PUCL QUYỂN 54 CHƯƠNG TRÁ NGỤY, LƯỜI BIẾNG, KIÊU MẠN
29/11/2015
QUYỂN 54 Nội dung quyển này gồm hai chương: Trá ngụy, Lười biếng và kiêu mạn. 60. CHƯƠNG TRÁ NGỤY 60.1. LỜI DẪN Chí đạo không phân biệt, chỉ cốt ở lời ngay. Cho nên, nói lời thiện thì dù xa nghìn dặm vẫn có người hưởng ứ...

QUYỂN 54
Nội dung quyển này gồm hai chương: Trá ngụy, Lười biếng và kiêu mạn.
60. CHƯƠNG TRÁ NGỤY
Chí đạo không phân biệt, chỉ cốt ở lời ngay. Cho nên, nói lời thiện thì dù xa nghìn dặm vẫn có người hưởng ứng, buông lời bất thiện thì gần trong gang tấc cũng chẳng ai nghe. Đời mạt pháp, người thì gian dối, pháp thì suy vi, có kẻ dựa vào điều phải mà làm thành quấy, hoặc tô điều giả để biến thành thật. Do lòng người có chính tà, nên pháp có chân tục, vướng vào danh lợi thì nhân ngã càng lớn. Người thân trước mắt còn không nương tựa được, huống là kẻ xưa nay xa lạ. Vì thế mà khó kết bạn. Cho nên trong kinh có dạy: “Trực tâm là đạo tràng”, thật không sai vậy!
60.2. GIẢ TRÁ GÀN GŨI
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Tất cả những kẻ gian trá, giả dối, mê hoặc, nhìn bề ngoài giống như ngay thảng, nhưng trong lòng ẩn chứa những điều bất chính. Thế nên, người trí phải phân rõ thật giả.
Thuở xưa, có một bà-la-môn tuổi đã già, nhưng lại cưới được vợ trẻ. Vì chê chồng già, nên người vợ luôn khởi ý tà dâm, xúi dục chồng mở tiệc mời các Bà-la-môn trẻ tuổi cường tráng đến dự. Nghi vợ có gì gian dối, nên người chồng không bằng lòng.
Ngày kia, đứạ con trai riêng của người vợ trước chẳng may sẩy chân té vào đống lửa, người vợ trẻ nhìn thấy, nhưng không kéo ra, người chồng tức giận quát:
- Tại sao thấy con té mà không chịu kéo ra?
Người vợ liền đáp:
- Từ nhỏ đến gỉờ, tôi chỉ gần gũi chồng, chưa bao giờ gần người đàn ông nào khác, sao bảo tôi phải kéo đứa con trai này?
Nghe vậy, người chồng già tin là thật, bèn mở tiệc lớn, mời các bà-la-môn trẻ tuồi đến dự. Thế là người vợ trẻ được dịp tư thông với họ. Chứng kiến cảnh vợ mình tư tình với họ ông rất giận dữ, liền lấy hết báu vật, bỏ vợ ra đi. Trên đường, ông gặp một bà-la-môn và kết bạn. Đến tối, hai người ngủ chung, sáng lại lên đường. Bà-la-môn kia nói:
- Chỗ ngủ hôm qua có một cọng cỏ dính vào áo tôi. Từ nhỏ tới giờ, tôi chưa hề lấy một vật gì của ai, tôi muốn trả lặi cho chủ nhân của nó. Ông hãy đợi ở đây, tôi trả xong sẽ trở lại.
Nghe lời này, bà-la-môn già càng tin tưởng và thương kính người ấy bội phần, nên bằng lòng đứng đợi. Bà-la-môn kia vứt cọng cỏ vào khe rồi nằm nghỉ, một lát sau trở lại nói là đã trả xong. Khi đó, Bà-la-môn già muốn đi tiểu, nên gửi báu vật cho bà-la-môn kia. Thời cơ đã đến, người kia ôm lấy của báu trốn đi.
Biết người trộm lấy vật báu của mình, bà-la-môn già rất tức giận và tiếc nuối.
Sau đó lại lên đường, ông ta dừng nghỉ dưới một gôc cây. Nhìn thấy con chim sếu ngậm cọng cỏ, nói với các chim khác:
- Chúng ta thương yêu lẫn nhau, nên cùng ở một nơi!
Bấy giờ, các loài chim khác đều tin thật, nên tụ tập đến. Đợi đến khi các loài chim rới khỏi tổ, sếu liền bay đến ăn hết trứng. Khi thấy các chim kia về, thì nó lại ngậm cỏ. Biết được sếu gian, nên tất cả đều bỏ đi. Rồi cũng tại gốc cây ấy, một lát sau, ông lại thấy một người xuất gia ngoại đạo, thân mặc áo vá, bước đi chậm rãi, miệng nói:
- Chúng sinh tránh ra!
Thấy thế, bà-la-môn già hỏi:
- Tại sao ông vừa đi vừa nói: ‘Tránh ra’?
Ngoại đạo đáp:
- Tôi là người xuất gia, nên thương xót tất cả. Sở dĩ nói vậy, là vì tôi sợ làm tổn thương trùng kiến.
Nghe thế, bà-la-môn già tin là thật, nên tìm tới nhà ông ta xin ngủ qua đêm. Đêm đến, ông nghe có tiếng ca múa, liền ra xem thì thấy một phụ nữ bước ra từ đường hầm trong phòng đến giao hoan với ngoại đạo xuất gia, trong tiếng đàn hát, đùa giỡn. Thấy vậy, bà-la-môn già suy nghĩ: ‘Muôn vật trong thiên hạ đều không đáng tin’ và nói kệ:
Chẳng chạm đàn ông khác
Đem cỏ trà lại chủ
Chim sếu giả ngậm cỏ
Ngoại đạo sợ hại trùng
Miệng luôn nói tránh ra
Dối trá như thế đấy
Đều không đáng tin cậy
Đời sau khổ khôn lường”.
Cho nên, kinh Niết-bàn ghi: “Đức Phật dạy:
Tất cả các dòng sông,
Đều có những khúc quanh,
Tất cả mọi núi rừng,
Đều có cây gỗ quí.
Tất cả những người nữ
Đều có lòng gian dối
Tất cả không vướng mắc
Thì tâm được an vui ”.
60.3. GIẢ TRÁ DÙNG ĐỘC HẠI NGƯỜI
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Đề-bà-đạt-đa dùng đủ mọi cách để sát hại Phật, nhưng không được. Gặp lúc có một bà-la-môn người Nam Thiên Trúc rất giỏi chú thuật, pha chế thuốc độc đến, Đề-bà-đạt-đa liền nhờ ông ta pha chế, rồi tự tay mình rải lên Đức Phật, nhưng bị gió thổi ngược rơi trở lại trên đầu, nên bất tỉnh, ngã lăn ra đất sắp chết, không phương cứu chữa.
A-nan bạch Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn! Đề-bà-đạt-đa trúng độc sắp chết!
Vì thương xót, Đức Phật phát thệ:
- Từ lúc hành đạo Bồ-tát cho đến khi thành Phật, ta luôn thương xót Đề-bà-đạt-đa, không hề oán ghét. Nếu đúng như vậy, thuốc độc sẽ tự tiêu.
Vừa dứt lời, thuốc độc liền được giải. Thấy vậy, các thầy tì-kheo thưa:
Thật hiếm thay! Bạch Đức Thế Tôn! Đề-bà-đạt-đa luôn khởi lòng ác đối với Như Lai, vậy mà tại sao Như Lai còn cứu sống?
Đức Phật nói:
- Không chỉ ngày nay Đề-bà-đạt-đa có ác tâm với Ta, mà quá khứ cũng vậy.
Các thầy tì-kheo lại hỏi:
- Bạch Đức Thế tôn! Ngày xưa, Đề-bà-đạt-đa có ác tâm với Ngài như thế nào?
Đức Phật kể: ‘Vào đời quá khứ, trong thành Ba-la-nại, nước Ca-thi có hai vị tể tướng: một vị tên là Tư-na, vị kia tên là Ác Ý. Tư-na thường làm theo luật pháp, còn Ác Ý luôn làm việc ác, thích gièm pha. Một hôm, Ác Ý tâu với nhà vua:
- Tư-na muốn tạo phản!
Nhà vua liền cho người bắt Tư-na. Lúc ấy, các vị trời và thiện thần ở giữa hư không nói:
- Người hiền này quả thật không có tội, cớ sao lại bắt ông ta?
Lần thứ hai, Ác Ý cướp kho nhà vua, rồi đổ oan cho Tư-na, vì không còn tin tưởng, nhà vua bèn ra lệnh bắt Ác Ý giao cho Tư-na định tội. Tư-na liền khuyên Ác Ý đến sám hối nhà vua. Biết mình có tội, Ác Ý liền trốn sang nước của vua Tì-đề-hê, làm một chiếc hộp báu đựng hai con rắn cực độc, đến nỗi ai thấy rắn này thì sẽ bị khí độc làm hại. Ác Ý nhờ vua Tì-đề-hê sai sứ giả đem hộp báu này dâng cho vua nước Ca-thi và Tư-na, đồng thời dặn: ‘Chỉ cho hai người này xem, không cho
người khác thấy!’. Nhìn chiếc hộp báu trang sức quá đẹp, vua rất vui mừng, liền sai Tư-na mở hộp ra xem. Tư-na thưa:
- Vật từ xa đem đến thì không nên tự mở xem, thực phẩm từ xa đem lại cũng không nên ăn vội. Vì sao? Vì nước kia có kẻ ác, có thể dùng vật độc để hại chúng ta.
Vua nói:
- Nhưng trẫm quyết muốn xem!
Tư-na ân cần can gián đến ba lần, nhưng nhà vua vẫn một mực đòi xem. Thấy vậy, Tư-na nói:
- Tâu đại vương! Nếu không tin lời hạ thần, thì đại vương tự mở xem, hạ thần không dám!
Vừa mở hộp ra, nhà vua bị chất độc làm mù hai mát. Tư-na vô cùng đau buồn, xót thương, liền cho người đi khắp bốn phương tìm thuốc hay về chữa tri cho vua. Vua bình phục như cũ.
Nhà vua bấy giờ là Xá-lợi-phất, Tư-na chính là Ta, còn Ác Ý là Đề-bà-đạt-đa vậy’’.
60.4. GIẢ LÀM NGƯỜI GIÀU SANG
Luật Tăng-kì ghi: “Phật bảo các tì-kheo:
- Vào thời quá khứ tại thành Ba-la-nại, nước Ca-thi, có một bà-la-môn học rộng tên Phất-lô-hê, là thầy của vua, có năm trăm học trò. Bấy giờ, bà-la-môn nuôi một nô bộc tên là Ca-la-ha, có nhiệm vụ cung cấp đồ dùng cho các đồng tử. Nô bộc này căn tính lanh lợi, nghe nhớ tất cả các lời bà-la-môn dạy.
Một hôm, nô bộc xích mích với các đồng tử, liền đến nước khác, giả xưng là Da-nhã-đạt-đa, con của bà-la-môn Phất-lô-hê nước Ba-la-nại. Nô bộc thưa với quốc sư nước này.
- Tôi là con của bà-la-môn Phất-lô-hê, quốc sư nước Ba-la-nại, cố ý đến đây học pháp Bà-la-môn.
Quốc sư bảo:
- Được!
Nô bộc này thông minh, vốn đã được nghe, hôm nay nghe lại, nên ghi nhớ tất cả. Quốc sư rât vui mừng, liền bảo dạy cho năm trăm học trò của ông. Ông nói:
- Ngươi hãy dạy thay ta, ta phải lo việc triều chính.
Vị quốc sư này không có con trai, chỉ cỏ một người con gái, nên bảo nô bộc:
- Này Da-nhã-đạt-đa! Ngươi nên nghe lời ta, đừng trở về nước, ta sẽ gả con gái cho ngươi.
Thưa:
- Con xin vâng lời.
Thế rồi, họ cùng ở chung một nhà, cuộc sống rất đầy đủ, sung sướng. Là người khó tính, mỗi khi người vợ làm thức ăn, Da-nhã-đạt-đa thường chê sống chín, không vừa miệng. Người vợ suy nghĩ: ‘Nếu có người từ nước Ba-la-nại đến, ta sẽ hỏi họ cách thức ăn uống của nước ấy để cung phụng cho chồng’.
Bấy giờ, bà-la-môn Phất-lô-hê của nước kia nghe việc này liền nghĩ: ‘Nô bộc Ca-la-ha của ta trốn sang nước ấy, ta nên đến đó bắt về, cũng có thể gặp được. Bà-la-môn liền sang nước ấy. Khi đó, nô bộc đang dạo chơi trong vườn với các học trò. Từ xa nhìn thấy người chủ cũ, nô bộc sợ hãi, nói nhỏ với các học trò:
Các con hãy trở về, mỗi người hãy tự học
thuộc.
Sau khi học trò đã đi, nô bộc đến trước người chủ cũ, lễ bái và thưa:
- Con đến nước này, nói đại gia là cha của con, theo vị quốc sư ở đây học kinh điển. Quốc sư gả con gái cho con. Hôm nay, mong ngài đừng kể lai lịch của con, con sẽ làm đúng bổn phận nô bộc, hầu hạ đại gia.
Bà-la-môn chủ là người hiểu việc đời, liền bảo:
- Ngươi thật là con ta, nên sớm trở về!
Nô bộc liền về nhà vợ, nói với mọi người trong nhà:
- Cha tôi đã đến!
Nghe chồng nói vậy, người vợ vui mừng, làm các thức ăn uống. Dọn thức ăn xong, người vợ thừa lúc rảnh rỗi, âm thầm lễ bái bà-la-môn và thưa:
- Con hầu hạ chồng, nấu nướng thường không vừa ý. Mong cha dạy con biết, khi còn ở nhà, anh ấy thường ăn những gì để con làm thức ăn uống như thế.
Bà-la-môn khách liền nổi giận và thầm nghĩ: ‘Như thế thật đã làm khổ con gái người ta’, rồi bảo:
- Con hãy báo rằng ta cần trở về sớm. Trước khi trở về, ta sẽ dạy con một bài kệ để chồng con không còn nói nữa.
Nghe vậy, người vợ vui mừng, từ biệt lui ra, rồi về nói với chồng:
- Cha của chàng từ xa đến đây, phải trở về sớm.
Người chồng suy nghĩ: ‘Như lời vợ nói, nên để ông ta về sớm, chớ cho ở đây lâu, e rằng nói năng sơ hở, tiết lộ làm tôn hại lớn cho ta!’. Người chồng liền đưa nhiều tiền, bảo vợ làm thức ăn, rồi hầu hạ bà-la-môn. Người chồng là tào chủ, bận họp bạn bè, nên không có ở nhà. Dâng thức ăn xong, người vợ lạy chào từ biệt, xin cha nói kệ.
Thế là, bà-la-môn liền nói:
Không cha, đến xứ khác,
Dối trá gạt mọi người,
Thường ăn các thứ dở,
Sao lại chê món ngon?
- Nay ta cho con bài kệ này. Mỗi khi chồng con nổi giận, chê thức ăn dở, con đứng một bên, quay lưng lại, đọc nhỏ bài kệ đủ để cho chồng con nghe.
Chỉ dạy xong, bà-la-môn trở về nước. Nô bộc ra tiễn chủ về. Sau đó, mỗi khi đến giờ ăn, chồng lại nổi giận. Người vợ đứng bên cạnh, đọc thử bài kệ. Người chồng nghe bài kệ này, trong lòng không vui, thầm nghĩ: ‘Ôi! Lão già này đã nói điều xấu của ta ra rồi!’
Kể từ ngày đó, người chồng thường nói nhẹ nhàng, mong vợ đừng giận, sợ vợ sẽ nói với người khác những điều bí mật của mình.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Bà-la-môn Phất-lô-hê, người chủ cũ nay chính là Ta, nô bộc Ca-la-ha thuở ấy nay là tì-kheo Xiển-đà. Xiển-đà trước đây đã từng cậy thế lực của Ta dối gạt người khác, nay cũng lại như thế”.
60.5. GIẢ CAN ĐẢM
Luận Đại trí độ ghi: “Tất cả các pháp đều không thật. Vì ngu si nên chúng sinh không nhận ra người quen kẻ lạ, nổi giận mắng chửi, cho đến sát hại, gây nhiều tội nặng, phải đọa vào ba đường ác, chịu khổ vô lượng.
Như tại căn phòng của một ngôi chùa trong núi, ma thường đến quấy phá, khiến tăng chúng không dám ở. Bấy giờ, một vị khách tăng đến xin ngủ nhờ, thầy Duy-na xếp cho ở ngay căn phòng trống này và nói:
- Căn phòng này có ma quỷ ưa hại người, thầy ở được thì ở.
Tự cho mình là người trì giới, đa văn, nên vị khách tăng nói:
- Tiểu quỷ này thì có thể làm được gì? Ta sẽ thu phục nó.
Nói xong, vị khách tăng liền vào phòng. Chiều tối, có thêm một vị khách tăng đến chùa xin ngủ, thầy Duy-na cũng lại đưa vị này đến căn phòng kia và cho biết là có ma thường đến hại người. Vị khách tăng này cũng nói:
- Tiểu quỷ này thì có thể làm được gì? Ta sẽ thu phục nó.
Vị tăng đến trước vào phòng, đóng cửa, ngồi yên chờ ma. Đêm tối, vị tăng đến sau gõ cửa xin vào. Vi tăng trước cho là ma nên không mở cửa, vị tăng sau dùng toàn lực phá cửa. Vị ở trong cố sức chống lại, vị ở ngoài mạnh hơn nên xô cửa xông vào. Thê là đánh nhau đến sáng, hai vị này mới nhận ra là bạn học cũ, cả hai đều hổ thẹn, xin lỗi nhau. Mọi người tụ tập đến cười chê.
Chúng sinh cũng như thế, năm ấm không thật, không nhân không ngã, do chấp tướng mà sinh ra tranh đấu, tàn hại lẫn nhau. Nếu mang ra mổ xẻ thì cũng chỉ có xưomg, thịt mà thôi, không nhân, không ngã. Thế nên, bồ-tát dạy chúng sinh: “Nơi
nguồn gốc trống rỗng chớ đấu tranh, thân người còn không thật, huống chi gặp Phật”.
60.6. LOÀI VẬT DỐI TRÁ
Kinh Cựu tạp thí dụ ghi: “Xưa, có một phụ nữ giàu sang, thường tư thông với một người nam khác, rồi gom hết vàng bạc của cải, cùng nhau đi nơi khác. Khi đến bờ sông, nước đang chảy xiết, người nam nói:
- Nàng đưa của cải đây, tôi mang qua sông trước, rồi quay lại đón nàng!
Người nam qua sông, nhưng không quay trở lại. Người nữ ngồi một mình sầu khổ, không người cứu giúp. Lúc ấy cô thấy một con chồn bắt được con chim nhạn. Nhưng khi thấy cá dưới sông, con chồn liền bỏ chim nhạn lao xuống nước bắt cá, đã không bắt được cá mà còn mất luôn chim nhạn. Người phụ nữ nói với chồn:
- Sao ngươi ngu quá, tham bắt hai con, nên chảng được con nào.
Con chồn mắng lại:
- Nhưng tôi còn ít ngu hơn bà!”.
Luật Tăng-kì ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Vào thời quá khứ, có một năm nọ mưa trái mùa liên tục bảy ngày, các loài gia súc không được chăn thả. Lúc ấy, có con sói đói đi tìm thức ăn khắp bảy làng mà không được, nên tự trách mình: ‘Sao ta bạc phận, đi giáp hết bảy làng mà không có gì ăn, chi băng ở trong núi rừng này mà trì trai’. Thế rồi, sói ở trong hang và phát nguyện: ‘Mong cho tất cả chúng sinh đều được an ổn’. Sau đó, sói giữ thân ngồi thẳng, nhắm mắt.
Đến ngày trai, Đế Thích cưỡi voi trắng Y-la, đi xem xét những ai giữ giới, phá giới trong nhân gian. Khi đến hang núi kia, thấy sói nhắm mắt tư duy, Đế Thích suy nghĩ: ‘Ôi chao! Con sói này thật là kỳ lạ, loài người còn không có tâm này, huống gì là sói?’. Bấy giờ, muốn thử xem hư thật thế nào, Đế Thích liền biến làm một con dê đứng trước hang, lớn tiếng gọi đàn. Thấy dê, sói nghĩ: ‘Lạ thay! Phúc báo giữ trai giới đã ứng nghiệm. Mình đi khắp bảy làng tìm thức ăn không được, nay chỉ tạm gịữ trai giới mà thức ăn ngon tự dâng tới miệng. Mình ăn xong rồi sau giữ trai giới cũng được’.
Nghĩ vậy, sói liền ra khỏi hang, đến chỗ của dê. Thấy sói đến gần, dê kinh hãi tháo chạy. Sói rượt đuổi theo, nhưng không bắt được. Chạy một đoạn xa, dê lại biến thành con chó, miệng rộng tai to, quay ngược lại sủa vang và đuổi sói. Thấy chó hung hãn, sói sợ hãi chạy. Chó đuổi theo không kịp, nên sói mới thoát, về tới hang, sói nghĩ: ‘Mình muốn ăn thịt nó, mà nó trở lại muốn ăn thịt mình!’.
Bấy giờ, Đế Thích lại biến làm con dê què đứng trước mặt sói kêu gào. Sói liền suy nghĩ: ‘Hồi nãy là con chó, vì đói quá hoa mắt nên mình thấy là dê. Bây giờ, con này đây mới đúng là dê’. Nhìn kỹ từ tai, sừng cho đến lông thì quả thật là dê. Sói liền ra đuổi, dê lại hoảng chạy. Đến lúc gần bắt được thì dê liền biến thành chó, quay ngược lại đuổi cắn sói, cũng giống như trước. Một lần nữa, Đế Thích lại biến thành dê non kêu đàn, gọi mẹ, đứng trước mặt sói. Sói tức giận nói:
- Ngươi có biến thành miếng thịt, ta cũng không thèm ra, huống là con dê non mà muốn lừa ta ư!
Sói trở lại giữ trai giới, tĩnh tâm, tư duy như trước. Khi ấy, Đế Thích biết tâm niệm sói giữ trai giới, nhưng vẫn biến làm dê non đứng trước mặt sói.
Lúc ấy, sói liền nói kệ:
Nếu đúng thật là dê,
Còn chẳng muốn bước ra,
Huống chi là giả dạng,
Dọa ta sợ như trước,
Thấy ta giữ trai giới,
Ngươi lại đến thử ta,
Cho dù là miếng thịt,
Ta cũng vẫn không tin,
Huống nữa là dê non,
Mà dối trá gọi đàn.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ:
Nếu có người xuất gia,
Trì giới, tâm loạn động,
Không xả bỏ lợi dưỡng
Giống như sói trì trai”.
Luật Ngũ phần ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Thuở xưa, có một ma-nạp thường tụng kinh sách của Sát-đế-lợi trong hang núi. Bên cạnh có một con chồn luôn nghe tụng kinh, nên cũng hiểu được nghĩa lý. Con chồn suy nghĩ: ‘Ta hiểu được lời của kinh này, xứng đáng làm vua trong các loài thú’. Suy nghĩ như vậy, chồn liền bắt đầu chuyến du hành. Khi gặp con chồn ốm yếu khác, nó bèn muốn giết. Con chồn ốm hỏi:
- Vì sao lại giết tôi?
- Ta là vua của loài thú, ngươi không phục ta thì phải chết.
- Xin đừng giết, tôi sẽ theo ông! Chồn ốm van xin.
Thế là hai con chồn cùng đi. Lại gặp một con chồn khác, nó toan muốn giết, hỏi đáp cũng như vậy, con chồn ấy tình nguyện xin theo. Cứ như vậy, chồn ta lần lượt thu phục hết tất cả loài chồn, rồi dẫn bầy chồn đi thu phục hết tất cả voi, lại dẫn đàn voi đi thu phục hết tất cả hổ, lại dẫn đàn hổ đi thu phục hết tất cả sư tử, cuối cùng được làm vua.
Khi làm vua rồi, nó suy nghĩ: ‘Nay ta làm vua trong các loài thú, chẳng lẽ lấy thú làm vợ!’. Thế là, nó cưỡi voi trắng dẫn vô số đàn thú bao vây thành Ca-di đến mấy nghìn vòng. Nhà vua sai sứ hỏi:
- Tại sao đàn thú các ngươi làm như thế?
Chồn trả lời:
- Ta là vua loài thú, phải cưới con gái nhà vua. Nếu gả cho ta thì tốt, bằng không thì ta sẽ diệt nước của ngươi!
Sứ về tâu như vậy, nhà vua triệu tập quần thần cùng bàn. Chỉ có một vị đại thần không đồng ý, còn tất cả đều cho là nên gả. Vì sao? Hiện nay cả nước chỉ nhờ vào voi, ngựa để chiến đấụ, nhưng chúng lại có sư tử. Voi, ngựa nghe tiếng sư tử át kinh hoàng té ngã, nếu đánh ắt bị loài thú ấy tiêu diệt. Tiếc gì một người con gái mà mất cả quốc gia!
Bấy giờ, một đại thần thông thái tâu vua:
- Từ xưa tới giờ, thần chưa từng nghe con gái của vua lại gả cho súc sinh. Tuy là ngu muội, nhưng thần sẽ giêt được con chồn này, khiến cho các đàn thú bỏ chạy tan tác.
Nhà vua hỏi:
- Khanh có kế gì?
Đại thần đáp:
- Chỉ cần đại vương hẹn ngày giao chiến. Trước hết, chúng ta sai người đến gặp con chồn kia đưa điều kiện: ‘Xin để sư tử đánh trước rồi mới rống sau’. Chúng cho rằng ta sợ, nên chắc chắn sẽ bảo sư tử rống trước, đánh sau. Đến ngày giao chiến, đại vương ban sắc lệnh cho người và gia súc trong thành đều bịt tai.
Nhà vua áp dụng kế này, ra lệnh cho sứ giả đưa chiến thư và yêu sách. Đến ngày giao chiến, vua lại sai đưa thư yêu cầu lần nữa rồi mới xuất quân. Lúc quân tiên phong sắp giao chiến, con chồn quả nhiên cho sư tử rống trước. Chồn nghe tiếng rống vang trời của sư tử, tim vỡ thành bảy mảnh, từ lưng voi rơi xuống đất, cả đàn thú kia đồng loạt bỏ chạy. Từ câu chuyện này, Đức Phật nói kệ:
Chồn kia rất kiêu mạn,
Muốn tìm cầu vợ đẹp,
Liền đến thành Ca-di,
Tự xưng là vua thú,
Người kiêu mạn cũng thế,
Ưa thống lãnh đồ chúng,
Tại nước Ma-kiệt-đà,
Tự xưng là pháp chủ.
Vua Ca-di bấy giờ chính là Ta, vị đại thần thông minh là Xá-lợi-phất, con chồn chinh là Điều-đạt.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Xưa kia, Điều-đạt đã dối làm quyến thuộc, ngày nay cũng như vậy.
Đức Phật nói kệ:
Cùng thiện dễ tụ hội,
Thiện, ác thật khó thân,
Cùng ác dễ tụ hội,
Ác, thiện thật khó gần
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Ta nhớ thuở xưa có một dòng sông tên Ba-lợi-da-đa. Bên bờ sông có một người làm nghề kết tràng hoa và là chủ của một khu vườn bên cạnh con sông. Một hôm, có con rùa từ sông nổi lên, đến vườn hoa tìm thức ăn. Rùa đi đến đâu thì cỏ hoa đều bị phá nát. Thấy rùa phá hoa, ông chủ bắt nhốt trong giỏ tre, định mang về làm thịt. Rùa suy nghĩ: ‘Làm sao thoát được nạn này, tìm cách nào để gạt ông chủ vườn?’. Nghĩ xong, rùa liền nói:
Tôi từ nước lên, thân lấm bùn,
Ông hãy cất hoa, rửa thân tôi,
Thân này vấy bùn thật nhơ nhớp,
Sợ làm bấn hết giỏ và hoa.
Bấy giờ, ông chủ vườn nghĩ: ‘Tốt quá! Con rùa này khéo chỉ bày cho ta. Nay ta nên nghe theo, tắm rửa cho nó để bùn không làm bẩn giỏ hoa’. Nghĩ vậy, ông ta đem con rùa xuống sông để rửa. Ông lấy rùa ra khỏi giỏ, đặt lên tảng đá, rồi múc nước định rửa. Lúc ấy, rùa ta dồn hết sức lao minh xuống nước. Thầy vậy, ông thợ kết tràng hoa nói:
- Thật lạ thay! Con rùa này có thể gạt ta như thế, nay ta phải gạt nó lên bờ. Ông liền nối kệ:
Rùa ngoan hãy lắng nghe lời ta,
Cùng ngươi quen biết đã lâu mà,
Ta kết vòng hoa tặng ngươi đó,
Mang về cùng vui với cả nhà!
Nghe vậy, rùa suy nghĩ: ‘Ông thợ kết tràng hoa này nói dối để gạt ta. Mẹ của ông đang bệnh nằm liệt giường, vợ ông hái hoa về kết thành tràng đem bán để kiếm sống. Nay ông ta nói thế thì nhất định là muốn dụ ta lên bờ để bẳt ăn thịt’ . Rùa bèn nói kệ:
Nhà ngươi nấu rượu họp người thân,
Làm nhiều món ngon đầy cả mâm,
Ngươi trở về nhà và hãy nói,
Đầu rùa nấu cháo, thịt mỡ hầm.
Đức Phật bảo các tì-kheo: ‘Các ông nên biết, con rùa lúc đó chính là Ta, ông thợ kết tràng hoa là ma Ba-tuần. Ma Ba-tuần lúc ấy muốn dối Ta mà không được, nay lại muốn gạt nữa, làm sao được!’ ”.
Lại nữa, Đức Phật bảo các tì-kheo:
Ta nhớ xưa kia có con rồng lớn sống trong biển cả. Vợ nó mang thai, muốn ăn tim khỉ mà không có, nên thân nỏ gầy ốm, vàng vọt, đi đứng không vững. Thấy vợ như thế, rồng chồng hỏi:
- Nàng lo lắng điều gì, hay muốn ăn gì? Sao không thấy nàng bảo ta tìm thức ăn?
Rồng vợ im lặng, không trả lời. Rồng chồng lại hỏi;
- Sao hôm nay nàng chẳng nói gì?
Rồng vợ đáp:
- Nếu phu quân thỏa mãn ý nguyện của thiếp, thiếp mới chịu nói. Nếu không thì chẳng nói!
Rồng chồng đáp:
- Nàng cứ nói xem, nếu lo được, ta sẽ tìm mọi cách để đạt được.
Rồng vợ liền nói:
- Nay thiếp muốn ăn tim khỉ. Chàng tìm được không?
Rồng chồng trả lời:
- Món nàng đòi hỏi thật là khó tìm. Bởi vì, chúng ta sống trong biển lớn, còn khỉ ở rừng xanh thì làm sao có được?
Rồng vợ nói:
- Vậy phải làm sao? Nếu không tìm được tim khỉ, thì sẽ trụy thai, mạng sống của thiếp cũng chẳng còn bao lâu.
Nghe nói vậy, rồng chồng trả lời:
- Này nàng! Hãy ráng chờ đợi, ta sẽ đi tìm. Nếu thành công thì ta và nàng đều vui, không còn gì hơn.
Thế rồi, rồng chồng liền vào bờ. Cách bờ không xa, có một cây lớn tên là ưu-đàm-bà-la. Trên cây ấy, có một con khỉ lớn đang hái quả ăn. Thấy vậy, rồng chồng từ từ tiến đến gốc cây, dùng lời ngon ngọt, hỏi thăm:
- Hay thay, Hay thay! Này Bà-tư-sư-tra! Ngài đang làm gì trên cây thế? Có vất vả, cực nhọc chăng? Tìm thức ăn dễ được, không mệt nhọc lắm chứ?
Khỉ đáp lời:
- Đúng thế, nhân giả! Tôi nay không có gì khổ cực cả!
Rồng lại hỏi:
- Ở đây, anh ăn những thứ gì?
Khỉ trả lời:
- Tôi ăn quả Ưu-đàm-bà-la.
Rồng lại nói:
- Nay gặp anh, tôi rất vui, không nén được lòng, nên muốn kết bạn với anh. Chúng ta thương yêu lẫn nhau. Anh nhận lời tôi, thì không cần ở đây, bởi cây này quả rất ít, đâu thể vui thỏa được? Anh nên xuống đây, đi theo tôi. Tôi sẽ đưa anh vượt biển, đến bờ kia cớ khu rừng lớn, đủ các loại cây, hoa quả sung túc.
Khỉ hỏi:
- Biển sâu rộng, sao tôi có thể qua được?
Rồng trả lời:
- Chỉ cần anh xuống đây, leo lên lưng tôi, tôi sẽ đưa anh sang bờ kia.
Lòng còn do dự, nhưng bởi ngu si che mờ, nên khỉ vui mừng, liền nhảy xuống đất, leo lên lưng rồng. Khi ấy, rồng suy nghĩ: ‘Hay lắm, hay lắm! Điều ta mong muốn đã thành’. Rồng liền đưa khỉ đến chỗ ở của mình, cả hai cùng lặn xuổng biển. Thấy lạ, khỉ hỏi rồng:
- Này anh bạn! Vì sao chúng ta lại lặn xuống nước?
Rồng trả lời:
- Vợ tôi mang thai, muốn ăn tim ông. Vì vậy, tôi đưa ông đến đây.
Nghe thế, khỉ suy nghĩ: ‘Than ôi! Ta nay thật xui xẻo, tự chuốc họa vào thân. Giờ phải làm sao để vượt qua ách nạn này, bảo toàn tính mạng? Ta phải gạt rồng mới được!’. Suy nghĩ xong, khỉ nói với rồng:
- Này bạn tốt! Tim tôi để trên cây Ưu-đàm-bà-la, không mang theo. Sao hồi nãy anh không nói thật. Biết anh cần quả tim, tôi đã mang theo rồi. Giờ anh hãy đưa tôi trở về lấy tim, rồi sẽ quay trở lại.
Nghe nói vậy, rồng đưa khỉ trở về chỗ cũ. Thấy rồng sắp đến bờ, khỉ dùng hết sức, từ trên lưng rồng nhảy xuống, rồi phóng lên cây Ưu-đàm. Đứng đợi một hồi dưới gốc cây, thấy khỉ trì hoãn không xuống, rồng gọi:
- Này bạn thân! Anh mau xuống đây, cùng về nhà tôi!
Khỉ im lặng, không chịu xuống. Thấy khỉ đã lâu vẫn không xuống, rồng nói kệ:
Bạn khỉ thân ơi, lấy tim rồi!
Mau xuống lưng tôi, ta đi thôi.
Tôi đưa bạn đến khu rừng ấy,
Hoa trái dồi dào, ngọt lịm môi.
Khi ấy, khỉ suy nghĩ: ‘Con rồng này thật ngu’, liền nói kệ:
Rồng ngươi mưu kế tuy khá sâu
Nhưng trí xem ra thật ngu đần
Ngươi hãy nghĩ suy cho thật kỹ
Hết thảy muôn loài, ai không tim?
Rừng kia hoa trái nhiều thật đấy
Cho đến quả ngọt như Yêm-la
Nhưng ta chẳng muốn đi cùng nữa
Thà rằng ăn quả ưu-đàm-bà.
Phật bảo các tì-kheo:
- Con khỉ lớn thuở ấy chính là Ta, rồng là ma Ba-tuần. Ma Ba-tuần trước đây đã từng dối gạt Ta mà không được, nay lại muốn dùng năm dục thế gian để dụ dỗ, nhưng đâu thể lay động chỗ ngồi này của Ta?”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Thuở xưa, quạ và cú thù ghét nhau. Quạ đợi ban ngày cú không nhìn thấy, đến tàn sát bầy cú. Cú thì lợi dụng ban đêm quạ không thấy, lại tấn công bầy quạ, mổ ruột, xé xác ăn. Như vậy, kẻ này sợ ngày, kẻ kia sợ đêm, kéo dài mãi như thế.
Bấy giờ, có một con quạ thông minh nói với bầy:
- Chúng ta và loài cú đã kết thù hận, không mong gì hòa giải, rốt cuộc tàn hại lẫn nhau, cả hai đều diệt tận. Chúng ta nên tìm cách diệt hết bầy cú thì mới được yên thân. Nếu không, cuối cùng chúng ta cũng bị loài cú tiêu diệt.
Bầy quạ hỏi:
- Bằng cách nào để diệt kẻ thù?
Con quạ thông minh nói:
- Này các bạn! Hãy nhổ lông cánh và mổ vào đầu tôi, tôi sẽ lập kế khổ nhục để tiêu diệt bọn chúng.
Bầy quạ liền nghe lời, làm cho thân hình nó đầy thương tích. Sau đó, nó đến hang cú, kêu rên thảm thiết. Nghe tiếng quạ kêu, bầy cú hỏi:
- Vì sao hôm nay ngươi bị thương tích đầy mình, bay đến chỗ chúng tôi?
Quạ trả lời:
- Bầy quạ oán ghét tôi, không cho sống chung, nên tôi đến đây nương nhờ.
Nghe quạ nói, bầy cú thương xót, nuôi dưỡng nó, thường cho thịt dư. Ngày tháng trôi qua, lông cánh bình phục. Quạ bèn lập kế, đem củi khô và cỏ chứa trong hang cú, như để báo ơn. Cú hỏi quạ:
- Đem củi vào làm gì?
Quạ đáp:
- Ở trong hang toàn là đá lạnh, dùng cây cỏ này để chống gió lạnh.
Cú cho là phải, nên im lặng. Từ đó, quạ cứ tha vào hang, giả dạng báo ơn nuôi dưỡng. Bấy giờ, gặp lúc giá rét, tuyết phủ dày đặc, toàn bộ bầy cú ẩn náu trong hang. Cơ hội đã đến, quạ rất vui mừng, ngậm đốm lửa của kẻ mục đồng về đốt cháy hang. Bầy cú bị chết cháy hết trong hang. Khi ấy, chư thiên nói kệ:
Đã có hiềm khích trước Chớ nên tin tưởng nhau Như qụa dối thân thiện Thiêu chết bầy cú kia
Lục độ tập kinh ghi: “Ngày xưa, lúc bồ-tát làm vua loài không tước, có năm trăm chim vợ, nhưng đều bỏ hết mà lấy thanh tước làm vợ. Thanh tước chỉ uống nước ngọt, ăn quả ngon. Vì thương vợ, hàng ngày khổng tước đi kiếm đem về.
Bấy giờ, hoàng hậu nước ấy bị bệnh, nằm mộng thấy thịt khổng tước có thể trị bệnh. Tỉnh dậy, hoàng hậu tâu vua. Vua sai thợ săn tìm bắt. Hoàng hậu nói:
- Ai bắt được khổng tước, ta sẽ gả con gái út và thưởng cho một nghìn cân vàng.
Các thợ săn trong nước chia nhau đi tìm, thấy khổng tước cùng thanh tước ở chỗ lấy thức ăn, họ liền dùng mật trộn với gạo rang, bôi khắp thân cây. Khổng tước bèn lấy đem về cho vợ. Hôm sau, thợ săn lại bôi lên người, rồi ngồi đợi. Khổng tước đến lấy, thì liền bị bắt. Khổng tước nói với thợ săn:
- Ông chịu khó nhọc, ắt vì lợi lộc. Tôi chỉ cho ông núi vàng là kho báu vô tận. Xin ông tha mạng cho tôi!
Thợ săn trả lời:
- Bắt được ngươi, nhà vua sẽ ban cho ta một nghìn cân vàng và gả con gái út, sao tin lời của ngươi được. Ta phải dâng ngươi cho vua thôi!
Trước mặt vua, khổng tước nói:
- Đại vương có lòng từ thấm nhuần tất cả, mong hãy nghe lời kẻ hèn này. Cho xin chút nước, tôi sẽ dùng lòng từ chú nguyện rồi cho hoàng hậu uống, thì bệnh sẽ khỏi. Nếu không hiệu nghiệm, chịu tội cũng chưa muộn.
Vua thuận theo. Hoàng hậu uống vào, bệnh tật đều lành, dung nhan diễm lệ, các cung nữ cũng như thế. Cả nước khen vua có lòng từ rộng lớn, không giết khổng tước để giữ mạng sống cho mọi người. Khổng tước nói:
- Xin được ngâm mình vào hồ lớn và chú nguyện vào nước ấy để kháp cả muôn dân, ai có bệnh đều được trị lành. Nếu sợ dối gạt, thì hãy lấy gậy đánh vào chân tôi.
Vua nói: Được!
Khổng tước chú nguyện rồi, người dân uống nước đều được khỏe mạnh, điếc thì nghe được, kẻ mù nhìn thấy, câm thì nói được, chân què được bình phục, các bệnh đều hết. Hoàng hậu lành bệnh, người dân trong nước cũng hết bệnh. Bấy giờ, vua không có ý hại khổng tước. Biết rõ điều đó, khổng tước đến trình bày:
- Nhờ ơn vua tha mạng, tôi cứu sống mọi người cả nước; báo đáp xong, xin được lui về.
Vua nói:
Được.
Khổng tước liền vỗ cánh bay thẳng lên cây, lại nói với vua:
- Trong thiên hạ có ba người ngu.
Vua hỏi:
- Là những người nào?
Khổng tước nói:
- Một là tôi, hai là thợ săn, ba là vua.
Vua nói:
- Ngươi hãy giải thích.
Khổng tước nói:
- Trong các giới trọng của chư Phật thì sẳc dục là lửa dữ; thiêu thân mất mạng đều là do tham sắc. Tôi bỏ năm trăm chim vợ ngày đêm hầu hạ, chỉ thích thanh tước; vì tìm thức ăn cung cấp cho nó như kẻ đầy tớ, nên bị sa lưới, nguy hại đến thân mạng. Đó là tôi ngu.
Thợ săn ngu, bởi tôi thành thật muốn đổi mạng bằng cả núi vàng, mà kẻ kia lại bỏ của báu vô tận, tin lời hư dối của phu nhân, mong cưới công chúa làm vợ. Xét người đời cuồng ngu đều giống như vậy. Bỏ lời răn chân thành của Phật, mà tin lời dối trá của quỷ mị, vui trong rượu chè dâm loạn, hoặc chịu họa tan nhà nát cửa, hoặc chết đọa vào Thái sơn, chịu khổ vô cùng,. Như vậy mà đời sau muốn trở lại làm người, thì cũng giống như chim không cánh, muốn bay lên trời, há chẳng khó lắm sao? Phụ nữ mê hoặc ví như yêu mị, khiến cho mất nước hại thân, mà người ngu lại xem trọng; muôn lời không có một lời thành thật, mà thợ săn lai tin theo. Còn nhà vua được thuốc trời, chữa lành bệnh cho muôn dân, các độc đều hết, dung nhan như hoa, lớn nhỏ đều vui mừng, mà vua lại thả đi. Đây gọi là vua ngu.
Đức Phật bảo Xá-lợi-phất:
- Từ đó về sau, khổng tước vương đi khắp nơi, dùng thuốc thần và với lòng từ bố thí, chữa lành bệnh cho chúng sinh. Khổng tước vương thuở ấy chính là Ta, quốc vương là Xá-lợi-phất, thợ săn là Điều-đạt, hoàng hậu là vợ Điều-đạt.
Bồ-tát có lòng từ và trí tuệ ba-la-mật đã thực hành bố thí như vậy”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Đức Phật dạy:
- Vào thời quá khứ, trong một ao sen kia có rất nhiều loài chim nước cư ngụ. Trong đó, cũng có một con sếu, nó bước đi rất thong thả nhẹ nhàng, dáng vẻ thanh thoát. Các chim khác đều nói: ‘Chim này đi đứng rất nhẹ nhàng, không quấy nhiễu loài thủy tộc’. Khi ấy, ngỗng trắng nói kệ:
Cất bước đi thong thả
Tiếng hót thật dịu êm
Lừa dối cả thế gian
Ai chẳng biết xảo trá.
Chim sếu đáp:
- Sao bạn nói vậy? Chúng ta kết thân với nhau đi!
Ngỗng trắng trả lời:
- Tôi biết anh dối trá, quyết không kết thân.
Đức Phật bảo:
- Tì-kheo nên biết, ngỗng trắng bấy giờ chính là Ta. Chim sếu thuở ấy nay là Đề-bà-đạt-đa”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Đức Phật dạy:
- Vào thời quá khứ, bên dãy Tuyết sơn có một gà rừng chúa sinh sống. Toàn thân nó màu trắng, mồng đỏ rực, đàn gà tùy tùng rất đông. Một hôm gà chúa nói với cả đàn:
- Các ngươi nên xa lánh thành ấp, xóm làng, chớ để dân chúng bát ăn thịt. Chúng ta bị nhiều kẻ oán ghét, phải cần thận tự bảo vệ.
Khi ấy, trong xóm có một con mèo biết bên núi kia có gà. Nó liền đến đó, đi chậm rãi quanh gốc cây, mắt nhìn xuống đất, nói với gà chúa:
- Tôi là vợ anh, anh là chồng tôi. Thân anh đoan chính đáng yêu, đầu có mồng đỏ, thân thể toàn trắng. Tôi đến đây hầu hạ và cùng anh an hưởng vui thú.
Gà chúa liền nói kệ:
Mèo kia mắt vàng, loài ngu si
Gặp gì cũng thịt, chẳng chừa chi
Chưa thấy cô vợ nào như thế
Mà chồng sống thọ chẳng hiểm nguy.
Gà chúa bấy giờ chính là Ta, con mèo thuở ấy là Đề-bà-đạt-đa. Ngày xưa, Đề-bà-đạt-đa đã từng dụ gạt Ta, nay cũng lại như thế để chia rẽ đồ chúng của Ta”.
Có bài tụng:
Lòng gian, giả ngu si
Khiến người tin, không nghi
Giả hiện làm thân thiện
Dối đến nương tựa nhau.
Ngoài thân, trong ngầm hại Sớm tối đoạt lẫn nhau Nếu ở chung lâu ngày Mới biết rõ mối nguy.
61. CHƯƠNG LƯỜI BIẾNG KIÊU MẠN
61.1. LỜI DẪN
Hành giả sở dĩ không đạt đạo là do tâm trí ngu muội. Tâm trí ngu muội là do ngoại duyên quấy nhiễu. Ngoại duyên thì rất nhiều, nhưng tổng gom thành ba: danh lợi lôi cuốn, sắc đẹp quyến rũ và ham đắm vị ngon.
Danh lợi gặp phải hàng ngày, sẽ có họa dài lâu cho tâm. Sắc đẹp yêu kiều vừa chạm đên thì lòng đã đắm nặng. Vị ngon càng đậm thì ràng buộc càng chặt. Tất cả những việc khác đều là cành lá của ba điều này thôi.
Bậc thánh biết rõ, nếu không đoạn trừ ba điều này thì không thể chứng đắc đạo quả. Như đặc tính của nước, khi hội tụ thì sức rất mạnh, khi phân tán thì thế yếu kém. Đặc tính của lừa cũng như vậy. Nên luận nói: “Chất càng nhẹ thì thế càng mạnh, chất càng nặng thì thế càng yếu”. Từ đó suy xét, thật nhờ sự chuyên cần mà ngộ đạo. Người lười biếng, kiêu mạn do tham đắm thanh sắc sẽ làm chướng ngại quả Thánh. Vì vậy, Thế Tôn gióng trống pháp ở vườn Nai, Khổng Tử truyền lẽ đạo nơi nước Lỗ, có tai mắt còn chằng thể thấy nghe, thì tâm thức đâu thể khế ngộ.
61.2. DẪN CHỨNG
Luận Tát-bà-đa ghi: “Về việc đắc giới, nếu nói theo năm đường, chỉ có loài người mới đắc giới, còn bốn đường kia thì không. Trong đó, cõi trời vì đắm vào lạc thú sâu nặng, nên không thể đắc giới.
Ngày xưa, vì đệ tử bệnh, ngài Mục-kiền-liên lên cung trời Đao-Iợi để hỏi Kì-bà. Gặp lúc chư thiên vào vườn Hoan Hỷ, ngài Mục-kiền-liên đứng đợi bên đường, tất cả chư thiên đều không nhìn, chỉ có Kỳ-bà đi sau, trông thấy ngài Mục-kiền-liên, liền đưa một tay chào, rồi cưỡi xe đi qua.
Thấy vậy, Mục-kiền-liên suy nghĩ: ‘Người này khi ở nhân gian là đệ tử của ta, nay hưởng phúc trời, vì đắm trước lạc thú cõi trời, nên đã đánh mất lòng xưa’. Ngài liền dùng thần lực chận xe dừng lại. Kì-bà xuống xe, đỉnh lễ Mục-kiền-liên. Mục-kiền-liên quở trách đủ điều. Kì-bà thưa:
- Khi ở nhân gian, con là đệ tử của ngài, nên mới đưa tay chào, chứ các thiên tử khác đâu có làm như thế!
Bấy giờ, Mục-kiền-liên mới đến khuyên Thích-đề-hoàn-nhân.
- Phật ra đời rất khó gặp, sao không thường đến hầu cận, lãnh thụ chính pháp?
Đế Thích muốn Mục-kiền-liên tận mắt hiểu rõ, nên sai sứ bảo một thiên tử đến. Gọi ba lần, thiên tử vẫn không đến, sau bất đắc dĩ mới đến. Đế Thích thưa với Mục-kiền-liên:
- Thiên tử này chỉ có một thiên nữ và một loại nhạc để vui chơi, nhưng vì tâm dục nhiễm sâu nặng, tuy nhận mệnh lệnh, cũng không dứt bỏ được, cho nên không chịu đến. Huống gì là thiên vương có rất nhiều cung điện, vô số thiên nữ, cần ăn thì tự nhiên trăm vị hiện đến, lại có trăm nghìn âm nhạc để vui chơi, nên nhìn đông thì quên tây. Tuy biết Đức Phật ra đời rất khó gặp, chính pháp khó được nghe, nhưng vì lạc thú trói buộc, nên không được tự do. Như vậy thì biết làm sao?
Còn đường ác thì quá thống khổ, nên không có nhân duyên đắc giới. Còn trong cõi người, chỉ có ba châu đắc giới, riêng Bắc uất-đơn-việt không có Phật pháp, không đắc giới; vì người cõi này ngu si và phúc báo ngăn che, nên không thụ trì chính pháp”.
Luật Thiện kiến ghi: “Lục quần tì-kheo ngồi chỗ thấp, thuyết pháp cho những người ngồi chỗ cao nghe, là xem thường pháp.
Đức Phật quở trách họ và dạy các tì-kheo:
Thuở xưa, tại nước Ba-la-nại, vợ của cư sĩ Xa-ba-gia mang thai muốn ăn xoài, nên nói với chồng:
- Thiếp muốn ăn xoài, chàng có thể tìm cho thiếp được không?
Người chồng trả lời:
- Lúc này không phải mùa xoài, ta làm sao tìm được?
Người vợ nói:
- Nếu chàng không tìm được, chắc thiếp sẽ chết.
Nghe vợ nói vậy, người chồng suy nghĩ: ‘Chỉ trong vườn của vua mới có xoài trái mùa, ta sẽ đến hái trộm’. Nghĩ xong, đợi đêm đến, người chồng lẻn vào vườn nhà vua hái trộm. Chưa hái được quả nào thì trời đã sáng, không thể ra khỏi vườn, nên anh ta trốn trên cây.
Bấy giờ, vua cùng bà-la-môn vào vườn, vua muốn ăn xoài. Bà-la-môn ngồi dưới thấp, thuyết pháp cho vua ngồi trên tòa cao. Đang núp trên cây, người trộm quả suy nghĩ: ‘Việc ta trộm quả đáng bị chết, nhưng do việc vua nghe bà-la-môn thuyết pháp, nên nay ta được thoát tội. Ta đã không đúng pháp, vua cũng không đúng pháp, bà-la-môn cũng không đúng pháp. Vì sao? Ta vì vợ mà trộm xoài của vua, vua vì kiêu mạn nên để thầy ngồi chỗ thấp mà mình ngồi tòa cao nghe pháp, bà-la-môn vì tham lợi dưỡng nên tự ngồi chỗ thấp, thuyết pháp cho vua. Nay cả ba người đều không đúng pháp, nên ta được thoát’. Suy nghĩ xong, anh ta leo xuống, đến trước vua và nói kệ:
Hai người không biết pháp
Hai người không trọng pháp
Người dạy không y pháp
Người nghe không hiểu pháp
Chỉ vì sự uống ăn
Tôi nói không đúng pháp,
Cũng chỉ vì danh lợi
Phá hủy phép tắc riêng.
Nghe bài kệ này, vua tha tội cho người trộm quả.
Đức Phật bảo:
- Khi là phàm phu, Ta còn biết đó là việc không đúng pháp, huống nữa nay đã thành Phật. Các ông là đệ tử hãy thuyết pháp cho người ngồi chỗ thấp. Người trộm quả thuở ấy là tiền thân của Ta”.
Luận Đại trí độ ghi: “Vào thời Phật Ca-diếp, có hai anh em cùng xuất gia học đạo. Một người chuyên trì giới, tụng kinh, tọa thiền, còn người kia chuyên khuyến hóa đàn việt, tạo phúc thiện.
Đến khi Phật Thích-ca ra đời, một người sinh trong nhà trưởng giả, một người làm voi trắng to lớn, sức mạnh có thể đánh tan quân giặc. Con của trưởng giả xuất gia học đạo, được sáu thần thông, chứng quả A-la-hán, nhưng do kém phúc nên khất thực khó được. Một hôm, vị này ôm bát, vào thành khất thực, đi khắp nơi mà không được; khi ngang qua chỗ voi trắng, thấy nhà vua cho nó ăn đủ món ngon, nên nói với voi:
- Ta và ngươi đều có tội.
Voi trắng cảm nhận được, ba ngày liền không ăn. Người giữ voi lo sợ, tìm gặp vị tăng và hỏi:
- Ngài có thuật gì khiến cho voi trắng của vua bị bệnh, bỏ cả ăn uống?
Vị tăng đáp:
- Con voi này đời trước là em tôi, cùng xuất gia học đạo vào thời Phật Ca-diếp. Lúc đó, tôi chỉ trì giới, tụng kinh, tọa thiền, không thực hành bố thí; còn sư đệ chỉ khuyến hóa đàn việt và bố thí, không giữ giới, không tu học. Vì thế, nên nay sư đệ làm thân voi, nhưng nhờ phúc bố thí, nên ăn uống sung túc, đủ các món ngon. Còn tôi thuở ấy chỉ lo tu học, không chịu bố thí, nên nay tuy chứng quả, nhưng khất thực khó được. Vì nhân duyên sai khác, nên tôi tuy gặp Phật ra đời mà vẫn bị đói khát”.
Kinh Bách dụ ghi: “Thuở xưa, tại một nước nọ, vào ngày lễ hội, tất cả phụ nữ đều dùng hoa sen xanh trang sức. Bấy giờ, trong một nhà nghèo, người vợ nói với chồng:
- Nếu chàng tìm được hoa sen xanh cho em, thì em sẽ tiếp tục là vợ chàng. Nếu không tìm được thì em sẽ bỏ chàng ra đi.
Người chồng vốn có tài giả tiếng uyên ương, nên lẻn vào ao của vua giả tiếng uyên ương để trộm hoa sen xanh. Khi ấy, người giữ ao hỏi:
- Ai đó?
Anh ta giật mình, buộc miệng đáp:
- Tôi là chim uyên ương.
Người giữ ao liền bắt anh ta đưa đến chỗ vua. Giữa đường, anh ta giả tiếng uyên ương. Người giữ ao nói:
- Hồi nãy sao anh không kêu, bây giờ kêu có ích gì?
Người ngu trên thế gian cũng vậy, trọn đời chỉ biết giết hại, tạo các nghiệp ác, không chịu tu tâm cho thuần thiện; khi sắp chết, mới nói: ‘Nay tôi muốn tu thiện’, thì đã bị ngục tốt bắt giao cho vua Diêm-la, dù muốn tu thiện cũng không kịp. Giống như anh chàng ngu kia gần đến chỗ vua mới giả tiếng uyên ương”.
Kinh Bách dụ ghi: -‘Ngày xưa, có trưởng giả rất giàu. Vì muốn được lòng ông, nên những người chung quanh đều cung kính. Mỗi khi trưởng giả khạc đàm, những người hầu tranh nhau lấy chân chà đạp. Bấy giờ, có người hầu chậm chạp, ngu si không tranh kịp, nến nghĩ: ‘Nếu đợi đàm rơi xuống đất, thì người khác đạp hết. Vậy khi ông ấy gần khạc, ta hãy đạp trước’. Thế là đợi lúc trưởng giả sắp khạc đàm, người ngu liền đưa chân đạp vào miệng trưởng giả, làm ông ta bị dập môi, gãy răng. Trưởng giả hỏi:
- Tại sao ngươi đạp miệng ta?
Người ngu trình bày lý do:
- Khi ông vừa muốn khạc, tôi đưa chân đạp trước, mong được lòng ông!
Phàm làm việc gì cũng phải đợi thời cơ. Thời cơ chưa đến mà cố sức gượng ép thì ngược lại sẽ chuốc lấy khổ não. Vì vậy, người đời nên biết đúng lúc và không đúng lúc”.
Có bài tụng:
Biếng học, chẳng hiểu giáo
Người hỏi chẳng biết gì
Nụ hoa không có hạt
Khi nở sao được quả?
Luống khởi tâm kiêu mạn
Khinh người, quả chẳng lành
Đọa vào nơi tối tăm
Giam hãm trong ngục kín
Trải qua trăm nghìn năm
Muôn ức khổ bức bách
Đói khổ chẳng ăn năn
Do kiêu mạn, giải đãi
Thánh nhân khéo nói dụ
Ngu trí phải hiểu luật
Phàm phu khinh thường pháp
Đâu biết hối hôm nay ”
61.3. CẢM ỨNG
61.3.1. Đời Tấn, Để Thế Thường: Gia đình ông rất giàu có, tin kính Tam bảo. Trong khoảng niên hiệu Thái Khương (280-290), triều-đình nhà Tấn cấm nhân dân làm sa-môn. Ông không sợ, âm thầm lập tinh xá trong dinh để cúng dường sa-môn. Hễ có tăng đến, ông đều tiếp đãi, không hề sợ hãi, ngài Vu Pháp Lan cũng đã từng trú nơi đây. Một hôm có vị tăng dáng vẻ quê mùa, dung mạo xấu xí, y phục rách rưới, chân dính đầy bùn đất đến nhà ông. Ông ra lễ lạy đón tiếp, bảo một nô bộc rửa chân cho vị tăng, vị tăng ấy nói:
- Thế Thường ! Ông hãy rửa cho tôi, sao lại bảo nô bộc?
- Thường tôi bị căn bệnh khó chữa trị, nên bảo nô bộc làm thay!
Vị tăng không chịu. Ông mắng thầm rồi bỏ đi. Tức thời vị tăng hiện thân cao tám thước, dung nghi sáng rực, vọt lên hư không bay đi. Ông vô cùng hối hận, tự trách rồi nhảy vào bùn dơ. Bấy giờ năm sáu mươi người, gồm cả những tăng ni ông tiếp đãi trong nhà và người đi đường, đều thấy rõ ràng một vị tăng bay trong hư không cách xa mấy mươi trượng, trong nhà hương thơm lan tỏa, một tháng mới dứt.
61.3.2. Lời của Trang Tử: “Làm người mà không học thì gọi là cầm thú, học mà không thực hành thì gọi là cái bọc vất đi”.
61.3.3. Nhạc Dương Tử ở Hà Nam: Liệt nữ truyện ghi: “Hà Nam có một người tên là Nhạc Dương Tử, một hôm đi trên đường, ông nhặt được vàng của người làm rơi đem về đưa cho vợ. Người vợ liền nói: ‘Thiếp nghe bậc chí sĩ không uống nước ở Đạo tuyền, người chính trực không nhận thức ăn từ lòng khinh miệt bố thí; huống gì nhặt của rơi cầu lợi để làm nhơ đức hạnh của mình!’; Dương Tử hổ thẹn, ném vàng ra đồng trống rồi tìm thầy học tập”.
61.3.4. Lời của Văn Tử: “Khi học, bậc thượng dùng thần để nghe, bậc trung dùng tâm để nghe, bậc hạ thì dùng tai để nghe”.
61.3.5. Lời của Tôn Khanh Tử: “Không lên núi cao thì không biết độ cao của trời, không nghe đạo của tiên vương thi không biết được chỗ rộng lớn của học vấn. Quân tử một khi học thì vào nơi tai, huân kêt nơi tâm, phân bố ra tứ chi, hiện thành nơi cử chỉ. Tiểu nhân khi học thì vào tai, tuôn ra nơi miệng, chỉ trong khoảng bốn tấc đó thôi. Như vậy, tai đâu thể làm cho cái thân bảy thước này tốt đẹp được!”.
61.3.6. Lời trong luận Diêm thiết: “Bên trong không có chất, mà bên ngoài học văn thì dù có thầy giỏi bạn hiền cũng như vẽ trên dầu, khắc trên băng, chỉ phí thời gian, uổng công sức mà thôi. Cho nên thầy giỏi cũng chẳng thể trang điểm cho Tây Thi, cả đầm hương cũng không giúp ích gì cho Mô Mầu”.
61.3.7. Lời trong Thuyết uyển: “Một hôm Tấn Bình công hỏi Sư Khoáng:
- Năm nay ta đã bảy mươi tuổi, nhưng rất muốn học, e răng quá muộn chăng?
- Muộn sao không thắp đuốc lên? Thần nghe, tuổi nhỏ mà học cũng như ánh mặt trời mới mọc, lúc tráng niên mà học thì như ánh mặt trời giữa trưa, về già mà học cũng như ánh sáng cây đuốc. Có ánh sáng cây đuốc thì đâu còn đi trong tối tăm”.
- Thật hay!
61.3.8. Lời trong Luận hành: “Trong tay không có tiền mà đến chợ mua đồ vật, nhất định chủ sẽ không trao. Phàm trong tâm không có học vấn, cũng như trong tay không có tiền”.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
29/11/2015
PUCL QUYỂN 55 - CHƯƠNG PHÁ TÀ
QUYỂN 55 Quyển này gồm một chương Phá tà. 62. CHƯƠNG PHÁ TÀ 62.1. LỜI DẪN Từng nghe: Tam thừa mở lối, giúp các con thoát nạn nhà lửa; Bát chính dẫn đường, đưa chúng sinh ngộ quả Vô vi. Cho nên, mây từ tuôn mưa, không phâ...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 53 - CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ, NGU ĐỘN
QUYỂN 53 Nội dung quyển này gồm hai chương: Thông minh cơ trí, Ngu độn. 58. CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ 58.1. LỜI DẪN Phàm ba tạng mênh mông, bảy chúng đông nhiều. Nhưng lập giáo hợp cơ thì mọi người sẽ thông đạt. Nếu nghe...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 52 - CHƯƠNG QUYẾN THUỘC, SO SÁNH, HƠN KÉM
QUYỂN 52 Quyển này gồm hai chương: Quyến thuộc, So sánh hơn kém. 56. CHƯƠNG QUYẾN THUỘC 56.1. LỜI DẪN Trộm nghĩ: quyến thuộc luôn hoán chuyển, nào mới cũ đổi thay, nào ở đi khó biết, nào tan họp tạm thời. Bởi do duyên th...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 51 - CHƯƠNG BẠN TỐT, BẠN XẤU, TRỌN BẠN
QUYỂN 51 Quyển này gồm ba chương: Bạn tốt, Bạn xấu, Chọn bạn. 53. CHƯƠNG BẠN TỐT 53.1. LỜI DẪN Luận đến chỗ tột cùng của đạo lý thì chỉ có thiện và ác. Thật cũng dễ nhận biết hai con đường này, như ẩn kín thì có tội phúc...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 50 - CHƯƠNG BÁO ÂN, QUÊN ÂN, TRÁI ÂN
QUYỂN 50 Quyển này gồm hai chương: Báo ân, Quên ân-trái ân. 51. CHƯƠNG BÁO ÂN 51.1. LỜI DẪN Ân Phật thật sâu nặng, phủ mây từ che mát bốn loài; giáo hóa khắp mười phương, xem chúng sinh như con một. Người kém cũng được t...
24/11/2015
PUCL QUYỂN 49 - CHƯƠNG TRUNG HIẾU
QUYỂN 49 Quyển này gồm hai thiên: Trung hiếu, Bất hiếu. 49. CHƯƠNG TRUNG HIẾU 49.1. LỜI DẪN Trộm nghĩ, người có trung hiếu-kính thành thì vượt trên đức hiền của Đổng Ảm; như trái nghịch, khinh mạn tôn thân thì tội còn lớ...
24/11/2015
PUCL QUYỂN 48 - CHƯƠNG KHUYÊN RĂN
QUYỂN 48 Quyển này có một chương Khuyên răn. 48. CHƯƠNG KHUYÊN RĂN 48.1. LỜI DẪN Phàm lập tượng để biểu thị chân hình là phép tắc thường của thế gian; nhờ ngón tay để thấy mặt trăng là phương tiện hằng dùng của đạo xuất...
22/11/2015
PUCL QUYỂN 47 - CHƯƠNG TRỪNG PHẠT LỖI LẦM, HÒA THUẬN
QUYỂN 47 Quyển này gồm hai chương: Trừng phạt lỗi lầm, Hòa thuận. 46. CHƯƠNG TRỪNG PHẠT LỖI LẦM 46.1. LỜI DẪN Hình hài gây nhiều họa, đúng lí phải răn dè; căn thức hôn trầm, theo lẽ luôn cảnh tỉnh. Cho nên kinh Di giáo g...
