Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 55 - CHƯƠNG PHÁ TÀ

29/11/2015

QUYỂN 55 Quyển này gồm một chương Phá tà. 62. CHƯƠNG PHÁ TÀ 62.1. LỜI DẪN Từng nghe: Tam thừa mở lối, giúp các con thoát nạn nhà lửa; Bát chính dẫn đường, đưa chúng sinh ngộ quả Vô vi. Cho nên, mây từ tuôn mưa, không phâ...

PUCL QUYỂN 55 - CHƯƠNG PHÁ TÀ
Phần 1

QUYỂN 55
Quyển này gồm một chương Phá tà.
62. CHƯƠNG PHÁ TÀ

62.1. LỜI DẪN
Từng nghe: Tam thừa mở lối, giúp các con thoát nạn nhà lửa; Bát chính dẫn đường, đưa chúng sinh ngộ quả Vô vi. Cho nên, mây từ tuôn mưa, không phân biệt ngải hay lan; mặt trời tuệ chiếu soi, nào quan tâm đến non cao hay vực thẳm. Vả lại, lập giáo, bày phép tắc thật cùng tận nhiệm mầu; lí tột cao sâu, dùng thức tình đâu thể lường biết. Dù Nho thuật của Chu Khổng, Tiên đạo của Lão Trang cũng không thể nào so sánh nổi. Vì thế hiền sĩ nhiều đời, vua sáng xưa nay cũng đều tôn sùng, hết lòng kính ngưỡng. Muốn khiến phân biệt rõ ngọc-đá giá trị thấp cao, Kính-Vị đôi dòng trong đục, cho nên hàng phục sáu sư mà chấn chỉnh tám tà, chuyển bốn đảo trở về nhất vị; bẻ gãy thế gian tục nhiễm, hưng khởi đường chính quả nhân, khóa chặt kẻ tà trí khởi vọng tranh, lấp kín hàng dị kiến nói lời dối; thật tâm cầu châu đã mở rộng, vong thức quán tượng đã chính chân. Nếu chẳng phải là bậc đức đồng chân tế, thể hợp vô vi thì đâu thể khế hội huyền môn, chứng đắc Nhất thật?
62.2 DẪN CHỨNG
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Trong thành Xá-vệ có trưởng giả A-na-bân-để giàu có, của cải vô lượng. Lúc ấy trong thành Mãn Phú có trưởng giả Mãn Tài cũng rất giàu, là bạn thời niên thiếu của A-na-bân-để, họ kính mến và đối xử với nhau rất tốt. Trưởng giả A-na-bân-để thường xuyên có mấy nghìn vạn lô hàng hóa trân quý đang giao dịch trong thành Mãn Phú, nhờ trưởng giả Mãn Tài quản lý, kinh doanh. Trưởng giả Mãn Tài cũng có mấy nghìn vạn lô hàng hóa trân quý đang giao dịch tại thành Xá-vệ và cũng đã nhờ trưởng giả A-na-bân-để quản lý, kinh doanh.
Trưởng giả A-na-bân-để có người con gái tên là Tu-ma-đề, dung nhan xinh đẹp như hoa đào, hiếm có trên đời. Trưởng giả Mãn Tài thấy Tu-ma-đề xinh đẹp như hoa đào hiếm có trên đời, bèn hỏi trưởng giả A-na-bân-để:
- Đây là con gái nhà ai?
- Là con đẻ của tôi.
- Tôi có đứa con trai chưa định hôn ước, có thể cho làm dâu nhà tôi được không?_Mãn Tài hỏi.
Trưởng giả A-na-bân-để liền đáp:
- Việc này không được!
- Vì sao không được? Vi giòng họ hay vì của cải?_Mãn Tài lại hỏi.
Trưởng giả A-na-bân-để đáp:
- Giòng họ, của cải đều tương xứng. Nhưng ông thờ phụng thần linh không hợp với tôi. Con gái tôi thờ Phật, còn các ông thờ ngoại đạo. Vì vậy cho nên không đáp ứng ý ông được.
Trưởng giả Mãn Tài nói:
- Việc thờ phụng của ai thì người ấy tự lo liệu và cúng dường.
Trưởng giả A-na-bân-để nói:
- Nếu con gái tôi gả cho nhà ông, ông phải chi rất nhiều tiền của.
Trưởng giả Mãn Tài hỏi?
- Ông cần bao nhiêu?
Trưởng giả A-na-bân-để đáp:
- Tôi cần sáu vạn lượng vàng.
Trưởng giả Mãn Tài liền trao ngay cho sáu vạn lượng vàng. Trưởng giả A-na bân-để nghĩ thầm: “Ta đã tìm mọi cách từ chối, nhưng vẫn không thể khiến ông ấy từ bỏ ý định”. Ông lại nói:
- Nêu gả con gái, tôi phải đi hỏi Đức Phật, như Ngài có dạy bảo điều gì, tôi sẽ làm theo.
Bấy giờ, trưởng giả A-na-bân-để đến chỗ Thế Tôn. Đến nơi, ông đỉnh lễ nơi chân Phật, rồi đứng qua một bên và bạch:
- Trưởng giả Mãn Tài trong thành Mãn Phú muốn cưới Tu-ma-đề cho con trai của mình. Con có nên chấp thuận không?
Thế Tôn bảo:
- Nếu con gái Tu-ma-đề sang nước ấy, sẽ đem lại rất nhiều lợi ích, độ thoát vô lượng nhân dân.
Nghe Đức Phật dạy xong, ông đỉnh lễ chân Phật, rồi trở về. Đên nhà, ông sai bày biện các loại đồ ăn thức uống ngon ngọt thiết đãi trưởng giả Mãn Tài.
Trưởng giả Mãn Tài nói:
- Tôi không muốn ăn! Chỉ cần ông gả con gái ông cho con trai tôi thôi! Được chăng?
- Đã muốn vậy, tôi thuận theo ý ông. Mười lăm ngày sau bảo con trai ông đến đây._ Nói xong, ông liền cáo lui.
Thế là, trưởng giả Mãn Tài bày biện đầy đủ những phẩm vật cần thiết, đi xe lông chim một đoạn khoảng tám mươi do-tuần. Trưởng giả A-na-bân-để lại trang điểm cho con gái mình, tắm gội, xông hương, đánh xe lông chim đưa con gái đi đón con trai trưởng giả Mãn Tài. Giữa đường họ gặp nhau. Khi trưởng giả Mãn Tài nhận được dâu, ông liền đưa về thành Mãn Phú.
Bấy giờ, nhân dân trong thành Mãn Phú ban một đạo luật: ‘Trong thành này, nếu ai gả con gái cho người nước khác, hoặc cưới con gái nước khác đem về thì sẽ chịu phạt nặng. Ai phạm luật thì phải đãi Cơm cho sáu nghìn Phạm chí’. Do nhân dân trong nước ấy tôn thờ sáu nghìn Phạm chí’.
Trưởng giả Mãn Tài biết mình đã phạm luật, nên đãi cơm cho sáu nghìn Phạm chí. Nhưng các Phạm chí đều dùng thịt heo và rượu nặng, y phục thì bằng giạ trắng, hoặc bằng lông thú, khi vào nhà thì phải vắt y lên vai phải, để lộ nửa thân.
Bấy giờ các Phạm chí thông báo:
- Đã đến giờ, tất cả hãy vào nhà trưởng giả!
Trưởng giả thấy các bà-la-môn đến, ông đi bằng hai đầu gối đến đón, và cung kính hành lễ. Phạm chí lớn nhất đưa tay khen tốt, ôm cổ trưởng giả, rồi đến chỗ ngồi. Các Phạm chí khác tùy theo thứ lớp mà ngồi.
Sau khi sáu nghìn bà-la-môn đã định chỗ ngồi xong, trưởng giả bảo Tu-ma-đề:
- Con hãy sửa soạn ra làm lễ thầy chúng ta.
Tu-ma-đề thưa:
- Thôi thôi! Thưa cha! Con không thể thi lễ những người khỏa thân được.
Trưởng giả nói:
- Đây không phải là những vị khỏa thân không biết xấu hổ. Nhưng những y phục họ đang mặc là pháp phục”.
Tu-ma-đề thưa:
- Đây là những người không biết hổ thẹn, tất cả đều để lộ thân hình ra bên ngoài. Có đắp pháp phục gì đâu. Thế Tồn cũng nói người đời có hai điều đáng quí là tàm và quý. Nếu không có hai việc này, thì sẽ không phân biệt người trên, kẻ dưới, đồng với loài chó, heo... Thật tình con không thể làm lễ họ được!
Chồng Tu-ma-đề bảo vợ:
- Nay cô hãy đứng lên làm lễ thầy ta. Những vị này đều là trời mà tôi tôn thờ.
Tu-ma-đề đáp:
- Hãy thôi đi công tử! Tôi không thể làm lễ những người lõa hình, không biết hổ thẹn này. Công tử bảo tôi lễ lừa, lễ chó sao?
Người chồng lại nói:
- Hãy giữ miệng, chớ xúc phạm. Họ cũng chẳng phải lừa, lại chẳng phải chó, những thứ họ đang mặc chính là pháp y.
Bấy giờ, Tu-ma-đề rơi lệ khóc lóc, dung nhan biến đổi, và nói:
- Thà chết, chứ tôi nhất định không rơi vào tà kiến này!
Phần 2

Lúc đó, sáu nghìn Phạm chí, đồng lớn tiếng nói:
- Thôi, thôi, Trưởng giả! Có gì khiến con tiện tì này mắng chửi như vậy?_Các Phạm chí dùng chút ít, rồi đứng lên ra về.
Khi ấy, trưởng giả Mãn Tài một mình ngồi trên lầu cao, phiền oán sầu hận, ông suy nghĩ: ‘Nay ta đem cô gái này để phá nhà, làm nhục gia phong ta’ , Lúc đó có vị Phạm chí tên Tu-bạt, đã đạt ngũ thông và đắc tứ thiền đến nhà trưởng giả và thẳng lên lầu cao gặp trưởng giả Mãn Tài. Phạm chí Tu-đạt hỏi:
- Sao ông buồn đến như vậy?
Trưởng giả đáp:
- Hôm qua, tôi cưới vợ cho con trai. Ông thuật
lại đầy đủ mọi việc.
Bà-la-môn Tu-bạt nói:
- Cưới hỏi gần xa, nhà cô này ở nước nào?
Trưởng giả đáp:
- Cô này là con gái của trưởng giả A-na-bân-để trong thành Xá-vệ.
Khi Tu-bạt nghe những lời này vô cùng ngạc nhiên nói rằng:
- Thầy mà cô này phụng thờ là người Phạm hạnh. Đến hôm nay mà cô ấy không tự tử, vẫn còn sống thì thật là chuyện kì lạ!
Trưởng giả nói:
- Ngài là dị học ngoại đạo, tại sao khen ngợi sa-môn họ Thích? Thầy của cô này phụng thờ có oai đức gì? Có thần biến gì?
- Trưởng giả! Nếu muốn nghe thần đức của thầy cô này thì tôi sẽ kể sơ lược: Thầy cô này phụng thờ có người đệ tử nhỏ nhất là sa-di Quân-đầu. Sa-di này bay đến suối A-nậu-đạt để giặt y dơ. Khi ấy, đại thần A-nậu-đạt, trời, rồng, quỷ thần, đều đứng dậy tiến lên cung kính nghinh đón thăm hỏi: ‘Vui mừng vì ngài đã đến, bậc thầy của loài người! Ngài có thể ngồi đây. Sau đo lại thụ thực, thụ thực xong, sa-di rửa bát rồi ngồi kết già ở trên án bằng vàng, chính thân chính ý, theo thứ tự nhập Cửu thứ đệ định. Lúc ấy, trời, rồng, quỷ thần giúp giặt y và phơi khô. Sau khi thu xếp y xong, sa-di kia liền bay lên không trung, trở về chỗ ở.
Trưởng giả nên biết, đệ tử nhỏ nhất còn có thần lực này, huống chi là những vị đại đệ tử, ai có thể sánh bằng? Rồi thầy của họ là Như Lai Chí chân, Chính đẳng Chính giác, ai có thể sánh kịp?
Nghe xong, trưởng giả nói với Phạm chí:
- Chúng tôi có thể gặp được thầy của cô ta phụng thờ chăng?
- Có thể hỏi lại cô ấy!
Trưởng giả liền hỏi Tu-ma-đề:
- Nay ta muốn được gặp vị thầy mà con phụng thờ. Con có thể thỉnh về đây được không?
Nghe trưởng giả hỏi, cô vô cùng vui mừng, liền nói:
- Xin đúng thời chuẩn bị đầy đủ thức ăn uống. Ngày mai, Như Lai sẽ đến đây cùng với các tì-kheo tăng.
Trưởng giả bảo:
- Nay con tự thỉnh, ta không biết cách!
Thế là Tu-ma-đạt tắm gội thân thể, tay bưng lò hương lên trên lầu cao, chắp tay hướng về Như Lai bạch:
- Bạch Thế Tôn, đấng Vô năng kiến đỉnh ! Xin Ngài quán sát kĩ nơi này. Thế Tôn xét biết tường tận mọi việc. Nay con đang ở chỗ nguy khốn này, cúi xin Thế Tôn quán xét kĩ!”
Rồi cô nói kệ ca ngợi:
Biến hỏa không thể lường,
Đều đưa vào chính đạo.
Nay con gặp nguy ách
Cúi xin Phật xót thương.
Bấy giờ hương như mây,
Lơ lững giữa hư không,
Lan tỏa khắp Kỳ-hoàn,
Dừng ở trước Như Lai.
Đế Thích giữa hư không
Lòng vui mừng đỉnh lễ.
Lại thấy hương trước mặt,
Tu-ma-đề thỉnh cầu.
Mưa xuống nhiều loại hoa,
Không làm sao kể hết.
Đầy khắp rừng Kỳ-hoàn,
Như Lai cười phóng quang.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các tỳ-kheo thần túc: Đại Mục-kiền-liên, Đại Ca-diếp, A-na-luật, cho đến sa-di Quân-đầu:
- Các ông dùng thần túc đến thành kia trước.
Các Tỳ-kheo đồng đáp:
- Kính vâng, bạch Thế Tôn!
Lúc ấy, người giúp việc của tăng tên là Càn-trà, sáng sớm hôm sau thân vác chõ lớn bay trên không trung, bay quanh thành ấy ba vòng rồi đến nhà trưởng giả. Bây giờ trưởng giả Mãn Túc cùng dân chúng lên lầu cao muốn xem Thế Tôn, từ xa nhìn thấy người giúp việc chúng tăng vác chõ đến. Cũng lúc đó sa-di Quân-đầu hóa ra năm trăm cây hoa, thảy đều nở rộ, màu săc rất đẹp. Tôn giả Bàn-đặc hóa ra năm trăm con bò lông xanh, rồi ngồi kết già trên lưng bò mà đến thành kia.
La-hầu-la hóa ra năm trăm chim khổng tước đủ các loại màu sắc, rồi ngồi kết già ở trên lưng chim bay đến thành kia.
Tôn giả Ca-thất-na hóa ra năm trăm chim cánh vàng cực kỳ dũng mãnh, rồi ngồi kiết già trên lưng nó bay đến thành kia.
Ưu-tỳ Ca-diếp hóa ra năm trăm con rồng, thảy đều có bảy đầu, rồi ngồi kết già ở trên đó bay đến thành kia.
Tôn giả Tu-bồ-đề hóa ra núi lưu ly, rồi ngồi kết già trong núi ấy di chuyển đến thành kia.
Tôn giả Đại Ca-chiên-diên lại hóa ra năm trăm con thiên nga màu trắng mà cưỡi đến thành kia.
Tôn giả Ly-việt cũng hóa ra năm trăm con hổ, rồi ngồi trên lưng nó mà đến thành kia. Tôn giả A-na-luật hóa ra năm trăm sư tử rất dõng mãnh, ngồi ở trên lưng mà đến thành kia.
Tôn giả Đại Ca-diếp hóa làm năm trăm tuấn mã, lông đuôi đều đỏ, được trang sức vàng bạc rồi ngồi ở trên lưng chúng phi đến thành kia.
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên hóa ra năm trăm voi trắng sáu ngà, trang sức vàng bạc, bảy chỗ bằng phẳng rồi ngồi trên lưng chúng mà đến thành kia.
Tất cả đều hiện thần biến như thế, nhiễu quanh thành ba vòng rồi đến nhà trưởng giả.
Thế Tôn biết đã đến giờ, Ngài đắp tăng-già-lê, bay trên hư không cách đất bảy nhẫn. Bên phải Như Lai là tôn giả A-nhã Câu-lân, bên trái là tôn giả Xá-lợi-phất, tôn giả A-nan cầm phất trần đi phía sau. Một nghìn hai trăm đệ tử vây quanh trước sau Như Lai. Các vị trời như Đế Thích... đều trụ trong hư không, hiện các thứ thần biến, xướng lên nghìn vạn loại âm nhạc và tuôn các thứ hoa trời lên Như Lai.
Bấy giờ vua quan và nhân dân trong thành Xá-vệ thấy Như Lai ở giữa hư không cách mặt đất bày nhẫn, tất cả vui mừng, không tự chế được. Trưởng giả Mãn Tài từ xa cũng nhìn thấy Thế Tôn phóng ánh sáng rực rỡ như núi vàng ròng, liền dùng kệ hỏi Tu-ma-đề, Tu-ma-đề cũng dùng kệ đáp. Khi ấy, sáu nghìn Phạm chí thấy Thế Tôn hiện thần biến như thế, liền bảo nhau:

Phần 3

- Chúng ta nên rời nước này dời đến nước khác. Sa-môn Cù-đàm đã hàng phục nhân dân nước này.
Sáu nghìn bà-la-môn lúc đó liền rời khỏi nước, không trở lại nữa. Giống như sư tử ra khỏi hang, nhìn quanh, rồi rống lên ba tiếng mới đi tìm mồi. Các loài thú nghe được đều tìm đường bỏ chạy, các loài chim thì bay tìm chỗ ẩn núp. Ở đây cũng vậy, sáu nghìn Phạm chí kia nghe tiếng Thế Tôn, thảy đều bỏ chạy, không tự an định được. Vì sao vậy? Vì Như Lai có oai lực lớn.
Bấy giờ, Thế Tôn xả thần tức, đi bình thường vào trong thành Mãn Phú. Khi chân Thế Tôn vừa đạp lên ngưỡng cửa, thì trời đất chấn động mạnh. Các thiên thần rải hoa cúng dường. Thế Tôn đến nhà trưởng giả, ngồi vào tòa. Thế Tôn lần lượt nói cho trưởng giả và tám vạn bốn nghìn nhân dân kia nghe về giới, luận về thí, luận về sinh thiên, quở trách dục bất tịnh, xuất gia là việc cần thiết, Nghe Đức Phật dạy, mọi người ngay trên chỗ ngồi mà sạch hết các trần cấu, được Pháp nhãn tịnh; thảy đều quy y Tam bảo, thụ trì ngũ giới.
Các tỳ-kheo bạch Phật:
- Tu-ma-đề vốn đã tạo nhân duyên gì mà sinh trong nhà phú quỳ? Lại tạo nhân duyên gì mà rơi vào nhà tà kiến này? Lại tạo công đức lành nào, nay được pháp nhãn thanh tịnh? Lại tạo công đức nào khiến tám vạn bốn nghìn người đều được pháp nhãn thanh tịnh?
Đức Phật dạy:
- Vào Hiền kiếp, có Phật Ca-diếp, Minh Hạnh Tức, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Ngài cùng chúng hai vạn đại tì-kheo du hóa tại nước Ba-la-nại.
Bấy giờ, vua tên Ai Mần có con gái tên Tu-ma-na, cung kính phụng sự Như Lai Ca-diếp. Cô vâng giữ giới cấm, thường thích bố thí, cúng dường và thực hành bốn việc: bố thí, ái kính, lợi người, đồng lợi. Ở trên lầu cao, cô lớn tiếng tụng Pháp cú và phát nguyện: ‘Con hằng có pháp bốn nhiếp thụ này; lại ở trước Như Lai mà tụng Pháp cú. Trong đó nếu có chút phúc nào, cầu cho con sinh vào chỗ nào cũng không rơi vào ba đường dữ, cũng không rơi vào nhà nghèo; đời vị lai cũng sẽ lại gặp bậc tối tôn như vậy, chẳng chuyển đổi thân nữ mà được Pháp nhãn tịnh’.
Nhân dân trong thành nghe vương nữ Tu-ma-na phát nguyện, thì đều tùy hỉ. Vua Ai Mần nay là trưởng giả Tu-đạt, vương nữ tức Tu-ma-đề, nhân dân trong thành nay là tám vạn bốn nghìn người. Do thệ nguyện xưa cho nên hôm nay gặp Ta, nghe pháp, chứng Pháp nhãn tịnh”.
Luận Đại trí độ ghi: “Cậu của Xá-lợi-phất tên là Đại Câu-hy-la luận nghị không bằng chị là Xá-lợi. Đại Câu-hy-la suy nghĩ: ‘Đây không phải sức của chị ta, chắc là bậc trí trong bào thai gởi lời nơi miệng mẹ. Người này chưa sinh mà đã vậy, lớn lên sẽ thế nào?’. Suy nghĩ xong, ông sinh tâm kiêu mạn; vì muốn học rộng cac thứ luận nghị nên xuất gia làm Phạm chí, đến nước Nam Thiên Trúc, học kinh thơ. Mọi người hỏi: ‘Chí ông muốn cầu gì, học tập kinh gì?’. Đại Câu-hy-la đáp: ‘Ta muốn đọc hết mười tám loại kinh lớn’. Mọi người nói: ‘Trọn đời ông còn không hiểu một loại, huống chi hiểu hết?’.
Đại Câu-hy-la suy nghĩ: ‘Trước kia vì kiêu mạn nên thua chị, nay lại bị các người này khinh nhục’. Vì hai chuyện này, nên ta thề: ‘Từ nay ta không cắt móng tay, cần phải đọc hêt mười tám loại kinh lớn’. Do thấy móng tay dài, nên mọi người gọi ông là Phạm chí Trường Trảo, ông dùng nghĩa lí trong các kinh sách, để bàn thị nói phi, phá luận nghị của người khác. Ví như voi cuồng, sức mạnh, dày xéo khắp nơi, không ai chế ngự được.
Sau khi Phạm chí Trường Trảo dẹp phá các luận sư xong, trở về nơi sinh quán là thôn Na-la trong thành Vương Xá nước Ma-già-đà, hỏi mọi người: ‘Đứa con của chị tôi sinh ra nay ở đâu?’. Có người trả lời: ‘Con của chị ông sinh ra, vừa mới tám tuổi đã học hết các loại kinh sách, đến mười sáu tuổi thì luận nghị thắng hết cả mọi người. Nhưng sau theo làm đệ tử của đạo nhân dòng Thích, họ Cù-đàm’. Trường Trảo nghe thế liền khởi kiêu mạn, không tin và nói: ‘Đứa con của chị ta thông minh như thế, ông kia dùng thuật gì để dối gạt, khiến nó cạo tóc làm đệ tử?’. Nói xong, ông ta đi ngay đến chỗ Phật.
Người này chưa sinh mà đã vậy, lớn lên sẽ thế nào?’. Suy nghĩ xong, ông sinh tâm kiêu mạn; vì muốn học rộng cac thứ luận nghị nên xuất gia làm Phạm chí, đến nước Nam Thiên Trúc, học kinh thơ. Mọi người hỏi: ‘Chí ông muốn cầu gì, học tập kinh gì?’. Đại Câu-hy-la đáp: ‘Ta muốn đọc hết mười tám loại kinh lớn’. Mọi người nói: ‘Trọn đời ông còn không hiểu một loại, huống chi hiểu hết?’.
Đại Câu-hy-la suy nghĩ: ‘Trước kia vì kiêu mạn nên thua chị, nay lại bị các người này khinh nhục’. Vì hai chuyện này, nên ta thề: ‘Từ nay ta không cắt móng tay, cần phải đọc hêt mười tám loại kinh lớn’. Do thấy móng tay dài, nên mọi người gọi ông là Phạm chí Trường Trảo, ông dùng nghĩa lí trong các kinh sách, để bàn thị nói phi, phá luận nghị của người khác. Ví như voi cuồng, sức mạnh, dày xéo khắp nơi, không ai chế ngự được.
Sau khi Phạm chí Trường Trảo dẹp phá các luận sư xong, trở về nơi sinh quán là thôn Na-la trong thành Vương Xá nước Ma-già-đà, hỏi mọi người: ‘Đứa con của chị tôi sinh ra nay ở đâu?’. Có người trả lời: ‘Con của chị ông sinh ra, vừa mới tám tuổi đã học hết các loại kinh sách, đến mười sáu tuổi thì luận nghị thắng hết cả mọi người. Nhưng sau theo làm đệ tử của đạo nhân dòng Thích, họ Cù-đàm’. Trường Trảo nghe thế liền khởi kiêu mạn, không tin và nói: ‘Đứa con của chị ta thông minh như thế, ông kia dùng thuật gì để dối gạt, khiến nó cạo tóc làm đệ tử?’. Nói xong, ông ta đi ngay đến chỗ Phật. nhiều người biết. Cửa thua thứ hai tế nhị hơn, vì nói đều không thụ nhận thì ít người biết’. Trường Trảo suy nghĩ như thế rồi đáp:
- Cù Đàm! Ta không thụ nhận tất cả pháp, ngay cả kiến chấp này, cũng không thụ nhận.
Phật bảo:
- Phạm chí, ông không thụ nhận hết thảy pháp, kiến chấp ấy cũng không thụ nhận. Đã không thụ nhận thì khác gì với mọi người, đâu cần phải tự cao sinh kiêu mạn như vậy?
Trường Trảo không thể đáp được, tự biết mình đã thua, liền sinh khởi tín tâm, kính tin trí Phật và suy nghĩ: ‘Ta bị thua mà Thế Tôn không nêu chỗ thua của ta, không nói đúng sai, không để ý. Tâm Phật nhu hòa, thanh tịnh bậc nhất. Tất cả ngôn ngữ luận nghị đã dứt, được pháp vô cùng sâu xa, thật đáng cung kính, không ai hơn Phật’.
Sau đó Đức Phật thuyết pháp đoạn trừ tà kiến cho ông, giúp ông ngay tại chỗ ngồi xa lìa trần cấu, được Pháp nhãn tịnh. Bấy giờ Xá-lợi-phất đứng bên nghe Phật dạy liền chứng quả A-la-hán. Phạm chí cũng xin xuất gia làm sa-môn và cũng đắc A-la-hán”.
Kinh Phật thuyết Nhũ Quang Phật ghi:
Một hôm Như Lai bị bệnh trúng gió nhẹ, cần uống sữa bò. Lúc ấy trong thành Duy-da-li có một vị Phạm chí tên Ma-da-lợi là thầy của năm trăm đệ tử, rất được vua, quan và nhân dân trong nước tôn kính. Ông rất giàu, nhưng tham lam, bỏn xẻn, không tin kính Phật pháp, chỉ học theo ngoại đạo. Hôm ấy Đức Phật bảo A-nan :
- Ông hãy đến nhà Phạm chí ấy nêu tên Như Lai mà xin sữa bò mang về !_A-nan vâng lời Phật, đắp y, ôm bát đến đứng trước cửa nhà của Phạm chí Ma-da-lợi. Gặp lúc Phạm chí cùng với năm trăm đệ tử chuẩn bị vào cung diện kiến nhà vua. Vừa ra khỏi cửa, thấy A-nan đã đứng đó, ông liền hỏi:
- Mới sáng sớm ông đến đây làm gì?
- Phật Thế Tôn không được khỏe, sai tôi đến ông xin sữa._Ma-da-lợi im lặng suy nghĩ: ‘Nếu ta không cho thì nói ta bỏn xẻn, nếu ta cho thì các Phạm chí kia sẽ nói ta phụng sự đạo của Cù-đàm, thế nào cũng không hợp. Tuy vậy ta nên giao cho A-nan tự vắt sữa một con bò hung dữ, để nó húc chết, hầu hạ nhục đạo của Cù-đàm, khiến mọi người bỏ rơi, bấy giờ ta lại được tôn kính. Nếu chẳng lấy được sữa, cũng chẳng phải do ta bỏn xẻn’. Mưu tính xong, Phạm chí nói với A-nan:
- Ta đã cho thả đàn bò đi ăn trong rừng kia từ sáng sớm, ông có thể đến đó tự vát lấy sữa._Phạm chí lại bảo con trai của mình: ‘Con đưa ngài A-nan đến chỗ con bò ấy. Nhưng con chớ có vắt sữa, để A-na tự làm!’.
Năm trăm đệ tử nghe thế, trong lòng vô cùng vui mừng. Lúc ấy cư sĩ Duy-ma-cật đang trên đường đến chỗ Phật, vừa đi ngang qua nhà Phạm chí thì thấy A-nan, cư sĩ liền hỏi:
- Mới sáng sớm mà ngài ôm bát đứng đây xin gì thế?
- Thân Như Lai vừa bị chút bệnh gió, cần sữa bò, nên sai tôi đến đây xin.
- Ngài chẳng nên nói thế! Như Lai là bậc Chính Giác, thân Ngài như kim cang, đã đoạn sạch các nghiệp ác, chỉ còn các nghiệp thiện thì có bệnh gì? Ngài cứ im lặng mà đi, chớ bắt chước ngoại đạo mà phỉ báng Như Lai; chớ để các Bồ-tát, A-la-hán trong mười phương, cùng chư thiên, long thần nghe được lời này. Chuyển luân thánh vương còn được tự tại, huống gì Như Lai!’. A-nan! Chớ xấu hổ mà xin sữa, hãy đi nhanh, chớ có nói nhiều!

Phần 4

A-nan nghe những lời này thì vô cùng kinh sợ và hổ thẹn; lại nghe trên hư không có tiếng nói vọng xuống: ‘A-nan! Đúng như lời trưởng giả đã nói. Nhưng vì Như Lai thị hiện vào thế gian độ thoát tất cả chúng sinh ba độc, nên ông hãy đến lấy sữa đi! Tuy vừa rồi cư sĩ Duy-ma-cật nói như thế, nhưng ông chớ nên hổ thẹn’.
Năm trăm Phạm chí nghe trên hư không có tiếng nói như thế, không còn nghi ngờ gì, lòng vô cùng vui mừng, tất cả đều phát tâm Vô thượng chính chân. Bấy giờ thân thuộc nội ngoại của Phạm chí và mấy nghìn người thành đều theo A-nan đến xem bò dữ. A-nan đứng một bên bò suy nghĩ: ‘Theo phép tắc của thầy mà ta đang phụng thờ, không được tự tay văt sữa’. Vừa nghĩ như thế, trời Đế Thích từ cõi Đao-lợi hiện xuống, hóa làm Phạm chí tuổi trẻ đến đứng bên bò dữ. A-nan thấy Phạm chí này, lòng rất mừng rỡ, liền nói:
- Phạm chí tuổi trẻ! Nhờ anh vắt sữa giúp tôi!
Đế Thích đáp:
- Tôi không phải Phạm chí mà là Đế Thích, nghe nói Như Lai cần dùng sữa bò, cho nên tôi đến giúp!
A-nan nói:
- Địa vị Đế Thích rất tôn quí, đâu thể gần loài trâu bò tanh hôi này chứ!
- Ta tuy tôn quí, nhưng đâu bằng Như Lai đã cùng cực tôn quí, mà vẫn luôn kiến tạo công đức, không biết nhàm chán. Một vị trời nhỏ như ta thì có sá chi! Đế Thích đáp
A-nan nghe vậy, liền bảo:
- Xin ngài vắt sữa giúp ta, chỉ mong kịp giờ.
Vâng!_ Đế Thích đáp.
Thế là Đế Thích cầm bát đến bên bò, bò đứng im không dám cử động. Những người đến xem đều kinh ngạc. Bấy giờ Đế Thích nói kệ
Như Lai hiện chút bệnh
Ngươi cho ta lấy sữa
Phật uống vào lành bệnh
Ngươi được phúc vô lượng
Như Lai thầy trời người
Dù côn trùng bẻ nhỏ.
Bò mẹ cũng đáp lời Đế Thích
Tay này chạm người ta
Sao mà khoái đến thế
Lấy sữa hai vú trước
Chừa lại những vú sau
Dành cho con của ta
Vì từ sáng chưa bú
Dù biết phúc rất nhiều
Nhưng cũng nên bình đẳng.
Bê con nghe mẹ nói như thế, cũng vội cất tiếng:
Con từ vô số kiếp
Nay mới nghe tiếng Phật
Hãy mang hết phần con
Kính dâng lên Như Lai.
Thế Tôn, thầy muôn loại
Khó gặp lần thứ hai
Con ăn cỏ, uống nước
Cũng no lòng hôm nay.
Nhưng lúc làm thân người
Đã uống sữa rất nhiều
Ngày nay làm súc sinh
Cũng uống không tính kể.
Trên cõi đời hôm nay
Kẻ ngu nhiều không xiết
Chẳng biết cúng dường Phật
Đọa rồi hối ích gì?
Đời trước con làm người
Xan tham lại hung ác
Thân gần những bạn ác
Không tin kinh giới Phật
Nên đọa làm trâu ngựa
Trong suốt mười sáu kiếp
Nay mới được gặp Phật
Như bệnh được thuốc hay
Dùng phần sữa của con
Sang đầy bát tôn giả
Xin con được trí tuệ
Đắc đạo giống như Phật.
Thế là Đế Thích lấy sữa đầy bát trao cho A-nan. A-nan vô cùng vui mừng. Lúc ấy Phạm chí từ triều trở về, nghe hai bò nói kệ, ông vô cùng kinh ngạc, suy nghĩ: ‘Con bò này vô cùng hung dữ, không ai có thể đến gần, hôm nay sao lại hiền lành như thế!’. Ông tưởng A-nan cảm hóa, mới nghĩ: ‘Đệ tử Cù-đàm mà còn giỏi như thế, huống gì sức uy thần biến hóa của Phật! Sao ta lại không tin giáo pháp ấy!’. Thế là Phạm chí cùng với hơn một vạn nam nữ đều vô cùng vui mừng, xa lìa trần cấu, chứng Pháp nhãn tịnh trước cửa nhà của một Phạm chí, cả đoàn đều dừng lại, Đức Phật phóng ánh sáng chiếu soi khắp mười phương. Bấy giờ vợ của Phạm chí đang nấu cơm, thấy ánh sáng ấy chiếu đến thân, thân liền được an ổn, tâm vô cùng hoan hỉ. Bà quay lại, thấy Đức Phật với dung mạo đoan chính, đầy đủ tướng quí vẻ đẹp, lại càng bội phần mừng vui. Bà suy nghĩ: ‘Hôm nay ta thấy được Phật và chúng tăng, thật hợp với ước nguyện xưa’. Bà muốn dâng thức ăn cúng dường đấng Chính Giác| nhưng ngầm quan sát biết chồng không trọng đạo đức, trong tâm chất chứa những tà kiến, nghi ngờ. Nếu thấy ta cúng dường ắt sẽ sân hận. Việc không theo ý mình, biết làm sao bây giờ! Bà liền chắt lấy một chén nước cơm dâng lên Đức Phật. Đức Phật dùng sức uy thần biến thức ăn trong bát tự nhiên đủ trăm vị. Đức Phật thụ nhận thức ăn và thuyết kệ:
Dù dùng trăm ngựa tốt
Yên cương dát vàng bạc
Bố thí hết cho người
Không bằng chén nước cơm.
Dù dùng xe bảy báu
Chất đầy cả bảo châu
Phúc không bằng cúng Phật
Chỉ một chén nước cơm.
Nếu thí trăm voi trắng
Trang sức chuỗi ngọc báu
Phúc đức này không bằng
Dâng Phật chén nước cơm.
Như Chuyển luân thánh vương
Dâng Phổ Hiền ngọc nữ
Xinh đẹp không ai bằng

Phần 5

Chuỗi bảy báu nghiêm thân
Cùng hàng trăm vật báu
Cho những người đến xin
Phúc không bằng cúng Phật
Chỉ một chén nước cơm.
Phạm chí Tịnh Trụ nghe Đức Phật ca ngợi như thế, lòng vô cùng hoài nghi, nên đến hỏi:
- Một chén nước cơm có đáng giá gì, sao ông ca ngợi: Dù cúng nhiều châu báu cũng không bằng thí một chén nựớc cơm? Chén nước cơm này không đáng một đồng, sao ông lại hô lên cả vạn ức lần? Ai tin được lời này!_Trưởng giả nói.
Bấy giờ Thế Tôn liền thè lưỡi trùm cả mặt, phủ đến cõi Phạm thiên, rồi hỏi Phạm chí:
- Từ vô số kiếp đến nay, Ta luôn nói chân thật nên mới được lưỡi như thế này, há do dối gạt mà được sao? Ta muốn hỏi, ông nên chân thật mà trả lời. Ông thường qua lại giữa Xá-vệ và La-duyệt, có thấy cây Ni-câu-loại cao lớn, cành lá che mát cho năm trăm cỗ xe chăng?
- Chỉ bằng hạt cải.
- Ông đúng là kẻ lưỡng thiệt, hạt chỉ bàng hạt cải, sao cây cao lớn như thế!
- Đúng như vậy, tôi đâu dám nói dối!
- Hạt của nó chỉ bằng hạt cải, nhưng cây lại cao lớn như thế là do mặt đất nuôi dưỡng. Đất nuôi dưỡng không bỏ một loại nào, nên khả năng che mát càng rộng lớn; huống gì Như Lai là bậc Vô thượng chính giác, có vô lượng phúc, hơn cả mọi loài? Như Lai đại từ, thưomg xót cứu giúp tất cả, nên cúng dường thức ăn cho Ngài thì được phúc không thể tính được.
Phạm chí nghe vậy thì im lặng. Đức Phật lại bảo A-nan:
- Người phụ nữ này sau khi mạng chung sẽ chuyển thành nam, sinh lên cõi trời, sau đó lại sinh vào cõi người, thông đạt diệu pháp, mười ba kiếp sau đó sẽ thành Phật hiệu là Tâm Minh Như Lai.
Phạm chí nghe Như Lai nói, tâm ý điều phục, chí thành đỉnh lễ, răn tâm tự trách, qui y Phật, cầu xin Phật ban ân, xót thương thâu nhận làm đệ tử xuất gia. Đức Phật chấp nhận cho Phạm chí làm sa-môn, rồi Ngài giảng pháp Tứ đế, Phạm chí nghe xong, tâm ý tỏ ngộ, phiền não dứt trừ”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Có mười tiên nhân ngoại đạo muốn cùng Đức Phật thi thố thần thông. Vuá A-xà-thế bảo các ngoại đạo:
- Các vị muốn dùng móng tay để nắm núi Tu-di, dùng răng cắn kim cương sao? Này các vị! Thí như người ngu khi thấy chúa sư tử đói đang ngủ mà muốn đánh thức; như người đưa ngón tay vào miệng rắn độc; lại giống như con muỗi mà muốn thi bay nhanh với chim cánh vàng; như thỏ qua sông mà muốn đạp đến tận đáy; các vị cũng như vậy. Nay các vị có suy nghĩ này cũng giống như thiêu thân lao đầu vào lửa. Các vị hãy nghe lời ta mà bỏ ý định này đi!”.
Luận Đại trang nghiêm ghi: “Bấy giờ Kiều-thi-ca nói cho các ngoại đạo nghe bài kệ:
Hành động của ngoại đạo
Hoàn toàn không chân thật
Giống như trẻ con đùa
Đắp đất làm thành quách
Gặp voi cuồng dẵm đạp
Tan nát không còn gì
Phật phả luận ngoại đạo
Cũng giống việc như vậy.
Kinh Bách dụ ghi:
- Thuở xưa, có người ngu chuyên nấu mật đường. Một hôm„ có người giàu đến nhà, anh ta liền lấy mật đặt trên bếp lửa, rồi muốn cho mau nguội anh ta bèn dùng quạt để quạt. Thấy vậy người hàng xóm nói:
- Anh không tắt lửa, dù quạt mãi cũng không thể nguội được.
Mọi người đều cười chế giễu anh ta.
Việc này dụ ngoại đạo không diệt trừ lửa dữ phiền não, mà chỉ lo tu tập một chút khổ hạnh như nhịn đói, nằm trên gai nhọn, năm thứ lửa đốt thân mà muốn cầu được đạo tịch tịnh an vui, thì không bao giờ được; không những bị người trí chê cười, mà còn chịu khổ trong hiện tại và gặp nhiều tai ương ở tương lai.
* Thuở xưa, có người ngu cưới được một cô vợ xinh đẹp. Anh ta rất yêu thương vợ, nhưng vợ không chân thật, về sau, cô vợ tư thông với người hàng xóm. Tâm dâm mạnh mẽ, cô vợ muốn bỏ chồng, đi theo người kia.
Thế rồi, cô vợ âm thầm nói với bà lão giúp việc trong nhà:
- Sau khi tôi đi rồi, bà đem thây chết của người con gái khác để trong nhà, nói với chồng tôi là tôi đã chết.
Đợi người chồng đi vắng, bà lão đem thây chết của cô gái khác để vào trong nhà họ. Khi người chông trở về, bà lão nói:
- Vợ của ông chết rồi!
Người chồng đến xem, tin chắc là vợ mình, rồi đau buồn, khóc lóc. Sau đó, anh ta chất củi, chế dầu hỏa táng thi thể vợ, rồi lấy hài cốt đựng trong cái túi, ngày đêm đeo bên mình.
Người vợ sau khi nhàm chán người tình mới trở về nhà nói với chồng:
- Tôi là vợ của anh!
Người chồng cười, đáp:
- Vợ tôi chết lâu rôi! Cô là ai mà nói dối là vợ tôỉ?
Người vợ nói đôi ba phen mà anh vẫn không tin.
Giống như ngoại đạo, khi nghe tà thuyết, tâm sinh mê hoặc, cố chấp cho là đúng; không chịu sửa đổi, tuy nghe chính giáo, cũng không tin nhận thụ trì.
* Thuở xưa, có hai người buôn bán. Một người bán vàng thật, người thứ hai bán vải. Một hôm, có người đến mua vàng. Người chủ tiệm đốt vàng để thử. Người bán vải liền trộm lấy vàng rồi dùng bông vải gói lại. Khi ấy, vàng còn nóng nên làm cháy hết bông vải của anh ta. Sự việc đã bị lộ. Thế là, mất cả hai món.
Cũng vậy, ví như ngoại đạo trộm lấy giáo pháp của Phật đổi thành giáo pháp của họ, dối trá tự xưng là pháp của mình có. Do đó, họ bị lửa tham đốt cháy hết kinh điển của họ, không còn lưu hành ở đời.
* Thuở xưa, có một người thuộc dân tộc Sơn Khương, trộm vật trong kho vua rồi chạy trốn đến nơi rất xa. Vua sai người ra đi khắp nơi tìm bắt được. Vua trách mắng anh ta:
- Áo này ở đâu ngươi có?
Anh ta đáp:
- Áo này là di vật của tổ phụ tôi để lại.
Vua bảo anh ta mặc vào để xem áo đó có phải thật của anh ta hay không. Vì vốn chảng phải là áo của dân tộc mình, nên anh ta không biết cách mặc. Anh ta tròng tay áo vào chân, tròng thân áo vào đầu. Vua cho là kẻ trộm, mới nhóm các đại thần cùng nhau làm cho rõ việc này. Vua nói:
- Nếu áo này là của tổ phụ ngươi, thì ngươi phải biết cách mặc. Vì sao ngươi lại mặc lộn trên dưới? Do ngươi không biết cách mặc. Như vậy, chắc chắn áo này ngươi trộm, không phải vật của tổ phụ ngươi!
Trong câu chuyện trên, vua dụ cho Đức Phật, kho báu dụ cho pháp, người dân tộc Khương ngu si kia dụ cho ngoại đạo. Ngoại đạo trộm nghe giáo pháp của Phật làm pháp của mình, cho rằng tự mình có, nhưng không biết giảng giải, nên sắp đặt pháp Phật lộn xộn, cũng không biết tướng trạng các pháp; như anh dân tộc Khương kia trộm áo vậy.

Phần 6

* Thuở xưa, có người dung mạo khôi ngô, rất thông minh, lại giàu sang, được mọi người khen ngợi. Một người ngu thấy thế bèn nhận là anh mình. Đến khi người này mắc nợ thì anh ta nói không phải là anh mình.
Thấy vậy, người hàng xóm nói:
- Ngươi là kẻ ngu! Khi cần tiền thì gọi người ấy là anh, đến khi người ấy mắc nợ lại nói không phải là anh?
Anh chàng ngu đáp:
- Tôi muốn có tiền xài, mới nhận người ấy làm anh, thật ra người ấy chẳng phải anh tôi. Nên khi người ấy mắc nợ thì tôi không nhận làm anh.
Những người nghe lời nói này đều chê cười anh ta.
Cũng vậy, bọn ngoại đạo nghe lời dạy quí báu của Phật, bèn trộm lấy, cho đó là pháp của mình. Thậm chí, người bên cạnh khuyên bảo tu hành mà họ vẫn không nghe theo, còn nói:
- Vì lợi dưỡng, nên dùng lời Phật dạy giáo hóa chúng sinh, thật sự tôi có tu hành gì đâu!
Giống như người ngu vì muốn được tiền tài, cho nên gọi anh nhà giàu là anh, đến khi anh nhà giàu thiếu nợ thì không nhận là anh nữa.
Có bài tụng:
Chính tà như sáng tối
Thiện ác thật cách xa
Phật chế phục Phạm chí
Bay trên không, biến hình
Sáu nghìn đều xả chấp
Bảy chúng được an lành
Tà đồ vọng chống báng
Quấn đọng luống cầu danh
Thân Tử nhiều tài trí
Biến hóa sáng cung đình
Bốn biện đều đạt đến
Sáu thông rúng tâm người
Nương quyền phá dị kiến
Dẹp tà đồng u minh
Tự biết lửa đom đóm
Đâu sánh với dương quang.
62.3. CẢM ỨNG
62.3.1. Phân biệt thánh thật, thánh giả
Chính tà thường xâm phạm, thiện ác hay chen nhau, nếu chẳng phải bậc Chí thánh, đâu có thể khai hóa. Cho nên chín mươi lăm loại thờ Thiên tôn thượng giới, hai mươi lăm đế chấp Minh bản của chúng sinh. Tất cả đều nói là chính pháp, đều cho là cứu khổ. Lại có Khổng Tử ở nước Lỗ, dạy lễ nhạc khắp Trung Hoa; Lí Đam tại nước Sở mở Hư huyền khắp Ngũ nhạc. Mỗi mỗi theo chủ trương của mình, phân chia cương thổ, luận biện trái nhau, khiến cho chúng sinh bị lưới mê hoặc che tâm, đường chân lí mịt mờ, chẳng biết nơi thú hướng. Chẳng như Đức Phật Thế Tôn, thể hiện tâm bình đẳng cứu giúp chúng sinh, khiến kẻ âm người dương đều qui hướng, dù phàm hay thánh cũng cúi đầu. Thí như hư không không thể có hai mặt trời, một nước không thể có hai vua. Cho nên mới xướng: “Từ cõi trời cho đến cõi người chỉ có ta là tôn quí!”. Tam thiên đại thiên đều tôn Ngài là Đẳng Chính Giác, là người dẫn đường của bốn loài, là chiếc thuyền của sáu cõi.
Cho nên sử có ghi' việc quan thái tể Bĩ hỏi Khổng Tử ai là Thánh nhân, ông lần lượt nêu từ Không Tử rồi Tam vương, Ngũ đế cho đên Tam hoàng, nhưng Khổng Tử đều không xác nhận. Cuối cùng thái tể hỏi:
- Vậy thì ai là Thánh nhân?
Không Tử đáp:
- Khâu nghe ở phương tây có một bậc thánh. Vị này không dùng pháp trị mà dân không loạn, không nói mà mọi người tin theo, không dạy mà người tự thực hành. Thật cao xa, không ai có thể đặt tên.
Theo lời này thì Khổng Tử đã biết rõ Phật là Đại thánh. Bởi bấy giờ chưa đúng lúc, cho nên Khổng Tử im lặng tự biết thôi. Đó là gặp cơ thì gợi ý, chứ chưa được phép nói rõ.
Lại vào thời Hậu Hán, một vị quan thông kim cổ tên là Phó Nghị, vì muốn quảng bá sự giáo hóa của Phật, nên soạn bộ Pháp bản nội truyện, trong đó có ghi: “Niên hiệu Vĩnh Bình thứ ba (60), thánh thượng mộng thấy thần nhân, toàn thân màu vàng ròng, cao một trượng sáu, sau đầu có hào quang. Thức giấc, vua hỏi các quan, Phó Nghị tâu bày có Phật ra đời tại Thiên Trúc. Vua bèn sai sứ thỉnh cầu thì gặp hai vị tăng Thiên Trúc và thỉnh được một số kinh tượng. Vua bèn cho xây chùa, họa tượng trên vách, dẫn nghìn xe vạn ngựa nhiễu tháp ba vòng. Đồng thời vẽ và tạo tượng Phật trên đài Thanh Lương ở Nam cung, trên Cổng Cao Dương và lăng Hiển Tiết. Đặt kinh Tứ thập nhị chương trong thạch thất Lan Đài...”.
Pháp bản nội truyện còn ghi: “Bấy giờ có sa-môn Ca-diếp Ma-đằng và Trúc Pháp Lan chí hạnh cao siêu khó lường, lấy việc giáo hóa làm trọng. Thái Âm vừa đến nơi ấy, liền thỉnh Ma-đằng sang Trung Hoa. Thế là Ma-đằng rời Thiên Trúc theo Thái Âm đến Lạc Dương. Đến nơi, sư khuyến dụ mọi người sùng tín Tam bảo. Một hôm vua hỏi:
- Đấng Pháp vương xuất thế độ sinh, vì sao Ngài không đến nơi đây?
- Nước Ca-tì-la-vệ là trung tâm của tam thiên đại thiên thế giới và trăm ức nhật nguyệt. Chư Phật trong ba đời đều xuất sinh tại nơỉ ấy. Cho đến trời, rồng, quỉ thần có hạnh nguyện đều sinh ra từ nơi này, được Phật giáo hóa, đều được ngộ đạo. Chúng sinh những nơi khác không có duyên cảm Phật nên Phật không sinh đến. Tuy Phật không đến, nhưng ánh sáng của Ngài cũng chiếu đến, hoặc trong năm trăm năm, hoặc một nghìn năm, hoặc hơn nghìn năm, đều có thánh nhân truyền thanh giáo cùa Phật, dẫn dát chúng sinh._Ngài Ma-đằng đáp.
Nội truyện lại ghi: “Vào ngày mồng một tháng giêng, niên hiệu Vĩnh Bình thứ mười bốn (71), nhân buổi triều kiến, các đạo sĩ trong ngũ nhạc truyền cho nhau: ‘Thiên tử đã bỏ đạo pháp của chúng ta, lại cầu giáo nghĩa của người Hồ xa xôi. Hôm nay nhân buổi hội triều, chúng ta nên dâng biểu kháng nghị’. Trong biểu tấu có đoạn:
- Chúng thần gồm sáu trăm chín mươi đạo sĩ là Tự Thiện Tín... thuộc đệ tử Thái thượng tam động, mười sáu sơn quán trong ngũ nhạc thông hiểu tất cả các phương thuật, xin được thi thố tài năng với các tăng Tây Vực, hầu phân biệt chân ngụy. Nếu thua, tùy ý bệ hạ xử phạt; nếu thắng xin bệ hạ quét sạch những kẻ hư dối kia!
Vua bèn sai Thượng thư lịnh Tống Tường đưa họ vào cung Trường Lạc, định ngày mười lăm tháng này tập trung tại chùa Bạch Mã thi tài.
Các đạo sĩ lập ba đàn, mỗi đàn mở hai mươi bốn cửa, đặt tất cả đạo kinh lên đàn ấy. Bấy giờ vua ngự trên hành điện tại cửa nam của chùa, xá-lợi Phật và kinh tượng đặt tại phía tây của đạo đàn. Đến ngày mười lăm, sau khi thụ trai xong, các đạo sĩ dùng củi, lau sậy, gỗ hương trầm thủy, gỗ hương chiên-đàn làm đuốc, khóc lóc câu xin Thiên tôn chứng nghiệm. Sau đó các đạo sĩ đốt kinh, kinh liền cháy thành tro, các đạo sĩ nhìn nhau biến sắc, lại vừa hổ thẹn, vừa sợ hãi. Đạo sĩ Phí Thúc Tài uất hận mà chết. Thái phó Trương Diễn nói với Tự Tín:
- Các ông thi đốt kinh không linh nghiệm, tức là hư vọng, nên theo chân pháp từ Tây Thiên truyền sang!
Tự Tín đáp:
- Mao Thành Tử nói: ‘Thái Thượng tức Linh Bảo Thiên tôn; khởi nguồn của tạo hóa gọi là Thái tố' Như thế là hư vọng sao?
Trương Diễn đáp:
- Thái tố có cái danh quí đức, mà không có cái tên ngôn giáo; nay ông nói có ngôn giáo, đó là hư vọng. Tự Tín im lặng.
Nay lúc ấy, xá-lợi Phật phóng ánh sáng năm màu chiếu thẳng lên không trung, xoay tròn tạo thành bảo cái, che mát đại chúng. Pháp sư Ma-đằng vọt lên hư không, hiện các món thần biến như nằm ngồi... Trời cũng tuôn mưa hoa báu trên xá-lợi và chúng tăng, lại có nhạc trời vang lên cảm động lòng người. Đại chúng vô cùng vui mừng thấy được điều chưa từng có, nhiễu quanh ngài Pháp Lan và thỉnh

Phần 7

thuyết pháp yếu. Pháp Lan liền tuôn Phạm âm, tán dương công đức Phật, lần đầu lập chùa công đức đồng với Phạm phúc. Tư không Dương Thành hầu Lưu Tuấn cùng với hơn một nghìn quan dân, sáu trăm hai mươi đạo sĩ của bốn núi như Lã Tuệ Thông... Âm phu nhân Vương Tiệp Hảo cùng với hai trăm ba mươi cung nhân, phụ nữ đều xin xuất gia. Bấy giờ lập mười ngôi chùa, trong đó bảy ngôi ngoài thành dành riêng chúng tăng, ba ngôi trong thành dùng làm trụ xứ cho ni. Từ đấy về sau Phật pháp lưu truyền khắp thiên hạ”.
Truyện này gồm năm quyển, nay chỉ lược nêu, không ghi chép hết. Có người nghi truyện này mới viết gần đây, chứ lúc ấy vốn không có việc thi đấu. Trong Ngô thư nói Phí Thúc Tài uất quá mà chết, vậy truyện này ghi chép sự thật, không phải hư dối.
Ngô thư ghi: “Niên hiệu Xích Ô thứ tư (241) đời Tôn Quyền, có vị sa-môn người nước Khương Cư tên là Khương Tăng Hội đến nước Ngô. Sư chí thành khẩn cầu cảm được xá-lợi năm màu phóng ánh sáng chiếu khắp đất trời. Dùng chày đập không vỡ, lửa đốt không cháy. Ánh sáng phát ra từ xá-lợi tạo thành hoa sen lớn chiếu rực cung điện. Vua quan kinh ngạc, ca ngợi là chưa từng có, nên cho xây dựng chùa tháp, độ người xuất gia. Vì giáo pháp mới du nhập, nên đặt tên chùa là Kiến Sơ. Vua lại ban chiếu hỏi Thượng thư lịnh Hám Trạch:
- Từ Hán Minh đế đến nay đã bao nhiêu năm? Phật pháp vào đất Hán đã lâu, vì sao nay mới truyền vào Giang Đông?
Trạch đáp:
- Từ niên hiệu Vĩnh Bình thứ mười (67) đời Hán Minh đế, Phật pháp mới đến đất Hán, đến nay là năm Xích Ô thứ tư, tính ra đã một trăm bảy mươi tư năm. Năm Vĩnh Bình mười bốn, đạo sĩ trong ngũ nhạc đấu đạo thuật thua sa-môn Ca-diếp Ma-đàng, nên đạo sĩ Nam nhạc Tự Thiện Tín, Phí Thúc Tài uất hận mà chết trong hội, môn đồ đệ tử trở về Nam nhạc lo việc an táng các đạo sĩ này, nên không xuất gia. Do đó không có người lưu truyền. Sau đó, gặp lúc vận nhà Hán suy vi, chiến tranh xảy ra liên tiếp, mãi đến hôm nay, trải qua nhiều năm mới được truyền vào.
Đế lại hỏi:
- Khổng Khâu, Lão Đam có thể so sánh với Phật chăng?
- Thần nghe Khổng Tử nước Lỗ là bậc anh tài kiệt xuất, thánh đức siêu quần, người đời gọi là Tố vương. Ngài trước thuật kinh điển chỉ dạy đại đạo, giáo hóa người đời sau. Phong cách Nho học nhuần thấm xưa nay, lại cũng có những người sống ẩn dật như Hứa Thành Tử, Nguyên Dương Tử, Trang Tử, Lão Tử. Bách gia tử thư đều dạy tu thân tự vui, dạo chơi nơi sơn cốc, buông thả tâm thần, học trở về chỗ đạm bạc. Thế nên, về sự thì trái với lễ tiết lớn nhỏ của loài người, cũng chẳng phải phong cách an dân hóa tục. Đến đời Hán Cảnh đế, vì Cảnh đế rất tinh thâm nghĩa lí của Hoàng Tử và Lão Tử, cho nên đổi Từ thành Kinh, lập ra Đạo học, sắc cho quan dân khắp nước tụng đọc.
Nếu đem hai giáo Khổng, Lão so sánh với Phật pháp thì còn kém xa lắm. Vì sao? Vì hai giáo kia theo lẽ trời mà chế định phép tắc, không dám trái lẽ ấy; còn Phật lập giáo thì trời phải theo đó hành trì, không dám trái Phật. Theo đây thì thật không thể so sánh’.
Ngô chúa nghe nói, trong lòng rất vui, phong Trạch làm Thái tử thái phó.
Tống Văn đế là con thứ ba của Cao tổ. Ông là người thông minh, gồm đủ tài trí, học rộng biết nhiều, được khen là người thông đạt. Ông tại vị ba mươi năm, một hôm rảnh việc triều chính, ông ung dung hỏi Thị trung Hà Thượng Chi và Lại bộ Dương Huyền Bảo:
- Từ nhỏ đến nay trẫm đọc kinh Phật không nhiều, những ngày gần đây lại quá bận rộn, cho nên đối với nhân quả ba đời chưa dụng tâm nghiên cứu, lại chẳng dám nghĩ gì khác. Chính vì các khanh là những bậc ưu tú đương thời, được mọi người kính tin, nên ta mới hỏi.
Hai người đáp:
- Phạm Thái và Tạ Linh Vận thường nói: ‘Văn nghĩa trong sáu kinh vốn lấy việc cứu đời làm chính, còn như nhất định cầu tính linh chân ảo diệu, thì phải lấy Phật lí làm kim chỉ nam!’.
Đế nói:
- Thích môn có các khanh cũng như Khổng môn có Tử Lộ, là người không bao giờ nghe lời ác.
Từ đó Văn đế hàng ngày chuyên tâm nơi kinh Phật, siêng năng chưa từng biếng trễ.
62.3.2. Tà chính đối luận
* Những kẻ tà mê nói:
- Từng nghe Thích-ca sinh tại Thiên Trúc, danh tiếng chẳng vang hơn Chu Khổng; tu-đa-la xuất hiện ở Tây phiên, công đức chẳng thể sánh với Điển Mô, chỉ là đối tượng để viễn di tôn kính, không phải là bậc để người Trung Hạ tôn làm thầy. Vậy mà xây dựng tinh xá cùng chốn, chùa viện khắp nơi, chỉ tốn hao tiền tài công sức, chứ nào có công đức. Chi bằng phá tượng, cấm đúc tượng kim loại, đốt kinh, không cho biên chép; phế tăng mà sung vào các hộ dân. Trộm nghĩ, làm như thế sẽ ích quốc lợi dân, nhà nhà hưng thịnh, hưởng nhiều phúc đức.
Người xuất gia đáp:
- Xét lời xấu xa này, thật chẳng hợp đạo trung hiếu. Hễ là trung thần phụng sự quốc gia, luôn cầu mong đất nước được phúc vô cùng; con hiếu thờ mẹ cha, cốt phòng tai họa khi chưa hiện. Đến như, vừa nghe nhân duyên tạo nhiều phúc liền vội đến cầu, sợ rằng không kịp; thấy mầm chóng gây họa liền vội tránh xa, như chạm phải nước sôi. Quốc gia thì trọng sự khẩn cầu trời đất, vì mong phúc lợi; gia đình thì tránh sự cấm kị của âm dương, vì sợ họa vậy. Nếu nghi có phúc thì nên giữ, nếu nghi có họa thì nên xa, đó là lòng người, là đạo trung vậy. Nay ông bỏ những điều mà mọi người cho là phúc, lấy những việc mà người cho là họa, lại cho là kế sách của trung thần ích quốc, là phương cách để hiếu tử thờ mẹ cha sao? Như bỏ ngũ cốc cúng tông miếu, thêm thịt cá cho cháu con, dẹp lễ phục cúng tế hai kì, mặc y phục của kẻ dua nịnh; chỉ mong ân bổng lộc mà không quí phúc giúp vua an, lại hận tổn phí dưỡng song thân, muốn dẹp ngôi nhà đẹp nuôi cha mẹ. Như thế có thể cho là đạo trung hiếu sao?
- Tam đạt linh thông, dù trăm thần cũng không so được; đấng Thập Lực vĩ đại, nghìn thánh cũng đâu sánh bằng. Bởi đã sạch muôn phiên não, đã thành tựu vạn đức, Phạm thiên kính ngưỡng, Đế Thích tôn sùng; về đạo pháp thì cứu giúp bốn loài; về giáo hóa thì khắp cùng ba cõi; dẹp sinh tử luân hồi, chỉ niết-bàn thường lạc, Chu Khổng không đáng để luận bàn. Thí khắp cùng, cứu tất cả, tâm Nghiêu Thuấn vẫn còn hạn lượng. Lòng từ bình đẳng, chẳng bỏ một chúng sinh, há chẳng thể gọi là Nhân sao? Trí tuệ viên mãn, giác ngộ tột cùng, há chẳng thể tôn là Thánh sao?
Người thể hội được chí đạo của Nhân thánh há bị lời trá ngụy dối gạt sao? Yên lặng mà suy nghĩ thì thấy thật càng bền chắc. Đến như lập chùa được công đức sâu hơn biển cả, độ người xuất gia phúc nặng như Thái sơn, đó là lời dạy sáng suốt của đấng Pháp vương, lời khuyên chân thành của đại sĩ. Nếu lập chùa thì tăng thêm niềm vui, lại lợi ích cho đất nước, chẳng phải lớn sao? Nếu kính tăng thì sinh thiện mà lợi người, chẳng phải là rộng sao? Hoặc giả tổn chút ít mà mang lại lợi ích lớn lao, chẳng phải là việc mà quốc gia đáng tôn sùng sao? Hoặc giả lợi chút ít mà tổn hại nhiều, chăng phải là điều mà nhân dân nên tránh sao? Làm bề tôi mà khồng cân nhắc điều này thì chẳng phải là tôi trung, làm con mà không có mối lo nghĩ này thì chẳng phải là con hiếu.
* Kẻ tà mê lại hỏi:
- Phật pháp vốn phát xuất từ Tây Trúc, ở Trung Hoa không nên tôn kính, phụng thờ.
Người xuất gia đáp:
- Do Dư là người Tây Nhung mà giúp cho Tần Mục công lập nên nghiệp bá; Nhật Đê sinh tại Bắc Địch lại phụ tá Hán Vũ đế trừ dẹp nguy hại. Bầy tôi đã có như vậy, thì thầy cũng nên như thế, hà tất phải dùng đồng cõi mà bỏ khác phương. Thầy quan trọng ở đạo lớn, không phân biệt đây kia; pháp hơn ở chỗ thiện cao, không chấp xa gần. Đâu được cho vì sinh tại nơi khác mà xem thường luôn đạo ấy, nào được thấy xuất sinh ở phương xa mà chối bỏ luôn cả vật báu.
Như ngựa quí không chỉ sinh ở Trung thổ, báu vật không hẳn là vật thuộc Chư Hoa. Cho nên người Hán tìm ngựa hay ở Tây Vực, nhà Ngụy thu châu quí tại biển nam; tiến cống ngà voi, sừng tê giác; chọn lấy lông chim Phỉ thúy. Cho nên biết, những vật sản sinh tại phương khác chưa hẳn là không quí, sao chỉ Đức Phật xuất thế tại Tây thiên lại xa lìa? Như thuốc quí mọc tại Di-Nhung, cấm chú khởi nguyên từ Hồ-Việt. Nếu có khả năng đuổi tà trừ bệnh, sao thuốc quí từ phương xa đến lại không dùng?
Diệt ba độc để chứng vô vi, đó là năng lưc mạnh đuổi tà; diệt tám khổ mà đạt đến thường lạc, là thế lực lớn trừ bệnh. Sao lại phân biệt Di-Hoa mà chấp lấy xa gần?

Phần 8

Huống gì dưới trăm ức nhật nguyệt, trong cõi tam thiên đại thiên này thì Tây Vức mới thuộc trung ương chứ chẳng phải Hoa hạ này.
* Kẻ tà mê lại nói: “Vì trong Thi, Thư chưa đề cập đến tu-đa-la, nên tu-đa-la không đáng quí”.
Người xuất gia đáp:
- Như thiên văn lịch số sâu xa, địa lí núi sông kì dị, chẩn đoán kinh mạch huyệt vị, các thuật bốc thuốc chữa bệnh, châm cứu phù chú, thì trong Thi, Thư không thể nói hết, Chu, Khổng cũng chưa tỏ bày. Nhưng khảo xét lành dữ thì có chứng nghiệm, tra cách sử dụng thì có công hiệu. Hơn nữa, vật mà Chu, Không chưa nói đến thì mênh mông vô cùng, pháp mà Thi, Thư chưa ghi thì mờ mịt vô hạn.
Thật ra Thi, Thư chẳng ghi hết lời, lời không diễn đạt hết ý. Vậy đâu được chấp giáo hạn cuộc sáu kinh để trái yếu chỉ rộng lớn ba thừa. Phàm việc gì ở thượng cổ chưa lập thì thánh nhân đời sau triển khai. Cho nên nhà cửa thế cho hang tổ, văn tự thay cho kết thằng. Như uống máu ăn lông, tuy có trước mà chẳng quí, ăn chín uống sôi, dù đặt sau mà lại rât hay; cũng như lúc nhỏ ăn uống đạm bạc, lớn lên hưởng thụ món ngon; như lúc thiếu thời mặc áo vải, trung niên hiển vinh mặc áo công hầu. Như vậy đâu được cho trước ăn uống đạm bạc tốt hơn về sau dùng món ngon; trước mặc áo vải quí hơn về sau mặc y phục công hầu?
Vạn vật thì đổi dời, nhưng Tam bảo vẫn thường trụ, vắng lặng bất động, hễ chúng sinh có cảm liền ứng hiện. Nếu chẳng đản sinh nơi vương cung, thị tịch nơi Song thụ thì đâu được cho là ứng cơ có sinh diệt, nói đến đi có ngắn dài!
* Kẻ tà mê lại nói:
- Phật là khí yêu mị, chùa là miếu dâm tà, đâu thể kham nhận làm thầy của người Trung quốc!
Người xuất gia đáp:
- Yêu chỉ làm nghiệt, đâu thể hoằng hóa thập thiện; mị ắt phải nương vào tà, làm sao có thể khởi đạo Bát chính? Hơn nữa yêu còn sợ chó, mị cũng sợ chồn, làm sao có thể chế phục tâm cống cao của Đế Thích, phá dẹp sức mạnh của Ma vương?
Như Phật Đồ Trừng, Cưu-ma-la-thập cho đến Đạo An, Tuệ Viễn đều là những bậc danh cao đức trọng, cũng chẳng cuồng chằng điên, mà lại cắt ái bỏ vinh, cầu tà đạo của lị mị; siêng năng khổ hạnh phụng sự yêu tà võng lượng. Lại từ thời Đông Hán đến Đại Đường ta, triều nào cũng cấm lời yêu mị, nơi đâu cũng đoạn miếu dâm tà, thì đâu lại chấp nhận xả tiền tài, công sức, để nhân dân tạo chùa tháp cho lị mị, và gia nhập chúng võng lượng sao? Hơn nữa từ xưa những vua quan, quí tộc, dân thường đều thụ giáo qui y, thành tâm tin kính, đâu châp nhận tôn kính yêu tà, phụng sự lị mị để tự làm nhục mình sao? Bởi họ đã thấy được diệu lí, thấu được nguồn chân cho nên mới như thế. Vua sáng tôi hiền mong cầu đức ấy, quân tử thứ dân suy nghĩ lời ấy, bồ-tát cao tăng mến mộ lí ấy, cho nên trải qua nhiều đời quí kính, cho đó là lời chí cao của bậc thánh, là khuôn mẫu của thánh phàm, là phép tắc của trời người. Lí tận cùng vi diệu, phúc sánh đồng chân tế, còn thánh nào hơn, có đạo nào vượt! Sao ông chẳng biết ơn, trái lại còn cuồng ngôn loạn ngữ?
* Kẻ tà mê lại nói:
- Thân của cha mẹ ban cho không thể làm thương tổn, sao sa-môn lại cạo bỏ râu tóc. Làm vậy, không những trái đạo của vua xưa, mà còn mất đi nghĩa trung hiếu.
Người xuất gia đáp:
- Nếu dốc lòng thờ phụng vua, hiếu thảo với cha mẹ, thì dù mất mạng cũng được khen là nhân; nếu bất trung bất hiếu để trộm sống thì uổng giữ thân mà phi nghĩa. Vì thế Luận khen việc thấy nguy liều thân; Lễ phòng việc gặp nạn chạy trốn. Đâu được gộp chung để rồi quở trách hủy thân, đổ đồng mà chê bai cạo tóc. Hơn nữa cắt thịt đùi, móc lấy gan, mới thật làm tổn thân quá nặng; còn cạo râu, cắt tóc thì hủy hình rất nhẹ. Thành Thang vì thương dân còn thiêu thân để cầu mưa, Mặc Tử đề xướng thuyết kiêm ái nên muốn mài từ chân đến đầu. Huống gì, vì vua, chí thành cầu phúc lợi, thì cạo tóc hủy hình đâu đáng phải quan tâm! Hon nữa lời dạy của thánh nhân tuy khác đường mà trở về một chốn; đạo của quân tử tuy trái phép thường mà hợp nghĩa nhân. Như Thái Bá bỏ việc phụng dưỡng mẹ cha, chuyên việc hái thuốc mà chẳng trở về; dẹp y phục, Trung nguyên, mượn tục cạo tóc để nghiêm thân, đây thật đã không hợp lẽ thường, mà còn trái lễ nghĩa. Nhưng Khổng Tử khen Thái Bá là bậc chí đức, việc này là sao? Tuy việc làm trái với vua với cha me, nhưng lòng lại trung với nước với nhà; hình tuy không hợp với trung quốc, mà đức trọn vẹn với ba lần nhượng vị. Cho nên Thái Bá bỏ áo mũ đã không tổn chí đức, thì sa-môn dẹp ấn đai cũng đâu làm tổn thương diệu đạo!
Tuy khác phục sức, đổi hình dung, trái lẽ thường quân thân, nhưng lại tin đạo, chí thành mong quân thân được nhiều phúc đức; lại tự khổ thân tâm, xuất gia tu pháp lành, cốt để quân thân vĩnh kiếp được an vui, như vậy chẳng phải là chí trung chí hiếu sao? Như cho sa-môn là bất trung thì thật không đáng tin vậy.
* Kẻ tà mê lại nói;
- Người Hồ ở Tây Vức sinh ra từ đất sét, cho nên mới thờ tháp tượng bằng đất sét như thế.
Người xuất gia đáp:
- Đây là lời thiếu suy nghĩ. Có rất nhiều vật liệu để tạo lập linh tượng, truyền tả chân hình, đâu chỉ dùng đất sét; như điêu khắc, đúc tạc thì dùng gỗ, sắt, đồng, vàng; hoặc họa vẽ, thêu dệt thì dùng giấy lụa v.v... Nếu cho nam nữ Tây Vức chỉ từ những vật ấy sinh ra, thì đền miếu ở Trung Hoa lấy gỗ làm chính, chăng lẽ cho rằng quân tử chế định ra lễ đều từ gỗ mà sinh ra sao? Vì không quên cha mẹ nên mới lập tông miếu, vì không quên Phật nên tạo hình tượng; đó là để biểu thị tâm chí hiếu, là để tỏ lòng kính như còn Sống. Tôn kính bậc thánh, ngưỡng mộ đạo đức thì đâu có gì sai! Nếu không kính tượng gỗ đất trong tháp miếu, thì hình mộc chủ trong quốc miếu cũng không đáng kính. Hễ người cho làm điều thiện là lỗi, thì cũng sẽ lấy việc ác làm công.
* Kẻ tà mê lại nói:
- Lúc không có Phật thì đất nước thái bình, vận nước dài lâu; khi có Phật truyền đến thì chính trị bạo ngược, vận nước ngắn ngủi.
Người xuất gia đáp:
- Đây cũng là lời thiếu suy nghĩ, kẻ hung bạo mới nói như thế. Người ngu cho rằng đấng Năng Nhân thuyết giáo xiển dương thói dâm tà, bồ-tát lập ngôn chuyên bày chuyện Kiệt Trụ, sự thật hoàn toàn chẳng phải như vậy. Bởi nhà Ân mất ngôi, họa khởi từ lời của Đắc Kĩ; nhà Chu mất chư hầu, do tiếng cười của Bao Tự. Ba triều Hạ, Thương, Chu vong quốc đều từ nữ sắc, còn giáo Tam thừa há chuộng việc này?
Đạo Phật từ bi hỉ xả, bình đẳng bảo vệ cả oán thân, cứu độ ta lẫn người, ân đức thật rộng sâu, hiền ngu đều kính mộ. Dầu cho đức của Hi, Hiên, Thuấn, Vũ, thì cũng gồm trong sáu độ; tội của Nghệ, Trác, Quí, Tân cũng qui về mười ác để ngăn cấm. Ví như xưa kia vua Trụ hoằng giáo Thiểu dục, vua Kiệt thuận đạo Từ bi thì Y, Lã sẽ không có đất dụng mưu, Thang, Vũ đâu thể thi hành kế lớn, đồng thời Kiệt cũng tránh được họa mất nước ở Ô Điều, Trụ không có loạn bại vong tại Mục Dã, Hạ Hậu cũng thuận bài ca Lạc Nội, mà Sở Tử tránh được nạn suối khô. Thế thì lợi ích từ giáo của Thích-ca thật rất lớn, kéo dài vận nước đến vô cùng, dứt trừ họa vong quốc từ trong trứng nước.
* Kẻ tà mê lại nói:
- Có đạo Phật thì hại, không có thì lợi; cho nên trước khi có Phật pháp thì mọi người thuần lương, không có chuyện soán nghịch, nhưng khi Phật giáo truyền đến, xảy ra nhiều việc phản loạn như thế!
Người xuất gia đáp:
- Thật là ngu xuẩn, không biết suy nghĩ mới nói ra lời xúc xiểm độc ác này. Như Cửu Lê thất đức, há vào thời có Phật sao? Tam Miêu soán nghịch cũng chẳng phải sau khi có pháp. Cuối đời Hạ Ân, người đời đâu thuần hòa, trong thời Xuân Thu đâu phải không có việc soán nghịch. Như giặc cướp gian cừu, vua tiên cử Cao Dào làm quan hình pháp; Nghiêm Doãn hung tàn, nhọc sức Cát Phủ đánh dẹp. Vậy mà ngu si cho rằng Phật hưng khởi mới có việc soán nghịch, pháp lưu truyền thì lòng người không còn thuần hòa. Thật chỉ là lời bịa đặt, không đúng sự thật. Trộm một sợi tơ, Phật còn cấm, há cái loạn soán ngôi; tranh cãi một lời, Thế Tôn còn ngăn, huống gì làm mât đạo thuận hòa? Chỉ có giáo của Phật mới dùng đạo trung khuyên bề tôi, dùng đạo hiếu khuyên con cái, dùng đạo thạnh trị giúp nước, dùng đạo hòa thuận khuyên gia đình; dùng niềm vui cõi trời để khuyên thiện; nêu nỗi khổ địa ngục để trừng ác. Đâu vì một lời mà khen, há chỉ có năm hình để răn cấm, lại vội cho là làm mất đạo hòa thuận, gây ra họa loạn, chẳng phải đã quá vu khống sao? Dù vậy cũng đâu có tổn thương mặt trời Phật, chỉ ông tự dìm mình trong biển khổ mà thôi! Nếu cứ xem thường mà không chịu tránh, thì thật đáng buồn thay!
* Kẻ tà mê lại nói:

Phần 9

- Đạo trời chí công, diễn đạt thành hư vọng; họa dâm phúc thiện sao lại thành sai lầm? Do đâu mà kẻ bội nghịch lại sống lâu, người kính thành lại chết yểu? Lẽ ra tích phúc thì được an vui, gây ác thì rước họa, cớ sao tấn thối lại mâu thuẫn, lấy bỏ thật trái nhau, việc ấy rõ ràng như thế, ông luận như thế nào đây?”.
Người xuất gia đáp:
- Đạo giáo giản đơn, chẳng luận ba báo, Nho gia hạn hẹp chỉ luận một đời. Cho nên Trọng Ni trả lời Lí Lộ: “Sống làm người mà ông còn chưa biết, huống chi chết làm quỉ thần thì ông đâu thể hay”.
Hậu Hán thư cùa Viên Hoàng ghi: “Đạo gia xuất hiện Lão Tử, lấy hư vô vẳng lặng làm chủ, lấy việc trợ thiện ghét ác làm giáo, nuôi dưỡng vợ con, sử dụng phù chú, cho họa phúc báo ứng chỉ xảy ra trong một đời”. Đây chỉ là lời thiển cận của đạo thế gian, chẳng phải là giáo cao xa xuất thế. Vì thế lời Tuân Tử thật đáng nghi, thuyết Tư Mã Thiên cũng quá ngờ. Đến như Đường Ngu là thượng thánh mà dưỡng dục Chu Quân; cổ Tẩu là kẻ cực ngu mà sinh ra Nghiêu Thuấn; Nhan Hồi đại hiền mà tuyệt hậu, Thương Thần Cực ác mà con cháu hưng; Đạo Thạc bạo ác mà hưởng phúc đến cuối đời, Bá Di, Thúc Tề chí nhân mà chết đói; Trương Thang là quan ác mà con cháu bảy đời vẫn hiển vinh, Tỉ Can trung thần mà một thân bị tru diệt. Những việc như thế không thể kể hết, ông có nghi cũng là thường tình.
Chỉ có đấng Chủng Giác của chúng ta mới có hiệu là Biến Tri. Ngài tuyên xướng tứ sinh, chỉ bày tam báo; làm tan màn sương nghi hoặc, giúp vén lớp mây mù ngăn che, từ đó sách ngọc rộng bày, lời vàng hiện rõ. Cho nên kinh ghi: “Có lúc hiện nghiệp khổ mà quả báo khổ, có lúc hiện nghiệp khổ mà quả báo vui, có lúc hiện nghiệp vui mà quả báo vui, hoặc khi dư phúc chưa hết thì quả báo xấu không đến, hoặc tai họa còn, thì duyên lành chưa đến. Như lửa ẩn dưới tro, chẳng thể nói là không có lửa; như trong tối nghe tiếng, biết chắc là có nơi phát”. Vả lại, thiện ác theo nhau, như kì lân đấu nhau thì có nhật thực; báo ứng có chỗ về, như kình ngư chết thì sao chổi hiện. Chỉ cần quán xét phần cảm ứng, đủ biết rõ điềm thiện ác.
62.3.3. Vọng truyền tà giáo
Trộm nghe: Bạch mã rong ruổi về đông, thì nơi đây bắt đầu có ba tạng; thanh ngưu lặn lội sang tây, từ đó mới hưng lập hai thiên. Hoặc xướng Huyền huyền để dạy dân, hoặc luận Không không để cứu vật, kiểm xét trong sách vở sẽ thấy biết rõ ràng. Cho nên, cả hai lập giáo, hiển tông hoàn toàn ở tại cõi này.
Nhưng việc phiên dịch kinh điển của Thích giáo thì có thời đại rõ ràng, sử sách còn ghi chép kĩ, không ai có thể lầm lẫn. Còn như sách của Đạo gia thì không như vậy, chỉ có Lão Tử Đạo đức kinh gồm hai thiên do Lí Đam biên soạn, còn những sách khác đều có phàm tinh xen lẫn. Vì sao? Vì thời Tiền Hán có Vương Bao soạn Đỗng huyền kinh, Hậu Hán có Trương Lăng soạn Linh bảo kinh và hai mươi bốn quyển trình bày về nghi thức cúng tế của Đạo gia gọi là Chương tiêu, thời Ngô có Cát Hiếu Tiên soạn Thượng thanh kinh, thời Tấn có đạo sĩ Vương Phù soạn Minh diệt hóa Hồ kinh, Bao Tĩnh soạn Tam hoàng kinh, thời Tề có đạo sĩ Trần Hiển Minh soạn Chân bộ hư phẩm kinh sáu mươi bốn quyển, thời Lương có Đào Hoang Cảnh soạn Thái thanh kinh và Chúng tiêu nghi mười quyển.
Thời Hậu Chu, khi Vũ đế diệt Phật giáo, đạo sĩ Trương Tân thứ sử Hoa châu, tiền đạo sĩ Tiêu Tử Thuận ở Trường An, còn gọi là Đạo Kháng được phong chức Khai phủ; hai người này cùng với tiền đạo sĩ Mã Dực huyện Phù Phong, Ung châu Biệt giá Lí Vận, vào niên hiệu Thiên Hòa thứ năm (570), tại chùa Vũ Chân trong thành cổ Hoa châu trộm lời kinh Phật biên soạn thành hơn một nghìn quyển Đạo kinh. Sau đó có Sách Kiểu ở huyện Vạn Niên đóng thành tập và trang hoàng bìa gáy, nhưng khi đọc được đoạn Chân Loan chê cười Đạo gia, liền dẹp bỏ.
Trong niên hiệu Đại Nghiệp (605-617) đời Tùy, đạo sĩ Phủ Tuệ Tường suốt ba năm không mở miệng, nhân đó sửa kinh Niết-bàn thành kinh Trường An. Bấy giờ triều đình không cho đạo sĩ ra khỏi thành, mọi người thấy đạo sĩ mặc áo vàng bên trong bị bắt đưa đên quan. Việc sửa kinh bị phát giác, thượng thư Vệ Văn Thăng tâu lên vua, tức thời vua ra lịnh chém đầu tại bên ngoài cổng Kim Quang. Đó là những việc xảy ra gần đây, mọi người đều nghe thấy.
Trong Tiếu đạo luận của Chân Loan có ghi: “Đạo gia vọng chú giải ba trăm năm mươi quyển của bách gia chư tử làm đạo kinh. Lại xem trong Huyền đô mục lục, thấy họ trộm lấy tên sách Nghệ văn chỉ, lại chú giải tám trăm mười bốn quyển thành đạo kinh”. Theo đây thì nên cho là đạo gia lừa dối người đời.

Đến niên hiệu Lân Đức thứ nhất (664) đời Đường, các đạo sĩ tại đạo quán ở Tây kinh thấy Quách Hành Chân được vua tin dùng, mới già mượn uy vua, mê hoặc bá tính, lại sách động cùng nhau nhóm họp. Đạo sĩ Lí Vinh, Dao Nghĩa Huyền, Lưu Đạo Hợp ở Đông Minh quán; đạo sĩ Điền Nhân Tuệ, Quách Cai Tông ở Hội Thánh quán..., tập hợp tất cả các ngụy kinh do các đạo sĩ soạn xưa nay soạn, cho đến những bản không được lưu truyền, rồi trùng biên cải đính, lược lấy những điều thiết yếu trong kinh Phật, chỉnh sửa văn cú, hoán đổi lời Phật, thậm chí trộm cả những từ ngữ chuyên biệt trong kinh Phật như: nhân pháp, danh số, tam giới, lục đạo, ngũ ấm, thập nhị nhập, thập bát giới, tam thập thất đạo phẩm, các pháp môn Đại-Tiểu ... đưa vào đạo kinh, lập thành Hoa điển. Ngày xưa đạo gia lập đàn cúng tế, phải có thịt khô và rượu trắng, nay đổi lại sử dụng táo khô và nước thơm. Họ lại dẹp bỏ những ngôn từ vụng về mộc mạc, những chỗ xấu ác trong đạo kinh.
Như trong niên hiệu Đại Nghiệp (605-617), đạo sĩ Phủ Tuệ Tường sửa kinh Niết-bàn thành kinh Trường An của đạo gia, đã bị chém đầu. Bản kinh ấy cấm lưu hành, thì nay lại những đạo sĩ này sử dụng và đổi tên là kinh Thái Thượng linh bảo nguyên dương. Lại đổi các kinh Phật khác rồi đặt tên là Thắng Mâu-ni kinh, hoặc là Thái bình kinh... Trong đạo kinh vốn không có các từ ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, đàn việt, hiền giả, đạt-thấn...thì nay các đạo sĩ lại trộm dùng, nhưng không biết những danh từ này là Hán hay Phạn. Nếu là Hán tại sao không có trong sử, nếu là Phạn thì không biết dịch là gì, Lão Trang lại không phải là người Tây Vực. Như vậy thật rõ ràng đạo gia là trộm dùng từ kinh Phật. Còn như ngày xưa Lão Tử vốn là Thủ tạng lại thời nhà Chu, cũng quì gối xưng thần, giống như phàm tục, không mảy may sai khác, nay lại thờ riêng trong đạo quán giống như già-lam; xưng là Thiên Tôn Lão Tử, thếp tượng màu vàng ròng giống như khi xưa trong kinh gọi Phật là Thiên Tôn. Từ đời Hán-Ngụy đến đời Phù Tần-Dao Tần, mọi người gọi tăng là đạo sĩ, đây cũng gọi là trộm lây dùng. Các đạo sĩ, ngày xưa gọi là Tế tửu.
Như trong đạo kinh không có từ Kim cang sư tử, nay đều bắt chước theo đó mà đề trên cổng đạo quán, nhưng không biết Kim cang sư tử chưa từng có tại Trung Hoa, nay bỗng nhiên tạo ra. Như nội giáo kinh Phật nói Thế Tôn và Ma-ha Ca-diếp đều có thân màu vàng ròng, nên y kinh tạo tượng đúng pháp; kinh Phật cũng nói Tu-đạt mua vườn rừng cúng Phật, xây dựng già-lam, nay cũng căn cứ theo thánh giáo xây dựng, lần lượt cùng khăp các nơi. Lại Thế Tôn thành đạo cảm hiện năm trăm thần Kim cang, năm trăm voi trắng, năm trăm sư tử, nay tất cả những việc làm ấy đều y cứ theo đúng thánh giáo đã dạy. Nếu căn cứ theo kinh Phật, thì không thể nào thuật hết vô lượng vô biên những vật cúng, những báu vật trang nghiêm của chư Phật, bồ-tát, Phạm vương, Đế Thích ở phương này hay phương khác. Những việc đã tạo hiện tại chưa bằng một phần vạn. Còn như trong hai thiên năm nghìn lời của Lão Tử đâu từng nói đến những vật trang nghiêm này. Nếu nói từ các đạo kinh khác, thì các kinh ấy không thật. Việc sửa đổi kinh Phật trộm lấy làm Đạo kinh, tính ra từ trước đến nay có hơn mấy nghìn quyển.
Lại nữa Phật thuyết kinh, đầu quyển đều đặt các từ: Như thị ngã vãn, cùng thời gian, nơi chốn thuyết giảng để minh chứng cho kinh, giúp chúng sinh khởi lòng tin. Tức như triều Đại Đường ta, từ Thái tổ Văn hoàng đế đến hoàng đế đương triều, đã sai hai mươi hai người như Triều tán đại phu Vệ úy tự thừa Thượng hộ quân Lí Nghĩa Biểu, phó sứ Tiền Dung châu Hoàng Thủy huyện lịnh Vương Huyền Sách... trước sau ba lần sang Tâỵ Vức, lại còn sai nhiều đoàn khác nữa. Các hoàng đế ngày xưa cũng không phải một hai lần sai người sang Tây Vực. Tất cả những người sang đó đều thấy biết được những già-lam thánh tích ghi dấu thời gian, nơi chốn Phật thuyết kinh, cũng như những điềm linh hiển của bảy Đức Phật quá khứ. Tất cả những sự biến hóa, linh cảm đều được ghi trong bộ Tây quốc chí sáu mươi quyển hiện đang lưu truyền, những bậc cao sang quyền quí đều thấy nghe. Chẳng biết Thiên Tôn Lão Tử đã thuyết kinh như thế chăng? Thuyết bao giờ, ở đâu, thuyết cho ai nghe; nơi thuyết, khi thuyết có những linh ứng gì? Thời nào, gặp vua nào thuyết kinh này? Nếu có thời gian, nơi chốn thuyết kinh, ắt có hiện điềm lành, tại sao trong năm kinh và các bộ sử xưa nay không thấy ghi chép, mà chỉ muốn vọng đặt ra những đồng dị vớ vẩn, rồi cho lưu hành để lừa dối nhân dân. Người vô trí thì chẳng hay, bậc thức giả ắt biết đó là giả tạo. Bởi vào thời Hán, giặc Hoàng Cân Ngũ Đấu Mễ nối tiếp lưu truyền ngụy kinh đó mãi đến nay mà chưa trừ. Cho nên kinh Niết-bàn, kinh Bách dụ...ghi: “Sau khi Ta niết-bàn, có các ngoại đạo trộm lời của Ta đưa vào pháp của họ, rồi cho là của mình. Vì không hiểu nghĩa, nên sắp xếp sai lạc, lẫn lộn dưới trên. Thí như người Sơn Khương trộm chiêc áo quí báu của vua, nhưng không biết cách mặc. Như con chó ban đêm vào nhà người nhưng không biết nơi để thức ăn”. Đức Phật đã huyền kí, không thể không tin.
Cho nên ngày nay đạo sĩ trộm lời Phật làm pháp của mình, cũng không có gì lạ. Nếu ngày nay không có việc trộm lời kinh này, thì Phật nói không đúng, chẳng phải là bậc Đại thánh. Cho nên chúa Ngô là Tôn Quyền hỏi Thượng thư lịnh Khám Trạch:

Phần 10

- Tiên đạo có pháp Linh bảo, còn đạo này thì thế nào?”
- về Linh bảo: một, không có giòng họ để y cứ; hai, không có nơi chốn thành đạo; giáo xuất phát từ hang núi, con người không hay biết, chỉ là lời xằng bậỵ của những kẻ ẩn cư, không phải do thánh nhân chế định.
Nghe Khám Trạch đáp như vậy, Tôn Quyền rất khen ngợi.
Hiệu Thiên Tôn vốn xuất từ kinh Phật, mà các đạo sĩ trộm dấu vết của bậc Thánh ta đưa vào sách của mình. Bởi xem trong năm kinh và chính sử, từ đời Tam hoàng đến nay không thấy nói đến việc có một Thiên Tôn khác trụ trên cõi trời, chỉ nói Chu Công, Khổng Tử chế định Lễ, san định Thi. Cho nên trong Ngũ điển tam phần không thấy danh xưng Đại la thiên, từ các đế vương xưa cũng không nghe nói tế trời đất, cũng không có nói kẻ cầm ngọc chương, mặc áo vàng, xỏa tóc trắng, đội mũ vàng, gọi riêng là Thiên Tôn ngồi trong điện Cửu Hoa, độc xưng là Đại đạo, thống lãnh cung Thất Anh. Dầu có Đạo giáo luận về Thiên Tôn, chư tử bàn đến Linh Bảo thì cũng là lời vô căn cứ, không đáng tin cậy, là sách dân gian tầm thường không liên quan đến quốc sử. Hơn nữa phép tắc thụ trai chế định phải sắm sửa, bày biện nhiều vàng bạc lụa là; tất cả đều là do ba người họ Trương ngụy tạo, Tu Tĩnh vọng bày mà thồi; bài xích ngăn chặn, như trong Lâm luận đã thuật rõ.
Lại nữa, danh từ Đạo sĩ trong Lão giáo vốn không có, tên Hà Thượng các Nho gia cũng chưa bàn. Vì sao? Vì như Dao Thư ghi: “Khởi đầu từ Hán Ngụy cho đến Phù Dao, đều gọi chúng tăng là đạo sĩ, đến triều Thái Vũ đế thời Bắc Ngụy, đạo sĩ Khấu Khiêm Chi mới trộm dùng danh từ đạo sĩ, tự ý thay thế danh xưng Tế tửu”. Như vậy đâu phải Tuệ Lâm ức đoán mà sử sách đã ghi chép rõ ràng. Các sách như Văn Đế truyện và Phiên nhạc Quan Trung kỉ trong Hán Thư của Ban cố; Cao Sĩ truyện và Phỏng phụ lão truyện của Hoàng Phủ Dật ở Kê Khang đều không có đề cập đến việc Hà Thượng công kết cỏ làm am, hiện thần biến. Tất cả đều sai lầm, không hợp kinh điển, hư cấu, dối tạo mà thành chứ nào thật có.
Đương kim chúa thượng lâm triều cung kính hỏi đạo, không những đã thân gần hoàng thân, mà còn giúp cho bá tính sáng tỏ phép tắc. Thật đã dẹp được thuật xấu của ba người họ Trương, lại xiển dương diệu lí trong năm nghìn lời.
Vào năm Vĩnh Bình mười bốn (71) đời Hán Minh đế, sáu trăm chín mươi đạo sĩ như Tự Thiện Tín... nghe nói Phật giáo truyền vào Lạc Dương, bèn thỉnh cầu được so tài. Bọn họ gom tất cả ba mươi bảy bộ, gồm bảy trăm bốn mươi bốn quyển kinh sách của Đạo gia, thật ra trong đó chỉ có năm mươi chín quyển thuộc Đạo kinh, hơn hai trăm ba mươi lăm quyển của Bách gia chư tử.
Thần tiên truyện của Cát Hồng đời Tấn ghi: “Lão giáo có chín trăm ba mươi quyển sách nói pháp tiêu tai cứu thế, bảy mươi quyển nói về phù chú, tất cả là một nghìn quyển”. Niên hiệu Thái Thỉ thứ bảy (471) đời Lưu Tống, đạo sĩ Lục Tu Tình đáp Minh đế: “Những kinh thư, sách nói về thuốc bệnh, phù chú, đồ sấm tổng cộng có một nghìn hai trăm hai mươi tám quyển. Trong đó, một nghìn chín mươi quyển đang lưu hành ở đời, và một trăm ba mươi tám quyển còn giữ tại Thiên cung”. Lại nữa Huyền đô kinh mục nói có sáu nghìn ba trăm sáu mươi quyển, nhưng căn cứ theo lời Lục Tu Tĩnh đời Tống thì thấy hai nghìn bốn mươi quyển có nguyên gốc, còn bốn nghìn ba trăm hai mươi ba quyển thì chưa từng thấy. Theo đây thì biết rõ sự tình, nguyên nhân trá ngụy đã lộ rõ nơi quốc sử.
Vậy nếu theo lời của Tiêu Ôn, thì Đạo gia chỉ có Đạo đức kinh, nếu theo sự tính toán của Hán đế thì có hơn bảy trăm quyển, nếu theo Thần tiên truyện của Cát Hồng thì có một nghìn quyển, theo lời Lục Tu Tĩnh tâu thì hơn trước chín mươi quyển, còn theo Huyền đô kinh mục thì rất nhiều. Trước sau bất nhất như vậy thì biết rõ là hư vọng. Đó là do tăng số quyển, thêm thiên chương, trộm kinh Phật, thay đổi đầu đuôi rồi cho là danh sơn tự hiện, hoặc nói hang động bay đi. Vậy sao chỉ có Hoàng lãnh tự hay, bậc anh hiền không biết; sử sách chẳng ghi, kinh điển chẳng chép ?
Xin hỏi các đạo sĩ ngày nay kiểm định xem, những kinh sách xuất hiện sau này là do Lão Tử nói riêng hay do Thiên Tôn thuật lại? Dẫu có thuyết thì cũng phải có thời gian, nơi chốn thầy trò luận thuyết chứ? Vậy đó là thời nào, tại nước nào, năm nào, tháng nào? Nếu có căn cứ thì cho phép lưu hành, nếu vọng ngôn theo lẽ nên đốt bỏ.
Ngày nay triều đại hiền minh trị thế, thống lãnh trăm vương, Thánh thượng ngự tại tiền điện, đúng là thời vận nghìn năm có một. Đó là muốn truyền rộng năm giáo , nên dẹp tận sách yêu tà; thuật lại chín trù mà hoàng dương lời dạy về đạo trị thế. Thần đâu dám mượn lân-chương quí tiện để can ngăn Thánh thượng, dùng lộc-mã hơn kém để khuyên gián triều thần. Chỉ vì chẳng rõ đạo Hoàng Cân lẫn lộn chân ngụy, chỉ thấy đạo sĩ mà chẳng phân biệt đúng sai, vì thế mới mượn ví dụ người Tần giống tướng mạo, Lỗ tục đồng hình dung để luận bàn mà thôi. Mong giang sơn như long mã, vận nước vút bay cao, nếu không như vậy thần chịu trách phạt, chứ biết làm sao?
62.3.4. Yêu hoặc làm loạn chúng
Trộm nghe : tiếng hòa thì âm vang thuận, hình thẳng thì bóng ngay, chưa thấy việc dùi cây lấy lửa mà được băng, trồng hạt dưa mà mọc lên cây đậu. Cho nên Tô Tần, Trương Nghi tham kiến Quỉ Cốc, khởi đầu Cốc dạy sự trá ngụy; Nhan Hồi, Mần Tổn gặp Khổng Tử, trước tiên Tử nêu lên đức hạnh. Cho nên biết học Hai thiên thì đạt đến vô vi nhiệm mầu, làm theo họ Trương thì mưu đồ khởi đầu cho mầm loạn. Vì sao? Vì vào thời Thuận đế nhà Hậu Hán, Trương Lăng người đất Bái sang nước Thục, nghe các người già truyền rằng: “Ngày xưa Hán Cao tổ ứng theo hai mươi bốn khí mà cúng tế hai mươi bốn đàn, do đó được làm vua thiên hạ”. Trương Lăng nghe vậy, không xét đức hạnh của mình, vội tính kế, giết trâu cúng tế hai mươi bốn nơi, lập thổ đàn, dựng nhà tranh, gọi là hai mươi bốn trị. Trị quán bắt đầu hưng khởi từ đây. Hai mươi ba nơi tại đất Thục, một nơi tại Hàm Dương gọi là Doãn Hỉ. Từ đó Trương Lăng dối trá dụ dỗ nhân dân, tụ tập hung đảng, thu tô thuế, lúa gạo, mưu đồ tạo phản. Nhưng Trương Lăng bị rắn cắn, không thể thực hiện mưu đồ; cháu Trương Lăng là Trương Lỗ cũng hành theo đạo thuật ấy, rồi tự xưng là Sư Quân, từ đây hoạn loạn phát khởi. Sau đó bị Tào Tháo diệt. Đến niên hiệu Trung Bình thứ nhất (184), Trương Giác người Cự Lộc tự xưng là Hoàng Thiên Bộ Sư, dưới trướng có ba mươi sáu tướng, hơn mười vạn quân, tất cả đều chít khăn vàng, hưởng ứng Trương Lỗ từ xa, đốt phá Nghiệp Đô, triều đình phải sai Phủ doãn Hà Nam là Hà Tiên đem quân đánh dẹp.
Niên hiệu Hàm Ninh thứ hai (276) triều Tấn Vũ đế, đạo sĩ Trần Thụy dùng tà đạo mê hoặc nhân dân, tự xưng là Thiên Sư, tụ tập đồ chúng đến mấy nghìn, hoạt động nhiều năm tháng, sau bị Thứ sử ích châu trừ dẹp. Lại niên hiệu Thái Hòa thứ nhất (366) đời Tấn Văn đế, một đạo sĩ ở Bành Thành là Lư Tung tự xưng là Đại Đạo Tế Tửu, dùng tà thuật mê hoặc nhân dân, tụ tập đồ đảng, sáng sớm đánh phá Quảng Hán môn, nói là nghinh đón Hải Tây công. Bây giờ trong cung, Hoàn Bí... biết được đem quân giao chiến, Lư Tung bị tiêu diệt.
Vào niên hiệu Đại Đồng thứ năm (539) thời Lương Vũ đế, đạo sĩ Viên Căn dùng lời yêu tà mê hoặc mọi người, hành theo pháp cấm bộ, bị quan quân bắt, liền bị tiêu diệt. Niên hiệu Khai Hoàng thứ mười (590) đời Tùy Văn đế, tại huyện Xương Long, Miên châu có đạo sĩ Bồ Đồng với hai đồng nam phụ tá ở Băng Khê quán tự xưng đã đắc thánh, lừa dối nhân dân. Họ xếp chồng các giường nằm lên đến mái nhà, lên ngồi trên đó và nói:
- Đây là mười lăm đồng nữ mới lãnh thụ được pháp này.
Sau đó bảo các cô gái lên giường, dùng màn vây quanh, rôi cùng gian dâm, trải qua nhiêu ngày, sự việc bại lộ, các đạo sĩ liền bỏ trốn. Niên hiệu Khai Hoàng mười tám (598), đạo sĩ Hàn Lãng ở ích châu, Hoàng Nho Lâm ở Miên châu mê hoặc Thục vương làm việc phản nghịch, nên nói: “Muốn lập việc lớn nên nhờ vào thắng duyên”. Thế là chúng xúi Thục vương dốc hết kho lẫm tạo một tượng Lão Tử nghìn thước, trai hội cúng cho một nghìn người, vẽ hình vua trước, với dáng trói đầu và tay, rồi dùng thần chú yểm vào. Bấy giờ Hà Bắc công Triệu Trọng Khanh kiểm xét, biết được sự thật bèn, bắt tống vào kinh tra xét, chúng đều cúi đầu nhận tội, và bị hành hình tại chợ.
Niên hiệu Vũ Đức thứ ba (623) triều Đại Đường, tại huyện Xương Long, Miên châu, một người dân tên là Lí Vọng trước kia theo Hoàng Lão, thường làm chuyện yêu tà. Vào niên hiệu Đại Nghiệp cuối cùng (617), đạo sĩ Bồ Tử Chân hiểu chút đạo thuật, bị bắt dẫn đến Đông kinh, nhưng đến Lạc Dương thì qua đời, và được chôn tại nơi ấy. Nhưng Lí Vọng nói dối là sắp về. Lí Vọng đến ẩn tại một hang động thâm u, không người biết trong một ngọn núi gần huyện để làm những chuyện xấu xa. Ban ngày thì căng cổ, lớn giọng, tiếp nhận truyền thông, ban đêm thì nén hơi, nhỏ giọng, dối trá nói chuyện họa phúc, khiến các đạo sĩ truyền tin khắp nơi, châu huyện đều biết. Lúc mới kiểm xét, các quan đều tin, sau thứ sử Lí Đại Lễ nói: “Việc này không nên xem thường, cần phải tâu trình Thánh thượng, để đích thân người nghiệm xét mới biết được thật giả”.
Thế là họ tập hợp hơn một trăm người, gồm cả quan viên, đạo sĩ đến hang động lễ lạy xin định ngày gặp vua. Lí Vọng dối trá trả lời, mọi người đều tin kính. Chỉ có huyện lịnh Ba Tây là Lạc Thế Chất, rất hiểu tình lí, biết là lừa gạt, ban đêm âm thầm xem xét. Đơi lúc thấy Lí Vọng nén hơi, Thế Chất liền quát nạt. Lí Vọng biết chuyện đã bại lộ, liền cúi đầu chịu tội. Quan binh đến bẳt tống giam vào ngục, mấy ngày sau, chuẩn bị định tội thì Vọng uống thuốc độc tự vẫn.

Phần 11

Niên hiệu Trinh Quán mười ba (639), đời Đường, tại Tây kinh có đạo sĩ Tần Anh Hội ở Tây Hoa quán, đạo sĩ Vi Linh Phù ở Thánh quán, đạo sĩ hoàn tục Chu Linh Cảm cùng hiểu chút ít Chương tiêu, được vua ban sắc lịnh cho phụng sự Đông cung thái tử. Các người này mê hoặc, xúi dục Đông cung, kết mưu phản nghịch. Sự việc không thành, cả ba đều bị tru diệt, sung vào triều đình tất cả tài sản, nhà cửa, vợ con, nô tì.
Niên hiệu Long Sóc thứ ba (663), đạo sĩ Quách Hành Chân ở Tây Hoa quán thân phận thấp hèn, gia thế bân hàn cũng hiểu chút ít Chương tiêu, được vua cho phụng sự Thái tử. Nhân vua ban sắc vào núi Long Tâm hái thuốc, hắn mượn uy vua mê hoặc bá tính, để đoạt lấy tài vật, gian dâm vô độ. Hành Chân lại cùng với các đạo sĩ ở kinh thành trộm lấy lời trong kinh Phật đưa vào đạo kinh. Vua xem xét, biết đó là ngụy tạo, bèn giao cho pháp quan tra xét. Đến lúc tra khảo đau đớn thống khổ, Hành Chân mới chịu thừa nhận. Vua tha cho tội chết, nhưng đày đến nơi xa, tất cả tài sản, vợ con đều bị tịch thu, sung vào quan. Cho nên biết, sở học không chân chính thì sự phản nghịch theo đó phát sinh; theo tà đạo dung tục thì sự ô nhục từ đó phát khởi.
Vua ban sắc: “Đạo sĩ Triều tán đại phu Kị đô úy Quách Hành Chân kiến thức hạn hẹp, đạo thuật kém cỏi, hiểu biết chút y dược, thông thạo được ít Chương tiêu, chữa lành căn bệnh cho Hoàng thái tử. Xét công lao, trẫm ban cho tước vị cao. Nhưng mượn việc trẫm sai bảo trước kia mà vô cớ gây họa, khiến nhân dân lo sợ. Đạo sĩ này lại kết giao quan trên, qua lại chức dưới, chuyên dối gạt lấy tài vật của người mà bảo là tạo các công đức, cất chứa rất nhiều Tà chính cũng chẳng phân mà lại dối truyền chí giáo; lúa đậu chẳng hay mà ngâm đọc cấm thư; chỉ biết thê thiếp, chỉ cầu mong vườn ruộng cửa nhà. Tuy suối linh nghìn thước, cũng đâu gội sạch thân uế ấy; linh đan cửu dịch cũng đâu luỵên được tâm nhơ kia. Dù nhổ hết tóc cũng không thể tính tội lỗi, chẻ tre rừng cũng không ghi trọn việc ác. Nếu luận vê tội lỗi, nên theo pháp mà trị; nhưng vì gởi thân nơi cửa đạo, nên lòng trẫm không nỡ, chỉ phế trừ thân phận đạo sĩ, vĩnh viễn lưu đày đến Ái châu, lập tức bảo huyện trưởng nhận lệnh đưa đi; khi đến nơi, quan địa phương kiểm soát, không cho ra khỏi huyện. Tất cả tài sản, vợ con, nô tì, đất đai nhà cửa, xe cộ, ngựa trâu đều sung quan.
Ngày mười bốn, tháng mười hai niên hiệu Long Sóc thứ ba, tuyên chỉ”.
Trộm nghĩ: Giặc vấn khăn vàng nổi lên tại Cự Lộc, thẻ đỏ quỉ thư xuất phát tại Bình Dương mà nói phục sức tựa mây, lời này thật viễn vông; áo quần đồng lụa mỏng, chẳng giống nhân gian. Đâu có việc cưỡi hạc cưỡi rồng, đội khăn khoác áo, đuổi loan đuổi phụng, đầu đội mũ da. Vì thế Bạch Thạch, Xích Tùng chẳng phải quỉ tốt; Vương Kiều, Tiện Môn đều chẳng phải trị đầu. Hơn nữa Lí Đam lúc phụng sự nhà Chu, phục sức đồng Nho Mặc; khi Công Kì giúp nhà Hán, mới có khăn vàng. Nếu đó là phép tắc của tổ tông, các đạo sĩ nên lạy Bá Dương, cũng nên tôn kính Công Kì. Vì thế, đây là điều tệ hại, cần phải dẹp trừ.
62.3.5. Đạo giáo tin kính Phật giáo
* Lời bàn
Những điều nêu ra từ trên đến đây, đều dẫn chứng từ kinh sách. Như vậy chính tà đã rõ, lên xuống khác đường, đâu có thể dùng ánh sáng đom đóm tranh với mặt trời mặt trăng, hạt lân hư đâu thể đồng với Thái sơn cao vút. Cho nên biết Phật pháp sâu kín, phàm tình đâu thể lường biết, tăng chúng cao xa, đạo sĩ nào thể sánh bằng. Phàm người xuât gia, bên trong thì cắt ái từ thân, bên ngoài thì lìa bỏ vinh hoa phú quí, chí quyết cầu Vô thượng bồ-đề, thệ nguyện ra khỏi biển khổ tử sinh. Vì thế bỏ y phục công hầu mà đắp tấm y ruộng phúc, hành đạo để báo bốn ân, lập đức để cứu ba cõi. Đây chính là chí lớn vậy. Thật biết địa vị Tam bảo tột cao, há đồng hai giáo Khổng Lão. Cho nên nay tìm trong kinh thư Khổng Lão và sử sách nội ngoại từ đời Hán Ngụy đến nay, hầu nêu ra các đoạn văn kính Phật và Tăng.
Đã kính kinh mình, còn y pháp trọng Phật, mong chế phục tà ngu, nương theo chính điển.
* Kinh Đạo sĩ pháp luân ghi: “Thiên Tôn thuyết Giới kệ khuyên đạo sĩ:
Nếu thấy chùa Phật
Suy nghĩ vô lượng
Nên nguyện tất cả
Đồng nhập pháp môn.
Nếu thấy sa-môn
Suy nghĩ vô lượng
Nguyện sớm thoát thân
Để tu chân Phật
* Kinh Thái thượng thanh tịnh tiêu ma bảo chân an chí trí tuệ bản nguyện đại giới thượng phẩm ghi: “Thiên Tôn thuyết nguyện văn: Nếu gặp sa-môn ni, nên nguyện tất cả thấu hiểu pháp môn, đắc đạo như Phật.
* Kinh Lão Tử thăng huyền ghi: “Thiên Tôn bảo Đạo Lăng: ‘Ông nên đến phương đông lãnh thụ giáo pháp’”. Lại ghi: “Đông Phương Như Lai sai đại sĩ Thiện Thắng đến Thái Thượng nói: ‘Như Lai nghe ông thuyết pháp cho Trương Lăng, cho nên sai ta đến xem. Ông nên nói với Trương Lăng theo ta đến chỗ Phật. Đến đó sẽ cho ông thấy những điều chưa thấy, nghe những điều chưa nghe’. Trương Lăng lễ đại sĩ, rồi theo đến chỗ Phật nghe pháp”.
* Đạo sĩ Trương Lăng biệt truyện ghi: “Khi ở núi Hạc Minh, Trương Lăng đã cúng dường tượng Phật và đọc kinh Phật”.
* Kinh Lão Tử tây thăng ghi: “Thầy ta du hóa đến Thiên Trúc và vào Niết-bàn. Phù Tử nói: Thầy của Lão Tử hiệu là Thích-ca văn Phật”.
* Kinh Trí tuệ quản thân đại giới ghi: “Các đạo sĩ nên nhớ đến cung Lưu Ảnh ở cõi Đại Phạm đỉnh lễ Phật”.
* Kinh Huyền thăng ghi: “Nếu có sa-môn muốn đến nghe kinh, nên xem xét và cùng trụ, không được tính chi phí ăn uống mà ngăn cấm, không cho nghe. Lại phải thỉnh ngồi trên các đạo sĩ kinh sư”. Kinh lại ghi: “Khi đạo sĩ tổ chức trai hội cúng dường, nếu có tì-kheo đến thì nên thỉnh ngồi trên, khéo léo bày biện phẩm vật quí tốt cúng dường, các đạo sĩ kinh sư ngồi dưới. Nếu có sa-môn ni đến, cũng nên sắp xếp ngồi nơi thỏa đáng, đồng thời thỉnh ngồi trên. Trai chủ y như phép mà cúng dường, không được ngăn cản”.
* Kinh Hóa Hồ ghi: “Thiên Tôn kính Phật thuyết kệ:
Nguyện hái hoa Ưu-đàm
Nguyện đốt hương chiên-đàn
Cúng dường nghìn thân Phật
Đỉnh lễ đấng Định Quang
Phật sinh sao quá muộn?
Nê-hoàn sao quá sớm?
Chẳng gặp Thích-ca văn
Trong lòng luôn sầu khổ
* Kinh Linh bảo tiêu ma an chỉ ghi: “Thiên Tôn nói kệ:
Đạo lấy trai làm đầu
Siêng tu sẽ thành Phật
Nên lập cầu pháp lớn
Độ khắp cả muôn loài
* Kinh Lão Tử đại quyền bồ-tát ghi: “Lão Tử là bồ-tát Ca-diếp, du hóa đến Trung Hoa”.
* Kinh Linh pháp luân ghi: “Cát Tiên công vừa sinh được mấy ngày, có một sa-môn nước ngoài thấy liền đến lễ bái, rồi ẵm bồng. Sa-môn nói với cha mẹ Cát Tiên công: ‘Đứa bé này là bồ-tát Thiện Kiến ở phương tây, ngày nay đến đất Hán giáo hóa chúng sinh, sẽ đắc Tiên đạo, bạch nhật thăng thiên‘. Tiên công nói với các huynh đệ: ‘Thầy ta là Ba-duyệt-tôn tự là Duy-na-ha người Tây Vức’
* Kinh Tiên nhân thỉnh vẩn chúng thánh nạn ghi: “Cát Tiên công bảo các đệ tử: ‘Ngày xưa ta cùng với Thích Đạo Vi, Trúc Pháp Khai, Trương Thái, Trịnh Tư Viễn cùng phát nguyện. Nhưng Đạo Vi, Pháp Khai nguyên làm sa-môn; Trương Thái, Trịnh Tư Viễn nguyện làm đạo sĩ’ ”.
* Tiên công khởi cư chú ghi: “Tiên công gá sinh vào nhà thượng thư Cát. Thượng thư ngoài tám mươi tuổi mới có một người con trai. Bấy giờ có một sa-môn tự xưng là người Thiên Trúc, đến chợ mua rất nhiều hương. Mọi người lấy làm lạ theo hỏi, sa-môn đáp: ‘Khi hôm ta nằm mộng thấy bồ-tát Thiện Tư hạ sinh vào nhà thượng thư Cát, ta mang hương đến tắm bô-tát’. Đên giờ sinh, sa-môn đên nhà thượng thư, đốt hương, nhiễu bảy vòng, cung kính lễ bái, tắm gội cho bồ-tát rồi đi”,

Phần 12

* Kinh Tiên công thỉnh vấn thượng ghi: “Nói chuyện với sa-môn, đạo sĩ thì nên để tâm nơi đạo”.
* Phẩm Giảo lượng công đức kinh Thượng phẩm đại giới ghi: “Cúng dường chùa tháp Phật thì được phúc báo gấp nghìn lần; cúng dường cho sa-môn thì được phúc báo gấp trăm lần”,
* Kinh Thăng huyền nội giáo ghi: “Hoặc có người lúc bình thường không chịu tạo phúc, thấy sa-môn, đạo sĩ thuyết pháp, hoàn toàn không thuận theo”
* Kinh Trí tuệ bản nguyện giới thượng phẩm ghi: “Mỗi ngày cúng dường Phật và tăng một bữa cơm trưa, hoặc cúng dường chùa tháp một đồng trở lên, được phúc báo gấp hai vạn bốn nghìn lần. Công nhiều thì phúc nhiều, đời đời thông minh, xinh đẹp, tổ tiên bảy đời đều được vào nước Phật Vô Lượng Thọ”
* Kinh Tiên công thỉnh vấn ghi: “Có người tạo các công đức, nguyện làm sa-môn, đạo sĩ học rộng, để đời sau làm sa-môn học rộng Phật pháp hầu làm pháp sư. Có người thấy sa-môn, đạo sĩ giữ gìn trai giới, đọc tụng kinh điển, liền cười và nói: ‘Bọn họ hướng lên không trung ngâm nga kinh điển là muốn cầu điều gì? Thật uổng một bữa ăn trưa trong bụng’. Đây là người tội, đạo sĩ phải khởi tâm từ khuyên bảo. Nếu cố giữ, không buông bỏ, sau khi chết phải rơi vào địa ngục, bị khảo tra, chịu năm nỗi thống khổ”.
* Kinh Tiên công thỉnh vấn ghi: “Ngũ kinh là nghiệp của Tục Nho, còn giáo của Đạo và Phật thì trở về đại thiện”.
* Diệu kinh Thái thượng linh bảo chân nhất khuyến giới pháp luân ghi: “Ta quán tất cả chư thiên từ vô số kiếp đến nay và thấy các đạo sĩ, bá tính nam nữ đã được đạo Vô thượng chính chân. Các vị cao tiên, chân nhân, chư Phật mười phương đều do kiếp trước siêng năng, gian khổ cầu đạo không thể tính kể mới thành tựu”',.
62.3.6. Bỏ tà về chính
Cao tổ Vũ hoàng đế nhà Lương, năm ba mươi tám tuổi lên ngôi, tại vị bốn mươi chín năm. Tuy việc trăm họ bận rộn, nhưng tay không bao giờ rời sách. Nội kinh ngoại điển đều lưu tâm, hiểu thông mấy nghìn quyển. Đế sống rất kiệm ước, tự tiết chế mình, không mặc y phục lụa là, ngủ nghỉ giản đơn, công việc ngày đêm chưa từng biếng trễ; chỉ có mền vài, chiếu cói, giày cỏ, mũ thô; lúc mới lên ngôi Đế đã đầy đủ các thứ ấy. Lại ngày chỉ dùng một bữa, không nếm thịt cá. Từ khi có đế vương đến nay chưa vị nào làm được như vậy. Lúc đầu Vũ đế phụng sự Lão Tử, tôn sùng phù lục và đồ sấm, nhưng khi nghiên cứu cùng tận cội nguồn, Vũ đế thấy như ngụy tạo. Do đó, đích thân vận dụng thần bút hạ chiếu soạn bài văn Xả đạo:
- Hôm nay ngày mồng tám tháng tư năm Thiên Giám thứ ba (504), hoàng đế triều Lương là Lan Lăng Tiêu Diễn cúi đầu đỉnh lễ chư Phật, Tôn pháp và Thánh tăng trong mười phương.
Kính nghe kinh dạy: “Phát tâm bồ-đề tức là phát tâm Phật, các pháp thiện khác không thể sánh bằng, tâm này có khả năng giúp chúng sinh thoát khỏi cửa khổ ba cõi, bước vào con đường tốt đẹp vô vi”. Cho nên Như Lai sạch các lậu hoặc, lắng tâm thức mà thành Chính giác, chí đạo đã thông, đức tròn đầy mà đạt thánh vị. Ngài đốt đuốc tuệ để chiếu sáng mê đồ, soi dòng pháp mà lắng trong trần cấu. Lại tỏ dấu lành nơi trần thế, sáng tôn dung ngoài ba cõi; dẫn quần mê nơi biển dục, đưa hàm thức vào Niết-bàn; lại đưa lên non cao thường lạc, vượt khỏi biển ái thẳm sâu; ngôn ngữ lìa bốn câu, bặt trăm chấp; hiện thân nơi Ta-bà mà sinh hạ vào vương cung.
Lúc mới sinh, Thế Tôn đi bảy bước, xướng lời độc tôn trong ba cõi; chiếu rực sáng khắp đại thiên. Nhưng vì tâm chúng sinh cạn hẹp, hay sinh nhàm chán, nên Ngài bèn thuyết rõ đạo Viên thường, rồi niết-bàn nơi Hạc thụ. Đến như tội của A-xà-thế đã diệt, họa của Bà-tẩu được trừ, nếu không gặp Đại Thánh Pháp vương, thì ai có thể cứu được nỗi khổ ấy? Tuy kim thân đã ẩn, nhưng đạo ấy vẫn thường hằng, không bao giờ thiếu sót.
Đệ tử từ trước si mê, phụng sự Lão Tử, nhiều đời nối nhau huân nhiễm pháp tà. Nay thiện nhân xưa đã phát, biết bỏ tà mê mà trở về, lìa thầy thuốc xưa để tựa nương Chính Giác. Nguyện đời sau, được đồng chân xuất gia, hoằng truyền kinh giáo, hóa độ chúng sinh đồng thành Phật đạo. Thà tin theo chính pháp mà đắm chìm trong đường ác, chứ không muốn theo giáo Lão Tử tạm được sinh thiên; lại tu tâm Đại thừa, lìa niệm Nhị thừa. Cúi xin chư Phật chứng minh, bồ-tát gia hộ.
Đệ tử Tiêu Diễn thành tâm đỉnh lễ!
Bấy giờ đế cùng với hơn hai vạn người nhóm họp trên lầu của điện Trùng Vân, tay cầm bài văn này mà phát tâm bồ-đề. Đến ngày mười một tháng tư, đế dạy các môn nhân:
- Trong kinh nói có chín mươi sáu đạo, nhưng chỉ có đạo Phật là chính đạo, còn chín mươi lăm đạo kia là tà đạo. Nay trẫm bỏ ngoại tà để phụng sự chính giáo của chư Phật Như Lai. Nếu vị công khanh nào muốn vào hội thệ này thì nên phát tâm bồ-đề.
Lão Tử, Chu Công, Khổng Tử tuy là đệ tử Như Lai, nhưng giáo nghĩa đã tà, chỉ là pháp thiện thế gian, không thể giúp người chuyển phàm thành thánh. Các hàng công khanh, bá quan, vương hầu, hoàng thân quốc thích cần phải bỏ ngụy vê chân, xả tà qui chính. Cho nên các kinh giáo và luận Thành thật ghi: “Nếu tin ngoại đạo với tâm sâu nặng, tin Phật pháp với tâm cạn mỏng, là người tà kiến. Nếu tâm tín kính bằng nhau thì đó là tính vô kí, không mang thiện ác”. Nếu kính tin Phật với tâm sâu nặng, tin Lão với tâm cạn mỏng thì đó là người thanh tín. Thanh là trong ngoài đêu sạch, không còn phiên não cấu uế; tín là tin chính, không tin tà. Cho nên nói là đệ tử Thanh tín. Còn tất cả những tín khác đều là tà kiến, không được gọi là thanh tín. Các vị hãy mau chóng hành trì!”.
Đến ngày mười bảy tháng tư, Thị trung an tiền tướng quân Đan Dương doãn Thiệu Lăng vương sớ tấu:
- Thần là Tiêu Luân từng nghe: Như Lai tướng hảo trang nghiêm, vòi vọi cao đến trời Hữu Đỉnh, mênh mông rộng lớn thật vô bờ. Ngài dùng bánh xe vàng để khai mở tâm chúng sinh, mượn hạt lúa bạc để đáp ứng phàm tình; mài dao bén Bát-nhã mà cắt lấy diệu quả Niết-bàn, thả thuyền trên biển khổ tử sinh để đưa người đến bến bờ thường lạc. Cho nên, giăng đám mây từ bi mà tuôn trận mưa cam lộ; bảy nơi-tám hội, nghĩa giáo hóa thật vô cùng; bốn đế-năm thời, nơi lợi ích cũng vô tận; thật là băng tuyết đã tan, bầu trời trong sáng, sương mù cuốn hết, mây cũng trôi đi; lửa đuốc đã hết sáng, khói bụi cũng tự lắng yên. Có thể nói, vào tục thì độ tất cả quần mê, xuất trần thầm hợp chân như tính hải; khiến cho người trong rừng rậm tà kiến, suy nghiệm pháp môn mà không nhàm mỏi; kẻ điếc đui khát ái, thích cầu nghĩa thâm áo mà biết trở về. Đạo thụ phát khởi từ Duy-da-li, đức âm rền vang tại Kinh Lạc. Ban đêm Hằng tinh chẳng hiện, mà cung Chu rực sáng, điềm bồ-tát giáng sinh; ngày trăng tròn, tôn dung viên mãn, vua Hán ban đêm cảm mộng người vàng. Dùng năm pháp lưu truyền thì vạn đức mới hiên lộ, tập tục Trung Hoa dần mở, tranh quạt ngọn gió cao xa. Nhờ ba minh soi sáng đường tội lỗi, nương bảy giác chi nhổ sạch cội khổ đêm dài.
Nay gặp Hoàng đế bồ-tát thừa mệnh trời, an định thiên hạ, xử lí triều chính, chăm lo muôn dân, đức lớn bao trùm vũ trụ, trí sáng chiếu ngoài bốn biển. Thánh thượng tuôn vô ngại biện tài tiếp hóa lê thứ, dùng sức bản nguyện nhiếp thụ muôn dân. Cho nên, tùy bệnh cho thuốc, nêu quyền để hiển chính; tôn cao yểu chỉ Nhất thừa, mở rộng nền móng Thập địa. Vì thế muôn nước hướng về, đồng nương chính trí; người còn kẻ mất đều được cứu độ. Bấy giờ, người thì khởi nguyện Đẳng giác, vật thì phát tâm bồ-đề; tất cả đều thiết tha mong quay lại cổ hương, vui thú trên con đường trở về nguồn cội, người người đồng giữ từ bi, cùng tu nhẫn nhục.
Có thê nói, Thánh thượng là bậc chở che, làm lợi ích, dẫn dăt cứu độ chúng sinh vậy. Đạo đã trùm khắp, người cũng đã thấm nhuần. Thế là bậc ứng chân vận dụng thần biến, phá tan ngoại đạo tà kiến giữ vững xã tắc quốc gia, già-lam, tinh xá mọc lên cùng khắp. Lại lập hội giảng kinh, lời thánh thượng vang truyền mọi chốn.
Thần, từ xưa chưa đạt nguồn diệu lí, phụng sự ngoại đạo tà đồ, giống như cần quả ngọt mà lại trồng hạt đắng, muốn trừ khát mà lại uống nước mặn. Nay thần đã trừ mê mới tạm biết được lối về, thụ đại giới Bồ-tát để răn dè, ước thúc thân tâm, bỏ đạo tà Lão Tử, vào chân giáo pháp lưu. Cúi xin Thánh thượng từ bi, rủ lòng xót thương chấp thuận!
Đến ngày mười tám tháng tư, Trung thư xá nhân Nhâm Hiếu cung kính tuyên đọc sắc chỉ:
- Có thể cải mê vào chính, thật là người đã gieo trồng nhân thiện từ nhiều kiếp trước. Nay cần phải dũng mãnh tinh tiến hơn!
* Chiếu phế bỏ đạo pháp Lí Lão của Cao Tổ Văn Hoàng đế triều Bắc Tề:
- Ngày trước đạo sĩ Lục Tu Tĩnh là người được trọng vọng trong Đạo gia, đã học pháp thuật của ba người họ Trương, xiển dương đạo của hai người họ Cát. Si Trương đóng cửa tiếp nhận phù lục, vọng thay đổi, chế định phép tắc cho triều Tề, hao tốn rất nhiều tiền của, mục đích là muốn các vương tin phụng. Gặp lúc Lương tổ lên ngôi, hạ chiếu phế bỏ Đạo giáo, Lục Tu Tĩnh và môn đồ không nén được lòng phẫn uất, trốn đến biên cảnh rồi chạy thoát sang Bắc Tề. Đến đây bọn họ lại

Phần 13

dốc hết châu báu tặng cho những vương công, quí tộc để gửi gắm chí hướng, mong hưng khởi Đạo giáo.
Tế Vũ đế bị mê hoặc, cho nên vào tháng chín niên hiệu Thiên Bảo thứ sáu (555), Tề đế hạ chiếu triệu tập mười người, gồm sa-môn và các đạo sĩ thông đạt thi đấu, đồng thời đích thân dự khán. Bấy giờ các đạo sĩ tụng chú, làm cho y bát của sa-môn lúc bay lên, lúc chuyển động, lại khiến các cây gỗ hoặc nằm ngang, hoặc thẳng đứng. Các sa-môn không học chú thuật, nên im lặng, hoàn toàn không đấu lại được. Các nam nữ reo hò, hàng quí tiện tán thưởng, cho môn đồ của Lục Tu Tĩnh thắng sa-môn. Thế là các đạo sĩ vô cùng vui mừng, kẻ thì nhảy vọt lên, người thì đứng tựa, kẻ ngước nhìn trời mây, lớn tiếng luận bàn, kiêu căng tự đại, khoa trương đạo thuật. Có kẻ còn nói: “Khéo léo vận dụng thần thông, chế ngự và phá dẹp, sa-môn hiện một thì ta biến hai. Các ngươi có thể thấy đó, nay chúng ta mới thi triển chút đạo thuật mà họ đã thua rồi”
Vũ đế lại bảo sa-môn Đại thống Pháp Thượng đấu với đạo sĩ Lục Tu Tĩnh. Pháp sư nói:
- Phương thuật là món rất tầm thường, hàng Nho gia tục sĩ còn cảm thấy thẹn khi thi triển, huống gì là người xuất gia. Nhưng mệnh vua khó từ, có thể không lên tiếng sao? Nay có thể bảo một vị thấp nhất trong tăng ra thi đấu.
Bấy giờ có một vị tăng tên là Phật Tuấn, tự là Đàm Hiển, không biết người xứ nào, đến đi vô định ăn uống đồng thế tục, nói năng buông thả, nhưng rất thông minh, trí lượng sâu rộng. Pháp Thượng biết được, nên thầm kết giao. Bấy giờ các danh tăng đã nhóm họp đông đủ, Đàm Hiển đang ở cuối pháp hội, uống rượu say mèm, ngồi lắc lư nghiêng ngả. Vị quan phụ trách việc này không dám gọi lên, mà trình bày sự việc cho ngài Pháp Thượng biết. Ngài Pháp Thượng bảo:
- Đạo sĩ dùng rượu cúng tế là phép tắc thường của Đạo gia, chỉ có vị tăng uống rượu này mới có thể nói chuyện với họ được. Ngài có thể dìu vị ấy lên đây.
Mọi người nghe thế vô cùng sợ hãi, nhưng ngài Pháp Thượng uy quyền rất lớn, không ai dám can ngăn, bèn cử hai người dìu đỡ Đàm Hiển lên tòa cao. Sau khi lên tòa cao, Đàm Hiển mỉm cười nói:
- Ta muốn uống cho thật say! Vừa rồi ta nghe trong hội này có người nói: ‘Sa-môn hiện một thì ta biến hai.’, là nói thật hay nói chơi vậy?
Có đạo sĩ đáp:
- Là thật!
Đàm Hiển liền đứng co một chân rồi nói:
Ta đã hiển một rồi, huynh có thể biến hai đi! Không thấy ai đáp, Đàm Hiển liền nói:
- Vừa rồi các vị đọc chú khiến cho y bát của tăng bay lên cao, đó là ta cố ý mở đường để thử đạo thuật các vị mà thôi!’
Nói xong, Đàm Hiển bảo lấy y bát của thiền sư Trù cho các đạo sĩ trì chú. Các đạo sĩ cùng lúc phấn chấn trì tụng, nhưng hoàn toàn không lay động. Đế liền bảo người đến lấy y, nhưng dù mười người vẫn không thể nâng lên được. Đàm Hiển lại bảo lấy y đặt trên các cây gỗ rồi các đạo sĩ trì chú, nhưng vẫn không chút linh nghiệm. Các đạo sĩ nhìn nhau hết kế, nhưng vẫn cho ngôn luận của mình là hơn, nên mới nói:
- Phật gia tự cho giáo pháp của mình là nội, nội thì nhỏ, cho đạo gia của ta là ngoại, ngoại thì lớn.
Đàm Hiển lập tức đáp:
- Nếu thế, thiên tử tại nội, các quan tại ngoại; vậy thiên tử nhất định nhỏ hơn các quan rồi!
Lục Tu Tĩnh cùng môn đồ ngậm miệng, không nói được lời nào. Vũ đế tận mắt chứng kiến đúng sai, tà chính, liền hạ chiếu:
- Pháp môn không thể hai, Chân tông chỉ có một; cầu chính đạo lấy vắng lặng, đạm bạc làm gốc. Tế tửu là đạo hư vọng trong đời, người trần tục chưa tinh ngộ mới tôn sùng; bởi lấy rượu làm vị, thì sao có thể thanh tịnh rỗng rang! Dùng thịt khô cúng tế, thật vĩnh viễn xa cách lòng từ bi. Như vậy, trên thì khác với nghĩa thờ phụng của thánh nhân, dưới thì trái với phép tắc cúng tế. Do đó nên cấm tuyệt, không cho tin kính, phụng thờ. Nay ban sắc chỉ đến khắp nơi cho mọi người đều nghe biết.
Lại ban lịnh, nếu đạo sĩ nào qui phục, thì giao cho Chiêu huyền Đại thống Pháp Thượng độ xuất gia, người chưa phát tâm thì cho cạo tóc. Ngày hôm ấy chém đầu rất nhiều đạo sĩ. Người tự cho mình là thần tiên thì bảo lên đài Tam Tước bay đi xa, nhưng tất cả đều rơi xuống đất tan xương nát thịt. Từ đó nước Tề sạch bóng tà đạo, đến nỗi cả nước không có hai đạo, đến đầu đời Tùy mới dần dần trỗi dậy, nhưng đến hôm nay, vùng Đông Xuyên đạo ấy vẫn còn suy vi, không đáng đề cập.
Đến niên hiệu Trinh Quán hai mươi (646), Lưu Thiệu Lược và vợ Vương thị là tù nhân tại Cát châu có được bức Ngũ nhạc chân tiên đồ và mười bốn trang kinh Tam hoàng do đạo sĩ Bảo Tĩnh soạn. Trong đó có nói: “Hễ chư hầu có được bản kinh này thì sẽ làm hoàng đế, đại phu có được kinh này thì sẽ được làm cha mẹ của dân, thứ dân có được kinh này tiền tài tụ hội, người nữ có được kinh này nhất định sẽ làm hoàng hậu. Bấy giờ quan coi về hình pháp Cát châu là Tham quân Cát Biện. Một hôm khám xét nơi nằm của tù nhân thì thấy các vật này trong giỏ quần áo của Vương thị, bèn tra hỏi Thiệu Lược..., Lược đáp: “Nhận được từ một đạo sĩ”. Các quan cho đó là đồ sấm, bèn niêm phong chuyển gấp về kinh, trao cho quan Trung thư sảnh, tâu lên hoàng đế. Đế ban sắc cho Trung thư sảnh tra xét. Bây giờ Triều nghị lang Hình bộ lang trung Kỉ Hoài Nghiệp... triệu tập các đạo sĩ Trương Tuệ Nguyên của Thanh Đô quán, đạo sĩ Thành Vũ Anh của Tây Hoa quán tại kinh đô... để tra xét.
Tất cả đều nói:
- Những bản này là do đạo sĩ Bảo Tĩnh ngày xưa tạo, vọng cho là sách bí mật, chứ không phải chúng tôi soạn ra._Vua bèn cho thiêu hủy.
Lại nói về ruộng đất đã chu cấp cho đạo sĩ, các quan tâu:
- Như Phật giáo, căn cứ theo nội luật, khi tăng ni đã thụ giới, thì mỗi người được hưởng lộc ba mươi mẫu ruộng. Nay các đạo sĩ nam, đạo sĩ nữ căn cứ theo kinh Tam hoàng mà thụ Thượng thanh, Hạ thanh, như giới của tăng ni, nên cũng cấp cho bổng lộc ba mươi mẫu. Nay kinh ấy đã bị phế bỏ, đạo sĩ nam, đạo sĩ nữ không còn giới pháp, thì không nên nhận bổng lộc này. Xin bệ hạ phế bỏ như phế kinh.
Các đạo sĩ ở kinh thành rất sợ bị tước bổng lộc này, nên nhờ quan tâu xin dùng Đạo đức kinh của Lão Tử thay vào chỗ ấy. Nên ngày mười lăm tháng năm vua ban sắc, Thị lang Thôi Nhân Sư tuyên đọc:
- Văn tự kinh Tam hoàng đã không còn truyền, những ngôn ngữ tà vọng cũng đều dẹp bỏ, nên nay Đạo đức kinh của Lão Tử thay vào. Nếu các đạo quán, bá tính nhân dân trong thiên hạ mà có những bài văn này, thì phải giao cho quan thiêu hủy.
Mùa đông năm ấy quan các châu vào kinh triều kiến, sưu tầm được kinh văn này, đều gom đến trước đại sảnh Thượng thư bộ Lễ thiêu cháy. Cho nên biết, đời đời xuyên tạc, lắm kẻ ngông cuồng; người người ngụy tạo, số quyển cũng không ít. Kẻ không biết đều cho là lời của bậc thánh.
* Thích Đạo Dung người Lâm Lự, quận Hấp sống vào thời Tấn. Sư xuất gia năm mười hai tuổi. Lúc mới gặp, vị thầy mến sư diện mạo sáng sủa, có thần khí, nên bảo học ngoại điển trước. Hai thầy trò vào thôn mượn một quyển Luận ngữ, sư đọc luôn tại chồ mà không mang vế. Đọc xong, vị thầy cầm sách dò lại, sư đọc thuộc lòng, không sai một chữ. Vị thầy vô cùng kinh ngạc và rất thán phục, bèn cho sư tự ý du phương tham học.
Đến haỉ mươi tuổi, tài năng và sự hiểu biết càng siêu phàm, tất cả kinh sách nội ngoại đều ngầm chứa trong lòng. Chúa Dao Hưng nói: “Hôm qua vừa gặp Dung công, đây là một Thích tử thông minh kì đặc”. Liền hạ chiếu thỉnh sư vào vườn Tiêu Dao tham dự dịch trường của ngài La-thập.
Bấy giờ có một bà-la-môn nước Sư Tử thông minh, học rộng, biện thuyết giỏi, đã đọc hết kinh sách thế tục của Tây Vực, là tôn sư của các ngoại đạo nước ấy. Bà-la-môn này nghe ngài La-thập hoàng dương Phật pháp sâu rộng tại Quan Trung, ông ta nói với môn đồ:
- Đâu thể để cho giáo pháp của Thích tử độc truyền Trung Hoa, còn giáo pháp của ta lại không thể thấm ướt Đông quốc!
Thế là thầy trò bà-la-môn cưỡi lạc đà, mang kinh sách vượt đường đến Trường An. Dao Hưng thấy diện mạo ba-la-môn có vẻ thông minh, luận bàn trôi chảy, nên cũng rất ưa thích.
Bà-la-môn tâu:
- Chí đạo thật vô cùng, mỗi người tôn kính đạo của mình. Nay xin bệ hạ cho phép được đấu tài luận biện với các vị tăng nước Tần. Hễ ai thắng thì đươc truyền bá giáo pháp của đạo mình._ Dao Hưng liền châp nhận.

Phần 14

Chư tăng ở Quan Trung bấy giờ chỉ biết nhìn nhau lo sợ, không ai dám đối luận. Ngài La-thập nói với sư:
- Ngoại đạo này thông minh hơn người, tranh luận nhất định thắng; nếu Đại đạo vô thượng phải bị mai một trong tay môn đồ của ta thì thật đáng buồn! Nếu ngoại đạo đắc chí thì bánh xe pháp gãy trục, há có thể như thế sao? Như ta thấy, nay chỉ có một mình ông mới cứu vãn được mà thôi!
Sư tự xét tài sức của mình không thua kém bà-la-môn kia, nhưng chưa xem đọc hết các kinh sách ngoại đạo. Do đó sư ngầm sai người ghi lại tất cả tên các bộ kinh sách mà bà-la-môn kia đã đọc, sư xem qua một lần liền ghi nhớ. Sau đó hai bên định ngày đối luận.
Đến ngày, chúa Dao Hưng cùng bá quan đến dự đông đủ, tăng chúng Quan Trung cũng nhóm họp. Cùng bà-la-môn đối luận, sư luận biện vô ngại, hàm chứa nghĩa lí cao xa, diễn đạt ngôn từ sác bén. Bà-la-môn tự biết về ngôn từ nghĩa lí, mình không bằng, nhưng vẫn cố lấy việc học rộng đọc nhiều làm gốc tranh thắng. Sư liền nêu ra toàn bộ danh mục, số quyển, bộ loại kinh sách mà bà-la-môn đã đọc cùng các kinh sử của Trung Hoa, tính ra gấp ba lần số lượng mà bà-la-mồn đã đọc. Nhân đó ngài La-thập cười bảo:
- Ngài không nghe tăng Đại Tần học rộng hay sao, mà xem thường từ xa lặn lội đên đây?
Bà-la-môn vô cùng hổ thẹn chịu phục, cúi đầu sám hối, đỉnh lễ nơi chân sư; trong mười ngày, bỗng nhiên đi mất.
Phật pháp được trùng hưng, phần lớn là nhờ vào công sức của sư. về sau sư trở về Bành Thành, chuyên giảng kinh thuyết pháp, thường có khoảng hơn nghìn người đến nghe đạo, trong đó có hơn ba trăm vị theo làm môn đồ. Sư không thích sự ồn náo, thường lên lầu tự vui, siêng năng dạy dỗ môn đồ, suốt một đời chỉ lo hoằng pháp. Sau sư thị tịch tại Bành Thành, hưởng thọ bảy mươi bốn tuổi.
Sư có soạn nghĩa sớ cho các bộ kinh Pháp hoa, Đại phẩm, Kim quang minh, Thập địa, Duy-ma, hiện còn lưu truyền ở đời.
* Ngụy thư ghi: “Vào niên hiệu Chính Quang thứ nhất (520), Minh đế mặc triều phục, ban chiếu tha hết các tội nhân trong thiên hạ. Để lại triệu tập môn đồ của Phật và Đạo tại đại điện. Sau khi thụ trai xong, Thị trung Lưu Đăng tuyên chỉ: “Thỉnh các pháp sư và đạo sĩ luận nghị để giải thích những mối nghi cho các đệ tử” Thế là đạo sĩ Khương Bân của Thanh Thông quán và tăng Đàm Vô Tối của chùa Dung Giác đối luận. Đế hỏi:
- Phật và Lão Tử đồng thời chăng?
Đạo sĩ Khương Bân đáp:
Lão Tử sang Tây Trúc giáo hóa người Hồ chọn Phật lấy làm thị giả, như vậy rõ ràng la đồng thời.
- Làm sao biết được? Đàm Vô Tối hỏi:
- Căn cứ theo kinh Khai thiên cho nên biết được . Khương Bân đáp.
- Lão Tử sinh vào năm thứ mấy, đời vua Chu nào? Năm thứ mấy đời vua Chu nào vào Tây Trúc?
- Lão Tử sinh vào giờ Tí đêm mười bốn, tháng chín, năm Ất Sửu tại làng Khúc Nhân, thôn Lệ, huyện Trần Khổ, nước Sở, vào đời Chu Định vương năm thứ ba (604BC). Đời Chu Giản vương năm thứ tư (582BC), nhằm Đinh Sửu làm Thủ tạng lại, năm thứ mười ba thăng làm Thái sử. Đến đời Chu Kính vương năm thứ nhất (519BC), nhằm năm Canh Thìn, Lão Tử đã tám mươi lăm tuổi, thấy vận nhà Chu đã suy, nên cùng vơi Tan quan lịnh Doãn Hỉ vào Tây Trúc giáo hóa ngươi Hồ. Điều này đã rõ ràng._Khương Bân đáp như vậy,
Đàm Vô Tối lại gạn hỏi:
- Đức Phật đản sinh vào ngày mồng tám, tháng tư năm Chu Chiêu vương hai mươi bốn (1029); nhập diệt vào ngày mười lăm, tháng hai, năm Chu Mục vương năm mươi ba (949). Vậy tính ra sau khi Phạt nhập Niết-bàn ba trăm bốn mươi lăm năm mới đến năm Chu Định vương thứ ba, Lão Tử mới sinh. Lại tám mươi lăm năm nữa mới đến năm thứ nhất đời Chu Kính vương, tông cộng là bốn trăm hai mươi lăm năm sau khi Phật niết-bàn, Lão Tử mới cùng với Doãn Hỉ sang Tây Trúc. Năm tháng Phật và Lão sinh cách xa như thế, không lẽ là sai lầm sao?
- Sử sách nào ghi Phật sinh vào đời Chu Chiêu vưomg?_Khương Bân hỏi.
- Chu thư dị kí và Hán pháp bản nội truyện đã ghi rõ như vậy!_Đàm Vô Tối đáp.
- Khổng Tử là bậc thánh chế định phép tắc, mà lúc ây hoàn toàn không có văn ghi chép về Phật, vậy là sao?_Khương Bân hỏi.
- Kiến thức của ngài rất hạn hẹp, không nhìn xa trông rộng. Khổng Tử có Tam bị bốc kinh, trong đó Thượng bị thông thiên văn, Trung bị thấu nhân sự, Hạ bị đạt địa lí. Văn ngôn nói về Phật rút ra từ Trung bị, ngài đã nghiên cứu từ lâu, lẽ ra không có sai lầm này! Đàm Vô Tối đáp.
- Khổng Tử là thánh, không cần nói mà biết, sao còn nhờ đến bói toán?_Khương Bân hỏi.
- Chỉ có Phật là vua trong hàng thánh, là đạo sư của bốn loài, thông đạt chuyện quá khứ-hiện tại, tốt-xấu, sinh-tử của tất cả hàm linh mà không cần phải nhờ đến bói toán. Còn tất cả đều là hàng tiểu thánh, tuy hiểu lí chưa hình thành, nhưng cần phài nhờ vào cỏ thi và mai rùa để dự biết. Đàm Vô Tối đáp.
Bấy giờ Thượng thư lệnh Văn Nguyên tuyên sắc, bảo các đạo sĩ như Khưomg Bân... luận bàn không có tôn chỉ, nên xuống khỏi tòa.
Đế lại hỏi: “Thiên địa kinh từ đâu mà có, do ai thuyết?’’, liền sai Trung thư thị lang Ngụy Thâu, Thượng thư lang Tổ Oánh... đến đạọ quán lấy kinh. Sau đó đế bảo mọi người nghị bàn. Bấy giờ tổng cộng có một trăm bảy mươi người: Thái ứy Đan Dương Vương Tiêu Tông, Thái phó Lí Thật, Vệ úy Hứa Bá Đào, Thượng thư bộ Lại Hình Loan, Tán kị thường thị Ôn Tử Thăng... cùng xem đọc. Sau đó tất cả đều tâu:
- Lão Tử chỉ soạn Ngũ thiên văn, chứ không nói gì khác. Chúng thần nghị bàn, Khương Bân phạm tội mê hoặc mọi người!
Đế bèn xử cực hình, nhưng Tam tạng pháp sư Bồ-đề-lưu-chi, theo pháp từ bi giáo hóa của Phật để can ngăn, đế mới tha tội chết, nhưng đày đến Mã ấp.
* Trình Đạo Tuệ tự Văn Hòa, người ở Vũ Xương, sống vào đời Tấn. Cả đời chỉ thờ đạo Ngũ Đấu Mễ, không tin có Phật. Ông ta thường nói: “Về chính đạo, từ xưa đến nay không có đạo nào hơn Lí Lão. Sao lại tin lầm lời người Hồ rồi cho là Phật giáo cao siêu”. Đến năm Thái Nguyên mười lăm (390), ông bị bệnh mà qua đời. Nhưng do ngực còn ấm, nên người nhà không tâm liệm, mấy ngày sau ông sống lại và kể: “Lúc mới chết tôi thấy mười người đến bắt trói dẫn đi, nhưng gặp một vị tì-kheo đến nói:
- Người này có phúc đời trước, nên không được trói!
Thế là họ cởi trói, rồi xua tôi đi. Đường đi bằng phẳng, nhưng hai bên toàn là rừng gai dày đặc, không có chỗ để chân. Người tội bị ngục tốt xua đuổi chạy trên đó, bị gai đâm đau đớn gào khóc vang trời. Người tội thấy Đạo Tuệ đi trên đường bằng phẳng, nên đều hâm mộ và ca ngợi:
- Đệ tử Phật đang đi trên đường, đó là người tu phúc.
Đạo Tuệ nói:
- Ta không tin pháp Phật!
Người ấy cười nói:
- Ngươi quên mất rồi!
Nhân đó Tuệ bỗng nhớ lại đời trước tin thờ Phật pháp, do đã trải qua năm lần sống chết, nên quên mất bản ý. Đời này sinh làm người, lại gặp phải bạn ác, không hiểu chính tà, mới mê theo tà đạo.
Đã đến một tòa thành lớn, tôi được đưa thẳng tới một sảnh đường. Tại đây, tôi thấy một người khoảng bốn năm mươi tuổi, ngồi quay mặt về hướng nam. Vừa thấy tôi, ông vô cùng kinh ngạc, vội nói:
- Ông không nên đến đây!
Lúc ấy lại có một người mặc áo đơn, vấn khăn, cầm sổ bộ đến báo:
- Người này phạm tội phá miếu thờ, giết người, nên đưa đến đây.
Vị tì-kheo gặp vừa rồi cũng theo Đạo Tuệ vào, tha thiết trình bày nỗi oan của Đạo Tuệ. Tì-kheo nói:
- Phá miếu thờ không có tội. Phúc đời trước của người này rất sâu dàỵ. Giết người tuy phạm tội nặng, nhưng ác báo chưa đến.
Người ngồi hướng mặt về nam nói:

Phần 15

- Nên phạt kẻ bắt người!
Sau đó người ấy mời tôi ngồi, rồi tạ lỗi:
- Tiểu quỉ lầm lẫn, bắt oan ngài đến đây. Cũng do ngài quên ý nguyện đời trước, không tin phụng Đại chính pháp.”
Nói xong, chuẩn bị cho tôi trở về, thì người ấy lại bảo tôi nên cùng với Phúc Giảo tướng quân xem qua các địa ngục. Tôi vui mừng từ biệt, rồi theo đến các tòa thành. Thành tức là địa ngục, có vô số người chịu tội trong đó. Tôi thấy chó cắn xé người tội thành trăm mảnh, xương thịt vung vãi, máu chảy tràn khắp đất. Lại thấy có những con chim, mỏ như mũi nhọn, bỗng nhiên bay vụt đến chui vào miệng tội nhân, xuyên từ trong ra ngoài, khiến người tội lăn lộn, kêu la, xương cốt gãy nát thành từng đoạn. Những việc khác đã thấy thì cũng giống như Triệu Thái, Tiêu Hà từng kể, ở đây không thể thuật hết. Chỉ hai việc này là khác cho nên mới ghi nhớ rõ.
Xem khắp các nơi đã xong, người ấy cho tôi trở về. Khi ấy lại gặp và được vị tì-kheo trước kia trao cho một vật bằng đồng, như chiếc linh nhỏ, đồng thời dặn dò: ‘Khi về đến nhà, nên bỏ vật này ngoài cổng, chớ mang vào nhà. Vào ngày đó tháng đó năm đó, huynh sẽ gặp ách nạn, nên cẩn trọng giữ gìn, nếu qua khỏi sẽ thọ đến chín mươi’.
Nhà tôi tại phía nam phố lớn, kinh đô, thấy mình về đến cầu Tạo Giáp, lại thấy ba người trong họ dừng xe cùng nói chuyện, thương xót sự ra đi của tôi. Đên cổng, tôi lại thấy các tì nữ tụ tập khóc lớn, nhưng không ai thấy tôi. Trước khi vào nhà, tôi treo linh đồng trên cây bên ngoài cửa, ánh sáng phát ra, chiếu thẳng lên hư không, lát sau thu nhỏ lại rồi tắt hẳn. Vào đến nhà, nghe mùi hôi của tử thi, tôi thương cảm và không thích. Bấy giờ thân thuộc và bạn bè đến phúng điếu, nhiều người chạm vào tôi. Không chần chừ, thần thức tôi liền nhâp thân, bỗng nhiên sống lại. Sau đó kể lại việc gặp mấy người trên xe, các tì nữ tụ tập khóc lóc, tất cả đều phù hợp”.
về sau Đạo Tuệ làm Đình úy, một hôm định đến Tây đường xử án, nhưng chưa kịp đến, bỗng nhiên bât tỉnh, không biết gì cả, nửa ngày sau mới tỉnh. Tính thời gian thì đúng vào ngày mà vị tì-kheo đã răn nhắc trước kia. ít lâu sau, Đạo Tuệ chuyển làm Thứ sử Quảng châu. Niên hiệu Nguyên Gia thứ sáu (429), đời Lưu Tông, ông qua đời, thọ sáu mươi chín tuổi.
* Thích Bảo Quỳnh, chùa Phúc Thọ, ích châu, đời Đường: Sư họ Mã, người ở huyện Miên Trúc, xuất gia từ thuở niên thiếu, bản tính thanh cao, chất phác, sông kiệm ước. Sư lấy việc tụng kinh Bát-nhã làm thời khóa hằng ngày, cứ hai ngày tụng xong một biến. Sư đi các nơi khuyên lập các nghĩa ấp, mỗi ngày tụng một quyển kinh Bát-nhã, tính đến cả nghìn nghĩa ấp như vậy. Khắp nơi nghe danh đều đến kính lễ. Nơi sư trụ giáp với huyện Thập Phương..., nhân dân nơi ấy từ lâu đã tin theo Đạo giáo, không bao giờ cho tăng ni vào tá túc. Tuy bà con thân thuộc theo tập tục như vậy, nhưng sư không phụng sự tà đạo. Một hôm các tộc Lí... tổ chức Đạo hội, mời sư đến tham dự. Sư cũng đến, nhưng không lễ bái mà vội ngồi. Mọi người đều cho sư không lễ Thiên Tôn, xem thường tông pháp của họ. Sư nói:
- Hai đạo chính tà khác nhau, việc kính lễ không giống, trời ta còn không lễ, nói gì là Lão Tử?
Mọi người bàn tán xôn xao, quát mắng lẫn nhau. Sư thấy họ tranh cãi nhau không dứt, bèn nói:
- Ta lễ chỗ không đáng lễ, e rằng hủy nhục tông môn!
Nói xong, sư hành một lễ thì các đạo tượng đồng loạt lay động, lễ thứ hai thì các tòa đều ngã đổ xuống đất, tượng và tòa đều hư hại. Các tín đồ đêu vô cùng hổ thẹn, cho rằng do gió thổi, tranh nhau đến dựng tượng như cũ. Sư lại lễ thì các tượng lại đô ngã. Sư nói:
- Trời trong xanh, gió mát thổi mà nói là gió dữ. Các ngươi ngu si không biết ngọn gió của ta.
Bấy giờ mọi người đều kinh hãi, nhất tâm đỉnh lễ sư. Khắp nơi nghe tin đều bỏ Đạo, qui Phật. Đạo tục cả vùng và huyện lân cận đều ca ngợi, đồng đến cầu xin sư trao giới Bồ-tát. Huyện lịnh Cao Đạt vốn có lòng thành tín, cũng nương uy đức của sư, thỉnh tăng đến các chùa trong châu giảng kinh thuyết pháp.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục