Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 60 - CHƯƠNG CHÚ THUẬT

11/12/2015

QUYỂN 60 Nội dung quyển này có một chương Chú thuật. 68 CHƯƠNG CHÚ THUẬT 68.1. LỜI DẪN Công năng của chú thuật là giúp trừ tín tâm mê muội, mở ra minh tuệ chính chân; lại xé toang màng ngăn che nhiều lớp, chữa lành bệnh...

PUCL QUYỂN 60 - CHƯƠNG CHÚ THUẬT
Phần 1

QUYỂN 60
Nội dung quyển này có một chương Chú thuật.
68 CHƯƠNG CHÚ THUẬT

68.1. LỜI DẪN
Công năng của chú thuật là giúp trừ tín tâm mê muội, mở ra minh tuệ chính chân; lại xé toang màng ngăn che nhiều lớp, chữa lành bệnh nặng nhiều đời. Nghiệp đã tiêu hết thì pháp ác cũng ẩn tàng. Vì thế chúng thánh mới hiển bày, thần linh đồng kính ngưỡng. Cho nên Ba-tuần vâng lãnh thần chú nơi bạch thụ, Phạm vương hiển hiện uy nghi ở Xích kì; bảy Đức Phật tuyên dương chí đạo họp thời cơ, các bồ-tát tỏ lòng thành nơi pháp hội. Dù muốn trình bày rộng, cũng khó ghi chép hết.
Đà-la-ni là âm tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Trì, tức giữ kĩ. Nghĩa là giữ kĩ không để mất điều thiện, giữ chặt không cho sinh điều ác. Theo đây thì thần chú bao trùm một đời giáo hóa; cho nên y theo pháp hành trì thì lập tức có linh nghiệm, hoặc nát đá đổ cây, hoặc hết đau dứt bệnh, hoặc theo tiếng mà khổ không còn, hoặc tùy âm thanh mà sự việc hiện, hoặc triệu tập quỉ thần, hoặc chế ngự rồng dữ, hoặc giăng mây kín mà tuôn mưa, hoặc kêu gọi chư thần mà điềm lành hiện, cảm ứng thật vô cùng; việc ấy đã có từ lâu xa vậy.
68.2. SÁM HỐI
* Lời bàn
Thần chú là do các Đức Phật trong ba đời tuyên thuyết, nếu hết lòng thụ trì thì đều rất linh nghiệm. Gần đây, tôi thấy tăng tục tuy có tụng trì, nhưng không công hiệu. Đó là do bản thân không chí thành, lại đổ lỗi là chú không linh nghiệm. Hoặc có khi văn tự sai lầm, âm vận lệch lạc; hoặc do ăn thịt uống rượu, hoặc dùng các thứ cay nồng, hoặc nhà cửa ô uế, hoặc miệng xen lời thế tục, hoặc áo quần không sạch sẽ, hoặc nơi chốn không trang nghiêm, khiến quỉ thần có cơ hội quấy phá, lại phải chịu tai ương.
Nếu muốn sám hối, trước tiên phải lập đạo tràng, treo cờ phướn, lọng tàn bằng lụa quí, đốt các thứ danh hương, bốn cửa đạo tràng phải bảo vệ nghiêm, ngăn cấm người vào. Mỗi khi vào đạo tràng phải tắm rửa sach sẽ, miệng thường ngậm hòa hương, thiết tha chí thành tự trách thân mình, hổ thẹn sám hối trước các bâc hiền thánh trong mười phương, kế đó là tất cả chúng sinh trong bốn loại sáu đường. Niệm niệm nối nhau, không sát-na biếng trễ. Được như vậy, tụng trì thần chú nhất định .sẽ linh nghiệm.
Kinh Bồ-tát thiện giới ghi: “Vì muốn phá dẹp các điều ác cho chúng sinh, nên các bồ-tát thụ trì thần chú, đọc tụng thông thuộc. Vì chú thuật, nên không được phạm năm việc: ăn thịt, uống rượu, ăn năm thứ cay nồng, không dâm dục, không thụ thực trong nhà bất tịnh. Nếu bồ-tát không phạm năm điều này, sẽ làm cho vô lượng chúng sinh được lợi ích lớn, phá dẹp được các quỉ thần ác độc, trị lành được các căn bệnh nguy hiểm”.
Thần chú Thiên Chuyển Đà-la-ni do Đức Phật Thích-ca Mâu-ni tuyên thuyết:
Thần chú này, xưa nay rất thịnh hành ở Tây Vực, đến niên hiệu Đại Nghiệp (605-617), đời Tùy, tam tạng cấp-đa thuộc trung tâm dịch kinh ở Lạc Dương mới dịch âm chú này sang Hán ngữ, bấy giờ pháp sư Thích Ngạn Tông và học sĩ Tuệ Khiển làm dịch chủ.
Bài thần chú này vừa được dịch xong, không bao lâu đã lưu truyền khắp Trung Hoa. Bấy giờ luật sư Huyền Uyển chùa Diên Hưng, pháp sư Tĩnh Lâm chùa Hoằng Pháp tại Trường An, đều là những bậc đạo sáng khắp thiên hạ, đức trùm các danh hiền, đã sớm cho lưu thông thần chú này, giúp chúng sinh tẩy sạch lỗi lầm. Các ngài lập đạo tràng trong biệt viện, cứ đầu xuân, các giới tử thụ sa-di và các tăng tục khác nối nhau trì tụng chú này không gián đoạn, linh tướng nhiều lần xuất hiện. Từ đó đến nay đã hơn năm mươi năm, theo thời gian bài chú này cũng dần dần bị lãng quên.
Sợ người học đời sau không biết xuất xứ và lưu truyền của bài này cho nên tôi mới trình bày thêm. Nhưng trong các kinh thuộc Đại tập và Đà-la-ni tập mười quyển có rất nhiều bài chú, ở đây không phiền ghi chép, mà chỉ nêu ra những gì cần thiết cho việc hợp thời độ sinh. Mục đích chính là diệt tội trừ chướng thì nêu ra hơn bốn mươi bài; còn các tạp thuật như trị bệnh, cứu nghèo, hộ sinh, kéo dài tuổi thọ thì nêu ra hơn hai mươi bài. Có những bài thần chú, tại Trung Hoa không có, chỉ có bản Phạn ở Tây Vức thì Tam tạng khẩu truyền, ở đây cũng lược ghi năm ba bài cần dùng để lưu hành ở đời, chứ không chép hết, mong mọi người xem trong Đại bản.
Phật thuyết thần chú: Nam mô át la đát na đát ra da dạ, nam ma a la da a phệ lô cát để thấp phệ ra dạ, bồ đề tát đả bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, đát đà thệ duệ thệ duệ thệ da bà hê nễ thệ du đát lệ, ca ra ca ra, ma ra ma ra, đá ra đá ra, già ra già ra, bát ra già ra bát ra già ra, khí noa khí noa, tát bà yết ma phệ ra noa, nễ mê bà già phệ để tố ha, tát ra phệ ra để, tát bà bột đà, phệ lô cát để chiếc sô thuật lô, đát ra yết ra noa thật cáp bà ca dạ, mạt nô tỉ xà dạ na, tỉ thâu đạt nễ, tố lỗ tố lỗ, bát ra bát ra, tố lỗ tố lỗ, tát bà bột đà, át địa sắt sỉ na táp bà ha, đạt ma đà thạch yết lị tì táp bà ha, a la ba bà, táp ba bà bà, tát bà đạt ma bà bồ đạt nễ táp bà ha.
Thần chú này có công năng diệt tận nghiệp chướng chất chồng trong nghìn kiếp, đạt được căn lành của nghìn Phật gom nhóm, xa lìa sinh lão bệnh tử trong nghìn kiếp lưu chuyển, khi sinh qua đời sau, sẽ gặp một nghìn Chuyển luân vương. Nếu muốn sinh về cõi Phật thanh tịnh thì mỗi ngày ba thời, đêm ba thời, mỗi thời tụng hai mươi mốt biến. Đến ngày hai mươi mốt, sẽ đạt được ý nguyện. Nếu thấy được hình tượng Phật và bồ-tát thân màu vàng ròng, thì đó là tướng đầu tiên, mạng chung sẽ sinh vào hội Bồ-tát Đại tập.
68.3. A-DI-ĐÀ BỘ
Trong bài chú A-di-đà, nếu chữ nào có bộ Khẩu một bên thì đọc theo chính âm Phạn, nếu không có chữ Khẩu thì đọc theo âm Hán, nhưng vẫn cần thầy truyền thụ, thanh vận hợp tiếng Phạn, nặng nhẹ đúng phép tắc. Nếu hành trì đúng như vậy, nhất định có linh nghiệm.
Thần chú: Nam mô bồ đà dạ, nam mô đà ra ma dạ, nam mô tăng già dạ, nam mô a mi đa bà dạ, đa tha già đa dạ, a ra ha để tam miêu tam bồ đà dạ, đa diệt tha, a mi lị đê, a mi lị đô bà tì, a mi lị đa tam bà tì, a mi lị đa tị ca lan để, già mi nị, già già na, kê lị để ca rị ta ra, bà bà ba bả, xoa diễm ca rị, ta bà ha.
Bài thần chú này đã lưu truyền từ xưa, công năng và lợi ích thật không thể nói hết. Cứ mỗi sáng sớm, sau khi súc miệng đánh răng, thì đến trước tượng Phật rải hoa, đốt hưomg, quì gối chắp tay tụng bảy biến, hoặc mười bốn hay hai mươi mốt biến thì diệt được bốn tội trọng, năm tội nghịch, hiện đời không gặp tai họa, sau khi mạng chung, sẽ sinh về cõi Vô Lượng Thọ.
Thần chú này cũng có công năng chuyển thân nữ thành thân nam. Nay xem trong bản Phạn, đồng thời hỏi các bà-la-môn chân chính và chư tăng, thì biết uy lực chú này không thể nghĩ bàn. Vào mỗi sáng trưa và tối, mỗi thời tụng một trăm biến thì sẽ diệt được bốn tội trọng, năm tội nghịch, nhổ sạch gốc tội, sinh về Tây phương. Nếu siêng năng tụng trì trọn vẹn hai mươi vạn biến, thì mầm bồ-đề phát sinh, không còn lui sụt. Nếu tụng xong ba mươi vạn biến thì sẽ tận mặt thấy Đức Phật A-di-đà, nhất định sinh về cõi an lạc ở phương tây. Cho nên Đà-la-ni tạp tập kinh ghi: “Thế Tôn bảo các tì-kheo:
- Hôm nay Ta nói cho các ông biết rằng, hiện có Đức Phật A-di-đà ở cõi An Lạc phương tây. Nếu ai chân thật thụ trì danh hiệu Ngài, thì Ngài và đại chúng sẽ hiện đến để người ấy thấy rõ. Sau khi thấy, người ấy vui mừng, công đức tăng thêm. Do đó không gá thân vào bào thai uế dục, mà tự nhiên hóa sinh trong hoa sen báu vi diệu thanh tịnh, có đại thần thông. Hằng sa chư Phật trong mười phương đồng ca ngợi cõi an lạc có Phật pháp chẳng thể nghĩ bàn; thần thông biến hóa, các pháp phương tiện chẳng thể nghĩ bàn. Nếu có người tin việc này, thì người này cũng chẳng thể nghĩ bàn, có được nghiệp báo chẳng thể nghĩ bàn. Quốc độ ấy tên là Thanh Thái, cung thành mà thánh vương nước này an trú, ngang dọc đều mười nghìn do-tuần, trong đó toàn là những người thuộc dòng sát-lợi. Cha của đức A-di-đà là Chuyển luân vương Nguyệt Thượng, mẹ ngài tên là Thù Thắng Diệu Nhan, con ngài tên là Nguyệt Minh, đệ tử thị giả tên là Vô Cấu Xưng, đệ tử trí tuệ tên là Tuệ Quang, đệ tử thần túc tên là Đại Hóa, ma vương tên là Vô Thắng, kẻ như Đề-bà-đạt-đa tên Thắng Tịch.
Đức A-di-đà có sáu vạn đại tì-kheo đệ tử. Nếu ai thụ trì danh hiệu của Ngài, tâm luôn bền vững, nhớ nghĩ không quên, trong vòng mười ngày đêm, lòng không loạn động, lại siêng năng tu tập Niệm Phật tam-muội, thụ trì đọc tụng cổ Âm Thanh Vương đà-la-ni, cũng trong mười ngày đêm, sáu thời chuyên niệm, cung kính đỉnh lễ đức A-di-đà, kiên tâm chính ý, không còn loạn động, niệm niệm nối nhau không gián đoạn, thì trong khoảng thời gian ấy nhất định thấy được Đức Phật A-di-đà, các đức Như Lai và trụ xứ của các Ngài trong khắp thế giới mười phương. Chỉ trừ những người độn căn chướng nặng, tạm thời hôm nay không thấy, người này nên hồi hướng tất cả căn lành, nguyện sinh về cõi an lạc phương tây. Như vậy lúc sắp lìa đời, Đức Phật A-di-đà và thánh chúng hiện đến trước người ấy, thăm hỏi an ủi, khen ngợi. Bấy giờ tâm ý người này vô cùng vui mừng, tăng thêm công đức, do đó tùy nguyện liền được vãng sinh.
Phần 2

Phật lại bảo các tì-kheo:
- Thế nào là cổ Âm Thanh Vương đà-la-ni? Các ông nên lắng nghe, hôm nay Ta sẽ nói.
- Bạch.Thế Tôn! Chúng con xin lắng nghe. Các tì-kheo đáp.
Thế Tôn liền tuyên thuyết thần chú: Đa phục tha, bà li, a bà li, sa ma bà la, ni địa xa, ni xà đa nễ, ni phiệt da, ni phiệt hiên, xà la bà la xa đà nễ, tú khư ba đế ni địa xa, a di đa do bà li, A di đa xà ba ba la, sa đà nễ, niết phù đề, a ca xá nê phù đà, a ca xá nê đề xa, a ca xá nê xà đế, a ca xá cửu xá li, a ca xá đạt xa nê, a ca xá đề tha nễ, lưu ba nê đề xa, già đỏa li đạt ma ba la, bà đà nễ, già đỏa lị a lợi xà bà đế xà ba la sa đà nễ, già đỏa lị mạt già bà na ba la sa đà nễ đạt ma thân tha nễ, cửu xả li, cửu xá la nê đề xa cửu xá la ba la đế tha nễ, phật đà cửu xả li, tì phật đà ba la ba tư, đạt ma ca la nễ, nê chuyên đế, nê phù đề tì ma li, tì la xà, la xà, la tư, la sa pha, la bà già la bà li, la bà già la a địa tha nễ, cửu xả li, ba la đế cửu xả li, tì cửu xả li, tha đế, tu đà đa chỉ đế, tu ba la xá đa chí đế, tu ba la đế si đế, tu li, tu mục hiên, đạt mi, đạt đạt mi, li bà, già bà li, a nâu xá bà li, phật đà ca xá nê cừu nễ, phật đà ca xá cừu nễ, ta bà ha.
Nếu có tì-kheo, tì-kheo-ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ chí thành thụ trì đọc tụng như thuyết tu hành, muốn trì tụng thần chú cổ Âm Thanh Vương đà-la-ni này, thì nên ở nơi thanh vắng, tắm gội thân thể, thay y phục sạch, dùng thức ăn chay thanh tịnh, không ăn thịt uống rượu, các thứ cay nồng, giữ gìn phạm hạnh. Sau đó dùng hương thơm, hoa tươi đẹp cúng dường A-di-đà Như Lai và chúng bồ-tát trong đạo tràng Phật, chuyên tâm trì tụng, siêng năng không biếng trễ, chí thành phát nguyện cầu sinh thế giới An Lạc, thì nhất định được vãng sinh”.
68.4. DI-LẶC BỘ
Kinh Thất Phật sở thuyết thần chủ ghi: “Bấy giờ bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thuyết đà-la-ni Diêm-ma-đâu. Thần chú này có công năng trị lành tất cả bệnh khổ hiện tại, dẹp sạch chướng ngại, nhổ mũi tên độc, cũng làm cho chín mươi tám sử dần dần tiêu trừ, dòng Tam hữu vắng lặng, hiện đời đắc đạo. Bồ-tát tuyên thuyết: Chi bất đa nại đế, diêm phù chi nại đế, tô xa bất chi nại đế, ngột kì bất chi nại đế, ô tô đa chỉ nại đế, ta già bất chi nại đế, diêm ma lại trường chi nại đế, a thứ bà lại trường chi nại đế, thứ ba đế chi nại đế, sa ha.
Tụng ba biến thần chú này, dùng chỉ năm màu thắt hai gút rồi đeo vào cổ. Đà-la-ni này do bốn mươi hai ức Đức Phật tuyên thuyết. Nếu người tu hành biên chép, đọc tụng thần chú này, hiện đời được nghìn vị Phật bảo vệ, sau khi mạng chung không rơi vào các đường ác mà sinh vào cõi Đâu-suất, gặp bồ-tát Di-lặc. Người trì tụng chú này, nếu trong bảy ngày không ăn ngũ cốc, hằng ngày chỉ uống sữa bò vào buổi trưa, không ăn gì khác, ngày đêm sáu thời chí thành sám hối, thì những tội nặng do tác ý gây tạo hàng nghìn cai kiếp, nhất thời tiêu trừ; lại được nghìn vị Phật dùng tay xoa đầu thụ kí, những tai ương, tội ác ngày trước liền diệt hết.
Thần chú Nguyện gặp Phật Dỉ-lặc (Tam tạng người Thiên Trúc khẩu truyền)
Nam mô di đế lệ da dạ, bồ đề tát đỏa dạ, đa diệt tha, di đế lệ di đế lệ, di đa ra ma na thê, di đa ra, tam bá tì di đa rô bá tì, sa bà ha.
68.5. QUÁN ÂM BỘ
68.5.1. Quán Thế Âm tùy tâm chú: Nam mô át ra đát na đát ra dạ, nam mô a lị da bà lộ cát đế, thấp bà ra da, bồ đề tát đỏa da, ma ha bồ đề tát đỏa da, ma ha ca lô nị ca da, đát diệt tha, đa lị đa lị, đốt đa lị đốt đốt đa lị, đốt lị, tát bà ha.
68.5.2. Chú pháp thỉnh bồ-tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí: Đà-la-ni chú kinh ghi: “Khi Đức Phật trụ tại nước Xá-vệ, trong thành này có một quỉ Dạ-xoa năm đầu, năm mắt, mặt đen như than, răng nanh chỉa ra ngoài miệng, chuyên hút tinh khí con người, mắt đỏ như máu, hai tai chảy mủ, hai mũi tuôn máu, lưỡi không nói được, thức ăn đưa vào miệng thì trở nên thô cứng, sáu thức mờ mịt. Nhân dân bị quỉ này làm hại, nên đến cầu Phật cứu giúp. Đức Phật dạy đến thỉnh bồ-tát Quán Thế Âm trừ khử độc hại”. Do đó kinh này còn có tên: Thỉnh Quán Thế Ấm bồ-tát tiêu phục độc hại đà-la-ni chú kinh.
Kinh này do một thuyền chủ người nước ngoài là Trúc Nan-đề dịch vào thời Nam Tống. Kinh ghi: “Tất cả chúng sinh có nỗi sợ ba độc, sợ chết, sợ bệnh, sợ phá Phạm hạnh, nỗi sợ tạo mười nghiệp ác, sẽ bị giam hãm trong ngục tù, nước nhận chìm, lửa đốt cháy, quỉ thần bức hại, đều có thể nương tựa bồ-tát Quán Thế Âm. Cho nên chúng sinh cõi Ta-bà đều tôn ngài là Thí Vô Úy”.
Lại có thần chú Quán đỉnh chương cú đà-la-ni, nhất định đem lại sự tốt lành, người nghe được lợi ích. Nếu muốn trì tụng, hành giả phải trì trai giữ giới không đến gần người nữ và những nơi dơ uế. Chỉ mội lòng nhớ nghĩ các Đức Phật mười phương, bảy Đức Phật quá khứ, bồ-tát Quan Thế Âm và trì tụng thần chú này thì hiện đời thấy được bồ-tát Quán Thế Âm, thành tựu sở nguyện. Đời sau sinh ra trước Phật, vĩnh viễn dứt khổ.
Cách thức lập đàn và tu tập như sau: Nên lập đàn vào sáu ngày trai, trước hết nên dùng bùn thơm trét nền, treo cờ phướn, tôn trí tượng Phật hướng về nam, tôn trí riêng tượng bồ-tát Quán Thế Âm hướng về đông. Sau đó mỗi ngày chuẩn bị cành dương, nước sạch, đốt hương, rải hoa trong đạo tràng. Mỗi đàn không quá mười người, nếu nhiều hơn e rằng sẽ loạn động, nên trải chiếu trên đất và hướng về tây, nếu đất ẩm thấp có thể kê sàn cao hơn một ít. Mỗi khi ra vào nên mặc y phục sạch thường, chỉ khi nào tắm gội xong mới mặc y phục sạch đẹp hành lễ.
Hằng ngày nên tận lực cúng dường, nếu không thể thường xuyên, thì bắt buộc ngày đầu cũng phải bày biện đầy đủ. Sau khi chuẩn bị hoàn tất, hành giả cầm lư hương nhất tâm hướng mặt về phương tây, chí thành đỉnh lễ, cử một người có âm giọng rõ ràng xướng:
- Phụng thỉnh các Đức Phật trong mười phương, bảy Đức Phật quá khứ, bồ-tát Quán Thế Âm, bồ-tát Đại Thế Chí! Hôm nay chúng con đã chuẩn bị đủ cành dương, bình nước sạch, cúi xin các Ngài đại từ đại bi xót thương thụ nhận. Lại cầu các Ngài cứu chúng con‘ thoát khỏi nguy ách, phóng ánh sáng lớn diệt trừ ngu si tối tăm cho chúng con, đến chỗ chúng con mà ban cho niềm an lạc lớn. Hôm nay chúng con đỉnh lễ qui y, phụng thỉnh.”( ba lần).
Kế đó, nhất tâm, tịnh ý niệm danh hiệu bồ-tát Quan Âm và Đại Thế Chí rồi tụng bảy biến thần chú sau: Đa diệt tha, ô hô nị, mô hô nị, diêm bà nị, đam bà nị, an trà lị, bàn trà lị, thủ tì đế, bàn trà ra, bà tư nị, đa điệt tha, tẩm lị, đê thủ lị, ca ba lị, khư đê đoan kì, chiên đà lị, ma đăng kì lặc xoa lặc xoa, tát bà tát đỏa tát bà da tì, sa ha.
Đa trà tha, già đế già đế, nị già đế, tu lưu tu lưu tì, lặc xoa lặc xoa, tát bà tát đỏa, tát bà da tì, sa ha.
Nếu mọi người có thể gội sạch thân tâm rồi trì tụng chú này, sẽ cảm được bồ-tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí đại từ đại bi vận thần thông, dạo chơi trong năm đường, dùng pháp thiện cứu độ khắp chúng sinh, khiến họ thoát khổ sinh tử, đến nơi an vui, xa lìa phiền não, đạt được niết-bàn.
Thứ hai là xưng niệm danh hiệu Tam bảo, tụng thần chú Phá ác nghiệp tội chưởng: Nam mô Phật đà, nam mô Đạt ma, nam mô Tăng già, nam mồ Quán Thế Âm, bồ đề tát đỏa, ma ha bồ đề tát đỏa. Cúi xin đấng Đại từ đại bi thương xót cứu giúp chúng con thoát khỏi khổ não, cũng xin cứu những chúng sinh sợ hãi, giúp họ có được nơi nương tựa vững chắc. Đát điệt tha, a hô nị, mô hô nị, diêm bà nị, đam bà nị, a sa hi, mô hô nị, phân trà lị, bàn trà lị, thâu tì đế, bà tư nị, hưu lâu hưu lâu, phân trà lị, đâu lâu đâu lâu, bàn trà lị chu lâu chu lâu, bàn trà lị, đậu phú đậu phú, bàn trà la, bà tư nị, thẩn trì, chẩn trì, nị chẩn trì, tát bà ha bà da yết đa, tát bà đát bà sa bà, a bà da, tì li đà bế điện, sa ha.
Đức Phật dạy: “Nếu bốn chúng đệ tử thụ trì danh hiệu bồ-tát Quán Thế Âm, tụng chú này từ một biến cho đến bốn mươi chín biến thì thân tâm an ổn, tất cả nghiệp chướng tiêu trừ như lửa đốt củi thành tro, cho đến ba độc cũng sạch”.
Thứ ba, lại xưng niệm danh hiệu Tam bảo và tụng chú Lục tự chương cú:
Đát diệt tha, an đà lị, bàn chất lị, nan đa lị, bà già lị, a lô nễ, bạc cưu lị, mạc cưu lệ, đâu tì lệ, sa ha.
Đức Phật dạy: “Nếu bốn chúng đệ tử chịu các khổ não, nên từ một ngày cho đến mười lăm ngày, lắng tâm chuyên niệm, qui y Tam bảo, ba lần xưng danh hiệu bồ-tát Quán Thế Âm rồi tụng chú này, thì tất cả tai họa, oán đối đều lìa xa, thoát các khổ não, hiện đời an lạc, đời sau sinh ra được gặp Phật.
Bài chú này do các Đức Phật trong mười phương ba đời tuyên thuyết, thường được các Đức Phật và các đại bồ-tát bảo vệ. Nếu ai nghe được rồi theo đó tu hành, thì tội cấu liền tiêu, hiện đời được tám mươi ức Đức Phật dùng tay xoa đầu, liền không bao giờ quên sót Triền đà-la-ni. Nếu ai có nghiệp nặng cực ác tạo ở hiện đời hoặc tội quá khứ, thì trong mộng gặp bồ-tát Quán Thế Âm, lúc ấy giống như gió mạnh thổi tan mây đen, các tội bị quét sạch, đời sau sinh ra trước Phật.
Thứ tư lại thuyết thần chú Quản đỉnh cát tường đà-la-ni: Đát diệt tha, ô đam tì lị, đâu tì lị, đam tì, ba la đam tì, nại tra, tu nại tra, chỉ bạt tra, mâu na da tam ma da đàn đề, nị la, chỉ thi, bà la cưu tì, ô lị, nhương cù lị, sa ha.
Nếu có nam nữ nghe kinh chú này, rồi thụ trì biên chép, đọc tụng, giảng nói cho người khác biết, thì thoát được tội sinh tử trong vô lượng a-tăng-kì kiếp, độc hại tiêu trừ, không gặp oán thù, cho đến đầy đủ căn lành, sinh về cõi Phật thanh tịnh.

Phần 3

Tây Vức truyện ghi: “Bô-tát Quán Thế Âm thường trụ tại một ngôi chùa núi vùng Nam Hải. Hễ ai nghĩ nhớ đến ngài thì ngài liền ứng hiện, như vang theo tiếng, không lúc nào mà không tùy niệm hiện đến. Nếu ai đến núi này, nhịn ăn bảy ngày, liền gặp bồ-tát hiện thân thuyết pháp cho nghe. Vì tâm nhịn ăn mạnh mẽ, nên cảm thấy được rõ ràng. Như pháp nhịn ăn nói trên cũng như vậy.
68.6. DIỆT TỘI BỘ
Kinh Đông phương Tối Thắng Đăng Vương Như Lai ghi: “Trong thế giới Vô Biên Hoa cách đây trăm nghìn ức cõi Phật về phương đông, có đức Tối Thắng Đăng Vương Như Lai đang thuyết pháp. Đức Phật ấy bảo bồ-tát Đại Quang và bồ-tát Cam Lộ Quang: ‘Các ông hãy đến thế giới Sa-bà, nơi có Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, thuyết đà-la-ni này giúp chúng sinh an lạc, tăng trưởng công đức, danh tiếng vang xa, tùy thuận hạnh nguyện mà được an lạc, không não loạn, không giết hại mà bảo vệ chúng sinh’. Đức Phật ấy liền nói thần chú:
Đát điệt tha, ưu bà tha nê, đô tha nê, la xoa nậu cù ba đa duệ ba ra, xà bà lệ, xà bà lệ, xà bà lệ, ma ha xà bà lệ, xà bà lăng già đế, xà bà lệ xà bà lệ ni, ma ha xà bà lệ ni, xà bà ra mộc hiên bà lị, ma sa lị, a ca lệ, ma ca lệ, a hiên, ma hiên, na hiên, sa bà lệ, ma ha sa bà lệ, tam bà li, úc cú, mục cú, tam ma đế, ma ha tam ma đế đế, tam ma đế, ma ha tam ma đế, ma ha xà bà lệ, sa duệ, sa la di, mục cú xa di, ma ha xa di, tam ma đệ, ma ha tam ma đệ, tam mục tị, tì mục tị, a ra tế, ma ha a ra tế, ma na tế, ma na tế, ma na tế đế tì để, sa bà ha.
Hai vị bồ-tát nhận lãnh đà-la-ni này rồi, trong chớp mắt hiện đến chỗ Phật Thích-ca Mâu-ni. Hai vị cung kính đỉnh lễ rồi trình bày lí do đến thế giới này: ‘Vì những người bị quỉ thần làm hại, bị các loại thú độc cắn đốt, bị bệnh chú thuật bùa yểm, bị bệnh tử thi, bệnh nhiệt và các chứng bệnh bị quỉ thần làm hại khác, mà đức Tối Thắng Đăng Vương Như Lai sai chúng con mang đà-la-ni này đến đây, giúp cho họ được an ổn'.
Đức Thích-ca bảo A-nan: ‘Ông hãy thụ trì bài thần chú này rồi truyền tụng cho người khác biết, để lưu thông cùng khắp. Rất khó gặp Phật xuất hiện ở thế gian, nhưng bài thần chú này càng khó được nghe hơn. Nếu ai thụ trì đà-la-ni này, lửa đốt không cháy, đao chém không đứt, chất độc không xâm nhập, quan quân không thể giết hại, Phạm thiên không giận, biết được túc mệnh trong vòng bảy đời. Thần chú nàỵ được bảy mươi bảy ức Đức Phật quá khứ tuyên thuyết, nếu ai phỉ báng chú này tức phỉ báng các Đức Phật ấy. Nếu quỉ thần nào không kính trọng thần chú này, hoặc tranh đoạt uy lực của người, hoặc dùng thần chú đoạt rồi không trả lại thì đầu của quỉ thần ấy sẽ vỡ làm bảy mảnh’.
Đức Phật Thích-ca lại bảo các tì-kheo: ‘Nay Ta cũng có đà-la-ni làm lợi ích cho chúng sinh, tăng trưởng công đức, tăng trưởng uy đức, tăng trưởng sắc lực, tăng trưởng danh tiếng, tùy ý thụ an lạc, tùy hạnh thụ an lạc, không não loạn, không sát hại mà bảo vệ tất cả chúng sinh’. Đó là thần chú: Đát điệt tha, a tri, bạt tri, na tri, câu na tri, ca na tri, tra la, bạt nê, đát la bạt nê, đổ đa la, duệ a la, bà chỉ, tra chỉ, tra trà chỉ, la lâu mê, hô lô mê, sa lệ, ma ha sa lệ tha mê, ma ha tha mê lị lệ, khê lệ chỉ lệ, khê lệ tẩm lệ, y lệ, tho lệ thi lệ, thi thi lị thi la bạt tri, a trệ bà, trệ na, trệ câu na, trệ phả na, bạt đế, ba na bạt đế, a ca tế, ma ca tế, ca tế ca sa ca tế, phả tế phả sa phả tế, ma ha phả sa phả tế, y nê, tẩm nê, đa thi, đa thi, ba đa thi, đa bà đa thi, sa bà ha.
Đức Phật lại bảo A-nan:
- Ông thụ trì bài thần chú này rồi giảng nói cho mọi người biết, và lưu truyền khắp nơi. Bài thần chú này, nghe được đã khó, thụ trì càng khó hơn; nên người thụ trì, đọc tụng, giảng nói lưu truyền thì sẽ biết được việc trong hai mươi mốt đời ở vị lai. Thần chú này do chín mươi chín ức Đức Phật quá khứ tuyên thuyết, nếu ai phỉ báng, không tin thụ hành trì, tức phỉ báng các Đức Phật quá khứ ấy. Nếu người trì chú này, lại thực hiện kết giới bảo vệ, thì có thể khiến cho cây khô nẩy mầm, ra lá, trổ hoa, kết trái sum sê, huống gì chúng sinh có trí tuệ thụ trì mà không có kết quả sao? Thật không có lí ấy.
Đỉnh lễ tất cả các Đức Phật, con nguyện thành tựu thần chú này, ta bà ha.
Thế Tôn thuyết thần chú: Đa điệt tha, a trái, bà trái, trá khê, trá ra khê, trá lô mạt để, đổ lô mạt để, đâu lệ, đổ la đâu lệ, bà lệ bà lệ, đổ lệ độ lệ, độ độ lệ tô, lệ bà, sẩn sẩn bà sẩn lị khê lị, tất lị, để lị, ta bà ha.
Thế Tôn bảo A-nan: ‘Người nào thụ trì, giảng nói lưu truyền thì sẽ biết được việc trong hai mưoi tám đời ở vị lai. Thần chú này do hằng hà sa Phật quá khứ tuyên thuyết, nếu ai phỉ báng, tức phỉ báng xa lìa các Đức Phật quá khứ. Người tụng thần chú này thì trời, rồng, quỉ thần, quan quân, giặc cướp, độc trùng, bùa chú, các bệnh nan y cũng không thể làm hại, chỉ trừ những quả báo do những tội đã tạo từ quá khứ”.
Thần chú diệt tội do bảy Đức Phật thuyết trong kinh Đại phương đẳng
Li bà li bà đế, cừu ha cừu ha đế, đà la li đế, ni ha la đế, tì ma li đế, sa ha.
Phần 6, quyển 571 kinh Đại Bát-nhã, bản tân dịch ghi: “Thiên vương Tối Thắng bạch Đức Phật:
- Các Đại bồ-tát tu tập Bát-nhã ba-la-mật-đa, nên thực hành những hạnh nào để bảo vệ giữ gìn chính pháp?
Đức Phật đáp:
- Này Thiên vương! Nếu Đại bồ-tát thực tập Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, việc làm không trái Với lời nói, tôn trọng thầy tổ, tùy thuận chính pháp, tâm tính nhu hòa, thuần chất, các căn vắng lặng, xa lánh tất cả pháp ác, tu tập tất cả pháp lành, đó gọi là bảo vệ chính pháp. Nếu Đại bồ-tát thực tập pháp Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, ba nghiệp thân miệng ý từ bi, không tham danh tiếng lợi dưỡng, trì giới thanh tịnh, xa lìa các kiến chấp, đó gọi là bảo vệ chính pháp. Nếu Đại bồ-tát thực tập Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, tâm không theo các hành vi tham ái, sân hận, sợ hãi, ngu si, thì gọi là bảo vệ chính hạnh; nếu tu hạnh hổ thẹn thì gọi là bảo vệ chính pháp; tu tập và thuyết pháp đúng như những gì đã nghe thì gọi là bảo vệ chính pháp. Các Đức Phật trong ba đời, vì bảo vệ chính pháp mà thuyết đà-la-ni ủng hộ vua cõi trời, vua cõi người, để họ bảo vệ làm cho chính pháp trụ mãi thế gian, đồng thời giúp cho các loài hữu tình được lợi ích lớn. Đà-la-ni:
Đát điệt tha, a hỗ lạc, ni lạc phạt để, hỗ lạt noa sa, củ trà giả già, giả già, chiết ni, a bôn nhã sát, đa sát, đa sát, diên đa sát dã sa ha, lăng mạt ni yết lạc, ổ lỗ, ổ lỗ phạt để ca, ra bạt để ca, a tì xa để ni, sa lạt ni đổ xad đổ xà mạt để, a phạt thỉ ni, phạt thỉ phạt đa nô sa lí bộ đa nô tất một lật để, đề phạt đa nô, tất một lật để sa ha.
Thiên vương nên biết! Đại thần chú này có năng lực làm cho nhân và phi nhân đều được an ổn. Thần chú này do các Đức Phật trong ba đời vì bảo vệ chính pháp, vì giúp cho nhân và phi nhân được an ổn, nên các Ngài dùng phương tiện tuyên thuyết. Cho nên vua cõi trời, vua cõi người vì bảo vệ và làm cho chính pháp trụ lâu ở thế gian, vì để cho tự thân cùng quyến thuộc an lạc, vì giúp tất cả hữu tình trong cõi nước không gặp tai họa, mỗi mỗi nên siêng năng, chí thành tụng niệm chú này. Nếu được như thế thì giặc thù, tai nạn, việc ma, những chướng ngại đạo pháp đều tiêu trừ; do đó mà chính pháp trụ lâu dài ở thế gian, đem lại lợi ích lớn cho tất cả hữu tình”.
Phần Lí thú bát-nhã, quyển 578 kinh Đại bát-nhã ghi:
Như Lai tuyên thuyết thần chú: Nạp mô bạc già phạt đế, bát lạt nhưỡng ba la di đa duệ, bạt để phiệt thát la duệ, yểm ba lí nhĩ đa củ noa duệ, tát phạ đát tha yết đa ba lí bố thị đa duệ, tát phạ đát tha yết đa nô nhưỡng đa bật nhưỡng đa duệ, đát điệt tha, bát lạt ê bát lạt ê, ma ha bát lạt ê, bát lạt nhưỡng bà sa yết ra, bát lạt nhưỡng lộ ca yết lệ, án đà ca ra tì đàm mạt nê, tất đệ, tô tất đệ, tất điện đô mạn bạt già phiệt để, tát phòng già tôn đạt lệ, bạc để phiệt thát lệ, bát lạt. sa lí đa át tất đế, sâm ma kinh phạ sa yết lệ, bột đà bột đà, tất đà tất đà, kiếm ba kiếm ba, chiết la chiết la, át ra phạ át ra phạ, a yết xa a yết xa, bạc già phiệt để, ma tì lam bà, sa ha.
Thần chú này, các Đức Phật ba đời đồng tuyên thuyết, đồng nhớ nghĩ giữ gìn, ai thụ trì thì diệt trừ tất cả nghiệp chướng, thành tựu tất cả những mong cầu, mau chứng Chính đẳng bồ-đề vô thượng. Bấy giờ Như Lai lại thuyết: Nạp mô bạc già phạt đế, bát lạt nhưỡng ba la di đa duệ, đát diệt tha, mâu ni đạt mê, tăng yết lạc ha đạt mê, át nô yết lạc ha đạt mê, tì mục để đạt mê, tát đà nô yết lạc ha đạt mê, phê thất lạc mạt noa đạt mê, sâm mạn đa nô ba lí phiệt lạt đát na đạt mê, củ noa tăng yết lạc ha đạt mê, tát phược ca la ba lí ba lạt na đạt mê, sa ha.
Thần chú này là mẹ của chư Phật, ai trì tụng thì tất cả tội tiêu diệt, thường gặp chư Phật, được trí Túc trụ, mau chóng chứng Vô thượng chính đẳng Bồ-đề. Như Lai lại thuyết: Nạp mô bạc già phạt đế, bát lạt nhưỡng ba la di đa duệ, đát diệt tha, thất lệ duệ, thất lệ duệ, thất lệ duệ, thất lệ duệ tế, sa ha.
Thần chú này có uy lực rất lớn, ai tụng trì thì nghiệp chướng tiêu trừ, một khi nghe chính pháp thì ghi nhớ tất cả pháp nghĩa, không quên sót, mau chóng chứng đắc Vô thượng chính đẳng Bồ-đề. cù da duệ tát bà đát tha già đa bát, lị bộ lị đa duệ, tát bà đát tha già đa thận nhã đa tì thận nhã đa duệ, đát điệt tha bát ra thận nhê, ma ha bát ra thận nhê, bát ra thận nhã, bà tắc yết lệ bát ra thận nhã, lô ca yết lệ, át bát ra thận nhã nam tì đà mạt nê tất đề, tô tất đề, tất điền đô mạn bạc già bà để, tát ra ương già tôn đạt lệ, bạt để bạt tế lệ bát ra bà lị đa át tát đế, tam ma niết ra tát na yết lệ, đát điệt tha, hưởng điệt hưởng điệt, tất diệt tất diệt, kiếm ba kiếm ba, chiết la chiết la, ra bà ra bà, a yết xa a yết xa, bạc già bà để ma tì lam bà, tô bà ha.

Phần 4

Công năng của bài thần chú này trong các kinh đã nói rõ. Văn chú mà người thụ pháp được truyền riêng gồm hai mươi bảy câu, sáu mươi hai chữ. Ở đây dịch thành một trăm bảy mươi mốt chữ, tuy có thêm, nhưng không cần phải nghi, bởi các đại đức người Thiên Trúc đã kiểm chứng kĩ.
Người nào muốn thụ trì đà-la-ni này, trước hết phải tạc một tượng Bát-nhã mẫu tư thế ngồi ngồi bằng gỗ cây dó chưa có trái, với đầy đủ các tướng quí trang nghiêm, duỗi tay phải. Nên chọn ngày trai tạc tượng, thợ tạc tượng phải thụ trì pháp bát quan trai. Pha màu sơn tượng không được dùng a dao, chỉ được dùng dầu hồ đào, hương huân lục và sữa. Nên dùng bùn thơm trét nền đàn tràng và rải hoa đúng mùa, đồng thời dùng tám chiếc bình sành mới để cắm hoa tươi đẹp. Lại chuẩn bị các loại: nước ép thạch lựu, nước bồ đào, sữa, mật, đường, nước mía, các món chay lạt, tất cả chia làm tám phần, đốt các loại hương thơm, thắp tám cây đèn dầu tô cúng dường tôn tượng. Hành giả phải mặc y phục mới sạch, thụ trì trai giới; trong bảy ngày đầu, cứ mỗi tối phải đốt hương, lễ lạy, tụng một vạn biến. Ngày thứ tám nhịn ăn, tụng đủ tám nghìn biến thần chú này, sau đó hạ tất cả các thức ăn uống đã cúng dường trước đó.
Khi thực hành pháp này, trong mộng sẽ thấy Bát-nhã mẫu, thành tựu tất cả mọi tâm nguyện.
2. Thần chú diệt tội được phúc.
Nam mô át ra đa na, đát ra da dạ, nam ma kiên ngưỡng na sa già ra bùi rô giả na, đat tha yết đa dạ, na ma a lị da bạt lô chỉ yết, thước phiệt ra dạ, bồ để tát đa bà dạ, ma ha tát đa bà dạ, ma ha ca lô nễ ca dạ, na ma tát ra bà đát tha yết đê tô, át ra ra yết đà tả, tam miệu tam bồ đề tô, đát diệt tha, ô hồng đà ra đà ra, đề lị đề lị, đổ rô đổ rô, y tệ bà tệ, giả lê giả lê, bát ra giả lê bát ra giả lê, củ tô mê, củ tô ma bạt lê, y li di li, chỉ li chỉ tri, xà la ma nại dạ, bát ra mạt thâu đà tát đa bà, ma ha ca lô nễ ca, sa bà ha.
Nếu người nào muốn tụng thần chú này, ngày đêm phải siêng năng, không để quên sót. Mỗi sáng sớm nên tắm gội sạch sẽ, nếu không tắm gội được thì súc miệng đánh răng, rửa mặt và tay rồi trì tụng. Nấu làm được như thế, hiện đời sẽ được mười phúc báo: thân không bệnh; luôn được các Đức Phật trong mười phượng nhớ nghĩ; tự nhiên đầy đủ y phục, thức ăn uống và tất cả tài vật; phá dẹp tất cả oán thù; làm cho tất cả hữu tình khởi tâm từ bi; trùng độc, bệnh nhiệt không thể hại thân; tất cả đao gậy không thể làm tổn thương; nước không thể nhận chìm; lửa không thể đốt cháy; không bị chết oan. Lại có được bốn phúc báo khác: lúc sắp lìa đời, thấy được vô lượng Phật mười phương; vĩnh viễn không rơi vào địa ngục; không bị cầm thú làm hại; sau khi lìa đời sẽ sinh đến cõi Vô Lượng Thọ. Nếu tăng tục phạm bốn tội nặng, năm tội nghịch, có thể y pháp làm trong sạch thân tâm, tụng thần chú này từ một đến nhiều biến thì tất cả tội nặng căn bản đều tiêu diệt, chỉ trừ những người không chí tâm.
3. Thần chú Lễ Phật diệt tội, cũng gọi là chú Phật mẫu, do mười câu-chi Phật tuyên thuyết.
Nam mô đạt tha na hồng, bồ đà câu trí na hồng, ô hồng, hộ lô hộ lô, tất đà rô giả ne, sa ra sa ra tha, sa đạt nễ, sa bà ha.
Ta nay cũng vì thương xót tất cả chúng sinh, những người trì tụng chú này, nên sẽ khiến cho tất cả những kẻ sân hận ác độc đều được hoan hỉ. Nếu có thể một ngày ba thời tụng chú này và lễ lạy thì công đức hơn cả lễ lạy nghìn vạn câu-chi Phật, sau khi chết sẽ được sinh về thế giới Phật Vô Lượng Thọ phương tây. Bản dịch trước kia có ghi: “Lúc lâm chung sẽ được chư Phật đến đón, vào vị lai sẽ phụng sự cúng dường một nghìn vị Phật kiếp Hiền. Chỉ có người trì tụng chú này mới được công đức không thể nghĩ bàn như thế’’.
68.7. TẠP CHÚ BỘ
68.7.1. Phật thuyết hộ chư đồng tử đà-la-ni chú kinh
Hán dịch: Hậu Ngụy, Tam tạng Bồ-đề-lưu-chi. Khi Như Lai mới thành Chính giác, một vi Đại Phạm thiên vương đến chỗ Đức Phật, đầu mặt đỉnh lễ chân Ngài rồi thuyết kệ:
Nam-mô Phật-đà-da
Nam-mô Đạt-ma-da
Nam-mô Tăng-già-da!
Con lễ Phật Thế Tôn
Pháp vương soi sáng đời
Nơi cõi Diêm-phù-đề
Đầu tiên thuyết thần chú.
Lễ thẳng pháp cam lộ
Và lễ tăng vô trước
Đã lễ chân Mâu-ni
Con xin bày tỏ rằng:
Các Như Lai Thế Tôn
Thanh văn và Bích-chi
Các tiên, vua hộ thế
Rồng lớn, các thiên thần
Các hữu tình như thế
Đều sinh trong cõi người.
Có dạ-xoa, la-sát
Thường thích ăn thai người
Chằng thuộc cõi nhân vương
Sức mạnh không ngăn được
Khiến loài người mất con
Tổn hại các thai nhi
Khi nam nữ giao hợp
Khiến tâm họ mê loạn
Không kết thành bào thai
Hoặc ca-la, an-phù
Tổn thai, nên không con
Hoặc khi sinh đoạt mạng
Đều do các ác quỉ
Não loạn mà gây ra
Nay con nêu tên chúng
Cúi xin Phật lắng nghe:
Một là Di-thù-ca
Hai là Di-già-vương
Ba, bốn là Khiên-đà
A-ba-tất-ma-la
Năm là Mâu-trí-ca
Sáu là Ma-trí-ca
Bảy tên Xà-di-ca
Tám tên Ca-di-ni
Chín là Lợi-bà-để
Mười tên Phú-đa-na
Kế Mạn-đa-nan-đề
Mười hai Xá-cứu-ni
Kế Tiệp-trá-ba-ni
Kế Mục-khư-mạn-trà
Cuối cùng là Lam-bà.
Mười lăm quỉ thần này thường đi khắp thế gian, gây ra nỗi kinh hoàng cho các thai nhi và trẻ nhỏ. Nay con cũng xin nói về hình trạng của các quỉ thần này. Do các hình tướng này mà trẻ con sợ hãi. Hình dáng Di-thù-ca như trâu, Di-già-vương như sư tử, Khiên-đà như trời Cưu-ma-la, A-ba-tất-ma-la như chồn hoang, Mâu-trí-ca

Phần 5

như khỉ, Ma-trí-ca như nữ la-sát, Xà-di-ca như ngựa, Ca-di-ni như phụ nữ, Lợi-bà-để như chó, Phú-đa-na như heo, Mạn-đa-nan-đề như mèo con, Xá-cứu-ni như quạ, Tiệp-trá-ba-ni như gà, Mục-khư-mạn-trà như chồn hương, Lam-bà như rắn.
Nay con cũng xin nói về tướng sợ hãi của trẻ con. Di-thù-ca khiến hai mắt đứa trẻ nhìn dáo dác, Di-già-vương khiến đứa trẻ luôn ói mửa, Khiên-đà khiến hai vai đứa trẻ rung động, A-ba-tất-ma-la khiến miệng đứa trẻ tuôn nước bọt, Mâu-trí-ca khiến hai tay đứa trẻ nắm chặt, Ma-trí-ca khiến đứa trẻ tự cắn lưỡi của mình, Xà-di-ca khiến đứa trẻ lúc khóc lúc cười, Ca-di-ni khiến đứa trẻ thích xúc chạm người nữ, Lợi-bà-để khiến đứa trẻ biểu hiện nhiều tướng khác lạ, Phú-đa-na khiến đứa trẻ lúc ngủ sợ hãi khóc thét, Mạn-đa- nan-đề khiến đứa trẻ ban đêm lúc khóc lúc cười, Xá-cứu-ni khiến đứa trẻ không chịu bú, Tiệp-trá-ba-ni khiến đứa trẻ tắc tiếng, Mục-khư-mạn-trà khiến đứa trẻ mắc bệnh thời khí và bệnh nhiệt cũng như tiêu chảy, Lam-bà khiến đứa trẻ hay ợ và nghẹn.
Con đã nói hình tướng mà mười lăm quỉ thần này dùng dọa sợ các trẻ, cũng như các biểu hiện sợ hãi của trẻ tương ứng với mỗi quỉ. Lại có một đại quỉ thần vương tên là Chiên-đàn càn-thát-bà, là chúa của các quỉ thần. Nên dùng chỉ năm màu, gia trì thần chú này vào đó, cứ mỗi biến thắt một gút, đủ một trăm lẻ tám gút. Sau đó viết tên của các quỉ thần này vào, rồi bảo người mang sợi chỉ này và dặn dò:
- Ông hãy đi nhanh như gió đến khắp nơi, hễ gặp bất cứ chỗ ở nào của mười lăm quỉ thần ấy, ông giao sợi chỉ này cho đại lực thần vương Chiên-đàn Càn-thát-bà và bảo dùng sợi chỉ này bắt trói các quỉ thần ấy, đồng thời dùng thức ăn ngon, hương hoa, đèn sáng, cháo sữa cúng dường thần vương.
Đại Phạm thiên vương lại bạch Đức Phật:
- Bạch Thế Tôn! Nếu có người nữ không sinh được con trai, hoặc bị trụy thai, hoặc sinh ra bị quỉ thần đoạt mạng mà người này muốn cầu sinh con trai, giữ toàn tính mạng và mong nó sống lâu, thì nên chuyên tâm tu tập pháp thiện. Cứ vào mồng tám và rằm mỗi tháng nên thụ trì bát quan trai, tắm gội, thay y phục sạch sẽ, đỉnh lễ các Đức Phật mười phương, đến nửa đêm, đặt một ít hạt cải trên đầu mình rồi tụng thần chú mà con sắp nói. Con sẽ giúp cho người nữ này đạt được ước nguyện, sinh nam, an ổn, không bị tật bệnh, sống đến hết tuổi thọ mà không bị chết yểu. Nếu quỉ thần nào không thuận thần chú của con, con sẽ phá đầu của chúng thành bảy phần, như cành Ha-lê-lặc. Con xin nói thần chú Hộ chư đồng tử đà-la-ni’.
Đát điệt tha, a già ra, già nê, na già già nê, sa lầu lệ, kì lệ, già kì lệ, hát lệ, bất lệ, la thâu nễ, tu la tì, ba đà ni, ba ra a hát lị sa ni na dị, di na dị, tô bà ha.
- Bạch Thế Tôn! Con thuyết thần chú này là để bảo vệ các đứa bé mới sinh được an ổn và về sau được trường thọ’.
Bấy giờ Thế Tôn, bậc Nhất thiết chủng trí cũng thuyết thần chú: Đát điệt tha, bồ đà bồ đà bồ đà, nậu ma đế, bồ đề bồ đề, ma lệ, thức xoa dạ sa xá lị, sa đạt nễ, sa la địa, đầu lệ đầu đầu lệ ba lạp đa đầu lệ, xả ma nị, xoa tì xoa lệ, ba lạp đế xoa lam xá di đế, bàn tha bàn hi, ba ha nị, đà ba nị, tô bà ha nị, bà la nị, tô bà ha.
Thế gian có mười lăm quỉ thần chuyên ăn thịt uống máu người, nhưng nhờ uy lực của đà-la-ni này, chúng đều lánh xa, không khởi tâm ác, giúp các trẻ không còn sợ hãi, an ổn, không bệnh tật; lúc trong thai hay vừa sinh ra đều không gặp tai họa. Bất cứ nơi nào có tụng chú này, thì những đứa trẻ ở nơi ấy luôn được an ổn, sống lâu, qui kính Phật-đà. Thành tựu chú này, sẽ bảo vệ những đứa trẻ, khiến chúng không bị ác quỉ thân làm hại, không còn tất cả tai họa, tất cả nỗi sợ hãi, tô bà ha.
Phạm thiên nghe Đức Phật thuyết thần chú này, lòng vô cùng vui mừng và cung kính tuân hành.
68.7.2. Đà-la-ni tập kinh * Phật tuyên thuyết thần chú Chỉ nữ nhân hoạn huyết chí khổn:
Nam mô tát lị bà, phục đà nam, tị tất xỉ rị noa, xỉ địa dạ tha, chỉ lị di, chú lộ di, nễ lệ ba nễ lệ, sa bà ha, đế sử tra đâu, lộ địa lam, bà đế kiếm, tì đế kiếm, thi lệ sa mi kiếm, sa nễ bà đế kiếm, tát lị bà phục đà nam, để chỉ na, đế sử trả đâu, lộ tha lạm ma sa la bà đâu, mạt già la đâu, ma bà ha đâu, sa bà ha.
Trì tụng chú này vào một sợi chỉ đỏ bảy biến, mỗi biến thắt một gút, rồi buộc quanh hông, thì máu sẽ ngưng chảy. Thần chú này chuyên trị băng huyết.
* Phật tuyên thuyết thần chú Phụ nữ sản nan: Mục đa tu lị dạ, xả thi già la, tất xỉ, la hầu thất chiên đà la, ba la mục chỉ dã đâu mục đa tát bà bà bà, phật đồ na lị già la, ba la mục già dã đâu, đa diết tha, a trá tì sa ha, bà trá sa ha, a trá bà, bà trả tì, sa ha, mộ già nhân địa lị dạ, già đa nễ, tì xá lệ dạ, bà bà đâu xả lị dạ, di già xá, a dư ma dạ, y mị già ma nộ diệu, xá lô dạ, tát tì xá lô, ba la mục già đâu, sa ha.
Trì tụng chú này bảy biến vào dầu rồi xoa trên bụng sản phụ, đứa bé rất dễ ra.
* Phật tuyên thuyết thần chú Trừ tai họa chư tà não độc:
Ế phàm ma dạ thâu lô đa mị, ca tất để, tam ma dạ bà già phàm, xá la bà tất kiếm, tị ha ra để tất ma, bạt đa bà nễ, a na tha tỉ trà, đạt đà ra mị đa đa la bà già phàm, thử súc nẫm mạn đa la da để tất ma ô kì lí hề noa đa bà ma nan đại y, lăng sa trà xoa lị kiếm tư viêm đà la dạ, bà già dạ, già la ha dạ bát lị dạ bất na bát lị ư già tự tất xỉ lị noa, tam bà la, ca xá da, đa địa dạ tha, thiêm tì lệ đạm tì lệ tra tra chi, tra tra chi, sa bà ha.
Trì tụng bảy biến thần chú này vào sợi dây làm bằng lông dê đen, rồi buộc vào cánh tay. Nếu không có lông dê, thì chỉ đen cũng được. Nếu bị bệnh nhiệt đã ba bốn ngày, thì buộc dây đã trì chú này vào cánh tay trái; nếu bệnh đau đầu thì tụng bảy biến chú này rồi dùng tay xát vào đầu, nếu bệnh điếc thì trì bảy biến thần chú này vào que gỗ rồi thông vào tai, nếu đau răng thì tụng bảy biến vào tăm rồi xỉa vào chỗ đau, nếu đau bụng thì tụng bảy biến vào nước muối rồi uống, nếu sinh khó thì tụng chú vào sợi chỉ đen bảy biến rồi đeo vào cổ, đứa bé sẽ dễ ra, nếu ăn không tiêu thì tụng chú vào tay rồi xoa vào bụng thức ăn liền nôn ra ngoài. Nếu gặp các tai nạn khác, thì chú này cũng bảo vệ được thân; lại không sợ nước, lửa, đao binh, thú dữ; tất cả những pháp ác không thể làm hại. Nhưng những người không chí tâm, ăn uống các thứ bất tịnh, ắt không linh nghiệm.
- Phật tuyên thuyết thần chú giúp nghe nhiều nhớ kĩ: Phù đa phất bà, ma nan triệu, át đế thâu lô,nũ ma tì áo, đạt ra la, xà bà phù bà, sa y mạn, tì áo ba la đầu sứ ca lị sứ đa, địa dạ địa tất địa, na tát để, át tam để ca trí tị ca trí, bất tộ tì dạ la để, a già để tam ma hể để, tất địa tam ma tì để.
Đức Phật bảo A-nan: “Muốn tu pháp này, ông nên chuẩn bị ba vật là cành Bà-la-di, quả bạch Ha-lê-lặc và Tất-bát-lợi, vào lúc sáng sớm tụng chú này vào đó một nghìn biến, xong hòa với tô mật rồi uống, thì vừa nghe gì liền nhớ kĩ.
* Quan Thế Âm hành đạo cầu nguyện đà-la-ni: Nam mô la đa na, đa la da da, nam mô a lị da, bà lô cát để, xa bà la da, bồ đề tát đỏa da, ma ha bồ đề tát đỏa da, ma ha tát đỏa da, ma ha ca lưu ni ca, đa diệt tha, ô tô mị sa đà da, tô di bà đế bà đà da, thủ cát lị sa đà da, thủ tì sa đà da, y tư di tư tất triền nê ba la da xa, tất bà ha.
Khi tu pháp này, nên lập đàn, dùng bùn thơm trát nền, đặt tôn tượng bồ-tát Quán Thế Âm. Sau đó dâng hương hoa cúng dường, ngày đêm phân sáu thời trì tụng thần chú này, mỗi thời tụng hai trăm mười biến. Nếu được như thế, tùy thuận lòng mong cầu của hành giả, bồ-tát Quán Thế Âm liền hiện thân cho người ấy thấy, đồng thời giúp thành tựu bản nguyện.
* Chú cầu mưa: Kinh Đại vân ghi: “Bấy giờ Thế Tôn dùng sức uy thần nổi mây đen, tuôn mưa cam lộ cùng khắp. Thế Tôn giăng ba loại mây là hạ, trung và thượng, rồi tuôn mưa. Tiếng mưa rơi giống như nhạc trời, khiến tất cả chúng sinh đều thích nghe. Thế Tôn lại tuyên thuyết thần chú: Yết đế, ba lị yết đế, tăng yết đế, ba la tăng yết đế, ba la tì, la diên đế, tam ba la tì la diên để, sa la sa la, ba sa la ba sa la, ma mân xà ma mân, xà già la để già la để, ba già la để ba già la để, ba già la để, tam ba già la để, tì đề i lị i lị, tát lệ hê, tát lệ hê, phú lô phú lô, sa ha.
Nếu loài rồng nghe được thần chú này, nếu không tuôn mưa thì đầu sẽ vỡ thành bảy phần”.
* Thần chú trị đau răng: Nam-mô Phật, nam-mô pháp, nam-mô tì-kheo tăng, nam-mô Xá-lợi-phất đâu-lâu, Ma-ha Mục-liên tì-kheo, nam-mô hiền giả Hiền Ý nổi tiếng khắp mười phương. Ở núi Kiện-đà Ma-ha-diễn ở phương bắc có một vua trùng tên là Tu Hưu Vô Đắc đang ở trong răng của người có tên là.... Vì thế nên sai sứ giả đến, để trùng không dám ăn răng và trú ngụ nơi chân răng, trong răng, bên răng. Nếu trùng không mau chóng rơi xuống bát thì đầu sẽ vỡ nát như Cưu-la-lặc-thiện. Phạm vương hãy trợ giúp thần chú này. Qui mạng Phật! Xin giúp thần chú này của con được như nguyện.
Khi hành pháp này, nên ngậm một ngụm nước sạch, trì tụng chú này một biến, sau đó nhổ vào một cái chén thì hết đau răng.
* Thần chú giúp gieo cấy không bị nạn sâu bọ phá hại: Đa diệt tha, bà la bạt đề, na xà bà đề.
Nên trì tụng hai mươi mốt biến thần chú này vào một thăng hạt giống, sau đó gieo thì sẽ không bị nạn sâu rầy phá hại.
* Thần chú bảo vệ ruộng đất: Nam-mô Phật-đà-xà, nam-mô Đạt-ma-xà, nam mô Tăng-già-xà, nam-mô Di-lưu-kiệt-tì, bồ đề tát đỏa đát đề tha đam bà phật kì, tỉ luật trá phật kì, cụ kì lị tỉ luật trá phật kì, di lâu xà bà, kiệt trù ba phật kì, hô mộng a nê bà phật kì, ma la a bạt đa phật ni mộng phù phật kì.

Phần 6

Nếu sợ lúa mạ không tốt, nên trì tụng hai mươi mốt biến thần chú này vào một hộc đất, sau đó rải lên hạt giống. Như thế sẽ không bị các ác quỉ thần hút mất tinh của lúa. Nếu quỉ ăn lúa mạ này thì đầu sẽ vỡ nát. Thần chú này còn trừ nạn sâu rầy và các tai họa khác.
* Thần chú trị nọc độc của rắn độc và bò cạp: Nam mô lặc na yêm bà la đẳng noa, đa điệt tha, hưu lâu phù nê lâu phù, ha lị ha lị ha, sa ha, nam mô cư lực noa di yêm lặc na, đa diệt tha, nhân lũ lị, tần lũ lị phù, sa ha.
Trì tụng thần chú này hai mươi mốt biến, cứ mỗi bảy biến trao cho một ngụm nước, ba lần trao cho ba ngụm nước, thì trừ được nọc độc.
* Thần chú trị các loại bệnh độc: Nam-mô Quán Thế Âm bồ-tát, đát điệt tha, a la ni, đa la ni, tát phiệt đậu tha, phiệt la ni, tát phiệt đạt trá, bàn đãng di, da phiệt đà lị, nam một già di tât đát đâu, mạn tha ba đà, sa ha.
Trì tụng bảy biến thần chú này vào một sợi chỉ trắng, cứ mỗi biến thắt một gút, rồi đeo vào cổ thì sẽ lành tất cả các bệnh độc.
* Bồ-tát Quán Thế Âm thuyết thần chú diệt tội được ý nguyện: Nam mô lặc nẳng lị xà xà, nam mô a lị xà, bà lộ cát để, xá phục la xà, bồ đề tát đỏa xà, ma ha tát đỏa xà, đát điệt tha, đâu lưu đâu lưu, a tư, ma tư ma lị ni, thị ba ma lị, đậu đậu tì na mộ na mộ, sa ha.
Khi tu pháp này, nên đốt hương trầm thủy, chí thành sám hối trước tượng bồ-tát Quán Thế Âm. Ngày đêm sáu thời lễ lạy, tụng niệm, hành đạo. Trong mỗi thời tụng ba biến thần chú này, thì diệt trừ tất cả tội chướng từ vô thủy đến nay, lại con đạt được công đức không thể nghĩ bàn. Muốn cầu gì cũng đều được như ý.
* Bồ-tát Quán Thế Âm thuyết thần chú trừ bệnh bỗng nhiên đau bụng: Nam mô lặc nẳng lị xà xà, nam mô a lị xà, bà lộ cát để, xá phục la xà, bồ đề tát đỏa xà, ma ha tát đỏa xà, đát điệt tha, cứu chi cứu chi, la chi la chi, a na tam bà đà ni di, sa ha.
Nếu có người bỗng nhiên đau bụng, nên gấp tụng ba biến thần chú này vào nước muối rồi cho người ấy uống, cơn đau liền dửt.
* Bồ-tát Quán Thế Âm thuyết thần chú giải độc, thậm chí đã chết: Nam mô lặc nẳng lị xà xà, nam mô a lị xà, bà lộ cát để, xá phục la xà, bồ đề tát đỏa xà, ma ha tát đỏa xà, đát điệt tha, sa lị, sa lị, tì sa lị tì sa lị, tát bà tì sa na xá ni, sa ha.
Nếu có người bị trúng độc sắp chết, hoặc đã chết, nên gấp tụng thần chú này vào lỗ tai người ấy. Như vậy dù bạo tử cũng sống lại.
* Bồ-tát Quán Thế Âm thuyết thần chú trừ các bệnh cùi hủi, cho đến bị đao kiếm... chém đứt, gãy..-Nam mô lặc nẵng lị xà xà, nam mô a lị xà, bà lộ cát để xá phục la xà, bổ đề tát đỏa xà, ma ha tát đỏa xà, đát điệt tha, tu mục xí, tì mục xí, hưu lưu, hưu lưu, tu mục lưu, tỉ tu mục lưu, thâu na ninh, tì thâu na ninh, ma tư đa bà đau ma thủ la đâu, ma đang để, bà ba để, đa bà thủ, sa đâu, sa ha.
Nếu người bị bệnh hủi, hoặc hủi trắng, hủi đỏ, nên chí thành sám hối, hành đạo, siêng năng tụng thần chú này, nhất định sẽ lành bệnh. Nếu có người bị chó điên cắn, hoặc bị ung nhọt, hoặc bị đao kiếm chém chặt, thì nên trì tụng thần chú này vào đất rồi bôi lên vết thương, sẽ mau lành.
* Bồ-tát Quán Thế Âm thuyết thần chú giúp nghe qua liền nhớ kĩ, không quên sót: Nam mô lặc nẳng lị xà xà, nam mô a lị xà, bà lộ cát để, xá phục la xà, bồ đề tát đỏa xà, ma ha tát đỏa xà, đát điệt tha, kiền trì phú na li, ba ba li, sa ha.
Người tu pháp này, nên đối trước tượng đức Quán Âm đốt hương Trầm thủy, chí thành trì tụng tám trăm biến thần chú này vào rễ Xương bồ trắng rồi uống, thì khi vừa nghe pháp liền ghi nhớ, không bao giờ quên sót. Đối với bốn loại Xương bồ: đen, đỏ, xanh, vàng cũng có thần chú riêng, ở đây sợ dài dòng, nên không ghi.
* Thần chú trị quỉ làm hôi nách: Nhã đa nô tri, hầu hầu hầu hầu đa nỗ tri, phù lưu lưu lưu lưu đa nỗ tri, ma lại đế đa nỗ tri, a na na na đa nỗ tri, sa ha.
Người có bệnh hôi nách, nên dùng ba thăng vôi bột hòa trộn với ba đấu rượu lạt, trì tụng vào đó hai mươi bảy biến thần chú này, rồi vò lại thành từng viên để dễ thay đổi. Nam thì đặt dưới nách trái, nữ thì đặt dưới nách phải.
* Thần chú trị bệnh sốt rét: Tu mật đa, a nị trá, ca tri nị trá, ô hô na tu mật đa, chi ba hô hầu tu mật đa, y tri nị trá trá tu mật đa, sa ha.
Trì tụng bảy biến thần chú này vào một sợi chỉ năm màu, mỗi biến thắt mỗi gút. Nếu đau từ đầu xuống thì trước buộc sợi chỉ này vào cổ, rồi vào chân, vào tay; nếu nóng quá thì tụng chú này vào nước ba biến rồi phun vào người bệnh, tức bệnh thuyên giảm.
* Thần chú trị quỉ thần làm mắc nghẹn: Hồ ma đâu, ô xa hầu hầu hồ ma đâu a nậu, yết tì hồ ma đâu yết tì hồ am đâu, phá ba la hồ ma đâu, sa ha.
Trì tụng thần chú này vào nước sạch bảy biến rồi cho người bệnh uống, khoảng năm ba lần thì lành bệnh.
* Kinh Phật thuyết thần thủy chú liệu nhất thiết bệnh: Nam-mô Phật, nam-mô Pháp, nam-mô tì-kheo Tăng, nam-mô bảy Đức Phật quá khứ, nam-mô chư Phật, nam-mô đệ tử chư Phật, nam-mô các hiền thánh, nam-mô đệ tử các hiền thánh, nam-mô Duy-vệ Phật, nam-mô Thi-khí Phật, nam-mô Tùy-diệp Phật, nam-nô Câu-lưu-tần Phật, nam-mô Câu-na-hàm Mâu-nỉ Phật, nam-mô Ca-diếp Phật, nam-mô Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thần chú này do Đức Phật tuyên thuyết, trì ba biến thần chú này vào bất cứ sông hồ ao giếng nào, người uống cũng sẽ lành tất cả bệnh.
* Bồ-tát Quán Thế Âm thuyết thần chú Tùy nguyện: Nam-mô Quán Thế Âm bồ-tát, đát điệt tha khư la bà đa khư la bà đa, già ha bà đa, già bà đa, già phiệt đa, sa ha.
Muốn tu pháp này, phải thanh tịnh ba nghiệp, vào điện Phật, chùa tháp... chí thành lễ lạy, nhiễu Phật và tháp, tụng thân chú này một vạn hai nghìn biến. Như thế sẽ thấy được bồ-tát Quán Thế Âm và thành tựu mong cầu.
* Đức Phật tuyên thuyết chú Nê đồ binh: Đa trịch tha, y lị phủ lị trì lị phú luân đề, a vị phù, ma vị phù, bà vị phù, tỉ chí vị phù, tỉ tư để phù, ma sất đề phù, ô tư la bà vị phù, sa ha.
Muốn vào trong quân giặc, trước tiên nên trì tụng ba biến thần chú này vào đất bùn, sau đó thoa vào thân thì sẽ vào được. Nếu xoa lên cờ xí, tràng phan, trống loa, nhạc cụ xông trận thì nhất định chiến thắng. Nếu bị trùng độc căn, hoặc trúng độc, hoặc thân có chỗ bị sưng phù, cũng thoa bùn này vào nơi ấy, rồi đắp Thanh đại4 lên trên, thì bệnh lành.
Có bài tụng:
Bị bệnh nặng đã lâu
Chữa mãi mà không lành
Bốn ma luôn vây bủa
Sáu giặc đến kéo lôi
Nguy cấp không ai cứu
Chỉ cầu Phật đoái hoài
Từ xa thương con dại
Cất bước cưỡi mây lành
Trao con thuốc cam lộ
Tà đạo phải lui sau
Tiêu tai trừ nghiệp lụy
Cứu thoát khổ nấu nung
An lưu truyền đạọ pháp
Lợi ích khắp Đại thiên
Nếu chẳng nhờ thần chú
Tuổi thọ đâu kéo dài.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục