Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 58 - CHƯƠNG MƯU HẠI, PHỈ BÁNG

11/12/2015

QUYỂN 58 Nội dung quyển này có một chương: Mưu hại và phỉ báng. 67. CHƯƠNG MƯU HẠI VÀ PHỈ BÁNG 67.1. LỜI DẪN Tâm là nguồn của các bệnh, miệng là gốc của thị phi; đồng một nơi xuất phát mà tên gọi thiện ác khác nhau, tạo...

PUCL QUYỂN 58 - CHƯƠNG MƯU HẠI, PHỈ BÁNG
Phần 1

QUYỂN 58
Nội dung quyển này có một chương: Mưu hại và phỉ báng.
67. CHƯƠNG MƯU HẠI VÀ PHỈ BÁNG

67.1. LỜI DẪN
Tâm là nguồn của các bệnh, miệng là gốc của thị phi; đồng một nơi xuất phát mà tên gọi thiện ác khác nhau, tạo ra họa phúc khác đường. Cho nên, ba nghiệp là nhân gây họa, sáu căn là mầm tạo ác, dẫn đến việc mưu hại và phỉ báng thánh phàm, ép bức oan người hiền thiện, để rồi uổng chịu ba bất thiện căn, vĩnh viễn xa lìa bảy chúng. Nhưng chết sống có mệnh, do nghiệp mà giàu nghèo, dẫu có hạ độc thì độc cũng chẳng làm tổn thương, dẫu có bày mưu ác thì mưu ác cũng không thể gây hại, lại phí sức khởi tâm phỉ báng, cũng uổng công bày việc cúng cầu. Cho nên Ban tiệp dư nói: “Tu thiện còn không được phúc, thì làm chuyện tà dục mà mong được gì? Nếu quỉ thần biết, chắc không nghe theo lời gian nịnh, nếu không biết thì sàm tấu có ích gì?”.
Bởi thuốc núi Tuyết thật khó biết thật giả, quả yêm-la chín sống cũng khó phân. Cho nên, Như Lai tại thế mà không tránh được lời phỉ báng, huống gì phàm phu, há tránh được nợ này sao? Nợ là do đời trước tạo, đến lúc thì phải trả, đây là việc của mình, đâu được oán hận người. Nhưng tội vu khống phỉ báng thì tự rước lấy khổ đau. Miệng như cây cung, tâm suy nghĩ như dây cung, lời nói như mũi tên, mãi mãi phát ra suông, chỉ luống dơ thân miệng mình. Cho nên phải tự suy xét mà ngậm miệng, răn lòng.
67.2. NGUYỀN RỦA, THỀ ĐỘC
Kinh Đại phương quảng tổng trì ghi: “Đức Phật bảo:
- Này thiện nam tử! Sau khi ta diệt độ, nếu vị pháp sư nào khéo léo thuận theo sở thích của người nghe mà thuyết pháp, khiến cho bồ-tát, những người tu học pháp Đại thừa và đại chúng phát mảy may tâm hoan hỉ, cho đến cảm động rơi một giọt nước mắt, nên biết đó đều là nhờ thần lực của Phật.
Nếu có người ngu si thật chẳng phải bồ-tát mà tự xưng là bồ-tát, rồi phỉ báng bồ-tát chân thật và các pháp mà bồ-tát ấy thực hành; lại nói: ‘Người ấy đâu có biết gì, đâu có hiểu gì’. Nếu đây kia hòa hợp, thì có thể giữ gìn và lưu truyền giáo pháp của Ta. Nếu đây kia trái nghịch, thì chính pháp không được lưu truyền. Người phỉ báng chính pháp này mắc tội rất lớn, đọa vào ba đường ác, thật khó ra khỏi.
Nếu có người ngu không tin nhận lời Phật dạy, cho dù đọc tụng cả nghìn bộ kinh điển Đại thừa, hoặc giảng nói khiến người chứng được Tứ thiền, nhưng vì tội phỉ báng người khác, nên phải chịu đau đớn cùng cực trong bảy mươi kiếp. Huống gì người ngu si kia thật không hiểu biết, lại còn cống cao ngã mạn, cho đến phỉ báng một bài kệ bốn câu, người này phải đọa địa ngục, vĩnh viễn không được gặp Phật. Do kẻ kia nhìn người phát tâm bồ-đề bằng con mắt hung dữ, nên chịu quả báo không có mắt; lại do dùng lời độc ác phỉ báng người phát tâm bồ-đề, nên chịu quả báo không lưỡi”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Khi Phật còn tại thế, a-la-hán tì-kheo-ni Vi Diệu kể cho ni chúng nghe về quả báo của các nghiệp thiện và ác mà mình đã tạo đời trước rằng:
- Vào thời quá khứ, có vị trưởng giả rất giàu, nhưng không con nối dõi, nên ông cưới một người vợ nhỏ. Ông rất thương yêu người này, thời gian sau, cô ta sinh được một đứa bé trai, người chồng càng yêu thương hơn, nhìn hoài không chán. Thấy vậy, người vợ lớn ganh ghét, thầm nghĩ: ‘Đứa bé này lớn lên sẽ nối nghiệp nhà. Ta khó nhọc cất chứa có ích gì, chi bằng giết nó đi!’. Suy nghĩ như vậy, bà ta lấy kim chích vào đầu đứa bé, đứa bé chết, vợ nhỏ nghi là do vợ lớn giết con mình, liền hỏi:
- Bà giết con tôi ư?
Người vợ lớn cho là không có quả báo tội phúc, nên thề rằng: ‘Nếu tôi giết con bà, thì đời đời chồng tôi bị rắn cắn chết; con tôi bị nước trôi, sói cắn; còn tôi tự ăn thịt con và hiện đời sẽ bị chôn sống; cha mẹ tôi ở nhà bị lửa thiêu đốt mà chết!’.
Phát lời thề xong, bà ta mạng chung. Do giết đứa bé ấy, nên bà bị rơi vào địa ngục, chịu khổ cùng cực.
Hết tội ở địa ngục, bà sinh làm nữ Phạm chí, dần dần khôn lớn, lấy chồng, sinh được một đứa con. Sau bà mang thai đứa thứ hai, năm tháng đã đủ, gần đến kì sinh. Một hôm, bà cùng với chồng về thăm cha mẹ. Đi được nửa đường, bà đau bụng, liền sinh. Đêm ấy, hai vợ chồng nghỉ dưới gốc cây, người chồng ngủ riêng. Nay đã đến lúc chịu quả báo theo như lời thề của bà trước đây. Bấy giờ, một con rắn độc đến cắn chết chồng bà. Thấy chồng chết, bà cũng chết giấc, sau mới tỉnh lại. Sáng ra, bà cõng đứa lớn trên vai và bồng đứa nhỏ, tiếp tục lên đường, vừa đi vừa khóc.
Trên đường đi, gặp một con sông sâu và rộng. Bà để đứa lớn ở bờ bên này, rồi bồng đứa nhỏ lội qua bờ bên kia trước, sau mới trở lại đón đứa lớn. Thấy mẹ lội xuống nuớc, đứa bé liền lội theo, thì bị nước cuốn trôi. Người mẹ lập tức bơi theo, nhưng không cứu được. Chốc lát, đứa lớn đã bị chết chìm. Người mẹ trở lại bờ bên kia để đón đứa nhỏ, thì hổ đã ăn mất, chỉ còn thấy vết máu trên đất. Người mẹ chết ngất, hồi lâu mới tỉnh, lại tiếp tục lên đường.
Đi được một đoạn, gặp vị Phạm chí là bạn thân của cha, bà khóc lóc kể hết nỗi khổ của mình cho Phạm chí nghe, rồi hỏi thăm gia đình của bà có an ổn không. Phạm chí đáp: ‘Hôm trước, một vụ cháy nổi lên, cha mẹ và cả nhà bà đều bị chết cháy’. Nghe vậy, bà chết ngất, hồi lâu mới tỉnh.
Phạm chí đem về nhà nuôi dưỡng như con, rồi gả chồng. Một hôm, lúc bà sắp sinh, người chồng ra ngoài uống rượu. Tối đến, vợ đóng cửa, ở nhà một mình, lại sinh con. Nửa đêm, chồng trở về kêu cửa. Người vợ đang sinh, nên không ra mở được. Chồng phá cựa vào, lôi vợ ra đánh. Vợ nói là đang sinh, chồng nổi giận, liền giết và hầm đứa bé với sữa, rồi bắt vợ ăn. Trong lúc sợ hãi, người vợ ăn con, sau đó hối hận, tự nghĩ: ‘Vì mình phúc mỏng nên gặp phải người này’
Thế rồi, bà bỏ trốn sang nước Ba-la-nại. Đến một khu vườn, bà ngồi nghỉ nơi gốc cây. Bấy giờ, con của ông trưởng giả nọ có vợ vừa chết. Mỗi ngày, ông ta ra thăm mộ, thương nhớ, khóc than. Thấy người nữ này ngồi một mình dưới gốc cây, ông đến han hỏi, rồi hai người trở thành vợ chồng. Mấy ngày sau, người chồng chết. Theo phép nước thời ấy, khi sống thì vợ chồng thương nhau, khi chồng chết, thì vợ cũng bị chôn sống chung với chồng.
Đêm ấy, có một đám cướp đến đào mộ. Tên tướng cướp thây bà xinh đẹp, liên bắt mang vê làm vợ. Mấy mươi ngày sau, tên cướp phá mộ người khác, nên bị chủ nhà bắt giết. Bọn giặc đem thây chồng về cho bà, bà phải bị chôn sống lần nữa.
Ba ngày sau, có con sói đến đào mộ, nên bà được thoát. Bà tự trách: ‘Không biết đời trước gây tội gì mà chỉ trong mấy mươi ngày, đã gặp tai họa chết đi sống lại hai lần; nay phải làm sao để bảo toàn tính mạng?’.
Khi ấy, nghe Phật Thích-ca đang ở tinh xá Kì-hoàn, bà đến xin Phật xuất gia. Nhờ nguyện lực phát tâm cúng dường thức ăn cho vị bích-chi phật trong đời quá khứ, nên nay bà được gặp Phật, xuất gia tu hành, chứng quả A-la-hán. Nhờ trí tuệ vô lậu, bà biêt được đời trước đã tạo nghiệp sát sinh, lại thề đọa địa ngục, nên hiện đời phải chịu quả báo vô cùng thống khổ này, không ai thay thế được.
Tì-kheo-ni Vi Diệu tự nói:
- Người vợ lớn trước đây chính là tôi. Tuy chứng quả A-la-hán, nhưng tôi thường có cảm giác như bị kim sắt nóng châm từ đỉnh đầu xuống chân, ngày đêm đau đớn, không thể chịu nổi. Quả báo như thế, không bao giờ mất”.
Kinh Cựu tạp thí dụ ghi: “ Ngày xưa, có vị trưởng giả bà-la-môn rất giàu có, thường thích bố thí, ai xin gì đều tùy thuận. Sau đó, hai vợ chồng ông ta sinh được một đứa con trai, nhưng không có tay chân, thân hình như con cá, nên được đặt tên là Ngư Thân. Sau khi cha mẹ qua đời, Ngư Thân thừa kế giữ gìn gia nghiệp. Hằng ngày, cậu ta nằm mãi trong nhà, không ai trông thấy.
Bấy giờ, có một lực sĩ trông coi nhà bếp của vua, nhưng thường không đủ no. Ông ta mỗi ngày phải kéo mười sáu xe củi đi bán để nuôi sống mà vẫn đói khát. Nghe vậy, Ngư Thân mời đến gặp. Thấy thân hình của Ngư Thân, lực sĩ liền bước lui thầm nghĩ: “Sức ta như vậy, mà không bằng người không có tay chân”.
Vị lực sĩ liền đến chỗ Phật thưa hỏi những điều nghi:
Đức Phật dạy:
- Vào thời Phật Ca-diếp, Ngư Thân và nhà vua cùng thiết trai cúng dường Phật, còn ngươi lúc ấy thì nghèo khó, làm người phụ giúp. Ngư Thân cung cấp đầy đù những gì cần có để cùng vua làm Phật sự, nhưng lại thưa với vua: “Hôm nay tôi có việc, không thể cùng ngài làm được; nếu không làm việc này, khác gì chặt bỏ tay chân tôi”. Người làm Phật sự lúc ấy, nay chính là nhà vua; người nghèo khó, phụ giúp, nay là ngươi.
Sau khi nghe Phật giảng, tâm ý vị lực sĩ đều được khai ngộ, chàng ta liền xin xuất gia làm sa-môn, ít lâu sau chứng quả A-la-hán.
Kinh Bách duyên ghi: “Một thời, Đức Phật ở Kì Thụ Cấp Cô Độc Viên tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, trong thành có một trưởng giả rất giàu, của cải nhiều vô lượng,
Phần 2

không thể tính kể. Vợ ông mang thai đủ mười tháng, sinh ra một bé trai không có tay. Vừa mới sinh ra, đứa bé liền nói:
- Đôi tay này rất khó được!
Nói xong, đứa bé sinh tâm mến tiếc. Cha mẹ thấy lạ, nhân đó, đặt tên là Vô Thủ. Năm tháng trôi qua, Vô Thủ lớn lên, tính tình hiền hậu, thông minh lanh lợi. Một hôm, anh ta cùng với các bạn thân ra ngoài dạo chơi, dần dần đến Kì-hoàn, thấy Đức Phật đủ ba mươi hai tướng quí, tám mươi vẻ đẹp, sáng rực như trăm nghìn mặt trời, lòng rất vui mừng, liền đỉnh lễ dưới chân và ngồi sang một bên nghe Đức Phật thuyết pháp. Nghe xong, tâm ý Vô Thủ khai mở và chứng quả Tu-đà-hoàn, liền trở về xin cha mẹ xuất gia. Cha mẹ thương con nên không trái ý, liền dẫn đến cầu xin Đức Phật xuất gia. Đức Phật liền bảo:
- Thiện lai tì-kheo!
Tức thời râu tóc Vô Thủ tự rụng, thân mặc pháp phục, liền thành sa-môn. Vị sa-môn này tinh tấn tu tập, chứng quả A-la-hán, được trời người cung kính. Các tì-kheo thấy thế, liền bạch Phật. Đức Phật bảo:
- Các ông hãy lắng nghe, Ta nay sẽ nói rõ!
Vào kiếp Hiền, ở nước Ba-la-nại có Đức Phật Ca-diếp ra đời. Bấy giờ, có hai vị tì-kheo, một vị đã chứng quả A-la-hán, một vị còn phàm phu, làm pháp sư. Bấy giờ mọi người thường tranh nhau đến thỉnh a-la-hán. Vị a-la-hán thường dẫn pháp sư thụ thỉnh nhà đàn việt. Một hôm pháp sư đi vắng, nên vị a-la-hán dẫn người khác đi. Sau đó vị pháp sư trở về, tức giận mắng:
- Ta thường hầu hạ ngài, mà nay ngài dẫn người khác đi. Từ nay về sau, nếu ta còn hầu hạ ông thì ta sẽ không có tay!
Nói xong, hai vị ấy từ biệt nhau, không ở chung nữa. Do nhân duyên ấy, trải qua năm trăm đời, vị pháp sư kia phải chịu quả báo này. Thế nên nói: “Đôi tay này rất khó được”. Nhờ lúc ấy cung phụng cho bậc thánh, nên nay được gặp Ta, xuất gia tu tập và chứng đạo quả.
Các tì-kheo nghe Đức Phật dạy xong, đều vui vẻ vâng theo”.
Kinh Bách duyên còn ghi: “Một thời, Đức Phật ở vườn tre Ca-lan-đà tại thành Vương Xá. Bấy giờ, tôn giả Na-la-đạt-đa đắp y, Ôm bát vào thành khất thực, trở về dùng cơm xong, chợt từ xa trông thấy khắp Kì-hoàn đỏ rực như máu. Lấy làm lạ, ngài liền đến xem, thấy một ngạ quỉ, thân thể ốm yếu tiều tuỵ, chỉ còn da bọc xương, một ngày, một đêm, sinh ra năm trăm quỉ con. Vì quá ốm yếu, lúc sinh con, ngạ quỉ rất mệt mỏi, xương cốt rã rời, thoi thóp sáp chết, lại bị đói khát bức bách, nên sinh ra bao nhiêu liền ăn hết mà vẫn không no. Ngài Na-la-đạt-đa liền đến hỏi:
- Ngươi tạo nghiệp gì mà phải chịu khổ này?
Quỉ đáp:
- Ngài nên đến hỏi Đức Phật thì sẽ biết!
Thế là, Na-la-đạt-đa đến chỗ Đức Phật, thưa hỏi về quả báo của ngạ quỉ này.
Đức Phật bảo Na-la-đạt-đa:
Vào kiếp Hiền, tại nước Ba-la-nại có một trưởng giả rất giàu, vàng bạc châu báu, tôi tớ trong nhà và cả voi ngựa bò dê nhiều không thể tính kể. Ông có một người vợ lại không có con, nên thường cúng tế thần linh để cầu con nối dõi, nhưng vẫn không được. Sau đó, trưởng giả cưới cô gái dòng bà" la-môn về làm vợ, không bao lâu thì người vợ sau mang thai. Người vợ lớn biết được thì sinh lòng ganh ghét, âm thầm cho uống thuốc độc làm sẩy thai. Thế là, người vợ sau liền dẫn quyến thuộc đến tra hỏi và đánh người vợ lớn. Người vợ lớn nghĩ: “Nếu nói thật thì sẽ bị tội chết, còn không nói ra thì bị đánh rất thống khổ”. Đang lúc bức bách bà ta liền thề độc:
- Nếu ta thật làm sẩy thai ngươi, thì sau khi ta chết, đọa vào loài ngạ quỉ, một ngày một đêm, sinh ra năm trăm đứa con và ăn hết cũng không no!
Bà thề xong, thì họ liền buông tha.
Đức Phật bảo Na-la-đạt-đa:
- Người vợ lớn sinh tâm ganh ghét, giết chết con của người khác mà còn gian dối phát lời thề độc sẽ đọa vào loài ngạ quỉ. Thế nên, nay phải chịu quả báo này.
Nghe Đức Phật nói về tâm ganh ghét tạo nhiều lầm lỗi, hay khiến chúng sinh rơi vào đường ác, các tì-kheo đều lìa bỏ và nhàm chán sinh tử, tâm ý khai thông, có người chứng quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, hoặc A-na-hàm, A-la-hán, cũng có người phát tâm cầu quả vị Bích-chi phật hay Vô thượng bồ-đề”.
Kinh Pháp cú thí dụ ghi: “Vua Lưu Ly nghe theo gian mưu của các nịnh thần như A-tát-đà liền mang quân đến bao vây tinh xá Kỳ-hoàn, chiến đấu với quan quân của vua cha. Vua và hoàng hậu trốn chạy suốt ngày đêm đến nước Vương Xá. Giữa đường đói khát, vua ăn rau rừng trướng bụng mà chết. Thế là, Lưu Ly tuốt gươm xông vào đông cung giết chết hoàng huynh Kỳ-đà. Vì hiểu được lẽ vô thường nên thái tử Kỳ-đà không chút hoảng sợ, vẻ mặt an nhiên không thay đổi, mỉm cười vui vẻ, cam lòng chịu chết. Lúc chưa tắt thở, thái tử Kỳ-đà nghe tiếng nhạc tự nhiên trỗi lên giữa hư không đón thần thức của mình. Vua Lưu Ly còn sát hại những người dòng họ Thích. Đức Phật và quan thái sử đoán bảy ngày sau, Tì-lưu-li sẽ bị lửa địa ngục thiêu chết”.
Luận Đại thừa ghi: “Bồ-tát Kiên Ý thuyết kệ:
Phỉ báng pháp Đại thừa
Nhất định rơi đường ác
Thống khổ lửa đốt thân
Tội báo thật như thế.
Nếu ra khỏi địa ngục
Rơi vào đường ác khác
Các giác quan khiếm khuyết
Mãi chẳng nghe pháp âm
Dầu được nghe chăng nữa
Cũng khinh chê, phỉ báng
Vì nhân duyên khinh pháp
Lại rơi vào địa ngục.
Những kẻ phỉ báng pháp, nghe những lời này liền khởi tâm nghi đối với Đại thừa, như tôn giả Đề-bà thuyết kệ:
Những chúng sinh thiếu phúc
Không sinh khởi tâm nghi
Những kẻ hay sinh nghi
Nhất định phá chư hữu.
Kinh Đại bi phân-đà-lợi có bài kệ:
Chúng sinh già bệnh chết
Đắm chìm biển tham ái
Giam trong ngục ba cõi
Các khổ luôn trói buộc
Uống máu, độc hại thân
Vô thủy bị đốt thiêu
Si mù lạc đường thiện
Cũng chẳng thấy nẻo chính
Tử sinh, ngu tối dày
Đều do chấp tà kiến
Xoay chuyển trong năm đường
Giống như bánh xe quay.
67.3. PHỈ BÁNG
Kinh Phát giác tịnh tâm ghi:
Bấy giờ có sáu mươi bồ-tát mới phát tâm đến trụ xứ của Phật, năm vóc sát đất, đỉnh lễ nơi chân Phật, rồi vẫn quì trên đất buồn than khóc lóc, chắp tay bạch Đức Phật:
- Quí thay! Bạch đức Thế Tôn! Chúng con nghiệp chướng sâu dày, xin Ngài phân biệt giảng thuyết, để tâm chúng con thanh tịnh, không còn tạo các nghiệp nữa!

Phần 3

Đức Phật dạy:
- Này các thiện nam! Các ông đã xuất gia học đạo từ thời Phật Câu-lưu-tôn ở quá khứ, đã thụ cấm giới nhưng lại phá giới, đã được đa văn nhưng lại buông lung, làm tổn giảm công đức đầu-đà. Các ông phỉ báng hai tì-kheo pháp sư là người dâm dục. Vì tiếng tăm và lợi dưỡng, các ông đến nhà bạn bè và thí chủ của hai vị pháp sư ấy thực hiện các việc có tính tham xan, ganh tị. Các ông lại phá hoại, li gián bạn bè và đàn việt của họ; các ông lại nói lời lưỡng thiệt hủy nhục khiến mọi người nghi ngờ, không sinh lòng tin, không đủ lòng tin, nói các việc bất thiện. Bấy giờ các ông khiến cho những người có lòng kính tin, tùy thuận hai pháp sư kia, đoạn mất căn lành, gây các chướng ngại cho họ. Do các nghiệp này ngăn chặn, nên các ông phải rơi vào địa ngục A-tì sáu nghìn hai trăm năm, địa ngục Hoạt bốn vạn năm, địa ngục Hắc thằng hai vạn năm, địa ngục Nhiệt tám trăm nghìn năm. Sau khi hết nghiệp khổ địa ngục, các ông sinh vào cõi người, thì năm trăm đời đui mù, sinh ra nơi nào cũng ngu si, quên mất bản tâm, lấp bít căn lành, không có uy lực, bị mọi người xa lánh, khinh khi, oán ghét, mắng chửi, nhục mạ.
Các ông cũng luôn bị sinh nơi biên địa, trong các gia đình và dòng họ nghèo hèn, không có lợi dưỡng và tiếng tăm; chẳng những không được người tôn trọng, cung kính cúng dường, mà còn bị người nhàm chán ghét bỏ, không ưa khi gặp mặt. Sau khi bỏ thân này, trong năm trăm năm sau thời chính pháp diệt, các ông lại sinh vào gia đình của một dòng họ thấp hèn, trong một quốc độ xấu ác, đầy dẫy kẻ bất thiện, nghèo cùng hèn hạ, luôn bị mọi người khinh chê, quên mất bản tâm, căn lành luôn bị ngăn che. Tuy có lúc trí tuệ tạm thời được sáng tỏ, nhưng rồi lại tối tăm mờ mịt. Các ông phải chịu năm trăm năm như vậy, thì nghiệp chướng mới sạch hết; sau đó sinh vào thế giới Cực Lạc của Đức Phật A-di-đà. Bấy giờ Như Lai mới thụ kí A-nậu-bồ-đề cho các ông.
Sáu mươi vị bồ-tát nghe Đức Phật dạy, dùng tay gạt lệ, lòng vô cùng sợ hãi, rúng động toàn thân. Tất cả đồng thưa:
- Nếu hôm nay chúng con gây lỗi lầm sân hận thì lại tạo thêm nghiệp chướng. Do vậy chúng con xin sám hối trước Thế Tôn, đồng thời lập nguyện lớn là đối với tất cả chúng sinh, chúng con không bao giờ khởi tâm tạo các việc ác.
Thế Tôn khen ngợi sáu mươi vị bồ-tát:
- Các ông đã tỏ ngộ, khéo phát nguyện này, từ nay tất cả nghiệp chướng của các ông đã trừ sạch, sẽ đạt được căn lành thanh tịnh”,
Bấy giờ Thế Tôn nói kệ :
Chẳng nên xét nét lỗi người ta
Thị phi cũng chẳng được luận bàn
Không đắm nhà người nuôi thân mạng
Đồng thời buông bỏ giọng ác tà
Ồn náo lánh xa, tìm nơi vắng
Tì-kheo vô pháp, chớ thân gần
Tịnh tu Phạm hạnh, Phật tán thán
Vì không tham lợi, đến niết-bàn.
Kinh Niết-bàn ghi: “Khi Đức Phật còn tại thế, trong thành Chiêm-bà có một Đại trưởng giả không người nối dõi, nên cúng dường phụng sự lục sư ngoại đạo để cầu con. Chẳng bao lâu, vợ ông ấy mang thai, ông trưởng giả đến chỗ của lục sư, vui mừng nói:
- Vợ tôi mang thai là trai hay gái?
Lục sư đáp:
- Nhất định là gái!
Ông trưởng giả nghe thế, vô cùng sầu não. Có người bạn đến nói:
- Ông chẳng nghe anh em ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp là đệ tử của ai sao? Nếu lục sư là bậc Nhất Thiết Trí thì vì sao anh em Ca-diếp lại bỏ đi làm đệ tử của Đức Phật! Lại, các ông Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên v.v... và các quốc vương như Tần-bà-sa-la v.v các phu nhân của vua như Mạt-lợi v.v... trưởng giả các nước như ông Tu-đạt-đa v.v... chẳng phải là đệ tử của đức Phật sao? Thưa trưởng giả! Đức Như Lai Thế Tôn thấy biết tất cả pháp không ngăn ngại nên gọi là Phật, lời nói ra không hai nên gọi là Như Lai, đã đoạn trừ phiên não nên gọi là A-la-ha. Lời nói của đức Thế Tôn nhất định không có hai. Còn Lục sư chẳng vậy, nên làm sao có thể tin được? Đức Như Lai nay ở gần tại đây, nếu muốn biết rõ thì phải đến chỗ Ngài!
Thế là trưởng giả liền đến thưa hỏi Đức Phật. Phật dạy:
- Này trưởng giả! Vợ ông mang thai chắc chắn là con trai, lại có phúc đức không ai sánh kịp!
Trưởng giả nghe Phật nói, lòng vô cùng hoan hỷ liền lui ra, quay về nhà. Lục sư nghe vậy, khởi tâm ganh tị, dùng quả am-la hòa với thuốc độc, mang đến nhà ông trưởng giả ấy và nói:
- Vợ ông đến lúc sinh có thể uống thứ thuốc này. Uống thuốc này rồi thì đứa trẻ đoan chính, sản phụ không hoạn nạn!
Ông trưởng giả vui mừng thụ nhận, rồi cho vợ mình uống. Vợ ông uống xong liền chết, bọn lục sư vui mừng đi khắp nơi, lớn tiếng xướng:
- Sa-môn Cù-đàm huyền ký vợ ông trưởng giả kia sẽ sinh ra con trai, phúc đức không ai hơn. Nay đứa trẻ chưa sinh mà người mẹ đã mất mạng.
Lúc ấy ông trưởng giả chẳng tin Ta, liền y theo phép thế gian tẩn liệm, đưa ra ngoài thành để thiêu. Ta dùng đạo nhãn thấy rõ việc này, muốn đến đó phá dẹp tà kiến. Lục sư từ xa thấy ta đến, nói với nhau:
- Sa-môn Cù-đàm đến bãi tha ma này, muốn ăn thịt sao?
Bấy giờ những người chưa được pháp nhãn đều hổ thẹn và lo sợ, họ thưa:
- Người đàn bà đó đã chết rồi, xin ngài chẳng nên đến đó!
Lúc ấy A-nan nói với mọi người:
- Hãy đợi giây lát! Chẳng bao lâu nữa, đức Như Lai sẽ mở rộng cảnh giới chư Phật!
Vừa đến, ông trưởng giả bắt bẻ ta:
- Lời nói của Ngài không hai, nay người mẹ đã chết thì làm sao sinh con đây!
Ta nói:
- Này trưởng giả! Vào lúc ấy, ta chẳng thấy ông hỏi về mạng người mẹ ngắn hay dài mà chỉ hỏi thai đang mang là trai hay gái thôi! Lời nói của các Đức Phật Như Lai không hai! Vậy ông phải biết, nhất định được con trai!
Lúc đó tử thi bị lửa đốt cháy, bụng nứt ra, đứa con từ trong đó xuất hiện ngồi ngay thẳng trong đám lửa giống như ngôi trên đài sen. Bọn lục sư thấy vậy cho là huyễn thuật. Còn trưởng giả thì vô cùng vui mừng, quở trách bọn Lục sư:
- Nếu nói là huyễn thì sao các ông không làm đi!
Lúc ấy Ta bảo ông Kỳ-bà:
- Ông vào đám lửa bồng đứa bé đó đến đây.
Bấy giờ, ông Kỳ-bà vào trước đám lửa như là vào dòng nước mát mẻ, bồng đứa trẻ đó đến trao đứa bé cho Ta. Ta nhận đứa bé rồi bảo:
- Thọ mạng của tất cả chúng sinh bất định, như bọt nước. Chúng sinh nếu có quả báo tốt thì lửa chẳng thể đốt, độc chẳng thể hại, chứ chẳng phải do ta tạo tác!
Vì đứa trẻ này sinh ra trong lửa mạnh, mà lửa gọi là thụ-đề, nên tên đặt nó là Thụ-đề”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Trong nước Xá-vệ có bà-la-môn Sư-chất rất giàu, nhưng không có con kế thừa. Ông đến chỗ lục sư hỏi lí do. Lục sư đáp: - Tướng ông không có con trai.
Vợ chồng nghe nói thế, lòng vô cùng sầu não, đến thưa hỏi Đức Phật. Đức Phật đáp:
- Ông sẽ có một đứa con trai đầy đủ phúc đức, lớn lên sẽ xuất gia.
Bà-la-môn nghe Phật dạy vui mừng khôn xiết,
thưa:
- Chỉ cần có con trai, chứ học đạo đâu có gì khổ!
Nhân đây, ông thỉnh Phật và chúng tăng ngày mai đến nhà ông thụ trai. Đức Phật im lặng đồng ý. Ngày hôm sau, đúng giờ Phật và chúng tăng đên. Vợ chồng bà-la-môn chí thành cung kính dâng thức ăn. Thụ trai xong, Phật và chúng tăng trở về

Phần 4

tinh xá. Trên đường về đi ngang qua một con suối, nước rất mát ngọt, Phật và chúng tăng dừng lại nghỉ ngơi. Khi ấy, các tì-kheo đem bát ra rửa. Bỗng có một con khỉ đến A-nan xin mượn bát của Đức Phật, A-nan sợ bể không muốn đưa. Đức Phật liền bảo:
- Này A-nan! Đừng sợ hãy mau đưa bát cho nó.
A-nan vâng lời đưa bát cho khỉ. Khỉ đem bình bát đến cây có mật ong, lấy mật đầy bát rồi dâng lên Phật. Đức Phật bảo:
- Con hãy bỏ những thứ nhơ bẩn trong đó.
Khỉ liền gạt bỏ những xác ong, còn lại mật rất sạch sẽ thơm ngon. Phật lại bảo:
- Con hãy lấy nước hòa vào mật ong.
Khỉ vâng lời múc nước hòa vào mật ong rồi dâng lên Phật. Đức Phật thụ nhận rồi chia cho chúng tăng cùng uống. Khỉ vui mừng chạy nhảy khắp nơi, bất ngờ rơi xuống hố sâu mà mạng chung, thần thức sinh vào nhà Sư-chất. Khi ấy, vợ của Sư-chất liền cảm giác mình mang thai, đủ ngày mãn tháng bà sinh bé trai, khôi ngô tuấn tú không ai sánh bằng. Khi sinh đứa bé, đồ dùng trong nhà tự nhiên đầy mật ong. Vợ chồng Sư-chất vui mừng khôn xiết, mời các thầy tướng đoán tốt xấu cho đứa bé. Thày tướng xem xong nói: ‘Rất tốt! Bé trai này có phúc đức lớn, không ai sánh bằng’. Do ngày sinh đứa bé đồ dùng trong nhà đầy mật ong, nên đặt tên là Mật Thắng.
Đứa bé trưởng thành cầu xin cha mẹ xuất gia tu học và chứng A-la-hán. Một hôm, Mật Thắng cùng các tì-kheo đi giáo hóa trong nhân gian. Gặp lúc đói khát, thày ném bát lên hư không, tự nhiên mật ong đày bát, mọi người thụ dụng no đủ. A-nan thưa:
- Bạch Thế Tôn! Vì sao Mật Thắng sinh trong loài khỉ?
- Vào đời quá khứ, thời Phật Ca-diếp, có tì-kheo trẻ tuổi. Một hôm nhìn thấy vị sa-môn phóng qua mương nước, tì-kheo này liền nói:
- Sa-môn phóng nhẹ nhàng giống như con khỉ.
Vị sa-môn nghe vậy liền nói:
- Ta đã chứng bốn quả sa-môn .
Tì-kheo nghe nói sợ hãi, toàn thân rúng động, sụp lạy cầu xin sám hối. Nhờ sám hối lỗi lầm mà không bị đọa địa ngục; nhưng xúc phạm bậc a-la-hán, nên năm trăm đời thường làm loài khỉ. Cũng nhờ đời trước xuất gia giữ gìn giới cấm, nên nay được tắm gội trong giáo pháp của ta mà trừ sạch các khổ”.
67.4. PHÒNG NGỪA CHÊ BAI
Luận Tát-bà-đa ghi: “Tì-kheo-ni Kiều-đàm-di là dì của Đức Phật, khi đến gặp Phật, bà đỉnh lễ rồi đứng sang một bên mà không ngồi. Đó là vì tính người nữ hay kính sợ nên không dám ngồi; vì Đức Phật không thuyết pháp lâu cho ni nên không ngồi; vì ngăn ngừa sự chê bai của ngoại đạo và người thế tục nên không ngồi, nếu ni ngồi nghe pháp, các ngoại đạo sẽ nói: ‘Khi Cù-đàm còn ở trong vương cung, thường ở chung với người nữ, nay đã xuất gia mà vẫn như vậy!’, muốn ngăn trừ những lời chê bai như vậy, nên không ngồi; lại nữa người nữ thô lậu hay dẫn đến những sự nghi ngờ, dị nghị, cho nên không ngồi”.
Kinh Đại thừa phương tiện ghi: “Tôn giả A-nan bạch Đức Phật:
- Bạch Thế Tôn! Sáng sớm vào thành Xá-vệ, theo thứ tự khất thực, con thấy bồ-tát Chúng Tôn Vương ngồi trên giường với một người nữ’. A-nan vừa nói xong, mặt đất bỗng chấn động sáu cách, bồ-tát Chúng Tôn Vương ở trong đại chúng vọt lên hư không, cách mặt đất một cây đa-la, nói với A-nan: ‘Thưa Tôn giả! Đâu có người nào phạm giới mà trụ được trong hư không, ngài có thể hỏi đức Thế Tôn về việc này, để biết thế nào là tội, thế nào là phi pháp?’.
A-nan nghe vậy trong lòng buồn bã, sám hối trước Phật:
- Bậc đại bồ-tát như vậy mà con nói phạm tội, nay con chí thành sám hối. Bạch Thế Tôn! Xin Ngài chấp nhận!
Đức Phật Bảo:
- Ông không nên tìm lỗi của bồ-tát Đại thừa như vậy! Thanh văn các ông ở nơi vắng vẻ tu tập thiền định, mới không bị chướng nạn mà đoạn trừ phiền não. Còn hàng bồ-tát đã thành tựu tâm Nhất thiết trí, tuy ở trong cung vui chơi với các thể nữ, nhưng không tạo các việc ma và các chướng nạn, mà thành tựu Bồ-đề.
Này A-nan! Người nữ kia trong năm trăm đời ở quá khứ luôn là vợ của bồ-tát Chúng Tôn Vương. Vì tập khí của người nữ, nên vừa gặp bồ-tát, cô gái ấy liền thương yêu, đắm trước không xa lìa được. Trong lòng cô ta nghĩ: ‘Nếu bồ-tát Chúng Trung Vương cùng ngồi cùng giường với ta, ta sẽ phát tâm Vô thượng bồ-đề’. Bồ-tát biết tâm niệm cô gái ấy, nên vào nhà cô ta và tư duy: ‘Pháp môn như vậy, hoặc nội đại địa, hoặc ngoại đại địa, chỉ là một đại địa này; nay dùng tâm đại địa nắm tay cô gái, cùng ngồi một giường’. Tư duy như vậy, bồ-tát liền nơi chỗ ngồi mà thuyết kệ:
Như Lai không khen ngợi
Phàm phu hành dâm dục
Lìa dục và tham ái
Mới làm thầy trời người.
Cô gái nghe bài kệ, vô cùng vui mừng, liền đứng dậy, rời giường, đỉnh lễ nơi chân bồ-tát, rồi nói kệ:
Con chẳng tham ái dục
Tham dục, Phật quở trách
Lìa dục và tham ái
Mới làm thầy trời người.
Sau khi nói bài kệ, cô gái kia phát nguyện-‘Con xin sám hối tất cả tâm niệm ác dục đã sinh tu trước và phát tâm Bồ-đề, làm lợi ích cho tất cả chúng sinh’.
Bấy giờ Thế Tôn thụ kí cho cô gái:
- Sau khi cô mạng chung ở cõi này sẽ chuyển thành thân nam, vào đời tương lai cô sẽ thành Phật hiệu là Vô Cấu Phiền Não.
Này các thiện nam! Ta nhớ vào thời quá khứ cách đây hơn a-tăng-kì kiếp, có một Phạm chí tên là Thụ-đề. Trải qua bốn mươi hai ức năm, Phạm chí này trú trong rừng vắng tu tập Phạm hạnh. Cuối cùng Phạm chí vào thành Cực Lạc và đã gặp một cô gái. Thấy Phạm chí dung mạo đoan nghiêm, thân tướng xinh đẹp, cô gái bỗng khởi tâm dục, chạy đến nắm lấy chân Phạm chí. Vừa nắm được thì cô gái té ngã trên đất. Phạm chí thấy vậy, bèn hỏi:
- Chị cần gì vậy?
- Tôi mong có được ngài. Cô gái đáp.
- Tôi không hành dục. Phạm chí đáp.
- Nếu không thuận theo, tôi sẽ chết. Cô gái quả quyết.
Bấy giờ Phạm chí suy nghĩ: “Đây chẳng phải là pháp của ta, cũng chẳng phải thời của ta. Ta tu tập Phạm hạnh trong bốn mươi hai ức năm, hôm nay đâu có thể hủy hoại được!”. Thế là Phạm chí gắng đẩy cô gái ra rồi vội bỏ đi. Được bảy bước, Phạm chí lại khởi tâm thương xót suy nghĩ: “Tuy ta phạm giới rơi vào đường ác, có thể nhận lãnh tất cả nỗi khổ địa ngục, nhưng không nỡ nhìn thấy cô gái này chịu khổ đau. Ta cũng không để cô gái này vì ta mà chết”. Nghĩ như vậy, Phạm chí quay lại chỗ cô gái, tay phải nắm lấy cô và nói rằng: “Cô hãy đứng đậy, ta thuận theo ý muốn của cô!”. Từ đó Phạm chí sống đời gia đình với cô gái này mười hai năm. Sau đó xuất gia, Phạm chí lại đầy đủ bốn tâm vô lượng, sau khi mạng, chung sinh lên cõi Phạm thiên.
Phạm chí lúc ấy, nay là Ta; cô gái kia chính là Cù-di. Lúc ấy vì lòng dục của người nữ ấy, Ta tạm khởi tâm bi mà vượt qua nỗi khổ sinh tử trong mười trăm nghìn kiếp”.
Kinh Tuệ Thượng bồ-tát ghi: “Vào thời Phật Câu-lâu-tần, tì-kheo Vô cấu trụ trong hang núi tại biên giới nước Nhàn Cư. Cách đó không xa, có năm tiên nhân sinh sống. Một hôm có cô gái đi đường gặp trời mưa lớn, nên vào hang của vị tì-kheo tạm trú. Khi trời đã tạnh, cô gái ra đi. Bấy giờ năm tiên nhân đều cho vị tì-kheo gian dâm. Vô cấu nghe được, liền vọt thân bay lên hư không, cách mặt đất bốn trượng chín thước. Các tiên nhân thấy vậy đều nói: “Theo như trong kinh điển chúng ta đã ghi, thì người nhiễm dục trần thì không thể nào bay trên hư không”. Thế là các tiên nhân gieo thân xuống đất, cúi đầu sám hối tội vu khống. Giả sử tì-kheo không hiện thần biến thì năm tiên nhân kia sẽ rơi vào địa ngục.
Tì-kheo Vô cấu lúc ấy, chính là bồ-tát Từ Thị ngày nay”.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục