PUCL QUYỂN 51 - CHƯƠNG BẠN TỐT, BẠN XẤU, TRỌN BẠN
27/11/2015
QUYỂN 51 Quyển này gồm ba chương: Bạn tốt, Bạn xấu, Chọn bạn. 53. CHƯƠNG BẠN TỐT 53.1. LỜI DẪN Luận đến chỗ tột cùng của đạo lý thì chỉ có thiện và ác. Thật cũng dễ nhận biết hai con đường này, như ẩn kín thì có tội phúc...

QUYỂN 51
Quyển này gồm ba chương: Bạn tốt, Bạn xấu, Chọn bạn.
53. CHƯƠNG BẠN TỐT
Luận đến chỗ tột cùng của đạo lý thì chỉ có thiện và ác. Thật cũng dễ nhận biết hai con đường này, như ẩn kín thì có tội phúc, khổ vui; trước mắt thì có hiền ngu, vinh nhục. Tất cả chúng sinh đều chuộng vinh ghét nhục, thích vui chán khổ.
Như nay thích vinh mà không biết chuộng hiền, cầu phúc mà không biết tránh tội, như gieo hạt lép mà đến mùa mong được bội thu, cưỡi ngựa què mà mong vượt đường xa, chẳng phải là mê lầm ư? Ví như các loài chim muông, trùng, rắn... còn biết nhờ gió, mượn sương, nương cao, cậy xa để thành tựu việc của mình; huống gì con người, sao không nương bạn hiền để thành tựu việc lớn?
Thế nên, gần gũi bạn tốt thì thân vinh, đức trọng; chơi với kẻ xấu thì thân bại, danh ô. Vì vậy, nền tảng của phép tắc sâu xa chỉ xuất phát từ bậc thánh, tâm ý thiết tha chỉ tồn tại nơi bạn hiền. Lại như ruồi trâu chỉ có thể bay xa trăm bước, nhưng nếu biết đậu vào đuôi chim loan thì bay xa cả nghìn dặm. Đó, há chảng phải là nhờ vào năng lực của đôi cánh chim loan ư? Cũng vậy, người đời đám chìm trong đường tăm tối không thể tự bước lên cõi trời người, nhưng nếu biết nượng vào uy lực cùa chư Phật thì mau chứng Thập địa , cùng về cõi Tịnh.
53.2. DẪN CHỨNG
Kinh Niết-bàn ghi: “Tì-kheo A-nan hỏi Phật:
- Người có phân nửa Phạm hạnh có được gọi là thiện tri thức không?
Đức Phật bảo:
- Không được! Người có đầy đủ Phạm hạnh mới được gọi là thiện tri thức.
Phật lại bảo:
- Thiện tri thức là người nói đúng pháp, làm đúng như lời nói. Thế nào là nói đúng như pháp, thực hành đúng như lời nói? Đó là tự mình không sát sinh, dạy người không sát sinh, cho đến tự mình thực hành chính kiến, dạy người thực hành chính kiến. Nếu được như thế thì gọi là thiện tri thức chân chính. Tự mình tu tập bồ-đề, cũng dạy người tu tập bồ-đề, gọi là thiện tri thức. Tự mình tu hành chính tín, trì giới, bố thí, đa văn, trí tuệ, gọi là thiện tri thức.
Thiện trí thức là người có thiện pháp. Thiện pháp là làm tất cả các việc mà không mong cầu sự an lạc cho riêng mình, chỉ mong cầu sự an lạc cho tất cả chúng sinh; thấy người khác có lỗi cũng không nói lỗi của họ, mà chỉ nói những điều tốt của họ. Đây gọi là thiện trí thức.
Này thiện nam! Như mặt trăng giữa hư không, từ ngày mồng một sáng dần cho đến ngày rằm. Cũng vậy, thiện tri thức khiến cho người học dần dần xa lìa pháp ác, tăng trưởng pháp thiện.
Này thiện nam tử! Nếu người nào chưa có định tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, khi gần gũi thiện tri thức, họ sẽ được; còn người chưa đầy đủ thì được đầy đủ.
Phật lại bảo:
- Thiện tri thức nên quán người này nặng về tham dục hay là sân hận, ngu si hay loạn tưởng? Nếu biết người ấy nặng về tham dục, nên dạy pháp quán bất tịnh; người nặng về sân hận, nên dạy pháp quán từ bi; người nặng về loạn tưởng, nên dạy pháp quán sổ tức; người nặng về chấp ngã, nên giảng giải mười tám giới. Sau khi nghe pháp, vị ấy tu hành, lần lượt quán bốn pháp niệm xứ, rồi lần lượt quán mười hai nhân duyên, chứng đắc pháp noãn; cho đến các quả vị như A-la-hán, Bích-chi Phật, Bồ-tát, Phật, cũng nhờ những pháp này mà thành tựu, không bị ngăn ngại. Lợi mình, lợi người, lãnh thụ pháp thuần nhất không xen tạp, gọi là thiện tri thức. Nếu vị pháp sư không đầy đủ các pháp trên, không được gọi là thiện tri thức. Người học cũng không nên nương theo pháp xen tạp”.
Cho nên, luận Phật tính dẫn bài kệ trong kinh:
Không gặp thiện tri thức,
Bạn xấu phá chính hạnh,
Như nhện rơi vào sữa,
Sữa ấy thành chất độc.
Như vậy, thiện tri thức cần phải làm lợi ích chúng sinh một cách thật sự, trước điều phục bản thân, sau mới dạy người và không có mười lỗi: kiến thức hẹp, thối tâm, tán loạn, kiêu mạn, điên đảo, tham cầu, sân hận, tà hạnh, chấp ngã, chấp tiểu hạnh.
Luận Trang nghiêm có bài kệ:
Đa văn, ngộ chân đế
Thuyết giỏi và từ bi,
Người này được bất thoái,
Bồ-tát nên nương tựa.
Kinh Phật bản hạnh ghi “Một thời, Đức Phật cùng với trưởng lão Nan-đà đi đến tiệm bán hương. Thấy trong tiệm có nhiều giấy gói hương, Đức Phật bảo trưởng lão Nan-đà:
- Này Nan-đà! Ông hãy đến lấy các giấy gói hương trong tiệm này!
Vâng lời Phật dạy, Nan-đà đến lấy.
Phật lại bảo Nan-đà:
- Ông hãy nắm các giấy gói hương này trong một khắc, sau đó thả xuống đất.
Nghe vậy, Nan-đà bèn làm đúng theo lời Phật dạy.
Đức Phật bảo:
- Bây giờ ông hãy ngửi tay xem.
Vâng lời Phật, Nan-đà ngửi tay mình.
Đức Phật hỏi:
- Ông ngửi có mùi gì không?
Nan-đà thưa:
- Bạch Thế Tôn! Tay con rất thơm.
Đức Phật bảo:
- Đúng vậy, đúng vậy! Nếu người gần gũi thiện tri thức, thường ở chung, luôn luôn huân tập thì nhất định được tiếng tốt”.
Nhân việc này, Đức Phật nói kệ:
Nếu tay cầm lấy các loại hương,
Trầm thủy, hoắc hương cùng xạ hương,
Chốc lát hương thơm cũng thấm vào
Gần gũi thiện tri thức cũng vậy.
Đức Phật lại nói kệ:
Nếu người gần gũi ác tri thức,
Đời này không được tiếng tốt vang,
Cũng vì thân gần với bạn ác,
Đời sau sẽ đọa ngục A-tì
Nếu người gần gũi thiện tri thức,
Vâng làm theo họ những nghiệp lành,
Đời này tuy không mong thế lợi,
Nhưng sau dứt sạch nhân khổ đau.
Luật Tứ phần ghi: “Cần phải đủ bảy yếu tố mới trở thành một người bạn tốt:
1. Làm được việc khó làm.
2. Cho được vật khó cho.
3. Nhẫn được điều khó nhẫn.
4. Nói với nhau điều bí mật.
5. Cùng giữ kín cho nhau.
6. Gặp khổ không bỏ.
7. Nghèo hèn không khinh thường.
Người thực hành được bảy yếu tố này là bạn tốt, nên gần gũi, học tập”.
Trong luận Đại trang nghiêm, Đức Phật nói kệ:
Không bệnh, lợi lớn nhất,
Biết đủ, giàu có nhất,
Bạn lành, đáng gần nhất,
Niết-bàn, vui bậc nhất.
Kinh Thi-ca-la-việt lục hướng bái ghi: “Có bốn hạng bạn tốt
1. Ngoài như oan gia, nhưng trong thì thân thiết.
2. Trước mặt thì thẳng thắn can ngăn, sau lưng thì nêu việc tốt.
3. Thấy bạn thua trong việc kiện tụng, thì lo buồn và tìm cách giúp đỡ.
4. Thấy bạn nghèo khổ, tâm không bỏ rơi, muốn giúp họ giàu có.
Lại có bốn hạng bạn tốt khác:
1. Bạn sắp bị quan bắt thì đưa về che giấu, sau đó giải quyết thỏa đáng.
2. Gặp bạn bị bệnh ốm gầy thì đem về chăm sóc.
3. Bạn chết thi an táng, lo liệu.
4. Bạn đã mất thì lo nghĩ đến gia đình của bạn.
Kinh Sinh ghi: “Vào thời quá khứ cách đây rất
lâu, ở một xứ nọ, có bốn người rất thân nhau cùng ở chung một chỗ. Hôm nọ họ thấy một thợ săn, bắn được con nai, sắp mang vào thành. Bốn người này bàn: “Bọn ta tìm cách xin thịt nai của thợ săn, xem ai xin được nhiều hơn!”. Thế là bọn họ liền đến bên thợ săn. Người thứ nhất tự cao, ăn nói thô lỗ bảo:
-Này tên kia! Cho ta miếng thịt nai, ta muốn ăn.
Người thứ hai nói:
- Anh cho em xin miếng thịt, em muốn ăn.
Người thứ ba nói:
- Nhân giả đáng yêu! Xin cho tôi miếng thịt, tôi muốn ăn.
Người thứ tư nói:
- Này bạn thân của tôi! Hãy bớt một ít thịt ban cho tôi, tôi muốn ăn. Cả bọn tôi đều đang đói khát.
Người thợ săn xem xét lời lẽ của bốn người rồi nói kệ đáp từng người.
Ông đáp người thứ nhất:
Lời ông quá thô lỗ,
Làm sao cho thịt được,
Lời ông như đâm người,
Chỉ cho ông cặp sừng.
Ông đáp người thứ hai:
Hay thay lời người này!
Gọi ta bằng anh cả,
Lời ấy như tay chân,
Ta cho ông một đùi.
Ông trả lời người thứ ba:
Kính nói ta đáng yêu
Lại có lòng từ ái,
Lời nói như tận lòng,
Ta cho ông tim gan.
Ông đáp người thứ tư:
Gọi ta là thân thuộc,
Ta với ồng rất hợp,
Lời lẽ tốt đẹp thay,
Ta đem thịt cho ông.
Thế là người thợ săn tùy theo lời lẽ của mọi người mà phân chia thịt nai cho họ. Khi ấy có vị trời nói bài tụng:
Những lời của các ông,
Nhu hòa thân được lợi,
Cho nên chớ thô lỗ,
Lợi hại không lìa thân.
Đức Phật bảo:
- Này các tì-kheo! Kẻ nói lời thô lỗ thứ nhất thuở xưa, nay là Thích tử Sở Hân; người thứ hai là Bạt-đà-hòa-lê; người thứ ba là Hắc Ưu-đà; người thứ tư là A-nan, vị trời nói kệ tụng chính là Ta. Thuở ấy họ sống chung với nhau, hôm nay cũng như thế”.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Ta nhớ thuở quá khứ lâu xa, tại nước Ba-la-nại có một con quạ chúa tên Tô-phất-đa-la cùng ở chung với bầy quạ tám vạn con. Quạ chúa có quạ mái Tô-phất-thất-lợi đang có thai. Một hôm, quạ mái nghĩ: ‘Xin cho tôi được thức ăn thơm ngon của vua’. Nhưng biết không thể được, nên nó lăn lộn trên đất khiến thân thể tiều tụy, gầy yếu, run rẩy không thề kềm chế. Quạ chúa thấy thế liền hỏi:
- Tại sao hôm nay nàng lăn lộn dưới đất, thân thể tiều tụy, gầy yếu run rẩy như vậy?
Khi ấy, quạ mái mới nói:
- Chàng ơi, nay em có thai, muốn được thức ăn thơm ngon của vua.
Quạ chúa nói:
- Thật gay quá! Ta tìm đâu thức ăn thơm ngon ấy? Cung vua canh gác cẩn mật, không thể vào được. Nếu rơi vào tay họ ắt sẽ mất mạng.
Quạ mái lại bảo:
- Nếu hôm nay không được thức ăn ấy, chắc chắn em sẽ chết và thai cũng chẳng còn!
Quạ chúa Thiện Tử lại nói:
- Lạ thay! Chắc hôm nay là ngày chết của nàng, nên mới nghĩ ra những món khó kiếm như thế?
Nói xong, quạ chúa ưu sầu đứng lẳng lặng suy nghĩ: ‘Theo ý ta, thức ăn thơm ngon tinh khiết của vua thật khó kiếm.’
Bấy giờ, trong bầy cỏ một con quạ thấy quạ chúa đứng lặng thinh buồn bã, nó đến bên quạ chúa hỏi:
- Thật lạ! Vì sao ngài đứng đây suy tư, buồn bã như thế?
Quạ chúa thuật lại việc trên, quạ kia liền thưa:
- Ngại chợ nên lo buồn, tôi có thể tìm cho ngài thức ăn thơm ngon khó được ấy.
Khi ấy, quạ chúa bảo:
- Hay lắm bạn tốt! Nếu anh có thể vì ta làm việc ấy, ta sẽ đền ơn.
Quạ kia liền bay vút lên không trung đến cung vua Phạm Đức, đậu trên cành cây cách nhà bếp không xa, thấy trong nhà bếp của vua Phạm Đức có một phụ nữ đang chuẩn bị thức ăn cho vua. Giờ ăn sắp đến người ấy dùng chén bạc đựng thức ăn dâng lên vua.
Lúc đó, con quạ từ cây bay xuống đậu trên đầu người phụ nữ và mổ ngay mũi của nàng; phụ nữ bị đau liền vứt thức ăn trên đất, tức thời quạ ngậm lấy mang về cho quạ chúa. Quạ chúa liền đem thức ăn cho quạ mái. Quạ mái ăn uống no đủ, thân thể an ồn sau đó sinh con. Từ đó con quạ kia, mỗi ngày mấy lần đến cung đoạt lấy thức ăn dâng cho quạ chúa, vua Phạm Đức nhiều lần thấy việc này, ông thầm nghĩ: ‘Thật lạ, tại sao con quạ luôn đến đây làm dơ thức ăn của ta và còn làm người phụ nữ bị thương’. Vua không thể nhẫn nhịn được nữa, bèn ra lệnh cho các thợ săn:
- Các khanh hãy mau đến chỗ con quạ kia bắt sống đem về đây!
Các thợ săn tuân lệnh vua, dùng lưới giăng, bắt sống quạ kia đem về dâng lên vua Phạm Đức.
Vua Phạm Đức hỏi quạ:
- Tại sao ngươi nhiều lần làm bẩn thức ăn của ta và làm bị thương người của ta
Con quạ tâu:
- Tâu đại vương! Cho phép tôi thuật việc này để ngài vui.
Vua Phạm Đức vui mừng nghĩ: ‘Việc này thật hi hữu, làm sao con quạ nói được tiếng người?. Nghĩ xong, vua bảo quạ:
- Lành thay, lành thay! Ngươi nhất định nói rõ việc này để ta hoan hỉ.
Con quạ nói kệ trình bày:
Đại vương biết rằng có quạ chúa
Ngày đêm trú tại Ba-la-nại
Thống lãnh một đàn tám vạn con
Cùng nhau cư trú trong rừng vắng
Tôi nói với ngài nhân duyên này
Một hôm vợ quạ chợt nghĩ suy
Muốn được thụ hưởng món ăn ngon
Đó là thức ăn của đại vương.
Vì thế tôi luôn đến chỗ này
Đoạt lấy mỹ vị của đại vương
Nay vì phụng sự cho quạ chúa
Nên bị sa lưới của đại vương
Lành thay! Cúi mong đại thánh vương
Từ bi thương xót buông tha tôi.
Tôi vì vợ của quạ chúa kia
Thường đến trộm lấy thức ăn này.
Tôi nhớ từ khi sinh đến nay
Chưa từng gây tạo việc như thế
Nếu được đại vương rộng lòng tha
Về sau không dám làm thế nữa!
Nghe xong, vua Phạm Đức hoan hỉ bảo:
- Việc này thật hiếm có, con người còn không thể có lòng yêu kính, quí trọng chủ như con quạ này
Vua Phạm Đức nói kệ:
Nếu có đại thần như thế ấy
Xứng đáng được ban nhiều bổng lộc
Phải như con quạ dũng mãnh kia
Vì chủ tìm cầu không tiếc mạng.
Vua nói kệ xong lại bảo:
- Hay thay! Từ nay, ngươi hăy thường đến đây lấy thức ăn thơm ngon. Nếu kẻ nào ngăn trở thì hãy cho ta biết, ta sẽ cho ngươi phần ăn của ta.
Khi ấy, Phật bảo các tì-kheo:
- Các ông nên biết, quạ chúa chính là Ta, con quạ đánh cắp thức ăn chính là tì-kheo Ưu-đà-di, vua Phạm Đức chính là vua Thâu-đầu-đàn.
Ngày xưa tì-kheo Ưu-đà-di tìm cầu thức ăn cho Ta, lại khiến cho vua Phạm Đức hoan hỉ, ngày nay cũng tìm cầu thức ăn cho Ta và làm cho vua Tịnh Phạn hoan hỉ”.
Có bài tụng:
Tắm thân, gội nhuần đức
Tôi luyện tâm kiên trinh
Băng tan, ngày xuân đến
Lan úa, trời thu sang
Gần bậc trí thành hiền
Chơi kẻ ngu thêm buộc
Muốn bước lên Bảo địa
Xin gieo trồng thiện duyên.
54. CHƯƠNG BẠN XẤU
54.1. LỜI DẪN
Nghĩ rằng bậc Đại thánh giáo hóa, chính là muốn nhiếp phục tâm chúng sinh; Ngài dùng hai môn thiện ác để nêu cao tôn chỉ. Nếu làm thiện thì bước lên cao, nếu tạo ác thì rơi vực thẳm. Bởi hoặc nghiệp chưa trừ thì nhốt mình trong ba cõi, tình trần chưa đoạn thì chôn lấp trong năm thiêu, để rồi mãi mãi trầm luân trong tám đảo, trói buộc trong bốn loài. Cho nên thuận theo thầy ta, tin lời bạn ác, không những khó chế phục phiền não mà còn làm cho kết sử luôn hiện hành. Vượn tâm dễ rong ruổi, ngựa ý khó cản ngăn, tu phúc nghĩ thiện thì không chịu nghe theo, nhưng tạo tội gây oán thì ngày thêm tăng trưởng. Do đó sinh tử luân hồi không bao giờ đoạn dứt, khiến cho Đại thánh xót thương. Như vậy, há chẳng đau lòng sao?
54.2. DẪN CHỨNG
Kinh Thi-ca-la-việt lục hướng bái ghỉ: “Có bốn hạng bạn xấu:
1. Trong tâm thì oán thù, nhưng ngoài gượng kết thân.
2. Trước mặt thì nói tốt, sau lưng lại nói xấu.
3. Khi bạn có việc nguy cấp, trước mặt người tỏ vẻ buồn khổ, nhưng sau lưng lại vui mừng.
4. Ngoài như thân thiết, nhưng trong oán thù.
Lại nữa, có bốn hạng bạn xấu khác:
1. Xúc phạm nhỏ, liền nổi giận.
2. Bạn có việc cậy nhờ thì không nhận lời.
3. Thấy bạn gặp nạn, liền lẩn tránh.
4. Thấy bạn chết, thì bỏ bê, không hề quan tâm lo liệu.
Kinh Niết-bàn ghi: “Đại Bồ-tát xem bạn xấu giống như voi dữ. Vì sao? Vì cả hai đều làm tổn hại thân mạng. Nhưng đại bồ-tát không sợ hãi voi dữ, mà rất sợ ác tri thức. Vì sao? Vì voi dữ chỉ hại thân chứ không hại tâm, ác tri thức hại cả thân và tâm; voi dữ chỉ hại một thân, ác tri thức hại vô lượng thiện thân, vô lượng thiện tâm; voi dữ chỉ phá hoại thân nhơ uế, bạn ác phá hoại thân thanh tịnh và tâm thanh tịnh; voi dữ chỉ hại nhục thân, bạn ác phá hoại pháp thân. Người bị voi dữ giết chết thì không rơi vào ba đường ác, còn bị bạn ác giết hại thì nhất định rơi vào ba đường ác. Voi dữ chỉ là oán thù của thân, bạn ác là oán thù của pháp lành”.
Thế nên, bồ-tát thường phải xa lìa các ác tri thức.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Đức Phật nói kệ:
Chớ gần những bạn ác,
Cũng chớ ngu làm theo,
Gần gũi những bạn lành,
Bậc nhất trong loài người.
Dù người tâm hiền thiện,
Nếu gần gũi bạn ác,
Sau ắt gieo giống xấu,
Mãi chìm trong tối tăm
Kinh Trung A-hàm ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Có bảy trường hợp do sân hận che tâm mà tạo thành oan gia:
1. Do không muốn oan gia có sắc đẹp, cho nên tuy thường tắm gội, dùng danh hương thoa thân, nhưng sắc thân vẫn xấu.
2. Do không muốn oan gia ngủ nghỉ yên ổn, cho nên tuy nằm giường gối được phủ bằng gấm vóc, lụa là, nhưng giấc ngủ vẫn lo âu, đau khổ.
3. Do không muốn oan gia được lợi ích lớn, cho nên đáng lẽ được lợi mà không được lợi, không được lợi lại được lợi. Hai điều này trái nghịch nhau.
4. Do không muốn oan gia có bạn bè, cho nên nếu có bạn bè thân thiết, họ cũng tìm cách lánh mặt bỏ đi.
5. Do không muốn oan gia được tiếng khen, cho nên danh nhơ, tiếng xấu đồn khắp.
6. Do không muốn oan gia giàu sang, cho nên dù người ấy giàu có vẫn bị mất nhiều tài vật.
7. Do không muốn oan gia sau khi mạng chung sinh về cõi lành, cho nên người ấy tạo ba nghiệp ác, khi mạng chung nhất định sinh về địa ngục chịu khổ đau”.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Phật bảo các tì-kheo:
- Ta nhớ thuở xưa dưới chân núi Tuyết có con chim hai đầu, một đầu tên Ca-lâu-trà, một đầu tên Ưu-ba-ca-lâu-trà. Hai đầu này, một đầu ngủ, một đầu thức. Bấy giờ, có một đóa hoa Ma-đầu-ca bị gió thổi rụng gần đầu thức Ca-lâu-trà, đầu thức nghĩ: ‘Tuy một mình ta ăn hoa này nhưng khi vào bụng, hai đầu đều khỏe đẹp hơn, không còn đói khát’. Nghĩ vậy, đầu thức không đánh thức đầu ngủ, cũng không báo cho biết mà lặng lẽ ăn hoa. Sau khi thức dậy, đầu ngủ cảm thấy trong bụng no đủ, ợ ra hơi thơm tho, liền hỏi đầu kia:
- Ngươi tìm nơi đâu mà có được thức ăn thơm ngon, khiến thân thể ta an ổn, no đủ và phát rạ tiếng hay như thế?
Đầu Ca-lâu-trà đáp:
- Trong lúc ngươi ngủ, có một đóa hoa Ma-đầu-ca rụng gần đầu ta, khi ấy ta nghĩ một mình ta ăn hoa này, nếu vào bụng hai đầu đều được khỏe đẹp lại khỏi đói khát, cho nên ta không đánh thức và không nói ngươi biết, ta liền ăn hoa ấy.
Nghe nói thế, đầu Ưu-ba-ca-lâu-trà rất giận và nghĩ: ‘Được thức ăn không nói ta biết, không gọi ta dậy mà tự tiện ăn một mình. Nếu vậy từ nay về sau, nếu được thức ăn ta sẽ không gọi và không nói cho ngươi biết’.
Một hôm, chim hai đầu dạo chơi, chợt gặp một đóa hoa độc, đầu ưu-ba-ca-lâu-trà liền nghĩ:‘Ta ăn hoa này mong cho hai đầu đều chết cả’. Nó liền bảo Ca-lâu-trà:
- Ngươi hãy ngủ đi, ta sẽ thức canh-cho!
Nghe nói thế, đầu Ca-lâu-trà liền ngủ; đầu Ưu-ba-ca-lâu-trà ăn ngay hoa độc. Khi tỉnh dậy, đầu Ca-lâu-trà ợ ra hơi, liền biết có khí độc, bèn hỏi đầu kia:
- Lúc thức, ngươi ăn phải loại độc gì mà khiến thân thể ta không được an ổn, sắp chết, âm giọng khan đặc, không thể cất tiếng.
Đầu Ưu-ba-ca-lâu-trà đáp:
- Lúc ngươi ngủ ta ăn hoa độc mong cho hai đầu cùng chết.
Đầu Ca-lâu-trà nói:
- Việc làm của ngươi thật quá nông nổi và ngu ngốc!
Ca-lâu-trà liền nói kệ:
Lúc trước khi ngươi đang ngủ say Ta ăn hoa đẹp vị ngọt ngon Hoa ấy gió thổi rụng bên ta Trở lại ngươi sinh lòng hờn giận.
Nếu là kẻ ngu, xin đừng gặp Cũng đừng ở chung với kẻ si Bởi ở với chúng không lợi ích Tổn mình lại tổn đến thân người.
Phật bảo các tì-kheo:
- Các tì-kheo! Ca-lâu-trà ăn hoa lành khi ấy chính là Ta; ưu-ba-ca-lâu-trà ăn hoa độc khi ấy chính là Đề-bà-đạt-đa. Lúc đó, ta làm lợi ích mà trở lại sinh lòng oán giận; ngày nay cũng thế, ta dạy những điều lợi ích mà Đề-bà-đạt-đa xem ta như kẻ thù”.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Một hôm Thế Tôn cùng Nan-đà vào thành Ca-tì-la-bà-tô, đến cửa hàng bán cá, thấy rất nhiều cá ươn bày bán trên đám cỏ tranh, Phật bảo Nan-đà:
- Ồng hãy đến lấy một nắm cỏ tranh.
Nan-đà tuân lời Phật, liền đến rút lấy một nắm cỏ tranh hôi tanh. Phật lại bào Nan-đà:
- Ông hãy cầm trên tay một lát rồi bỏ xuống đất.
Nan-đà vâng theo lời Phật. Đức Phật lại bảo:
- Ông hãy ngửi tay mình xem!
Nan-đà liền ngửi tay mình, Phật hỏi:
- Tay ông có mùi gì?
Trưởng lão Nan-đà thưa:
- Bạch Thế Tôn, chỉ có mùi hôi tanh dơ uế.
Thế Tôn bảo Nan-đà:
- Đúng như thế, nếu ai kết thân, gần gũi, giao du với bạn ác, dù trong một thời gian ngắn, nhưng do huân nhiễm nghiệp ác từ họ, nên tiếng xấu lan xa.
Nhân việc này, Thế Tôn nói kệ:
Giống như cầm lấy bó cỏ tranh
Trong một gian hàng bày cá thối
Bàn tay hẳn dính mùi tanh cá
Gần gũi bạn xấu nhiễm thói hư.
Có bài tụng:
Thành Xá-vệ nguy nga
Vườn Linh Trúc xanh tốt
Nơi ấy có Thánh nhân
Khéo dẫn người vào đạo
Người hiền mong tu phúc
Kẻ ác thích kết thù
Thiện ác, lên xuống khác
Thơm hôi hai nẻo xa.
55. CHƯƠNG CHỌN BẠN
55.1. LỜI DẪN
Từng nghe: kinh dạy không nên rời xa ban tốt, không được gần gũi bạn tà. Bởi tâm thức của phàm phu như cuộn chỉ trắng, thường tùy duyên biến chuyển mà thụ thân chẳng đồng. Cảnh đến nhiễm tâm, tâm liền tùy cảnh, tâm cảnh nương nhau, nghiệp thiện ác liền hiện. Cho nên biết đối tượng mà Tam bảo cứu giúp chính là chúng sinh. Đức của Tam bảo đã rộng, công ấy cũng đã cao; nguyện lìa bỏ bạn ác, gần gũi bạn lành, mới giúp thành tựu hạnh nguyện của bản thân, lại làm cho kẻ âm người dương đồng qui hướng.
55.2. DẪN CHỨNG
Luật Tăng-kì ghi: “Đức Phật dạy các tì-kheo:
Vào thời quá khứ, một ngày kia, các loài chim tụ tập tại một nơi ấm áp, trong vùng trũng ở Khúc sơn, chân núi Tuyết bàn bạc: ‘Hôm nay chúng ta nên suy tôn một chim làm chúa, để tất cả loài chim nể sợ, không dám làm các việc phi pháp!’. Tất cả cùng nói: ‘Tốt lắm! Nhưng chim nào xứng đáng làm chúa đây?’. Có một chim nói:
- Nên suy tôn thiên nga làm chúa!
- Không được, thiên nga chân cao, cổ dài, nếu có chim nào xúc phạm, nó sẽ mồ vào đầu. Một con khác nói như vậy, các chim đều cho là đúng.
- Nên chọn ngỗng là chúa. Vì ngỗng có bộ lông màu trắng, được loài chim kính trọng.
- Cũng không được! Vì sao? Vì thân trắng, nhưng cổ dài lại cong; cổ của mình đã cong, thì đâu có thể sửa ngay cho kẻ khác_Một con nói.
- Vậy nên chọn khổng tước làm chúa. Khổng tước có bộ lông sặc sỡ, mọi loài thích nhìn._Một con khác nói.
- Không được! Khổng tước tuy có bộ lông rất đẹp, nhưng tính không biết hổ thẹn, mỗi khi múa thì lộ bày thân xấu xa.
Một chim khác nói:
- Vậy nên chọn chim cú làm chúa. Vì chim cú ban ngày thì ngủ nghỉ, ban đêm thức thì canh giữ, bảo vệ chúng ta.
Tất cả các chim đều chấp nhận đề nghị này. Bấy giờ có một con chim anh vũ thông minh đứng một mình suy nghĩ: ‘Tập tính của loài chim, ban đêm thì ngủ, ban ngày thì đi kiếm ăn. Còn tập tính của chim cú, ban đêm thì thức, ban ngày lại ngủ, chúng chim phải vây quanh phụng sự. Vậy chúng chim phải ngày đêm canh giữ, là việc rất gian khổ. Nếu ta nói ra điều này, cú sẽ giận mà nhổ lông của ta; nếu không nói thì chúng chim mãi mãi chịu khổ. Thôi, thà ta bị nhổ lông chứ không để trái chính lí’. Thế là anh vũ đên trước bày chim, vỗ cánh cung kính thưa với chúng chim hãy lắng nghe suy nghĩ của mình. Chúng chim liền nói kệ:
Thông minh hiểu nghĩa lí
Không hẳn phải tuổi cao
Ngươi tuy cỏn nhỏ tuổi
Nhưng có trí, nói đi!
Anh vũ nghe chúng chim nói thế, cũng nói kệ đáp:
Theo ý tôi suy luận
Không tôn cú làm vua
Vì lúc vui nhìn mặt
Cũng đã sợ hãi rồi
Huống gì lúc cú giận
Mặt ấy thật đáng ghê.
Chúng chim đều chấp nhận và cùng nói: ‘Chim anh vũ thông minh, có trí tuệ, xứng đáng làm chúa’ Thế là chúng chim tôn anh vũ làm chúa. Đức Phật dạy : ‘Chim cú ngày xua, nay là tì-kheo Xà-đà, chim anh vũ là A-nan”.
Luật Tăng-kì lại ghi: “Đức Phật dạy các tì-kheo:
Vào thời quá khứ có đàn gà nương náu trong khu rừng, bị chồn ăn thịt hết gà trống, chỉ còn lại gà mái. Sau đó có một con quạ đến bảo vệ, cùng sinh ra một gà con. Khi gà con cất tiếng kêu, quạ liền nói kệ:
Con này chẳng của ta
Cha rừng, mẹ xóm thôn
Cùng nhau sinh một con
Chẳng quạ cũng chẳng gà
Nếu muôn học tiếng quạ
Lại do gà mẹ sinh
Nếu muốn nói tiếng gà
Cha nó lại là quạ
Học tiếng quạ, giống gà
Học tiếng gà, thành quạ
Nếu học cả gà quạ
Tất cả đều chẳng thành.
Luận Đại trí độ ghi: “Thế nào là bố thí ba-la-mật? Bồ-tát suy nghĩ, nếu chúng sinh không bố thí, đời sau sẽ nghèo khổ vì nghèo khổ nên khởi tâm trộm cướp, vì trộm cướp nên có sự giết hại. Vì nghèo khổ nên không khỏe mạnh, xinh đẹp, từ đó khởi tà hạnh; vì nghèo khổ nên làm người hèn hạ; người hèn hạ sợ người khác nên phải nói dối. Từ nghèo khổ như thế mà phạm hết mười nghiệp bất thiện. Nếu bố thí thì đời sau có nhiều tài vật, không làm việc phi pháp. Vì sao? Vì đã đầy đủ năm dục, không thiếu thốn món gì. Như Đề-bà-đạt-đa, đời trước từng làm rắn, kết bạn với một con ễnh ương và một con rùa; cả ba cùng ở chung trong một ao nước. Đến một ngày kia, ao nước khô cạn, không còn thức ăn, cả ba lâm vào cảnh khốn cùng, không biết cầu cứu nơi đâu. Bầy giờ rắn bảo rùa gọi ếnh ương đến; ếnh ương nói kệ:
Nếu gặp khốn cùng đánh mất tâm
Chẳng nghĩ tình xưa, chỉ biết ăn
Ngươi chuyển lời ta đến cho rắn
Ếnh ương nhất quyết chẳng đến đâu
Nếu bố thí, mai sau sẽ không thiếu thốn; không thiếu thốn, nên giũ được các giới, không phạm các việc ác này. Như vậy bố thí sinh khởi thi-la. Nếu có thể bố thí phá tâm bỏn xẻn, thì sau đó dễ thực hành trì giới, nhẫn nhục... Cho nên, vào thời quá khứ, bồ-tát Văn-thù làm một vị tì-kheo. Một hôm tì-kheo vào thành khất thực, được thức ăn thơm ngon đầy bát. Bấy giờ có một đứa bé trong thành theo xin, tì-kheo không vội cho mà dẫn về tinh xá. Khi về đến tinh xá, tì-kheo cầm hai cái bánh Hoan hỉ và nêu điều kiện: - Nếu con chỉ dùng một cái, còn một cái cúng dường chúng tăng thì ta sẽ cho.
Đứa bé đồng ý, liền cúng dường chúng tăng một cái bánh Hoan hỉ. Sau đó đứa bé thụ giới và phát tâm cầu thành Phật trước tì-kheo này. Bố thí như thế, có thể giúp người thụ giới và phát tâm bồ-đề”.
Có bài tụng:
Thiện ác tự trái nhau
Sáng tối chẳng cùng lúc
Thánh nhân thương phàm loại
Tùy cơ vào tử sinh
Mến đức, trừ phiền não
Tu tâm thấy nguồn chân
Chọn bạn, xa kẻ ác
Mới thoát được khổ đau.
55.3. CẢM ỨNG
55.3.1. Đời Ngụy, sa-môn Thích Siêu Đạt: Sư là một vị tăng có giới hạnh sống vào thời Nguyên Ngụy, lại có kiến giải sâu rộng và rất giỏi chú thuật. Bấy giờ vua Ngụy nghiêm cấm lưu hành phù chú, bói toán, giải đoán kiết hung, quan quân lùng xét tìm kiếm khắp nơi. Vì có người vu cáo, nên sư bị bắt giam tại nhà ngục ở Huỳnh Dương. Bác Lăng Thôi Hạo đích thân đến tra khảo. Sư nêu lên sự thật, Thôi Hạo vô cùng tức giận, cho người buộc bánh xe vào cổ của sư và canh phòng cẩn mật.
Sư biết mình không thể thoát chết, nên chí thành niệm danh hiệu bồ-tát Quan Âm. Đến canh tư đêm ấy, bỗng nhiên bánh xe trên cổ biến mất, lính canh ngủ say như chết, sư liền thoát ra ngoài. Nhưng vì bị gông cùm lâu ngày, nên hai chân co rút, không thể đi xa được. Đến sáng, quân kị xuất thành truy đuổi, trong lúc nguy cấp, sư ẩn vào đám cỏ, quân kị đạp nát cả đám cỏ, đối diện mà không thấy. Sư ngước nhìn mặt qụân lính, thấy chúng đều dùng da trâu che mắt. Sư nhất tâm liều chết, chí thành xưng niệm. Ngay trong đêm, quân binh rút đi, thế là sư thoát nạn.
55.3.2. Đời Ngụy, sa-môn Tăng Minh: Sư trụ trì chùa Thạch Quật ở Bắc Đài. Khi họ Ngụy làm vua thiên hạ, thường nghi sa-môn làm giặc, nên bắt trói mấy trăm tăng, riêng sư vì là người lãnh đạo, nên bị trói chặt từ đầu đến chân, đợi đến sáng chém đầu. Sư vô cùng hoảng sợ, nhất tâm niệm danh hiệu bồ-tát Quán Thế Âm. Đến nửa đêm, sư cảm thấy dây trói nới lỏng, trong lòng thầm mừng, càng thiết tha xưng niệm, đến gần sáng thì dây trói đứt từng đoạn, nhân đó sư thoát thân, chạy trốn vào núi. Sáng hôm sau, giám ngục đến kiểm tra, chỉ thấy những đoạn dây đứt nằm trên đất. Biết là do thần minh gia hộ, chứ người không thể làm được, bèn tâu lên triều đình. Vua mới tin sa-môn không làm phản, nên tha cho tất cả sa-môn.
55.3.3. Đời Ngụy, Thích Tăng Lãng ở Lương châu: Khi quân nhà Ngụy tấn công Lưomg châu, vì trong thành ít dân, nên quan quân bắt chư tăng lên thành chiến đấu. Khi thành thất thủ, quân Ngụy bắt được ba nghìn tăng trên thành, dẫn đến trước Ngụy đế. Ngụy đế nói:
- Đạo nhân thì tọa thiền, hành đạo, mà nay lại làm giặc, lên thành chống cự, tội này phải chịu hình phạt nặng, sáng mai sẽ chém đầu hết!
Hôm sau, khi đến giờ thụ thực, có một luồng khí đỏ dài vài trượng xuyên thẳng qua mặt trời. Thiên sư Khấu Khiêm Chi, người được Ngụy đế tin dùng, tâu:
- Trời hiện điềm lạ, chính là vì các sa-môn. Việc này không phải ý cùa họ, do quan quân bắt ép lên thành mà thôi. Bệ hạ không cần phải giêt họ.
Đế nghe theo, tha chết, nhưng đày đi các nơi làm lao dịch. Riêng sư và vài vị tăng khác, bị giữ lại trong quân, theo đế trở về đông. Trên đường đi, sư và một đồng học, vì nhớ cố hương, nên quay trở lại. Nhưng quân lính canh phòng nghiêm ngặt, không có lối đi, hai phía đông và tây, vách núi cao sừng sững, không biết sâu cạn thế nào, có một cội cổ thụ nằm ngang bên bờ vực. Sư bèn dùng dây trống, dây cờ buộc vào gốc cây, rồi theo dây xuống đáy vực. Trời đêm tối như mực, dưới đáy toàn là gai gốc, không có chỗ đặt chân. Bấy giờ muốn lên thì sợ quân lính phát giác. Trong lòng hoang mang, không biết tính sao, sư cứ năm dây treo mình lơ lửng. Biết không thể chịu được lâu, nên hai người bàn:
- Hiểm nạn sắp đến, bây giờ chỉ nên niệm danh hiệu bồ-tát Quán Âm mà thôi!
Thế là hai người dập đầu vào vách đá, nhất tâm chuyên chú xưng niệm. Chưa bao lâu, bỗng nhiên có một luồng ánh sáng phát xuất từ nơi mặt trời mọc, chiếu sáng cả đất trời. Lúc ấy sư mới thấy được nơi đặt chân giữa rừng gai gốc, sau khi xuống đến đáy vực thì trời lại tối như trước.
Thế mới biết thánh lực không liên quan gì đến ánh sáng của các tinh tú. Hai người chúc mừng nhau vì cảm được thánh lực gia hộ, rồi an tâm ngủ nghỉ. Một hồi lâu thì trời sáng, hai người văng vẳng nghe quân lính thổi sừng xuất phát. Nơi đây núi non trụng điệp, chập chùng uốn lượn, kéo dài hàng vạn dặm, không thể tìm được lối ra, hai người cứ theo hướng mặt trời mà đi. Bỗng đâu một con cọp lớn xuất hiện phía trước. Hai người nhìn nhau, người bạn nói:
- Tuy tránh được nạn quân binh, nhưng nạn cọp chắc khó thoát!
- Thầy nói không đúng! Chính vì chúng ta có cảm, nên ánh sáng mới hiện. Bây giờ gặp cọp, chắc thánh nhân lại chỉ đường cho chúng ta.
Thế là hai người tiến đến chỗ cọp, cọp liền đi trước dẫn đường. Hễ sư tạm dừng thì cọp cũng dừng. Đến sáng thì ra khỏi núi, cọp cũng biến mất. Từ đó hai người theo đường lớn mà đi, trải qua bảy ngày thì đến Cừu Trì, sau đó vào Lương Hán, rồi qua Kinh châu, về sau không biết sư ở đâu.
55.3.4. Đời Tề, sa-môn Thích Đạo Phong: Không rõ sư họ gì, người thời bấy giờ gọi sư là bậc đã đắc đạo. Sư cùng ba đệ tử ẩn cư ở cổ Sơn, Tương châu, không màng lợi dưỡng. Có người cho rằng sư thông hiểu tất cả các thuật của thế gian như luyện đơn, y thuật, bói toán... Tề Cao đế mỗi khi qua lại giữa Tinh châu và Nghiệp đô thường ghé thăm hỏi, sư đối đáp không cần suy nghĩ, theo việc mà trình bày.
Có lần, vua sai người mang rượu thịt đến mời, sư chẳng từ chối, mặc tình ăn uống. Vua cười lớn, không nói lời nào. Sau khi vua về cung, sư bảo đệ tử:
- Con hãy vào dọn dẹp các thức ăn dưới giường!
Người đệ tử vào thu dọn, mới thấy những thức ăn vừa rồi vẫn còn nguyên.
Bấy giờ, tại chùa Thạch Quật có một vị tăng tu thiền, hàng ngày khi mặt trời sắp lặn, thì thấy đỉnh núi phía đông xuất hiện một tượng Phật vàng cao một trượng tám. Vị tăng mừng thầm, cho là điềm lành, nên mỗi ngày đều hướng về lễ bái, suốt hai tháng như thế. Một hôm, lúc đang ngủ trong phòng, vị tăng nghe từ gối phát ra tiếng nói:
- Trong thiên hạ nơi nào có Phật? Nay ông đã thành đạo tức là Phật vậy! Ông nên thể hiện tốt thân Phật, chớ khinh thường mình.
Nghe thế, vị ấy liền khởi tâm kiệu mạn, xem chúng tăng như cỏ rác, ở trước đại chúng, chỉ tay vào ngực mình nói:
- Các ông biết ta là Phật không? Những tượng họa đặt trong khám bằng đất kia không thể nói được. Các ông nghĩ gì mà thấy chân Phật không chịu kính lễ? Nếu vẫn còn nhìn ta với cặp mắt như xưa thì sẽ đọa A-tì.
Rồi vị tăng này giận dữ, la hét bất thường.
Mọi người biết vị tăng bị loạn thiền, nên nhân dịp bệnh chưa tái phát, mọi người khiêng đến chỗ sư. Sư hỏi:
- Có phải hai tháng trước ông thường thấy trên núi phía đông xuất hiện tượng Phật sắc vàng phải không?
Vị tăng đáp:
- Vâng.
Sư lại hỏi:
- Ông nghe trong gối có tiếng bảo ông là Phật? Vị ấy thưa:
- Thật đúng vậy.
Sư nói:
- Đây là do phong động làm mất trí, nếu không sớm trị ắt sẽ điên cuồng.
Sư liền dùng kim châm vào ba chỗ, vị tăng liền hết cuồng loạn.
Khi sắp viên tịch, sư bảo đệ tử:
- Ta ở núi này đã lâu, khiến các con phải lao nhọc gánh nước xa xôi. Nay ta ra đi mà không có gì, chỉ để lại một dòng suối, để không còn phải gánh nước cực khổ nữa. Các con phải nỗ lực siêng năng tiến tu đạo nghiệp!
Nói xong, sư dẹp bỏ một phiến đá vuông cạnh bếp, chỗ ấy liền hiện ra một dòng sâu nước trong vắt, không đầy cũng không vơi. Dòng nước ấy đến nay vẫn còn.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
29/11/2015
PUCL QUYỂN 55 - CHƯƠNG PHÁ TÀ
QUYỂN 55 Quyển này gồm một chương Phá tà. 62. CHƯƠNG PHÁ TÀ 62.1. LỜI DẪN Từng nghe: Tam thừa mở lối, giúp các con thoát nạn nhà lửa; Bát chính dẫn đường, đưa chúng sinh ngộ quả Vô vi. Cho nên, mây từ tuôn mưa, không phâ...
29/11/2015
PUCL QUYỂN 54 CHƯƠNG TRÁ NGỤY, LƯỜI BIẾNG, KIÊU MẠN
QUYỂN 54 Nội dung quyển này gồm hai chương: Trá ngụy, Lười biếng và kiêu mạn. 60. CHƯƠNG TRÁ NGỤY 60.1. LỜI DẪN Chí đạo không phân biệt, chỉ cốt ở lời ngay. Cho nên, nói lời thiện thì dù xa nghìn dặm vẫn có người hưởng ứ...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 53 - CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ, NGU ĐỘN
QUYỂN 53 Nội dung quyển này gồm hai chương: Thông minh cơ trí, Ngu độn. 58. CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ 58.1. LỜI DẪN Phàm ba tạng mênh mông, bảy chúng đông nhiều. Nhưng lập giáo hợp cơ thì mọi người sẽ thông đạt. Nếu nghe...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 52 - CHƯƠNG QUYẾN THUỘC, SO SÁNH, HƠN KÉM
QUYỂN 52 Quyển này gồm hai chương: Quyến thuộc, So sánh hơn kém. 56. CHƯƠNG QUYẾN THUỘC 56.1. LỜI DẪN Trộm nghĩ: quyến thuộc luôn hoán chuyển, nào mới cũ đổi thay, nào ở đi khó biết, nào tan họp tạm thời. Bởi do duyên th...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 50 - CHƯƠNG BÁO ÂN, QUÊN ÂN, TRÁI ÂN
QUYỂN 50 Quyển này gồm hai chương: Báo ân, Quên ân-trái ân. 51. CHƯƠNG BÁO ÂN 51.1. LỜI DẪN Ân Phật thật sâu nặng, phủ mây từ che mát bốn loài; giáo hóa khắp mười phương, xem chúng sinh như con một. Người kém cũng được t...
24/11/2015
PUCL QUYỂN 49 - CHƯƠNG TRUNG HIẾU
QUYỂN 49 Quyển này gồm hai thiên: Trung hiếu, Bất hiếu. 49. CHƯƠNG TRUNG HIẾU 49.1. LỜI DẪN Trộm nghĩ, người có trung hiếu-kính thành thì vượt trên đức hiền của Đổng Ảm; như trái nghịch, khinh mạn tôn thân thì tội còn lớ...
24/11/2015
PUCL QUYỂN 48 - CHƯƠNG KHUYÊN RĂN
QUYỂN 48 Quyển này có một chương Khuyên răn. 48. CHƯƠNG KHUYÊN RĂN 48.1. LỜI DẪN Phàm lập tượng để biểu thị chân hình là phép tắc thường của thế gian; nhờ ngón tay để thấy mặt trăng là phương tiện hằng dùng của đạo xuất...
22/11/2015
PUCL QUYỂN 47 - CHƯƠNG TRỪNG PHẠT LỖI LẦM, HÒA THUẬN
QUYỂN 47 Quyển này gồm hai chương: Trừng phạt lỗi lầm, Hòa thuận. 46. CHƯƠNG TRỪNG PHẠT LỖI LẦM 46.1. LỜI DẪN Hình hài gây nhiều họa, đúng lí phải răn dè; căn thức hôn trầm, theo lẽ luôn cảnh tỉnh. Cho nên kinh Di giáo g...
