PUCL QUYỂN 61 - CHƯƠNG CHÚ THUẬT (tt)
11/12/2015
QUYỂN 61 Quyển này tiếp theo chương Chú thuật. 68. CHƯƠNG CHÚ THUẬT (tt) 68.8. CẢM ỨNG 68.8.1. Chú thuật nội giáo 68.8.1.1. Thích Kì Vực: Sư người Thiên Trúc, chu du khắp Hoa Nhung, không trụ một nơi cố định. Sư là bậc t...

QUYỂN 61
Quyển này tiếp theo chương Chú thuật.
68. CHƯƠNG CHÚ THUẬT (tt)
68.8.1. Chú thuật nội giáo
68.8.1.1. Thích Kì Vực: Sư người Thiên Trúc, chu du khắp Hoa Nhung, không trụ một nơi cố định. Sư là bậc thần kì siêu việt, tự tại thoát tục, hành vi phi thường, người đương thời chẳng thể đoán được.
Sư rời Thiên Trúc đến Phù-nam, men theo bờ biển, lặn lội đến Giao Quảng. Sư có nhiều điểm linh dị. Lúc đến Tương Dương, sư xin đi nhờ thuyền, các thương nhân thấy vị sa-môn y phục rách rưới, nên khinh thường không cho đi. Nhưng khi thuyền buôn đến bờ bắc thì sư đã đến trước họ. Trên đường đi, sư gặp hai con hổ, nó cụp tai vẫy đuôi. Sư lấy tay xoa đầu chúng, hổ nhường lối cho sư, mọi người hai bên bờ nhìn thấy vậy nên theo sư rất đông.
Cuối thời Tấn Tuệ Đế (290-306), sư đến Lạc Dương. Các đạo nhân đều đến lễ bái, nhưng sư vẫn quì gối thản nhiên, nét mặt không chút biến đổi. Sư thường nói cho mọi người nghe về kiếp trước của họ, như nói Chi Pháp Uyên kiếp trước là loài dê, Trúc Pháp Hưng kiếp trước là loài người. Sư thường chê trách chúng tăng mặc y phục quá tốt đẹp, không đúng pháp xuất thế. Sư nhìn thấy cung điện thành quách ở Lạc Dương bèn nói:
- Nơi này tựa như cung trời Đao-lợi, nhưng cảnh thiên nhiên và con người thì không giống.
Sư nói với sa-môn Kỳ-xa-quật:
- Người thợ xây cung điện này từ trời Đao-lợi xuống, xây xọng đã trở về rồi. Dưới những miếng ngói trên nóc đều có đặt một nghìn năm trăm hình tinh linh.”
Bấy giờ, thái thú Hành Dương là Nam Dương Đằng Vĩnh Văn tạm trú trong chùa Mạn Thủy tại đất Lạc, hai chân ông ta bị co quắp không thể đi được. Sư thấy vậy bèn nói:
- Ông muốn hết bệnh chăng, sao không đi lấy bát nước sạch và một cành dương liễu đến đây!
Sư dùng cành dương nhúng nước, vẫy lên người Vĩnh Văn và chú nguyện. Làm như thế ba lần, rồi sư xoa bóp lên gối của Vĩnh Văn và bảo ông ta đứng dậy. Ngay lúc ấy, Vĩnh Văn đi lại bình thường như xưa. Trong chùa này có cây Tư Duy đã bị chết khô, sư hỏi Vĩnh Văn
- Những cây này chết bao lâu rồi?
Vĩnh Văn đáp:
- Đã nhiều năm rồi!
Sư liền chú nguyện cho cây như cách chú nguyện cho Vĩnh Văn, cây Tư Duy bỗng đâm chồi nẩy lộc phát triển xanh tươi. Trong Thượng phương thự có một người bị ung thư gần chết, sư đem bình bát đặt lên bụng người bệnh và dùng vải trắng phủ trùm, rồi chú nguyện mấy nghìn lời, liền có mùi hôi xông khắp nhà. Người bệnh nói:
- Tôi sống rồi!
Sư sai người tháo miếng vải, nhìn thấy trong bình bát có mấy thăng giống như bùn nhơ, hôi không thể tả. Nhờ thế người bệnh lành hẳn.
Khi Lạc Dương loạn lạc, sư trở về Thiên Trúc. Bấy giờ ở Lạc Dương có sa-môn Trúc Pháp Hành là vị tăng ưu tú, đại chúng nhờ Pháp Hành thưa với sư: “Ngài là bậc đã đắc đạo, xin để lại vài lời răn dạy hậu thế!”. Sư bảo nhóm họp chúng tăng. Chúng tăng nhóm họp đầy đủ, sư lên tòa thuyết kệ:
Giữ miệng, nhiếp thân ý
Chớ phạm các điều ác
Tu tập các điều lành
Như thế sẽ giải thoát.
Thuyết kệ xong, sư im lặng. Pháp Hành lại thỉnh:
- Xin ngài dạy cho những điều chưa nghe, chứ bài kệ này, đứa bé tám tuổi cũng thuộc làu, chẳng phải là điều mà chúng con mong cầu.
Sư cười nói:
- Tuy đứa bé tám tuổi thuộc làu, nhưng người trăm tuổi mà khồng thực hành được, thì tụng suông có ích gì! Mọi người chỉ biết kính bậc đắc đạo, nhưng lại không biết tu tập để chính mình đắc đạo, buồn thay! Lời ta tuy ít, nhưng nếu thực hành thì ích lợi rất lớn.
Thế là sư từ biệt. Bấy giờ có mấy trăm người thỉnh sư thụ trai, sư đều hứa khả. Sáng sớm, năm trăm tinh xá đều có sư đến. Ban đầu, họ cứ tưởng sư chỉ đến nơi của mình, nhưng khi hỏi ra mới biết sư phân thân đến khắp nơi. Lúc sư từ biệt, mọi người tiễn đến tận thành Hà Nam, sư chỉ đi từ từ mà họ chạy theo không kịp. Sư lấy tích trượng vạch lên đất nói:
- Chúng ta từ biệt tại đây!
Hôm ấy, có một người từ Trường An đến nói đã gặp sư trong một ngôi chùa nơi ấy. về sau, lại có một khách buôn tên Hồ Thấp Đăng kể lại, cùng chiều ngày hôm đó ông ta cũng gặp sư ở lưu sa. Tính ra hôm ấy sư đã đi hơn chín nghìn dặm.
Sau khi về lại Tây Vực, không biết sư viên tịch nơi nào.
68.8.1.2. Phật-đồ-trừng: Sư người Tây Vực, họ Bạch, xuất gia lúc nhỏ, giữ giới thanh tịnh, chuyên tâm tu học, tụng làu thông mấy trăm vạn lời kinh điển, hiểu rõ văn nghĩa. Tuy chưa bao giờ đọc các sách của Nho gia và kinh sử Trung Hoa, nhưng sư luận đàm với các học sĩ nước này rất phù hợp và trôi chảy, không ai khuất phục được sư.
Niên hiệu Vĩnh Gia thứ tư (310), đời Tấn Hoài đế, sư đến Lạc Dương với chí nguyện hoằng hóa Phật pháp. Sư giỏi chú thuật, có thể sai khiến quỉ thần. Sư lấy dầu mè trộn phấn sáp, xoa vào lòng bàn tay thì các việc xa ngoài ngàn dặm cũng đều hiện rõ trong đó như ở trước mắt. Sư cũng có thể khiến cho người trì trai giới thanh tịnh thấy được. Nghe tiếng linh, sư dự đoán trước những việc sắp xảy ra, tất cả đều hiệu nghiệm.
Sư muốn lập chùa ở Lạc Dương, nhưng gặp lúc giặc Lưu Diệu đang đánh phá Lạc Đài khiến cho kinh đô rối loạn. Vì thế, chí nguyện lập chùa của sư không được thành tựu. Sư bèn ẩn thân nơi hoang vắng để quán sát thế sự biến đổi.
Bấỵ giờ, Thạch Lặc đóng quân ở Cát Pha, chuyên lấy việc chém giết để làm uy, khiến các sa-môn bị hại rất nhiều. Sư thương xót chúng sinh, muốn dùng đạo lí để giáo hóa Thạch Lặc. Thế là, sư đến doanh trại của Thạch Lặc. Sư biết đại tướng Quách Hắc Lược vốn rất tôn sùng Phật pháp, nên sư thăng đến quân doanh ông ấy để giáo hóa. Quách Hắc Lược xin làm đệ tử, thụ trì năm giới cấm.
Sau đó, Hắc Lược cùng Thạch Lặc đi chinh phạt, ông luôn dự đoán được việc thắng bại, Thạch Lặc nghi ngờ liền hỏi:
- Ta không biết khanh có mưu trí xuất chúng như thế nào mà khi ra quân thường biết các việc lành dữ như thệ?
Quách Hắc Lược đáp:
- Đều là lời của một vị sa-môn trong quân doanh của hạ thần.
Thạch Lặc vui mừng liền triệu sư đến hỏi:
- Đạo Phật có gì linh nghiệm?
Sư biết Thạch Lặc không hiểu được giáo lí sâu xa, chỉ dùng chú thuật mới có thể giáo hóa, nên bảo:
- Chí đạo tuy xa, nhưng cũng có thể lấy những việc gần để chứng minh.
Nói rồi, sư liền lấy bát đựng đầy nước rồi đốt hương chú nguyện. Phút chốc, trong bát bỗng nở mọt hoa sen màu xanh, ánh sáng chiếu rực rỡ, do đó Thạch Lặc tin phục. Sư khuyên rằng:
- Phàm là bậc đế vương, lấy đức cảm hóa, thấm nhuần khắp thiên hạ thì tứ linh sẽ hiện. Chính sách trị nước hà khắc, đạo đức suy đồi, thì sao chổi sẽ xuất hiện. Những thiên tượng tốt xấu đã hiện thì lành dữ theo sau, đó là lẽ thường xưa nay, cũng là điêu răn rõ ràng của trời.
Thạch Lặc nghe thế, lòng rất vui mừng. Từ đó, những người đáng lẽ bị giết cũng đều được tha, tám chín phần dân được lợi ích, người Hồ ở Trung châu cũng đều nguyện thờ Phật.
Sau đó, Thạch Lặc do sân giận, muốn hại các vị sa-môn và muốn làm khổ sư. Sư bèn đến nhà Quách Hắc Lược tránh mặt và bảo:
- Nếu sứ giả của tướng công đến hỏi ta ở đâu, ông trả lời không biết!
Sứ giả đến tìm không gặp sư, liền trở về báo lại cho Thạch Lặc, ông ta kinh sợ nói:
- Ta có ác ý với thánh nhân, nên ngài đã bỏ ta
đi rồi!
Suốt đêm ông không ngủ được, suy nghĩ mong gặp được sư. Sư biết Thạch Lặc có ý hối cải, nên sáng sớm liền đến, Thạch Lặc hỏi:
- Đêm qua ngài đi đâu?
Sư đáp:
- Ngài có tâm phẫn nộ, nên đêm qua tôi tạm lánh mặt, nay đã có ý hối cải, vì thế tôi mới dám đến đây.
Thạch Lặc cười lớn, nói:
- Ngài đã hiểu lầm rồi!
Nguồn nước của con hào tại thành Tương Quốc nằm dưới miếu Đoàn Hoàn cách thành năm dặm bỗng nhiên khô cạn, Thạch Lặc hỏi sư:
- Làm sao có lại được nguồn nước?
Sư đáp:
- Nay phải ra lệnh cho rồng (Long).
Thạch Lặc tự là Thế Long, nên ồng cho rằng sư giễu cợt mình, bèn nói:
- Chính vì Long không the lấy được nước nên mới hỏi ngài như thế !
Sư liền đáp:
- Đây là lời thành thật, chẳng phải đùa! Tại nguồn nước này nhất định có rồng thần ở. Phải đến ra lệnh cho nó, nhất định nước sẽ có.
Sư cùng với các đệ tử như Pháp Thủ V.V.. và vài người khác đi đến đầu nguồn. Nơi đây, nước đã khô cạn từ lâu, nứt nẻ như vết bánh xe. Những người theo đều nghi ngờ, cho rằng khó có được nước. Sư ngồi trên ghế đốt hương An-tức, chú nguyện vài trăm lời. Trải qua ba ngày, bỗng nhiên nước tràn mênh mông, chảy đi khắp nơi. Có một con rồng nhỏ dài năm sáu tấc, xuất hiện theo dòng nước. Các vị sa-môn tranh nhau đến xem. Sư bảo:
- Rồng đó có độc khí, chớ đến gần!
Chỉ trong chốc lát nước chảy đến đầy khắp các hào, rạch.
Những điều sư dự đoán chính xác rất nhiều không thể thuật hết.
Đoàn Ba người Hung Nô đem quân đánh Thạch Lặc, thế giặc rất mạnh. Thạch Lặc sợ hãi hỏi Sư. Sư đáp:
- Hôm qua tiếng linh ở chùa kêu: “Ngày mai vào giờ ngọ sẽ bắt được Đoàn Ba”.
Thạch Lặc lên thành cao quan sát, thấy quân Đoàn Ba trùng trùng điệp điệp, ông ta thất sắc nói:
- Quân giặc đi dậy đất, làm sao có thể bắt được Đoàn Ba, lời này chỉ làm an lòng ta mà thôi!
Liền sai Quỳ An đến hỏi, Sư đáp:
- Đã bắt được Đoàn Ba!
Cùng lúc đó, binh lính mai phục ở phía bắc thành xông ra gặp Đoàn Ba và bắt sống. Sư khuyên Thạch Lặc nên khoan hồng, thả cho Đoàn Ba trở về nước. Thạch Lặc làm theo ý sư, quân lính bắt được cho sung quân.
Sau khi bình định được giặc Lưu Diệu, Thạch Lặc tiếm xưng Triệu Thiên vương, hành phép tắc lễ nghi của hoàng đế, đổi hiệu là Kiến Bình. Bấy giờ nhằm niên hiệu Hàm Hòa thứ năm (330) đời Tấn Thành Đế. Sau khi Thạch Lặc lên ngôi, ông càng hết lòng tôn kính sư.
Bấy giờ, Thạch Thông có ý muốn tạo phản. Năm ấy, sư căn dặn Thạch Lặc rằng:
- Năm nay trong hành (Thông) có sâu, ăn vào sẽ có hại, ngài hãy ra lệnh cho nhân dân không được ăn hành.
Thạch Lặc ban sắc cho nhân dân trong nước không nên ăn hành. Đến tháng tám, quả nhiên Thạch Thông trốn chạy. Nhân đây, Thạch Lặc càng tôn trọng sư hơn. Ông muốn làm việc gì, trước đều thỉnh ý sư, sau mới thi hành, ông thường gọi sư là Đại hòa thượng.
Thạch Hổ có người con tên Bân, sau Thạch Lặc nhận làm con, ông rất thương yêu đứa bé này. Một hôm, bỗng nhiên Bân bị bệnh nặng và chết. Qua hai ngày sau, Thạch Lặc nói
- Ta nghe thái tử Quắc chết mà thần y Biển Thước có thể cứu sống, nay Đại hòa thượng là thần nhân của nước ta, vậy hãy mau đến khẩn cầu ngài, ắt sẽ cứu sống thái tử.
Đến đó, sư liền cầm nhành dương chú nguyện, bỗng nhiên thái tử sống lại, chỉ trong thời gian ngắn thái tử liền bình phục. Do đó, các con nhỏ của Thạch Lặc phần nhiều được đưa vào chùa nuôi dưỡng. Mỗi năm vào ngày mồng tám tháng tư, Thạch Lặc đích thân đên chùa tắm Phật, câu nguyện cho các con.
Đến tháng tư niên hiệu Kiến Bình thứ tư, bầu trời yên lặng, không chút gió mà trên tháp có tiếng linh ngân lên. Sư bảo đại chúng:
- Tiếng linh báo rằng “Năm nay, trong nước có đại tang”. Đúng như dự đoán, tháng bảy năm đó Thạch Lặc chết.
Thái tử Thạch Hoằng kế vị. Sau đó không lâu, Thạch Hổ soán ngôi, dời đô đến Kiến Nghiệp, đổi niên hiệu là Kiến Vũ. Ông dốc lòng phụng thờ sư còn hơn Thạch Lặc và đã hạ chiếu: “Hòa thượng là tài sản vô giá của quốc gia, không cầu công danh tước vị, không tham lợi lộc vinh hoa. Công danh tước vị không làm lay động, thì biết lấy gì để biểu dương công đức của ngài. Từ nay về sau, trẫm đặc biệt dâng cho ngài áo gấm lụa, đi xe có chạm trễ lộng lẫy. Ngày lâm triều, Hòa thượng lên điện, các quan từ Thường thị trở xuống phải phụ khiêng kiệu, thái tử và các vị công khanh phải đỡ dìu lên điện. Khi chủ lễ xướng: 'Đại hòa thượng đên!', mọi người đang ngồi đều phải đứng dậy để tỏ lòng tôn kính. Lại lệnh cho quan Tư không Lí Nông mỗi ngày hai buổi đích thân đến vấn an sư. Còn thái tử và các vị công khanh cứ năm ngày đến một lần. Như thế để biểu thị lòng tôn kính của trẫm ”.
Lúc ấy, sư dừng lại ở chùa Trung trong thành Kiến Nghiệp. Sư sai đệ tử Pháp Thường đến Tương Quốc. Trong lúc ấy, đệ tử Pháp Tá từ Tương Quôc trở về. Hai người gặp nhau ở thành Lương Cơ và cùng nghỉ lại nơi đây. Đêm đó, huynh đệ cùng nhau đàm luận về thầy của mình. Khi trời gần sáng, hai người từ biệt. Pháp Tá vừa trở về chùa Trung, liền vào hầu sư. Sư cười vặn hỏi:
- Đêm qua, ngươi và Pháp Thường kề xe nhau cùng nói về thầy mình phải không? Bậc Thánh xưa có nói: “Người có lòng cung kính, dù ở nơi vắng vẻ cũng không thay đổi; người có lòng thận trọng dù ở một mình cũng không buông lung, vắng vẻ, một mình là gốc của lòng cung kính và thận trọng”, ngươi không biết ư?
Pháp Tá vô cùng kinh ngạc, hổ thẹn xin sám hối. Những người trong nước thường nói với nhau rằng: “Không nên khởi tâm xấu, hoà thượng biết được tâm ông vậy”, Kể từ đây, những nơi sư ở không ai dám hướng về đó mà khạc nhổ, phóng uế.
Bấy giờ, thái tử Thạch Thúy có hai người con đang ở Tương Quốc. Sư nói với Thạch Thúy:
- Đứa con nhỏ của ông đang bị bệnh, ông nên đến thăm!
Thạch Thúy liền lên ngựa đến đó xem, quả nhiên con của ông bị bệnh. Thái y Ân Đằng và các đạo sĩ ở nước ngoài bảo là sẽ trị lành. Sư nói với đệ tử Pháp Nha:
- Giả như có thánh nhân xuất hiện cũng không thể trị được chứng bệnh này, huống hồ là các thầy thuốc đó!
Ba ngày sau, quả nhiên đứa bé chết. Thạch Thúy đam mê tửu sắc mưu đồ tạo phản, ông ta nóỉ với hoạn quan:
- Hòa thượng có thần thông, e rẳng biết được ý đồ của ta. Sáng mai ông ta đến, ngươi hãy giết đi!
Vào ngày rằm tháng ấy, lức sắp vào yết kiến Thạch Hổ sư nói với đệ tử Tăng Tuệ:
- Tối hôm qua thiên thần bảo với ta: “Ngày mai nếu có vào cung cũng đừng ghé vào nhà ai”. Nếu ta có ghé thì ông nhớ ngăn ta lại.
Mỗi khi vào triều kiến, sư thường ghé vào phủ của Thạch Thúy. Thạch Thúy biết sư vào, nên chờ đợi rất lâu. Sư định lên Nam Đài thì Tăng Tuệ kéo áo lại, sư nói:
Việc đến nước này thì không thể dừng lại được!
Sư ngồi chưa yên liền đứng dậy. Thạch Thúy cố giữ, nhưng không được. Vì thế mà âm mưu của ông ta không thành. Sư trở về chùa than:
- Thái tử mưu đồ tạo phản, sự tình sắp thành nhưng muốn nói cũng khó nói, muốn nhẫn cũng khó nhẫn.
Sư mượn sự việc này từ tốn răn nhắc Thạch Hổ, nhưng Thạch Hổ không hiểu. Không bao lâu, ý đồ tạo phản của Thạch Thúy bại lộ, Thạch Hổ mới ngộ được lời nói của sư.
về sau, Quách Hắc Lược đem binh chinh phạt rợ Khương ở ngọn núi phía bắc thành Trường An, bị bọn địch vây bắt. Bấy giờ, sư ngồi trong giảng đường cùng với đệ tử Pháp Thường. Sư bỗng nhiên biến sắc đau buồn nói:
- Quách công đã rơi vào vòng vây của địch rồi!
Nói xong, sư bảo chúng tăng cùng với mình chú nguyện. Một lát sau, sư nói; .
- Nếu chạy về hướng đông nam thì sống, còn những hướng khác sẽ nguy khốn!
Nói rồi, sư tiếp tục chú nguyện. Trong phút chốc, sư lại nói:
-Thoát rồi!
Hơn một tháng sau, Quách Hắc Lược trở về kể:
- Lúc rơi vào vòng vây của rợ Khương, tôi chạy về hướng đông nam, ngựa đuối sức, bỗng có một thuộc hạ cưỡi ngựa phi tới, hắn ta đẩy ngựa qua cho tôi và bảo: “Ngàỉ hãy cưỡi con ngựa này, tiểu nhân sẽ cưỡi ngựa của ngài, cứu được hay không là tùy vào số mệnh”.
Nhờ đó mà Quách Hắc Lược thoát chết. Nghiệm ra khi ấy chính là lúc sư chú nguyện.
Ngụy Đại tư mã Yên công Thạch Bân được Thạch Hổ cho trấn giữ U Châu, ông ta tụ tập bọn hung ác làm điều bạo ngược. Sư khuyên Thạch Hổ:
- Tối qua thiên thần có nói với tôi: “Hãy mau chóng thâu ngựa về, mùa thu tới, khắp nơi đều (Tề) bị bệnh dịch bại liệt”.
Thạch Hổ không hiểu lời sư nói, nhưng cũng ra lệnh khắp nơi thâu ngựa về. Đúng mùa thu năm đó, có người đem chuyện Thạch Bân tâu lên Thạch Hổ. Thạch Hổ cho triệu Thạch Bân đến, đánh ba trăm roi và giết mẹ của hắn ta là Tề Thị. Sau đó, Thạch Hổ còn rút tên dương cung bắn Thạch Bân. Tự giám sát việc phạt Thạch Bân như thế mà vẫn cho là nhẹ. Thạch Hổ định tự tay giết năm trăm đồng bọn, nhưng sư liền can:
- Ngài không nên tùy tiện giết hại như thế, người đã chết không thể sống lại. Theo lễ thì vua không nên đích thân giết, làm thế sẽ tổn đến ân đức. Có vị vua nào lại tự tay hành phạt bề tôi!
Nghe thế, Thạch Hổ mới dừng tay.
về sau, quân Tấn tiến đánh, khiến các vùng Hoài, Tứ, Lũng Bắc, Ngoã Thành nguy cấp. Khắp nơi cấp báo, lòng người rối loạn. Thạch Hổ giận dữ nói:
- Ta phụng Phật, cúng tăng mà vẫn bị nạn ngoại xâm. Phật không linh thiêng!
Sáng sớm hôm sau, sư vào triều, Thạch Hổ đem sự việc đó ra hỏi. Sư trách rằng:
- Vào thời quá khứ, bệ hạ là một thương nhân lớn, thường đến cúng dường một ngôi chùa ở nước Kế-tân. Trong đại hội có sáu mươi vị a-la-hán, tôi cũng có dự trong hội đó. Bấy giờ có một vị đã đắc đạo nói với tôi: “Người thương nhân này sau khi mạng chung đọa làm thân gà, rồi sau đó sinh lại làm vua nước Tấn”. Nay bệ hạ đã làm vua, há chẳng phải đã có phúc ư! Biên cương giặc loạn là lẽ thuờng của đất nước, sao bệ hạ lại oán trách Tam bảo, đêm qua khởi niệm ác độc như thế!
Nghe vậy, Thạch Hổ tỉnh ngộ, quỳ xin sám hối. Thạch Hổ hỏi sư:
- Đạo Phật cấm sát sinh, trẫm là vua thiên hạ, nếu không dùng hình phạt thì không thể giữ yên đất nước, như vậy là đã trái với giới sát sinh, dù phụng thờ Phật cũng đâu được phúc!
Sư đáp:
- Bậc đế vương phụng thờ Phật là ở thân cung kính, tâm tin thuận, xiển dương Tam bảo, không làm điều bạo ngược, không hại kẻ thế cô. Đối với kẻ hung ác, vô lại, thì không thể dùng lời giáo hóa, nếu chúng phạm tội không thể không giết,- tạo ác không thể không gia hình. Nhưng, người đáng giết thì giết, kẻ đáng hành hình thì hành hình. Nếu bạo ngược, tùy tiện giết người vô tội, dù có đem hết của cải để phụng sự Phật pháp cũng không thoát khỏi tai họa. Xin bệ hạ hãy giảm bớt sự tham muốn và ban trải lòng từ đến muôn loài. Có vậy, Phật pháp mới luôn hưng thịnh, ân đức bệ hạ thấm nhuần muôn phương.
Thạch Hổ tuy không làm theo hết như lời sư khuyên, nhưng ích lợi từ lời dạy của sư cũng không nhỏ.
Thượng thư của Thạch Hổ như Trương Li, Trương Lương V.V.. hết lòng phụng thờ Phật pháp, mỗi nhà đều xây một ngôi tháp lớn. Thấy thế, sư nói:
- Phụng thờ Phật cốt là trong lòng thanh tịnh, không tham muốn, biết thương xót mọi loài. Đàn việt tuy thờ phụng Phật pháp, nhưng lòng tham lam bỏn sẻn chưa dứt, săn bắn vô độ, tích chứa không cùng, e sẽ chịu tội trong đời hiện tại, mong gì có được phúc báo?
về sau, Trương Li, Trương Lương đều bị giết chết.
Có lần, sư sai đệ tử đến Tây Vực mua hương. Sau đó, sư bảo với các đệ tử khác rằng:
- Nhìn trong lòng bàn tay, ta thấy đệ tử đi mua hương bị cướp sắp giết chết ở chỗ kia.
Từ xa, sư liền đốt hương chú nguyện để cứu đệ tử. Sau đó vị ấy trở về kể lại:
- Ngày ấy, tháng ấy tại nơi ấy con sắp bị bọn cướp giết, bỗng nhiên nghe mùi hương lạ. Không biết duyên cớ gì, bon cướp sợ hãi nói: “Cứu binh đã đến!”
rồi, bọn chúng bỏ chạy.
Thạch Hổ có ý định đánh nước Yên, sư liền ngăn:
- Vận thế của nước Yên chưa hết, nên rất khó thắng.
Mấy lần Thạch Hổ đem quân đánh, nhưng đều thất bại, mới tin lời sư.
Hoàng Hà từ lâu không có loài ba ba, nhưng nay bỗng nhiên người dân ở đó bắt được một con đem dâng lên Thạch Hổ. Sư thấy vậy liền than:
- Không bao lâu Hoàng Ôn sẽ vào !
Ôn tự là Nguyên Tử, về sau, quả đúng như lời sư nói.
Có lần, sư cùng Thạch Hổ đang ở giảng đường, bỗng sư giật mình nói:
- Ư Châu đang bị hỏa thiêu!
Sư liền vẫy rượu.
Hồi lâu, sư cười nói:
- Đã cứu được rồi!
Thạch Hổ cho người đến U châu kiểm chứng. Quả đúng ngày đó lửa bốn phía bốc cháy, bỗng từ hướng nam có đám mây đen bay đến, mưa xuống dập tắt ngọn lửa, trong mưa có mùi rượu.
Tháng bảy, niên hiệu Kiến Vũ mười bốn (348), Thạch Tuyên và Thạch Thao mưu đồ giết hại nhau. Thạch Tuyên đến chùa, cùng với sư ngồi trên tháp. Bỗng, một tiếng linh reo lên, sư bảo với Thạch Tuyên:
- Ông hiểu tiếng linh nói gì không? Tiếng linh nói rằng: “Hồ tử lạc độ!”
Thạch Tuyên biến sắc nói:
- Lời này có ý gì?
Sư liền nói lãng đi:
- Lão hồ tu đạo mà không thể ở trong núi, cũng không quan tâm đến nệm dày, áo đẹp. Đây há chẳng phải ‘Tạc độ” ư?
Thạch Thao đến sau, sư nhìn chằm chằm, ông ta lo lắng hỏi sư, sư đáp:
- Kì lạ! máu của ông có mùi hôi, cho nên tôi nhìn ông như thế.
Tháng tám, sư bảo hơn mười đệ tử tu trai giới trong thất riêng, còn sư thì tạm thời trú tại gác phía đông. Thạch Hổ cùng Đỗ hậu đến thăm hỏi. Sư bảo:
- Bên hông có giặc! Nội trong mười ngày, từ tháp Phật về phía tây, từ điện này về phía đông sẽ có đổ máu, chớ đi về hướng đông.
Đỗ hậu nói:
- Hòa thượng đã lớn tuổi, e đã nhầm lẫn! Nơi này sao lại có giặc?
Sư liền nói tránh đi: -
- Lục tình đều là giặc. Tôi tự biết mình đã già, nhưng cũng có thể giúp cho người trẻ sáng suốt.
Sư liền dùng ngụ ngôn mà không nói rõ. Hai ngày sau, quả đúng Thạch Tuyên sai người đến chùa giết Thạch Thao, thừa lúc Thạch Hổ đến viếng tang để hành thích. Thạch Hổ nhờ sư răn trước nên thoát nạn. Việc bại lộ, Thạch Tuyên bị bắt. Sư can ngăn Thạch Hổ:
- Đã là con của Bệ hạ, đâu thể dùng hình phạt nặng? Nếu bệ hạ nén lòng giận, trải lòng từ, thì có thể sống đến 60 tuổi. Nếu bệ hạ giết, thì Thạch Tuyên sẽ làm sao chổi quét sạch Nghiệp cung này.
Thạch Hổ không nghe, dùng móc sắt xỏ cằm Thạch Tuyên kéo đến để trên đống củi và đốt, lại còn bắt hơn ba trăm thuộc hạ của Thạch Tuyên cột vào xe, kéo khắp nơi, phanh thây ném xuống sông Chương. Sư liền bảo cảc đệ tử rời khỏi thất riêng.
Hơn một tháng sau, có một con ngựa xuất hiện, bờm và đuôi đều có vết cháy. Nó chạy vào cửa Trung Dương và ra cửa Hiển Dương, rồi quay đầu về đông chạy vào đông cung, nhưng đều không vào được, nó chạy về phía đông bắc, trong chốc lát không thấy nữa. Nghe kể, sư liền than:
- Tai họa sắp đến rồi!
Đến tháng mười một, Thạch Hổ thết đãi quần thần ở điện Đại Vũ. Sư ngâm rằng:
- Điện! điện! Cây gai mọc thành rừng, làm rách áo người!
Thạch Hổ liền cho người đào đá dưới điện xem xét, quả có cây gai mọc ở đó.
Sư trở về chùa, nhìn tượng Phật nói:
- Thật buồn, không được trang nghiêm!
Rồi tự nói một mình:
- Được ba năm ư?
Và tự đáp:
- Không được! không được!
Sư lại nói:
- Được hai năm, một năm, một trăm ngày, một tháng ư?
Và tự đáp:
- Không được!
Rồi sư im lặng trở về phòng, bảo đệ tử Pháp Tộ:
- Năm Mậu Thân tai họa bắt đầu manh nha, năm Kỉ Dậu họ Thạch sẽ bị tiêu diệt. Nhân lúc giặc chưa nổi loạn, ta thị tịch trước vậy.
Sau đó, sư sai người đến từ biệt Thạch Hổ:
- Tất cả sự vật theo lẽ hẳn dời đổi, thân mạng khó bảo toàn. Thân huyễn hóa này đã đến lúc phải ra đi. Đã mang ân sâu nặng, nên kính cẩn tâu với đại vương vậy.
Thạch Hổ buồn bã nói:
- Không nghe hòa thượng bị bệnh, sao nay bỗng nhiên ngài bảo sẽ thị tịch?
Ông liền đích thân đến chùa thăm hỏi. Sư nói với Thạch Hổ:
- Đến đi, sống chết đó là lẽ thường, mạng sống dài ngắn phân định rõ ràng, không thể kéo dài thêm. Phàm, đạo trọng ở chỗ hạnh vẹn toàn, đức quí ở chỗ không giải đãi. Nếu giữ gìn giới đức trọn vẹn, dù chết nhưng vẫn không mất. Ngược lại, dù kéo dài thêm mạng sống, thì tôi cũng không muốn. Nay tôi có điều muốn nói: Đó là vì quốc gia để tâm vào Phật lý, tuân phụng giáo pháp, không có tâm tham tiếc, xây dựng chùa miếu cao rộng trang nghiêm. Với phúc đức đó, lẽ ra đại vương phải hưởng được phúc lạc, nhưng do đường lối cai .trị hà khắc, hình phạt tàn bạo, bên ngoài trái với thánh điển, bên trong trái với giới pháp mà không chịu răn dè, sửa đổi, nên hoàn toàn không có phúc đức. Nếu đại vương điều phục tâm ý, thay đổi suy nghĩ, ban ân đức cho muôn dân thì vận nước sẽ kéo dài, đạo tục đều được lợi lạc, dù tôi có mất đi cũng không hối tiếc.
Thạch Hổ khóc lóc nghẹn ngào, biết chắc ngài sẽ thị tịch. Ông liền cho xây một ngôi mộ tháp lớn. Đến mùng tám tháng mười hai, sư thị tịch ở chùa Nghiệp Cung, nhằm năm thứ tư niên hiệu Vĩnh Hòa (348) đời Tấn Mục đế. Quan dân buồn thương gào khóc chấn động cả đất nước. Sư thọ thế một trăm mười bảy tuổi, nhập tháp ở ngoại thành, phía tây sông Chương, tức là nơi Thạch Hổ đã xây cất.
Không bao lâu, Lương Độc nổi loạn, qua năm sau Thạch Hổ mất. Nhiễm Mẫn soán ngôi, tiêu diệt toàn bộ họ Thạch. Mẫn lúc nhỏ tự là Cức Nô, đúng như lời sư tiên đoán ngày trước “Gai (Cức) mọc thành rừng”.
Bên ngực trái của sư có một lỗ hổng rộng khoảng bốn, năm tấc thông xuống bụng. Sư lấy bông bít lại, ban đêm muốn đọc sách, rút bông ra thì ánh sáng rực rỡ khắp phòng. Vào ngày trai, sư đến bến sông lấy ruột ra từ chỗ ấy, rửa xong lại nhét vào bụng.
Sư cao tám thước, thân hình đoan nghiêm, tinh thông kinh điển, ngoài ra còn am tường các thuyết thế gian. Lúc thuyết giảng, sư luôn nêu cao tông chỉ, khiến cho văn từ trước đến sau đều rõ ràng dễ hiểu, lại trải tâm từ thấm nhuần quần sinh, thường cứu giúp những kẻ nguy khốn.
Đương thời, hai vua họ Thạch hung ác, bạo ngược vô đạo. Nếu không có sư thì ai có thể khuyên can đây? Nhưng hàng ngày trăm họ được lợi ích mà không biết vậy. Trúc Phật-điều, Tu-bồ-đề V.V.. mấy mươi danh tăng từ Thiên Trúc, Khương-cư, không ngại đường xa vạn dặm, lặn lội qua sa mạc đến sư xin thụ học. Thích Đạo An ở Phiền Miện, Trúc Pháp Nhã ở Trung Sơn, vượt qua bao núi sông hiểm trở đến nghe sư thuyết giảng, họ đều thông đạt yếu chỉ sâu xa. Sư kể rằng:
- Quê ta ở cách Kiến Nghiệp hơn chín vạn dặm, bỏ tục vào đạo một trăm lẻ chín năm, rượu không thấm môi, quá ngọ không ăn, việc trái giới không làm, không tham, không cầu. Đệ tử thân cận thường có mấy trăm, tổng cộng môn đồ khoảng một vạn, lập tám trăm chín mươi ba ngôi chùa ở các châu, quận mà ta đã đến; việc hoằng pháp hưng thịnh trước nay chưa từng có.
Lúc trước, khi Thạch Hổ tẩm liệm sư, có lấy bình bát và tích trượng của sư lúc sinh tiền bỏ vào quan tài. Nhưng khi Nhiễm Man soán ngôi, sai người mở ra thì chỉ còn lại bình bát và tích tượng, không thấy thi hài của sư.
Có người nói:
- Sư mất được một tháng, có người thấy sư ở sa mạc. Thạch Hổ nghi ngờ sư còn sống, liền cho người quật mộ, mở quan tài ra xem, chỉ thấy một hòn đá. Thạch Hổ nói:
- Thạch là trẫm vậy! Sư chôn ta rồi ra đi!
Không lâu sau, Thạch Hổ mất.
Mộ Dung Tuấn đóng đô tại Kiến Nghiệp, ở trong cung điện của Thạch Hổ. Một hôm, mộng thấy cọp (Hổ) cắn cánh tay mình, ý bảo Thạch Hổ hiện quỉ quấy phá. Mộ Dung liền cho người tìm mộ của Thạch Hổ, đến Đông Minh Quán quật mộ lên, thấy thi thể Thạch Hổ vẫn còn nguyên vẹn, Dung Tuấn đạp chân lên thi thể Thạch Hổ và mắng:
- Đã chết rồi sao còn dám dọa thiên tử đang sống? Ông xây xong cung điện, nhưng lại bị con ông mưu đoạt, huống gì là người khác!
Mắng rồi, ông ta dùng roi đánh rồi ném thây Thạch Hổ xuống sông Chương. Thi thể Thạch Hổ vướng vào chân câdu. Tướng nhà Tần tên Vương Mãnh trông thấy liền vớt lên chôn cất. Đúng như lời Ma Nhu đã nói “nhất trụ điện” vậy. Ma Nhu là một lưu dân ở huyện Ngụy, không biết thuộc dòng tộc nào. Vì ông thường mặc áo vải gai, nên gọi là Ma Nhu, hay khất thực nơi phố chợ, giống người cuồng, nhưng thật là bậc hiền. Mọi người cho rằng ông kết giao với sư. Lúc mới gặp Thạch Hổ, ông chỉ nói; “Cuối cùng bệ hạ ở dưới tòa điện một cột (nhất trụ điện).
68.8.1.3. Trúc Pháp Ấn: Sư sống vào khoảng niên hiệu Thái Nguyên (376-397) thời Tấn, tự xưng là Giai Lưu, rất được mọi người đãi ngộ. An bắc tướng quân Thái Nguyên Vương Văn Độ kết bạn thân với sư. Hai người từng luận bàn về sinh tử báo ứng, nhưng đều mờ mịt không rõ, tuy chấp nhận lí nhưng về sự thì chưa xác chứng được. Nhân đó giao ước: ‘Nếu ai chết trước mà thấy rõ thật có tội phúc thì nên về báo cho người kia biết’. Sau đó Pháp Ấn trụ ở cối Kê nhiều năm rồi qua đời. Bấy giờ Vương Văn Độ đang ở tại kinh đô, nên không hay biết. Một hôm
bỗng thấy Pháp Ấn đến thăm, Văn Độ vừa ngạc nhiên vừa vui mừng thăm hỏi. Pháp Ấn nói:
- Vào ngày tháng năm ấy, bần đạo bị bệnh mà qua đời, thấy thật có tội phúc, như bóng theo hình, như vang theo tiếng. Đàn việt nên gắng tu tạo công đức để cứu giúp tâm thần. Vì có giao ước trước kia, nên hôm nay đến báo cho biết.
Nói xong liền biến mất, từ đó về sau Vương Văn Độ mới tin nhân quả tội phúc, siêng năng tu đạo.
68.8.1.4. Sa-môn A-na-ma-để, Hán dịch Bảo Ý: Sư họ Khương, vốn người nước Khương-cư, nhưng sống tại Thiên Trúc. Vào niên hiệu Hiếu Kiến (454-457) đời Lưu Tống, sư đến trú tại kinh đô. Vì sư thông hiểu kinh luận, nên có hiệu là Tam Tạng. Sư hoán đổi vị trí của mấy trăm đồng bạc liền biết được cát hung; lại rất giỏi thần chú, chỉ cần thoa hương vào lòng bàn tay liền biết được việc quá khứ. Tống Thế tổ tặng cho sư một bình nhổ bằng đồng, cao khoảng hai thước. Sư thường đặt bên giường, một hôm bị kẻ trộm lấy mất. Sư liền cuộn một tấm chiếu, rồi tụng mấy biến thần chú. Trải qua ba đêm, bình nhổ tự nhiên xuất hiện trong cuộn chiếu, không ai biết vì sao. Từ đó đạo tục càng cung kính, tôn trọng sư.
68.8.1.5. Sa-môn Bôi Độ: Không rõ sư tên họ là gì, mọi người thường thấy sư cưỡi bát gỗ qua sông, nên gọi là Bôi Độ. Ban đầu, sư ở Kí châu, không câu nệ uy nghi tế hạnh, nhưng thần lực siêu việt, thế gian không ai lường được.
Có lần, sư nghỉ lại qua đêm trong một gia đình ở phương bắc. Trong nhà có một tượng Phật bằng vàng, sư lén mang đi. Chủ nhà thức dậy, cho người đuổi theo. Sư đi rất chậm mà họ phi ngựa đuổi theo không kịp. Đến sông Mạnh Tân, sư lại thả bát gỗ xuống nước để sang sông, không có gió mà đi nhanh như bay. Không bao lâu, sư sang đến bờ, vào kinh đô. Năm đó, sư khoảng bốn mươi tuổi.
Sư thường mặc áo quần rách rưới, lam lũ không đủ che thân, nói năng tùy tiện, mừng giận bất thường. Có lúc trời giá lạnh mà tắm gội, hoặc mang giày cỏ lên non, hoặc đi chân trần vào phố chợ, chỉ mang theo một giỏ sậy, không có vật gì khác. Có lúc sư lại đến chùa Diên Hiền, đạo nhân Pháp Ý tiếp đãi sư ở một phòng riêng.
Một hôm sư muốn sang sông Qua Bộ, bèn đi men theo bờ xin đi nhờ thuyền, nhưng người chèo không chịu. Sư bèn đặt chân vào bát gỗ, nhìn quanh, ngâm thơ ê a, cái bát tự nhiên trôi thẳng, đưa sư sang tới bờ.
Đến Quảng Lăng, sư gặp hội Bát quan trai tại nhà họ Lý trong thôn. Dù không quen biết, nhưng sư vẫn đi thẳng vào ngồi trong trai đường, đặt giỏ sậy giữa nhà. Mọi người thấy sư rách rưới, nên có ý bất kính. Ông Lý thấy giỏ sậy nằm chắn lối đi, muốn dời qua chân tường, nhưng mấy người nhấc lên cũng không nổi. Thụ trai xong, sư đến lấy mang đi nhẹ nhàng, và cười nói:
- Tứ thiên vương!
Lúc ấy, một nô bộc nhỏ tuổi của ông Lí nhìn vào giỏ, thấy bốn đứa bé cao khoảng vài tấc, diện mạo đoan chính, áo quần sạch đẹp. Thế là mọi người đuổi theo, tìm kiếm khắp nơi nhưng không gặp. Ba ngày sau, mọi người thấy sư ngồi dưới tàng cây rậm rạp ở phía đông nhà, ông Lý đến lễ bái thỉnh sư về, cúng dường mỗi ngày. Sư không ăn chay mà lại uống rượu ăn thịt, chẳng khác người thế tục. Mọi người cúng dường, có lúc sư nhận, có lúc không.
Lưu Hưng Bá người nước Bái làm thứ sử Duyên châu, sai sứ giả sang thỉnh. Sư mang theo giỏ sậy, Hưng Bá cho người nhấc lên xem thử, nhưng hơn mười người vẫn không nhấc nổi. Hưng Bá đích thân đến nhìn, chỉ thấy một chiếc áo rách và một cái bát gỗ.
Sau, sư trở về nhà họ Lý, ở lại đây hơn hai mươi ngày. Sáng sớm hôm ấy bỗng nhiên sư nói:
- Tôi muốn có một chiếc cà sa, trưa nay phải có.
Ông Lý hết lòng lo liệu, nhưng đến trưa vẫn chưa có. Sư nói:
- Ta đi đây một lát!
Đến tối, không thấy sư trở về, cả thôn thoảng nghe có mùi hương lạ, mọi người nghi ngờ, chia nhau đi tìm khắp nơi. Đến chân núi phía bắc họ thấy sư nằm trên tấm cà-sa rách, an nhiên thị tịch, nơi đầu và chân đều mọc lên hoa sen thơm ngát, suốt một ngày mới héo. Người khắp vùng chung nhau lo lễ an táng sư. Vài hôm sau, một người từ phương bắc đến kể:
- Tôi gặp sư quảy giỏ sậy đến Bành Thành.
Nghe thế, mọi người đào quan tài lên, chỉ thấy còn lại một đôi giày.
Khi sư đến Bành Thành, cư sĩ Hoàng Hân là người tin sâu Phật pháp đến đỉnh lễ và thỉnh về nhà. Gia đình ông ta rất nghèo, chỉ ăn lúa mì mà thôi, nhưng sư vui vẻ ở lại đây nửa năm. Một hôm sư chợt nói với Hân:
- Hãy tìm cho tôi ba mươi sáu cái giỏ sậy, tôi cần dùng đến nó.
Hân đáp:
- Nhà chỉ có được mười cái, vì nghèo nên không mua thêm được, e rằng con không lo đủ cho thầy!
Sư nói:
- Ông hãy tìm kỹ lại, trong nhà ắt có đủ.
Hân bèn lục tìm khắp, quả đủ ba mươi sáu cái, rồi bày ra hết trong sân. Tuy đủ, nhưng nhiều cái đã hư rách. Đến khi Hân lần lượt xem lại, chúng đều trở thành mới. Sư âm thầm đậy giỏ lại rồi bảo Hân mở ra, liền thấy trong các giỏ đều đầy ắp tiền bạc lụa là. Người hiểu biết cho rằng sư đã phân thân đến nước khác nhận vật cúng dường, trở về bố thí cho Hân. Hân thụ nhận tất cả rồi dùng vào việc tu tạo công đức.
Khoảng một năm sau, sư từ biệt ra đi. Hân chuẩn bị nhiều lương thực cúng dường, nhưng sáng hôm sau nhìn thấy lương thực vân còn nguyên, không biết sư đi đâu. Khoảng một tháng sau sư đến kinh đô. Bấy giờ ở vùng Triều cấu có một người tên là Chu Văn Thù, thuở nhỏ đã tin kính Phật pháp, sư thường đến nhà người này. Một hôm Văn Thù thưa: “Ví như đệ tử xả thân lìa khổ, cúi xin thầy cứu giúp; nếu được sinh về chỗ tốt, nguyện làm pháp lữ!”. Sư không đáp. Văn Thù vui mừng nói: “Trong Phật pháp, hễ im lặng tức là đã chấp nhận”.
Sau, trên đường đến Ngô quận, sư gặp người câu cá, liền đến xin cá. Ông ta đưa một con cá chết, sư cầm lật qua lại rồi thả xuống sông, cá sống lại bơi đi. Một lát sau, sư đến ông chài xin cá, ông này tức giận mắng chửi, không cho. Sư nhặt hai viên đá ném xuống sông, bỗng có hai con trâu húc nhau trong lưới. Khi lưới rách, trâu biến mất sư cũng không còn ở đó. Đến Tùng Giang, sư lật ngửa cây dù làm thuyền để qua sông.
Sư đến huyện Diệm ở cối Kê rồi lên núi Thiên Thai, ở đây được vài tháng, lại trở về kinh đô. Nơi đây có một vị tăng nước ngoài tên là Tăng-khứ-tra trú ở chùa Trường Can. Vị khách tăng đồng phòng với Khứ-tra tên là Tăng Ngộ, ban đêm nhìn qua khe cửa sổ thấy Tăng-khứ-tra ôm cột chùa bay vào trong mây, sau đó mang trở về. Tăng Ngộ tuy thấy vậy, nhưng không dám nói, chỉ thầm kính ngưỡng mà thôi. Cũng trong thời gian này, lại có một người tên là Trương Nô, không rõ quê quán nơi đâu, ít khi thấy ông ăn uống mà thân hình vẫn béo mập, nét mặt luôn vui tươi. Dù đông hay hạ, sư cũng chỉ mặc một chịếc áo mỏng. Một hôm đang đi trên đường thì gặp Trương Nô, Khứ-tra nói: “Phía đông ta gặp Thái Đồn, phía nam ta thăm hỏi Mã Sinh, phía bắc ta gặp Vương Niên, nay ta muốn gặp Bôi Độ mà lại gặp ông”. Trương Nô nâng cây hòe lên và than:
Trong Đại tượng mênh mông
Chiếu soi thật rõ ràng
Việc gì mê chúng loại
Dối gạt rước tai ương.
Chốn vui ít người đến
Đường khổ lại đến nhiều
Chẳng có chí kiên cố
Làm sao chịu gió sương
An nhàn vượt mây tía
Lời ca thấu trời cao
Lắng tâm nước vô sắc
Nên gặp làng hữu duyên
Tuế Diệu phò Hán Hậu
Thần Lệ giúp Ân vương
Ta, y chẳng phải tiên
Tại chín phương ẩn giấu
Cũng thấy hàng phàm tục
Gặp mặt thật đau lòng
Vài lời bày tâm ý
Đâu tận nỗi lòng này ”
Tăng-khứ-tra liền đáp; “ Trước kia gặp tiên sinh đã biết tâm định sâu xa, một lần nhập thiền trải qua trăm năm, đại bi huân tâm, lăng niệm, thân như bộ xương khô”. Lại làm thi kệ:
Mênh mông cõi thế
Tăng trưởng hơn thua
Dục sử nhiễm tâm
Vọng sinh vui thú.
Chỉ bậc triết này
Ngộ sâu, thấy rõ
Xem thân như bọt
Quán hình như chớp
Dẹp bỏ vinh hoa
Khinh chê danh lợi,
Thấy sắc ngộ không
Nhìn vật biến hoại
Lìa động, dứt hữu
Đoạn tập, trừ ải
Cành xanh che mát
Chiếu dùng Bạch mao
Ẩn nơi đồng ruộng
Uống tại non xanh
Định tuệ phóng quang
Diệu chân tỏ rạng
Lại tăng từ bi
Chẳng nhàm thâm định.
Nói xong, hai người chia tay. Trải qua nhiều năm tháng cũng không ai gặp lại. Nghe truyền rằng, Tăng Khứ dẫn Tăng Ngộ vào Nam Nhạc mà không thấy trở về. Còn Trương Nô gặp Bôi Độ, hai bên luận đàm rất nhiều, nhưng không ai hiểu. Sư còn lưu lại kinh đô trong thời gian ngắn nữa.
Sư đến đi không cố định, được người thỉnh mời có lúc đến, lúc không. Bấy giờ, ở Nam Châu có một gia đình họ Trần rất giàu. Khi sư đến, cả nhà đều hết lòng kính phụng. Nghe ở kinh đô lại có một Bôi Độ, năm cha con họ Trần không tin, tìm đến xem, quả rất giống sư Bôi Độ đang ở nhà mình. Ông Trần dọn ra một hộp mật gừng, một con dao và một chiếc khăn tay ướp hương huân lục. Sư ăn hết mật gừng, những thứ còn lại thì đặt trên đùi. Mọi người đều nghi là sư Bôi Độ ở nhà mình, liền cho hai người em ở lại theo dõi, ba người còn lại quay về nhà, thấy sư Bôi Độ ở nhà cũng có cây dao, khăn thơm V.V.. chỉ khác là không ăn mật. Sư bèn nói với ông Trần:
- Cây dao này lụt quá, ông mài lại giúp tôi!
Hai người em trở về báo rằng sư Bôi Độ kia đã đến chùa Linh Thứu.
Một hôm sư nói với họ Trần là cần gấp hai tấm giấy màu vàng để viết chữ. Trần chuẩn bị giấy bút, nhưng sư viết không thành chữ. Trần đến hỏi sư là viết bằng khoán gì. Sư không đáp, cuối cùng chẳng ai biết được ý sư. Từ đó, sư tuyệt tích nơi đây. Nhưng Bôi Độ tại kinh đô thì thường thấy qua lại các vùng sơn ấp, trì thần chú cứu người.
Có nô tỳ tên Dữu Thường ăn trộm đồ vật rồi bỏ trốn, tìm bắt khắp nơi nhưng không được, họ đem việc này hỏi sư, sư đáp:
- Nó chết rồi! Chôn bên bờ sông tại Kim thành.
Họ đến xem, quả đúng như vậy.
Khổng Ninh Tử đương thời làm Hoàng môn thị lang, mắc bệnh lị, cho người mang thư đến thỉnh sư, sư chú nguyện xong và nói:
- Khó qua khỏi, vì ta thấy bốn quỷ đều bi thương.
Ninh Tử khóc lóc nói:
- Trước đây Tôn Ân làm loạn, nhà cửa bị quân lính tàn phá, cha mẹ và chú đều chịu cảnh khổ sở.
Không bao lâu, Ninh Tử qua đời.
Sau, mẹ vợ của Tề Hài là Hồ thị bị bệnh, nhưng không ai trị khỏi. Gia đình thiết lễ trai tăng cúng dường. Bấy giờ có đạo nhân Tăng Thông khuyên ông ta thỉnh sư, sư đến chú nguyện, bệnh bà ấy lành hẳn, Tề Hài kính phục, xin làm đệ tử, nhân đó viết truyện ký về sư.
Những chuyện thần kỳ của sư, xưa nay không thể nào ghi hết. Tháng chín niên hiệu Nguyên Gia thứ ba (427), sư từ biệt Tề Hài, đi về hướng đông và gởi lại Tề Hài một vạn lạng bạc thay sư sắm sửa lễ vật cúng dường chư tăng. Sư đi đến bờ hồ ở Xích Sơn thì mắc bệnh lị rồi viên tịch. Tề Hài làm lễ trai tăng như lời sư dặn và thỉnh nhục thân sư về an táng tại núi Phú Chu tỉnh Kiến Nghiệp.
Niên hiệu Nguyên Gia thứ tư (428) có Thiệu Tín ở Ngô Hưng tôn sùng Phật pháp, mắc bệnh thương hàn, không ai dám chăm sóc. ông ta buồn khóc niệm bồ-tát Quán Âm, bỗng thấy một vị tăng đến nói:
- Ông đừng đau buồn! Tôi là đệ tử sư Bôi Độ, thầy tôi sẽ đến trị liệu cho ông.
Thiệu Tín thưa:
- Sư Bôi Độ viên tịch đã lâu, sao đến đây được?
Vị tăng nói:
- Sống lại có khó gì?
Nói xong, vị tăng liền lấy trong thắt lưng ra một hộp thuốc đã tán nhỏ, cho uống, bệnh liền lành hẳn.
Lai có Đỗ Tăng Ai nhà ở chân núi phía nam, trước đây đã từng hầu hạ sư, con trai bị bệnh rất nặng, ông ta buồn tủi vì không còn được sư chú nguyện. Hôm sau chợt thấy sư đến, nói năng bình thường và chú nguyện cho, con ông liền hết bệnh.
Tháng ba niên hiệu Nguyên Gia thứ năm (429) sư trở lại nhà Tề Hài. Lữ Đạo Tuệ nghe nói thì lòng buồn thương, còn Đỗ Thiên Kỳ, Thủy Khâu Hy nhìn thấy sư, họ đều kinh ngạc, lễ bái. Sư nói với mọi người:
- Năm nay có đại nạn, phải siêng tu phúc, sư Pháp Ý rất có đức, hãy đến nương và tu sửa chùa tháp để trừ tai họa.
Một lát sau, ngoài cửa có một vị tăng gọi sư, sư bèn từ biệt, nói:
- Bần đạo sẽ về Giao Quảng, không trở lại nữa.
Tề Hài cùng mọi người lễ bái, ân cần đưa tiễn, thế rồi sư biến mất. Gần đây, mọi người bảo cũng có thấy sư, nhưng chưa xác minh việc ấy, nên không lưu truyền.
68.8.1.6. Thích Huyền Sướng: ngày mười bảy tháng năm nhuần, niên hiệu Nguyên Gia hai mươi hai (445), sư từ Bình Thành đến Thượng Cốc ở Đại quận, rồi đi về phía đông, vượt núi Thái Hành đến Ư Kí, lại theo hướng nam đến Mạnh Tân. Sư chỉ mang theo một bó dương chi và một nắm lá hành. Khi kị binh của Hung Nô sắp đuổi kịp, sư liền lấy bó dương chi tung cát mù mịt, khiến người, ngựa không thể tiến tới. Lát sau cát lắng xuống, giặc lại đuổi tiếp, sư liền lao xuống sông, đặt lá hành vào mũi để thở bơi qua sông.
Ngày mồng một tháng tám, sư đến Dương châu. Bấy giờ, sư đã thông suốt kinh luật, hiểu sâu yếu chỉ thiền, dự đoán những điềm tốt xấu rất ứng nghiệm. Tống Văn đế rất kính phục, thỉnh sư làm thầy Thái tử. Sau sư đến trụ tại chùa Trường Sa ở Kinh châu. Sư thi triển các thuật như duỗi tay xuất hiện hương, trong lòng bàn tay có nước chảy, không ai lường biết được.
Cuối đời Tống, sư lên thuyền đi đến Thành Đô, trú ở chùa Đại Thạch, đích thân họa tượng mười sáu vị thần như: Kim Cương Mật Tích v.v... Niên hiệu Thăng Minh thứ ba (479), sư đi về phía tây ngoạn cảnh Mân Lĩnh và đến huyện Quảng Dương phía bắc quận Mân sơn. Tại đây có núi Tề Hậu hùng vĩ, sư có ý định trụ suốt đời, bèn kết cỏ làm am cạnh hang núi.
về sau, đệ tử Pháp Kì thấy vị thần cưỡi ngựa mặc đơn y màu xanh, nhiễu quanh núi một vòng và trở lại chỉ nơi lập tháp.
Ngày hai mươi ba tháng tư niên hiệu Kiến Nguyên thứ nhất (479), sư xây dựng chùa Tề Hưng, cũng là ngày Tề Thái tổ lên ngôi. Thật là việc vua, việc Pháp cách xa vạn dặm mà thâm hợp. Thời ấy, Phó Diễm trấn giữ Thành Đô, kính trọng đức hạnh của sư, nên dùng lễ bậc thầy mà tiếp đãi. Sau khi lập chùa, sư gởi thư cho Diễm. Trong thư viết:
- Bần đạo sống nơi rừng núi đã nhiều năm, đến nay cũng già suy lại lắm bệnh. Vì nhàm chán chốn đông người, nên đến vùng Mân lĩnh, chọn lấy núi này, đông giáp Quảng Lăng, cách thành nghìn bước, xuyên suốt kéo dài, non cao trùng điệp. Từ đỉnh tuôn chảy bốn khe, toàn non bày ra năm ngọn, bao quanh Hoài ấp, nhìn rộng ba phương, núi đồi vây bủa, xa xa trông thấy các dòng. Vào ngày hai mươi ba tháng tư năm ngoái khởi công xây dựng, trước mùa đông đàn việt đến đây thăm hỏi, hôm ấy đúng ngày bệ hạ lên ngôi.
Từng nghe: Đạo hợp Thái cực thì điềm lành tự hiện, đức đồng lưỡng nghi thì linh ứng nhất định hiển bày. Vì thế Hà Lạc là điềm làm rạng rỡ triều Chu, đá linh là điềm biểu thị cho nhà Tấn. Kính cho rằng, ngày nay có núi này minh chứng, há chẳng phải là điềm linh ứng cho Tề đế hay sao? Đàn việt có tâm phụng quốc sâu dày, dẫn đến vận nước đã sáng, thời cơ đã hiển bày, há có thể bỏ qua hay sao? Nay soạn một bài Sơn tán để bày tỏ lòng này:
Non Tề Hầu kì vĩ
Lại cũng rất thâm u
Điềm lành ẩn bao đời
Đế lập mới hiện rõ.
Núi non mang nhà Thánh
Lập quốc lại vang danh
Dưới chân mây giăng khắp
Trên đỉnh ráng trải bằng.
San non cao lập viện
Lấp vách đứng chép kinh
Ngày khởi công xây dựng
Đúng thời chúa lên ngôi.
Đạo đồng với lưỡng nghi
Bốn biển đều một lòng
Vận nước thật bền lâu
Non đức hiện điềm lành.
Phó Diễm viết sớ tâu việc này lên triều đình, vua ban sắc cấp cho chùa bổng lộc một trăm hộ. Khi Tề Vũ đế lên ngôi, Tư đồ Văn Tuyên vương hạ chiếu thỉnh sư về đông. Sư bị bệnh trên đường đi, nhưng vẫn đên kinh đồ, bởi đại chúng đều trông mong. Khi đên kinh, vua thỉnh sư trú tại chùa Linh Căn, không bao lâu, sư thị tịch, thọ sáu mươi chín tuổi.
68.8.2. Các huyễn thuật thế gian
68.8.2.1. Đời Tấn, Triệu hầu: Thân hình ông rất thấp bé, chỉ cao vài thước, nhưng từ nhỏ rất thích chú thuật. Ông thường múc một thau nước đầy, nhắm mắt tụng thần chú, lập tức cá rồng hiện trong thau. Trong nhà bị mất gạo trắng, ông lấy khăn trùm đầu, cầm đao vạch trên đất làm nhà ngục, có bốn cửa. ông hướng về đông kêu mấy tiếng, cả bầy chuột liền tập trung vào ngục vẽ. Ông bảo; “Con nào không ăn gạo thì bước qua!. Chỉ còn lại hơn mười con, ông sai người mổ bụng chuột, thấy trong đó có gạo trắng. Khi ông mất giày, thì ngẩng đầu ngâm nhè nhẹ, tự nhiên đôi giày hiện đến. Có người cười chê ông thấp lùn, ông liền đặt một li rượu trước mặt người ấy, người ấy liền bịt mũi không buông, vội cúi lạy tạ tội thì dính luôn trên đất, không nhấc thân lên được. Trên núi Kị Thạch tại Vĩnh Khương có tượng người đá cưỡi ngựa đá, ông kết án rồi chỉ vào tượng thì cả ngựa và người đá đều rơi đầu.
68.8.2.2. Hạ tướng quân: Bảo Phác Tử ghi: “Ngày xưa vua Ngô sai Hạ tướng quân đánh sơn tặc, trong quân của sơn tặc có người giỏi thần chú. Mỗi khi giao chiến, quan quân không thể rút đao, tên bắn ra đều quay lại nhằm vào quân mình, thật vô cùng bất lợi. Hạ tướng quân suy nghĩ mãi, mới bảo: ‘Ta nghe nói có binh khí kim loại thì mới trì chú phá dẹp, có trùng độc thì mới trì chú đối trị. Nay nếu ta không có binh khí kim loại, không có trùng độc thì chúng không thể trì chú được. Chúng có thể trì chú phá binh khí của ta, nhưng không thể trì chú phá vật không phải đao kiếm’. Thế là Hạ tướng quân sai người làm gậy bằng gỗ cứng, chọn năm nghìn quân dũng mãnh cầm gậy gỗ trắng xông lên trước. Bấy giờ sơn tặc cậy có người giỏi chú thuật, nên không phòng bị nghiêm ngặt. Đến lúc quan binh dùng gậy gộc tấn công, thần chú của chúng không hiệu nghiệm, do đó bị đánh chết mấy vạn và hoàn toàn bại trận”.
68.8.2.3. Huyễn sư: Hậu Hản thư của Phạm Huy ghi: ‘‘Niên hiệu Vĩnh Ninh thứ nhất (120), Thiền quốc vương của Tây Nam đến triều dâng thuốc và huyễn sư. Huyễn sư này tự cho rằng có thuật biến hóa, phun lửa, tự cắt đứt chi thể, thay đổi đầu của trâu và ngựa. Vào ngày tết Nguyên đán năm sau, huyễn sư này thực hành chú thuật ngay tại triều, vua và các quan đều chứng kiến. Tất cả đều lấy làm lạ”,
Hậu Ngụy thư còn ghi: “Đời Duyệt Ân, Quốc Trinh quân năm thứ chín, vua sai sứ vào triều cống nạp phẩm vật và đưa huyễn sư đến. Người này tự cho rằng có thể cắt đứt cổ, đập thủng đầu một người, làm cho máu tuôn tràn hoặc một thăng hoặc vài thăng, sau đó đưa thuốc vào miệng người ấy bảo nhai nuốt, thì máu ngừng chảy. Thế tổ cho là hư dối, bèn đưa một tử tù đến thử nghiệm, thì đều đúng như lời huyễn sư nói. Lại có thể khiến trời tuôn mưa, thổi gió mạnh, tuyết rơi dày, nước dâng đầy hồ.
68.8.2.4. Các huyễn thuật: Bắc Lương lục trong Thập lục quốc Xuân Thu của Thôi Hồng ghi: “Triều Bắc Lương, tháng bảy niên hiệu Huyện Thỉ thứ mười bốn (425), Tây Vực đến triều cống và truyền các phép huyễn thuật kì bí như nuốt đao, phun lửa.
Tây Lương tạp kí ghi: “Khúc Đạo Long rất giỏi về thuật biến hóa, ông nói Hoàng công người ở Đông Hải lúc nhỏ có thể chế phục rắn độc, cưỡi cọp dữ, đứng thì nổi mây tuôn mưa, ngồi thì biến ra sông núi.
Lại vào niên hiệu Vĩnh Gia (307-313) đời Tấn, có một người Thiên Trúc đến Giang Nam. Người này có thuật cắt lưỡi rồi nối lại, phun lửa. Quan dân trong vùng tụ tập xem người này biểu diễn. Trước khi cắt, ông ta thè lưỡi ra cho mọi người thấy, sau đó mới dùng dao cắt, khiến máu chảy thấm đất, rồi ông ta đặt phần lưỡi đã cắt vào bát truyền nhau cho mọi người cùng xem, phần kia còn lại trong miệng. Sau đó ông ta ráp nối lại, trong chốc lát ngồi xuống chỉ cho mọi người thấy lưỡi vẫn như cũ, chẳng biết thật có cắt hay không. Có lúc ông lại bảo hai người cầm hai đầu dải lụa, dùng kéo cắt đứt, sau đó cầm lấy hai đoạn hợp lại rồi đọc thần chú, hai dải lụa liền lại như cũ. Người bấy giờ phần nhiều nghi là ảo thuật, nên ngầm thử, mới biết tấm lụa ông ta nối vẫn là tâm lụa cũ. Về việc phun lửa, trước tiên ông bỏ thuốc vào bát, lấy một ít ngậm chung với mạch nha, thổi hai ba lần, rồi há miệng, thì trong miệng đầy lửa, đốt vật thì phát cháy. Ông lại ném chỉ tơ và giấy vào lò lửa, mọi người đều thấy hai vật này cháy tiêu, nhưng ông đến gạt lửa lấy ra, cả hai vẫn còn nguyên vẹn.
68.8.2.5. Các việc trong Linh quỉ chí: Sách này ghi: “Niên hiệu Thái Nguyên mười hai (387) đời Tấn, có một đạo nhân người nước ngoài đến Trung Quốc. Vị này có khả năng phun lửa, nuốt đao, nuốt châu ngọc, vàng bạc. Vị ấy cũng nói rằng mình học thuật này từ một vị cư sĩ, không phải sa-môn. Vị này đi trên đường thấy một người mang một cái lồng nhỏ, có thể chứa được một thăng. Vị ây nói:
- Tôi đi đường mỏi mệt quá, nhờ ông mang giúp tôi.
Người kia nghe nói, cho là kẻ điên, nên bảo:
- Được! Ông muốn gửi bao nhiêu thì đặt vào đó!
Vị ấy nói:
- Nếu đã đồng ý thì tôi muốn vào trong lồng này.
Người kia càng cảm thấy kì lạ, nhưng vẫn đặt lồng xuống, vị ấy liền bước vào. Nhưng lồng cũng không lớn ra mà vị ấy vẫn không thu nhỏ, người kia mang đi cũng không cảm thấy nặng hơn. Đi khoảng vài mươi dặm, người ấy dừng nghỉ bên gốc cây để ăn cơm và mời vị ấy cùng ăn, thì được trả lời: ‘Tôi tự có thức ăn’. Vị ấy không bước ra ngoài, vẫn ở trong lồng bày biện đầy đủ các món ngon vật lạ, rồi mời lại người mang lồng cùng ăn.
Dùng chưa được một nửa, vị ấy lại nói: ‘Tôi muốn cùng ăn với vợ!’. Thế là từ miệng nhả ra một cô gái khoảng hai mươi tuổi, áo quần và dung mạo đều rất xinh đẹp, cô gái cùng ngồi dùng cơm. Ăn sắp xong, chồng nằm ngủ, lúc ấy người vợ nói với người gánh lồng: ‘Ta có một người tình, muôn cùng được ăn cơm, khi chồng ta thức dậy, ông chớ nói lại!’. Thế là cũng từ trong miệng, người nữ lại nhả ra một thiếu niên, cả hai cùng ngồi ăn cơm. Bấy giờ trong lồng đã có ba người, nhưng cũng như trước, không rộng hơn cũng không chật hơn. Một lát sau, người chồng cử động, hình như sắp thức. Cô gái cho là chồng sắp thức, nên với người mang lồng: ‘Hãy đi!’. Thế là người nữ đưa thiếu niên kia và tất cả những chén bát thức ăn vào miệng mình.
Đạo nhân đến một gia đình rất giàu, của cải vô số, nhưng cũng rất bỏn xẻn. Ông nói với người mang mình:
- Ta thử vì ông, phá dẹp tính bỏn xẻn của kẻ kia.
Thế là ông bảo người ấy mang mình đến đó. Trong nhà giàu ấy có một con ngựa giỏi, chủ nhà xem như báu vật, ngựa thường được buộc tại một cây trụ. Hôm ấy bỗng nhiên ngựa biến mất, mọi người tìm kiếm khắp nơi nhưng không được. Sáng hôm sau thì thấy ngựa bị kẹt trong một cái thùng gỗ năm thăng, mà không thể nào phá cho ngựa ra được. Đạo nhân đến bảo:
- Nếu ông chuẩn bị thức ăn chu cấp cho một trăm người nghèo khổ, thì con ngựa này thoát được!
Chủ nhân vội vàng làm theo lời bảo, ngựa lại trở về nơi cây trụ như trước. Sáng hôm sau, cha mẹ ông ta đang ngồi trong nhà chính, bỗng nhiên biến mất; mọi người trong nhà hoảng hốt không biết họ đi đâu, mới mở hộp chứa đồ trang điểm ra thì thấy cha mẹ ở trong cái bầu đựng cao xoa mặt, không biết làm sao thoát ra ngoài. Chủ nhà đến cầu khẩn đạo nhân, đạo nhân lại bảo: ‘Hãy chuẩn bị thức ăn ban cấp cho một nghìn người nghèo khổ, thì cha mẹ ông sẽ thoát được!
Chủ nhà làm theo, thì cha mẹ tự nhiên trở về ngồi trên giường”.
68.8.2.6. An Khai: U minh lục ghi: “An Khai là vu sư ở An Thành, rất giỏi huyễn thuật, thường đến miếu thờ thần. Có lúc Khai đánh trống giết ba con vật tế thần, sau khi chất củi đốt lửa cháy hừng hực, Khai buộc đai, rồi nhảy vào đống lửa, trong khi giấy tiền Thế là ông bảo người ấy mang mình đến đó. Trong nhà giàu ấy có một con ngựa giỏi, chủ nhà xem như báu vật, ngựa thường được buộc tại một cây trụ. Hôm ấy bỗng nhiên ngựa biến mất, mọi người tìm kiếm khắp nơi nhưng không được. Sáng hôm sau thì thấy ngựa bị kẹt trong một cái thùng gỗ năm thăng, mà không thể nào phá cho ngựa ra được. Đạo nhân đến bảo:
- Nếu ông chuẩn bị thức ăn chu cấp cho một trăm người nghèo khổ, thì con ngựa này thoát được!
Chủ nhân vội vàng làm theo lời bảo, ngựa lại trở về nơi cây trụ như trước. Sáng hôm sau, cha mẹ ông ta đang ngồi trong nhà chính, bỗng nhiên biến mất; mọi người trong nhà hoảng hốt không biết họ đi đâu, mới mở hộp chứa đồ trang điểm ra thì thấy cha mẹ ở trong cái bầu đựng cao xoa mặt, không biết làm sao thoát ra ngoài. Chủ nhà đến cầu khẩn đạo nhân, đạo nhân lại bảo: ‘Hãy chuẩn bị thức ăn ban cấp cho một nghìn người nghèo khổ, thì cha mẹ ông sẽ thoát được!
Chủ nhà làm theo, thì cha mẹ tự nhiên trở về ngồi trên giường”.
68.8.2.6. An Khai: U minh lục ghi: “An Khai là vu sư ở An Thành, rất giỏi huyễn thuật, thường đến miếu thờ thần. Có lúc Khai đánh trống giết ba con vật tế thần, sau khi chất củi đốt lửa cháy hừng hực, Khai buộc đai, rồi nhảy vào đống lửa, trong khi giấy tiềnvàng mã cháy hết mà thân thể và y phục của ông vẫn y như cũ. Bấy giờ Vương Nghi Chi làm quan tại Giang châu, ông dò xét lúc Vương Nghĩ Chi đi trên đường, liền đến chải tóc, cài lá sen lên đầu làm mũ. Vương cảm thấy hơi có chút khác lạ, nhưng đến chỗ ngồi rồi mới biết trên đầu có lá sen. Tất cả mọi người đều kinh ngạc”.
68.8.2.7. Nhà huyễn thuật Tây Vực: Liệt Tử ghi: “Vào thời Chu Mục vương (1001BC-946BC), có một nhà huyễn thuật vào nước Tây Cực. Người này có khả năng vào nước lửa như đi trên đất, xuyên qua vàng đá, lật núi sông, dời thành ấp, đi trên hư không mà chẳng rơi, chạm vật không ngăn ngại, thiên biến vạn hóa, không thể kể hết. Đã biến hình thể của vật, lại còn thay đổi suy nghĩ của người nữa. Chu Mục vương kính trọng người ấy như thần.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
15/12/2015
PUCL QUYỂN 70 - CHƯƠNG THỤ BÁO (tt)
QUYỂN 70 Quyển này tiếp theo chương Thụ báo. 79. CHƯƠNG THỤ BÁO (tt) 79.11. QUẢ BÁO ÁC Nêu có hình thì ảnh hiện, có tiếng tức có vang. Chưa thấy việc hình còn mà ảnh đã mất, tiếng đang dội mà vang đã dừng. Lẽ thiện ác có...
15/12/2015
PUCL QUYỂN 69 - CHƯƠNG THỤ BÁO
QUYỂN 69 Quyển này gồm một chương Thụ báo. 79. CHƯƠNG THỤ BÁO 79.1. LỜI DẪN Nghiệp dụng của thiện ác chính là biểu hiện của ba báo. Cả hai giống như bóng theo hình, rõ ràng như sáu đường đã minh chứng. Ba báo: - Hiện báo...
15/12/2015
PUCL QUYỂN 68 - CHƯƠNG NGHIỆP NHÂN
QUYỂN 68 Quyển này gồm một chương Nghiệp nhân. 78. CHƯƠNG NGHIỆP NHÂN 78.1. LỜI DẪN Bước vào dòng Thánh thì sông ái yên láng, ngũ trược trong xanh; đánh mất tông chỉ thì núi tà chân động, ba chướng nổi bùng. Tỉnh tâm mà...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 67 - CHƯƠNG OÁN KHỔ (tt)
QUYỂN 67 Quyển này tiếp theo chương khổ. 77. CHƯƠNG OÁN KHỔ (tt) 77.6. CÁC LOẠI VI TRÙNG TRONG THÂN Thiền bí yếu pháp ghi: “Lại nữa, Xá-lợi-phất! Lúc hành giả nhập thiền định, dục giác phát khởi gió tham dâm, kích động b...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 66 - CHƯƠNG OÁN KHỔ
QUYỂN 66 Quyển này có một chương Oán khổ. 77. CHƯƠNG OÁN KHỔ 77.1. LỜI DẪN Ba cõi xoay vần, sáu đường chìm nổi. Bản tính sáng suốt không biến hoại, ý thức phân biệt luôn chấp trì; chợt sinh chợt tử, lúc đến lúc đi, thân...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 65 - CHƯƠNG PHÓNG SINH, CỨU NGUY
QUYỂN 65 Quyển này gồm hai chương: Phóng sinh và Cứu nguy. 75. CHƯƠNG PHÓNG SINH 75.1. LỜI DẪN Từng nghe: chúng sinh si mê, loài nào cũng tham sống; hàm linh ngu độn, sợ chết là lẽ thường. Thế nên, hổ bị mất rừng cùng kh...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 64 - CHƯƠNG SĂN BẮN, CHÀI LƯỚI
QUYỂN 64 Quyển này gồm hai chương: Săn bắn-chài lưới, Từ bi. 73. CHƯƠNG SĂN BẮN-CHÀI LƯỚI 73.1. LỜI DẪN Kính nghĩ: Như Lai lập giáo, rất chuộng nhân từ, nên trong các giới điều, sát sinh là nặng nhất. Bởi chúng sinh tham...
11/12/2015
PUCL QUYỂN 63 - CHƯƠNG CẦU MƯA VÀ VƯỜN CÂY
QUYỂN 63 Quyển này gồm hai chương: cầu mưa và Vườn cây. 71. CHƯƠNG CẦU MƯA 71.1. LỜI DẪN Thánh đạo rỗng lặng, nên biến hóa vô cùng; do biến hóa vô cùng, nên hễ ứng hiện thì đều khế hợp. Gần đây, âm dương vận hành không đ...
