỉ liệt kê những sông được gọi là lớn mà thôi. Chứ bốn sông lớn, mỗi sông có năm trăm chi lưu, tổng cộng thành hai nghìn lẻ bốn con sông; mỗi mỗi theo một hướng mà đồng chảy ra biển. Những con sông này có thể không chảy ra biển được chăng? Không thể có việc đó. Cũng vậy, giả sử có người dùng thần lực, hoặc dùng chú thuật khiến không thể nhập Hiện quán thánh đế thì thật không có việc ấy ’.
Kinh Niết-bàn ghi: “Thí như biển lớn có tám việc không thể nghĩ bàn: một, từ cạn dần dần ra sâu; hai, sâu đến nỗi không thể dò đến đáy; ba, đồng một vị mặn; bốn, thủy triều không vượt quá giới hạn; năm, có nhiều châu báu; sáu, có các loài chúng sinh thân lớn cư trú; bảy, không dung chứa tử thi; tám, dù muôn dòng dồn về, mưa lớn tuôn xuống mà vẫn không thêm không bớt”.
Kinh Kim cang tam-muội bất hoại bất diệt ghi: “Đức Phật dạy:
- Di-lặc nên biết, hồ Đại A-nậu lưu xuất bốn dòng sông lớn, từ bốn dòng này lại phân thành tám dòng. Tám dòng này và tât cả các sông ở châu Diêm-phù-đề đều tuôn ra biển lớn. Nhờ có núi Ốc Tiêu nên nước biển lớn không tăng, nhờ Kim cang luân nên nước biển lớn không giảm. Cũng do Kim cang luân biến chuyển tùy thời, nên giúp cho nước biển đồng một vị mặn”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Này thiện nam! Trong sông Khắc-già có bảy loại chúng sinh: một, loài luôn lặn sâu dưới nước; hai, loại tạm nổi lên mặt nước rồi lặn xuống sâu; ba, loại nổi lên thì ở lâu trên mặt nước; bốn, loại nổi lên nhìn khắp nơi; năm, loại nhìn khắp nơi rồi bơi đi; sáu, loại bơi đi rồi lại dừng; bảy, loại sống cả trên đất liền và dưới nước.
Loài lặn sâu dưới nước là loài cá lớn chịu nghiệp ác lớn, thân thể nặng, luôn ở chỗ sâu.
Loại tạm nổi lên mặt nước rồi lặn xuống sâu cũng là loài cá thân lớn, lãnh thụ nghiệp ác, thân lớn nhưng ở nơi nước cạn, có lúc muốn thấy ánh sáng. Vì nhìn ánh sáng nên nổi lên, vì thân nặng nên chìm xuống.
Loại nổi lên ở lâu trên mặt nước là cá Để-di, ở vùng nước cạn; vi thích thấy ánh sáng, nên nồi lên nhìn mãi.
Loại nổi lên nhìn khắp nơi là cá Thác, vì tìm thức ăn nên nổi lên nhìn khắp nơi.
Loại nhìn khắp nơi rồi bơi đi cũng là cá Thác khi cá này nhìn thấy các vật khác, nghĩ là có thể ăn được, nên vội bơi đến đó.
Loại bơi đi rồi lại dừng, tức khi đã đến được chỗ có thức ăn rồi thì nó dừng lại.
Loại sống cả trên đất liền và dưới nước, đó là rùa”.
Có bài tụng:
Lời mầu vừa khai diễn
Sương mù bốc lên cao.
Mây pháp giăng bủa khắp
Mưa tuôn khắp núi sông
Cỏ cây đều xanh tốt
Ngũ cốc đều trĩu bông
Nếu chẳng nhờ từ lực
Đâu được mùa bội thu.
71.5. CẢM ỨNG
71.5.1. Đời Tần, thủy thần Quán đình: Tại huyện Trung Túc có dòng sông dài, tại Quán đình bên bờ có miếu thờ thần sông. Nếu ai đi ngang qua đây mà không cung kính, thì phát cuồng chạy vào rừng và biến thành cọp. Một hôm có một người dân trong huyện có việc đến sông Lạc, trên đường trở về gặp một người đi đường gởi phong thư và nói: “Nhà tôi ở trước Quán đình, chính chỗ tảng đá có treo sợi mây, ngài chỉ cần gõ vào dây mây, tự nhiên có người đến nhận”. Người ấy trở về, làm theo lời dặn, thì có hai người từ dưới sông lên nhận thư rồi lặn xuống nước. Lát sau trở lên nói: “Giang bá muốn gặp ông!”. Người này bất giác bước theo, ông ta thấy nơi ấy cung điện lầu gác huy hoàng tráng lệ, thức ăn thức uống thơm ngon, nói năng đối đáp giống như thế gian.
71.5.2. Đời Tần, miếu Mai Cô: Miếu này nằm bên cạnh một hồ lớn ở huyện Đan Dương. Mai Cô lúc còn sống đã biết đạo thuật, có thể mang giày đi trên mặt nước. Sau đó theo Phật pháp, người chồng nổi giận giết chết, ném xác xuống sông. Xác theo dòng trôi đến nơi có ngôi miếu hiện nay. Thầy pháp của thái thú bảo nên tẩm liệm, nhưng không cần lập phần mộ, thế là có một quan tài sơn đen đầu vuông đặt tại miếu thờ. Vào ngày mồng một có người nhìn vào thì thấy trong làn sương mù có một hình người mang giày hiện ra rõ ràng. Quanh miếu không ai được bắt cá hay săn bắn, nếu không sẽ lạc đường hoặc chìm thuyền. Thầy pháp bảo rằng vì Mai Cô đã chết một cách rất thảm thương, cho nên rất ghét thấy cảnh giết chết sinh mạng.
71.5.3. Đời Hán, miếu Trúc Vương ở Dạ Lang: Ngày xưa có một cô gái tắm gội bên bến sông, bỗng đâu có một ống tre lớn trôi tấp vào chân, cô đẩy mãi mà ống tre ấy vẫn không chịu rời, lại nghe có tiếng trẻ con khóc trong đó. Cô bèn kéo lại và mở ra xem thì thấy một bé trai; cô bế về nhà nuôi dưỡng và đặt cho họ Trúc.
Lớn lên, đứa bé trở thành một chàng trai rất giỏi võ nghệ, trở thành vua của Di Liêu. Ống tre đã chứa đứa bé ngày xưa, ném bỏ nơi đồng hoang, về sau mọc thành rừng tre xanh tốt. Có lần Trúc vương nghỉ trên tảng đá, muốn nấu canh mà không có nước, vua bèn rút kiếm đâm vào tảng đá, tự nhiên có dòng suối tuôn ra. Đến nay vẫn còn sông Trúc Vương, tảng đá bị chẻ và rừng tre.
về sau sứ nhà Hán là Đường Mông chiêu dụ và chém chết. Bộ tộc Di Liêu oán hận, họ cho Trúc vương không phải do huyết khí nuôi dưỡng, yêu cầu lập đền thờ. Thái thú Ngô Bá dâng biểu xin phong Hầu cho ba con của Trúc vương. Ngày nay vẫn còn miếu Trúc Vương Tiết.
71.5.4. Đời Hán, sinh vật lạ trong sông nước: Trong khoảng niên hiệu Trung Bình (184-189) đời Hán, trong sông có xuất hiện một con vật, gọi là Vức, còn gọi là Đoản Hồ. Vức có khả năng ngậm cát bắn vào người. Ai trúng phải, toàn thân tê liệt, đầu đau, phát sốt, nặng thì có thể chết. Các ngư dân dùng phương thuật bắt được, thì thấy có cát đá trong thịt của nó. Kinh Thi cho rằng nếu là quỉ là Vức thì không thể bắt. Nay dân gian cho đó là chất độc của khe suối sinh ra, còn các nho sĩ ngày xưa thì cho rằng ở phương nam, nam nữ tắm chung một dòng sông, phát ra dâm khí, do đấy mà sinh ra Vức.
71.5.5. Đời Hán, sông cấm ở huyện Bất Vi, Vĩnh Xương: Dòng sông này có khí độc, trong một năm chỉ vào tháng mười một và tháng mười hai mới có thể qua sông. Còn những tháng khác, nếu ai qua sông sẽ bị bệnh chết. Trong khí này có vật ác, nhưng không thấy hình, chỉ nghe như có tiếng người ném vật gì, nếu trúng cây, thì cây gãy, nếu trúng người thì người bị thương. Dân địa phương gọi là Quỉ đạn.

Phần 3

71.5.6. Suối Lễ ở đông Thái sơn: Suối này giống như cái giếng, toàn là đá. Nếu ai muốn uống thì phải lắng tâm, chí thành quì gối mà múc thì nước suối sẽ tuôn thành dòng, bao nhiêu người dùng cũng đủ. Nếu tâm tính ngạo mạn thì suối khép lại. Đó là ý thường hằng của thần minh vậy.
Hai núi Hoa vốn chỉ là một. Nhưng ngày xưa, khi dòng Hoàng Hà chảy đến đây thì bị gấp khúc, có một vị thần sợ nước dâng tràn, nên bẻ núi này thành hai đoạn để dòng sông chảy qua thông suốt. Cho nên trong Tây Lương phú của Trương Hành có câu: “Thần Cự Linh thật dũng mãnh, tay đưa cao, chân đạp xa để thông dòng Hoàng hà gấp khúc”.
71.5.7. Xích Tùng Tử: Ông là vị thần mưa thời vua Thần Nông. Ông uống thủy ngọc để dạy Thần Nông; lại có thể vào lửa. Ông cũng thường đến thạch thất của Tây Vương Mẫu ở núi Côn Lôn, theo gió mưa mà lên xuống, con gái của Viêm Đế đuổi theo, cũng được cho đi. Đến đời vua Cao Tân lại làm thần mưa gió. Các thần mưa ngày nay vốn bắt nguồn từ đây.
71.5.8. Đời Hán, Tôn Sách: Sau khi bình định Cối Kê, Tôn Sách dẫn binh đón Hán đế. Bấy giờ có đạo nhân Vu Cát đang ở trong quân của Sách, gặp lúc trời hạn hán lớn, giao thông đường thủy khó khăn, Tôn Sách đích thân đôn đốc binh sĩ. ông thường thấy có nhiều tướng sĩ tụ tập đến chỗ Vu Cát, nên nổi giận nói: “Ta không bằng Vu Cát sao? ”. Thế là Sách bắt trói Vu Cát phơi giữa trời nắng và bảo phải làm mưa. Nếu không làm được sẽ bị giết chết. Không lâu sau, mây đen kéo đến, trời tuôn mưa lớn, chỉ trong thời gian ngắn, sông suối ngập tràn. Mọi người đều đến chúc mừng.
Vu Cát thoát chết. Nhưng Sách càng nổi giận, sai người giết chết Vu Cát. Sau đó lòng Sách rất bi thương, thường thấy Cát lờ mờ hiện ra trước mặt. Một hôm đi săn, Sách bị thích khách gây thương tích. Lúc chữa trị sắp lành, ông lấy gương soi mặt thì thấy Vu Cát hiện trong gương, hễ quay đi thì không thấy, nhiều lần như vậy, Sách đập gương và la lớn, khiến vết thương vỡ ra, không bao lâu thì qua đời.
71.5.9. Đời Hán, sa-môn Trúc Đàm Cái: Sư người ở quận Tần, bản tính chất phác, tu tập khổ hạnh, ôm bát chống tích trượng đi khắp nơi giáo hóa bốn chúng. Sư thường trụ ở Tưởng Sơn, tu Ban-chu tam-muội, rất giỏi thần chú, mỗi khi tụng trì đều có linh nghiệm. Tư Mã Nguyên Hiển rất kính trọng sư. Vệ tướng quân Lưu Nghị nghe nói sư tu tập khổ hạnh, cũng thỉnh đến Cô Thục tiếp đãi trọng hậu.
Niên hiệu Nghĩa Hưng thứ năm, trời đại hạn, tất cả sông suối, ao hồ đều cạn kiệt, lúa mạ khô cháy, khẩn cầu khắp các núi các sông đã nhiều tuần mà vẫn không linh nghiệm. Lưu Nghị thiết trai thỉnh tăng cúng dường, sư cũng tham dự. Sau khi thụ trai, sư ngồi thuyền không mui thả trôi trên sông, các quan văn võ và nhân dân cả châu quận cũng theo sau. Sư ngồi thuyền đốt hương lễ lạy, khẩn thiết chí thành cầu nguyện. Sau đó tụng kinh Hải long vương, vừa mở quyển cất giọng xướng tụng, thì mây đen kéo đến, được nửa bộ thì khắp nơi bắt đầu đổ mưa; tụng vừa xong thì trời mưa như trút nước, sông suối ngập tràn. Năm ây mùa màng bội thu. Lưu Kính Thúc bấy giờ làm Lang trung lịnh, đích thân tham dự hội này, tận mắt chứng kiến.
71.5.10. Đời Tấn, sa-môn Tăng Quần: Tại huyện La Giang, Tấn An có ngọn Hoắc sơn cao chót vót. Trên núi có một bát đá lớn, đường kính khoảng một trượng, nước sâu khoảng năm sáu thước. Các người già truyền rằng đây là nơi ở của các tiên nhơn. Sư ẩn tu tại núi này, do uống nước trong bát đá, nên không đói, cũng nhân đó mà sư tuyệt thực. Thái thú Tấn An là Đào Quì nghe nói bèn đến xin nước, sư múc nước trao cho, nhưng khi mang ra khỏi núi, tự nhiên nước có mùi hôi. Sau đó Quì vượt biển để vào núi. Trời đang trong lặng, nhưng khi Quì vừa đặt chân vào chân núi, thì trời bỗng nhiên nổi gió mưa mù mịt.
Ba lần như vậy, rốt cuộc Quì không thể đến được.
Từ thất của sư đến bát đá cách một khe nước nhỏ, sư dùng cây bắt ngang làm cầu để sáng tối qua lại. Một hôm săp qua cầu, sư thấy một con vịt bị gãy cánh nằm trên cầu, gác mỏ về phía sư, không thể nào qua được, sư định lấy gậy đỡ lên, nhưng sợ nó rơi xuống khe mà chết, nên quay trở về. Từ đó, sư không uống nước, vài ngày sau thị tịch. Bấy giờ có lời đồn: Năm sư một trăm bốn mươi tuổi, lúc sắp thị tịch, sư có bảo đệ tử:
- Thuở nhỏ ta làm con vịt gãy cánh, lẽ nào con vịt này là nhân duyên báo ứng ư?
71.5.11. Đời Tấn, tinh xá Long Tuyền: Tinh xá này do đại sư Tuệ Viễn xây dựng. Đó là lúc mới về nam, khi đi ngang qua vùng này, sư thấy thích cảnh trí u nhàn, nên muốn dừng lại lập chùa. Tuy vậy, nhưng chưa xác định nơi chốn, sư bèn bảo đệ tử đi tìm hỏi, xem xét khắp vùng. Vì mệt mỏi nên đại chúng nghỉ ngơi tại khu đất này, tất cả đều khát, nhưng không tìm thấy nước. Mọi người đều lập nguyện: “Nếu nơi này có thể lập tinh xá, cúi xin thần lực gia hộ cho suối ngọt tuôn trào!”. Nguyện xong, sư dộng tích trượng xuống đất, tự nhiên một dòng suối trong mát vọt lên, chảy mãi chứa lại thành ao. Nhân đây sư xây dựng chùa viện.
Một năm nọ, trời hạn hán kéo dài, sư dẫn dắt chúng tăng tụng đọc kinh Hải long vương, để cầu mưa cho nhân dân. Chưa tụng xong, một vật giống như con rắn lớn từ suối vọt lên không trung bay đi mất. Sau đó không lâu, trời mưa lớn khắp vùng, khắp nơi đều thấm ướt. Vì có điềm rồng xuất hiện, nên đặt tên cho tinh xá là Long Tuyền.
71.5.12. Đời Tấn, sa-môn Vu Pháp Lan: Sư người ở Cao Dương, xuất gia năm mười lăm tuổi. Khí độ trầm tĩnh, kiến thức hơn người, bản tính ngay thẳng, phẩm hạnh thanh cao. Ngôi chùa nằm trong núi sâu, hằng đêm sư tọa thiền, cọp thường vào thất, ngồi xổm trước mặt. Sư lấy tay xoa đầu, cọp vểnh tai nằm yên, mấy ngày mới đi. Đương thời những kinh điển mới dịch, còn chen rất nhiều tiếng Phạn, câu chữ rườm rà, thi kệ không hoàn chỉnh. Lúc ấy có Trúc Pháp Hộ, người Đôn Hoàng, về phong thái, khí độ, phẩm hạnh và hiểu biết cũng không kém sư, đã nghiên cứu yếu chỉ, lược bỏ nhưng câu lời phù phiếm. Hai vị này đều sống vào thời Vũ đế và Tuệ đế nhà Tấn. Chi Đạo Lâm có làm bài tán tượng sư như sau:
Vu Lan, bậc siêu thế Thể hội được huyền tông Khéo ẩn nơi núi rừng Nhân từ cảm hổ dữ.
71.5.13. Đời Tấn, Thiệp công: Sư người Tây Vực, thích rỗng rang tĩnh lặng, chỉ hớp không khí, không ăn ngũ cốc, môi ngày có thể đi xa năm trăm dặm, dự đoán những điều chưa xảy ra, linh nghiệm như thấy trong lòng bàn tay. Niên hiệu Kiến Nguyên thứ mười một (375) đời Dao Tần, sư đến Trường An dùng thần chú triệu thỉnh thần long. Mỗi lần hạn hán, Phù Kiên thường mời sư dùng thần chú sai khiến rồng. Khi sư tụng thần chú, một lát sau, rồng hiện trọng bát, trời cũng tuôn mưa. Phù Kiên và quần thần nhìn vào bát, trông thấy rồng, tất cả đều kinh ngạc, hết lòng ca ngợi.
Phù Kiên tôn sư là vị thần của quốc gia, quan dân đều qui kính. Từ đó đất nước không còn hạn hán. Vào tháng mười hai niên hiệu Kiến Nguyên thứ mười sáu (380), sư không bệnh mà thị tịch, Phù Kiên tiếc thương, khóc than thống thiết. Phù Kiên cho sư là bậc thần dị, nên sau khi sư thị tịch bảy tháng, ông cho mở quan tài ra xem, chỉ thấy tấm mền liệm mà thôi. Niên hiệu Kiến Nguyên mười bảy, từ tháng giêng đến tháng sáu trời không mưa, Phù Kiên tiết giảm ăn uống và vui chơi để đón hòa khí. Đến tháng bảy thì trời mưa; Phù Kiên nói với quan Trung thư Chu Đồng:
- Nêu Thiệp công còn sống, Trẫm đâu có để tâm lo lắng đến những việc nắng mưa như thế này! Thiệp công là Đại thánh ư?
Chu Đồng tâu: “Đạo thuật của ngài thật sâu kín nhiệm mầu, thật là điều kì lạ, xưa nay hiếm có!”.
71.5.14. Đời Tấn, Trúc Đàm-ma La-sát: Đàm-ma La-sát, Trung Hoa dịch là Pháp Hộ, tổ tiên sư người nước Nhục-chi, họ Chi, nhưng nhiều đời sống ở Đôn Hoàng. Sư có thiên tính cao thượng, phẩm hạnh ưu mĩ, tu tập khổ hạnh, dốc lòng học hỏi, đã từng lặn lội vạn dặm tìm thầy, mỗi ngày tụng cả vạn lời kinh, hễ vừa nhìn qua thì đã thuộc làu. Sư thông hiểu sáu kinh, nghiên cứu kĩ bảy bộ sách. Tuy người đời có khen chê, nhưng sư chưa từng để lòng. Bấy giờ thuộc triều Vũ đế, chùa tháp tuy xây dựng khắp kinh thành, nhưng kinh Phương đẳng còn ở bên ngoài Thông Lãnh. Sư cảm khái, phát phẫn, lập chí hoàng dương Đại thừa. Thế là sư sang Tây Vực, thỉnh rất nhiều kinh luận trở về. Trên đường về, sư dịch sang Hán văn được một trăm sáu mươi lăm bộ, trong đó có: kinh Hiền kiếp, Chính pháp hoa, Quang tán Bát-nhã... Sư chỉ chăm chăm dịch thuật, lấy việc hoàng pháp làm sự nghiệp, không bao giờ nhàm mỏi.
về sau sư ẩn cư trong núi sâu. Trong núi có khe nước trong mát cung cấp cho tăng chúng. Có lần bị những tiều phu làm dơ uế, dòng nước bỗng nhiên khô cạn. Sư đến bên khe bồi hồi than: “Người vô đức khiến tuyệt nguồn nước trong. Nếu dòng nước này vĩnh viễn khô cạn thì không biết lấy gì để dùng, chắc phải dời đến nơi khác !”. Vừa nói xong, dòng nước trong mát lại tuôn trào, chỉ trong chốc lát thì đầy khe. Thành tâm của sư đã cảm như vậy. Cho nên Chi Đạo Lâm có bài tán chân tượng của sư như sau :
Trúc Hộ, tâm rỗng lặng
Đạo đức thật cao vời
Mấy lời nơi cùng cốc
Suối cạn bỗng tuôn trào
Cao cả thay! Pháp Hộ

Phần 4

Thiên tỉnh thật ưu mĩ
Vượt sa mạc mênh mông
Lãnh ngộ được huyền chỉ.
về sau sư lập chùa bên ngoài An Thanh môn tại Trường An, siêng năng hành đạo. Đạo đức của sư cảm hóa xa gần, tiếng thơm vang khắp chốn. Mấy nghìn tăng tục đồng qui hướng, tin phụng. Đến khi Tấn Tuệ đế chạy về tây, vùng Quan Trung loạn lạc, nhân dân li tán, sư cùng các môn đồ lánh nạn về phương đông. Khi đến sông Thằng, sư hiện chút bệnh rồi thị tịch, thọ bảy mươi tám tuổi.
về sau Tôn Xước soạn Đạo hiền luận, đã so sánh Trúc Lâm thất hiền với Thiên Trúc thất tăng, để lượng định núi cao, nguồn rộng.
71.5.15. Đời Tống, cầu-na-bạt-đà-la: Niên hiệu Đại Minh thứ sáu (463), thiên hạ gặp hạn hán, cầu khẩn núi sông nhiều tháng vẫn không linh nghiệm. Thế tổ thỉnh sư và nói:
- Ngài phải cầu được mưa, nếu không thì đừng gặp mặt trẫm!
Sư nói:
- Nương nhờ uy lực Tam bảo và thiên uy của bệ hạ, ắt trời sẽ giáng mưa. Nếu cầu không được, tôi sẽ không gặp lại!
Nói rồi, sư đến Điếu Đài ở Bắc Hồ đốt hương cầu nguyện, không màng ăn uống, chuyên tâm tụng kinh và âm thầm trì mật chú. Trưa hôm sau, phía tây bắc có đám mây nhỏ bằng lọng xe, đến chiều trời nổi gió, mây giăng kín rồi tuôn mưa mấy ngày liền. Sư vẫn cầm lư hương cầu nguyện không hề rời tay. Sáng sớm hôm sau các công khanh đều đến chúc mừng vua. Vua thỉnh sư vào triều thăm hỏi và cúng dường trọng hậu. Đến đời Thái Tông, lễ cúng cho sư càng thêm hưng thịnh.
Tháng giêng, niên hiệu Thái Thỉ thứ tư (468), vì thấy trong người không khỏe, sư cáo biệt Thái tông và các quan. Trước lúc thị tịch ba ngày, sư đứng nhìn trời rất lâu và nói: “Ta thấy thiên hoa thánh tượng”. Đến giờ Ngọ, sư thâu thần viên tịch, trụ thế bảy mươi lăm tuổi. Thái tông vô cùng thương tiếc, phúng điếu rất nhiều, hàng công khanh và bá quan tham dự tang lễ sư rất đông, ai ai cũng buồn than thương tiếc.
71.5.16. Đời Tề, Thích Đàm Siêu: Sư họ Trương, quê Thanh Hà, thân cao tám thước, dung mạo đoan nghiêm tuấn tú. Sư ăn uống rất đạm bạc, ngày chỉ một bữa, mặc áo vải thô.
Ban đầu, sư ở chùa Long Hoa tại kinh đô. Niên hiệu Nguyên Gia cuối cùng (433), sư đi về phía nam đến Thủy Hưng, dạo xem khắp núi sông, thường ngủ một mình dưới cội tùng, nhưng hổ báo không làm hại. Khoảng niên hiệu Đại Minh (457) sư trở về kinh đô. Khi Tề Thái Tổ lên ngôi, ban chiếu thỉnh sư đến Liêu Đông hoằng dương pháp thiền. Sư dừng ở đó hai năm hoàng dương giáo pháp. Niên hiệu Kiến Nguyên cuối cùng (483), sư trở về kinh đô, không bao lâu, lại đến núi Linh Ân ở Tiền Đường.
Mỗi khi sư nhập định thường trải qua nhiều ngày, bỗng một hôm sư nghe có tiếng sấm, rồi thấy một người cầm hốt đến tự xưng là Trần Thông ở Nghiêm trấn. Một lát sau lại có một người thân hình đoan chính, được các thị vệ quạt liên tục vào thất. Người này đỉnh lễ sư và thưa:
- Đệ tử sống cách đây bảy dặm, cai quản vùng này. Nhân pháp sư về trụ nơi đây, nên đệ tử đến đỉnh lễ và xin báo: “Mùa đông năm ngoái, dân chúng huyện Phú Dương đục khoét chân núi, làm tổn hại nhà ở của loài rồng, nên loài rồng rất phẫn nộ, thề trong ba trăm ngày không làm mưa. Nay mới qua một trăm ngày mà ao hồ đã khô cạn, ruộng đồng bỏ hoang. Pháp sư là bậc đạo cao đức trọng, lại có thần thông, cúi xin ngài hạ cố đến đó, nhất định cảm hóa loài rồng tuôn mưa lành, thấm nhuần muôn dân, được thế công đức của ngài rất lớn”.
Sư bảo: “Nổi mây tuôn mưa vốn là khả năng của đàn việt, bần đạo đâu thể làm được!”.
Vị thần thưa: “Đệ tử và thuộc hạ chỉ có thể nổi mây, chứ không thể tuôn mưa, vì thế mới cầu thỉnh ngài”. Nghe vậy, sư đồng ý. Được sư nhận lời, vị thần liền ẩn mất. Đi về phía nam, năm ngày sau sư đến núi Xích Thành, từ xa sư chú nguyện và thuyết pháp cho loài rồng. Đêm ấy, bầy rồng hóa thành người đến lễ bái; sư lại thuyết pháp, nhân đây tất cả đều xin qui y và tự nhận mình vốn là rồng. Sư bảo:
- Các ông hãy làm mưa.
Nhưng tất cả chỉ nhìn nhau, không đáp. Đêm đó rồng đến báo mộng:
- Do phẫn nộ nên chúng con mới lập lời thề như vậy. Nay ngài đã khai thị cho chúng con điều thiện, chúng con không dám trái lời. Trưa mai trời sẽ mưa.
Sáng hôm sau, sư đến chùa Lâm Tuyền, sai người bảo huyện lịnh chuẩn bị thuyền trên sông, tụng kinh Hải long vương. Huyện lịnh thỉnh tăng ngồỉ thuyền trên sông Thạch Thủ tụng kinh. Vừa tụng xong thì trời tuôn mưa lớn, khắp nơi đều thấm ướt, năm ấy mùa màng bội thu.
Đúng như lời hứa, trưa hôm sau trời mưa rất lớn, nhờ thế năm ấy nhân dân được mùa.
Niên hiệu Vĩnh Minh thứ mười (492), sư thị tịch thọ thế bảy mươi bốn tuổi.
71.5.17. Đời Lương, tượng Phật chùa An Quốc phóng quang: Chùa được xây dựng tại làng Đồng Hạ, xã Đô, huyện Mạt Lăng vào niên hiệu Vĩnh Minh thứ chín (491), đời Nam Tề. Trong chùa có thờ tượng Phật bằng đồng thếp vàng, cao năm tấc năm phân. Vào ngày mồng tám tháng hai niên hiệu Thiên Giám thứ sáu (507) đời Lương, trong gian thứ ba tính từ đầu hồi phía bắc của dãy phòng phía đông chùa, bỗng nhiên có tiếng nhạc. Sau đó bên giường của phòng chủ là ni Dược Vương có ánh sáng chiếu khắp. Đến ngày hai mươi ba, chỗ phóng ánh sáng bỗng nhiên có nước tuôn trào. Lại thấy có thụy tượng này theo dòng nước xuất hiện. Mọi người đến xem đều lấy làm lạ, nhưng cũng vui theo. Suối phun không bao giờ dứt, sau đó mọi người đắp thành giếng, đến nay vẫn còn.
71.5.18. Đời Đường, Thích Tuệ Tuyền: Sư họ Đổng, trụ tại chùa Quang Phúc, Tương châu. Sư rất giỏi Tam luận và kinh Niết-bàn, đồng thời cũng thông cả Lão Trang và các kinh sách thế gian. Do đó danh sư vang đến phương nam.
Niên hiệu Trinh Quán hai mươi ba (649), sư giảng kinh Niết-bàn. Đến đêm mồng tám tháng tư, một vị sơn thần đến báo:
- Pháp sư nên nhanh chóng xây dựng phòng ốc, không bao lâu ngài sẽ sinh về tây phương.
Đến ngày mười bốn tháng bảy, sau khi giảng kinh Vu-lan-bồn xong, sư chắp tay nói:
- Những vật của tín thí cung cấp cho ta lúc sống, nay nên phân phát. Trong đó, những vật có giá trị từ một hào trở lên đều cúng dường tăng mười phương, người nghèo khổ cô độc, những kẻ ăn xin cùng các ngoại đạo!
Nói xong sư thị tịch ngay tại pháp tòa, hưởng thọ bảy mươi chín tuổi.
Lúc sư trụ chùa Quang Phúc, vì chùa trên đỉnh núi, việc lấy nước rất khó khăn, nên sư có ý định đến chùa khác.
Đêm ấy, sư thấy một vị thần cao mốt trượng, mặc y màu đỏ tía, đến đỉnh lễ, thưa:
- Xin ngài ở lại nơi đây giảng pháp Đại thừa, không giảng Tiểu thừa. Pháp Tiểu thừa giống như núi cao không nước, nên chẳng làm lợi ích cho mọi người, còn Đại thừa thì như biển lớn. Núi này, từ xưa đã có rất nhiều vị Phật xuất thế. Một người tụng đọc, giảng thuyết kinh giáo Đại thừa, có thể khiến cho nơi ở có báu vật phát ánh sáng, quyến thuộc thịnh vượng, lương thực dồi dào. Nếu học pháp Tiểu thừa thì không có những sự lợi ích này. Kính mong pháp sư rộng lòng từ, đừng cô phụ niềm hi vọng của chúng sinh nơi đây. Nếu pháp sư cần nước thì cũng rất dễ, mồng tám tháng sau nhất định sẽ có nước. Tôi sẽ đến dòng sông lớn ở núi Từ Mầu, Kiếm Nam để mời long vương.
Nói xong, vị thần liền biến mất. Đúng đầu đêm ngày mồng bảy tháng ấy, bỗng nhiên gió lớn từ hướng tây nam thổi đến, sấm chớp rền vang, mưa như trút nước tại phía bắc chùa, cách sau Phật điện khoảng trăm bước, gần miếu Hán Cao tổ. Trời mưa suốt đêm không dứt, sáng ra bỗng xuất hiện một dòng suối trong mát lại rất thơm ngọt, mọi người thảy đều vui mừng. Thế là sư ở lại nơi đây, Sau đó người ta thấy dòng Long Tuyền dần dần khô cạn.
72. CHƯƠNG VƯỜN CÂY
72.1. LỜI DẪN
Trộm nghĩ: Nương nơi vườn Trúc ở Vương Xá mà kinh hành, trú tại thạch thất trên Linh sơn để thiền tọa; tịnh trụ mà dạo khắp mười phương, từ bi giáo hóa phủ trùm ba cõi. Vì thế truy tìm Tu-đạt xa xưa, hướng về Am-la ngày trước, tất cả đều đắp cao nhân vô tận, tạo lập khu đất vĩnh hàng. Nếu khởi tâm kính ngưỡng thì phúc dẫn đến huyền môn; tác ý khinh chê thì nghiệp ác đưa vào nước sôi, lò lửa. Cho nên hễ thấy nơi ấy thì phát tâm, gặp thì quên mất lối về, giúp tăng phúc lạc, trợ

Phần 5

sinh quả lành, như thế mới xứng là già-lam vậy. Nếu thành tâm xây dựng, dẫu nhỏ cũng được phúc nhiều, nói gì đến to lớn! Nếu dối trá tu tạo, dù lớn cũng chẳng được phúc bao nhiêu, huống gì là nhỏ. Cho nên người tu hành, nếu muốn tạo thì phải đúng pháp mà làm, chẳng nên gian dối.
72.2. DẪN CHỨNG
Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả ghi: “Như trong các tăng-già-lam thì vườn Trúc là đầu tiên”.
Kinh Trung bản ghi: “Trưởng giả Ca-la-đà, nước La-duyệt-kì suy nghĩ: ‘Tiếc quá! Ta thí cho các Ni-kiền rồi. Nếu Phật đến trước, ta sẽ cúng dường cho Ngài và chúng tăng’. Trưởng giả hối hận vì đã thí cho ngoại đạo, vĩnh viễn luống uổng. Bấy giờ đại quỉ tướng quân Bán-sư biết tâm niệm của trưởng giả, liền triệu tập các dạ-xoa xua đuổi và bảo các ni-kiền: ‘Các ngươi lỏa hình, thật không biết hổ thẹn, không nên ở đây!’. Các ni-liền hoảng sợ, bỏ chạy khỏi nơi ấy. Trưởng giả vui mừng, xây dựng tinh xá dâng Phật và chúng tăng”.
Kinh Bồ-tát tạng ghi: “Này A-nan! Hôm nay tại vườn Trúc này, Ta tuyên thuyết kinh Bồ-tát tạng này, đây là pháp luân bất thoái chuyển, đoạn trừ tất cả những mối nghi cho chúng sinh. A-nan! Các Đức Phật quá khứ cũng thuyết kinh Bồ-tát tạng nơi khu đất trống này. A-nan! Những chúng sinh có tâm tham sân si, khi vào vườn Trúc này sẽ không khởi tham sân si. Các loài chim bay vào khu vườn này sẽ không kêu hót phi thời. Vua Bình-sa và các thể nữ vào đây vui chơi, sẽ không khởi tâm dục, các người nữ cũng vậy. Vua vui mừng, suy nghĩ: ‘Cầu xin thế gian có Phật, con sẽ dâng cúng khu vườn này. Nếu Phật an trú nơi đây, ta sẽ nghe pháp. Vì sao? Vì những người đáng được cúng dường nên trụ trong vườn này. Còn hạng người đầy dẫy năm dục thì không nên trụ nơi đây. Khu vườn này không có các loài độc trùng như rắn rết, bò cạp, muỗi mòng... Nếu loài nào đã ở trong vườn này thì không có tâm ác độc. Đây cũng là uy lực riêng biệt của vườn Trúc”
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Nếu chúng sinh có lòng tin thanh tịnh, dâng cúng vườn rừng cho chúng tăng sử dụng, sau khi mạng chung sẽ sinh lên cõi trời Kiền-đà-la, có thiên nữ vây quanh, vui sướng gấp trăm lần ở thế gian. Nếu chúng sinh với tâm tu thiện, xây dựng phòng xá che mưa nắng để người sử dụng thì sau khi mạng chung, sẽ sinh lên cõi trời Thường Tứ Ý, hường các thú vui năm dục. Nếu hết tuổi thọ cõi trời, sinh xuống làm người, sẽ làm thầy của vua”.
72.3. CÂY VÀ QUẢ DIÊM-PHÙ
Luận Lập thể A-tì-đàm ghi: “Cây Diêm-phù sinh tại bờ nam sông Ni-dân-đà-la, phía bắc cõi Diêm-phù-đề. Cây này nằm trung ương của châu, từ chính giữa gốc cây này đến góc đông và tây đều một ngàn do-tuần. Cây này sinh trưởng hoàn hảo, hình dáng đáng ưa, cành lá mọc đã lâu mà không úa héo, mưa gió không thể xâm nhập. Các cành lá che phủ lẫn nhau tạo thành nhiều tầng lớp, cao đến một trăm do-tuần. Gốc cây lớn, thẳng, không có đốt mắt và các khối u, cứ cách năm do-tuần mới nảy một cành. Đường kính thân cây rộng năm do-tuần, chu vi mười lăm do-tuần; chiều dài mỗi một cành năm mươi do-tuần, độ dài xuyên suốt hai cành là trăm do-tuần, chu vi cây bao phủ ba trăm do-tuần.
Quả của cây này rất ngọt, như mật ong ruồi, lớn bằng cái vò, hạt bằng hạt quả Diêm-phù thế gian, trên đó có hình chim thú. Quả trên hai cành đông tây phần nhiều chín rụng xuống cõi Diêm-phù, còn một ít rơi xuống sông; quả trên cành phía nam thì rụng hết trên cõi Diêm-phù; trái trên cành phía bắc thì rơi xuống sông bị cá ăn hết. Rễ cây được cát vàng chôn phủ. Vào mùa xuân trời mưa, nhưng cây vẫn không dột vào thấm ướt; mùa hạ trú bên cây vẫn không nóng, mùa đông không rét lạnh. Càn-thát-bà và các thần dạ-xoa trú trên cây này.
Những việc như thế làm sao biết được? Bởi ngày xưa, trong thành Vương Xá có hai vị tì-kheo chứng các món thần thông, cùng nhau đến bên cây này quan sát, thấy nhiều quả rơi trên đất tự vỡ ra. Một vị tì-kheo mới dùng ngón tay thọc vào cuống đến lút ngón tay dài nhất mà vẫn không chạm hạt. Tì-kheo rút tay ra, bị màu của quả này dính, nên ngón tay cũng có màu đỏ, mùi thơm của quả này làm cho người ưa thích. Vì ngửi mùi thơm của quả ấy, nên vị tì-kheo thứ hai hỏi: ‘Trưởng lão muốn dùng chăng? Tôi đây không thích. Việc này thật hiếm có, thật không thể nghĩ bàn. Đây là kết phược vô cùng lớn đối với việc li dục. Vì sao? Vì nếu người chưa li dục, khi ngửi mùi hương này, sẽ phát sinh tâm khí mà điên cuồng. Nếu ngoại đạo li dục ngửi mùi hương này,, sẽ mất địa vị Li dục’.
Hai vị tì-kheo trở về thành Vương Xá kể lại như vậy. Lúc ấy có một người tên là Trường Cảnh họ là Câu-lợi thuộc dòng dõi vua chúa. Do phúc báo đời trước mà có được thần thông. Nếu đi trên mặt nước, chân trước chưa chìm thì chân sau đã chuyển; đi trên cỏ, cỏ chưa kịp rạp thì chân đã dời bước rồi. Người này nghe Đức Phật nói về cây này, nên đến bạch:
- Nay con đến chỗ cây Diêm-phù được chăng?
Đức Phật bảo: ‘Được!’. Người này bèn đỉnh lễ Phật rồi ra đi. ông vượt qua sáu tòa núi, đến tòa thứ bảy là Kim Biên, ông lên đỉnh, nhìn hướng về bắc thì chỉ thấy một màu tối tăm, sợ quá ông quay trở về.
Đức Phật hỏi: ‘Ông thấy cây Diêm-phù không?’. Đáp: ‘Con chưa đến được’. Phật hỏi: ‘Ông thấy những gì?’. Đáp: ‘Con chỉ thấy tối tăm’. Phật dạy: ‘Chỗ tối tăm đó chính là cây Diêm-phù’.
Người này lại đỉnh lễ Phật, nhiễu ba vòng rồi đi về hướng bắc. Một lần nữa ông lại vượt qua bảy ngọn núi lúc trước, rồi vượt thêm bảy ngọn núi nữa, sau đó đi qua sáu nước lớn, bảy khu rừng lớn, bảy con sông lớn trong các khu rừng này. Kế đó phải đi qua rừng A-ma-la và rừng Ha-lê-lặc mới đến cành phía nam của cây Diêm-phù. Ông lên cành phía nam đi sang cành phía bắc, nhìn xuống phía dưới thấy nước ở đây không giống nước thường dùng hằng ngày. Nước ở đây trong vắt, nhìn thấy suốt không bị ngăn ngại. Người này suy nghĩ: ‘Thần thông của ta không biết nơi đây có vận dụng được chăng?’. Thế là ông ta đưa chân đạp nước, tay vin cành cây; nhưng chân vừa chạm nước thì giống như tảng đá, lập tức chìm xuống nước. Như vậy thần thông của ông ấy không thể thi triển ở đây được. Nước này nhẹ nổi giống như dầu; nếu đổ nước nơi đây vào nước ấy thì liền chìm như đá.
Sau đó người này hái một quả Diêm-phù về dâng cúng Phật. Phật thụ nhận rồi cắt thành nhiều mảnh, chia cho đại chúng. Nước của loại quả này dính vào tay Đức Phật, Đức Phật đưa bàn tay này đánh vào núi đá, núi đá liền in dấu bàn tay Phật màu đỏ, đến nay dấu ấy vẫn còn rõ ràng, vẫn đỏ như xưa, và luôn thấm ướt không khô.
Do ngày xưa Đức Phật chia quả này làm nhiều mảnh, nên núi đá này có tên là Phiến Phiến nham. Khi Đức Phật giáo hóa Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Ngài cũng trao cho Ca-diếp quả này. Bên ngoài cây Diêm-phù này có hai khu rừng như hình bán nguyệt vây quanh. Khu rừng bên trong tên là Ha-lê-lặc, khu rừng bên ngoài tên là A-ma-lặc. Quả của cây Ha-lê-lặc và A-ma-lặc lớn bằng cái hộc, khi chín rất ngon, không đắng không cay, ngọt nhu mật ong. Phía nam rừng A-ma-lặc lai có bảy khu rừng khác, được phân chia bởi bảy con sông. Khu rừng cực bắc tên là Am-la, kế đó theo thứ tự về hướng nam là rừng Diêm-phù, Sa-la, Đa-la, Nhân lâm, Thạch Lựu, Kiếp-tất-tha. Các loại quả này đều ngọt như mật ong, không đắng không cay. Riêng quả của cây trong rừng Nhân giống hình người, nếu bậc li dục ăn quả này, liền mất thiền định.
Phía nam rừng Kiếp-tất-tha có sáu nước lớn, nước nằm ở cực nam tên là Cao-lưu, các nước theo thứ tự về hướng bắc là Câu-lạp-bà, Tì-đề-ha, Ma-ha Tì-đề-ha, uất-đa-la-mạn-đà, Xả Hỉ Ma-la-da. Người trong sáu nước này, thuần lương, tu tập thập thiện. Loài thú ở đây lúc sắp chết, tự tìm đến chỗ con người mà tự chết, con người mới dùng thịt của chúng. Nơi đây có rất nhiều trâu hoang đuôi dài, con người dùng lông đuôi của nó để lợp nhà. Đất đai tự sinh lúa thóc, không cần cày cấy. Khi đã chín, lúa này không còn vỏ trấu, mọi người gặt về giả rồi nấu cơm. Gạo này rầt dẻo và thơm ngon”.
Kinh Trường A-hàm ghi: “Quả của cây Diêm-phù giống như cái giỏ tre, vị ngọt như mật. Cây có năm góc lớn, bốn mặt ở bốn góc và một góc hướng lên trời. Quả của góc bắc là thức ăn cho càn-thát-hòa, quả phía nam là thức ăn của người trong bảy nước: Câu-lâu, Câu-la-bà, Tì-đề, Thiện Tì-đề, Mạn-đà, Bà-la, Bà-lị. Quả ở góc tây là thức ăn cho các sinh vật biển. Quả phía bác là thức ăn cho chim thú. Quả phía trên là thức ăn của trời Tinh Tú”.
Kinh Trung A-hàm ghi: “Ở cõi Diêm-phù-đề này, khi con người sống đến tám vạn tuổi, thì chuyển luân vương Cao-la-bà ra đời. Vua có một cội Thiện Trụ ni-câu-loại thụ vương. Cây này có năm cành. Quả của cành thứ nhất dành cho vua và hoàng hậu ăn; quả của cành thứ hai dành cho thái tử và các quan; quả của cành thứ ba dành cho nhân dân trong nước; quả của cành thứ tư dành cho sa-môn, Phạm chí; quả của cành thứ năm dành cho cầm thú. Quả của cây này lớn bàng cái bình hai thăng, vị ngọt như mật. Tuy thụ vương không ai canh giữ nhưng cũng chẳng có ai trộm lấy.
về sau có một người đói khát yếu gầy, thần hình tiều tụy đến cây Thiện trụ ni-câu-loại ăn quả. Khi đã no rồi, người này còn bẻ cành cây hái quả đem về. Trên cây này có một vị trời đang nương ở. Vị ấy nghĩ: ‘Lạ thay! người ở châu Diêm-phù vô ơn, không biết báo đáp. Vì sao? Vì đã ăn quả của cây Thiện Trụ mà còn bẻ gãy cành, hái quả mang về. Ta phải làm cho cây Thiện Trụ không có quả!’. Thế là từ đó cây này không sinh quả nữa.
Rồi lại có một người đói khát ốm gầy, thân hình tiều tụy, cũng muốn được ăn quả. Người này đến bên cây Thiện Trụ, nhưng cây không có quả, cũng không sinh quả,

Phần 6

tức thì đến vua Cao-la-bà tâu: ‘Thiên vương nên biết, cây Thiện Trụ không có quả!’.
Vua Cao-la-bà nghe xong, trong khoảnh khắc như lực sĩ co duỗi cánh tay, biến khỏi Câu-lâu-sau, đến cõi trời Tam Thập Tam, đứng trước Đế Thích tâu: ‘Tâu Câu-dực! Cây Thiện Trụ Ni-câu-loại không có quả, cũng không sinh quả nữa!’. Khi đó, Đế Thích vả vua Cao-la-bà trong khoảnh khắc như người lực sĩ co duỗi cánh tay biến khỏi cõi trời Tam Thập Tam đến nước Câu-lâu-sấu, cách không xa cây Thiên Trụ thì đứng lại. Đế Thích vận thần thông tạo ra nước lớn, gió bão và mưa to khiến cây này bật gốc, ngã đổ.
Lúc đó có vị trời sống trên cây Thiện Trụ ni-câu-loại thấy như vậy, trong lòng buồn khổ, khóc lóc rơi lệ, đến đứng trước Đế Thích. Đế Thích hỏi: ‘Vì sao ông buồn khổ, khóc lóc rơi lệ, như vậy?’ Vị trời kia thưa ràng: ‘Tâu Câu-dực! Nên biết, nước lớn, gió bão, mưa to, làm cho cây Thiện Trụ ni-câu-loại bị bật gốc ngã đổ. Cầu mong cây Thiện Trụ Ni-câu-loại trở lại như cũ’. Thế là Đế Thích lại vận thần thông tạo ra nước lớn, gió bão, mưa to khiến cây này sống lại như cũ”.
Kinh Hoa nghiêm ghi: “Trên đỉnh Tuyết sơn có cây thuốc quí tên là Phi Tùng Căn Sinh Phi Bất Tùng Căn Sinh. Cây này cao rộng đều sáu trăm sáu mươi vạn do-tuần, bên dưới rễ đâm sâu tới đáy của lớp kim cang. Khi cây này đâm rễ thì cây Diêm-phù đâm tất cả rễ; khi cây có thân, sinh cành lá, hoa quả thì cây Diêm-phù cũng như vậy. Từ gốc rễ của cây sinh thân từ thân có thể sinh gốc rễ, nên có tên là Phi Tùng Căn Sinh Phi Bất Tùng Căn Sinh. Cây này có thể sinh trưởng bất cứ nơi đâu, chỉ trừ hầm sâu địa ngục và thủy luân”.
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Trong nước của quốc vương Câu-lạp ngày xưa có cây Tu-ba-đề-hoàn, chu vi thân cây năm trăm sáu mươi dặm, chu vi phần gốc dưới mặt đất là tám trăm bốn mươi dặm, cây cao bốn nghìn dặm, cành lá che phủ một vùng hai nghìn dặm. Cây kết quả ở năm mặt: quả của mặt thứ nhất dành cho vua và các thể nữ dùng, mặt thứ hai dành cho các quan, mặt thứ ba dành cho nhân dân, mặt thứ tư dành cho các sa-môn dòng Thích, mặt thứ năm dành cho chim thú. Quả như cái bình một thăng, vị ngọt như mật. Tuy không canh giữ, nhưng không ai xâm phạm. Bấy giờ là thời kì con người thọ tám vạn bốn nghìn tuồi, có chín căn bệnh: lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, ái dục, ham ăn, tuổi già. Người nữ đến năm trăm tuổi mới lập gia đình”.
72.4. TỔN THƯƠNG
Luật Tăng-kì ghi: “Khi Phật còn tại thế, tì-kheo Xiển-đà cần gỗ làm phòng ốc, nên đến rừng Tát-la chặt cây. Bấy giờ trong khu rừng ấy có một số quỉ thấn trú ngụ. Bọn quỉ nói với Xiển-đà:
- Xin ngài đừng chặt cây này, bởi con cái nhỏ bé yếu đuối của chúng tôi sẽ phơi mình ngoài mưa gió, không nơi nương náu!
Xiển-đà liền mắng:
- Đồ quỉ xấu xa kia! Hãy đi gấp, không được ở đây, không ai muốn thấy các ngươi!
Thế là Xiển-đà chặt cây. Các quỉ thần thấy thế, kêu gào khóc lóc, dẫn con cái đến chỗ đức Thế Tôn. Đức Phật đã biết, nhưng vẫn cố hỏi:
- Vì saó các ngươi kêu khóc như thế?
Các quỉ thưa:
- Bạch Thế Tôn! Tôn giả Xiền-đà chặt cây trong rừng cùa chúng con trú ngụ đem về làm phòng, khiến tất cả chúng con phơi mình ngoài mưa gió. Chúng con biết nương náu nơi đâu?
Thế Tôn tùy thuận thuyết pháp, khiến các quỉ thần không còn buồn khổ. Sau đó Thế Tôn bảo các quỉ thần đến trú tại. một khu rừng. cách nơi Phật ở không xa. Sau đó Đức Phật quở trách tì-kheo Xiển-đà:
- Như Lai trụ nơi nào một đêm, thì tất cả cây cối và người tại nơi ấy đều là tháp miếu. Cho nên quỉ thần thích đến nương náu. Vì sao lại dùng lời ác mắng chửi chúng?
Trong luật Tứ phần, Đức Phật cũng không cho phép chặt cây có quỉ thần nương ở. Người nào chặt thì phạm tội Đột-cát-la.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Nếu có chúng sinh trì giới, không tà kiến, thấy người chặt cây lớn có quỉ thần, dạ-xoa, la-sát nương náu thì nên bảo vệ không cho người chặt phá. Vì các loài quỉ thần này không hại người, chỉ nương ở cây cối mà hưởng thụ niềm vui; không có cây, chúng sẽ khổ não. Sau khi mạng chung, người này sẽ sinh lên cõi trời Hoan Hỉ, vui chơi cùng các thiên nữ, mạng chung tại cõi trời, nếu được sinh vào cõi người, sẽ an ổn và giàu sang”.
Kinh Tì-ni-mẫu ghi: “Có năm loại cây mà tì-kheo không nên chặt phá: một, cây Bồ-đề; hai, cây có quỉ thần; ba, cây Diêm-phù-đề; bốn, cây A-tư-đà; năm, cây trong rừng Thi-đà. Nếu tì-kheo vì việc Tam bảo mà chặt ba loại cây: cây có quả, cây cho hoa, cây cho lá thì có phúc chứ không có tội. Có một tì-kheo lên một cây lớn an cư, buộc cây làm nơi ngủ. Vị này không xuống, vẫn ở trên cây mà đại tiểu tiện xuống đât. Quỉ lớn nương trên cây này tức giận đánh chết vị tì-kheo. Đức Phật dạy:
- Từ nay về sau không được an cư trên cây, không được đại tiểu tiện nơi gốc cây.
Lại có năm loại cây mà tì-kheo không nên chặt phá: môt, cây Bồ-đề; hai, cây có quỉ thần; ba, cây lớn bên đường; bốn, Diêm-phù-đề; bốn, cây trong rừng Thi-đà; năm, cây Ni-câu-đà. Nếu tháp Phật hoặc tăng-già-lam bị hư hoại, bị lửa thiêu thì được dùng bốn loại trên, trừ cây Bồ-đề. Lại có năm loại cây được sử dụng: cây bị cháy, cây bị lửa rồng đốt cháy, cây tự khô chết, cây bị gió thổi đến, cây do nước trôi đến”.
72.5 HẠT GIỐNG Kinh Trường A-hàm ghì: “Vì nhân duyên gì mà thế gian có năm loại hạt giống? Đó là do gió lớn từ thế giới Bất Bại thổi năm loại hạt giống đến nước này: hạt giống của loại cây củ, hạt giống của loại cây có thân, hạt giống của loại cây có đốt, hạt giống của loại cây rỗng ruột, hạt giống của loại cây có hạt. Do đó thế gian có nám loại hạt này”.
Kinh Khởi thế ghi: “Vì nhân duyên gì mà thế gian xuất hiện năm loại hạt giống? Đức Phật dạy: ‘Này các tì-kheo! Ở phương đông có các thế giới đã thành rồi hoại, hoặc đã hoại rồi thành, hoặc đã thành rồi trụ. Các thế giới ở phương nam, tây, bắc cũng thành hoại và trụ như thế. Bấy giờ có gió lớn A-na-tì-la từ một thế giới thành trụ ở phương khác thổi năm loại hạt giống đến tung rải tại nước này. Tung rải rồi lại tung rải, tung rải cùng khắp. Đó là hạt giống của cây có củ, cây có thân, cây có đốt, cây ghép nối, cây có hạt. Quả của cây Diêm-phù đề lớn bằng cái vò một hộc của nước Ma-già-đà. Khi hái quả này thì một chất nước theo đó chảy ra, màu trắng như sữa, ngọt như mật. Quả cây này xuất sinh tùy theo phương hướng mà chia ra năm vùng lợi ích: một, những quả sinh ở phương đông chỉ dành cho Càn-thát-bà dùng; hai, những quả sinh ở phương nam thì dành cho nhân dân trong bảy thành phố lớn: Chính Tiếu, Tiếu Hoán, Chính Thể, Hiền, Thiện Hiền, Lao, Thắng; những quả sinh ở phương tây dành cho chim cánh vàng...; những quả sinh ở phương trên dành cho các dạ-xoa Hư Không dùng; những quả sinh ở phương dưới dành cho các loài côn trùng dùng”.
Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Đức Phật dạy:
Trong núi Tuyết có cây Ương-già-đà, quả của nó rất lớn, nhưng hạt thì rất nhỏ. Truy tìm nguồn gốc thì biết gió thổi hạt giống cây này từ Hương sơn đến. Vào mùa đông cực rét, các dạ-xoa, la-sát ẩn náu trong những nơi kín gió trong núi, thải ra những chất bất tịnh đầy dẫy trên đất, sau đó gió mạnh thổi tuyết lấp lên trên. Lâu ngày thành một cái ao chu vi năm mươi do-tuần. Do chất phân này, nên hạt giống ấy nẩy mầm, rồi phát triển thành thân, đâm cành lá, trổ hoa kết quả, sum suê xanh tốt. Vào tháng ba, gió tám phương đồng thời thổi, làm tan chảy tuyết, chỉ còn sừng sững một cây này. Hình sắc của quả ấy không giống loại quả nào ở cõi Diêm-phù-đề, hình tròn, lớn nửa do-tuần. Nếu bà-la-môn ăn vào sẽ thành tựu tiên đạo, đầy đủ năm món thần thông, thọ mạng một kiếp, không già không chết yểu. Phàm phu ăn quả này, sẽ chứng bốn quả sa-môn, đầy đủ ba minh, sáu thông. Có người đem hạt của nó về trồng nơi vùng đất màu mỡ ở Diêm-phù-đề, thì cây cũng sinh trưởng và được gọi là cây Câu-luật-đà, cao bằng một cây Đa-la, quả của nó gọi là Đa-lặc, lớn bằng cái bình năm thăng, có thể trừ được bệnh nhiệt”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Đức Phật dạy: ‘Này thiện nam! Trên núi Tuyết có cỏ Nhẫn Nhục, bò ăn được cỏ này thì sữa của nó sẽ thành đề hồ”.
Có bài tụng:
Kì viên cảm thần hiện
Lộc uyển độ Câu-lân
Bậc thánh trụ phúc địa
Hiền sĩ thích núi rừng
Vừa nghe nghìn cánh hiện
Chấn động trăm hoa khai
Cỏ thơm lan đầy đất

Phần 7

Linh chi khắp sân nhà
Ao thơm tuôn bát thủy
Giếng thần vọt chín dòng
Hoa tung bay theo gió
Cảm ứng tiên giáng trần
Chim hòa âm nghìn điệu
Người ca ruộng trăm phúc
Đẹp thay! Thắng xứ này
Ai thấy chẳng luyến lưu.
72.6. CẢM ỨNG
72.6.1. Đời Chu, đất nổi: Tháng tư năm thứ hai đời Chu Ân vương, tại nơi nọ, đất bằng bỗng nhiên nồi thành gò, dài rộng hơn một trượng, cao một thước năm tấc. Kinh phòng dị yêu ghi: “Đất bỗng nhiên nổi cao, theo bốn mùa mà đoán, nếu xảy ra vào mùa xuân và hạ thì tốt, vào thu đông thì xấu”.
Quận Lịch Dương chỉ trong một đêm mà bị chìm vào lòng đất và biến thành hồ, chính là hồ Ma ngày nay. Chẳng biết xảy ra vào thời nào. Vận thăng xu ghi: “Luận chính xác, nếu âm thôn tính dương thì kẻ dưới tàn hại nhau”.
72.6.2. Núi di chuyển: Vào thời vua Kiệt nhà Hạ, núi Lệ biến mất; thời Tần Thủy Hoàng Tam sơn biến mất; năm thứ ba mươi hai đời Chu Hiển vương, Thái Khâu xã ở đất Tống biến mất; cuối đời Hán Chiêu đế, Xương Ấp xã quận Trần Lưu biến mất.
Kinh phòng dị truyện ghi: “Núi tự nhiên di chuyển thì thiên hạ có chiến tranh, đất nước diệt vong”.
Trong vùng Lang Da, phía nam núi cối Kê có Quái sơn. Người đời truyền rằng đây là núi Đông Vũ ở Lang Da, qua một đêm trời mưa to gió lớn, sáng hôm sau thấy núi dời đến đây. Mọi người cho là điều kì lạ cho nên đặt tên là Quái. Bấy giờ ngọn núi ở huyện Đông Vũ cũng tự nhiên biến mất trong một đêm; xem xét hình dáng của núi mới biết nó đã dời đến nơi đây. Nay dưới núi Quái có làng Đông Vũ. Đó là lấy nơi mà núi di chuyển đến để đặt tên. Núi tại Giao châu và Thúy châu dời đến Thanh châu. Hễ núi dời là điềm bất thường.
Thiên Kim thắng trong Thượng thư ghi: “Núi dời là điềm vua không dùng đạo sĩ, người hiền không xuất hiện, hoặc vương thất mất phúc lộc, thưởng phạt không do vua, quyền thần tụ tập, không phương cứu vãn; sẽ có việc thay thời đổi thế”.
Thế thuyết ghi: “Trời nhất định làm chủ con người. Trời thì có bốn mùa và ngũ hành. Ngày đêm đắp đổi, nóng lạnh thay nhau, đó là sự chuyển vận của trời đất vậy. Nếu hòa thì làm mưa, giận thì nổi gió, tán thì làm sương, loạn thì tuôn móc, ngưng thì làm tuyết, lập thì hiện cầu vồng. Đây là lẽ thường của trời đất. Nếu bốn mùa vận hành không đúng, nóng lạnh trái mùa thì ngũ hành tăng giảm bất thường, tinh tú vận hành không đúng quĩ đạo, nhật thực nguyệt thực, sao chổi quét trên bầu trời; đây chính là sắc tượng của trời đất. Nóng lạnh không đúng mùa là do trời đất trái nghịch; đá dựng đất trồi là do trời đất tổn thương nhẹ; núi lở đất sụp là do trời đất tổn thương nặng; mưa to gió lớn là do khí trời đất xung đột; hạn hán, không mưa là do trời đất khô kiệt”.
72.6.3. Đời Hán Ai đế, cây linh: Niên hiệu Kiến Bình thứ ba (4BC), tại Linh Lăng có một cội cây lớn, đứng gần bên hồ, chu vi một trượng sáu thước, cao mười bốn trượng bảy thước. Người dân đốn hạ cây này, ba tháng sau đoạn gốc dài hơn chín thước đã khô, nhưng tự nhiên dựng đứng, sống lại như cũ. Tại làng Toại huyện Bình Dương, Nhữ Nam có một cội cây mọc trên vùng đất hoang rộng lớn. Cây nẩy cành lá như hình người, thân màu vàng xanh, mặt trắng, tóc dài khoảng sáu tấc một phân. Kinh phòng dị truyện ghi: “Đức của vua sắp suy, kẻ dưới sắp trỗi dậy, cho nên cây có hình người”. Quả thật, sau đó Vương Mãng soán ngôi nhà Hán.
72.6.4. Đời Hán Nguyên đế, cây hoè: Vào niên hiệu Kiến Chiêu thứ năm (34BC), thứ sử Duyên châu là Hạo Thường cấm dân tự ý lập miếu. Bây giờ tai ngôi miếu làng có một cây hoè lớn, thứ sử sai người chặt bỏ, qua một đêm, cây trở về gốc cũ. Có thuyết cho rằng: Chặt rồi mà sống lại là điềm đã phế lại hưng. Điềm này về sau ứng vào Thế tổ.
72.6.5. Đời Hán Linh đế, cỏ linh: Niên hiệu Quang Hòa thứ bảy (184), tại ranh giới xã Li Kì, huyện Oan Cú, Đông quận, thuộc Tế Âm, Trần Lưu có một loại cỏ mọc thành hình người cầm binh khí và các loại trâu ngựa, rồng rắn, chim thú, màu sắc trắng đen đều phù hợp, đầy đủ lông, cánh, đầu mắt... thật rõ ràng chứ không lờ mờ phảng phất. Người xưa nói đó là một loại cỏ yêu tinh. Năm ây loạn Khăn Vàng phát khởi, nhà Hán suy vi.
Tháng sáu niên hiệu Ngũ Phượng thứ nhất (254), đời Đông Ngô, tại Giao Chỉ có loại cỏ dại biến thành lúa.
72.6.6. Đời Ngô Tôn Quyền, cây linh hiện yêu quái: Lúc bấy giờ Lục Kính Thúc làm thái thú Kiến An, đã ra lệnh đốn bỏ cây này, vừa chặt mấy búa bỗng nhiên từ cây phun máu. Đến khi cây ngã, từ bông cây vọt ra một con vật đầu người thân chó. Kính Thúc nói: “Con vật này tên là Bành Hầu, nấu chín ăn có vị như thịt chó”.
72.6.7. Đời Đông Ngô, khúc gỗ lớn hiện yêu quái: Cát Tộ tự là Nguyên Tiên, người Cú Dung, làm thái thú Hành Dương. Bấy giờ trong quận có một khúc cây lớn nằm chắn ngang sông, có thể tác yêu tác quái. Thấy vậy bách tính lập miếu thờ, ai muốn qua sông thì phải cầu cúng khúc cây này. Nếu cây chìm thì thuyền bè vượt qua được, nếu cây nổi thì thuyền bè bị vỡ nát. Lúc sắp nhận chức, ông dẫn nhiều người mang theo búa rìu đến chặt bỏ cây ấy. Vừa sáng thì đoàn của Tộ đến nơi. Đêm hôm đó, những người giữ miếu và nhân dân sống quanh đó nghe trên sông có tiếng nước kêu, tiếng người dô hò, thật khác thường thì đều lấy làm lạ. Sáng hôm sau ra xem thì thấy khúc cây đã dời xuống hạ lưu mấy dặm và đưa vào trong một cái đầm. Từ đó người đi thuyền không còn lo nạn chìm đắm nữa. Người Hành Dương ca ngợi, lập bia ghi công của Tộ: Bậc có chính đức cầu khẩn, thần cùng phải dời đi”.
72.6.8. Thời thái cổ, người nữ thân bọc da ngựa: Sách xưa có ghi:
- Vào thời quá khứ lâu xa, có một vị quan lớn đi đánh giặc phương xa, gia đình vắng người, chỉ có một con trai, một con gái và một con ngựa đực. Người con gái đích thân chăm sóc ngựa này. Vì nhà ở nơi xa xăm, vắng vẻ, con gái nhớ cha, nên nói đùa với ngựa:
- Ngươi có thể vì ta mà đón cha ta về, ta sẽ làm vợ ngươi!
Nghe lời này, ngựa liền bứt dây khớp dàm, chạy đến chỗ người cha của cô gái. Thấy ngựa đến, người cha vừa ngạc nhiên vừa vui mừng và cưỡi nó. Nhưng ngựa cứ hướng về quê nhà buồn bã hí vang không dứt. Người cha thầm nghĩ: “Con ngựa này vô cớ mà biểu hiện như thế, lẽ nào nhà ta có biến cố gì chăng!”. Thế là ông gấp cưỡi ngựa trở về. Cho rằng súc sinh có tính tình bất thường, nên cho ngựa thức ăn ngon và nhiều hơn, nhưng ngựa vẫn không chịu ăn. Cứ mỗi lần thấy cô gái ra vào, nó tỏ thái độ vừa buồn vừa giận, với trạng thái vô cùng phấn khích. Người cha để ý thấy nhiều lần như vậy, nên âm thầm đến hỏi con gái, cô thuật lại sự việc và nói:
- Nhất định là do việc này!
Người cha liền bảo:
- Con chớ nói ra điều này, e rằng sẽ ô nhục gia môn, vả lại con cũng không nên ra vào chuồng ngựa nữa!
Sau đó ông mang cung tên, mai phục bắn chết ngựa, lột da phơi trong sân. Hôm cha cô đi vắng, cô cùng với một người con gái hàng xóm đến bên tấm da. Cô vui đùa dùng chân đạp lên tấm da và nói:
- Ngươi là súc sinh mà muốn lấy người làm vợ, cho nên rước lấy hoạ lột da này. Sao tự làm khổ mình thế?
Cô nói chưa dứt lời, tấm da bỗng nhiên vùng dậy quấn chặt lấy cô gái rồi bước đi. Người con gái hàng xóm quá sợ hãi, không dám cứu, chạy về nhà gọi cha cô gái kia, ông chạy đến định cầu xin thì không thấy đâu. Mấy ngày sau, mọi người tìm thấy cô gái và tấm da ngựa trên một cành cây lớn. Cả hai đều biến thành con tằm đang nhả tơ làm kén trên cây. Các sợi tơ của cái kén này to và dày hơn kén của loại tằm bình thường. Người nữ hàng xóm mang về nuôi dưỡng, sau sinh ra gấp nhiều lần. Cũng nhân đó gọi cây này là cây Tang, Tang tức là táng. Mọi người tranh nhau mang cây này về trồng, tức là cây dâu tằm ngày nay. Nói tằm ăn dâu, tức một loại khác của loài tàm xưa. Theo Thiên quan, thì Thìn tức là sao Mã;
Tàm thư ghi: “Mặt trời, mặt trăng gặp sao Đại Hỏa thì ngâm tẩm trứng tằm. Tằm và ngựa đồng khí chất”. Chu Lễ dạy người phải quản lí và cấm tạo nguyên tàm.
Giải thích: một vật không thể hai lần đồng thời lớn. Câm tạo nguyên tàm, bởi tạo nguyên tàm sẽ làm tổn thương đến ngựa. Theo phép tắc nhà Hán, hoàng hậu tự tay hái dâu cúng tế thần tằm là Uyển Dũ phụ nhân và Ngụ Thị công chúa. Công chúa

Phần 8

là từ tôn xưng người nữ, Uyển Dũ phụ nhân tức Tiên tàm. Ngày nay cho tằm là người nữ, là do người xưa truyền lại.
72.6.9. Đời Tống, Thích Tăng Du: Sư họ Chu, người Dư Hàng, Ngô Hưng, xuất gia năm hai mươi tuổi, rất thông tuệ, siêng năng tu khổ hạnh, suốt đời không biếng trễ. Niên hiệu Nguyên Gia thứ mười lăm (438), sư cùng các bạn đồng học như Đàm Ôn, Tuệ Quang v.v... đều là những bậc có tiết tháo, tâm hạnh thuần khiết, đồng thích ẩn tu, đến ngọn núi ở phía nam dãy Lô sơn dựng ngôi tinh xá Chiêu Ân.
Sư thường nói: “Tâm và thân là nguyên nhân kết nghiệp tam đồ, một khi tâm diệt thì thân cũng nên bỏ, dấu tích của bồ-tát Dược Vương đâu có xa gì?”. Thế là sư phát nguyện thiêu thân.
Đến ngày mùng ba tháng sáu niên hiệu Hiếu Kiến thứ hai (424) đời Tống, sư dẫn chúng tu tập, chỉ dạy và răn nhắc. Hôm đó, mây mù giăng kín bầu trời, mưa tuôn xối xả. Thấy vậy, sư liền phát nguyện: “Nếu chí nguyện tôi được chư Phật minh chứng thì xin cho bầu trời được quang đãng, còn như không cảm ứng thì mưa cứ đổ xuống để cho mọi người biết được sự linh ứng, không còn nghi ngờ”.
Sư vừa dứt lời thì trời quang mây tạnh. Đến đầu đêm hôm ấy, sư vào trong khám ngồi ngay thẳng chắp tay tụng phẩm Dược Vương, lửa cháy đến thân, nhưng tay sư vẫn chắp. Tăng tục kéo đến rất đông, cùng đỉnh lễ sư, xin kết duyên lành.
Lúc ấy, thân sư bốc lên luồng khói màu tía, hồi lâu mới hết. Bấy giờ, sư được bốn mươi bốn tuổi. Mười bốn ngày sau, trong phòng của sư mọc lên hai cây ngô đồng, cành lá sum suê, các nhánh lớn nhỏ cùng nhau vươn lên trời cao, trông rât lạ kỳ. Người hiểu biết Phật pháp đều cho đó là hai cây sa-la quí minh chứng cho việc nhập niết-bàn. Do bản nguyện của sư, nên mới hiện điềm kì lạ này. Nhân đó, mọi người gọi sư là sa-môn Song Đồng.
Trương Biện người Ngô quận làm Trưởng sử huyện Bình Nam, đích thân thấy được việc này, có làm bài tán để lưu truyền:
Một là:
Huyền cơ thăm thẳm,
Chỉ đạo bao la,
Vào sinh ra tử,
Đâu là diệu bảo?
Hai là:
Dược Vương quá khứ,
Giáo hóa tuyệt luân,
Xưa chỉ nghe chuyện,
Nay thấy được người.
Ba là: Sa-môn kiệt xuất,
Định tuệ kiên cố,
Sắc tía, ngưng thần,
Hiện tích Song thụ.
Bốn là:
Đức hạnh đáng khen,
Khỉ tiết đáng quí,
Kính ghi vài lời
Tạm nêu cồng hạnh.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục