Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 59 - CHƯƠNG MƯU HẠI VÀ PHỈ BÁNG (tt)

11/12/2015

QUYỂN 59 Nội dung quyển này tiếp theo chương Mưu hại và phỉ báng. 67. CHƯƠNG MƯU HẠI VÀ PHỈ BẢNG (tt) 67.5. NGHIỆP CHƯỚNG ĐỜI TRƯỚC 67.5.1. Nhân duyên Tôn-đà-lợi vu khống Đức Phật Kinh Hưng khởi hạnh ghi: “Như Lai dẫn th...

PUCL QUYỂN 59 - CHƯƠNG MƯU HẠI VÀ PHỈ BÁNG (tt)
Phần 1

QUYỂN 59
Nội dung quyển này tiếp theo chương Mưu hại và phỉ báng.
67. CHƯƠNG MƯU HẠI VÀ PHỈ BẢNG (tt)

67.5. NGHIỆP CHƯỚNG ĐỜI TRƯỚC
67.5.1. Nhân duyên Tôn-đà-lợi vu khống Đức Phật
Kinh Hưng khởi hạnh ghi: “Như Lai dẫn theo năm trăm A-la-hán, vào ngày rằm mỗi tháng Ngài thường thuyết giới cho đại chúng nghe. Một hôm tôn giả Xá-lợi-phất từ tòa hoa đứng dậy, chỉnh trang pháp phục, để lộ vai phải, quì gối phải, chắp tay bạch:
- Bạch đức Thế Tôn! Không có điều gì mà Ngài không thấy, không có điều gì mà Ngài không nghe, không có điều gì mà Ngài không biết. Không ai sánh bằng Thế Tôn, bởi Ngài đã trừ sạch các ác hạnh, đầy đủ tất cả thiện hạnh, muốn độ tất cả chúng sinh. Hôm nay Thế Tôn cố ý thị hiện các nghiệp ác tàn dư sao? Cúi xin Ngài chỉ dạy, để cho trời người hiểu rõ những việc:
- Vì sao đức Thế Tôn bị Tôn-đà-lợi vu khống?
- Vì sao đức Thế Tôn và năm trăm a-la-hán bị Xa-di-bạt-đề vu khống và phỉ báng?
- Vì sao đức Thế Tôn bị đau đầu?
- Vì sao đức Thế Tôn bị đau nhức xương khớp?
- Vì sao đức Thế Tôn bị đau lưng?
- Vì sao đức Thế Tôn bị thanh gỗ nhọn đâm vào chân?
- Vì sao đức Thế Tôn bị Điều-đạt lăn đá làm bị thương ngón chân?
- Vì sao người đàn bà lắm lời độn bụng, vào giữa đại chúng, vu báng Thế Tôn.
- Vì sao đức Thế Tôn và năm trăm tì-kheo ăn lúa ngựa ở thôn Tĩ-lan?
- Vì sao đức Thế Tôn phải tu khổ hạnh sáu năm ở chốn rừng sâu hẻo lánh?
Đức Phật bảo Xá-lợi-phất:
- Ông hãy trở về tòa hoa. Ta sẽ kể lại những nhân duyên đời trước của Ta cho ông nghe.
Vâng lời Phật dạy, tôn giả Xá-lợi-phất trở về tòa của mình. Nghe tin Phật sẽ nói về nhân duyên đời trước, vua rồng A-nậu vô cùng vui mừng, liền đem lọng bảy báu cúng dường Phật. Từ lọng tuôn mưa hương bột chiên-đàn khắp các tòa ngồi. Lại có tám bộ chúng: trời, rồng... đến trước Phật, chắp tay, đỉnh lễ, rồi cung đứng nghe. Đức Phật kể:
Vào thời quá khứ xa xưa, trong thành Ba-la-nại có một người đánh bạc tên là Tịnh Nhãn, lại có kĩ nữ Lộc Tướng xinh đẹp tuyệt trần. Một hôm, Tịnh Nhãn nói với Lộc Tướng:
- Chúng ta hãy ra ngoài thành, đến khu rừng kia để cùng vui chơi.
Lộc Tướng trả lời:
- Được thôi!
Khi ấy, Lộc Tướng trở về, mặc y phục đẹp, rồi đến nhà Tịnh Nhãn. Cả hai cùng đi xe ra ngoài thành Ba-la-nại, đến một vườn cây vui chơi suốt một ngày đêm.
Thấy y phục của Lộc Tướng quí báu, Tịnh Nhãn khởi tâm tham, muốn giết cô ta để đoạt lấy; lại nghĩ: ‘Giết rồi, giấu xác cô ta nơi đâu!’. Lúc ấy, trong vườn có vị bích-chi-phật tên là Nhạo Vô Vi ở cách đó không xa. Tịnh Nhãn thầm nghĩ: ‘Sáng sớm, sau khi vị bích-chi phật vào thành khất thực, ta sẽ giết Lộc Tướng, chôn trong túp lều của vị này, rồi đem y phục trở về, thì ai biết được là ta làm!’.
Sáng sớm hôm sau, Tịnh Nhãn làm đúng như vậy, rồi cưỡi xe theo cửa khác vào thành.
Dân chúng trong nước không thấy Lộc Tướng, liền đến tâu vua nước Ba-la-nại là Phạm-đạt:
- Không thấy Lộc Tướng đâu cả!
Nghe vậy, vua triệu tập quần thần, ra lệnh đi khắp hang cùng ngõ hẻm trong thôn để tìm Lộc Tướng.
Vâng sắc lệnh vua, quần thần đi tìm Lộc Tướng khắp thành, nhưng không gặp. Thế rồi, họ đi ra ngoài thành, đến túp lều của Nhạo Vô Vi, tìm kiếm, đào bới thì được từ thi, liền nói với Nhạo Vô Vi:
- Ông đã hành dâm, sao lại còn giết chết cô ta!
Vị bích-chi phật im lặng, hỏi đến ba lần, Nhạo
Vô Vi vẫn không trả lời. Biết đây là nhân duyên đời trước, Nhạo Vô Vi liền chống tay chân xuống đất măc cho quân thân trói chặt, tra khảo, đánh đập, hỏi cung.
Thấy vậy, vị thần cây hiện ra nửa thân, nói với mọi người:
- Chớ tra khảo, đánh đập người này!
Quần thần hỏi:
- Vì sao không đánh?
Thần nói:
- Các người làm như vậy không đúng! Vị này không bao giờ làm việc ấy đâu!
Tuy nghe nói, nhưng họ vẫn không chịu tin, lại dẫn Nhạo Vô Vi đến chỗ vua và tâu:
- Vị đạo sĩ này đã hành dâm, lại còn giết chết Lộc Tướng!
Nghe vậy, vua giận dữ bảo quần thần:
- Hãy mau trói ông ta vào ách lừa, đánh trống, giải đi cùng khắp; sau đó, dẫn đến một gốc cây ở cửa thành phía nam, lấy giáo sắt đâm xuyên qua, móc lên ngọn cây, tập họp cung thủ bắn. Nếu hắn không chết thì đập đầu!
Dân chúng trong nước trông thấy, đều kinh ngạc, dù có người tin, có người không tin, nhưng tất cả đều buồn thương.
Khi ấy, đang núp trong bức tường nứt, Tịnh Nhãn nghe mọi người la khóc, nên nghiêng người lén nhìn qua kẽ hở, thì thấy Nhạo Vô Vi bị trói ngược vào lừa, lại có nhiều người đi theo. Tịnh Nhãn suy nghĩ: ‘Vị đạo sĩ này sắp bị chết oan’. Thế là Tịnh Nhãn vội chạy đến gặp mọi người và thưa:
- Đừng giết oan đạo sĩ! Chẳng phải đạo sĩ giết Lộc Tướng mà chính tôi giết đó! Xin các ông thả đạo sĩ, hãy bắt tôi, theo tội xử trị.
Nghe vậy, các quan kinh ngạc hỏi:
- Sao ông lại chịu tội thay cho đạo sĩ?
Thế là họ cởi trói cho vị bích-chi phật và bắt trói Tịnh Nhãn.
Khi ấy, các quan đỉnh lễ, sám hối vị bích-chi phật:
- Chúng con ngu muội, vô cớ bắt oan đạo sĩ, cúi xin đạo sĩ từ bi tha tội cho, đừng để đời sau chúng con phải chuốc lấy tội trọng này.
Họ thưa đến ba lần, Nhạo Vô Vi vẫn im lặng suy nghĩ: ‘Bây giờ, mình không nên trở lại thành Ba-la-nại khất thực, chỉ nên nhập diệt trước mặt những người này’. Thế là, vị bích-chi phật bay lên, qua lại, đi đứng, nằm ngồi trên hư không, từ lưng trở xuống phụt khói, từ lưng trở lên bốc lửa; hoặc từ lưng trở xuống bốc lửa, từ lưng trở lên phụt khói; hoặc hông bên trái phụt khói, hông bên phải bốc lửa; hoặc hông bên trái bôc lửa, hông bên phải phụt khói; hoặc trước bụng phụt khói, trên lưng bốc lửa; hoặc trước bụng bốc lửa, trên lưng phụt khói; hoặc từ lưng trở xuống bốc lửa, từ lưng trở lên phun nước; hoặc từ lưng trở xuống phun nước, từ lưng trở lên bốc lửa; hoặc hông bên trái bốc lửa, hông bên phải phun nước; hoặc hông bên trái phun nước, hông bên phải bốc lửa; hoặc trước bụng phun nước, trên lưng bốc lửa; hoặc trước bụng bốc lửa, trên lưng phun nước; hoặc vai trái phun nước, vai phải bốc lửa; hoặc vai trái bốc lửa, vai phải phun nước; hoặc hai vai phun nước; hoặc hai vai bốc lửa; toàn thân phun khói; toàn thân bốc lửa; toàn thân phun nước; rồi thiêu thân nhập diệt ở giữa hư không.
Lúc đó, dân chúng đều xót thương rơi lệ, có người sám hối, có người đỉnh lễ, rồi thâu nhặt xá-lợi xây tháp cúng dường ở ngã tư đường.
Các vị thượng quan dẫn Tịnh Nhãn đến chỗ vua Phạm-đạt và tâu:
- Người này giết Lộc Tướng, chẳng phải đạo sĩ giết.
Vua bảo quần thần trị phạt Tịnh Nhãn như đã trị phạt đạo nhân. Phật bảo Xá-lợi-phất:
Phần 2

- Tịnh Nhãn thuở ấy là tiền thân của Ta; Lộc Tướng là Tôn-đà-lợi; vua Phạm-đạt thuở ấy là Chấp Trượng. Thuở ấy, Ta giết Lộc Tướng, làm vị bích-chi phật bị oan. Vì nhân duyên này, nên trong vô số nghìn năm, Ta bị thiêu cháy trong địa ngục, vô số nghìn năm bị đọa trong loài súc sinh, vô số nghìn năm ở trong loài ngạ quỉ. Do nghiệp duyên thuở ấy còn sót lại, nên nay tuy đã thành Phật, Ta vẫn bị Tôn-đà-lợi vu khống”.
67.5.2. Nhân duyên Phật và năm trăm vị a-la-hán bị vu khống và phỉ báng
Đức Phật bảo Xá-lợi-phất: “Cách đây chín mươi mốt kiếp về thuở quá khứ, trong đất nước nọ, có vị quôc vương tên là Thiện Thuyết, đô thành tên là Thiện Thuyết Sở Tạo. Bấy giờ, có bà-la-môn Duyên-như-đạt học rộng, hiểu nhiều, thường dạy cho năm trăm đồng tử thuộc dòng dõi quí tộc.
Lại có bà-la-môn Phạm Thiên, là người giàu có. Vợ bà-la-môn này tên là Tịnh Âm, đoan chính, dung mạo tuyệt trần, bản tính nhu hòa, đức hạnh thuần lương, không có tâm ganh ghét. Duyên-như-đạt chọn Phạm thiên làm đàn việt, nên Tịnh Âm cúng dường cho Duyên-như-đạt đầy đủ các thức ăn uống, y phục, chăn nệm, giường chiếu, tọa cụ, thuốc thang.
Bấy giờ vị bích-chi-phật Ái Học mang bát, đắp y vào thành khất thực, tình cờ ngang qua nhà của Phạm Thiên. Thấy vị bích-chi phật y phục trang nghiêm, bước đi thanh thản, sáu căn vắng lặng, Tịnh Âm rất quí kính, nên mời vào cúng dường và thưa:
- Từ nay trở đi, xin ngài luôn đến đây nhận sự cúng dường của con.
Thưa xong, Tịnh Âm lấy các thức ăn uống thơm ngon đựng đầy bát, trao cho vị bích-chi phật. Thụ nhận xong, vị bích-chi phật cầm bát bay lên hư không, lên xuống bảy lần, rồi trở về trú xứ. Thấy thần túc của vị này, người dân trong thành đều vui mừng, cúng dường không ngớt. Kể từ đó, Tịnh Âm cúng dường vị bích-chi phật ngày càng nhiều hơn, còn cúng dường Duyên-như-đạt ngày một ít đi. Duyên-như-đạt tự biết được, nên khởi tâm ganh ghét, phỉ báng:
- Vị đạo sĩ này thật chẳng có giới đức, làm việc không trong sạch.
Duyên-như-đạt nói với năm trăm đệ tử:
- Vị đạo sĩ này đã phạm giới, không tu hạnh tinh tiến.
Các đệ tử trở về nhà nói cho mọi người rằng, vị đạo sĩ này không có tịnh hạnh, tư thông với Tịnh Âm.
Nghe lời này, người dân trong nước đều nghi ngờ, suy nghĩ: ‘Người có thần túc như thế mà bị mang tiếng xấu như vậy sao?r.
Tiếng xấu ấy đồn đãi đến bảy năm mới chấm dứt. Sau đó, vị bích-chi phật hiện mười tám loại thần biến, rồi viên tịch. Bấy giờ, mọi người đều biết Duyên-như-đạt vu khống vị bích-chi-phật.
Phật bảo Xá-lợi-phất:
- Ông nên biết! Duyên-như-đạt thuở ấy tiền thân của Ta, Phạm thiên thuở ấy chính là vua Ưu-điền, Tịnh Âm thuở ấy là Xa-di-bạt, năm trăm đồng tử thuở ấy là năm trăm a-la-hán ngày nay. Thuở ấy do không được cúng dường, nên Ta khởi tâm ganh ghét, cùng với các ông vu khống vị bích-chi-phật. Vì thế, nên trong vô số nghìn năm, Ta và các ông đều bị rơi vào địa ngục, chịu nỗi khổ đun nấu trong vạc nước sôi. Do nghiệp duyên thuở ấy còn sót lại, nên nay tuy đã thành Phật, Ta cùng các ông vẫn bị Xa-di-bạt vu khống”.
67.5.3. Nhân duyên Đức Phật bị đau đầu
Đức Phật bảo Xá-lợi-phất:
- Vào thời quá khứ lâu xa, gặp lúc thành La-duyệt-kì lúa gạo đắt đỏ, dân chúng đói khát, mọi người đều tìm nhặt xương trắng, đun lên để làm canh, lại đào rễ của các loại cỏ cây ăn để duy trì mạng sống. Họ đổi một thưng vàng mới được một thưng lúa.
Bấy giờ, trong thành La-duyệt-kì có thôn Chi-việt với mấy trăm hộ dân. Cách phía đông thôn này không xa, có hồ Đa Ngư. Người dân thôn Chi-việt đưa vợ con đến ở bên hồ này làm nghề chài lưới để nuôi sống. Mọi người bắt cá đem lên bờ, khiến chúng chúng lăn lộn đau đớn. Thuở ấy, là một đứa bé bốn tuổi, thấy cá nhảy, Ta rất vui mừng. Lúc đó, trong ao, có cá Đa Phu và Đa Thiệt nói với nhau:
- Chúng ta không xúc phạm đến con người sao cứ bị họ ăn thịt! Đời sau, chúng ta quyết phải trả thù mới được! ,
Phật bảo Xá-lợi-phất:
- Những nam nữ, lớn nhỏ ở thôn Chi-việt thuở ấy là những người dòng họ Thích ở nước Ca-tì-la-việt ngày nay. Đứa bé lúc ấy là tiền thân của Ta. Con cá Đa Phu thuở ấy là vua Tì-lâu-lặc. Con cá Đa Thiệt là bà-la-môn Ác Thiệt, thầy tướng của vua Tì-lâu-lặc ngày nay.
Thuở ấy, thấy cá lăn lộn trên đất, Ta lấy cái que gõ lên đầu cá, nên bị rơi vào địa ngục trong vô số nghìn năm. Nay tuy đã đắc quả A-duy-tam-phật3, nhưng do nhân duyên còn sót lại này, nên khi vua Tì-lâu-lặc đánh dòng họ Thích, Ta bị đau đầu. Khi mới bị đau đầu, Ta bảo A-nan lấy cái bát có sức chứa bốn thăng đựng đầy nước lạnh đem đến. A-nan vâng lời đem đến, dùng ngón tay gạt lấy mồ hôi trên trán Ta, rồi bỏ vào bát nước lạnh thì bát nước khô ngay. Ví như suốt ngày đun chiếc chảo không, rồi nhỏ vào một giọt nước thì nước liền khô. Sức nóng làm Ta đau đầu cũng giống như vậy. Giả sử bên sườn núi Tu-di có ngọn núi rộng một do-diên đến trăm do-diên, chỉ cần sức nóng trên đầu của Ta cũng đủ làm cháy rụi.
67.5.4. Nhân duyên Đức Phật đau nhức khớp xương
Phật bảo Xá-lợi-phất: Vào thời quá khứ lâu xa, trong thành La-duyệt-kì, có ông trưởng giả bị sốt cao, bệnh tình rất nguy cấp. Trong thành cũng có một thầy thuốc giỏi, thông hiểu thuốc men, có khả năng trị lành các bệnh. Bấy giờ, trưởng giả cho mời thầy thuốc đến và nói:
- Nếu ông trị lành bệnh cho tôi, tôi sẽ dùng nhiều của báu trả ơn ông .
Thày thuốc nhận lời, điều trị cho trưởng giả lành bệnh. Bệnh tình đã khỏi, nhưng trưởng giả không thực hiện lời hứa. Sau đó, trưởng giả lại bị bệnh, cũng mời thầy thuốc đến trị, bệnh lành, vẫn không trả công. Đến ba lần như thế, trưởng giả vẫn không đền ơn.
về sau, căn bệnh tái phát, trưởng giả cho mời thây thuốc đến trị. Thầy thuốc suy nghĩ: “Ta đã ba phen trị lành bệnh mà không trả công, thật là xem thường ta quá. Lần này, mình sẽ trị cho ông ấy chết luôn!”. Thế rồi, thầy thuốc cho trưởng giả uống sai thuốc, bệnh càng nặng hơn, rồi qua đời.
Phật bảo Xá-lợi-Phất:
- Ông có biết thầy thuốc thuở ấy là ai không? Là tiền thân của Ta. Ông trưởng giả bị bệnh thuở ấy là Điều-đạt. Thuở ấy, Ta cho trưởng giả uống sai thuốc, khiến ông ấy qua đời. Vì nhân duyên này, nên trong vô số nghìn năm, Ta phải chịu nỗi khổ trong địa ngục, súc sinh, ngạ quỉ. Cũng do nghiệp duyên thuở ấy còn sót lại, nên nay tuy đã thành Phật, Ta vẫn bị đau nhức xương khớp.
67.5.5. Nhân duyên Đức Phật bị đau lưng
Phật bảo Xá-lợi-phất: Vào thời quá khứ lâu xa, một hôm thành La-duyệt-kì tổ chức lễ hội lớn, dân chúng tụ tập đông đảo. Trong nước, có hai lực sĩ, một người thuộc giai cấp Sát-đế-lợi, một người thuộc giai cấp Bà-la-môn đến tham dự.
Bấy giờ, hai lực sĩ thi đấu với nhau. Lực sĩ dòng Bà-la-môn nói với lực sĩ dòng Sát-đế-lợi:
- Ông đừng đánh tôi, tôi sẽ cho ông nhiều tiền bạc, của báu.
Nghe vậy, lực sĩ dòng Sát-đế-lợi không ra sức đánh bại ông ta, nên cả hai đều được khen ngợi và được vua ban thưởng. Nhưng sau đó lực sĩ dòng Bà-la-môn không chịu đền ơn như đã hứa.
Lần sau, đến ngày lễ hội, hai lực sĩ này cũng thi đấu. Vừa ra trận, lực sĩ dòng Bà-la-môn lại xin lực sĩ dòng Sát-đế-lợi như trước. Lực sĩ dòng Sát-đế-lợi lại khoan dung, không đánh và cả hai đều được khen thưởng, nhưng lực sĩ dòng Bà-la-môn vẫn không báo ân; ba lần đều như thế. Vào lễ hội sau đó, lực sĩ dòng Bà-la-môn lại nói với lực sĩ dòng Sát-đế-lợi:
- Trước giờ tôi hứa với ông, lần này sẽ trả luôn!
Lực sĩ dòng Sát-đế-lợi suy nghĩ: “Ông ấy dối gạt mình mấy phen rồi, đã không trả cho mình, còn xâm phạm đến phần của mình nữa. Lần này, mình sẽ làm cho ông ấy chết mới được”;
Nghĩ như vậy, lực sĩ dòng Sát-đế-lợi cười khẩy một tiếng và nói:
- Ông dối gạt tôi đã đủ ba lần rồi, nay tôi không cần đến đồ vật của ông nữa.
Vừa dứt lời, lực, sĩ dòng Sát-đế-lợi dùng tay phải chộp lấy cổ, tay trái nắm thắt lưng, vận sức vào hai tay bẻ gập lưng ông ta giống như bẻ mía, rồi vác đi ba vòng để mọi người trông thấy .sau đó quật mạnh xuống đất, ông ta chết ngay. Thấy vậy, vua và quần thần vô cùng vui mừng, ban cho lực sĩ dòng Sát-đế-lợi mười vạn tiền vàng. Phật bảo Xá-lợi-Phất:

Phần 3

- Lực sĩ dòng Sát-đế-lợi là tiền thân cùa Ta. Lực sĩ dòng Bà-la-môn thuở ấy là Điều-đạt. Thuở ấy, Ta vì tham lam, tức giận mà đánh chết lực sĩ dòng Bà-la-môn. Vì nhân duyên này, nên trong vô số nghìn năm, Ta bị rơi vào địa ngục, nay tuy đã thành Phật, các lậu đã hết, nhưng do dư nghiệp ấy, mà Ta vẫn bị đau lưng.
67.5.6. Nhân duyên Đức Phật bị thanh gỗ nhọn đâm vào chân
Một thời, Đức Phật và năm trăm vị đại tì-kheo an trú tại tinh xá Trúc Viên, thành La-duyệt-kì. Vào sáng sớm, đức Thế Tôn đắp y, mang bát, cùng với năm trăm vị tì-kheo và A-nan đi vào thành La-duyệt-kì khất thực.
Lần lượt đi khắp mọi nhà, ngang qua một làng nọ, Đức Phật thấy có nhiều thanh gỗ vụn, trong đó một thanh nhọn dài hai thước văng ra dựng đứng trước mặt Phật. Phật thầm nghĩ: “Đây là nghiệp duyên đời trước của Ta, Ta đã tạo nhân này nên nay phải nhận lấy hậu quả”, Mọi người kéo nhau đến xem, thấy thanh gỗ, ai nấy đều ngạc nhiên la lên. Phật lại nghĩ: “Bây giờ, Ta sẽ thị hiện đền trả nghiệp duyên đời trước để mọi người trông thấy mà tin hiểu quả báo oán thù, không dám tạo nghiệp ác”.
Thế là, Đức Phật bay lên hư không cách đất một nhận, thanh gỗ nhọn bám sát theo Phật cũng lên cao một nhận, dựng đứng trước mặt Phật. Phật lại lên cao hai nhận, ba nhận, bốn nhận cho đến bảy nhận, thanh gỗ nhọn cũng theo Phật lên cao đến bảy nhận. Phật lại lên cao một cây đa-la, thanh gỗ nhọn cũng lên cao một cây đa-la. Phật lại lên cao đến bảy cây đa-la, thanh gỗ nhọn cũng theo Phật lên cao như thế và dựng đứng trước mặt Phật. Phật lại lên cao bảy dặm, thanh gỗ nhọn cũng lên cao bảy dặm. Phật lại lên cao mười dặm, thanh gỗ nhọn cũng lên cao như vậy. Phật lại lên cao một do-diên, thanh gỗ nhọn cũng lên cao như thế. Phật lại lên cao bảy do-diên, thanh gỗ nhọn cũng theo Phật lên cao như vậy.
Ở giữa hư không, Phật biến ra tảng đá xanh, dày sáu do-diên, dài rộng mười hai do-diên và đứng trên đó, thanh gỗ nhọn liền đâm xuyên qua tảng đá, dựng đứng trước mặt Phật. Ở giữa hư không, Phật biến ra hồ nước dài rộng mười hai do-diên, sâu sáu do-diên và đứng trên hồ nước ấy, thanh gỗ nhọn lại xuyên qua dòng nước, dựng đứng trước mặt Phật. Ở giữa hư không, Phật lại biến ra một đống lửa lớn dài rộng mười hai do-diên, cao sáu do-diên và đứng trên đống lửa ấy, thanh gỗ nhọn cũng xuyên qua ngọn lửa, dựng đứng trước mặt Phật. Ở giữa hư không, Phật biến ra một luồng gió lốc dài rộng mười hai do-diên, cao sáu do-diên và đứng trên luồng gió ấy, thanh gỗ nhọn nghiêng qua một bên, dựng đứng trước mặt Phật. Phật lại bay lên cung điện của Tứ Thiên vương cho đến Phạm thiên, thanh gỗ nhọn cũng theo lên đến cõi Phạm thiên, dựng đứng trước mặt Phật. Lúc đó, chư thiên nói với nhau:
- Phật sợ thanh gỗ nhọn này nên bỏ đi, vậy mà nó cứ bám sát theo Ngài, không chịu rời.
Phật liền kể lại nhân duyên đời trước của mình cho các vị Phạm thiên nghe.
Sau đó, từ cõi Phạm thiên, Phật lần lượt trở xuống các cõi Bà-la-ni-mật, Niết-ma-la-tha, Đâu-suất, Diệm thiên, cõi trời Ba Mươi Ba, Tứ Thiên vương, rồi trở về thành La-duyệt-kì. Đi qua các cõi trời, Phật đều kể lại duyên xưa cho chư thiên nghe. Thanh gỗ nhọn theo Phật đi lên, rồi cũng theo Phật xuống đến thành La-duyệt-kì. Sau đó, Đức Phật kể lại duyên xưa cho dân chúng thành La-duyệt-kì nghe.
Lần này, Phật cùng các tì-kheo rời khỏi thành La-duyệt-kì, thanh gỗ nhọn cũng theo sau Phật. Người dân trong nước cũng theo Phật đi ra khỏi thành. Phật hỏi dân chúng:
- Các ngươi định đi đâu?
Mọi người thưa:
- Chúng con muốn theo Như Lai để xem việc này.
Phật bảo:
- Hãy trở về! Như Lai tự biết đến lúc phải trả!
A-nan bạch Phật:
- Vì sao Như Lai bảo chúng con trở về?
Phật bảo A-nan:
- Nêu nhìn thấy cảnh Ta đền trả nghiệp duyên này, các ông sẽ chết giấc, ngã lăn ra đất.
Nghe Phật nói vậy, A-nan im lặng.
Bấy giờ, Thế Tôn trở về phòng của Ngài ở tinh xá Trúc Viên, bảo các tì-kheo:
- Các ông hãy trở về phòng!
Vâng lời Phật dạy, các tì-kheo trở về phòng.
A-nan bạch Phật:
- Còn con thì sao?
Phật bảo A-nan:
- Ông cũng trở về phòng.
Vâng lời Phật, A-nan trở về phòng.
Phật nghĩ: “Nghiệp duyên này đời trước Ta đã gây tạo, nay nhất định phải đền trả”. Thế rồi, Phật xếp Đại y làm bốn, trở về chỗ ngồi, đưa chân phải ra, thanh gỗ nhọn liền đâm vào mu bàn chân, xuyên qua lớp đất dày sáu mươi tám nghìn do-diên, lại xuyên lóp nước sâu sáu mươi tám nghìn do-diên, rồi xuyên lớp lửa cao sáu mươi tám nghìn do-diên. Xuyên qua hết lớp lửa này, thanh gỗ nhọn mới bị cháy rụi.
Ngay lúc ấy, quả đất chấn động sáu cách. A-nan và các tì-kheo suy nghĩ: “Nay đất bị chấn động nhất định là thanh gỗ nhọn đã đâm vào chân Phật”. Bị thanh gỗ nhọn đâm vào chân, Đức Phật đau buốt. A-nan đến chỗ Phật, thấy chân Ngài bị thương do thanh gỗ nhọn đâm vào, liền chết giấc, ngã xuống đất. Phật lấy nước vẩy lên, A-nan đứng dậy, đỉnh lễ, vừa xoa chân Phật vừa khóc than:
- Thế Tôn dùng đôi chân này đến cội cây hàng phục quân ma, lại lên cõi trời Ba Mươi Ba thuyết pháp cho thân mẫu. Thân Thế Tôn là thân kim cương, vì nhân duyên gì lại bị thanh gỗ nhỏ này làm tổn thương như thế?
Phật bảo:
- Thôi đi A-nan! Đừng buồn khóc nữa! Nhân duyên ở thế gian, luôn lưu chuyển trong sinh tử, nên phải chịu nỗi khổ này!
A-nan bạch Phật:
- Giờ đây, vết thương của Ngài đã đỡ chưa?
Phật bảo A-nan:
- Cũng đã đỡ !
Xá-lợi-phất dẫn các tì-kheo đến thăm Phật, đỉnh lễ chân Ngài. Nhân duyên hỏi đáp cũng giống như vậy.
Phật bảo:
- Này các tì-kheo! Đừng khóc nữa! Đời trước Ta đã tạo nghiệp này nên nay phải nhận lấy, không thể trốn tránh được. Oán đối này không phải do cha
mẹ chư thiên, sa-môn hay bà-la-môn gây ra mà chính Ta tự tạo, nên nay phải tự chuốc lấy quả báo.
Còn các vị đã dứt lậu hoặc, đắc thần thông thì im lặng suy nghĩ: “Trước đây, Phật đã từng nói kệ:
Những nghiệp đã gây tạo
Hoặc thiện hay là ác
Nghiệp ấy trở lại thân
Không bao giờ tiêu mất”.
Nghe tin Phật bị thanh gỗ nhọn đâm vào chân, vua A-xà-thế từ trên giường chết giấc, ngã lăn xuống đất, hồi lâu mới tỉnh. Tất cả mọi người trong cung đều kinh hãi.
Vua nghẹn ngào, rồi bảo quần thần:
- Hãy mau chuẩn bị xe, ta muốn đến chỗ Phật.
Vâng lệnh, quần thần chuẩn bị xe, đưa vua đến thành La-duyệt-kì. Bấy giờ, bốn giai cấp và các cư sĩ nam nữ trong thành có đến trăm nghìn người nghe tin, cũng theo vua đồng đi đến chỗ Phật. Đến nơi, vua xuống xe, cởi mũ, bỏ kiếm, dẹp lọng, đi bộ vào gặp Phật. Thấy Phật đang nằm nghiêng hông phải, vua đỉnh lễ, dùng tay xoa chân Ngài, rồi thưa:
- Không biết vết thương của Ngài có giảm đi chút nào không?
Phật thăm hỏi an ủi vua rồi mời ngồi. Vua liền ngồi xuống và bạch Phật:

Phần 4

- Con từng nghe Như Lai nói, thân Phật là thân kim cương, không thể hủy hoại. Chẳng rõ vì sao bây giờ Ngài lại bị thanh gỗ nhọn này đâm vào chân?
Phật bảo:
- Tất cả các pháp đều có những nhân duyên oán đối. Thân Ta tuy là kim cương, thanh gỗ nhọn không thể làm tổn thương được, nhưng do oán đối đời trước làm tổn hại. Thế Tôn lại nói kệ:
Những việc mình đã tạo Mỗi người tự thấy biết Làm lành được quả tốt Làm ác gặt quả xấu.
Vì thế, đại vương nên bỏ ác theo thiện! Hạng người ngu muội, không học hỏi, không biết chính đạo, đùa giỡn khinh thường mà tạo tội, sau phải khóc lóc khổ đau. Do đó, đại vương không nên đùa giỡn gây tội, sau phải chịu họa lớn. Sau đó, vua nói với Kì-bà:
- Ông pha chế thuốc tốt để rửa vết thương cho Phật, đồng thời chú nguyện, nhất định Ngài sẽ khỏi.
Kì-bà trả lời:
- Xin vâng!
Kì-bà liền lễ Phật, rồi đắp thuốc trị vết thương, đọc chú dứt cơn đau, dùng tấm len giá trị trăm nghìn để băng chân Phật, lấy tay xoa chân và cầu nguyện: “Mong Phật trường thọ, tai họa này sớm dứt trừ. Nguyện cho tất cả chúng sinh đang chịu khổ cũng được giải thoát”.
Xong việc, Kì-bà đỉnh lễ Phật rồi đứng qua một bên. Khi ấy, Phật thuyết pháp bốn đế cho vua A-xà-thế và tất cả chúng hội nghe. Sau khi nghe Phật dạy, sáu mươi tì-kheo dứt sạch lậu hoặc, tâm ý khai ngộ, mười một nghìn người chứng pháp nhãn tịnh.
Sau đó trăm nghìn vị trời thông báo nhau biết, cùng đến thăm hỏi Như Lai, thuyết kệ ca ngợi, đỉnh lễ Ngài rồi trở về trụ xứ của mình. Đức Phật lại bảo Xá-lợi-phất:
- Trong vô số a-tăng-kì kiếp thời quá khứ, tại thành Ba-la-nại có hai đoàn thương buôn, mỗi đoàn có năm trăm người. Cả hai đoàn góp vốn để đóng thuyền vượt biển. Đóng thuyền xong, căng buồm ra khơi. Do xuôi buồm thuận gió, thuyền lướt rất nhanh, trong thời gian ngắn, họ đã đến nơi có châu báu. Bãi biển này có đầy đủ tất cả mọi thứ như y phục, chăn nệm, đồ ăn, thức uống, các thể nữ và nhiều loại châu báu. Vị trưởng đoàn thứ nhất nói với những người trong đoàn:
- Hôm nay, chúng ta đã đạt những điều mong cầu, vậy nên ở lại đây hưởng thụ năm dục.
Vị trưởng đoàn thứ hai nói với những người trong đoàn:
- Tuy thế, nhưng chúng ta cũng không nên ở lâu.
Bấy giờ, ở giữa hư không, có một thiên nữ vì thương xót đoàn buôn này, nên nói:
- Nơi đây tuy có nhiều của báu, đầy đủ năm dục, thể nữ, y phục, chăn nệm, đồ ăn, thức uống v.v.r nhưng không nên ở lâu, phải sớm trở về. vì sao? Vì bảy ngày sau, vùng đất này sẽ chìm xuống biển.
Nói xong, thiên nữ biến mất.
Lúc đó, lại có một thiên ma nữ, vì muốn đoàn khách buôn này đều bị chết chìm ở đây, nên can ngăn:
- Vị thiên nữ trước nói nước sẽ dâng lên ngập tràn nơi này, đó là lời hư dối, không đáng tin theo.
Nói xong, thiên ma nữ biến mất. Bấy giờ vị trưởng đoàn thứ nhứt không tin thiên nữ, nên muốn ở lại, không chịu trở về; còn vị trưởng đoàn thứ hai, vì sợ nước dâng nên cùng đoàn của mình chuẩn bị đầy đủ thuyền bè. Đúng như lời vị thiên nữ trước đã nói, bảy ngày sau nước dâng ngập cả vùng này. Vị trưởng đoàn thứ hai do đã chuẩn bị, nên mọi người trong đoàn đều lên thuyền. Vị trưởng đoàn thứ nhất do không chuẩn bị trước, nên tranh đoạt thuyền của đoàn kia. Vị trưởng đoàn thứ hai dùng mâu đâm thủng chân vị trưởng đoàn thứ nhất, khiến vị này sau đó phải mạng chung. Phật bảo Xá-lợi-phất:
- Vị trưởng đoàn thứ nhất thuở ấy là Điều-đạt ngày nay; vị trưởng đoàn thứ hai là tiền thân của Ta; năm trăm thương nhân của đoàn thứ nhất thuở ấy là năm trăm đệ tử của Điều-đạt ngày nay; năm trăm thương nhân của đoàn thứ hai là năm trăm vị a-la-hán ngày nay. Thiên nữ thứ nhất nay là Xá-lợi-phất. Thiên nữ thứ hai nay là tì-kheo Mãn Nguyệt, đệ tử của bà-la-môn.
Thuở ấy, Ta làm thuyền trưởng, vì tham tiền của, liều chết vượt biển, tranh giành thuyền bè, dùng mâu đâm chân của vị thuyền trưởng kia. Vì nhân duyên này, nên trong vô số nghìn năm, Ta phải chịu khổ trong địa ngục, vô số nghìn năm bị mâu kích đâm chém; vô số nghìn năm bị đọa trong loài súc sinh, bị người bắn giết; vô số nghìn năm ở trong loài ngạ quỉ, thường đi trên chông sắt. Do nghiệp duyên thuở ấy còn sót lại, nên nay tuy được thân Như Lai kim cương, Ta vẫn bị thanh gỗ nhọn đâm vào chân.
Kinh Đại thừa phương tiện ghi: “Ngày xưa trong thành Xá-vệ có hai mươi người đều là bực tối hậu thân. Hai mươi người nầy lại có hai mươi kẻ thù. Kẻ thù của mỗi người đều nghĩ: ‘Ta sẽ giả làm người thân đến nhà, thừa cơ hội giết nó chẳng cho ai biết’. Do thần lực của Phật, cả bốn mươi người đều đến chỗ Phật. Vì muốn điều phục họ, nên Đức Phật ở giữa đại chúng bảo tôn giả Mục-kiền-liên rằng:
- Nầy Đại Mục-kiền-liên! Nay trong chỗ đất nầy có cây giáo vàng muốn đâm vào chân phải của ta!
Cây giáo vàng liền từ đất trồi lên khoảng một cánh tay. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên bạch:
- Bạch đức Thế Tôn ! Nay con sẽ ném cây giáo nầy qua thế giới phương khác.
- Này Đại Mục-kiền-liên! Ông chẳng có khả năng, sức ông còn không nhổ nổi cây giáo nầy. Đức Phật nói.
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên liền dùng đại thần lực nhổ cây giáo, cả tam thiên đại thiên thế giới đều chấn động mà cây giáo chẳng lay động. Bấy giờ đức Như Lai dùng sức thần thông bay lên trời Tứ Thiên Vương, cây giáo vàng ấy cũng bay theo Phật. Đức Phật lên trời Đao-lợi, trời Dạ-ma, trời Đâu-suất, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại cho đến trời Phạm, cây giáo vàng ấy cũng vẫn bay theo Phật. Đức Phật lại từ Phạm thiên trở xuống Diêm-phù-đề trong thành Xá-vệ nơi chỗ ngồi trước, cây giáo ấy cũng trở về chỗ cũ, dựng đứng hướng mũi về phía Phật. Đức Phật dùng tay mặt nắm lấy cây giáo, tay trái ấn trên đất rồi lấy chân mặt đạp lên mũi giáo. Cả tam thiên đại thiên thế giới đều đại chấn động.
Tôn giả A-nan chắp tay bạch:
- Bạch đức Thế Tôn! Thuở xưa Như Lai tạo nghiệp gì mà nay phải chịu quả báo nầy?
- Nầy A-nan! Vì đời quá khứ trong lúc đi thuyền vào biển ta cầm mâu đâm chết người. Do nghiệp duyên ấy mà bị báo nầy. Đức Phật lại dạy:
- Này thiện nam! Lúc ta nói nghiệp báo nhân duyên như vậy, hai mươi người có thù oán kia nghĩ: ‘Đức Như Lai Pháp Vương còn chịu quả báo ác như vậy huống là ta!’. Thế là họ đỉnh lễ Phật và bạch:
- Vừa rồi chúng con có ác tâm muốn hại hai mươi người kia, bây giờ chúng con quì trước Đức Phật cầu xin sám hối, chẳng dám che giấu.
Sau đó nghe Đức Phật thuyết pháp, hai mươi người đó và bốn vạn người trong pháp hội được chính giải. Vì vậy Như Lai thị hiện cây giáo vàng đâm vào chân phải chính là phương tiện độ người của Ngài.
67.5.7. Nhân duyên Đức Phật bị Điều-đạt lăn đá làm bị thương ngón chân
Vào thời quá khứ lâu xa, trong thành La-duyệt-kì, có trưởng giả Tu-đàn rất giàu, báu vật, gia sản nhiều vô số. Ông có người con trai tên là Tu-ma-đề. Tu-ma-đề có người em khác mẹ tên là Tu-da-xá.
Một hôm, người cha Tu-đàn bỗng nhiên qua đời. Tu-ma-đề thầm nghĩ: “Mình phải tìm cách gì để khỏi chia gia tài cho Tu-da-xá? Chỉ có cách giết nó mới khỏi chia mà thôi”. Tu-ma-đề nói với Tu-da-xá:
- Anh có việc cần bàn, bây giờ hai anh em mình cùng lên núi Kì-xà-quật nhé!
- Vâng! Tu-da-xá thưa.
Thế là Tu-ma-đề nắm tay dẫn em lên đỉnh núi cao ngất rồi xô xuống chân núi, lại lăn đá đè lên, khiến người em ngay đó mạng chung. Phật bảo Xá-lợi-phất:
- Trưởng giả Tu-đàn thuở ấy là phụ vương Chân Tịnh ngày nay; Tu-ma-đề thuở ấy là tiền thân của Ta; Tu-da-xá thuở ấy nay là Điều-đạt.
Phật bảo Xá-lợi-phất:
- Thuở ấy, vì tham của cải nên Ta đã giết hại em. Vì nhân duyên này, nên trong vô số nghìn năm, Ta bị thiêu nướng trong địa ngục, bị núi Thiết Vi đè ép. Do nghiệp

Phần 5

duyên thuở ấy còn sót lại, nên nay tuy đã đắc quả Phật, Ta vẫn không thoát khỏi oán đối xưa. Vì vậy, khi đang đi kinh hành trên núi Kì-xà-quật, Ta bị Điều-đạt đẩy tảng đá dài sáu trượng, rộng ba trượng từ sườn núi xuống đầu Ta, nhưng nhờ thần Kim-tỉ-la trên núi Kì-xà-quật đưa tay đỡ lấy tảng đá, nên chỉ một mảnh nhỏ rơi trúng vào ngón chân cái, làm chân Ta bị trầy xước, chảy máu.
67.5.8. Nhân duyên Đức Phật bị nữ bà-la-môn Chiên-sa vu khống
Trong vô số a-tăng-kì kiếp thời quá khứ ở nước Ba-la-nại có Đức Phật hiệu là Tận Thắng Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chính Giác, Minh Hạnh Thành Vi, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn xuất hiện ở đời. Trong pháp hội của Ngài có tì-kheo Vô Thắng và tì-kheo Thường Hoan. Tì-kheo Vô Thắng đầy đủ sáu thần thông, còn tì-kheo Thường Hoan chưa dứt trừ kết sử.
Lúc ấy, trong thành Ba-la-nại cũng có vị trưởng giả tên là Đại Ái rất giàu, của cải vô số. Vợ ông ta tên là Thiện Đa, dung mạo đoan chính, xinh đẹp tuyệt trần. Gia đình trưởng giả là đàn việt, nên hai vị tì-kheo này thường đến nhà họ. Thế nhưng, Thiện Đa cúng dường tì-kheo Vô Thắng đầy đủ bốn món: y phục, đồ ăn thức uống, giường chiếu và thuốc thang, không hề thiếu thốn, còn cúng cho tì-kheo Thường Hoan rất ít.
Thấy vậy, tì-kheo Thường Hoan khởi tâm ganh ghét, vu khống:
- Tì-kheo Vô Thắng tư thông với Thiện Đa, Thiện Đa cúng dường không đúng pháp, chỉ vì ân ái mà cúng dường thôi!
Phật bảo Xắ-lợi-phất:
- Thường Hoan, đệ tử của Tận Thắng Như Lai thuở ấy là tiền thân của Ta; Thiện Đa, vợ của trưởng giả là bà-la-môn nữ Chiên-sa. Do Ta vu khống a-la-hán Vô Thắng, nên vô số nghìn năm chịu mọi sự thống khổ trong địa ngục. Do nghiệp duyên thuở ấy còn sót lại, nên nay tuy đã thành Phật, đang thuyết pháp cho sáu sư, các tì-kheo chưa dứt sạch lậu hoặc và vua chúa, quan dân, thanh tín nam nữ, Ta vẫn bị người đàn bà lắm lời độn chậu vào bụng, giả mang thai đến-trước mặt Ta vu báng:
- Sao sa-môn không chịu lo việc nhà, lại nói chuyện người khác làm gì? Giờ ông vui sướng một mình mà không biết tôi đang khổ ư? Vì sao? Trước đây, ông đã tư thông với tôi làm cho tôi mang thai. Nay tôi sắp sinh, đang cần thức ăn đủ chất dinh dưỡng để nuôi thai nhi, ông phải cung cấp đầy đủ cho tôi!
Nghe vậy, mọi người trong pháp hội đều cúi đầu im lặng. Khi ấy, đang đứng hầu quạt sau lưng Đức Phật, Thích-đề-hoàn-nhân vận thần lực hóa thành một con chuột chui vào trong áo cô ta, cắn đứt sợi dây làm cái chậu tự nhiên rơi xuống đất. Thấy chậu rơi xuống đất, bốn chúng đệ tử Phật và sáu phái ngoại đạo vô cùng phấn khởi, lớn tiếng reo to, cười vui khôn xiết. Ngay giữa pháp hội, mọi người đồng thanh quở mắng: “Ngươi thật đáng chết! Sao dám vô cớ vu khống? Là kẻ tội lỗi! Sao lại khởi ác tâm phỉ báng bậc Vô Thượng Chính Chân thanh tịnh? Quả đất này vô tri mới có thể dung chứa hạng người ác như ngươi”.
Ngay lúc đó, mặt đất nứt ra, lửa cháy ngùn ngụt, người đàn bà ấy lập tức rơi thẳng xuống địa ngục lớn A-tì. Cả hội chúng đều chứng kiến cảnh bà ta đang sống mà rơi vào địa ngục.
Lúc đó, vua A-xà-thế kinh sợ, toàn thân rúng động liền đứng dậy, quì gối, chắp tay bạch Phật:
- Cô gái này hiện giờ đang bị rơi vào cõi nào?
- Đại vương! Cô gái ấy đã rơi vào địa ngục A-tì. Đức Phật đáp.
- Cô gái ấy không giết người, cũng không trộm cắp, chỉ phạm tội vọng ngữ, sao bị rơi vào địa ngục A-tì như thế? Vua hỏi.
- Ta nói về ba nghiệp thân, miệng, ý có ba bậc nặng, trung bình và nhẹ. Phật dạy.
- Như thế thì nghiệp nào nặng, nghiệp nào trung bình và nghiệp nào nhẹ? Vua lại hỏi.
- Ý nghiệp là nặng nhất, khẩu nghiệp trung bình, thân nghiệp là nhẹ.
- Vì sao như thế? Vua lại thưa.
- Thân nghiệp hiện ra tướng thô, có thể thấy được; khẩu nghiệp thì tai nghe được. Hai nghiệp này người đời đều nghe, thấy được. Còn ý nghiệp, khi khởi niệm thì khồng ai nghe thấy, vì đó là hành nghiệp bên trong; các hành vi bị ý buộc chặt như đinh đóng. Như khi thân muốn sát sinh, trộm cắp, tà dâm; miệng muốn vọng ngôn, ỷ ngữ, ác khẩu và lưỡng thiệt thì trước tiên cần đến tâm ý tính toán, suy lường. Cho nên đóng chặt là do cây đinh ý, chứ chẳng phải tại thân miệng.
Khi ấy, Thế Tôn nói kệ:
Tâm ý suy nghĩ kĩ
Sau hiện nơi thân, miệng
Thân, miệng giả hổ thẹn
Ý chưa từng biết xấu.
Trước nên thẹn từ ý
Sau mới đến miệng, thân
Cả hai không rời ý
Chẳng riêng tự tạo nghiệp.
Nghe Phật dạy, vua A-xà-thế buồn bã rơi lệ.
Phật hỏi:
- Vì sao đại vương khóc?
Vua thưa:
- Vì chúng sinh không có trí tuệ, không hiểu rõ ba nghiệp thường gây tổn hại, nên con cảm thấy buồn. Chúng sinh chỉ cho thân, miệng là chính mà không biết ý rất sâu xa. Như sát sinh, trộm cắp, dâm dật, mọi người đều nhìn thấy. Miệng nói lời hư dối, nói lời độc ác, nói hai lưỡi, nói lời không chân thật, mọi người đều nghe. Còn ba nghiệp của ý, tai không thể nghe, mắt không thể thấy. Thế nên, chúng sinh cho những điều mắt thấy, tai nghe là chính. Nay nghe Phật dạy, con mới biết tâm ý là chính, thân miệng là phụ; vì thế hai nghiệp thân, miệng đều bị đóng chặt vào ý. Như người đàn bà lắm lời muốn phỉ báng Phật, trước hết tâm phải suy nghĩ lấy dây buộc chậu vào bụng, rồi ở giữa đại chúng nói lời vu khống. Do đó, con biết ý là chính, thân miệng là phụ.
Phật bảo:
- Hay thay! Hay thay! Đại vương đã hiểu đúng điều này. Đại vương phải luôn luôn quan niệm: ý là chính, thân, miệng là phụ.
Khi nghe Đức Phật dạy, tám mươi tì-kheo dứt sạch lậu hoặc, tâm ý tỏ ngộ, hai trăm tì-kheo đắc quả A-na-hàm, bốn trăm tì-kheo đắc quả Tư-đà-hàm, tám trăm tì-kheo đắc quả Tu-đà-hoàn; tám vạn trời người đắc Pháp nhãn tịnh, mười vạn người và phi nhân xin thụ trì năm giới, hai trăm nghìn quỉ thần xin thụ ba quy”.
Kinh Sinh ghi: “Một hôm Đức Phật cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị tì-kheo đến cung vua Ba-tư-nặc trong thành Xá-vệ thụ trai. Bấy giờ tì-kheo-ni Bạo Chí, độn khúc gỗ tròn trong bụng giống như đang mang thai, đến kéo y Phật trách:
- Ông là chồng tôi, từ khi có thai đến giờ ông không cung cấp cơm ăn, áo mặc cho tôi, việc này ông tính sao đây?
Đại chúng trời người, Đế Thích, Phạm vương, Tứ thiên vương, quỷ thần và nhân dân trong nước thảy đều kinh hoàng nghĩ: ‘Thế Tôn là bậc tôn qúi trong ba cõi, tâm ngài thanh tịnh hơn ma-ni, trí tuệ sáng hơn nhật nguyệt, vượt khỏi ba cõi, không ai có thể sánh kịp. Thế Tôn hàng phục các tà thuyết và chín mươi sáu phái ngoại đạo, tất cả đều quy phục. Đạo đức Ngài tuyệt vời, không thể lấy gì để ví dụ được. Hư không không có hình tướng, không có gì có thể làm ô nhiễm, tâm Thế Tôn còn hơn cả hư không, không có gì sánh bằng. Tì-kheo ni này là đệ tử, vì sao sinh tâm độc ác vu khống Ngài?’.
Biết ý nghĩ của đại chúng, Đức Phật muốn giải nghi, nên Ngài ngửa mặt nhìn lên trời, Đế Thích liền hiện xuống hóa làm con chuột nhắt cắn đứt sợi dây, khúc gỗ liền rơi xuống đất. Đại chúng trông thấy, vừa mừng vừa giận và cũng lấy làm lạ về việc này. Vua Ba-tư-nặc giận dữ quở trách:
- Tì-kheo ni này bỏ nhà xa lánh việc đời, làm đệ tử Phật, đã không biết báo ân, trái lại còn sinh lòng đố kị, phỉ báng bậc Đại thánh.
Vua liền sai người hầu đào một cái hầm định chôn ngược cô ta. Đức Phật dạy:
- Đại vương không nên làm như thế, đó là túc nghiệp của Ta, chứ không phải do cô ấy gây ra. Vào đời quá khứ cách nay đã lâu, bấy giờ có một thương nhân bán rất nhiều hạt trân châu xinh đẹp. Có một cô gái muốn mua châu và trả giá sắp

Phần 6

xong; bỗng có một chàng trai đến trả giá gấp đôi, nên mua được châu. Cô gái không mua được vô cùng tức giận, lại theo năn nỉ cho xem mà chàng trai vẫn không cho. Cô gái càng căm phẫn nói:
- Tôi nguyện sinh ra nơi nào tôi sẽ báo oán ông, dù gặp ở đâu tôi cũng hủy nhục ông, lúc đó ông có ăn năn cũng không kịp.
Phật bảo các tì-kheo và vua Ba-tư-nặc:
- Chàng trai mua châu thuở xưa, nay chính là Ta, còn cô gái, nay là Bạo Chí. Vì cô sinh tâm sân hận, cho nên sinh ra nơi nào cũng thường vu không Ta như thế.
Nghe Phật dạy, đại chúng đều dứt hết nghi ngờ ai nấy đều hoan hỉ.
67.5.9. Nhân duyên Đức Phật ăn lúa dành cho ngựa
Đức Phật bảo Xá-lợi-phất: Vào thời quá khứ, Đức Phật Tì-bà-diệp Như Lai cùng chúng đệ tử du hóa tại thành Bàn-đầu-ma-bạt. Vua Bàn-đầu cùng quần thần, nhân dân, thanh tín nam nữ cúng dường đầy đủ bốn vật dụng cần thiết cho đức Tì-bà-diệp Như Lai và đại chúng, không hề thiếu thốn. Lúc ấy trong thành cũng có bà-la-môn Nhân-đề-kì-lợi thông suốt bốn bộ Vệ-đà, hiểu rõ toán thuật của Ni-kiền và các giới cấm của bà-la-môn, đang dạy cho năm trăm đồng tử.
Một hôm, nhà vua mở hội cúng dường, thỉnh Phật và chúng tăng. Phật im lặng nhận lời. Vua trở về sửa soạn các món ngon, sắp đặt tòa ngồi, thảm nệm tốt đẹp.
Biết giờ đã đến, Đức Phật Tì-bà-diệp bảo đại chúng đắp y, ôm bát đến nơi vua thỉnh và ngồi vào tòa. Vua cho dọn bày thức ăn, tự tay dâng các món thượng vị. Hôm ấy, tì-kheo Di-lặc bị bệnh, nên không thể đến thụ thực. Thụ trai xong, Phật và chúng tăng trở về, lại xin thức ăn đem về cho tì-kheo bị bệnh. Khi Phật và chúng tăng đi ngang qua vùng núi của bà-la-môn Nhân-đề-kì-lợi; Nhân-đề-kì-lợi thấy thức ăn thơm ngon, liền khởi tâm ganh ghét, quở mắng:
- Bọn sa-môn đầu trọc này đáng lẽ phải ăn lúa ngựa, không được ăn những món thơm ngon thế này.
Nhân-đề-kì-lợi lại hỏi các đồng tử:
- Các con có đồng ý như vậy chăng?
Học trò của Phạm chí cũng đồng tình nói:
- Đúng như thế! Thầy của họ cũng đáng cho ăn lúa ngựa.
Phật bảo Xá-lợi-phất:
- Bà-la-môn Nhân-đề-kì-lợi là tiền thân của Ta; năm trăm đồng tử thuở ấy là năm trăm a-la-hán ngày nay, tì-kheo bị bệnh thuở ấy nay là bồ-tát Di-lặc.
Phật bảo Xá-lợi-phất:
- Thuở ấy, Ta khởi tâm ganh ghét mắng: “Bọn họ không đáng ăn những món thơm ngon, lẽ ra phải ăn lúa ngựa” và các ông cũng nói như vậy. Vì nhân duyên này, nên trong vô số nghìn năm, Ta và các ông cùng ở trong địa ngục. Do nghiệp duyên thuở ấy còn sót lại, nên nay tuy đã thành Phật, Ta cùng các ông vẫn bị ăn lúa ngựa trong suốt chín mươi ngày tại ấp Tì-lan. Lúc ấy, Ta không nói cho Phật ăn lúa ngựa, chỉ nói cho các tì-kheo ăn; cho nên hôm nay Ta được ăn gạo; còn các ông nói thêm: ‘Nên cho Phật ăn lúa ngựa’, do đó nay các ông bị ăn lúa.
Kinh Đại thừa phương tiện ghi: “Do nhân duyên gì mà Như Lai và chúng tăng trong ba tháng an cư ăn lúa ngựa tại tụ lạc của bà-la-môn Tì-lan-nhã? Nầy thiện nam! Lúc ấy ta biết trước bà-la-môn đó sẽ quên là đã thỉnh Phật và tăng, chẳng cung cấp thức uống ăn, nhưng ta vẫn cố ý thụ thỉnh. Tại sao? Vì muốn độ năm trăm con ngựa vậy. Bầy ngựa ấy đời trước đã từng học Đại thừa rồi, đã từng cúng dường chư Phật quá khứ, do gần ác tri thức tạo ác nghiệp nên đọa súc sinh. Trong bầy có một ngựa lớn tên Nhựt Tạng là đại bồ-tát. Đời quá khứ, khi còn làm người, Nhựt Tạng đã từng khuyến hóa năm trăm người, nay là năm trăm ngựa nhỏ phát tâm Bồ-đề. Vì muốn độ năm trăm ngựa nhỏ nên bồ-tát thị hiện sinh trong loài ngựa. Do oai đức của ngựa lớn mà năm trăm ngựa nhỏ tự biết túc mạng và nhớ lại tâm nguyện đã từng mất. Vì ta thưomg năm trăm bồ-tát đọa trong loài ngựa, muốn chúng thoát thân súc sinh, nên Như Lai biết trước mà vẫn thụ thỉnh.
Bấy giờ qui định, trong ba tháng, giảm nửa phần lúa ăn mỗi ngày của năm trăm ngựa nhỏ cúng dường chúng tăng, giảm nửa phần lúa ăn mỗi ngày của ngựa lớn cúng dường Như Lai. Ngựa lớn Nhựt Tạng dùng tiếng loài ngựa thuyết pháp cho năm trăm ngựa nhỏ, cũng dạy sám hối lễ Phật và tì-kheo tăng cùng phát tâm cúng dường nửa phần ăn cho chúng tăng. Năm trăm ngựa nhỏ sám hối rôi sinh lòng tịnh tín đối với Phật, pháp, tăng. Sau ba tháng không lâu, bầy ngựa chết, tất cả đều được sinh cõi trời Đâu-suất thành năm trăm thiên tử. Năm trăm thiên tử nay lại từ thiên cung xuống chỗ Phật đỉnh lễ cúng dường, nghe Phật thuyết pháp. Tất cả đều không lui sụt Vô thượng Bồ-đề. Nhựt Tạng sẽ cúng dường vô lượng chư Phật, thành tựu pháp trợ Bồ-đề sẽ được thành Phật hiệu Điều Ngự Như Lai.
Này thiện nam! Dù Như Lai dùng cỏ cây, ngói đá, đất cát, nhưng không có món ngon nào trong tam thiên đại thiên thế giới hơn được. Lúc ấy A-nan lòng buồn phiền nghĩ: ‘Như Lai thuộc dòng Chuyển luân vương xuất gia học đạo mà ăn gạo lúa ngựa như kẻ hạ tiện’. Ta biết tâm niệm ấy, liền trao cho A-nan một hạt và bảo:
- Ông nếm thử hạt cơm nầy, xem mùi vị thế nào?
A-nan nếm xong, có cảm giác cho là chưa từng gặp, nên bạch:
- Bạch đức Thế Tôn! Con sinh trong vương gia, lớn lên trong vương gia, mà chưa từng được nếm mùi vị thượng diệu nầy!
Ăn hột cơm ấy xong, trọn bảy ngày bảy đêm A-nan chẳng ăn chẳng uống mà không thấy đói khát.
Như Lai lại biết, nếu năm trăm tì-kheo ăn món ngon thì tăng lòng tham dục, nếu ăn món dở thì chẳng bị tham dục che lấp. Do đó sau ba tháng an cư ấy, các tì-kheo xa lìa tâm dâm dục và chứng quả A-la-hán.
Nầy thiện nam! Vì điều phục năm trăm tì-kheo và độ năm trăm bồ-tát bị quả báo làm súc sinh mà Như Lai dùng sức phương tiện ăn lúa ngựa trong ba tháng, chứ chẳng phải là nghiệp báo.
67.5.10. Nhân duyên Đức Phật tu khổ hạnh
Vào thời quá khứ, tại ấp Đa Thú cách thành Ba-la-nại không xa, có bà-la-môn làm quan thái sử, chức quan đứng đầu trong nước. Bà-la-môn này có một người con, trên đầu tự nhiên có búi tóc như vòng lửa, nên được đặt tên là Hỏa Man. Hỏa Man rất đoan chính, có ba mươi tướng quí, thông thạo tất cả kinh điển, cho đến các sách như đồ thư, sấm kí của bà-la-môn. Bấy giờ, con của người thợ gốm tên là Nan-đề bà-la, từ nhỏ đã thân với Hỏa Man. Cả hai rất thương yêu nhau, lúc nào cũng nghĩ đến nhau. Nan-đề-bà-la siêng năng, nhân từ, hiếu thuận. Cha mẹ Nan-đề-bà-la đều mù, Nan-đề-bà-la phụng dưỡng song thân rất chu đáo. Tuy là thợ gốm, nhưng Nan-đề-bà-la không tự tay đào đất, cũng không bảo người đào, chỉ lấy đất nơi tường sụp, bờ lở và ổ chuột mục nát, nhào nặn lại làm thành vật dụng rất đẹp, không gì sánh bằng. Nếu ai muốn mua những vật dụng này thì đem lúa, gạo, mè, đậu đến đổi lấy để anh ta nuôi cha mẹ mà thôi, cũng không bao giờ định giá cả, cũng không lấy vàng, bạc, tiền của, lụa là.
Tinh xạ mà Phật Ca-diếp đang ở cách ấp Đa Thú không xa, có hai mươi nghìn vị đại tì-kheo đều là bậc a-la-hán. Khi ấy, Hộ Hỉ nói với Hỏa Man:
- Chúng ta hãy đến viếng thăm Phật Ca-diếp nhé!
Hỏa Man trả lời:
- Bạn đến gặp vị sa-môn đầu trọc đó làm gì? Ông ấy chỉ là kẻ đầu trọc, đâu có chứng đạo gì!
Hỏa Man nói ba lần như thế.
Hôm sau, Hộ Hỉ lại nói với Hỏa Man:
- Chúng ta cùng ra sông tắm nhé!
Hỏa Man trả lời:
- Được thôi!
Thế là cả hai cùng ra sông tắm gội. Mặc áo quần xong, Hộ Hỉ đưa tay phải chỉ về phía xa và nói:
- Tinh xá của Như Lai Ca-diếp cách đây không xa, chúng ta nên đến viếng thăm Ngài trong chốc lát nhé!
Hỏa Man trả lời:
- Bạn đến gặp vị sa-môn đầu trọc đó làm gì? Ông ấy chỉ là kẻ đầu trọc, đâu có đạo đức gì! Phật đạo rất khó đạt được!
Hộ Hỉ liền nắm áo Hỏa Man kéo đi, Hỏa Man cởi áo, bỏ chạy. Hộ Hỉ đuổi theo sau, nắm dây lưng, Hỏa Man lại tháo dây lưng, bỏ chạy và nói:
- Tôi không muốn gặp ông sa-môn đầu trọc ấy đâu!
Hộ Hỉ liền nắm đầu Hỏa Man lôi đi và nói:

Phần 7

- Chúng ta hãy đến gặp Phật Ca-diếp một lần đi!
Phong tục nước Ba-la-nại thời đó qui định không được nắm đầu người khác. Hễ ai vi phạm, theo phép nước đều bị xử chém.
Hỏa Man suy nghĩ: “Người này liều chết nắm đầu ta, thì chẳng phải là việc nhỏ, chắc có điều gì tốt lành lắm, mới làm cho bạn có hành động như thế!”.
Hỏa Man nói:
- Hãy buông đầu tôi ra, tôi sẽ đi theo!
Hộ Hỉ liền buông tay. Thế là Hỏa Man đi theo bạn đến chỗ Phật Ca-diếp. Hộ Hỉ đỉnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, còn Hỏa Man chỉ đứng thẳng chào hỏi, rồi tự tiện ngồi qua một bên. Sau đó, Hộ Hỉ chắp tay, bạch Phật:
- Hỏa Man là con của quan thái sử ở ấp Đa Thú, là bạn thân của con từ thuở nhỏ, nhưng bạn không biết Tam tôn, không tin Tam bảo, không được gặp Phật, không được nghe pháp, không biết cúng dường chúng tăng. Cúi mong Thế Tôn hóa độ cho kẻ ngu muội này, khiến cho bạn ấy tin hiểu Phật pháp.
Nhìn kĩ Thế Tôn từ đầu xuống chân, đồng tử Hỏa Man thấy Phật có thân tướng tốt đẹp, uy dung vòi vọi, các căn vắng lặng, thanh tịnh, nhu hòa, đủ ba mươi hai tướng quí, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm thân. Dáng Ngài đẹp như hoa sa-la, thân cao lớn như núi Tu-di, không nhìn thấy được đỉnh, mặt như trăng rằm, hào quang như ánh sáng mặt trời, thân màu vàng ròng. Thấy Phật như thế, Hỏa Man thầm nghĩ: “Những tướng quí được ghi chép trong sấm kí của Phạm chí ta, nay Phật có đủ, nhưng còn thiếu tướng Mã âm tàng và Quảng trường thiệt. Bấy giờ, Hỏa Man dùng kệ hỏi Phật:
Từng nghe nói Đại sĩ
Phải đủ ba hai tướng
Nhưng Thế Tôn đáng kính
Lại chỉ có ba mươi.
Không biết trên thân Ngài
Có tưởng mã âm tàng
Và tướng lưỡi rộng dài
Che trùm cả mặt chăng?
Mong Ngài hiện cho thấy
Để con dứt lòng nghi
Thấy rồi, con mới biết
Đúng như kinh ghi chăng?
Nghe nói vậy, Phật Ca-diết hiện tướng lưỡi rộng dài che cả mặt lên tới nhục kế và trùm cả hai tai. Phật làm như thế bảy lần rồi thu lựỡi vào miệng. Lúc ấy, hào quang của Phật phóng ra chiếu khắp đại thiên thế giới, che khuất ánh sáng của mặt trời, mặt trăng cho đến ánh sáng của cõi trời A-ca-nị-tra, trở lại xoay quanh thân Ngài bảy vòng, rồi thu vào đỉnh đầu. Phật Ca-diếp lại dùng năng lực thần túc hiện tướng mã âm tàng chỉ cho một mình Hỏa Man trông thấy những người khác không thấy được. Nhìn thấy đầy đủ ba mươi hai tướng quí của Phật, đồng tử Hỏa Man vô cùng vui sướng, không thể kiềm chế được. Nhân đó, Đức Phật Ca-diếp thuyết pháp cho Hỏa Man nghe về pháp ngừng dứt ba nghiệp, thực hành hạnh Bồ-tát. Bấy giờ Hỏa Man đỉnh lễ nơi chân Phật và bạch:
- Hôm nay con xin sám hối những điều thân không nên làm mà làm, miệng không nên nói mà nói, ý không nên nghĩ mà nghĩ. Cúi xin Thế Tôn chấp nhận việc sám hối của con; từ nay về sau không dám tái phạm.
Hỏa Man thưa ba lần như thế, Ca-diếp Như Lai im lặng chấp nhận. Thế rồi đồng tử Hỏa Man và Hộ Hỉ cùng đứng dậy, đỉnh lễ Phật, rồí từ biệt trở về. Sau đó tự trách là không sớm được nghe pháp, để đến nỗi đối với đạo mất đi lợi ích lớn. Lúc ấy Hỏa Man thuyết kệ ca ngợi Hộ Hỉ:
Nhân giả là bạn pháp
Hiền thiện không tham đắm
Dẫn tôi vào chính đạo
Bạn ấy được Phật khen.
về sau hai người theo Phật xuất gia thụ giới cụ túc. Phật bảo Xá-lợi-phất:
- Hỏa Man thuở ấy là tiền thân của ta, cha cua Hỏa Man là phụ vương Chân Tịnh ngày nay, đồng tử Hộ Hỉ chính là Bình thiên tử. Khi Ta còn là thái tử đang vui chơi với các thể nữ trong cung, thì nửa đêm, Bình thiên tử đến nhắc ta:
- Đã đến lúc nên xuất gia, học đạo!
Này Xá-lợi-phất! Hộ Hỉ nhiều lần khuyên Ta xuất gia, là vị thiện tri thức dẫn dắt Ta học đạo. Trước đây, Ta nói lời ác với Hộ Hỉ: “Phật Ca-diếp là sa-môn đâu trọc, đâu có đạo lí gì! Phật đạo rất khó đạt được!”. Vì lời nói ác này, cho nên trước khi đắc quả A-duy-tam-phật, Ta phải chịu khổ hạnh sáu năm. Bấy giờ, mỗi ngày Ta chỉ ăn một hạt mè, một hạt gạo, một hạt đậu lớn và một hạt đậu nhỏ. Tuy Ta chịu khổ nhọc như thế, nhưng không có ích lợi gì cho Phật pháp. Ta phải nhẫn chịu sáu năm khổ hạnh như thế là để trả các nghiệp duyên đời trước. Sau sáu năm tu khổ hạnh, Ta mới thành Vô thượng chính đẳng chính giác.
Phật bảo Xá-lợi-phất:
- Như Lai đã dứt các điều ác, đầy đủ các việc thiện, hóa độ hàng trời, người, quỉ thần, càn-đạp-hòa, a-tu-luân, ca-lâu-la, chân-đà-la, ma-hưu-lặc và tất cả chúng sinh. Vậy mà Như Lai vẫn không thoát khỏi nghiệp duyên đời trước, huống gì hạng người ngu muội chưa đác đạo quả!
Này Xá-lợi-phất! Ông nên phòng hộ ba nghiệp của thân, bốn nghiệp của miệng, ba nghiệp của ý. Này Xá-lợi-phất! Ông nên tu học như vậy!
Sau khi nghe Phật nói về những nhân duyên đời trước như vậy, mười một nghìn thiên tử đắc quả Tu-đà-hoàn, tám nghìn rồng thụ trì năm giới, năm nghìn dạ-xoa qui y Tam bảo.
Sau khi nghe Phật thuyết giảng, Xá-lợi-phất, năm trăm vị a-la-hán, vua rồng A-nậu cùng tám bộ chúng, quỉ thần v.v... đều vui vẻ vâng làm.
Có bài tụng:
Than ôi bậc thượng triết Bị mưu hại thật oan Trong đục thật khó phân Người thiện lưới ác bủa Âm dương thầm xét biết Thật giả soi rõ ràng Tự quán lấy oan nghiệp Như vang và như bóng.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục