Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 57 - CHƯƠNG MẮC NỢ, TRANH TỤNG

11/12/2015

QUYỂN 57 Nội dung quyển này gồm hai chương: Mắc nợ, Tranh tụng. 65. CHƯƠNG MẮC NỢ 65.1. LỜI DẪN Khuyên gắng hành thiện, răn lìa lầm lỗi là tâm thường hằng của bậc Đại sĩ; dẹp bỏ điều ác, tu tạo việc lành là nguyện muôn k...

PUCL QUYỂN 57 - CHƯƠNG MẮC NỢ, TRANH TỤNG
Phần 1

QUYỂN 57
Nội dung quyển này gồm hai chương: Mắc nợ, Tranh tụng.
65. CHƯƠNG MẮC NỢ

65.1. LỜI DẪN
Khuyên gắng hành thiện, răn lìa lầm lỗi là tâm thường hằng của bậc Đại sĩ; dẹp bỏ điều ác, tu tạo việc lành là nguyện muôn kiếp của Bồ-tát. Vì thế, sự vận động của nghiệp thiện ác, giống như sự nương nhau của hình ảnh; lỗi lầm mắc nợ, chính là trồng quả khổ ba đường. Hiện đời mắc nợ, có thể hiện đời chịu quả báo, có thể đời sau chịu quả báo và cũng có thể nhiều đời sau mới chịu quả báo. Trong ba thời như thế, hễ thiếu bất cứ một món nợ nào, dù bằng sợi lông, mà cự tuyệt không chịu trả sao? Phải trả và nhất định phải chịu khổ báo. Cho nên kinh ghi: “Người trộm cắp, trước hết vào địa ngục, súc sinh, ngạ quỉ, sau đó được làm thân người còn phải chịu hai quả báo: một, luôn luôn nghèo hèn; hai, nếu có chút ít tài sản cũng sẽ bị người khác chiếm đoạt”. Lời này thật có chứng cứ, cần phải tự xét bản thân.
65.2. DẪN CHỨNG
Kinh Pháp cú thí dụ ghi: “Thuở xưa, khi Phật còn tại thế, có một tì-kheo tên là Phất-ca-sa-vương vào thành La-duyệt khất thực. Ngay tại cửa thành, ông bị con trâu cái mới sinh húc chết. Chủ trâu lo sợ, bèn bán trâu cho người khác. Người chủ mới dẫn trâu ra sông uống nước, cũng bị trâu từ phía sau húc chết. Gia đình người chủ nổi giận, bắt trâu giết, rồi đem thịt ra chợ bán.
Có người làm ruộng mua đầu trâu, xỏ dây mang về. Trên đường về, cách nhà hơn một dặm, anh ta đến bên gốc cây, treo đầu trâu lên cành rồi ngồi nghỉ. Lát sau, dây bị đứt, đầu trâu rơi xuống đâm sừng vào người, anh ta chết ngay tại chỗ.
Nghe trong một ngày có ba người bị giết như thế, vua Bình-sa lấy làm lạ, liền cùng quần thần đi đến chỗ Phật, hỏi nguyên nhân.
Đức Phật bảo nhà vua:
- Ngày xưa, có ba thương gia đến một nước khác để buồn bán, họ thuê nhà của một bà lão cô độc để ở. Bà lão bằng lòng, nhưng ba người kia thấy bà đơn độc, nên dối gạt, không muốn trả tiền. Đợi bà đi vắng, họ lén bỏ đi. Trở về, không thấy khách, bà lão hỏi nhà hàng xóm. Mọi người đều nói là họ đi rồi. Bà lão nổi giận lập tức đuổi theo. Khi gặp họ, bà lão khổ nhọc đòi tiền. Nhưng ba người ấy mắng: ‘Trước đây, chúng tôi đưa rồi, sao còn đòi nữa?’. Thế là, họ đồng thanh phản đối, không chịu trả tiền. Bà lão một mình yếu thế không biết làm sao, bèn buồn bã, khóc than và thề độc: ‘Ta nay đã khốn quẫn, sao họ nỡ lừa gạt. Ta thề rằng đời sau sinh ở nơi nào, nếu gặp lại, ta sẽ giết chết các ngươi. Giả sử các ngươi có đắc đạo, ta cũng không buông tha’.
Phật bảo vua Bình-sa:
- Bà lão thuở ấy chính là con trâu cái ngày nay. Ba người buôn là Phất-ca-sa v.v... những người bị trâu húc chết”.
Đức Phật nối kệ:
Lời ác mắng người,
Coi thường, lấn lướt,
Tạo ác như thế,
Oán khổ liền sinh.
Lời hòa khiêm cung,
Tôn trọng người khác,
Bỏ giận, nhẫn ác,
Oán khổ tự tan.
Người sống trên đời,
Búa ở cửa miệng,
Vì nói lời ác,
Nên bị chém thân.
Kinh Xuất diệu ghi: “Xưa có hai anh em ở nước Kế-tân. Người anh xuất gia, chứng quả A-la-hán, người em ở nhà lo gây dựng gia nghiệp. Bấy giờ, người anh thường về nhà dạy em, khuyên bố thí, trì giới, tu thiện, làm phúc để hiện tại được tiếng thơm, chết thì được sinh về nơi hạnh phúc, nhưng em trả lời:
- Anh nay đâ xuất gia, không còn phải lo việc chung việc riêng, không nghĩ đến vợ con, ruộng vườn, của cải, còn em thì phải lo những việc như thế.
Người anh thường khuyên nhắc, nhưng em không chịu nghe. Sau đó, người em bị bệnh mà chết, sinh vào loài trâu, bị người sai kéo xe chở muối vào thành. Từ trong thành đi ra, người anh trông thấy, liền nói pháp cho trâu nghe. Nghe xong, nó buồn tủi nghẹn ngào. Chủ trâu thấy thế, nói với vị a-la-hán:
Ông đã nói điều gì mà khiến con trâu của tôi buồn rầu, không vui?
A-la-hán đáp:
- Con trâu này đời trước vốn là em tôi. Ngày xưa, nợ anh một đồng muối, nên nay đọa làm trâu dùng sức để trả nợ cho anh.
Nghe vậy, chủ trâu nói với A-la-hán:
- Đời trước, em của ngài là bạn thân của tôi.
Lúc ấy, người chủ nói với trâu:
- Nay ta thả ngươi ra, chẳng phải làm việc nữa.
Nghe chủ nói vậy, trâu rất xúc động, thành tâm nghĩ đến Phật, rồi tự đâm đầu chết ở khe sâu, thần thức sinh lên cõi trời, hưởng sự vui sướng cùng cực.
Từ câu chuyện này, có thể biết rằng, nếu đã mắc nợ người, thì không thể không trả”.
Luận Thành thật ghi: “Nếu mắc nợ mà không trả thì đọa vào các loài trâu, dê, chương, nai, lừa, ngựa... để trả nợ xưa”.
Kinh bách duyên ghi: “Một thời, Đức Phật ở Kì Thụ Cấp Cô Độc Viên tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, Đức Phật dẫn các tì-kheo vào thành khất thực, đến một ngõ hẻm thì gặp một bà-la-môn, ông ta vạch một đường trên đấât, ngăn không cho Đức Phật đi và nói:
- Ngài phải đưa cho tôi năm trăm đồng tiền thì mới được đi!
Thế là, Đức Phật và các tì-kheo đứng im, không thể bước tới trước. Vua Bình-sa, vua Ba-tư-nặc, Tì-xá-khư và Phú-lâu-na v.v.., nghe Đức Phật bị chặn đường, liền đem của cải châu báu đến đưa cho bà-la-môn, nhưng ông ta không chịu nhận. Trưởng giả Tu-đạt liền lấy năm trăm đồng trao cho bà-la-môn, bà-la-môn nhận lấy xong mới để Đức Phật đi.
Các tì-kheo thấy thế liền bạch:
- Bạch Đức Thế Tôn! Vì sao Ngài bị bà-la-môn ngăn, không cho đi như thế?
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Các ông hãy lắng nghe, Ta sẽ nói rõ!
Vô lượng kiếp về trước, vua nước Ba-la-nại tên là Phạm-ma-đạt-đa, thái tử tên là Thiện Sinh. Một hôm, thái tử dẫn bạn thân ra ngoài thành dạo chơi, trên đường đi gặp một người đang cùng với con quan tể tướng đánh bạc, đặt một ván năm trăm đồng vàng, cuối cùng con tể tướng thua, người kia theo đòi, nhưng anh ta không chịu trả. Thấy thế thái tử nói:
- Nếu người ấy không trả thì tôi sẽ trả cho ông!
Nhưng cuối cùng cũng không cho trả. Từ đó đến nay, trải qua vồ lượng kiếp, Ta thường bị người chơi bài kia theo đòi nợ.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Thái tử bấy giờ chính là Ta, con quan tể tướng là trưởng giả Tu-đạt, người cùng chơi bài nay là bà-la-môn”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Thuở xưa, ở nước Kế-tân có vị A-la-hán tên là Li-việt. Một hôm, ngài đang ngồi thiền trong núi thì có một người bị mất bò, lần theo dấu chân, người ấy tìm đến chỗ của ngài. Bấy giờ Li-việt đang nấu cỏ nhuộm y, đột nhiên y của ngài biến thành da bò, nước nhuộm biến thành máu, cỏ dùng để nấu nước nhuộm y biến thành thịt bò, bình bát biến thành đầu bò. Người mất bò thấy vậy, liền bắt trói ngài lại dẫn đến vua. Vua liền giam vào ngục, trải qua mười hai năm, ngài được giao làm cai ngục, cho ngựa ăn, hốt phân. Đệ tử của ngài có năm trăm người cũng đã chứng quả A-la-hán, đi tìm thầy mình, nhưng không biết thầy
Phần 2

ở đâu? Khi nghiệp duyên sắp hết thì có một đệ tử thấy thầy ở trong ngục của nước Kế-tân, liền đến nói với vua:
- Thầy của tôi là Li-việt, đang bị giam trong ngục của bệ hạ. Xin bệ hạ hãy phán xét, trả tự do lại cho ngài!
Vua liền sai lính đến ngục kiểm tra. Lính của vua đến, chỉ thấy một người thân hình tiều tụy, râu tóc dài rũ rượi, đang gác ngục, cho ngựa ăn và dọn phân. Người lính liền trở về tâu:
- Trong ngục hoàn toàn không có sa-môn, đạo sĩ nào cả, chỉ có một vị tì-kheo gác ngục!
Vị đệ tử của Li-việt lại tâu vua:
- Xin bệ hạ hãy thử ban lịnh cho tất cả tì-kheo đều được ra khỏi ngục!
Vua liền ban lịnh tất cả các tì-kheo đạo sĩ được ra khỏi ngục. Ngay lúc ấy, từ trong ngục, râu tóc của tôn giả Li-việt liền rụng hết, thân khoác ca-sa, vọt thẳng lên hư không, hóa hiện mười tám thần biến. Vua thấy sự việc này, cho là việc chưa từng có, liền gieo năm vóc sát đất, đỉnh lễ và thưa Tôn giả:
- Xin tôn giả cho trẫm được sám hối!
Tôn giả liền hạ xuống, thụ nhận sự sám hối cùa vua. Vua liền hỏi:
- Vì nghiệp duyên gì mà tôn giả chịu khổ nhiều năm ở trong ngục?
Tôn giả đáp:
- Thuở xưa, ta cũng từng mất bò, lần theo dấu vết, đến một ngọn núi, thấy một vị Bích-chi Phật đang ngồi thiền, liền vu khống cho vị ấy trải qua một ngày một đêm. Do nhân duyên đó, mà ta bị đọa vào ba đường ác, chịu khổ vô cùng, vì tai họa thuở xưa chưa hết, nên nay tuy đã chứng quả A-la-hán mà ta vẫn còn bị nạn vu khống!”.
Vì nhân duyên này, nên tất cả chúng sinh cần giữ gìn kĩ ba nghiệp thân, miệng, ý, không được vu khống người khác. A-la-hán Li-việt, do thuở xưa vu khống vị bích-chi-phật, nên hiện nay bị nạn này. Kinh Pháp hoa ghi: “Nếu vu khống người tụng kinh, hoặc thật hoặc không thật thì hiện đời cũng đều bị bệnh hủi”.
Luận Ti-ba-sa ghi: “Từng nghe có một người nữ bị ngạ quỉ bắt, liền dùng chú thuật hỏi ngạ quỉ:
- Vì sao ngươi quấy phá người này?
- Vì người này là oan gia của tôi, trong suốt năm trăm đời thường giết tôi; tôi cùng trong suốt năm trăm đời hại lại mạng người này. Nếu người này có thể bỏ tâm oán thù xưa thì tôi cũng không giữ làm gì.
Người nữ nghe vậy liền nói:
- Từ hôm nay ta sẽ bỏ tâm oán thù ấy!
Ngạ quỉ quán thấy người này, tuy miệng nói xả bỏ, nhưng trong lòng không chịu buông, nên lập tức giết chết”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Khi đến bờ sông Hằng, ngài Mục-kiền-liên thấy có năm trăm ngạ quỷ xuống sông. Bấy giờ, con quỷ giữ sông dùng gậy sắt xua đuổi, không cho bầy quỷ đến gần. Bầy quỷ liền đi thẳng đến Mục-kiền-liên, lễ dưới chân Ngài và lần lượt hỏi về tội của mình. Một con quỷ thưa:
- Thân tôi thường chịu khổ nóng khát. Trước đây, nghe nói nước sông Hằng vừa trong vừa mát, nên tôi vui mừng đến tắm thì nước sôi bỏng thân, thử uống vào một ngụm, thì ngũ tạng cháy tiêu, hôi thối không chịu nổi. Vì nguyên nhân gì mà tôi phải chịu tội như thế?
Ngài Mục-kiền-liên trả lời:
- Đời trước, ngươi từng làm thầy tướng số, xem tướng lành dữ cho người, hoặc chê, hoặc khen, nhưng đúng ít, sai nhiều mà tự cho là đúng để làm người động lòng, hầu dụ dỗ, lừa dối họ mà cầu tài lợi. Mê hoặc làm cho họ hao tốn mà chẳng được như ý.
Một quỷ khác thưa:
- Tôi thường bị loài chó lớn, răng nhọn màu hồng đến ăn thịt, chỉ còn. bộ xương. Khi ấy, một cơn gió thổi qua, da thịt sinh ra, lại bị chó đến ăn. Chịu khổ như thế là do nhân duyên gì?
Ngài Mục-kiền-liên trả lời:
- Đời trước, ngươi là chủ trông coi miếu trời, thường bảo mọi người giết dê để lấy máu tế trời còn thịt thì ngươi ăn. Do đó, ngày nay phải lấy thịt để trả.
Một quỷ khác thưa:
- Tôi thường bị phân dơ dính khắp trên thân và cũng phải ăn thứ phân đó. Tội ấy là do nhân duyên gì?
Ngài Mục-kiền-liên trả lời:
- Đời trước, ngươi làm bà-la-môn ác độc, tà kiến, không tin Tam bảo. Khi tì-kheo đến khất thực, thì ngươi lấy phân bỏ vào bát, lấy cơm phủ lên trên, rồi đưa cho tì-kheo. Tì-kheo ôm bát trở về, lấy tay bốc cơm ăn, phân dính dơ tay. Vì vậy, ngày nay phải chịu tội như thế.
Một quỷ khác thưa:
- Bụng tôi lớn như cái vò, mà cổ họng và chân tay thì nhỏ như cây kim, không thể ăn uống. Khổ ấy là do nhân duyên gì?
Ngài Mục-kiền-liên trả lời:
- Đời trước, ngươi làm trưởng làng, cậy sự giàu sang, uống rượu bừa bãi, khinh khi người khác, đoạt miếng ăn, thức uống của họ, làm cho mọi người đói khổ. Thế nên phải chịu khổ này.
Một quỷ khác thưa:
- Tôi thường muốn đến nhà xí để ăn phân, nhưng có một bầy quỉ rất đông cầm gậy xua đuổi tôi, không cho vào gần nhà xí. Vì vậy, miệng tôi hôi thối, đói khổ, nhưng không biết nhờ ai. Đó là do nhân duyên gì?
Ngài Mục-kiền-liên trả lời:
- Đời trước, ngươi làm chủ một ngôi chùa. Có người tại gia cúng dường chúng tăng đủ các món ăn.
Ngươi lấy món dở đem cúng khách tăng, riêng mình ăn món ngon. Thế nên phải chịu khổ này.
Một quỷ khác thưa:
- Toàn thân tôi mọc đầy lưỡi. Có một cái búa đến chặt lưỡi, lưỡi đứt rồi lại mọc ra, cứ như thế mãi. Đó là do nhân duyên gì?
Ngài Mục-kiền-liên trả lời:
- Đời trước, ngươi làm tì-kheo, chúng tăng sai hòa nước đường phèn. Có một cục đường lớn khó tan, nên ngươi dùng búa chặt nhỏ, rồi khởi tâm trộm lấy ăn một miếng. Do nhân duyên đó, nên nay ngươi lại bị búa cắt lưỡi.
Một quỷ khác thưa:
- Tôi thường bị bảy hòn sắt nóng lăn thẳng vào miệng, rồi chui xuống bụng, làm cho ngũ tạng cháy tiêu, hòn sắt lăn ra, rồi lại lăn vào. Do nhân duyên gì mà phải chịu tội như thế?
Ngài Mục-kiền-liên trả lời:
- Đời trước, ngươi làm sa-di, được sai mang trái cây đến cho thầy, vì kính thầy mình nên sinh tâm thiên vị đưa nhiều hơn bảy quả. Thế nên phải chịu khổ này.
Một quỷ khác thưa:
- Tôi thường bị hai bánh xe sắt nóng nằm dưới hai nách, hễ thân cử động thì liền bị thiêu cháy. Đó là do nhân duyên gì?
Ngài Mục-kiền-liên trả lời:
- Đời trước, ngươi làm bánh cho chúng tăng khởi tâm trộm lấy hai lần kẹp vào nách. Thế nên phai chịu khổ này.
Một quỷ khác thưa:
- Tôi có cục bướu lớn như cái vò, lúc đi phải vác lên vai, dừng lại thì ngồi lên trên nó, đi đứng đau đớn, khổ sở. Đó là do nhân duyên gì?
Ngài Mục-kiền-liên trả lời:
- Đời trước, ngươi làm chức thị lệnh3, giao cho người thì cân non, đấu nhỏ, còn cân nặng, đấu lớn giành về phần mình, lại thường muốn mình được lợi lớn, làm thiệt hại người khác.
Một quỷ khác thưa:

Phần 3

- Hai vai tôi thường có mắt, ngực có mũi miệng, nhưng không có đầu. Đó là do nhân duyên gì?
Ngài Mục-kiền-liên trả lời:
- Đời trước, ngươi thường làm đệ tử của tên đầu đảng giết người. Khi giết người tội, ngươi thường cảm thấy vui sướng, lấy dây buộc vào, rồi lôi kéo đi. Thế nên phài chịu khổ này.
Một quỷ khác hỏi:
- Thân tôi thường bị kim sắt châm vào, rút ra, đau đớn không biết kêu ai. Đó là do nhân duyên gì?
Ngài Mục-kiền-liên trả. lời:
- Đời trước, ngươi làm người huấn luyện ngựa, hoặc huấn luyện voi. Voi ngựa khó trị, ngươi lấy kim sắt đâm vào chân chúng. Những lúc chúng đi chậm, ngươi cũng lấy kim đâm vào. Thế nên phải chịu khổ này.
Một quỷ khác thưa:
- Thân tôi thường có lửa nổi lên thiêu cháy, đau đớn vô cùng. Đó là do nhân duyên gì?
Ngài Mục-kiền-liên trả lời:
- Đời trước, ngươi làm hoàng hậu, nhưng luôn ghen ghét, rắp tâm làm hại một vương phi được vua sủng ái. Gặp lúc nhà vua vừa thức, bước ra ngoài, vị thứ phi còn ngủ, chưa dậy mặc áo, ngươi khởi tâm ác, dùng dầu mè còn nóng, đổ lên bụng vương phi. Vương phi bị phỏng bụng mà chết. Thế nên ngày nay ngươi phải chịu khổ này.
Một quỷ khác thưa:
- Tôi thường bị gió xoáy vây bọc lấy thân, không thể tự do đi lại, lòng thường sầu não. Đó là do nhân dụyên gì?
Ngài Mục-tkiền-liên trả lời:
- Đời trước, ngươi làm thầy bói, có lúc nói thật, có lúc nói dối để mê hoặc lòng người, khiến họ không được như ý. Thế nên phải chịu khổ này.
Một quỷ khác thưa:
- Thân tôi như cục thịt, không có tay chân, mắt, tai, mũi... lại luôn bị chim, trúng rúc ăn, đau đớn không chịu nổi. Đó là do nhân duyên gì?
Mục-kiền-liên trả lời: - Đời trước, ngươi thường cho người uống thuốc trục thai, nên phải chịu khổ này.
Một quỷ khác thưa:
- Tôi thường bị lồng sắt nóng chụp giữ quanh thân, thiêu cháy đau đớn. Đó là do nhân duyên gì?
Ngài Mục-kiền-liên trả lời:
- Đời trước, ngươi thường bủa lưới, thả câu bắt chim cá, nên phải chịu khổ này.
Một quỷ khác thưa:
- Tôi thường lấy vật tự trùm kín đầu, lại luôn lo sợ người đến giết hại, nên lòng thường bất an. Đó là do nhân duyên gì?
Ngài Mục-kiền-liên trả lời:
- Đời trước, ngươi tà dâm, thường sợ người thấy, hoặc sợ chồng người kia bắt trói, đánh giết, hoặc sợ phép vua giết bêu thây giữa phố thị, nên lúc nào cũng sợ hãi. Thế nên ngươi phải chịu khổ này.
Một quỷ khác thưa:
- Tôi thường vác một bình nước đồng sôi trên vai, rồi tự tay cầm gáo múc nước đồng ấy xối từ đầu xuống, toàn thân bị cháy rã, chịu khổ vô cùng. Đó là do tội gì?
Ngài Mục-kiền-liên trả lời:
- Đời trước, ngươi xuất gia làm tì-kheo, trông coi về việc ăn uống, có lần ngươi lấy một bình bơ sữa để riêng nơi khác. Có khách tăng đến, ngươi không cho, khách tăng đi rồi, thì đem bơ sữa ra cho tăng thường trụ. Bơ sữa này là vật của bốn phương tăng, tất cả đều có phần. Ngươi cất giữ, tuy có phân chia cho tăng thường trụ, nhưng như thế là không bình đẳng. Do nhân duyên đó nên phải chịu tội này”.
Kinh Thí dụ ghi: “Xưa, tại một nước nọ, có một người chết, thần hồn tự lấy roi đánh vào xác chết của mình. Người bên cạnh hỏi:
- Ngươi nay đã chết, vì sao lại đánh thi thể mình?
Đáp:
- Đó là thân cũ của tôi, vì tôi làm ác, thấy giới kinh không chịu đọc tụng, lại còn trộm cắp, dối trá, cưỡng hiếp vợ người, bất hiếu với cha mẹ, không kính nhường anh em, tham tiếc tài vật, không chịu bố thí. Nay thân này chết đi, khiến tôi đọa vào đường ác, đau đớn, khổ sở không thể kể xiết. Thế nên, tôi đánh thân minh”.
Kinh Vô Lượng Thọ ghi: “Trong đời quá khứ, Kiều-phạm-ba-đề từng làm tì-kheo; có lần ông ngắt lấy một gié lúa ở ven ruộng của người để xem lúa chín chưa, vô ý làm rơi vài hạt xuống đất, do đó năm trăm đời thường làm trâu để trả nợ”.
Luận Đại trí độ ghi: “Vì tập khí cũ, nên khi làm người, lúc sinh ra, miệng tì-kheo này vẫn còn nhai như trâu, sau được Phật thương xót, độ cho xuất gia, đắc quả A-la-hán”.
Có bài tụng:
Giàu nghèo luôn thay đổi
Mang nợ chẳng trả người
Vay mượn mà chẳng hoàn
Kết nghiệp này luôn theo
Nếu lòng không hối trách
Ắt phải chịu khổ đau
Rơi vào trong đường ác
Mãi mãi không lối về.
65.3. CẢM ỨNG
65.3.1. Đời Hán, sa-môn An Thế Cao: Sư tên là An Thanh, thái tử của chính hậu vua nước An Tức. Thuở nhỏ nổi tiếng là người hiếu hạnh, lại thêm thông minh và hiếu học. Từ sách vở nước ngoài cho đến thất diệu, ngũ hành thuốc men thuật số, cả tiếng chim muông, sư đều thông hiểu.
Có lần đang trên đường đi, nhìn thấy bầy chim yến bay ngang, sư bèn nói với bạn:
- Chim yến bảo có người mang thức ăn đến.
Một lát sau, sự thật đúng như vậy. Mọi người thảy đều kinh ngạc. Danh tiếng của sư nhanh chóng lan truyền đến Tây Vực. Sư thông đạt cùng tận lí tính của thiên địa, vạn vật, còn tự biết nghiệp duyên đời trước, cũng như hiện rất nhiều điều thần kì, thế gian không ai lường biết được. Sư kể lại kiếp trước mình đã từng xuất gia, có một người, bạn đồng học tính hay sân giận, nếu đi khất thực mà gặp thí chủ không vừa ý thì nổi giận, sư đã nhiều lần khuyên can, nhưng vẫn không chịu sửa đổi, suốt hai mươi năm như vậy. Một hôm sư từ biệt bạn đồng học và nói:
- Tôi phải đến Quảng châu để trả nợ đời trước. Huynh siêng năng và thông thạo kinh điển không thua kém gì tôi, chỉ vì tính hay sân giận, nên sau khi mạng chung sẽ mang thân hình xấu xí, nếu tôi đắc đạo ắt sẽ độ huynh.
Nói xong, sư đến Quảng châu. Gặp lúc đất nước bị loạn lạc, trên đường, sư gặp một thiếu niên cầm đao nói với sư:
- Đúng là gặp được ông rồi!
Sư mỉm cười nói:
- Đời trước tôi mắc nợ anh, nay tôi đến đây để trả. Anh giận như thế chính là do oan nghiệp đời trước.
Nói xong, sư đưa cổ ra nhận nhát dao mà không hề biến sắc. Người xem rất đông, ai nấy đều kinh ngạc. Thần thức của sư tái sinh làm thái tử nước An Tức. Sau, sư xuất gia và du hóa đến Trung Quốc. Nhằm cuối đời Hán Linh đế, giặc giã nhiễu loạn ở Quan Lạc, sư bèn đi đến Giang Nam và tự nhủ: “Mình phải qua Lô Sơn để độ bạn đồng học đời trước”. Sư đi đến miếu Cung Đình Hồ, miếu này vốn rất linh thiêng, thương nhân đến cầu cúng, thì thuyền đi xuôi ngược gì cũng đều thuận

Phần 4

buồm xuôi gió. Lần nọ, có người xin thần cây tre, thần chưa cho mà tự tiện lấy thì lập tức thuyền bị chìm và cây tre trở về chỗ cũ. Từ đó người đi thuyền thảy đều khiếp sợ.
Hôm ấy hơn ba mươi thuyền buôn cùng đoàn với sư đến miếu dâng lễ cầu phúc, thần miếu nói:
- Dưới thuyền có sa-môn, hãy thỉnh lên đây!
Khách buôn đều kinh ngạc, mời sư vào miếu. Thần bèn nói với sư:
- Thuở xưa, ở nước ngoài, tồi với ngài cùng xuất gia học đạo,, tôi ưa bố thí nhưng tính hay sân giận nên nay đọa làm thần trong miếu này, quanh đây ngàn dặm đều do tồi cai quản. Nhờ phúc bố thí nên châu báu của tôi rất nhiều, nhưng do sân giận, nên đọa làm thần. Nay gặp lại bạn xưa, tôi thật vui buồn lẫn lộn. Mạng sống của tôi không còn bao lâu nữa mà thân hình tôi lại quá lớn, nếu như tôi chết ở đây e rằng làm nhơ uế sông hồ, nên tôi phải sang đầm nước ở phía tây ngọn núi. Sau khi chết, thân này có lẽ đọa địa ngục, tôi có một nghìn xấp lụa và nhiều vật quy giá khác, ngài hãy đem số của cải này vì tôi mà xây tháp thờ kinh để tôi được sinh vào cõi lành.
Sư nói:
- Tôi từ xa đến đây để độ ông, sao ông không hiện nguyên hình?
Thần miếu đáp:
- Thân hình của tôi rất xấu xí, e rằng mọi người sẽ khiếp sợ.
Sư bảo:
- Ông cứ xuất hiện đi, mọi người sẽ không sợ đâu!
Nghe vậy, từ sau án thờ, thần miếu xuất hiện, đó là con mãng xà rất lớn. Nó đến bên gối sư, sư bèn tụng mấy biến thần chú. Mãng xà khóc như mưa, lát sau thì biến mất. Thế rồi sư lấy lụa và các đồ vật cùng với những thương buôn căng buồm ra đi. Mãng xà đứng trên núi cao nhìn theo, mọi người vẫy tay từ biệt cho đến khi khuất bóng.
Không bao lâu sư đến Dự Chương, mang những đồ vật trong miếu xây dựng Đông tự. Sau khi sư ra đi, thần miếu cũng qua đời. Đến chiều hôm ấy, có một thiếu niên lên thuyền quì trước sư, sư chú nguyện xong sau đó liền biến mất. Sư nói với các thương buôn:
- Thiếu niên kia chính là vị thần trong miếu, nay đã lìa bỏ thân hình xấu xí.
Từ đó thần không còn, miếu cũng không còn linh nghiệm, về sau mọi người thấy xác mãng xà dài mấy dặm nằm trong đầm phía tây ngọn núi. Nơi này, nay chính là thôn Xạ thuộc quận Tâm Dương.
Sau đó, sư lại đến Quảng Châu tìm vị thiếu niên đã giết mình đời trước. Lúc này vị thiếu niên ấy vẫn còn, sư đi thẳng vào nhà nói lại việc trả oán và duyên nghiệp đời trước. Sư vui vẻ nói:
- Tôi còn chút nợ đời trước, nay phải đến cối Kê để trả cho xong!
Vị thiếu niên mới nhận ra sư là người phi phàm, chợt hiểu và hối hận lỗi lầm trước đây. Ông ta tiếp đãi và cúng dường sư rất nồng hậu rồi theo sư về hướng đông. Khi đến cối Kê, sư vào chợ, chợt gặp mọi người đang đánh nhau, họ đánh nhầm vào đầu sư, sư liền mạng chung. Vị thiếu niên mới nghiệm ra hai sự báo ứng, bèn siêng năng tu tập và đem chuyện này kể lại cho mọi người nghe, ai nấy đều cho là kì lạ, biết thật có báo ứng ba đời.
65.3.2. Đời Tấn, Bạch Viễn ở Trường An: Sư tự là Pháp Tổ, họ Vạn, người Hà Nội, Trung Quốc. Sư là người có khí chất cao vời, thông minh tài trí tuyệt luân. Mỗi ngày tụng đến tám chín nghìn lời kinh, nghiên cứu các kinh Đại thừa, thấu đạt nghĩa lí sâu mầu, đồng thời cũng thông thạo sách vở thế gian. Sư sang Trung Hoa vào cuối đời Tuệ đế nhà Tấn, ẩn cư ở Lũng Tả để giữ vững chí tiết cao thượng. Bấy giờ Trương Phụ làm Thứ sử Tân châu; trước đó có Quản Phiên, người tại châu này đối luận không hơn được sư, nên ôm hận trong lòng, gièm pha với Phụ, Phụ bắt sư và định tội chết, khiến mọi người đều oán. Sư nói:
- Ta đến để trả hết nợ. Đây là oán kết từ quá khứ lâu xa, chứ chẳng phải hôm nay.
Nói xong, sư xướng:
- Nam-mô Thập phương Phật. Đây là tội duyên của thân trước, nay con xin hoan hỉ trả hết. Nguyện từ đây về sau làm thiện tri thức cho Trương Phụ, không để ông ta phạm tội sát nhân!
Thế là sự tự đánh mình năm roi rồi an nhiên thị tịch, về sau Phụ nghe được tin này, lòng rất tức giận; đạo tục đều thương tiếc khóc than, mọi người đều phẫn nộ, cùng nhau phân chia xá-lợi xây tháp tôn thờ. Trương Phụ tuy có tài, nhưng tàn ác, hành động trái đạo lí, giết oan sư là một vị tăng có đức và Phong Thượng, thái thú Thiên Thủy. Do đó nhân dân nổi loạn chém đầu Trương Phụ và giết luôn Quản Phiên.
Bấy giờ có Lí Thông đã chết, nhưng sau đó sống lại và nói thấy sư giảng kinh Thủ-lăng-nghiêm cho vua Diêm-la nghe, giảng xong thì lên cõi trời Đao-lợi. Lại thấy tế tửu Vương Phù, còn gọi là đạo sĩ Kê Công bị gông cùm đang sám hối trước sư. Bởi lúc còn sống, Kê Công thường cùng với sư luận biện về tà chính, nhiều lần bị bại, sân hận không nhẫn được, nên soạn kinh Lão Từ hỏa Hồ để phỉ báng Phật pháp. Gây tội thì có báo, cho nên sau khi chết mới sám hối trước sư.
Luận Đạo hiền của Tôn Xước, có so sánh Bạch Tổ với Kê Khang như sau: “Họa của Pháp Tổ khởi từ Quản Phiên, nạn của Trung tán sinh từ Chung Hội, hai hiền sĩ đều có chí tiết cao vời mà không có ý cầu vinh thân, gửi tâm ngoài trần tục, xem thường họa thế gian. Cả hai hầu như không khác, nên họ đáng được ca ngợi như thế
65.3.3. Đời Lương, Hầu Khánh ở Nam Dương: Nhà ông có một tượng thần bằng đồng, ông dự định bán con trâu, lấy tiền thếp vàng cho tượng, nhưng vì có việc gấp, nên ông giao cho người khác sử dụng. Hai năm sau, vợ ông là Mã thị nằm mộng thấy tượng nói:
- Vợ chồng ngươi nợ ta việc thếp vàng, đã lâu mà không trả, nay ta bắt con trai ngươi là Xú Đa để trừ vào việc ấy!
Bà tỉnh giấc, trong lòng cảm thấy bất an. Đến sáng, Xú Đa bỗng nhiên bị bệnh, qua đời. Năm ấy ông đã hơn năm mươi tuổi mà chỉ có một đứa con, nên khóc than thảm thiết, khiến người đi đường đều động lòng. Ngày Xú Đa mất, bỗng nhiên tượng phóng ánh sáng vàng ròng chiếu rực cả xóm làng, đồng thời hương thơm lan tỏa khắp nơi. Đạo tục, trẻ già trong thôn xóm đều đến xem. Thượng thư tả bộc xạ Nguyên Tích nghe trong làng có điềm linh dị, bèn đổi tên làng Phụ Tài thành Tề Hài.
65.3.4. Đời Tùy, cha cùa Biện Sĩ Du ở Dương châu: Vào đời Tùy, cha ông có công bình định nhà Trần, nên được thăng làm Nghi đồng. Tuy vậy, cha ông rất bỏn xẻn, thường thuê người làm nhà nhưng không trả công. Người làm đến nhận tiền, thì cha ông đánh đập và nổi giận nói:
- Nếu ta thật mắc nợ các ngươi, sau khi chết ta sẽ làm trâu cho các ngươi
Vừa nói xong, lát sau cha ông qua đời. Năm ấy con trâu trong làng sinh một con nghé đực lông vàng, có vằn đen bao quanh bụng, như người thẳt dây lưng; chân phải có vằn trắng kéo nghiêng từ trên xuống dưới giống như cái hốt ngà voi. Khi người chủ gọi: “Vì sao Biện công nợ ta?”. Trâu nghé liền quì hai chân trước, cúi đầu chạm đất. Sĩ Du nghe tin vội mang mười vạn tiền đến chuộc, chủ trâu không chịu. Sau đó trâu chết, mới đem về chôn cất.
65.3.5. Đời Tùy, người họ Vương ở Lạc Dương: Ông sống vào khoảng niên hiệu Đại Nghiệp (605-617), luôn giữ gìn năm giới, hay nói đúng những việc chưa xảy ra, rất được người trong làng tin kính. Một hôm bỗng nhiên ông nói với mọi người:
- Hôm nay sẽ có người dẫn đến cho ta một con lừa.
Quả thật đến trưa hôm ấy, có người dẫn đến cho ông một con lừa và khóc lóc nói:
- Tôi sớm mất cha, mẹ sống một mình nuôi một trai, một gái. Khi người con gái lấy chồng thì mẹ cũng qua đời, đến nay đã hai mươi năm rồi. Tiết thanh minh vừa rồi, tôi cưỡi lừa, mang thức ăn và rượu đến mộ cúng tế mẹ. Mộ nằm phía đông sông Y, nhưng lừa không chịu qua sông. Tôi dùng roi đánh đập, khiến đầu mặt của lừa đều tuôn máu. Vừa đến mộ, tôi bỏ lừa để bái tế. Lát sau không thấy lừa ở đâu, liền trở về nhà. Ngày hôm ấy, một mình người em gái ở nhà, bỗng nhiên thấy mẹ hiện về, đầu mặt tuôn máu, thân hình tiều tụy, khóc lóc nói với con gái: ‘Lúc còn sống, mẹ không thích anh con, nên lén lấy năm đấu gạo đưa cho con. Do tội này, hôm nay mẹ phải chịu quả báo làm thân lừa, đền trả cho anh con trong năm năm. Hôm nay mẹ không chịu lội qua sông Y, vì nước sâu, mẹ sợ. Anh con dùng roi đánh mẹ đên nông nỗi này. Khi về đến nhả, anh con lại đánh mẹ. Cho nên mẹ chạy đến đây báo cho con biết. Nợ ta trả sắp hết, sao lại phi lí đánh đập ta khốn khổ thế này!’. Nói xong người mẹ liền đi, người con gái tìm kiếm, nhưng không thấy mẹ mình đâu.
Lát sau tôi trở về, em gái thấy đầu mặt của lừa bê bết máu giống như tình trạng của mẹ vừa rồi, vội chạy đến ôm lấy và gào khóc. Tôi lấy làm lạ, mới hỏi nguyên do. Em gái thuật lại tường tận, thật phù hợp với những gì mà tôi đã làm và chứng kiến. Thế là anh em ôm nhau gào khóc, lừa cũng tuôn lệ, không chịu ăn uống gì. Tôi và em gái đồng quì xuống thưa:
- Nếu thật là mẹ, thì xin hãy ăn uống!
Lừa liền nghe lời, nhưng chỉ một lát rồi thôi. Anh em tôi không biết làm thế nào, chỉ chuẩn bị lúa thóc và đưa đến chỗ Vương Ngũ Giới đây.
Sau đó lừa lại chịu ăn uống, không bao lâu lừa chết, anh em mang về chôn cất.
65.3.6. Đời Tùy, Cảnh Phục Sinh: Nhà ông rất nghèo, ở phía đông huyện Lâm Hoàng, Kí châu. Vào niên hiệu Đại Nghiệp thứ mười một (615), mẹ Phục Sinh lén chồng mang hai xấp lụa đem cho con gái. Vài năm sau người mẹ qua đời, sinh làm một con heo nái trong nhà của mình trước kia và sinh được hai heo con. Phục Sinh làm thịt ăn hết. Sau đó heo mẹ không sinh được nữa, Phục Sinh kêu đồ tể đến bán.
Trong thời gian chưa bắt heo, có một vị tăng đến khất thực, nhân tiện tá túc tại nhà Sinh. Vị tăng dẫn một sa-di dạo chơi và đến bên chuồng heo. Bấy giờ heo cái nói với sa-di:
- Tôi là mẹ của Phục Sinh, do ngày trước lén chồng lấy hai xấp lụa trao cho con gái mà nay phải chịu làm thân heo nái, sinh được hai con đã bị Phục Sinh ăn thịt. Nợ tôi trả đã hết, không còn thiếu gì, Phục Sinh muốn bán tôi cho đồ tể, xin hãy báo cho nó biết!
Sa-di thưa lại với thầy, thầy nổi giận quát mắng:
- Ngươi thật điên khùng! Heo đâu biết nói những lời này!
Nói xong thầy bỏ đi ngủ. Qua một ngày, gặp lại sa-di, heo nói:
Đồ tể sắp đến, vì sao không báo giúp tôi?

Phần 5

Sa-di lại thưa thầy, thầy cũng không chấp nhận. Một lát sau, đồ tể đến bắt, heo vượt chuồng chạy đến giường của vị khách tăng. Đồ tể đuổi đến phòng, vị Tăng nói:
- Heo đã đến chỗ ta thì ta sẽ chuộc lại.
Thế là vị tăng dùng ba trăm văn tiền chuộc heo. Sau đó vị tăng hỏi nhỏ Phục Sinh:
- Trong nhà ông có từng mất lụa chăng?
- Ngày gia phụ còn sống có mất hai xấp lụa.
Vị tăng lại hỏi:
- Được mấy chị em?
- Tôi chỉ có một chị gái, đang ở nhà Công Thừa phía bắc huyện này.
Vị tăng liền thuật lại những lời sa-di đã nói lại. Phục Sinh nghe vậy, lòng vô cùng bi thưcmg, kêu gào, khóc lóc không kềm chế được. Từ đó Sinh chuyên tâm cung phụng heo nái ấy. Trải qua mấy ngày thì heo chết, bảo mộng cho con gái:
- Ta đã trả hết nợ, được sinh vào cõi lành.
Bà còn khuyên con gái siêng năng tu tạo công đức.
65.3.7. Đời Đường, bà họ Chu ở huyện Dương Vũ, Trịnh châu: Chồng bà trước kia có nợ một người ở huyện lân cận một trăm xấp lụa, sau khi người chồng chết, không ai trả số lụa ấy cho người kia. Trong khoảng niên hỉệu Trinh Quán (627-650), bà bị bệnh và qua đời, nhưng hai hôm sau sống lại và kể:
- Tôi bị người bắt đưa đến gặp một người. Người ấy nói: “Ta là sứ giả của phủ Ti mệnh, lức còn sống chồng bà nợ ta chừng ấy xấp lụa, vì thế ta đòi bà. Bấy giờ ta cho bà về nhà, cấp tốc chuẩn bị đủ số lụa đem đến nhà đó, thôn đó, huyện đó giao cho mẹ ta. Nếu không ta sai sứ bắt bà thì lại càng khổ hơn. Đồng thời nói lại với mẹ ta rằng, bà hãy vì ta tạo tượng Phật, nỗ lực tu phúc”. Nghe dặn dò xong, tôi cáo từ trở về.
Tôi sai thân thuộc chuẩn bị đủ số lụa chuyển đến trả cho mẹ người kia, đồng thời thuật lại hình dáng con bà, thật đúng như lúc còn sống. Mẹ người ấy cảm thương, khóc lóc hồi lâu mới dứt.
65.3.8. Đời Đường, Lộ Bá Đạt ở huyện Hiếu Nghĩa, Phần châu: Trong khoảng niên hiệu Vĩnh Huy (650-656), ông có nợ một người cùng huyện một nghìn đồng. Sau đó ông sửa tờ giao ước, khồng thừa nhận có mượn và cầm tờ giấy đó đến làm bằng chứng, đồng thời cùng với chủ nợ đến trước tượng Phật thề: “Nếu ta chưa trả cho ông, ta nguyện sau khi chết sinh làm trâu trong nhà của ông!”. Chưa đến một năm sau ông qua đời; qua hai năm nữa, con trâu trong nhà chủ nợ sinh ra một con nghé lông đỏ, trên trán có hiện ba chữ Lộ Bá Đạt bằng lông trắng. Con cháu ông hổ thẹn, mang năm nghìn đồng đến xin mua, nhưng chủ nhân không bán mà cúng cho vị tăng pháp hiệu Chân Như ở chùa Khải Phúc, huyện Thấp Thành để trợ duyên tạo ngôi tháp mười lăm tầng. Mọi người thấy vậy phát tâm bỏ ác tu thiện, tranh nhau cúng dường.
65.3.9. Đời Đường, Trình Hoa: Ông làm trưởng thôn, nhà ở trên đồi Câu Gia Chủy, đông nam kinh thành, nơi này có dòng suối linh. Theo nhiệm vụ, vào cuối thu, ông đi thu thuế than. Một lần, vào niên hiệu Vĩnh Huy thử năm (654), ông đã thu đủ tiền thuế của một người bán than, người này nhà nghèo, không biết chữ, nên không lấy biên nhận. Hôm sau Trình Hoa lại đến người này đòi lấy than. Người này không chịu. Ông nói:
- Nếu ta đã nhận tiền của ngươi thi hãy đem biên nhận ra!
Người bán than nói:
- Tôi không biết chữ, hơn nữa lúc ấy ông nói với tôi là đã nhận đủ tiền, không cần phải lấy biên nhận. Tôi nghe như vậy, tin là thật nên không lấy. Sao hôm nay ông lại đến đòi tiền?
Trình Hoa không tin nhân quả, nên lập lời thề: “Nếu ta đã nhận tiền của ngươi, thì sau khi chết ta làm trâu cho ngươi”. Người bán than buồn bã, trao tiền cho ông một lần nữa.
Sau sự việc này khoảng năm ba tháng, ông qua đời, sinh làm trâu trong nhà người bán than. Lúc mới sinh ra, thân trâu toàn đen, chỉ có hai chữ Trình Hoa màu lông trắng thật rõ ràng. Con cháu mang tiền gấp nhiều lần khi trước đến chuộc, nhưng người ấy không bán. Đến khi viết bài này, trâu ấy vẫn còn sống.
65.3.9. Đời Đường, Hiệu úy họ Lí: Khoảng niên hiệu Long Sóc thứ nhất (661) đời Đường, người này đến Lộ châu mua heo rồi mang về bán tại quê nhà. Một hôm ông ta mua được con heo chỉ ba trăm đồng, mang đến bán tại Hoài châu được sáu trăm đồng. Tháng mười một năm ấy, Hiệu úy họ Lí ở Lộ châu, đến Hoài châu nhận phiên trực, nhân đó đến chợ mua thịt. Ông thấy con heo này bị trói bốn chân, thả nằm trước khách điếm, sắp đem đi giết mổ. Heo thấy hiệu úy liền nói:
- Ông là con của con gái tôi, tôi là bà ngoại ông. Bởi nhà ông khi xưa nghèo, nên nhiều lần mẹ ông đến ta xin lương thực, vì xin mãi nên không thể cung cấp đủ, còn đứa con trai lớn của ta thì không cho. Ta thương xót, cho nên lén cho mẹ con ông năm đấu gạo. Do đó ngày nay ta phải làm heo để trả nợ lấy trộm ấy, sao ông không cứu ta?”.
Hiệu úy nghe thế, đến đồ tể chuộc heo. Lúc đầu người ấy không tin, bởi mọi người không nghe được lời heo nói, chỉ một mình Hiệu úy nghe được mà thôi. Đồ tể nói: “Nếu thật là bà ngoại của ngài thì tôi sẽ thả về. Nhưng ông xin heo cùng tôi nói chuyện”. Sau khi đồ tể kia thả ra, Hiệu úy lại nói với heo: “Trong vòng một tháng lên phiên này, tôi không thể đưa bà về nhà, không biết gửi bà nơi đâu!”. Heo nói: “Nay đã cách đời rồi, mà ta lại có thân hình xấu xí thế này, dẫu ngươi có xuống phiên đi nữa cũng không nên đưa ta về nhà. Mẹ ngươi hiện vẫn còn, ngươi lại là Hiệu úy; nếu để thân thuộc và hàng xóm láng giềng thấy ta thế này, họ sẽ không vui, e rằng làm nhục gia môn cùa ngươi nữa. Ta nghe nói tại ngôi chùa đó có lập khu nuôi súc vật suốt đời, ngươi có thể gửi ta đến đó”. Hiệu úy nói: “Nếu bà nói có chứng nghiệm, thì hãy dẫn đường đên chùa”. Heo nghe lời này liền chạy thẳng đến chùa. Lúc đầu chư tăng trong chùa không nhận, Hiệu úy mới thuật lại toàn bộ câu chuyện vừa xảy ra, chư tăng vừa hổ thẹn vừa xót thương, nên làm nhà nơi vắng đẻ nuôi nấng. Hiệu úy để lại một tầm nệm lông đế heo nằm. đạo tục thay nhau cấp thức ăn, thửc uống. Trải qua thời gian lâu, chư tăng trong chùa đều hiểu được lời heo nói. Khi hết phiên, Hiệu úy từ biệt, trở về bản châu, thuật lại việc này cho mẹ mình nghe, bà liền đền xem. Khi gặp nhau cả hai đều rơi lệ. Đến niên hiệu Lân Đức (664). nghe nói heo vẫn khỏe mạnh.
653.10. Đời Đường, mẹ vợ Tam vệ Lưu Công Tín: Niên hiệu Long sóc thức ba (663), tại phường Thông Quĩ, trong thành Trường An. có gia đình Tam vệ Lưu Công Tín sinh sống. Vợ của ông là Trần thị, có người mẹ qua đời đã lâu. Trần thị sau đó cũng bị cơn bạo bệnh mà qua đời. Bấy giờ bà thấy mình bị đưa vào địa ngục, chứng kiến rất nhiều cảnh khổ, không thể thuật hết. Cuối cùng bà thấy một địa ngục cửa bằng đá rất kiên cố, có hai con quỉ thân hình cao lớn canh giữ hai bên cửa, đang trừng mắt nhìn bà và hỏi:
- Ngươi là ai mà đến đây?
Bỗng nhiên cửa ngục mở toang, bà thầy mẹ mình đang ở trong đó chịu khổ không thể nói hết. Tạm dừng thụ khổ trong giây lát mẹ bà đến gần cửa ngục, mẹ con gặp nhau. Người mẹ nói:
- Con trở về siêng năng vì ta mà chép kinh.
- Mẹ muốn chép kinh gì?
Chép kinh Pháp hoa!
Vừa nói xong cửa ngục liền đóng chặt. Đến đây bà bỗng nhiên sống lại, và kể những điều đã trông thấy cho mọi người biết. Chồng bà nhờ em rể của mình là Triệu Sư Tử chép kinh Pháp hoa, vì Sư Tử biết chép kinh. Lại có một người chép kinh trao cho Triệu Sư Tử bộ kinh Pháp hoa mới chép xong, nhưng chưa trang hoàng bìa bao để nhận hai trăm đồng. Nhưng bộ kinh này vốn của một người họ Phạm thuê chép mà Triệu Sư Tử không biết.
Nhận được kinh, Sư Tử đến nói với anh vợ:
- Đã có một bộ kinh Pháp hoa tại nhà em, anh có thể “ lấy bộ kinh này, lúc trước trị giá một nghìn đồng.
Người chồng liền mang bốn trăm đồng đến để đổi lấy, mang về trang hoàng bìa bao, rồi vì mẹ cúng dường kinh tại nhà. Đêm ấy, con gái bà là Trần thị mộng thấy bà về nói:
- Lúc trước nhờ con về nhà vì mẹ mà chép một bộ kinh Pháp hoa, sao đến hôm nay vẫn chưa có? Người mẹ hỏi.
- Con đã vì mẹ chuộc được một bộ, hiện đã trang hoàng xong, đang để tại nhà cúng dường. Con gái đáp.
- Chỉ vì bộ kinh này mà trong âm phủ mẹ bị ngục tốt đánh gãy xương sống, càng thống khổ hơn. Con hãy xem! Thân thể mẹ tiêu tụy hơn. Quan ngục nói: ‘Vì

Phần 6

sao bà lấy kinh của người họ Phạm làm kinh của mình. Như vậy chẳng những bà không có phúc, mà còn bị tôi nặng’. Người mẹ nói.
Nghe mẹ nói như thế, người con gái lại phải thuê người chép một bộ kinh Pháp hoa khác. Kinh vẫn còn đang chép, lại mộng thấy mẹ đến hối thúc. Bấy giờ có vị tăng cầm một quyển kinh Pháp hoa đến nói với người mẹ:
- Con gái bà đã vì bà chép xong quyển một rồi,' công đức đã thành, vì sao lại đến thôi thúc? Cứ đợi chép xong, đâu cần gấp như thế!
Khi kinh được chép xong, người mẹ đến báo:
- Nhờ con chép kinh, nên mẹ đã ra khỏi chốn u minh, sinh vào nơi tốt lành. Nhờ ơn con giúp đỡ, nên hôm nay đến báo. Con ở lại mạnh khỏe, khéo giữ trọn đạo làm vợ, lấy lòng tin Tam bảo làm gốc! Nói xong, bà buồn khóc từ biệt.
Sau đó người nhà hỏi về bộ Pháp hoa trước thì đúng là của họ Phạm. Nhà họ Phạm tuy không nhận được kinh, nhưng kinh đã chép xong thì phúc thí cũng đã thành tựu trọn vẹn. Nếu chuyển bán cho người sau thì bị tội. Tuy vợ ông họ Lưu chuộc lấy, nhưng được phúc rất ít và người mẹ đã mất cũng không được lợi ích gì.
66. CHƯƠNG TRANH TỤNG
66.1. LỜI DẪN
Một lời từ bi vừa phát, trời người đều mỉm cười; một tiếng ác độc vừa thành, kẻ âm người dương đều sân hận. Bởi sợ nghe âm thanh ác, nhiễm thói ác thì vĩnh viễn xa cách lòng người, còn thấy điều thiện, lòng thân thiện thì dưỡng nuôi giống như con một. Đã biết tà chính khác đường, thiện ác không cùng lối, nên mới khuyên dứt lời ác ba độc, phát tiếng kính thuận thiện hòa. Vì thế bậc Đại thánh dạy nên tìm gốc mà bỏ ngọn, tâm là chủ của hành vi ác, miệng là đồ chứa hành vi ác, do hành động mà thành tai họa, để phải trôi lăn trong đường ác. Chưa có việc tranh tụng trái lẽ mà giữ được thiên đạo.
66.2. DẪN CHỨNG
Kinh Trung A-hàm ghi: “Khi ấy trong tinh xá Kỳ-hoàn có hai tỳ-kheo đang tranh cãi. Một người luôn mắng chửi, một người giữ im lặng. Người mắng chửi hối hận, đến sám hối vị kia, nhưng tỳ-kheo kia không nhận sự sám hối ấy. Vì không nhận sự sám hối, nên các tỳ-kheo trong tinh xá cùng đến khuyên can, lớn tiếng ồn ào.
Thế Tôn với thiên nhĩ thanh tịnh hơn người, nghe trong tinh xá Kỳ-hoàn đang ồn náo, Ngài xuất định, trở về tinh xá, trải tòa ngồi trước đại chúng rồi nói với các tỳ-kheo:
- Sáng nay đến rừng An-đà tọa thiền, Ta nghe trong tinh xá có tiếng nói lớn ồn ào náo loạn. Rốt cuộc là ai vậy?
Các tỳ-kheo liền thuật lại đầy đủ sự việc đã xảy ra.
Phật nói với tì-kheo:
- Tì-kheo ngu si! Vì sao người đến sám hối mà lại không nhận? Nếu có người sám hối mà không nhận, thì đó là kẻ ngu si, mãi mãi bị nỗi khổ không được lợi ích. Này các tỳ-kheo! Vào thời quá khứ, chư thiên cõi Tam Thập Tam tranh cãi nhau, Thích-đề-hoàn-nhân liền nói kệ răn:
Không khởi tâm hại người,
Thì sân không trói buộc, .
Không ôm lòng hận lâu,
Không trụ nơi sân hận.
Dù vô cùng giận dữ
Cũng không phát lời ác
Không tìm những sở đoản
Cùng nêu lỗi của người
Nên luôn tự giữ gìn
Kiềm xét lại nội tâm
Không giận, không tâm hại
Luôn sống theo Hiền thánh.
Nếu ở chung người ác,
Ngang bướng như núi đá
Nên kìm nén cơn giận
Như lái xe ngựa chứng
Ta nói là người giỏi
Chẳng phải người cầm dây.
Đức Phật lại dạy:
Vào thời quá khứ chư thiên và a-tu-la dàn trận sắp đánh nhau, Thích-đề-hoàn-nhân nói với chư thiên:
- Hôm nay, chư thiên cùng a-tu-la đánh nhau. Nếu chư thiên thắng, a-tu-la bại, hãy bắt sống vua a-tu-la Tì-ma-chất-đa-la, trói chặt năm chỗ đem về thiên cung.
A-tu-la Tì-ma-chất-đa-la cũng nói với các A-tu-la:
- Hôm nay, chư thiên cùng a-tu-la đánh nhau, nếu a-tu-la thắng, chư thiên bại, hãy bắt sống Thích-đề-hoàn-nhân, trói chặt năm chỗ, đem về cung a-tu-la.
Khi đánh nhau, chư thiên chiến thắng, a-tu-la đại bại. Chư thiên bắt được vua a-tu-la Tì-ma-chất-đa-la, lấy dây trói lại năm chỗ đem về Thiên cung, cột nơi cửa, trước điện Đoán Pháp_của Đế Thích. Khi Đế Thích ra vào cửa này, a-tu-la Tì-ma-chất-đa-la đang bị trói bên cửa tức giận mắng chửi. Người hầu cận của Đế Thích thấy vua a-tu-la bị trói năm chỗ, cột bên cửa, mỗi khi Đế Thích ra vào thì nổi giận mắg chửi, liền nói bài kệ:
Đế Thích vì sợ nó
Hay không đủ sức mạnh
Mà nhẫn nhịn Tu-la
Mắng chửi ngay mặt mình?
Đế Thích liền đáp:
Ta nhẫn, chẳng phải sợ
Cũng chẳng phải kém sức
Tại sao người có trí
Tranh luận với kẻ ngu!
Người hầu lại thưa:
Nếu chỉ hành nhẫn nhục,
Sự việc ắt thiếu sót.
Kẻ ngu kia sẽ nói:
Vì sợ nên nhẫn nhục.
Cho nên phải trị mạnh,
Dùng trí chế phục ngu.
Đế Thích đáp:
Ta nên quán xét họ,
Để chế ngự kẻ ngu
Thấy người ngu nổi sân,
Trí im lặng chế phục.
Không sức mới là sức,
Là sức kẻ ngu kia.
Ngu si trái nghịch pháp,
Chẳng có đạo lý gì.
Giả sử có sức mạnh,
Mà nhẫn nhịn người yếu;
Nhẫn này mới tối thượng.

Phần 7

Không sức, chẳng có nhẫn
Bị người mắng chửi quá,
Người sức mạnh nhẫn được
Đó là nhẫn tối thượng.
Không sức, chẳng có nhẫn
Với mình và với người,
Giữ tâm không sợ hãi.
Biết người đang sân hận
Giữ lòng mình an tĩnh.
Hai đức tính đều đủ,
Lợi mình cũng lợi người.
Gọi là kẻ ngu phu,
Bởi vì không thấy pháp.
Kẻ ngu cho mình nhẫn
Thật ra tăng ác khẩu
Chưa nhẫn nhịn người mắng,
Sẽ luôn muốn hơn người
Nhẫn nhịn người hơn mình,
Đó là nhẫn do sợ.
Nhẫn nhịn người bằng mình,
Đó là nhẫn tranh chấp.
Nhẫn nhịn người kém mình,
Đó là nhẫn bậc nhất.
Đức Phật dạy:
- Thích-đề-hoàn-nhân làm vua tự tại cõi trời Ba Mươi Ba luôn hành nhẫn nhục, ca ngợi nhẫn nhục. Tì-kheo các ông, các hàng xuất gia, tại gia chính tín học đạo cũng phải nên hành nhẫn, ca ngợi nhẫn và siêng năng tu học như thế"
Kinh Khởi thế ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
Ngày xưa Đế Thích và a-tu-la đánh nhau. Đế Thích dặn dò chư thiên cõi Ba Mươi Ba:
- Này các vị! Nếu các vị đánh nhau với a-tu-la thì nên chuẩn bị đầy đủ khí giới tốt nhất. Nếu chư thiên thắng, a-tu-la thua thì các vị hãy bắt sống vua a-tu-la Tì-ma-chất-đa-la, trói chặt năm chỗ đem về Thiện Pháp đường, nơi chư thiên hội họp!
Chư thiên đều tuân mệnh, vâng theo lời dạy mà thực hành.
A-tu-la Tì-ma-chất-đa-la cũng nói với các a-tu-la:
- Hôm nay, chư thiên cùng a-tu-la đánh nhau, nếu a-tu-la thắng, chư thiên bại, hãy bắt sống Thích-đề-hoàn-nhân, trói chặt năm chỗ, đem về Thất Đầu hội, đặt trước mặt ta!
Các a-tu-la cũng vâng mệnh thi hành.
Khi đánh nhau, chư thiên chiến thắng, bắt được vua a-tu-la Tì-ma-chất-đa-la, lấy dây trói lại năm chỗ đem vê Thiện Pháp đường, đứng đối diện Đế Thích. Bấy giờ a-tu-la vương suy nghĩ:
- Mong các a-tu-la được an ổn. Nay ta không cần các a-tu-la, mà ở lại nơi đây cùng với chư thiên hưởng các thú vui. Như thế thật thích hợp ý ta.
Khi khởi niệm này, thì năm chỗ trên thân tự nhiên mở trói, năm dục tự nhiên hiện đến. Khi a-tu-la vương suy nghĩ: ‘Nay ta không cần cõi Ba Mươi Ba, mong chư thiên nơi đây an ổn. Ta nguyện về cung a-tu-la. Khi vừa nghĩ như thế, năm chỗ trên thân tự nhiên bị trói trở lại, năm dục tự nhiên biến mất. A-tu-la vương có các kết phược vi tế như vậy. Nói chung các ma đều có các phược vi tế, vì sao? Này các tì-kheo! Khi tư duy sai lầm tức bị kết phược, khi tư duy chân chính tức giải thoát. Khi chưa đánh nhau với chư thiên, a-tu-la vương Tì-ma-chất-đa-la suy nghĩ: ‘Ta có sức uy thần như thế, dù mặt trời, mặt trăng và trời Ba Mươi Ba xoay chuyển, vận hành tại hư không phía trên ta, nhưng sức ta có thể bắt lấy để làm hoa tai, rồi đi khắp nơi mà không bị ngăn ngại gì’.
Bấy giờ a-tu-la vương La-hầu-la thân mang giáp trụ, trang bị khí giới cùng với a-tu-la vương Tì-ma-chất-đa-la phấn chấn hiện thần biến, các tiểu a-tu-la vương và các quyến thuộc vây quanh. Tất cả xuất phát từ thành a-tu-la đến cung trời Đao-lợi đánh nhau với chư thiên. Lúc ấy long vương Nan-đà và Ưu-ba Nan-đà ra khỏi cung điện, dùng thân quấn quanh núi Tu-di bảy vòng, khiến khắp nơi đều chấn động nhiều lần. Long vương lại đập đuôi xuông biển, khiến nước vọt lên tận đỉnh núi Tu-di. Bấy giờ Đế Thích bảo chư thiên: ‘Các ông có thấy mặt đất chấn động mạnh không? Thấy nơi không trung lại mịt mù giống như có mây mưa, lại giống như sương mù dày đặc chăng? Ta biết các a-tu-la nhất định muốn đánh nhau với chư thiên, các long vương trong biển cũng đã trang bị khí giới ra khỏi cung điện rồi’.
Đế Thích đến báo với tất cả chư thiên sáu cõi trời Dục, mỗi mỗi cùng trang bị khí giới bay trong hư không đến tham chiến. Trong đó thiên vương Tì-dạ-ma cùng vô lượng trăm nghìn thiên chúng hạ xuống, tập trung tại mặt đông trên đỉnh Tu-di, dựng cờ Nan hàng phục màu xanh. Thiên vương cõi Đâu-suất-đà cùng vô lượng trăm nghìn thiên chúng hạ xuống, tập trung tại mặt nam trên đỉnh Tu-di, dựng cờ Nan hàng phục màu vàng. Thiên vương cõi Hóa Lạc cùng vô lượng trăm nghìn thiên chúng hạ xuống, tập trung tại mặt tây trên đỉnh Tu-di, dựng cờ Nan hàng phục màu đỏ. Thiên vương cõi Tha Hóa Tự Tại cùng vô lượng trăm nghìn thiên chúng hạ xuống, tập trung tại mặt bắc trên đỉnh Tu-di, dựng cờ Nan hàng phục màu trắng.
Sau khi thấy chư thiên các cõi cho đến các Dạ-xoa hư không đều đã tập trung đầy đủ, Đế Thích liền mang giáp trụ, có chư thiên vây quanh, xuất cung đại chiến với a-tu-la. Khí giới của chư thiên có đủ màu sắc, thật đáng ưa nhìn và đều bằng bảy báu. Chư thiên ném đao gậy xuyên qua thân a-tu-la, nhưng không làm hại, trên thân cũng không có thương tích. Khí giới của a-tu-la cũng được làm bằng bảy báu, xuyên qua thân chư thiên, mà không gây thương tích. Cả hai chỉ do nhân duyên xúc mà chịu đau đớn, thống khổ”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Ngày xưa chư thiên và a-tu-la đánh nhau. A-tu-la thua trận, lòng vô cùng sợ hãi, biến thân hình thành cực nhỏ, chui vào ngó sen. Chỉ Phật nhãn mới nhìn thấy, còn các loài khác thì không thể”.
Kinh Đại tập ghi: “Đức Thế Tôn bào các rồng và a-tu-la:
- Các ngươi chớ đánh nhau, nên tu hạnh nhẫn nhục. Này các nhân giả! Nếu xa lìa tâm sân hận, thành tựu sức nhẫn nhục, sẽ mau chóng được mười điều lợi ích: một, được làm Luân vương thống lãnh bốn châu thiên hạ; hai, được làm thiên vương Tì-lâu-bác-xoa; ba, làm thiên vương Tì-lâu-lặc-xoa; bốn, làm thiên vương Đề-đầu-lại-tra; năm, làm thiên vương Tì-sa-môn; sáu, làm Đế Thích; bảy, làm thiên vương cõi Dạ-ma; tám, làm thiên vương cõi Đâu-suất; chín, làm thiên vương cõi Hóa Lạc; mười, làm thiên vương cõi Tha Hóa Tự Tại. Nếu đầy đủ sức nhẫn, sẽ mau thành tựu mười cận quả của nhẫn nhục như vậy”.
Kinh Trung À-hàm ghi: “Đức Phật thuyết kệ:
Nếu có người luận tranh
Ý tạp, lòng cống cao
Chê bai, hủy thánh đức,
Mỗi mỗi tìm sơ hở
Nêu lỗi lầm của người
Muốn khuất phục đối phương,
Hai bên đều tranh thắng;
Thánh không dạy như vậy"
Kinh Trung A-hàm ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo-‘Các ông không nên tranh cãi, vì:
Dùng tranh dứt tranh cãi
Hoàn toàn không thể dứt
Chỉ nhẫn mới dứt tranh

Phần 8

Pháp này tôn quí nhất”.
Sau khi nghe các tì-kheo như Câu-xá-di tranh cãi, Thế Tôn liền đứng dậy thuyết kệ:
Dùng bao nhiêu lời nói,
Phá hoại chúng tối tôn.
Khi phá hoại Thánh chúng,
Không ai can dứt nổi.
Giết thân và đoạn mạng,
Cùng cướp đoạt ngựa trâu,
Phá đạt nước diệt vong,
Còn có phương hòa giải,
Huống ngươi vài tiếng cãi
Sao không chịu thuận hòa?
Không tư duy chân nghĩa
Oán kết làm sao giải?
Mắng chửi, trách nhau mãi
Sao chế phục, thuận hòa;
Nếu tư duy chân nghĩa Oán kết tất giải tỏa.
Dùng tranh dứt tranh cãi,
Đến chết chẳng dứt xong.
Nhẫn nhục dứt luận tranh ,
Đó là pháp quí nhất.
Sân với bậc thượng trí,
Nói toàn lời xấu ác,
Phỉ bảng Thánh Mâu-ni,
Là kẻ hèn, vô trí”.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Đức Phật thuyết kệ dạy các tì-kheo:
Một tháng chiến đấu trên nghìn trận
Mỗi trận thắng người gấp trăm lần
Nếu hay qui hướng Phật Thế Tôn
Vượt hơn người kia mười sáu lần.
Một tháng chiến đấu hơn nghìn trận
Mỗi trận thắng người gấp trăm lần
Nếu hay qui hướng mười phương tăng
Vượt hơn người kia mười sáu lần.
Một tháng chiến đấu hơn nghìn trận
Mỗi trận thắng người gấp trăm lần
Nếu hay tư duy pháp tính không
Vượt hơn người kia mười sáu lần. ”
Kinh Tạp bào tạng ghi: “Thuở xưa, có một người đầy tớ bẩm tính thanh liêm, cẩn thận, thường trông coi việc rang bột mì và đậu cho chủ nhà Bấy giờ, chủ nhà có một con dê đực bị thiến, rình chờ lúc không có người, liền đến ăn bột mì và đậu. Khi cân lại bị thiếu, người chủ nổi giận. Đầy tớ biết tất cả đều do con dê, nên oán ghét, thường dùng gậy đánh con dê đực ấy. Con dê cũng phẫn nộ chạy đến húc vào người đầy tớ. Cứ thế, hai bên đánh với nhau nhiều lần.
Một hôm, người đầy tớ tay đang cầm mồi lửa, con dê thấy người đầy tớ không có gậy trong tay, nó liền chạy thẳng đến húc vào người đầy tớ. Trong lúc nguy cấp, sẵn lửa trong tay, người đầy tớ liền châm vào lưng dê. Con dê bị lửa đốt, nó chạy đến đâu thì lửa bốc cháy đến đó, khiến lửa cháy khắp xóm làng, cháy lan đến khụ rừng hoang. Lúc đó, trong khu rừng có năm trăm con khỉ đang sinh sống. Vì lửa cháy mạnh quá, bầy khỉ chạy tránh không kịp, nên tất cả đều bị lửa cháy thiêu chết. Chư thiên thấy vậy, liền nói kệ:
Người đang sân đánh nhau,
Không nên ở gần đó
Như dê đấu đầy tớ,
Dân làng và khỉ chết. ”
Có bài tụng:
Giàu sang tranh nhân ngã
Nghèo hèn tự thẹn lòng
Mạnh yếu cô phụ nhau
Tranh đấu chưa hề dứt
Nhục hận đến xâm đoạt
Tìm sơ hở báo thù
Oán kết luôn kết hợp
Muôn kiếp chịu khổ sầu.
66. 3. CẢM ỨNG
66.3.1. Đời Hán, quạ đấu nhau: Vào tháng mười một, đời Cảnh đế năm thứ ba (155BC), tại huyện Cử nước Sở, có bầy quạ đen và bầy quạ cổ trắng đánh nhau trên không trung, cuối cùng bầy quạ cổ trắng thua, mấy nghìn con chết rơi xuống sông Tứ. Lưu Hướng cho là Hắc tường trong vòng mười ngày tới. Sau đó Sở vương bạo nghịch, vô đạo, dụng hình phạt hủy nhục Thân công, rồi cùng với Ngô vương mưu phản. Hai bầy quạ đánh nhau là điềm chiến tranh. Quạ cổ trắng biểu trưng cho nước nhỏ, là điềm nước nhỏ bị bại; quạ rơi xuống sông chỉ điềm nơi chết là sông. Nhưng Sở vương không tỉnh ngộ, cử binh tiếp ứng Ngô vương đại chiến với nhà Hán, bị đại bại, chạy đến Đan Đồ thì bị người nước Việt chém chết. Thật đúng với điềm chim chết rơi xuống sông Tứ.
Kinh phòng dị truyện ghi: “Nghịch với người thân mà thân với yêu nghịch, cho nên mới có điềm quạ đen và trắng đánh nhau trong nước. Ngày Yến vương mưu phản có một con quạ và một con chim thước đánh nhau trên cung Yến, quạ rơi xuống đất chết”.
Ngũ hành chí ghi: “Khi Sở và Yến trái tình cốt nhục, làm phiên thần kiêu ngạo, buông lung, mưu đồ bất nghĩa thì đều có điềm quạ và thước đánh nhaụ chết. Cả hai đồng một hành vi, đồng một điềm báo, đây là sự biểu hiện của trời vậy. Âm mưu của Yến vương chưa phát, một mình vương tự sát trong cung, cho nên chỉ có một con quạ trắng chết. Sở vương cử đại binh chống cự, toàn quân đại bại nơi đồng hoang sơn dã, cho nên có điềm bầy quạ màu vàng chết. Đó là minh chứng cho đạo trời thật nhiệm mầu”.
Kinh phòng dị truyện lại ghi: “Chinh phạt không tàn sát, quạ thước đánh nhau”,
66.3.2. Đời Hán, chim tước đánh nhau: Tháng tám niên hiệu Trung Bình thứ ba (191), trên bầu trời của Hoài lăng có bầy chim tước hơn vạn con cất tiếng kêu buồn thảm, sau đó đánh giết lẫn nhau, khiến tất cả đều chết đứt đầu rơi mắc trên các cành cây quất, cây gai. Đến năm thứ sáu thì Linh đế băng. Lăng, là biểu tượng cho sự cao lớn, chim tước tức là tước vị. Người cầu tước lộc mà ở địa vị tôn quí lại được hậu đãi, thì cái tôn quí ấy sẽ trở lại hại bản thân, cho đến bị diệt vong.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục