Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 56 - CHƯƠNG PHÚ QUÝ VÀ BẦN TIỆN

11/12/2015

QUYỂN 56 Quyển này gồm hai chương: Phú quí và Bần tiện. 63. CHƯƠNG PHÚ QUÍ 63.1. LỜI DẪN Làm việc thiện thì cảm quả vui, như bóng tùy hình; gây điều ác thì rước lấy quả khổ, như vang theo tiếng. Thế nên, giàu như ông Đào...

PUCL QUYỂN 56 - CHƯƠNG PHÚ QUÝ VÀ BẦN TIỆN
Phần 1

QUYỂN 56
Quyển này gồm hai chương: Phú quí và Bần tiện.
63. CHƯƠNG PHÚ QUÍ

63.1. LỜI DẪN
Làm việc thiện thì cảm quả vui, như bóng tùy hình; gây điều ác thì rước lấy quả khổ, như vang theo tiếng. Thế nên, giàu như ông Đào Chu và Y Đốn, sang tợ Tiêu Hà, Tào Tham. Họ mặc áo gấm quần lụa, ở nhà vàng cửa bạc; trước sân thì mây nổi, tiêu ngân; bên trên thì gió reo, sáo vút; đúng lễ tiết bước lên quảng điện, dáng ung dung thả bộ nơi hành lang; mang giày ngọc bên thềm son, đội mão vàng trong cửa biếc; ăn uống thì mâm cao cỗ đầy, đủ cả sơn hào hải vị, mùi thơm bay khắp; ngồi thì nhà cao cửa đẹp, thềm ngọc rèm châu, đàn tơ sáo trúc, âm thanh trầm bổng du dương; nằm thì đèn hoa rực rỡ, trướng rủ màn buông, chăn gấm nệm lông trải sẵn; đi thì xe tứ mã phi nhanh như chớp, nghìn vạn cỗ xe rầm rầm rộ rộ theo sau. Đây chỉ là nói sơ lược về phúc báo của người tu thiện, do ngày xưa tu hạnh bố thí mà nay được sung sướng như vậy.
63.2. DẪN CHỨNG
Kinh Hiền ngu ghi: “Thuở xưa, Đức Phật còn tại thế, trong nước Xá-vệ có một vị trưởng giả rất giàu sang. Ông ta sinh được một người con trai khôi ngô tuấn tú hiếm có trên đời. Vợ chồng rất vui mừng, nhân đó đặt tên cho con là Đàn-di-li. Khi Đàn-di-li trưởng thành thì người cha qua đời. Vua Ba-tư-nặc cho Đàn-di-li kế thừa tước vị của người cha. Vừa nhận tước thì nhà ông tự nhiên biến thành bảy báu, kho lẫm chứa đầy vật báu.
Lúc ấy, thái từ Tì-lưu-li mắc bệnh nhiệt, các thầy thuốc đều tâu vua rằng:
- Nêu có bột Ngưu Đầu chiên-đàn xoa vào thân thì thái tử sẽ hết bệnh.
Vua liền cho người tìm kiếm, nếu ai tìm được một lạng Ngưu Đầu chiên-đàn thì được thưởng một nghìn lượng vàng. Nhưng không ai tìm được. Sau đó, có người tâu với vua rằng:
- Trong nhà trưởng giả Đàn-di-li có rất nhiều Ngưu Đầu chiên-đàn.
Vua bèn đích thân đến xin. Vua đến trước cánh cổng bàng bạc của nhà trưởng già Đàn-di-li, bảo người canh cửa vào báo tin. Người canh cửa vào thưa trưởng giả:
- Thưa trưởng giả! Vua Ba-tư-nặc đang đứng ở ngoài cửa.
Trưởng giả liền ra nghinh đón, mời vua vào nhà. Vừa bước vào, vua thấy bên trong có một người nữ dung mạo rất xinh đẹp, đang ngồi trên giường bằng bạc dệt sợi bạc, có mười đứa bé gái đứng hầu hai bên.
Vua hỏi:
- Người này là vợ của khanh ư?
Trưởng già đáp:
- Đó là người tớ gái giữ cửa, còn mười bé gái kia là người thông báo tin tức.
Khi đi vào cửa giữa, vua thấy nơi đây toàn là lưu li xanh biếc, bên trong cửa lại có một người nữ ngồi giường lưu li, tướng mạo xinh đẹp hơn hẳn người trước, có hai mươi người hầu.
Lại vào tiếp cửa trong nữa, vua thấy toàn là vàng ròng. Trong cửa lại có một người nữ, tướng mạo xinh đẹp hơn người trước bội phần, ngồi giường vàng ròng, dệt sợi vàng; có bốn mươi người hầu,
Vua lại hỏi:
- Người này là vợ của khanh ư?
Trưởng giả đáp:
- Đây là người tớ gái giữ cửa.
Khi vua vào trong nhà, thấv đất đều bằng lưu li, chung quanh được chạm trổ nhiễu hình chim thú, gió thổi thì bóng mọi vật hiện trên đất đều lay động. Thấy vậy, vua tưởng là nước, nên sợ không dám bước. Vua nói với trưởng giả:
- Trước nhà khanh sao không có đất, chỉ toàn là biển cả?
Trưởng giả Đàn-di-li tâu rằng:
- Tâu đại vương! Đây là đất lưu li chứ chẳng phải nước.
Trưởng giả liền cởi chiếc vòng bảy báu trên tay ném xuống đất, vòng lăn tròn chạm vào bức tường thì dừng lại. Vua biết là đất, nên cùng trưởng giả bước vào bên trong. Lên điện bảy báu, vua thấy vợ của trưởng giả đang ngồi giường lưu li. Trưởng giả mời vua ngồi trên giường bảy báu bên cạnh. Vợ của trưởng giả vừa gặp vua thì mắt ngấn lệ.
Vua hỏi:
- Vì sao khanh khóc, không được vui chăng?
Vợ Trưởng giả đáp:
- Thần thiếp rất vui, nhưng vì mùi khói trên thân bệ hạ xông lên, nên chảy nước mắt.
Vua hỏi:
- Trong nhà không bao giờ đốt lửa sao?
Vợ trưởng giả đáp:
- Dạ không.
Vua hỏi:
- Không có lửa làm sao nấu ăn?
Vợ trưởng giả đáp:
- Lức chúng thần muốn ăn thì trăm món tự đến.
Vua lại hỏi:
- Vậy không cần ánh sáng sao?
Vợ trưởng giả đáp:
- Chúng thần dùng ngọc ma-ni soi sáng rực rỡ khắp nhà.
Bấy giờ, trưởng giả Đàn-di-li quì xuống thưa:
- Đại vương! Vì việc gì mà ngài nhọc lòng hạ cố đến đây?
Vua Ba-tư-nặc trình bày rõ sự việc. Trưởng giả nghe xong, liền dẫn vua đi xem khắp các kho chứa đầy bảy báu,. Ngưu Đầu chiên-đàn nhiều không thể tính kể.
Trưởng giả thưa:
- Đại vương cần bao nhiêu thì tùy ý lấy.
Vua lấy hai lạng Ngưu Đầu chiên-đàn, sai người mang về trước. Vua tỏ vẻ kính trọng nói với trưởng giả:
- Nay có Phật xuất hiện ở đời, khanh biết không?
Trưởng giả Đàn-di-li hỏi:
- Sao gọi là Phật?
Nghe vua giải thích xong, trưởng giả vô cùng vui mừng, liền đến chỗ Phật. Nghe Phật thuyết pháp, ông liền đắc quả Tu-đà-hoàn. Sau đó, ông xin xuất gia, đắc quả A-la-hán, đầy đủ ba minh, sáu thông và tám giải thoát.
A-nan thấy vậy, bạch Đức Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Trưởng giả Đàn-di-li kiếp trước tạo nghiệp lành gì mà nay được sinh làm người hưởng thụ phúc báo cõi trời, gặp Thế Tôn, xuất gia và đắc đạo như thế?
Phật bảo A-nan:
- Vào thời quá khứ cách đây chín mươi mốt kiếp, có Phật Tì-bà-thi xuất hiện ở đời. Sau khi Đức Phật nhập niết-bàn, vào đời tượng pháp, có năm vị tì-kheo cùng nhau giao ước ở chung trong rừng siêng năng tu tập.
Một hôm, bốn vị tì-kheo nói với một tì-kheo:
- Ở đây cách thành rất xa, việc khất thực khó khăn, vậy trọn mùa hạ này huynh hãy làm phúc, vào thành khất thực để cúng dường cho chúng tôi.
Vị tì-kheo ấy liền vào thành khuyên các đàn việt hàng ngày đem thức ăn đến cúng dường. Nhờ đó, bốn vị kia được an ổn, siêng năng tu tập, cùng đắc quả A-la-hán. Họ nói với tì-kheo kia rằng:
Phần 2

- Nhờ huynh trợ duyên nên chúng tôi được an ổn tu tập, đến nay đã thành tựu. Huynh có phát nguyện gì không?
Tì-kheo này nghe nói thế, vui mừng phát nguyện: ‘Tôi nguyện đời sau, sinh vào cõi trời hay cõi người đều tự nhiên được giàu sang, gặp Phật, xuất gia đắc đạo’. Nhờ công đức này, từ đó đến nay trải qua chín mươi mốt kiếp, vị tì-kheo ấy không rơi vào đường ác, sinh vào cõi trời hay cõi người đều được giàu sang, những thứ cần dùng tự nhiên đầy đủ, nay nhờ được gặp Ta nên xuất gia và đắc đạo”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Ngày xưa, Đức Phật còn tại thế, trong nước Xá-vệ có một vị trưởng giả rất giàu, vàng bạc châu báu nhiều không thể tính kể. Vợ chồng trưởng giả sinh được một bé trai, toàn thân màu vàng ròng, khôi ngô, tuấn tú ít ai sánh bằng. Vợ chồng trưởng giả vui mừng khôn xiết, đặt tên cho con là Kim Thiên. Ngày sinh Kim Thiên, trong nhà tự nhiên xuất hiện một cái giếng vuông, sâu và rộng đều tám thước. Ai múc nước giếng ấy dùng cũng đều vừa ý. Hễ cần y phục thì giếng hiện ra y phục, muôn thức ăn thì giếng hiện ra thức ăn, vàng bạc châu báu và tất cả các thứ cần dùng vừa mong ước liền được.
Đến khi khôn lớn, Kim Thiên thông thạo nhiều tài nghệ. Người cha suy nghĩ: ‘Con ta tướng mạo khôi ngô tuấn tú, tài giỏi hơn người. Ta phải tìm một người con gái xinh đẹp, thân thể màu vàng ròng giống như con ta để cưới cho nó’.
Bấy giờ, trong nước Xà-bà có vợ chồng đại trưởng giả sinh được một bé gái tên là Kim Quang Minh xinh đẹp tuyệt trần, toàn thân màu vàng ròng rực rỡ. Lúc Kim Quang Minh chào đời, tự nhiên trong nhà xuất hiện một cái giếng, sâu và rộng đều tám thước; trong giếng cũng hiện ra các thứ châu báu, y phục, thức ăn uống và những thứ cần dùng đều vừa ý người. Vợ chồng trưởng giả suy nghĩ: ‘Con gái chúng ta xinh đẹp thông minh hơn người. Chúng ta phải tìm được bậc hiền sĩ thân màu vàng ròng rực rỡ như con chúng ta, mới cho kết hôn’. Danh tiếng của Kim Quang Minh vang khắp nơi, nên Kim Thiên đến xin cưới làm vợ.
Một hôm, Kim Thiên thỉnh Phật và chúng tăng đến nhà để cúng dường. Sau khi thụ trai xong, Đức Phật thuyết pháp cho vợ chồng Kim Thiên và cha mẹ họ nghe; tất cả đều đắc quả Tu-đà-hoàn. Vợ chồng Kim Thiên xin cha mẹ xuất gia, được cha mẹ cho phép. Sau khi xuất gia, hai vợ chồng đều đắc quả A-la-hán, đầy đủ tất cả công đức.
A-nan bạch Đức Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Vợ chồng Kim Thiên kiếp trước tạo phúc duyên gì mà nay sinh vào nhà giàu sang, toàn thân màu vàng ròng, khi chào đời trong nhà tự nhiên xuất hiện cái giếng sâu và rộng đều tám thước sinh ra các vật báu như thế?
Đức Phật bảo A-nan:
- Từ thời quá khứ cách nay chín mươi mốt kiếp, sau khì Phật Tì-bà-thi nhập niết-bàn, các tì-kheo đi giáo hóa đến một thôn nọ, người trong thôn thấy chư tăng thì cùng nhau đến cúng dường. Lúc đó, có hai vợ chồng nọ nhà rất nghèo, không có gạo ăn. Người chồng thấy mọi người cúng dường chúng tăng, nên trở về nhà buồn bã khóc than, nước mắt rơi trên tay người vợ.
Người vợ hỏi chồng:
- Tại sao chàng khóc?
Người chồng nói:
- Lúc còn sống, cha anh rất giàu có, của cải đày kho, đến đời anh thì nghèo cùng, khốn khổ. Ngày xưa, tuy có tiền của mà cha anh không chịu bố thí, ngày nay gặp chư tăng, ta lại nghèo khổ không có gì để cúng dường. Do đời trước không bố thí, nay mới bị nghèo khổ như vậy. Đời này không bố thí thì đời sau càng nghèo khổ. Anh suy nghĩ như vậy nên buồn khóc.
Người vợ nói với chồng:
- Tuy chúng ta có lòng, nhưng không có tiền của thì biết làm sao? Hay chúng ta về tìm lại trong nhà cũ, biết đâu sẽ được vật gì!
Hai vợ chồng liền trở về nhà cũ, người chồng tìm được một đồng tiền vàng mang đến chỗ vợ, lúc ấy người vợ cũng tìm được một tấm kính và chiếc bình. Họ đựng nước sạch đầy bình, bỏ đồng tiền vàng vào đó rồi lấy tấm kính đậy lên, cùng nhau mang cúng dường chư tăng, phát nguyện rồi trở về. Nhờ công đức ấy, hai vợ chồng từ đó đến nay, trải qua chín mươi mốt kiếp không đọa vào đường ác. Dù họ sinh lên cõi trời hay trong loài người đều làm vợ chồng, thân màu vàng ròng, hưởng phúc sung sướng. Nay họ gặp Ta nên xuất gia và đắc đạo”.
Kinh Xuất diệu ghi: “Lúc Đức Phật còn trụ thế, em trai của Mục-kiền-liên sinh sống tại nước Ca-tì-la-vệ. Ông ta rất giàu, của báu chứa đầy kho, người giúp việc nhiều không tính kể. Mục-kiền-liên thường đến nhà khuyên bảo:
- Anh nghe đồn em bỏn xẻn, không thích bố thí. Đức Phật thường dạy: ‘Nếu ai bố thí sẽ được phúc báo vô lượng’. Nay nếu em bố thí cũng sẽ được phúc báo như thế.
Người em nghe lời anh dạy, liền mở kho bố thí, đồng thời lại lập thêm một cái kho mới để nhận phúc báo đó. Chưa được mười ngày thì tiền của, châu báu đã cạn sạch. Kho cũ trống rỗng, kho mới lại không có gì. Người em buồn rầu đến nói với anh rằng:
- Hôm trước, anh bảo em bố thí được nhiều phúc, nên em làm đúng như lời anh dạy. Mọi người đến xin, các kho đã bố thí cạn kiệt. Nay kho cũ trống rỗng, kho mới không nhận được gì cả! Há chẳng phải em bị anh dối gạt rồi ư?
Mục-kiền-liên nói:
- Thôi thôi! Em đừng nói như thế. Chớ để các ngoại đạo tà kiến nghe những lời sai quấy này. Nếu nói phúc báo có hình tướng thì cả hư không cũng không thể chứa hết. Nay anh tạm chỉ cho em thấy phúc báo vi diệu này.
Nói xong, Mục-kiền-liên liền dùng thần lực nắm tay đưa người em lên tầng trời thứ sáu. Người em thấy cung điện làm bằng bảy báu, gió thơm, ao tắm, kho lẫm tràn đầy của báu, nhiều không thể tính kể, có vài nghìn vạn ngọc nữ, nhưng không thấy người nam.
Người em hỏi anh:
- Đây là cung điện gì mà nguy nga tráng lệ như thế?
Mục-kiền-liên bảo em:
- Em tự đến hỏi họ đi!
Người em đến hỏi thiên nữ rằng:
- Đây là cung điện gì mà toàn làm bằng bảy báu, nguy nga tráng lệ, ở lơ lửng giữa hư không như vậy? Ai là người có phúc để thụ hưởng?
Thiên nữ đáp:
- Đệ tử thần thông bậc nhất của Phật Thích-ca tên là Mục-kiền-liên, đang ở nước Ca-tì-la-vệ, cõi Diêm-phù-đề. Vị ấy có người em là một trưởng giả rất giàu sang, do thích bố thí, nên đời sau sẽ sinh đến nơi này làm chồng chúng tôi.
Người em nghe nói vậy, liền phát tâm thiện, trở về chỗ anh mình trình bày rõ sự tình.
Mục-kiền-liên nói:
- Thế thì người bố thí có phúc báo hay không?
Người em hổ thẹn xin lỗi anh. Sau khi trở về
nhà, người em lại siêng làm phúc, đến lúc mạng chung được sinh lên cõi trời hưởng phúc báo”.
Kinh Thụ-đề-già ghi: “Lúc Phật còn tại thế, có một vị trưởng giả tên là Thụ-đề-già, rất giàu sang, vàng bạc vô số, kho lẫm tràn đầy, tôi tớ đông đảo, không còn mong muốn điều gì. Một hôm, chiếc khăn lụa trắng bên ao tắm trong nhà trưởng giả bị gió thổi bay đến trước điện vua. Vua thấy, liền triệu tập quần thần đến cùng nhau bàn bạc, bói quẻ để tìm hiểu. Tất cả đều lấy làm lạ về xuất xứ của chiếc khăn. Các vi đại thần đều nói: ‘Nước ta sắp hưng thịnh, nên trời ban cho khăn lụa trắng’. Chỉ có Thụ-đề ngồi im lặng.
Vua hỏi Thụ-đề:
- Tất cả các vị đại thần đều vui mừng, tại sao khanh không nói gì cả?
Thụ-đề tâu vua:
- Tâu bệ hạ! Thần không dám dối bệ hạ. Đây là chiếc khăn tắm của nhà thần, treo bên bờ ao, bị gió thổi bay đến đây. Vì thế thần không dám nói.
Vài ngày sau, có một đóa hoa chín màu lớn như bánh xe, rơi trước điện vua. Vua lại cho nhóm họp các vị đại thần để bàn bạc, hỏi đáp cũng giống như trước.
Thụ-đề tâu vua:
- Tâu bệ hạ! Thần không dám dối. Đây là hoa vườn sau nhà thần héo rụng, bị gió thổi bay đến trước điện của bệ hạ. Vì thế thần im lặng không nói.

Phần 3

Vua hỏi Thụ-đề:
- Nhà khanh thật có chuyện như vậy sao? Vậy thì khanh hãy trở về lo chuẩn bị, trẫm sẽ dẫn hai mươi vạn người đến nhà khanh xem.
Thụ-đề tâu:
- Xin bệ hạ cùng theo thần, không cần phải chuẩn bị trước. Nhà của thần giường chiếu tự nhiên Sắp sẵn, không cần người trải, thức ăn tự nhiên hiện ra không cần người nấu, món ăn tự nhiên mang đến không cần gọi, ăn xong tự nhiên mang đi không cần dọn dẹp.
Bấy giờ, vua dẫn hai mươi vạn người đi từ cửa phía nam vào nhà Thụ-đề. Khi vừa bước vào, thấy có một thiếu niên tướng mạo khôi ngô rất đáng yêu, vua hỏi Thụ-đề:
- Đây là con của khanh ư?
Thụ-đề đáp:
- Đó là người gác cửa của thần.
Vua và mọi người đi về phía trước, vào cửa trong thấy có một thiếu nữ, dung mạo xinh đẹp, da dẻ mịn màng tươi sáng, thật đáng yêu.
Vua hỏi Thụ-đề:
- Người này là con gái hay vợ của khanh?
Thụ-đề tâu:
- Đó là tớ gái gác cửa nhà thần.
Đoàn người đi thêm một đoạn ngắn thì đến trước tòa nhà chính. Thấy tường xây bằng bạc trắng, nền bằng thủy tinh, vua tưởng là nước nên không dám bước vào. Thụ-đề dẫn vua vào nhà, mời ngồi giường vàng, ghế ngọc.
Vợ trưởng giả ở phía trong, sau môt trăm hai mươi lớp màn làm bằng bạc, vén màn bước ra hành lễ. Thấy trong mắt bà ngấn lệ, vua hỏi Thụ-đề:
- Khi vợ khanh thi lễ trẫm, tại sao lại khóc?
Thụ-đề tâu:
- Thần không dám dối bệ hạ. Vợ thần ngửi mùi khói trên thân bệ hạ, nên chảy nước mắt.
Vua nói:
- Dân thường đốt đèn bằng mỡ, chư hầu đốt bằng mật, thiên tử đốt bằng sơn. Sơn vốn không có khói, làm sao chảy nước mắt được?
Thụ-đề tâu:
- Nhà thần có viên thần châu minh nguyệt treo trên điện, đêm ngày đều sáng, nên khồng cần đốt lửa.
Trước nhà Thụ-đề có một tòa lầu cao mười hai tầng, Thụ-đề dẫn vua lên đó ngắm nhìn chung quanh, thoáng chốc đã hết một tháng.
Đại thần tâu vua:
- Tâu bệ hạ! Việc nước quan trọng, xin ngài hãy trở về cung!
Vua bảo:
- Hãy ráng một lát nữa rồi trở về.
Vua lại đi dạo quanh vườn, ao tắm, bỗng chốc trải qua một tháng nữa. Các vị đại thần thưa, vua cũng trả lời như trước.
Bấy giờ, Thụ-đề xuất kho, đem bảy báu và lụa là gấm vóc cấp cho hai mươi vạn người kia, người và ngựa mang vác không xuể.
Khi trở về cung, vua nói với các quần thần:
Thụ-đề là dân của trẫm mà nhà cửa, vợ con đều hơn trẫm. Trẫm có thể xuất binh đánh ông ta để chiếm lấy không?
Các vị đại thần đều tâu:
- Tâu bệ hạ! Hãy chiếm lấy!
Vua dẫn bốn mươi vạn binh, khua chuông gióng trống đến vây quanh nhà Thụ-đề vài trăm lớp. Lúc ấy, tại cửa nam của nhà Thụ-đề có một lực sĩ, tay cầm gậy vàng khua một cái, lập tức bốn mươi vạn binh và ngựa đều té nhào, tay chân quờ quạng, thân thể lảo đảo như người say rượu, đầu óc choáng váng không thể đứng dậy được.
Bấy giờ, Thụ-đề cỡi xe vân mẫu đến hỏi mọi người:
- Các ngươi bị thương ra sao mà nằm trên đất không chịu đứng dậy?
Mọi người đáp:
- Đại vương sai chúng tôi đến đánh chiếm nhà trưởng giả, nhưng bị người lực sĩ cầm gậy vàng đánh, tất cả bốn mươi vạn người và ngựa đều ngã, không thể đứng dậy được.
Thụ-đề hỏi:
- Các ngươi muốn đứng dậy không?
Mọi người đều đáp:
- Chúng tôi muốn đứng dậy.
Thụ-đề liền dùng thần lực làm cho bốn mươi vạn người và ngựa đều đứng dậy, rồi đồng loạt trở về nước.
Lúc ấy, vua liền gọi Thụ-đề-già ngồi cùng xe đi đến chỗ Phật, vua thưa:
- Bạch Đức Thế Tôn! Đời trước Thụ-đề-già đã tạo công đức gì mà nay được hưởng phúc báo như thế?
Đức Phật đáp:
- Đại vương hãy lắng nghe! Đời trước có năm trăm thương buôn trên đường đi; ngang qua một vùng núi hiểm trở, gặp một vị tăng bị bệnh. Một người trong đoàn cúng dường lều chõng, lương thực, đèn đuốc cho vị tăng. Người ấy cầu nhiều điều ước, như cầu chư thiên từ hư không xuống cúng dường. Bấy giờ, vị tăng mới hiện mười tám thứ thần biến, phóng ánh sáng rực rỡ chiếu khắp thiên hạ, đồng thời còn phát nguyện khi thành Phật sẽ phá tan núi Thiết Vi, chảo dầu sôi nở hoa, địa ngục ngát hương chiên-đàn, ngạ quỉ trở thành sa-môn, la-sát ngồi tụng kinh. Năm trăm thương nhân thấy thế, liền mang cầc vật báu đến cúng dường. Do cung cấp cho vị tăng bệnh, nay tất cả các thương buôn đều được phúc báo. Người cúng dường lúc ấy chính là Thụ-đề, vị tăng bệnh là Ta, năm trăm thương nhân đều đắc quả A-lạ-hán”.
Kinh Bách duyên ghi: “Một thời, Đức Phật an trú tại Kì Thụ cấp Cô Độc Viên, thành Xá-vệ. Bấy giờ, trong thành có một trưởng giả tên là Thiện Hiền. Ông ta rất giàu, của cải nhiều vô lượng, không thể tính kể. Vợ ông mang thai đủ mười tháng thì sinh được bé gái vô cùng xinh đẹp, ít có trong đời, trên đỉnh đầu tự nhiên có một hạt châu sáng rưc chiếu khắp thành, cha mẹ rất vui mừng, nhân đó đặt tên là Bảo Châu. Bảo Châu lớn lên, tính tình hiền hậu, thường thích bố thí. Một hôm có người đến xin hạt châu, cô liền cho, nhưng vừa lấy hạt châu xuống thì có hạt châu khác nồi lên, cha mẹ cô rất vui mừng, liền dẫn đến chỗ Phật. Bảo Châu thấy Đức Phật, lòng rât vui mừng, liền xin xuất gia. Đức Phật bảo:
- Thiện lai tì-kheo-ni!
Tức thời tóc Bảo Châu tự rụng, thân mặc pháp phục, liền thành tì-kheo-ni. Sau khi xuất gia tì-kheo-ni Bảo Châu tinh tấn tu tập và chứng quả A-la-hán, đủ ba minh, sáu thông và tám giải thoát, được trời người cung kính. Các tì-kheo thấy thế, liền bạch Phật: - Ti-kheo Bảo Châu này, đời trước trồng phúc gì mà vừa sinh ra trên đỉnh đầu đã có hạt châu, lại được gặp đức Thế Tôn, xin xuất gia và chứng đạo quả!
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Các ông hãy lắng nghe, Ta sẽ nói rõ! Thuở quá khứ, trong chín mươi mốt kiếp về trước, ở nước Ba-la-nại có Đức Phật Tì-bà-thi ra đời, nhân duyên giáo hóa đã xong, Ngài liền nhập diệt. Vua Phạm-ma-đạt-đa thâu lấy xá-lợi, xây tháp bằng bốn báu cúng dường. Lúc ấy, có một người lấy hạt châu buộc vào trụ tháp, phát nguyện rồi đi. Nhờ công đức này mà trải qua chín mươi mốt kiếp, người ấy không rơi vào đường ác, được sinh lên cõi trời người, hưởng niềm vui sướng, và hạt châu ấy cũng cùng sinh theo, đến hôm nay gặp Ta, xuất gia tu tập và chứng đạo quả.
Các tì-kheo nghe Đức Phật dạy xong, đều vui vẻ kính tin”.
Kinh này lại ghi: “Khi Đức Phật còn tại thế, trong thành Ca-tì-la-vệ có một trưởng giả rất giàu, của nhiều vô lượng, không thể tính kể. Vợ ông mang thai, đầy đủ

Phần 4

mười tháng, sinh ra một bọc thịt. Trưởng giả thấy thế, lòng rất lo buồn, cho là điềm xấu, liền đến chỗ Đức Phật đỉnh lễ dưới chân và bạch:
- Bạch Đức Thế Tôn! Vợ con mang thai sinh ra một bọc thịt, không rõ đó là tốt hay xấu, cúi xin Ngài chỉ dạy!
Đức Phật bảo:
- Ông chớ lấy làm lạ, hãy về chăm sóc cẩn thận, bảy ngày sau sẽ biết rõ!
Nghe xong, trưởng giả vui mừng khôn xiết, liền trở về nhà cho người chăm sóc cẩn thận, đến ngày thứ bảy, bọc thịt nở ra một trăm bé trai khôi ngô tuẫn tú, ít có trong đời.
Thời gian sau, các bé trai lớn lên, gặp Đức Phật và cầu xin xuất gia, sau thời gian tu học, tất cả đều chứng quả A-la-hán, đầy đủ ba minh, sáu thông và tám giải thoát, được trời người cung kính.
Các tì-kheo thấy thế, thỉnh Đức Phật nói về nhân duyên quá khứ của các vị a-la-hán này
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Các ông hãy lắng nghe, nay Ta sẽ nói rõ! Thuở quá khứ, chín mươi mốt kiếp về trước, ở nước Ba-la-nại có Đức Phật Tì-bà-thi ra đời. Nhân duyên giáo hóa xong, Ngài liền nhập diệt, vua Bàn-đầu-mạt-đế thâu lấy xá-lợi, xây tháp bằng bốn báu cao một do-tuần cúng dường. Lúc ấy, có một trăm người trong xóm trỗi nhạc ca hát, cầm hương hoa đến cúng dường tháp, mỗi người tự phát nguyện:
- Nguyện nhờ căn lành của công đức cúng dường này, đời sau chúng con sinh ra nơi nào cũng đồng là anh em!
Phát nguyện xong, họ liền đi.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Những người sống chung một xóm thuở xưa, chính là một trăm tì-kheo này! Nhờ sức thệ nguyện thuở ấy mà trải qua chín mươi mốt kiếp, họ không rơi vào địa ngục, súc sinh, ngạ quỉ mà cùng sinh vào cõi trời người, hưởng thụ niềm vui. Cho đến ngày nay cũng thế, và được gặp Ta, xuất gia chứng đạo quả. Các tì-kheo nghe Đức Phật dạy xong, đều vui vẻ kính tin”.
Có bài tụng:
Đá quặng chẳng phải chân,
Bình vẽ đúng là giả,
Áo gấm treo trên Cao,
Xen ca-sa đặt dưới,
Lời đẹp chỉ kinh tâm,
Văn hay trọn chân chất,
Chân tướng đâu đã tỏ,
Phù vinh chưa thể buông,
Vết, khác bậc công hầu,
Sự, theo kẻ lãng du,
Thôi rồi! dứt nhạc Trịnh,
Tự nhiên loạn Nhã Chu,
Tranh danh giàu sang rỗng,
Mang chửi nhục vinh không,
Đèn trước gió mong manh,
Bóng bọt đâu đáng bắt.
63.3. CẢM ỨNG
63.3.1. Đời Tấn, Vương Văn Độ: Ông trấn giữ Quảng Lăng, một hôm bỗng thấy hai quan cầm Cốc đầu bản đến mời, Vương Văn Độ vô cùng kinh ngạc hỏi:
- Ta làm quan gì?
- Ngài làm Bình bắc tướng quân kiêm thứ sử Từ chầu và Duyên châu.
- Ta đang làm chức quan ấy, vì sao lại còn triệu kiến? Văn Độ nói.
Hai người ấy đáp:
- Đó là chức vụ ở nhân gian, còn bây giờ là quan ở trên trời.
Văn Độ rất lo sợ, lại thấy nghi thức nghinh tiếp quan, rất nhiều tiểu quan mặc áo đen và áo trắng. Lát sau ông bị bệnh và qua đời.
63.3.2. Đời Tấn, Trương thị ở Trường An: Một hôm ông đang ngồi một mình trong phòng, bỗng có một con chim tu hú bay vào đậu trên giường. Trương không thích, nhưng cũng thành tâm nguyện cầu:
- Tu hú mày đã đến đây, nếu ta gặp họa thì hãy bay lên thừa trần. Nếu ta sắp hưởng phúc thì hãy bay vào lòng ta!
Trương vừa nguyện xong, tu hú liền bay vào lòng rồi hóa thành một cái móc câu. Từ đó họ Trương trở nên vô cùng giàu có.
63.3.3. Đời Tấn, Lưu Bá Tổ ở Bác Lăng: Bá Tổ làm thái thú Hà Đông, trên thừa trần của ngôi nhà ông trú ngụ, có một vị thần thường nói tiếng người. Khi có tin chiếu thư từ kinh đô sắp gửi đến, vị thần liền báo trước cho ông. Ông hỏi thần muốn dùng món gì, thần trả lời là muốn ăn gan dê. Ông liền sai người mua, rồi cắt ngay trước thần, từng lát từng lát theo đao cắt ra nhưng không thấy. Gan của hai con dê đã hết, thì thấy một con chồn trước án, người hầu đưa đao muốn chém. Bá Tổ liền quát: “Hãy dừng!”, chồn liền vọt lên thừa trần. Một lát sau có tiếng cười lớn, rồi nói:
- Vừa rồi ăn gan, no say, nên lộ nguyên hình gặp ngài. Thật hổ thẹn quá!
Sau Bá Tổ làm chức Tư lệ, thần lại dự báo ngày đó tháng đó sắc thư sẽ đến. Thật đúng như vậy, khi mọi người vào phủ Tư lệ, thần cũng theo vào và ở trên thừa trần, tự ý nói việc trong cung, Bá Tô vô cùng sợ hãi, nói với thần:
- Nay tôi làm Thứ sử, những bậc quí nhân nghe thần ở đây, chắc sẽ tìm cách hại ngài!
Thần đáp:
- Như điều ngài đã lo lắng, chắc tôi phải xa ngài.
Từ đó về sau không còn nghe tiếng nói nữa.
63.3.4. Đời Tấn, Lí Thường: Ông tự là Nguyên Văn, người nước Tiêu. Lúc còn trẻ, có một vị sa-môn bảo ông:
- Phúc báo của ông sắp đến, nhưng oán đối cũng sẽ theo sau. Nếu ông chịu sống phận nghèo, lo tu đạo, thì phúc tăng mà họa diệt. Ông nên cố gắng!
Lí Thường tính tình nóng nảy, lại sinh trong nhà nghèo, cho nên chỉ hỏi sa-môn về quan tước bao giờ đến, chứ hoàn toàn không có ý hỏi về việc nghiên cứu tu đạo. Sa-môn trao cho Thường một bộ kinh, nhưng Thường không nhận, mà vẫn cố hỏi về con đường vinh hiển, quí tiện như thế nào mà thôi. Sa-môn nói:
- Ông sẽ mang ấn vàng đai tía, cao nhất là thống lãnh ba quận. Nếu biết đủ, chỉ lãnh một quận thì tốt.
- Đang lúc phú quí, đâu cần quan tâm đến tai họa mai sau. Thường nói.
Nhân đó sa-môn xin tá túc. Đêm ấy, Thường thấy sa-môn thân lớn nằm đầy chật cả giường, ông gọi mọi người đến nhìn qua khe cửa, lại thấy sa-môn biến thành con quạ lớn bay lên mái nhà. Khi trời sáng, biến lại hình sa-môn rồi ra đi. Thường tiễn đến cửa, thì bỗng nhiên biến mất. Ông biết là thần, nhân đó tin thờ Phật, nhưng không chí thành, về sau ông làm Thái thú Tây Dương, Giang Hạ và Lô Giang kiêm Long nhương tướng quân. Khoảng niên hiệu Thái Hưng (318-322), vì dự vào loạn Tiền Phượng, nên ông bị giết chết.
63.3.5. Đời Đường, Trung thư lịnh sầm Văn Bản: Ông người ở Giang Lăng, thuở niên thiếu kính tin Phật pháp, thường tụng phẩm Phổ mồn kinh Pháp hoa. Có lần ông đi thuyền trên dòng Ngô giang, thuyền bị vỡ, mọi người cùng đi chết hết. Lúc đang chìm trong nước, ông nghe có tiếng bảo: “Chỉ cần niệm Phật, nhất định sẽ không chết!”. Ba lần như vậy.
Sau đó sóng đẩy ông vào bờ bắc và thoát chết. Hôm ông thiết trai cúng dường tại nhà ở Giang Lăng, tăng chúng đã tụ tập. Bỗng có một vị tăng đến sau cùng nói với ông:

Phần 5

- Thiên hạ mới loan lạc, ông may mắn không tham dự vào. Cuối cùng đến lúc thái bình, ông sẽ được giàu sang.
Nói xong, vị tăng vội ra đi, ông tiễn ra đến cửa thì vị tăng biến mất, ông vào nhà thụ trai, trong bát của ông bỗng nhiên có hai hạt xá-lợi. về sau đúng như lời vị tăng đã dự đoán.
63.3.6. Đời Đường, Thượng thư bộ Hộ, Vũ Xương công Đới Văn Trụ: Lúc trẻ ông từng kết giao với quan Biệt giá Thư châu là Thẩm Dụ. Niên hiệu Trinh Quán thứ bảy (633), ông qua đời. Đến tháng tám niên hiệu Trinh Quán thứ tám, Thẩm Dụ mộng thấy mình đi trên con đường phía tây nam phường Nghĩa Ninh tại kinh đô, bỗng nhiên gặp Văn Trụ mặc áo cũ rách, thân hình tiều tụy. Thẩm Dụ thấy vậy vừa mừng vừa buồn, hỏi:
- Lúc còn sống huynh chuyên tu phúc, ngày nay huynh thế nào?
Văn Trụ đáp:
- Lúc còn sống, do tôi tâu sai, giết lầm người; sau khi tôi chết mọi người lại giết dê để cúng tế tôi. Do hai tội này mà tôi phải chịu thống khổ không thể nói hết, nhưng nay cũng hết rồi. Lúc còn sống, tôi và huynh kết giao rất thân thiết, nhưng không giúp huynh thăng quan vị, điều này làm tôi hận mãi trong lòng. Nay huynh sẽ được thăng hàm Ngũ phẩm, văn thư đã dâng lên Thiên tào. Giúp được huynh, tôi rất mừng, cho nên đến báo.
Vừa nghe nói xong thì Thẩm Dụ thức giấc, sau đó thuật lại với mọi người, mong rằng mộng sẽ ứng nghiệm. Mùa đông năm ấy, Thẩm Dụ lên kinh ứng tuyển nhân tài, nhưng vì có tội cất chứa đồng, nên bị phạt không được ban quan tước. Dụ nói với mọi người là mộng không linh nghiệm. Sang mùa xuân, niên hiệu Trinh Quán thứ chín, Thẩm Dụ trở về Giang Nam, khi đi đến Từ châu, bỗng nhiên có chiếu đến trao cho Thẩm Dụ hàm Ngũ phẩm làm Trị trung Vụ châu. Lâm đang làm Lại bộ thị lang nghe tin, mời Thẩm Dụ đến han hỏi.
64. CHƯƠNG BẦN TIỆN
64.1. LỜI DẪN
Phàm nghèo giàu sang hèn, đều do nghiệp nhân đời trước; được mất, có không đều do hành động kiếp xưa. Cho nên trong kinh ghi: “Muốn biết nhân đời trước, phải xem quả hiện tại. Muốn biết quả vị lai thì nhìn nhân hiện tại”.
Do đó, nhà của Nguyên Hiến, lều của Kiềm Lũ, vách phên trống trải không ngăn được gió bụi, mái tranh vách lá không che được sương móc. Họ lấy rơm cỏ làm chiếu, dùng lá sen làm áo; nếu khâu vai thì trống hai tay; nếu vá hai tay thì vạt đều thiếu; ăn uống nhờ hàng xóm, ngủ nương nơi mồ hoang; một cái mũ đội đến mười năm, thân mặc áo vá trăm mảnh. Nơi quê hương không ruộng vườn, đến Lạc Dương lại không có chỗ nương tựa, lang thang vô định, vất vưởng qua ngày. Tuy xấu hổ như Linh Triếp vẫn bị nạn đói ở Ế Tang, dù thẹn như Bá Di cũng phải chịu khổ ở Thủ Dương. Áo quần thiếu thốn nào thấy được nắng xuân, gạo cơm không có sao sống qua đông rét? Tất cả chỉ vì đời trước không bố thí giúp người, lại tham lam, bỏn xẻn, đến nỗi quả báo lành sớm cạn sạch. Vì thế, hành giả phải nên bố thí.
64.2. DẪN CHỨNG
Kinh Đăng chỉ nhân duyên ghi: “Người nghèo giống như ở địa ngục: không có nơi nương tựa cậy nhờ, lòng buồn lo xốn xang hơn lửa đốt, nhan sắc suy tàn, mất vẻ uy nghiêm, thân thể ốm yếu, đói khát bức bách, hai mắt lõm sâu, da bọc xương, gân mạch nổi lên, đầu tóc bù xù, tay chân teo tóp, da dẻ xanh xao, toàn thân nứt nẻ. Lại nữa, không có áo quần, phải lượm những vải xấu trong phân rác kết lại để mặc, nhưng chỉ đủ che thân, còn tay chân phải lộ; nằm trên rác bẩn, lại không có chiếu chăn, người thân trông thấy cũng không nhận ra, lang thang khắp ngõ xin ăn như quạ đói; muốn đến nhà bạn bè quen thân cậy nhờ, thì người gác cổng không cho, lén vào thì bị sỉ nhục; chủ nhà nhìn thấy còn muốn đánh đập. Người ấy cúi đầu lạy lục xin tha, chủ nhà khinh miệt không thèm để ý. Giả sử được vào thì chủ nhà khinh rẻ, không muốn nói chuyện, cũng không mời ngồi, cho chút cơm thì ném vào trong bát, không đủ no lòng. Giả sử gặp hội lớn, lần đến xin thức ăn thừa thì bị người khinh miệt không mời ngồi, trái lại còn xua đuổi.
Người nghèo giống như cây không hoa, nên ong bướm chăng vãng lai; như cỏ lá bị sương muối nên tàn tạ héo úa; như hồ cạn nước, nên hồng nhạn không bay đến; như rừng bị thiêu đốt nên các loài hươu nai bỏ đi; như ruộng lúa đã gặt xong nên không có người đến nhặt. Ngày nay nghèo khổ, kể chuyện giàu sang ngày trước thì mọi người không tin, cho là nói khoác. Người nghèo không biết về đâu, giống như cánh đồng bị thiêu rụi thành tro, không ai thích đến; như cây khô không bóng mát, nên mọi người không muốn dừng chân; như lúa non bị sương móc không thể thu hoạch; như rắn độc thường bị mọi người xa lánh; như thức ăn có độc chẳng ai dám nếm; như mồ hoang không người lui tới; như nhà xí chứa toàn phân tiểu; như kẻ giết người bị mọi người ghét bỏ.
Người nghèo dù nói đúng, người khác cũng cho là sai, hoặc có làm điều tốt, mọi người cũng cho là xấu. Nếu làm nhanh thì người trách thô tháo, nếu thong thả thì bị trách là làm cao. Giả sử khen ngợi thì người ta cho là dua nịnh, nếu không khen ngợi thì người ta cho là chê bai. Họ cho ràng người nghèo này thường không nói lời hay đẹp. Nếu có dạy ai điều gì thì người ta đều cho là hư dối, nếu giải thích đầy đủ thì người ta bảo là lắm lời. Nếu im lặng thì bị cho là giấu lòng, nếu nói thẳng ra thì bị cho là thô thiển. Nếu thỉnh ý người thì bị cho là nịnh hót, còn thường gần gũi thì bị cho là mê hoặc người, ngược lại thì bị cho là kiêu căng. Nếu thuận theo lời người thì bị cho là lấy lòng, còn không thuận theo thì bị nói là tự chuyên. Nếu khuất phục theo thì bị mắng là hèn yếu, còn trái lại thì bị nói người nghèo mà còn cậy mình.
Người nghèo nếu cư xử phóng khoáng một chút thì bị cho là ngu si, không biết kiềm chế, tự thúc liễm thì bị nói là không liêm sĩ dối cho là đoan chính. Nếu vui quá trớn thì bị nói là lừa dối, ngông cuồng. Nếu buồn rầu thì bị cho là có lòng hiểm ác, không vui. Nếu nghe người nói có chỗ chưa rõ ràng bèn muốn giải thích tường tận, thì bị cho rằng muốn dùng ngu thay trí, thật không biết xấu hổ. Nếu im lặng thì bị cho rằng ngu si không biết lí lẽ. Có nói đùa một chút thì bị cho rằng không tin tội phúc. Nếu có xin điều gì thì bị nói không xứng đáng, không biết liêm sỉ. Nếu không xin thì bị cho rằng nay không xin, nhưng sau đó lại mong được nhiều. Nếu trích dẫn lời trong kinh sách thì nói giả vờ thông minh; còn nói lời chất phác thì bị chê là ngu đần.
Người nghèo nếu nói sự thật trước công chúng, lại bị bảo là nói càn. Nếu nói lời ngay thật ở nơi vắng lại bị cho là gièm pha. Nếu như mặc áo mới thì mọi người nói mượn để làm đẹp, mặc y phục thô xấu thì bị chê là nghèo cùng khốn khổ. Nếu ăn nhiều thì bị cho là đói khát ham ăn. Nếu ăn ít thì bị cho là trong bụng đói mà giả vờ trong sạch. Nếu nói kinh luận thì bị cho rằng khoe sự hiểu biết của mình để bày cái dốt của người; còn nếu không nói kinh luận thì bị cho rằng ngu si, không biết gì, chỉ đáng chăn trâu. Nếu kể lại sự nghiệp ngày xưa thì bị cho là khoe khoang dối trá, còn im lặng thì bị nói là gia đình thâp hèn.
Những người nghèo cùng, mọi hành động, nói năng, cử chỉ đều bị cho là lỗi lầm. Còn người giàu sang thì dù nói phi pháp cũng không mắc lỗi, những hành động và việc làm của họ đều được cho là đúng. Người nghèo cùng giống như quỉ khởi thi, tất cả đều kinh sợ, gặp họ như gặp chứng bệnh khó chữa trị. Người nghèo như ở giữa đồng hoang, hiểm trở không có cỏ nước; như rơi vào biển lớn, bị dòng nước mạnh nhận chìm; như cổ bị nghẹn không thở được; như mắt mờ không thấy đường đi; như chất dơ bám dày khó tẩy trừ; như oan gia, tuy cùng ở chung, nhưng không bỏ được tâm oán ghét; như giếng khô nóng bức, người rơi xuống đó thì không thở được; như bị lún vào bùn sâu không thể bước ra; như nước lũ từ núi dốc cuốn trôi và ngã đổ cây cối. Người nghèo cũng thế, lắm nỗi gian nan.
Người giàu sang có uỵ đức lớn, dáng vẻ thong dong, tâm lượng rộng lớn, đầy đủ lễ nghi, hay sinh trí dũng, gia nghiệp hưng thịnh, quyến thuộc thuận hòa, tiếng tốt vang xa.
Nhưng tất cả người đời cũng không nên tham đắm phú quí vinh hoa; được trời người tôn quí cũng không nên quá thích. Phải biết nghèo hèn rất khổ sở, muốn chấm dứt sự nghèo khổ thì không nên bỏn xẻn, tham lam”.
Vì thế trong kinh ghi: “Nghèo là nỗi khổ lớn nhất”.
64.3. TU-ĐẠT
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Thuở Đức Phật còn tại thế, có trưởng giả Tu-đạt nghèo khổ, không có tài sản. Hằng ngày ông đi làm thuê được bốn thăng gạo đem về nấu cơm. Một hôm, ngài A-na-luật đến nhà khất thực, vợ trưởng giả cúng dường đầy bát. Sau đó, các ngài Tu-bồ-đề, Ca-diếp, Mục-kiền-liên và Xá-lợi-phất v.v... cũng lần lượt đến, đều được bà cúng dường đầy bát. Cuối cùng, Đức Phật đến, bà cũng cúng dường đầỳ bát cơm. Tu-đạt về đến nhà bảo vợ dọn cơm, người vợ liền nói:
- Nếu tôn giả A-na-luật đến, ông có cúng dường thức ăn không?
Tu-đạt đáp:
- Thà tôi nhịn ăn để cúng dường tôn giả.

Phần 6

Người vợ lại hỏi:
- Nếu tôn giả Ca-diếp, Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề, Xá-lợi-phất v.v... và Đức Phật đều đến ông phải làm sao?
Tu-đạt cũng đáp:
- Tôi sẽ nhịn ăn để cúng dường hết cho các
vị ấy.
Lúc ấy người vợ liền kể:
- Sáng nay các vị ấy đã đến khất thực, có bao nhiêu thức ăn tôi đều cúng dường hết.
Tu-đạt nghe rồi rất vui mừng, liền bảo vợ:
- Chúng ta đã hết tội, phúc sẽ sinh.
Nói rồi liền mở kho ra thì lúa gạo, vải vóc và các thức ăn uống tự nhiên đầy đủ, hễ dùng hết chúng lại sinh. Phúc báo như thế không thể kể xiết”.
Kinh Tạp thí dụ ghi: “Vào thời quá khứ, trưởng giả Tu-đạt trải qua bảy đời nghèo khổ, đến đời cuối cùng nghèo đến nỗi không có một đồng. Một hôm ông nhặt trong đất dơ được mọt cái thăng bằng gỗ chiên-đàn, mang ra chợ bán, mua được bốn thăng gạo đem về và bảo vợ:
- Bà hãy nấu một thăng, tôi sẽ đi kiếm rau quả về rồi chúng ta cùng ăn.
Bấy giờ, Đức Phật’ nghĩ: ‘Ta phải độ Tu-đạt, để ông ấy lại được phúc’. Vợ Tu-đạt nấu cơm vừa chín thì Đức Phật và các đệ tử Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Ca-diếp đồng đến. Bốn thăng gạo đều được nấu hết và lần lượt mang ra cúng dường, về sau ông rất giàu có, thường thỉnh Phật và chúng tăng đến cúng dường. Đức Phật nói pháp cho hai ông bà nghe, họ đều chứng đắc quả vị"
Kinh Bồ-tát bản hạnh ghi: “Lúc trước, nhà trưởng giả Tu-đạt rất nghèo. Nhớ nghe Phật thuyết pháp, thân tâm ông thanh tịnh, đăc quả A-na-hàm. Lúc đó, gia đình chỉ còn năm đồng tiền, nhưng ông mang ba đồng đến cúng dường Phật, pháp, tăng; một đồng mua thức ăn, một đồng để dành làm vốn. Nhờ thế mỗi ngày ông đều có một đồng tiền dùng không bao giờ hết. Sau đó, ông thụ năm giới, đoạn dứt tâm dục. Các bà vợ đều thuận theo niềm vui của ông. Một hôm, vợ ông rang gạo làm bột, sơ ý để lửa cháy chết người và súc vật. Vì việc ấy, vua Ba-tư-nặc ra lệnh cấm: ‘Từ nay ban đêm không được thắp đèn, đốt lửa. Nếu ai phạm sẽ bị phạt một nghìn lượng vàng’
Bấy giờ, Tu-đạt đã đắc đạo, sớm hôm thiền định tại nhà. Vào nửa đêm, ông thắp đèn tọa thiền, quan quân tuần tra bắt được tâu vua. Vua lệnh ông phải nộp phạt. Tu-đạt tâu:
- Thần nghèo khổ một trăm đồng cũng không có, lấy đâu ra một nghìn để nộp phạt.
Vua nổi giận, sai lính bắt giam vào ngục. Tứ thiên vương trông thấy, đầu đêm liền bay xuống nói với Tu-đạt:
- Tôi sẽ cho ông tiền nộp phạt để được thả ra!
Tu-đạt liền thuyết kinh cho Tứ Thiên vương. Thiên vương nghe xong liền đi. Giữa đêm Đế Thích đến nghe pháp, cuối đêm Phạm thiên đến; trưởng giả đều thuyết pháp cho các vị trời ấy. Nghe xong họ trở về thiên cung.
Đêm ấy, vua ở trên lầu cao, bỗng thấy trên ngục phát ra ánh sáng. Hôm sau, vua sai người đến nói với Tu-đạt:
- Ông thắp đèn nên bị giam vào ngục, không biết hổ thẹn hay sao mà còn tiếp tục đốt lửa?
Tu-đạt đáp:
- Tôi không đốt lửa. Nếu đốt thì phải có khói và tro.
Sứ thần lại nói:
- Tại sao đầu đêm vua thấy bốn đốm lửa, giữa đêm lại có một đốm lửa lớn và sáng hơn bốn đốm lửa trước, cuối đêm cũng có một đốm lửa, sáng hơn gấp đôi. Ông nói không phải lửa, vậy đó là gì?
Tu-đạt đáp:
- Đó chẳng phải là lửa! Đầu đêm Tứ Thiên vương đến gặp thần, giữa đêm trời Đế Thích đến, cuối đêm thì Phạm thiên đến. Đó là ánh sáng của các vị trời chứ chẳng phải lửa.
Sứ thần liền trở về tâu vua. Vua nghe như thế, toàn thân rúng động. Vua nói:
- Người này phúc đức đặc biệt như vậy, sao ta lại làm nhục?
Vua liền lệnh cho sứ thần:
- Hãy thả ông ấy ngay, không được chậm trễ!
Quan giữ ngục liền thả ra. Được thả, Tu-đạt liền đi đến tinh xá, đỉnh lễ Đức Phật và ngồi lại nghe pháp.
Khi ấy, vua Ba-tư-nặc cũng bảo quần thần chuẩn bị xa giá, đi đến chỗ Phật. Thấy vua, nhân dân đều đứng dậy tránh ra. Chỉ có Tu-đạt đang lắng tâm nghe pháp, nên dù thấy vua, ông vẫn ngồi yên. Trong lòng vua hơi bực tức nghĩ rằng: ‘Người này là thần dân của ta mà có tâm xem thường, thấy ta không đứng dậy’. Nghĩ thế, vua càng tức giận. Phật biết tâm ý vua, nên ngừng thuyết pháp.
Vua bạch Phật:
- Xin Đức Thế Tôn hãy giảng tiếp!
Đức Phật bảo:
- Lúc này không thích hợp. Vì sao? Vì có người khởi sân giận, thắt chặt oán thù, không chịu cởi bỏ, tham đắm nữ sắc, tự cao bất kính, lòng đầy ô nhiễm, dù nghe pháp vi diệu cũng không thể hiểu được. Do đó, chẳng phải lúc thuyết pháp cho vua.
Vua nghe nói thế, suy nghĩ: ‘Vì người này mà hôm nay ta hai lần bị giảm uy, lại khởi tâm sân, không được nghe pháp’. Vua đỉnh lễ Phật và đi về. Khi ra ngoài vua nói với cận thần:
- Nếu thấy người này ra hãy chém đầu.
Vua vừa dứt lời, lập tức bốn phía cọp sói, sư tử, các loài thú dữ đều đến vây quanh vua. Vua hoảng sợ, liền trở lại chỗ Phật. Phật hỏi:
- Sao đại vương quay lại?
Vua đáp:
- Trẫm sợ thú dữ nên trở lại.
Phật chỉ Tu-đạt hỏi:
- Đại vương có biết người này chăng?
Vua đáp:
- Không biết.
Phật nói:
- Người này đã đắc quả A-na-hàm. Vì vua khởi tâm ác với người này nên xảy ra những việc như thế. Nếu đại vương không quay lại ắt sẽ nguy hại tính mạng.
Nghe Phật nói, vua rất kinh sợ, liền đỉnh lễ Tu-đạt, cầu sám hối và nói:
- Ông là dân của ta, mà ta chịu hạ mình trước ông thật là việc khó.
Tu-đạt tâu:
- Tôi nghèo mà bố thí mới là khó.
Bấy giờ, Thi-ba-sư-chất nói: ‘Tôi vì nước dẹp loạn, bị giặc bắt. Tuy gần kề cái chết vẫn không nói dối, đó cũng là điều khó’. Lại có trời Thi-ca-lê nói: ‘Tôi nằm nghỉ trên lầu cao, thiên nữ đến quyến rũ, giữ giới mà khước từ mới thật là khó’.
Khi ấy, mỗi người ở trước Đức Phật nói bài kệ: Nghèo cũng khó bố thí,
Giàu sang khó nhẫn nhục,
Hiểm nguy khó giữ giới,
Tuổi trẻ khó bỏ dục.
Nghe thuyết kệ rồi, vua và nhân dân đều hoan hỉ đỉnh lễ lui ra”.
64.4. BẦN NHI
Kinh Biện Ý trưởng giả tử ghi: “Lúc ấy, trưởng giả Biện Y đỉnh lễ Đức Phật và chắp tay bạch rằng:
- Cúi mong Đức Thế Tôn và thánh chúng, ngày mai hạ cố đến xóm nghèo chúng con thụ thực.

Phần 7

Đức Phật im lặng nhận lời. Trưởng giả đỉnh lễ Phật trở về nhà sửa soạn đầy đủ thức ăn. Hôm sau, Đức Phật và đại chúng đi đến, thứ tự ngồi trang nghiêm. Biện Ý thưa cha mẹ và quyến thuộc, đỉnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng hầu. Biện Ý đứng lên rót nước rửa tay và cung kính dâng thức ăn. Chưa dùng xong, có một người hành khất, đến từng vị tăng xin ăn. Vì Phật chưa chú nguyện, nên không ai dám cho. Người ấy đi khắp tòa, chẳng xin được gì, nổi giận bỏ đi và khởi niệm ác: ‘Các sa-môn này buông lung, ngu si nào có tu hành gì. Thấy người nghèo đến xin không có tâm bố thí, còn trưởng giả cũng bị mê hoặc, cúng dường cho những người không có lòng thương xót này. Nếu sau này ta làm vua, sẽ dùng bánh xe sắt cán đứt đầu họ’. Nói xong liền bỏ đi.
Khi Phật chú nguyện xong, lại có một người khác đến xin ăn. Tất cả chúng hội đều cho, người ấy được nhiều thức ăn rất vui mừng, nghĩ rằng: ‘Các sa-môn này đều có tâm từ, thương xót mình nghèo khổ, bố thí thật nhiều thức ăn. Ta có thể ăn được vài ngày. Vui thay! Tốt thay! Trưởng giả cúng dường các vị đại sĩ này, sẽ được phúc vô lượng. Nếu ta được làm vua, dù cúng dường Đức Phật và chư tăng suốt bảy ngày, cũng không sao báo đáp được ân cứu đói hôm nay’.
Đức Phật thụ trai xong, thuyết pháp cho mọi người rồi trở về tinh xá.
Phật bảo A-nan:
- Từ nay về sau, khi chú nguyện xong mới dùng cơm.
Sau đó, hai người ăn xin kia lần lượt đi xin đến một nước nọ. Người khởi tâm thiện nằm nghỉ trong đám cỏ ven đường. Bấy giờ, vua của nước đó vừa qua đời, nhưng không có người kế vị. Trong nước có một người rất giỏi về tướng số, thấy trong sấm thư ghi: ‘Sẽ có người nghèo xứng đáng kế vị’. Nghe thầy tướng tiên đoán, các đại thần cùng bá quan điều động nghìn vạn cỗ xe đi khắp nước, tìm người xứng đáng lên ngôi. Khi đi ngang lùm cỏ rậm ven đường nọ, mọi người thấy phía trên có mây che phủ. Thầy tướng nói:
- Trong đây có thần nhân.
Mọi người vào xem thi thấy một người hành khất, tướng mạo xứng đáng làm vua. Quần thần thi lễ, mỗi người tự xưng là hạ thần. Người ấy kinh hoàng nói:
- Tôi là kẻ thấp hèn chẳng phải dòng dõi vua chúa.
Nhưng tất cả đều nói:
- Ngài có tướng xứng đáng làm vua chứ chẳng phải chúng tôi cưỡng ép.
Các quan đưa nước thơm cho người ấy tắm, rồi cho mặc y phục của vua. Người ấy liền lộ bày uy tướng sáng rỡ. Mọi người hết lời khen ngợi, trang hoàng xa giá rước về cung. Còn người khởi niệm ác lúc trước, đang ngủ say trong đám cỏ rậm, bị xe chạy ngang cán đứt đầu. Vua về đến nước, âm dương điều hòa, bốn mùa khí thuận, nhân dân được an lạc, cả nước đều ca ngợi ân đức của vua.
Lúc ấy vua suy nghĩ: ‘Trước đây ta nghèo khổ, sao nay được làm vua?’. Vua liền nhớ lại, trước đó làm kẻ hành khất nhờ ân đức của Phật, xin được rất nhiều thức ăn, sinh tâm thiện, nguyện rằng nếu được làm vua sẽ cúng dường Đức Phật bảy ngày. Nay phúc báo đã được đúng như nguyện. Vua liền triệu tập quần thần, hướng về nước Xá-vệ đốt hương, đỉnh lễ, rồi sai sứ giả đến thỉnh Đức Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Nhờ ân đức của Ngài mà chủ của con được làm vua. Nay vua nước con muốn thỉnh Thế Tôn đến đó giáo hóa, giúp cho kẻ ngu muội nghe giáo pháp của Như Lai.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Hãy nên nhận lời!
Bấy giờ, Đức Phật cùng rất nhiều đệ tử đi đến nước kia, vua đích thân ra ngoài nghinh tiếp, đỉnh lễ Đức Phật và thỉnh tất cả vào cung thụ trai. Sau đó, vua thỉnh cầu Đức Phật nói về nhân duyên đời trước của mình. Đức Phật kể lại tất cả những việc trên và bảo:
- Nhờ đại vương khởi niệm thiện, nên nay được làm vua. Người khởi niệm ác không những bị xe cán chết, mà còn phải đọa vào địa ngục, bị bánh xe bốc lửa nghiền nát, trải qua ức kiếp mới ra khỏi. Nay đại vương thỉnh Phật và chúng tăng đến cúng dường để đáp lại ân Phật theo thệ nguyện xưa, nên sẽ được phúc báo đời đời không dứt.
Bấy giờ Đức Phật liền nói kệ:
Tâm người là gốc độc,
Miệng là cửa tai họa,
Tâm nghĩ và miệng nói,
Thân chịu tội lỗi đó.
Không nghĩ đến thiện, ác,
Thân làm thân chịu khố,
Y muốn hại người khác,
Liền bị xe cán chết.
Nhờ hành pháp cam lộ,
Khiến người sinh cõi trời,
Tâm nghĩ miệng nói thiện,
Thân được phúc báo kia.
Người nghĩ đến thiện, ác,
Tự lập gốc an thân,
Ý luôn nghĩ điều thiện,
Như vua được ngôi trời.
Vua nghe Đức Phật nói kệ xong, lòng vô cùng hoan hỉ. Các quan và toàn thể nhân dân trong nước đều đắc quả Tu-đà-hoàn”.
Kinh Hiền ngu ghi: “Thuở xưa, lúc Đức Phật cùng một nghìn hai trăm năm mươi vị tì-kheo đang ở nước Xá-vệ, có năm trăm hành khất thường theo Đức Phật và chúng tăng xin ăn để sống. Sau đó, khởi tâm nhàm chán, tất cả cùng đến xin Đức Phật cho xuất gia. Họ bạch:
- Bạch đức Thế Tôn! Rất khó gặp Như Lai ra đời. Chúng con là kẻ thấp hèn, nhờ Ngài nuôi sống thân mạng này. Nay chúng con muốn được xuất gia, chẳng hay Ngài cho phép không?
Đức Phật đáp:
- Pháp của Ta bình đẳng, không phân biệt nghèo giàu, giống như nước sạch tẩy trừ những vật dơ uế. Bất luận người giàu hay nghèo, dùng nước tẩy rửa đều được sạch sẽ. Pháp ấy như đống lửa lớn lan đến đâu, nơi đó đều bị thiêu rụi; pháp ấy như hư không, người giàu nghèo, sang hèn đều có thể tùy ý đi lại trong đó.
Nghe Đức Phật nói như thế, những người hành khất vô cùng hoan hỉ, lòng tin thêm lớn, thành tâm xuất gia. Đức Phật bảo:
- Thiện lai tì-kheo!
Lập tức các vị ấy, râu tóc tự rụng, ca-sa đắp thân, đầy đủ hình tướng sa-môn. Năm trăm người nghe Đức Phật nói pháp đều chứng quả A-la-hán.
Lúc ấy, những trưởng giả giàu có nghe Đức Phật độ cho những kẻ ăn xin xuất gia, liền khởi tâm kiêu mạn nói: ‘Sao đức Như Lai cho phép những kẻ hạ tiện ấy gia nhập tăng đoàn như thế! Chúng ta tu phúc, khi thỉnh Phật và chúng tăng thụ trai, thì những kẻ hạ tiện ấy cũng sẽ đến ngồi lên chiếu, cầm bát của chúng ta để ăn’.
Bấy giờ, thái tử Kì-đà sai người đến thỉnh Phật và chúng tăng. Sứ giả thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! Ngày mai, thái tử thỉnh Ngài và chư tăng đến thụ trai, nhưng không mời những kẻ ăn xin vừa xuất gia kia. Xin Ngài đừng dẫn đến.
Sáng hôm sau đến giờ thụ trai, Đức Phật bảo những vị tì-kheo kia:
- Ta nhận lời thỉnh của thái tử, nhưng ông ấy không mời các ông. Vậy các ông hãy đến Ưất-đơn-việt, lấy cơm tự nhiên rồi trở lại nhà thái tử, theo thứ tự ngồi thụ trai.
Các tì-kheo vâng lời, liền dùng thần túc thông bay đến châu kia. Mỗi người lấy đầy bát cơm, nhiếp thân lướt trong hư không như chim nhạn bay đến nhà thái từ Kì-đà, theo thứ tự ngồi thụ trai. Lúc ấy, thái tử Kì-đà thấy chúng tì-kheo uy nghi, phúc đức và đầy đù thần túc, sinh lòng cung kính hoan hỉ chưa từng có, liền thưa với Đức Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Những vị hiền thánh này từ đâu đến?
Đức Phật đáp:
-"Họ chính là những người mà hôm qua ông không muốn thỉnh.

Phần 8

Đức Phật liền nói nhân duyên của những vị ấy cho thái tử nghe. Thái tử nghe rồi lòng vô cùng hổ thẹn, tự trách: ‘Ta ngu muội, không phân biệt được sáng tối!’. Thái tử lại thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! Những vị này đời trước đã tạo phúc duyên gì, mà nay gặp đức Thế Tôn, được xuất gia đắc đạo; lại không biết họ tạo ác nghiệp gì, mà phải làm kẻ ăn xin như thế?
Đức Phật đáp:
- Cách đây rất lâu, có một ngọn núi lớn tên Lợi-sư, thuộc nước Ba-la-nại, là trú xứ của các Đức Phật quá khứ. Lúc không có Phật ra đời, sẽ có hai nghìn vị bích-chi phật thường ở trong đó. Bấy giờ, trong nước ấy có trưởng giả tên Tán-đà-ninh nhà rất giàu sang. Gặp lúc hạn hán mất mùa, ông hỏi người giữ kho:
- Trong kho của ta còn bao nhiêu lúa gạo? Ta muốn thỉnh các vị đại sĩ đến cúng dường mà chẳng biết có đủ không?
Người giữ kho đáp:
- Còn rất nhiều, đủ để cúng dường.
Trưởng giả liền thỉnh hai nghìn vị bích-chi phật đến cúng dường và sai năm trăm người làm thức ăn. Những người này tỏ ý mỏi mệt và nói:
- Sở dĩ chúng ta khổ cực là do những kẻ ăn xin kia.
Lúc ấy, trưởng giả sai một người, hàng ngày đên báo giờ thụ trai cho các vị bích-chi phật. Ông ta có nuôi một con chó, hàng ngày nó thường đi theo chủ nhân. Một hôm, ông quên không đến báo giờ, con chó một mình đi đến chỗ ấy, hướng về các vị đại sĩ sủa vang. Các vị đại sĩ nghe tiếng chó sủa, biết đúng giờ, liền đi đến nhà trưởng giả như pháp thụ trai. Sau đó, các vị đại sĩ bảo trưởng giả:
- Hôm nay trời mưa, ông nên cày ruộng gieo giống!
Trưởng giả nghe lời, sai người cày ruộng gieo giống. Những hạt giống được gieo xuống đều biến thành cây bầu. Trưởng giả tuy ngạc nhiên, nhưng vẫn chăm sóc tưới bón. Bầu ra hoa kết trái, quả nào cũng to lớn. Trưởng giả bổ quả bầu ra xem, thấy trong đó có đủ các loại hạt mà trước kia đã gieo, nay có kết quả rất tốt đẹp; trong ruột bầu chứa nhiều lúa gạo, ông rất vui mừng. Nhà ông trở nên giàu có, ông bèn đem chia cho họ hàng, quyến thuộc. Cả nước nhờ đó mà được sung túc.
Lúc ấy, năm trăm người làm thức ăn nghĩ: ‘Trưởng giả có được kết quả tốt như thế, là nhờ ân đức của các bậc đại sĩ. Sao chúng ta lại nói những lời không tốt với các vị ấy?’. Nghĩ rồi liền đến các vị đại sĩ xin sám hối và lập nguyện: ‘Chúng con nguyện đời sau gặp các bậc hiền thánh và được giải thoát’. Do có niệm ác, nên trong năm trăm đời họ thường làm kẻ ăn xin; nhờ sám hối và lập nguyện nên nay gặp Ta, được xuất gia chứng quả. Thái tử nên biết! Tán-đà-ninh lúc đó nay chính là Ta, người giữ kho nay là Tu-đạt; người đến báo giờ là vua Ưu-điền; năm trăm người làm thức ăn lúc đó nay là năm trăm vị a-la-hán. Bấy giờ, những người trong hội của thái tử Kì-đà thấy sự thần kì như thế, đều chứng quả A-la-hán”,
64.5. BẦN NỮ
Kinh Hiền ngu ghi: “Thuở Đức Phật còn tại thế, tôn giả Ca-chiên-diên du hóa đến nước A-bàn-đề, nơi đó có ông trưởng giả rất giàu, của cải vô số. Trong nhà ông có người tớ gái, do phạm lỗi nhỏ, nên bị trưởng giả đánh đập, sai làm việc ngày đêm mà áo không đủ che thân, cơm ăn không no lòng. Đến già, bà ấy vẫn còn khổ, muốn chết cũng không được. Một hôm, bà ôm bình ra sông lấy nước, chợt buồn tủi, khóc lớn. Tôn giả Ca-chiên-diên nghe tiếng khóc đến hỏi, biết được nguyên nhân, liền bảo:
- Sao ngươi không bán cái nghèo ấy đi!
Bà lão đáp:
- Ai mà mua cái nghèo?
Tôn giả đáp:
- Nghèo cũng có thể bán được.
Bà lão hỏi:
- Nghèo có thể bán được ư? Làm sao để bán?
Tôn giả đáp:
- Ngươi muốn bán nó, hãy nghe theo lời ta.
Nói rồi tôn giả bảo bà đi tắm rửa, sau đó dạy
cách bố thí. Bà lão thưa:
- Nay tôi nghèo khổ áo mặc không đủ lành lặn, chỉ có một chiếc bình, nhưng của ông chủ. Lấy gì cúng dường ngài đây?
Tôn giả liền trao bình bát cho bà, dạy đi lấy nước đến cúng dường. Tôn giả nhận rồi chú nguyện, truyền giới và dạy bà niệm Phật. Sau đó tôn giả hỏi:
- Ngươi thường ngủ ở đâu?
Đà lão đáp:
- Tôi không có chỗ ngủ cố định. Tùy theo công việc xay giã, hoặc nấu cơm ở đâu thì ngủ ở nơi đó, hoặc ngủ trên đống rác.
Tôn giả bảo:
- Ngươi cứ hết lòng siêng năng làm việc, đợi lúc mọi người ngủ say, ngươi lén mở cửa vào nhà, trải cỏ ngồi quán tưởng Phật.
Bà lão vâng lời, tối đến lén vào trong nhà ngồi quán Phật rồi mạng chung, sinh lên cõi trời Đao-lợi. Sáng ra, người chủ thấy vậy liền nổi giận nói:
- Người làm này không được vào nhà, sao nay lại chết ở đây?
Ông liền sai người lấy dây buộc chân, kéo bỏ trong rừng sâu. Bà lão sinh lên cõi trời làm quyến thuộc với năm trăm thiên tử. Bà dùng thiên nhãn quán sát, biết được nhân duyên giúp mình sinh lên cõi trời. Bà liền dẫn năm trăm thiên tử mang hương hoa đến khu rừng cúng dường thi thể kia, phóng ánh sáng cõi trời chiếu khắp rừng cây. Người chủ thấy kì lạ, liền bảo với mọi người cùng đến đó xem, thấy thi thể kia, ông liền hỏi:
- Đây là thi thể của nô tì sao lại cúng dường?
Vị thiên tử đáp:
- Đây là thân đời trước của tôi!
Thiên tử liền kể lại nhân duyên được sinh lên trời. Sau đó, các vị thiên tử ấy đến chỗ ngài Ca-chiên-diên đỉnh lễ cúng dường, nhân đó được nghe pháp. Năm trăm vị thiên tử đều đắc quả Tu-đà-hoàn, sau đó bay về cõi trời. Vì thế, người trí phải tu học như lời ta dạy”.
Kinh Phật thuyết Ma-ha Ca-diếp độ bần mẫu ghi: “Khi Phật ở nước Xá-vệ, Ma-ha Ca-diếp một mình du hóa đến thành Vương Xá. Ngài Ca-diếp thường khất thực với tâm thương xót tạo phúc lành cho chúng sinh; nhưng không đến nhà giàu sang, chỉ ghé những nhà nghèo khổ. Trước khi đi khất thực, Ca-diếp thường nhập tam-muội, xem người nghèo ở đâu, sẽ đến đó tạo phúc cho họ. Một hôm, đi vào thành Vương Xá, Ca-diếp gặp một bà lão góa bụa. Bà ấy nghèo khổ cùng cực, phải khoét đống rác lớn trong làng làm nơi nương thân. Thân thể bà gầy yếu, bệnh tật, thường nằm trong hang, cô độc không có ai giúp đỡ, không có cơm ăn, áo mặc, phải đặt một tấm phên nhỏ trong hang để ngăn. Ca-diếp nhập định biết bà lão này đời trước không gieo trồng phúc thiện, nên ngày nay phải chịu nghèo khổ. Ngài biết bà sắp qua đời, nếu không được độ, sẽ mãi mãi không được hưởng phúc.
Do thường đói khổ, nên khi thấy người hầu của nhà trưởng giả đổ nước gạo thối, bà liền xin nước ấy, đựng trong những chiếc bình bể, đặt trong hang. Ca-diếp đến xin và chú nguyện: ‘Nếu bà cúng dường, dù nhiều hay ít đều được phúc’.
Bấy giờ, bà lão liền nói kệ:
Thân thể mang bệnh tật,
Lại cô độc, khốn cùng,
Là người nghèo nhất nước,
Áo chẳng đủ che thân,
Người đời không lòng từ,
Khi gặp cũng thương xót,
Đã nói là xót thương,
Sao không biết thân này,
Đói khổ nhất trên đời?
Không ai khổ hơn tôi!

Phần 9

Xin xót thương lượng thứ,
Thật tôi chẳng tiếc gì.
Ngài Ca-diếp liền nói kệ:
Phật là thầy ba cõi,
Tôi ở trong pháp ấy,
Muốn bà hết nghèo đói,
Nên đến đây khất thực,
Nếu bà giảm phần ăn,
Sớt một ít cúng dường,
Mãi mãi sẽ thoát khổ,
Đời sau được giàu sang.
Bà lão nghe kệ xong rất hoan hỉ, liền nhớ lại: ‘Hôm trước có chứa nước gạo hôi, nếu cúng dường, sợ ông ta không uống được’. Do đó, từ trong hang bà thưa rằng:
- Tôi có ít nước gạo hôi, Ngài hãy thương xót nhận cho, được không?
Ca-diếp đáp:
- Tốt lắm.
Bà lão lụm khúm ở trong hang lấy nước gạo. Vì không có mảnh vải che thân, nên không mang nước gạo ra được, bà nép mình, khòm lưng với tay đưa qua tấm phên. Ca-diếp nhận lấy và chú nguyện cho bà được phúc báo an lành. Ca-diếp suy nghĩ: ‘Nếu ta mang nước đến chỗ khác uống, bà ấy sẽ không tin, cho rằng ta đem đổ’. Nghĩ rồi, liền ở trước bà lão uổng hết nước ấy, rửa bát bỏ vào trong đãy. Ngay lúc ấy, bà phát lòng tin chân chính. Ca-diếp tự nghĩ: ‘Ta phải thị hiện thần thông, khiến bà được an ổn’. Nghĩ rồi, Ca-diếp liền bay lên hư không hiện các thứ thần biến. Bà lão thấy như vậy rất vui mừng, chí thành quì xuống, chiêm ngưỡng.
Ngài Ca-diếp nói:
- Nay bà có mong ước điều gì không?
Bà thưa:
- Tôi nguyện nhờ chút phúc này được sinh lên cõi trời.
Bà phát nguyện xong, không còn thấy Ca-diếp đâu nữa. Mấy hôm sau bà qua đời, sinh lên cõi trời Đao-lợi, uy đức vòi vọi chấn động trời đất, ánh sáng đặc biệt khác thường, giống như bảy mặt trời cùng xuất hiện một lần, chiếu khắp thiên cung. Đế Thích kinh sợ nghĩ: ‘Người nào có phúc đức mà chấn động đất trời, hơn ta như thế?’. Đe Thích liền dùng thiên nhãn quán sát biết được do phúc đức của thiên nữ này khiến như thế và cũng biết được từ nơi nào sinh đến đây.
Bấy giờ, thiên nữ tự nghĩ: ‘Ta được phúc báo này là do đời trước cúng dường ngài Ca-diếp. Giả sử ta đem trăm nghìn các thứ trân bảo của cõi trời cúng dường ngài Ca-diếp cũng chưa thể báo đáp một chút ân của ngài’. Thế là thiên nữ dẫn người hầu mang hương hoa cõi trời, từ trên hư không rải cúng dường ngài Ca-diếp, sau đó, hạ xuống cung kính đỉnh lễ, đứng qua một bên chắp tay tán thán:
Trong trăm nghìn cõi nước,
' Phật là đấng chỉ tôn,
Kế đến ngài Ca-dìếp,
Khéo đóng cửa tội lỗi.
Xưa ở cõi Diêm-phù,
Trước hang phân rác bẩn,
Vì bà lão nghèo khổ,
Ngài nói lời chân thật,
Bà lão rất vui mừng,
Dâng lên nước gạo hôi,
Cúng dường như hạt cải,
Mà được phúc như núi,
Thụ sinh làm thiên nữ,
Hưởng phúc báo tự nhiên,
Vì thế con bay xuống,
Kỉnh lễ bậc phúc điền.
Thiên nữ nói kệ rồi, liền trở về thiên cung. Đế Thích suy nghĩ: ‘Người nữ ấy cúng dường nước gạo mà còn được phúc như vậy. Ngài Ca-diếp có tâm thương xót rộng lớn, nhưng chỉ ban phúc cho những người nghèo hèn, không đến nhà giàu sang. Ta phải tìm diệu kế để cầu phúc’. Nghĩ rồi, Đế Thích liền cùng thiên hậu mang thức ăn trăm vị, đựng trong một bình nhỏ, đến thành Vương Xá. Hai vợ chồng Đế Thích dựng một cái chòi nhỏ rách nát bên đường và biến đổi hình dạng thành người già, thân thể gầy ốm, đi đứng lòm khòm, làm nghề đan chiếu, bộ dạng nghèo túng, trong nhà không có lưomg thực. Ca-diếp thấy người nghèo ấy liền đến khất thực.
Ông lão nói:
- Tôi quá nghèo, không có thứ gì cúng dường, biết làm sao?
Ngài Ca-diếp vẫn đứng chú nguyện mãi không đi. Ông lão nói:
- Vợ chồng tôi quá già, làm nghề đan chiếu, không rảnh đi xin thức ăn, chỉ có một ít cơm, định ăn. Nhưng nghe ngài nhân từ đức độ, chỉ đến nhà nghèo khất thực để ban phúc cho họ, nên nay chúng tôi tuy nghèo khó, cũng muốn bớt phần ăn của mình để cúng dường ngài. Nếu đúng như lời đồn, chúng tôi sẽ được phúc.
Đế Thích suy nghĩ: ‘Mùi thơm của thức ăn cõi trời, người thế gian hiếm khi được ngửi. Nếu ta mở sẵn nắp bình, ngài Ca-diếp sẽ biết và chắc chắn không chịu nhận’. Nghĩ rồi Đế Thích nói:
- Thức ăn của tôi không nhiều, xin ngài đem bát đến.
Ca-diếp nhận thức ăn và chú nguyện cho thí chủ. Mùi thơm của cơm ấy lan khắp thành Vương Xá và cả nước. Ca-diếp nghe mùi thơm liền sinh nghi. Ông bà lão hiện lại thân Đế Thích, nhanh chóng bay lên hư không, vui mừng búng tay. Ca-diếp suy nghĩ và biết được Đế Thích hóa làm người nghèo để tạo phúc lành. Ca-diếp suy nghĩ: ‘Nay ta đã nhận thức ăn rồi không nên trả lạỉ’, Ca-diếp tán thán Đế Thích làm phúc không biết mỏi mệt, chịu mang lốt già xấu để gieo phúc, ắt sẽ được phúc báo. Đế Thích và thiên hậu vô cùng vui mừng. Lúc ấy, chư thiên trỗi kĩ nhạc đến nghinh đón. Sau khi về cung, lòng Đế Thích càng hoan hỉ”.
64.6. CẢM ỨNG
Đời Hán, Âm Sinh: Âm Sinh là đứa bé ăn xin sống dưới gầm càu sông Vị tại Trường An. Hằng ngày nó thường vào chợ xin ăn. Có người trong chợ ghét, tưới phân lên người nó thì áo mình lại bị đen dợ, áo nó vẫn như cũ. Quan Trưởng sử biết vậy, thử bắt giam vào ngục, nhưng hôm sau vẫn thấy nó xin ăn ngoài chợ; thử muốn giết, thì nó bỏ đi mất. Người tưới phân lên người nó, bỗng nhiên nhà sập, gia đình chết hơn mười người. Dân gian tại Trường An truyền rằng: “Nếu gặp đứa bé ăn xin mà cho rượu ngon, thì không lo sập nhà”.
Có bài tụng:
Gió nghiệp luồn thổi mạnh
Sóng biển khổ thét gào
Đẩy ta trôi đây đó
Lìa xa thành Niết-bàn
Bao giờ thuyền Từ đến
Chở ta thoát biển này.
Thật do hành bố thí
Chóng lìa cảnh bần cùng
Tội cấu trừ sạch hết
Châu sáng rọi tối tăm
Nhà sang, cảnh rực sáng
Nghiệp nghèo, mãi xa lìa
Chí cầu tám giải thoát
Nguyện bỏ vinh sáu trần
Nếu gặp Từ phụ dạy
Tâm ta mãi an bình.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục