PUCL QUYỂN 48 - CHƯƠNG KHUYÊN RĂN
24/11/2015
QUYỂN 48 Quyển này có một chương Khuyên răn. 48. CHƯƠNG KHUYÊN RĂN 48.1. LỜI DẪN Phàm lập tượng để biểu thị chân hình là phép tắc thường của thế gian; nhờ ngón tay để thấy mặt trăng là phương tiện hằng dùng của đạo xuất...

QUYỂN 48
Quyển này có một chương Khuyên răn.
48. CHƯƠNG KHUYÊN RĂN
Phàm lập tượng để biểu thị chân hình là phép tắc thường của thế gian; nhờ ngón tay để thấy mặt trăng là phương tiện hằng dùng của đạo xuất thế. Chỉ vì, tâm vọng tưởng đảo điên mà cứ trôi theo thói cũ, không biết nghĩ suy hối cải nên mãi tùy nghiệp nổi chìm. Vì thế kinh Niết-bàn ghi: “Số người làm điều thiện mạng chung được sinh lên cõi trời, thì ít như đất dính móng tay; lượng người tạo ác sau khi chết rơi vào địa ngục thì nhiều như cát bụi”. Bởi do sáu tên giặc đến cùng lúc, mười sử trói buộc chặt mà đến như thế. Lại thân như nhà xí, như chiếc bình vẽ, như tòa thành sắp đổ, như chén bát nứt vỡ. Cho nên nói nhà mục sắp đổ, ba thứ lửa hằng thiêu, xóm vắng ẩn mình năm người cầm đao luôn rượt đuổi; giếng sông dẫn dụ, bức bách thân trong từng sát-na; trâu dê dẫn đến lò mổ, thúc ép tính mạng trong từng giây phút; như chuột chui vào sừng trâu, đường cùng không lối thoát. Hơn nữa năm trược đan xen, bốn núi ép ngặt mà có thể an tâm chịu đựng, không ưu sầu, phiền muộn sao?
Vì thế Đại thánh chỉ dạy, mục đích của pháp dụ ở chỗ khuyên răn, ước thúc, khiến thân tâm không chạy theo tham dục; xét soi răn nhắc, chỉ mong xem lại lỗi lầm. Khi thấy người gần chết, ánh mắt sắp tắt, thân thuộc tụ tập, đối mặt mà không thể cứu.
Ô hô! Nước mắt đầm đìa, thương xót cho người ấy sẽ trầm luân. Đã thấy khổ như vậy, tại sao không tự răn dè? Lỗi do ta tạo, thì tự cải hối, chứ không thể nhờ người khác; còn có chút thiện nhỏ thì phúc báo sẽ đến thân. Lại nữa, như gặp Phật pháp thì thấy Tam bảo, còn sinh đường ác thì đối mặt mà chẳng hay. Do nỗi bi thống này, thì không có lí do gì để mà buông lung biếng trễ.
48.2. RĂN DẠY NGỰA
Kinh Trung A-hàm ghi: “Bấy giờ có người làm nghề dạy ngựa tên là Chỉ-thi đến chỗ Phật, đỉnh lễ nơi chân Ngài rồi ngồi một bên và thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! Con thấy người đời rất thấp kém, giống như bầy ngựa. Chỉ có con mới điều phục được loài ngựa hung dữ. Con có biện pháp khiến chúng chỉ trong chốc lát biểu hiện tính nết, rồi tùy theo đó mà có cách trị riêng.
Phật hỏi người dạy ngựa:
- Này người chủ tụ lạc! Ngươi có bao nhiêu phương pháp để điều phục ngựa?
Người dạy ngựa đáp:
- Thưa, có ba phương pháp:
1. Dịu dàng vỗ về
2. Cứng rán, đánh phạt
3. Vừa dịu dàng vừa cứng rắn.
Phật nói:
- Ngươi dùng ba phương pháp này, nếu con ngựa không thuần phục được thì phải làm thế nào?
Người dạy ngựa bạch Phật:
- Con nào không thuần phục thì giết, không để nó làm mất uy tín của con.
Người dạy ngựa lại bạch Phật:
- Thế Tôn là bậc điều phục không ai bằng, vậy Ngài dùng mấy cách để điều phục người khác?
Phật bảo:
- Ta cũng dùng ba cách để điều phục người khác:
1. Thuần dịu dàng
2. Thuần cứng rắn
3. Vừa dịu dàng vừa cứng rắn.
Phật bảo chủ tụ lạc:
- Thuần dịu dàng, như ngươi nói, đó là thân làm việc thiện, đó là quả báo của thân làm việc thiện; đó là miệng nói điều thiện, ý khởi điều thiện, đó là quả báo của miệng nói lời thiện, ý khởi điều thiện; đó gọi là trời, là người, là thân hóa sinh cõi thiện, là niêt-bàn; đó gọi là dùng thuần dịu dàng để dạy bảo.
- Thuần cứng rắn, như ngươi nói, tức thân người ấy làm việc ác, thân người đó chịu quả báo ác, miệng người đó nói lời ác và khởi ý ác, là miệng ý chịu quả báo ác. Đó gọi là địa ngục, là súc sinh, là ngạ quỷ, là đường ác, là rơi vào cõi ác. Đó gọi là Như Lai dùng phương pháp cứng rắn để điều phục.
- Vừa dịu dàng vừa cứng rắn, đó là Như Lai có lúc nói thân làm việc thiện; có lúc nói quả báo của thân làm việc thiện; có lúc nói miệng nói điều thiện, ý khởi việc thiện; có lúc nói quả báo của miệng nói điều thiện, ý khởi việc thiện; có lúc nói thân làm việc ác; có lúc nói quả báo của thân làm việc ác; có lúc nói miệng bàn điều ác, ý khởi việc ác; có lúc nói quả báo của miệng nói điều ác, ý khởi việc ác. Như thế gọi là trời, là người, là cõi thiện, là niết-bàn, là địa ngục, là súc sinh, là ngạ quỉ, là đường ác. Đó gọi là vừa dịu dàng vừa cứng rắn.
Người dạy ngựa bạch Phật:
- Thế Tôn! Nếu dùng ba phương pháp này điều phục chúng sinh, mà có người không thuần phục thì làm sao?
Đức Phật bảo chủ tụ lạc:
- Cũng nên giết, vì sao? Vì không để làm mất uy tín của Ta.
Người dạy ngựa bạch:
- Giết hại mạng sống, đối với pháp của đức Thế Tôn là không thanh tịnh, Trong pháp của Ngài cấm giết hại mà sao nay Ngài nói giết? Nghĩa ấy như thế nào?
Phật bảo chủ tụ lạc:
- Trong pháp của Như Lai không cho giết hại, nhưng trong pháp của Như Lai cũng dùng ba cách để dạy. Đối với người không điều phục được thì không nói chuyện, không dạy bảo, cũng không khuyên nhắc. Há chẳng phải đã chết sao?
Người dạy ngựa bạch Phật:
- Dạ đúng thế! Bạch đức Thế Tốn, không nói chuyện, mãi mãi không khuyên răn dạy bảo, đúng là người ấy đã chết. Vì nhân duyên này từ nay con xa lìa các điều ác và các nghiệp bất thiện.
Người dạy ngựa sau khi nghe Phật nói pháp, vui mừng đỉnh lễ lui ra"
Kinh Pháp cú dụ ghi: “Đức Phật hỏi người quản tượng:
- Có mấy cách điều phục voi?
Đáp: Có ba cách: một, dùng móc sắt móc vào miệng rồi buộc dây dẫn; hai, giảm phần ăn khiến voi đói gầy; ba, dùng gậy đánh làm cho nó đau đớn. Do móc sắt móc miệng nên chế ngự được miệng hung dữ, do không cho ăn nên điều phục được thân, do dùng gậy đánh nên điều phục được tâm của voi.
Đức Phật bảo cư sĩ:
- Ta cũng dùng ba cách để điều phục tất cả chúng sinh và tự điều phục mình, đạt đến giải thoát:
Dùng tâm chí thành để điều phục tai họa của miệng.
2. Dùng tâm từ bi, thuần khiết để điều phục thân cang cường.
3. Dùng trí tuệ để diệt trừ mê mờ.
Dùng ba điều này để độ thoát hết thảy chúng sinh ra khỏi ba đường ác”.
48.3. KHUYÊN RĂN TU HỌC
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Trong một bài kệ cũng xuất sinh ba mươi bảy phẩm và các pháp nghĩa.
Ca-diếp hỏi:
- Trong bài kệ nào mà xuất sinh ba mươi bảy phẩm và các pháp?
Tôn giả A-nan liền nói kệ:
Chớ làm các điều ác.
Vâng làm các điều lành
Tự thanh tịnh tâm ý.
Là lời chư Phật dạy.
Chớ làm các điều ác là sự ngăn cấm đầy đủ của giới, là hạnh trong sạch; vâng làm các điều thiện là tâm ý thanh tịnh; tự thanh tịnh tâm ý là trừ tà điên đảo; là lời chư Phật dạy, tức trừ khử ý niệm mê lầm.
Thế nào, bạch Ca-diếp! Giới đã thanh tịnh, ý không thanh tịnh sao? Ý thanh tịnh thì không điên đảo. Vì không điên đảo nên ý niệm mê lầm bị diệt, và thành tựu quả của ba mươi bảy phẩm đạo. Đạo quả đã thành tựu, há chẳng phải là các pháp sao?”.
48.4. RĂN TRỘM CẮP
Lúc Đức Phật ở Kì Thụ cấp Cô Độc Viên, nước Xá-vệ, có tì-kheo du hành trong nhân gian, nghỉ lại trong một khu rừng. Tì-kheo này bị bệnh mắt, thầy thuốc bảo phải ngửi hoa bát-đàm-ma. Tì-kheo kia theo lời thầy thuốc, đến bờ ao hoa bát-đàm-ma, ngồi ngược gió mà ngửi hương. Khi đó có vị thiên thần chủ hồ này nói với tì-kheo:
- Vì sao ngài trộm hoa? Ngài nay là giặc trộm hương!
Tì-kheo liền nói kệ đáp:
Không phá cũng không đoạt,
Chỉ đứng xa ngửi hương.
Tại sao ông lại nói,
Ta là giặc trộm hương?
Thiên thần nói kệ:
Không cầu cũng không xả,
Thế gian gọi là giặc.
Hôm nay người không cho,
Mà ông tự ý ngửi
Thì thế gian gọi là,
Giặc trộm hương thật sự.
Lúc đó có một người nhổ ngó sen vác đi. Tì-kheo thấy bèn nói kệ:
Hiện tại, như người kia,
Cắt lấy phân-đà-lợi,
Nhổ rễ mang hết đi,
Mới là người gian xảọ.
Vì sao ông không ngăn,
Mà nói ta trộm hương?
Thiên thần kia nói kệ đáp:
Người gian xảo cuồng loặn,
Giống như áo vú nuôi;
Đâu đáng gì phải nói,
Nên mới nói cùng ngài.
Ca-sa, không thấy bẩn,
Áo đen, mực chăng dơ,
Người hung ác gian xảọ,
Thế gian không nói tới.
Chân ruồi dơ lụa trắng;
Người trí lỗi dễ hiện.
Như mực dính hạt châu,
Tuy nhỏ, nhưng thấy hết.
Tì-kheo kia lại nói kệ:
Nói hay! Nói hay thay
Dùng nghĩa chỉ,dạy tôi.
Ngài hãy thường vì tôi,
Luôn nói những kệ này.
Thiên thần kia lại nói:
Tôi chẳng do ông mua
Hay người biếu tặng ông
Làm sao luôn theo ông,
Lúc nào cũng nhắc nhở?
Nay ông nên tự biết,
Những việc lợi ích kia!
48.5. RĂN LỖI LẦM
Kinh Diêm-la vương ngũ sứ ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Con người sinh ở đời, không hiếu cha mẹ, chẳng kính sa-môn, không nhân từ, không học kinh tu giới, không sợ đời sau, người ấy sau khi chết sẽ đọa vào địa ngục. Chủ bạ đưa tội nhân đến trước vua Diêm-la và thưa:
. - Chúng sinh này quá ác, không hiếu kính cha mẹ, tạo các tội lỗi, không có phúc đức, không hề sợ chết, mong vua trừng phạt.
Vua Diêm-la trước tiên lần lượt hiện thành năm sứ giả, từ tốn dùng lời chân thật hỏi:
- Thứ nhất, người đời lúc mới sinh nằm tiểu tiện trên giường, không thể tự giữ sạch sẽ, miệng không biết nói, không biết xấu tốt. Ngươi có thấy thế không?
Tội nhân đáp:
- Thưa, có thấy.
Vua nói:
- Ngươi cho rằng mình không như thế sao? Nhưng thần thức con người theo thân ấy, hễ có chết thì có sinh. Tuy còn chưa biết, nhưng phải thường làm thiện để trau dồi ba nghiệp, vì sao buông tâm phóng ý tạo các tội lỗi?
Tội nhân đáp:
- Vì ngu muội không biết.
Vua nói:
- Ngươi ngu si, buông lòng làm ác, lỗi đó chẳng phải của cha mẹ, vua, thầy, trời, sa-môn, người xuất gia. Tội do ngươi tạo, đâu thể không nhận, nên nay phải chịu quả báo. Đó là Diêm vương đưa ra thiên sứ thứ nhất để răn dạy tội nhân.
Thứ hai, Diêm-la lại hỏi:
- Lúc ngươi làm người, thiên sứ lại đến, ngươi có biết không?
Tội nhân đáp:
- Thưa, không biết.
Vua nói:
- Người đời khi già tóc bạc, răng rụng, ốm yếu, lưng còng, đứng phải nhờ gậy không thể tự lực. Ngươi có thấy chăng?
Tội nhân đáp:
- Thưa có thấy.
Vua nói:
- Ngươi cho rằng chỉ một mình ngươi có thể không già ư? Phàm con người sinh ra thì phải có già chết, vì thế thường phải làm thiện để giúp ba nghiệp chân chính, phụng trì kinh luật, cớ sao ngươi tự buông lung làm ác?
Tội nhân đáp:
- Con vì ngu si nên dẫn đến như thế.
Vua nói:
- Ngươi ngu si mà làm ác, chứ chẳng phải lỗi của cha mẹ, vua, trời, sa-môn, người xuất gia... Tội do ngươi tạo, đâu thể không nhận, nên nay phải chịu quả báo. Đó là vua Diêm-la đưa ra thiên sứ thứ hai để răn dạy tội nhân.
Thứ ba, vua Diêm-la lại nói:
- Lúc làm người, ngươi há không thấy nam, nữ ở thế gian thân thể bệnh tật đau khổ, đứng ngồi không yên, cái chết đến gần, sinh ra buồn phiền, thầy thuốc chữa trị vẫn không thể khỏi sao?
Đáp:
- Thưa, có thấy.
Vua nói:
- Ngươi liệu có thể không bệnh tật chăng? Con người đã có già thì đều phải có bệnh. Thấy thân khỏe mạnh thì phải làm thiện để giúp ba nghiệp chân chính, phụng trì kinh luật. Cớ sao lại buông lòng làm ác?
Tội nhân đáp:
- Vì ngu muội nên dẫn đến như vậy.
Vua nói:
- Ngươi do ngu muội mà làm ác, lỗi này chẳng liên quan đến cha mẹ, vua, trời, sa-môn, người xuất gia. Tội tự đo ngươi, há có thể không nhận sao? Nên nay phải chịu quả báo. Đó là vua Diêm-la đưa ra thiên sứ thứ ba để răn dạy tội nhân.
Thứ tư, vua Diêm-la lại hỏi:
- Lúc làm người, ngươi há không thấy người chết, thi thể bị chôn hay bỏ nơi vắng để tự hoại, đến bảy ngày thì da thịt tan rã, chồn, cáo, trăm chim đến ăn ư? Con người hễ đã chết thì thân nhơ thối rữa, ngươi há không thấy ư?
Tội nhân đáp:
- Thưa có thấy.
Vua nói:
- Ngươi cho rằng riêng ngươi có thể thoát khỏi cái chết chăng? Con người hễ có sinh thì phải có chết, biết mình còn ở đời thì nên làm việc thiện, giữ gìn ba nghiệp, thụ trì kinh giới. Cớ sao lại buông lung làm ác?
Tội nhân đáp:
- Vì ngu muội nên dẫn đến như thế.
Vua nói:
- Ngươi tự làm ác, đó chẳng phải là lỗi của cha mẹ, vua, trời, sà-môn, người xuất gia... Tội tự do ngươi, há có thể không chấp nhận sao? Nên nay phải chịu quả báo. Đó là vua Diêm-la đưa ra thiên sứ thứ tư để răn dạy tội nhân.
Thứ năm, vua Diêm-la lại hỏi
- Lúc làm người, ngươi há không thấy những kẻ xấu, người ác bị binh lính đuổi bắt dẫn chỗ quan, rồi bị trừng phạt, hoặc là chặt tay chân; hoặc xẻo tai mũi; hoặc thiêu thân hình; hoặc treo đầu lên cao cho ánh mặt trời thiêu đốt; hoặc phanh tứ chi... rất nhiều hình phạt đau đớn khổ sở sao?
Tội nhân đáp:
- Thưa có thấy.
Vua nói:
- Ngươi cho rằng riêng ngươi làm ác có thể thoát được sao? Mắt thấy ở đời tội phục rõ ràng, sao chẳng làm thiện, giữ gìn ba nghiệp, vâng theo kinh luật. Vì sao thích làm điều ác?
Tội nhân đáp:
- Vì ngu muội nên dẫn đến như thế.
Vua nói:
- Ngươi cố ý làm những viêc không chân chính. Đó chẳng phải là lỗi của cha mẹ, vua, trời, sa-môn, người xuất gia... Nay tội chướng này phải tự lãnh nhận. Đó là vua Diêm-la đưa ra thiên sứ thứ năm để răn dạy tội nhân.
Phật nói kinh xong các đệ tử đến trước Phật cúi đầu đỉnh lễ, vui vẻ vâng làm”.
48.6. RĂN NHỮNG VIỆC KHÁC
48.6.1. Răn lòng tin
Kinh Đại Pháp cú ghi:
Ai có hạnh dốc tín
Thì được thánh ngợi khen
bị trừng phạt, hoặc là chặt tay chân; hoặc xẻo tai mũi; hoặc thiêu thân hình; hoặc treo đầu lên cao cho ánh mặt trời thiêu đốt; hoặc phanh tứ chi... rất nhiều hình phạt đau đớn khổ sở sao?
Tội nhân đáp:
- Thưa có thấy.
Vua nói:
- Ngươi cho rằng riêng ngươi làm ác có thể thoát được sao? Mắt thấy ở đời tội phục rõ ràng, sao chẳng làm thiện, giữ gìn ba nghiệp, vâng theo kinh luật. Vì sao thích làm điều ác?
Tội nhân đáp:
- Vì ngu muội nên dẫn đến như thế.
Vua nói:
- Ngươi cố ý làm những viêc không chân chính. Đó chẳng phải là lỗi của cha mẹ, vua, trời, sa-môn, người xuất gia... Nay tội chướng này phải tự lãnh nhận. Đó là vua Diêm-la đưa ra thiên sứ thứ năm để răn dạy tội nhân.
Phật nói kinh xong các đệ tử đến trước Phật cúi đầu đỉnh lễ, vui vẻ vâng làm”.
48.6. RĂN NHỮNG VIỆC KHÁC
48.6.1. Răn lòng tin
Kinh Đại Pháp cú ghi:
Ai có hạnh dốc tín
Người thích hạnh vô vi
Thì được thánh ngợi khen
Thì dứt mọi trói buộc.
So với lợi thế gian
Tuệ tín thật sáng tỏ'
Tài sản này quí nhất
Gia sản thì vô thường.
Muốn thấy pháp chân thật
Phải thích nghe giảng pháp
Đoạn dứt lòng ganh tị
Đây mới gọi là tín.
Không tín chẳng thể tu
Chỉ thích bác lời ngay
Như vụng về múc nước
Làm dòng suối nổi bùn.
Bậc hiền có trí tuệ
Mong được nguồn nước trong
Như người khéo lấy nước
Không quậy cho đục dòng.
Tin, là chiếc xe lớn
Chuyên chở thật vô cùng
Như điều phục voi lớn
Điều phục mình quí hơn.
Tín, giớỉ là tài bảo
Tàm, quý là trân châu
Niệm, bố thí cũng vậy
Thêm tuệ là bảy món.
Người trí biết chắc thật
Bất luận gái hay trai
Sinh ra có thất tài
Không một ai nghèo khó.
48.6.2. Răn sự chết
Kinh Đại Pháp cú ghi:
Các hành đều vô thường
Toàn là pháp sinh diệt
Hễ sống thì phải chết
Tịch diệt mới an vui.
Như dòng sông chảy xiết
Nước cứ mãi trôi xa
Cũng vậy, thân mạng ta
Ra đi nào quay lại.
Thân xác ta ngày đêm
Tự hủy hoại dần dà
Tuổi thọ cũng rời xa
Như nước ao dần cạn.
Thường hằng rồi cũng đổi
Cao mấy cũng rơi thôi
Có hợp ắt có tan
Có sống thì có chết.
Muôn loài chém giết nhau
Khiến tan thân mất mạng
Hạnh phúc hay khổ đau
Đều tùy vào nghiệp cảm.
Dù sống thọ trăm tuổi
Rồi cũng phải chết thôi
Bị già nua vây bức
Bệnh hoạn đến mấy hồi.
Mỗi một ngày qua mau
Mạng ta cũng rút ngắn
Như bầy cá thiếu nước
Có gì an vui đâu.
Già đến sắc lực suy
Bệnh triền miên vây khốn
Sức tàn, thân tiều tụy
Chết là lẽ tự nhiên.
Thân này có ích gì
Thường tuôn chất hôi thối
Bệnh khổ luôn vây bức
Họa già, chết mà thôi.
Chẳng con cái cậy nhờ
Chẳng cha, anh chở che
Một khi thần chết ghé
Chẳng ai để nương nhờ.
Ngày đêm lười, kiêu mạn
Già chẳng chừa tính dâm
Có tiền, chẳng phát tâm
Chẳng theo lời Phật dạy
Ai đủ bốn thói ấy
Là tự khinh đời mình.
48.6.3. Răn sát sinh
Kinh Đại Pháp cú ghi:
Nhân từ không hại vật
Luôn nhiếp phục bản thân
Đó là pháp bất diệt
Đến đâu cũng an nhiên.
Nhân từ không hại vật
Cẩn thận tâm và lời
Đây là pháp bất diệt
Đến đâu cũng an nhiên.
Người loạn, ta chính niệm
Hằng giữ lòng nhân từ
Biết dằn cơn giận dữ
Đó là hạnh tịnh thanh.
Chí thành và thong dong
Đừng buông lời cộc cằn
Với người đừng nổi nóng
Đó là hạnh thanh cao.
An nhàn đừng tạo tác
Chẳng sát hại mọi loài
Thân tâm không nhiễu loạn
Đó là hạnh tịnh thanh.
Thường giữ lòng từ ái
Sống đúng lời Phật khuyên
Biết đủ, biết dừng lại
Sẽ thoát dòng tử sinh.
Yêu kính hết bạn hiền
Xót thương mọi chúng sinh
Lòng từ luồn thể hiện
Đến đâu cũng an nhiên.
Ngày đêm luôn nhân từ
Lòng không nghĩ đấu tranh
Chẳng hại mọi chúng sinh
Oan gia làm gì có!
Nước, lửa chẳng làm hại
Hiện tại được lợi ích
Chết sinh về Phạm thiên
Hưởng vui thú tự nhiên.
Nhân giúp không loạn chí
Từ ý luôn dẫn đầu
Thương muôn loài như nhau
Phúc ấy không kể xiết.
48.6.4. Răn tâm ý
Kinh Đại Pháp cú ghi:
Dùng lời ác, nhục mạ
Hống hách khinh người
Ai khởi hạnh ác này
Liến chuốc lấy oan gia.
Lời từ tốn ôn hòa
Luôn kính trọng kẻ khác
Bỏ kết, nhẫn điều ác
Oán ghét chóng tiêu tan.
Con người sống ở đời
Trong miệng chứa gươm đao
Lời ác mắng chửi nhau
Đao kia liền chém nát.
Tranh giành chút lợi nhỏ
Như đánh mất gia tài
Từ đó sinh chống trái
Khiến ý hướng nẻo tà.
Tâm là góc các pháp
Dần đầu và sai khiến
Với tâm niệm bất thiện
Khổ báo sẽ theo liền.
Tâm là gốc các pháp
Dẫn đầu và sai khiến
Với tâm niệm thuần thiện
Phúc lạc sẽ theo sau.
Hành động với ý loạn
Ngu si đọa vô minh
Tự đại, vô phép tắc
Đâu hiểu lời tốt đẹp.
Hành động với ý định
Khai ngộ trí lại minh
Chẳng bị người ganh ghét
Thông đạt lời tốt lành.
Oán thù với kẻ oán
Oán đối mãi chất chồng
Ai diệt tâm oán hận
Hạnh này thật đáng tôn.
Đừng ưa trách ngươi khác
Cốt luôn cảnh tỉnh mình
Hạnh này ai thông đạt
Trọn đời không khổ lo.
48.6.5. Răn tà kiến
Kinh Đại Pháp cú ghi :
Ai cho thật là giả
Lại lấy giả làm chân
Đó là kẻ tà kiến
Chằng được lợi chân thật.
Biết thật đúng là thật
Gặp giả biết giả ngay
Ai thấy biết thư vậy
Được lợi ích chân thật.
Như nhà lợp không kín,
Nước mưa thấm dột vào
Tâm không nghĩ điều thiện
Tà pháp vào mọi chỗ
Như mái nhà lợp kín
Nước mưa chẳng rỉ vào
Nhiếp ý chính tư duy
Nước tà vào chẳng được.
Kẻ ngu nhiễm ô người
Như gần vật hôi hám
Dần dần quên điều trái
Tạo nghiệp mà chẳng hay.
Bậc trí huân ướp người
Như đứng gần hương xông
Siêng làm lành, phát trí
Hạnh vừa thơm lại trong.
Thường hưng khởi chính niệm
Thanh tịnh, ác diệt nhanh
Tự chế, sống đúng pháp
Tiếng tốt ngày càng tăng.
Thường tư duy chính đạo
Luôn giữ vững chính hạnh
Tinh tiến vượt cõi trần
An lành không gì sánh.
Khắc kỉ để điều tâm
Hành động, không phóng dật
Siêng tu thí, giới, nhẫn
Định tuệ mãi viên minh.
Sống không có não phiền
Chết cũng chẳng khổ đau
Phúc họa hai lối khác
Lên xuống chia đôi đường.
48.6.6. Răn người ngu
Kinh Đại Pháp cú ghi:
Người ngu sinh tự buộc
Chẳng hiểu biết chính pháp
Kẻ vô trí như thế
Như sống nhà tối tăm.
Gặp việc lòng mịt mờ
Lạnh nóng không phân biệt,
Dù tu tập đã lâu
Chẳng thấu hiểu chính pháp.
Tuy có hành bố thí
Nhưng chuốc họa vào thân
Lòng vui thích làm ác
Tội nặng lại đến mình.
Điều Kẻ ngu mơ tưởng
Không cho là khổ sầu
Đến lúc đọa ngục sâu
Mới tỏ tường ác nghiệp.
Kẻ ngu gây nghiệp chướng
Đâu tự biết tỏ tường
Khi tai ương đuổi đến
Tội thành, khổ đốt thiêu.
Kẻ ngu thích ngủ nghỉ
Trong lòng mãi sầu bi
Mịt mờ trong nhà tối
Như tằm trong kén kia.
Người ngu thích tạo ác
Đến chết chưa muốn thoát
Dù có lời khuyến thiện
Lại cho là oán thù.
Khi tội báo chưa chín
Kẻ ngu vội vui mừng
Khi báo đã đến thân
Liền chịu khổ não lớn.
Người ngu thích tài sắc
Đêm ngày chẳng chán nhàm
Như hang núi cháy khô
Nước tuôn mãi chẳng tràn.
Người ngu tạo lỗi lầm
Luôn ôm lòng sân hận
Dù gậy dao đánh chém
Cũng chẳng thể nào chừa.
48.6.7. Rán kẻ ác
Kinh Đại Pháp cú ghi:
Phân biệt rõ thiện ác
Mới khiếp sợ tránh xa
Biết sợ không phạm tà
Trọn đời luôn an lạc.
Những phúc thiện trên đời
Hãy nghĩ suy làm mãi
Phúc lộc càng tăng trưởng
Khiến sở nguyện trọn thành.
Khởi lòng tin làm phúc
Tích chứa chẳng nghỉ ngơi
Tin biết âm đức ấy
Lâu ngày sẽ rạng ngời.
Vui pháp thường an ổn
Tâm vui ý lắng trong
Thánh nhân nói pháp mầu
Người trí thích tu tập.
Bậc hiền nhân, trí giả
Giữ trai giới, hành đạo
Như trăng giữa ngàn sao
Sáng soi cả thiên hạ.
Thợ cung chuyên uốn cung
Lái thuyền điều khiển thuyền
Thợ mộc chuyên đục đẽo
Bậc trí tự điều tâm.
Thí như tảng đá nặng
Gió chẳng làm lay chuyển
Bậc trí tâm an định
Chê khen chẳng động dao.
Như hồ nước thẳm sâu
Lắng trong và tinh khiết
Người trí nghe đạo pháp
Tâm thanh tịnh an nhiên.
Dứt trừ pháp năm ấm
Trí tuệ thường tư duy
Tự cứu độ chính mình
Tâm trong, lí hiển lộ.
Chặn đứng mọi dục tình
Tâm ý thích vô vi
Xem đọc, nhận chính giáo
Mong pháp được thường tồn.
48.6.8. Răn tâm trói buộc
Kinh Đại Pháp cú ghi:
Rũ bỏ mọi âu lo
Diệt trừ tất cả khổ
Giải thoát mọi buộc ràng
Hết phiền tâm lạc an.
Tâm thanh tịnh chính niệm
Chẳng tham đắm trần lao
Vượt hố sầu nguy hiểm
Như chim nhạn bỏ ao.
Lượng sức mà uống ăn
Chẳng cần phải cất chứa
Tâm không, chẳng nghĩ suy
Gần xa không ngăn ngại.
Lượng thân mà đắp mặc
Không nên mong dư thừa
Bớt việc, sống vô vi
Sẽ không bị trói buộc.
Chế tâm theo chính đạo
Như điều phục ngựa hoang
Lìa cống cao kiêu mạn
Được chư thiên kính trọng.
Như đất không giận dữ
Như núi chẳng đổi dời
Bậc Chân nhân vô nhiễm
Biển sống chết đã vơi.
Tâm đã không tạo tác
Thân miệng cũng đã dừng
Từ đây chính giải thoát
An lạc vào niết-bàn.
Lìa ác, không chấp trước
Phá tan tầm ba cõi
Sắc tâm cũng đã bặt
Đó là bậc thượng trí.
Đồng hoang hoặc làng mạc
Nơi nhiễm tâm chẳng nhiễm
A-la-hán ngợi ca
Mọi người đều nương nhờ.
Người đời không thích sống
Chốn vắng vẻ núi rừng
Vui thay, bậc Thượng sĩ
Được trời người kính tuân.
48.6.9. Răn việc tụng đọc
Kinh Đại Pháp cú ghi:
Dù tụng muôn nghìn lời
Không làm, nào có ích
Chẳng bằng nghe một câu
Siêng tu lợi vô cùng.
Dù tụng muôn nghìn lời
Mà câu nghĩa không đúng
Chẳng bằng nghe yếu lí
Tâm ý liền lặng yên.
Dù tụng muôn nghìn lời
Vô nghĩa có ích chi
Đâu bằng một nghĩa đúng
Thực hành liền thẳng sang.
Dù tụng muôn nghìn lời
Không kính đâu ích gì
Chẳng bằng tụng một hàng
Vui thích mà kính tu.
Dù tụng muôn nghìn lời
Không trừ tâm chấp ngã
Chẳng bằng tụng một câu
Không kiêu mạn, buông lung.
Dù tụng muôn nghìn lời
Tâm cầu danh sâu nặng
Chẳng bằng đọc một lời
Lìa chấp, chẳng hám danh.
Dù tụng muôn nghìn lời
Không muốn trừ tội lỗi
Chằng bằng tụng một bài
Mà xa lìa sinh tử.
Dù tụng muôn nghìn lời
Tâm đắm sắc vẫn chặt
Không bằng hiểu một nghĩa,
Tâm, cảnh liền bặt dứt.
Tuy tụng đến nghìn lời,
Không cầu đạo xuất thế,
Không bằng ngộ một pháp,
Xa lìa hẳn ba cõi.
Tuy tụng đến nghìn lời,
Không giữ lòng bi trí,
Không bằng nghe một câu
Làm lợi mình, lợi người.
48.6.10. Răn dạy việc hành trì
Kinh Đại Pháp cú ghi:
Người sống một trăm tuổi.
Xan tham ngày càng chặt,
Chẳng bằng sống một ngày
Xả bỏ tài và sắc.
Người sống một trăm tuổi,
Không thích nghiêm trì giới
Không bằng sống một ngày,
Tịnh tâm giữ giới hạnh.
Người sống một trăm tuổi,
Hay sân hận, không nhẫn,
Không bằng sống một ngày,
Hoan hỷ không sân hận.
Người sống một trăm tuổi,
Biếng trễ, không siêng năng,
Không bằng sống một ngày,
Thân tâm đều tinh tiến.
Người sống một trăm tuổi,
Lòng ưa việc phóng túng,
Không bằng sống một ngày,
Đưa tâm về rỗng lặng.
Người sống một trăm tuổi,
Mà tâm thức mê muội,
Không bằng sống một ngày,
Tỏ ngộ, hết vô minh.
Người sống một trăm tuổi,
Không khéo điều thân tâm,
Không bằng sống một ngày,
Khéo điều tâm chuyển ý.
Người sống một trăm tuổi,
Mà chí nguyện yếu kém
Không bằng sống một ngày,
Mà sức tuệ mạnh mẽ.
Người sống một trăm tuổi,
Không phát được nguyện lành,
Không bằng sống một ngày,
Phát bốn hoằng thệ nguyện.
Người sống lâu trăm tuổi,
Không phát sinh trí tuệ,
Không bằng sống một ngày,
Mà tri tuệ nhạy bén.
48.6.11. Răn dè khẩu nghiệp
Kinh Tạp A-hàm ghi: “Chư thiên nói kệ:
Người ở trong thế gian,
Búa từ cửa miệng sinh,
Trở lại chặt thân mình,
Đó là vì lời ác.
Đáng chê thì khen ngợi,
Đáng ngợi khen lại chê,
Tội ấy từ miệng sinh,
Chết đọa vào đường ác
Có bài tụng:
Lập chí răn tâm ngu,
Vui thích kết bạn hiền,
Cùng nhau lập nguyện rộng,
Bỏ tục chuộng thanh nhàn.
Buông xả người và vật,
Thong dong thoát thế trần.
Lặng lặng tìm chân đạo,
Gắng sức giúp tâm hòa
Cảnh tỉnh tu ba nghiệp,
Quyết dừng lặng bốn lưu.
Khởi thệ nguyện rộng lớn,
Chèo thuyền từ cứu người
Vui mong về Diệu giác,
Khéo biết tu giải thoát,
Giữ tâm tu bát chính,
Lập chí ba tăng-kì.
48.7. CẢM ỨNG
48.7.1. Đời Tấn, Chi Độn răn người học: Sư tự là Đạo Lâm, vốn họ Quan, người huyện Trần Lưu, có thuyết cho sư người ở Lâm Lự thuộc Hà Đông. Thuở nhỏ sư đã có linh thức rất nhạy bén, lại thông minh xuất chúng. Vương Hi Chi thấy tài năng trác tuyệt hân hữu của sư, nên nhiều lần chân thành đến diện kiến, và thỉnh sư trụ tại chùa Linh Gia, với mục đích dễ gần gũi. Sau sư đến Diễm sơn, tại ốc châu lập một ngôi chùa trên ngọn núi nhỏ để hành đạo, thường có hơn trăm vị tăng theo học. Như có vị tăng nào biếng trễ, sư đến ngồi bên phải vị ấy để khuyên răn sách tấn rằng:
Gắng lên, gắng lên!
Chí đạo chẳng gắng
Sao lại biếng lười
Đánh mất tính linh
Mênh mang ba cõi
Mờ mịt quê người
Ngoài nhọc bôn ba
Trong tâm rong ruổi
Khát ngưỡng truy cầu
Khắp nơi quên nhọc.
Người sống trên đời
Mạng như sương mai
Thân chẳng của ta
Sao lại lắm bày?
Người trí giữ đức
Biết an tất nguy
Rông lặng an nhiên
Sạch lụy ao thiền
Giữ tròn tâm sáng
Luận đàm huyền chỉ
An tâm đạo mầu
Lập chí vô vi.
Thông đạt ba tạng
Chế phục sáu căn
Trống không năm ấm
Rỗng lặng bốn chi
Chẳng phải ngón tay
Dùng dụ ngón tay
Bặt mà không lìa
Diệu giác đã bày
Lại còn thông đạt
Tự tại tùy thuận
Cùng vật đổi dời
Từ đây về sau
Chẳng bàn chẳng nghĩ
48.7.2. Đời Chu, một sa-môn ở Vị Tân tự răn:
- Dù có sức mạnh xoay trời chuyển đất thì trong một thoáng cũng có thể suy tàn; dẫu vững chắc như Thái sơn, bàn thạch thì bỗng chốc cũng có thể tiêu tan. Biết rõ thế gian vô thường, đời người giả tạm, thí như giọt sương mai nào có bền lâu! Cho nên đã là đại trượng phu, sống thì phải hàng ma, chết nên thí thân cho hổ đói. Nếu chẳng như thế, luống một đời trôi qua vô ích. Chi bằng tu thiền định đủ đế dưỡng tâm, tụng kinh văn đủ để tự vui thú; giàu sang, danh lợi chỉ gây khổ nhọc cho người.
Thế rồi sư lìa tục, cạo tóc xuất gia, đắp pháp y, chống tích trượng, nghe giảng kinh, luận huyền nghĩa. Đất nước gặp lúc chiến tranh, không có chốn an thân, sư tự ép thân còn khắc nghiệt hơn cả chịu tội tù. Sư muốn đoạn dứt gốc khổ, nhưng chưa biết chỗ trở về. Sư nghĩ: “Kinh Đại thừa ghi: ‘Nói và làm tương xứng mới là bậc Thánh, chứ không phải chỉ nói suông’. Tiểu thừa có bài kệ:
Làm được, nói mới hay
Không làm, có gì bàn
Nếu nói mà không làm
Chẳng phải là người trí.
Vì thế Nhan Hồi hiếu học để sửa lỗi lầm ngày trước, Lí Lộ chưa làm thì sợ phải nghe nói tiếp. Công danh lao nhọc, trí ý tán loạn, khổ đau tâm thần, tổn hại thân mạng, làm cho đạo ngày càng tổn giảm, đâu cần phải biết nhiều! Sư phát nguyện khiến thân như cây khô, tâm như tro lạnh, chế phục phiền não để cầu giải thoát. Do đó sư làm một bài Tuyệt học châm, cũng gọi là Tức tâm tán với ý định phù triều Chu:
* Trong pháp giới có người báu như ý, từ lâu đã giam thân, khắc lòng, đó là người nhiếp tâm xưa vậy.
Nên răn dè, nên răn dè!
Không nên nghĩ nhiều, không nên biết nhiều!
Biết nhiều thì nhiều việc, chỉ bằng dứt ý
Nghĩ nhiều thì sai nhiều, chi bằng giữ tâm
Nghĩ nhiều thì ý tán, biết nhiều thì tâm loạn
Tâm loạn thì phiền não sinh, ý tán thì trở ngại cho đạo.
Chớ nói không có tổn thương, để rồi triền miên đau khổ!
Chớ nghĩ có gì phải sợ, để rồi chịu họa dầu sôi!
Nước tuôn mãi chẳng ngừng một giọt thì bốn biển sẽ đầy.
Đắp đất chẳng bỏ một hạt thì năm núi liền thành.
Ngay nơi lúc khởi đầu mà đề phòng việc xảy ra ở tương lai, dù nhỏ cũng chẳng nên xem thường.
Hãy đóng chặt bảy lỗ, khóa kĩ sáu căn, chớ nhìn hình sắc, chớ nghe âm thanh.
Nghe âm thanh thì tai sẽ điếc, nhìn hình sắc thì mắt sẽ mù.
Văn chương, nghề nghiệp như con ve nhỏ bé giữa bầu trời.
Kĩ thuật, tài năng như ngọn đèn le lói dưới ánh dương.
Anh hùng kiệt xuất, tài nghệ phi thường cũng toàn ngu muội.
Bỏ chẽ thuần phác, đắm chìm trong chốn xa hoa, ngựa ý dễ rong, vượn tâm khó chế.
Tâm đã lao nhọc, thân ắt gầy suy, thế là đường tà mê bước, lỗi đạo mãi chìm.
Anh hùng kiệt xuất, tài nghệ phi thường, cũng đều mờ mịt.
Chê bai điều xấu, mến mộ việc hay thì đức không trải rộng.
Thanh danh lớn mà công hạnh mỏng thì dễ sụp đổ.
Lòng luôn kiêu mạn, thì dễ sinh oán ghét.
Nói hay viết đều muốn mọi người ca ngợi.
Điều này phàm phu cho là tốt, bậc Thánh nói là xấu, Khổng Tử cũng khinh chê.
Lại nữa, sướng vui một chút, mà chuốc sầu khổ lâu dài.
Như sợ bóng, sợ hình, càng chạy thì càng bám chặt.
Chi bằng ngồi lặng dưới bóng cây thì bóng hình liền mất.
Chán sinh, sợ lão, vừa nghĩ liền làm,
Nếu tâm tưởng diệt thì sinh tử mãi mãi không còn.
Chẳng tử chẳng sinh, vô danh vô tướng.
Một đường rỗng lặng, vạn vật đẳng đồng,
Đâu sang đâu hèn, đâu nhục đâu vinh, đâu hơn đâu kém, nào trọng nào khinh.
Bầu trời trong xanh mà còn thẹn với tâm tịnh kia, mặt trời rực rỡ mà vẫn hổ với tâm sáng ấy.
Định yên như non Thái, vững chắc như thành vàng, kính tặng bậc tu hiền đạo này thật lợi trinh.
48.7.3. Di giới văn của sa-môn Thích Đạo An: Sư họ Dao, người cố thành, Bằng Dực, trụ tại chùa Đại Trung Tường Phù. Sư đã sớm xuất gia, tỏ ngộ lí mầu, thần khí trong sáng, chí tiết thanh cao. Sư có soạn một bài Di giới văn, gồm chín chương để răn dạy đồ chúng. Văn ghi:
- Kính báo các chúng đệ tử! Phàm xuất gia tu đạo là việc rất nặng nề và cũng rất khó khăn, chẳng nên xem thường, chớ nên dễ duôi. Nói nặng nề, bởi người xuất gia phải gánh đạo, mang đức, ôm nhân, vác nghĩa, nghiêm trì tịnh giới đến chết mới thôi. Nóỉ khó khăn, bởi người xuất gia phải thoát đời lìa tục, vĩnh viễn cắt đứt tình thân, thay tâm đổi tính, chẳng đồng mọi người; làm những việc mà người thế gian không thể làm, cắt bỏ những điều mà người thế gian không thể cắt bỏ, chịu khổ chịu nhục, nguyện bỏ thân mạng. Gọi là khó khăn, bởi người xuất gia là đạo nhân, đạo nhân tức dẫn dắt mọi người; việc đạo nhân làm thật đáng noi theo, lời đạo nhân nói đáng làm chuẩn mực. Người xuất gia, mỗi một hành động đều có phép tắc, chẳng tham lam, chẳng tranh giành, chẳng chê bai, chẳng tà ác, học vấn cạo siêu, tâm thanh tịnh vô vi, luận về danh xưng thì xếp vào Tam bảo, ra khỏi bậc hiền, đã vào thánh vị, quét sạch thức tình. Do đó được quân vương cho phép chẳng báo quốc cha mẹ cho phép chẳng đền ơn; người khắp thiên hạ đều qui hướng, xa vợ con, tiết giảm chi phí sinh hoạt để sắm sửa thức uống ăn, y phục cúng dâng, lại còn hạ mình phục vụ sớm hôm, chẳng nề khổ lao, hối tiếc. Bởi chí hạnh của họ thanh khiết, hợp với thần minh; sống đạm bạc hư vô, đáng tôn vinh, đáng quí trọng.
Từ khi đất nước loạn lạc, đạo pháp suy vi, những người mới học chưa thông hiểu đạo pháp, bỏ chính theo tà, đánh mất chân tâm; vừa có chút sáng tỏ vội cho là trí, được cúng dường chút ít liền đã thỏa lòng, suốt ngày ăn no mà chẳng biết dụng tâm. Tự nghĩ lại mà xem, thật cũng đáng buồn! Có người xuất gia, tính đến nay đã mười năm mà chẳng thông kinh điển, chẳng làu văn tự, luống qua một đời chẳng thành tựu được gì, những điều như thế thật đáng suy gẫm.
Thân mạng vô thường, không sáng thì chiều, thống khổ trong ba đường không chừa kẻ mạnh hay người yếu. Thầy trò nghĩa nặng, nên ta có vài lời chỉ dạy, tất cả hữu tình cũng có thể lấy đây để suốt đời tự răn.
Một, các vị đã xuất gia, vĩnh viễn xa lìa cha mẹ, cạo tóc hủy hình, pháp phục trên thân. Ngày từ biệt gia đình, tất cả mọi người đều buồn khổ. cắt ái tu đạo, chí cao ngút trời, thì nên tuân theo đó mà học thông kinh pháp, sao lại còn vô tâm, cố chạy theo thanh sắc, suốt ngày buông lung, đạo nghiệp không thành, đức hạnh ngày càng tổn giảm, nghiệp ác chất chồng, khiến thầy bạn hổ thẹn, người đời khinh chê. Xuất gia mà như thế, chỉ làm ô danh, cho nên hôm nay ta răn nhắc, các ông hãy chuyên tâm tu đạo!
Hai, các vi đã xuất gia, bỏ tục, lìa vua, thì cần phải tự răn, lập chí như trời cao, không màng tài sắc, chẳng giống người đời, xem thường vàng ngọc, quí kính đạo pháp, chế ngự bản thân, giữ vững chí tiết, gắng chịu khổ nhọc, vui cảnh thanh bần, vun trồng cội đức để cứu mình và cứu người, tại sao lại đổi chí nguyện, chạy theo dục trần, ngồi chưa ấm chỗ lại chay đông chạy tây, hơm cả lính hầu bị quan huyện sai khiến! Đã chẳng thông kinh pháp mà giới đức cũng chẳng tròn, bị bạn bè cười
chê, đồng học xa lánh. Xuất gia mà như thế, luống uổng cơ hội nghìn năm. Cho nên hôm nay ta răn nhắc, các ông hãy tự thương xót mình!
Ba, các vị đã xuất gia, vĩnh viễn xa lìa thân tộc, không còn thân sơ, thanh tịnh vô dục; gặp điều lành cũng không mừng, gặp điều dữ cũng không lo, cao siêu nhàn hạ, thoát tục rỗng rang, tâm giữ đạo mầu, thuận chân tính mà giữ lòng thuần phác, đã tự độ thì nên độ người, để tất cả đều thấm nhuần phúc lợi. Tại sao lại vô tâm đắm nhiễm dục trần, luống tranh hơn kém, giành giựt với đời, khác nào những kẻ tầm thường, còn kinh đạo thì chẳng thông, đức hạnh lại khiếm khuyết. Xuất gia như thế chỉ tự hủy nhục, cho nên hôm nay ta phải chỉ dạy, các ông nên tự gột rửa!
Bốn, các vị đã xuất gia, có danh xưng là Đạo nhân, chẳng thờ cha mẹ, chẳng làm bề tôi của vua, được mọi người phụng sự như thần; chẳng kể giàu nghèo, ai cũng cúi đầu đỉnh lễ. Bởi họ chuộng cái đức tu tập thanh cao, làm lợi mình lợi người của các vị. Ân cắt giảm của thí chủ rất lớn, một hạt gạo nặng đến bảy cân. Vậy mà tại sao biếng nhác chẳng biết báo ân, buông lung phóng dật, thân tâm trống rỗng. Không có giới đức mà thụ dụng của tín thí, sau khi chết sẽ rơi vào địa ngục, ăn toàn sắt nóng, uống nước đồng sôi, đau đớn như vậy, không thể nói hết. Do đó hôm nay ta khuyên dạy rõ, các ông hãy gắng cải hối!
Năm, các vị đã xuất gia, có danh xưng là Tức tâm, thì chẳng đắm vào nơi tạp uế, chỉ một lòng kính đạo, chí hạnh trong sạch như ngọc như băng, cần thông nghĩa kinh, nghiêm trì giới luật để cứu lấy tâm, chúng sinh nào cần giúp, đều độ như người thân. Như thế sao lại vô tâm nổi chìm trong dòng tục, buông lung bốn đại, phóng túng năm căn, để cho đạo đức ngày càng cạn mỏng, việc đời mãi mãi sâu dày. Xuất gia như thế khác nào trần tục. Cho nên hôm nay ta răn nhắc, mong các ông tự mở tâm mình!
Sáu, các vị đã xuất gia, ném bỏ hình tướng thế tục, nên phải dốc lòng nơi chốn vắng lặng, cớ sao lòng cứ loạn động không thích nhàn cư, khiến cho đạo hạnh tổn giảm, thế sự tăng nhiều; lại chảng đi trên con đường bằng phảng mà lại lặn hụp trong chốn bùn nhơ. Mạng người như bóng ngựa qua khe cửa, chỉ trong chớp mắt, mà sự thống khổ trong địa ngục đâu thể nào chép hết. Cho nên hôm nay ta khuyên răn, các ông cần phải kính tu kinh giáo.
Bảy, các vị đã xuất gia không nên tự an ủi mình, bởi hình tướng tuy xấu mà hành sự rất tốt đẹp, y phục tuy thô mà oai nghi nghiêm chỉnh, thức uống ăn tuy đạm bạc mà lời nói đáng tuân theo; mùa hạ thì nhẫn chịu nóng bức, mùa đông thì kham nhận rét lạnh, giữ vững chí tiết, không uống nước ở suối Đạo, không vọng cầu phẩm vật cúng dường phi pháp, ở lâu trong phòng riêng mà hành nghi như đối trước Thế Tôn, học Vấn tuy không nhiều nhưng cũng bằng bậc Thượng hiền. Được như vậy mới đủ để báo đáp công ơn cha mẹ, dòng tộc và tất cả người thân quen. Do đó hôm nay ta khuyên bảo, các ông hãy tự nỗ lực!
Tám, các vị đã xuất gia, tuy tính có trí có ngu, về học thì không kể ít hay nhiều, nhưng chỉ cần chuyên tinh là tốt. Như bậc thượng thì tọa thiền, bậc trung thì tụng kinh, bậc hạ thì có thể xây dựng, tu sửa chùa tháp; đâu thể suốt ngày mà không làm được việc gì! Làm người mà không có danh gì thì luống uổng một đời. Cho nên hôm nay ta khuyên dạy, các ông hãy dốc lòng tu tập!
Chín, các vị đã xuất gia, vĩnh viễn xa lìa cha mẹ, tâm giữ đạo pháp, thân đắp ca-sa, ngày từ biệt song thân buồn vui lẫn lộn, vĩnh viễn dứt tục, siêu thoát trần ai. Do đó cần phải tu học kinh giáo, khắc kỉ tu chân. Sao lại vô tâm đắm nhiễm duyên trần, kinh đạo đã phai, công hạnh cũng trống rỗng; lại thêm lời nói tầm thường, đức hạnh kém cỏi, thầy bạn phải phiền lụy, lòng sân hận ngày càng tăng. Xuất gia như thế, chỉ tổn giáo pháp, nhục bản thân. Các ông hãy suy nghĩ kĩ, cố gáng lập thân tu đạo!
48.7.4. Đời Tề, Thích Tăng Phạm ở chùa Đông Đại Giác, Nghiệp đô: Sư họ Lí, người ở Bình Hương, giới đức thanh cao, nghiêm trì luật hạnh, không mảy may thiếu sót. Có lần sư đến tá túc tại một ngôi chùa kia, ý muốn nghe thuyết giới. Đêm ngày mười lăm, lúc sắp thuỵết giới, chúng tăng trong chùa nghị bàn không thuyết giới mà muốn thuyết kinh. Lúc ấy có vị tăng lên pháp tòa nói: “Thụ nghĩa luận bàn pháp tướng mới thể hội lời Phật, còn bố-tát thì tăng đã thường nghe và lấy việc phê bình chỉ trích làm chính”. Vừa nói xong, bỗng có một vị thần, thân cao hơn một trượng, tướng mạo kì vĩ, uy dũng kinh người hiện đến trước tòa và hỏi vị tăng thụ nghĩa:
- Hôm nay là ngày gì?
- Ngày bố-tát! Vị tăng đáp.
Vị thần liền kéo mạnh vị tăng xuống tòa, khiến vị ấy ngã nhào trên đất sắp chết. Kế đó thần lần lượt hỏi hai ba vị Thượng tọa, đáp cũng y như trước, thần cũng kéo đẩy khiến họ té nhào. Sau đó vị thần vung tay bỏ đi. Đạo tục hôm ấy đều thấy. Sư thấy sự việc linh dị như vậy, nên tự nỗ lực và khuyên tấn đại chúng tuân thủ việc bố-tát. Từ đó cho đến cuối đời, sư không dám thuyết dục, dẫu bệnh nặng đến nỗi không thể ngồi xe đến được, thì thỉnh tăng đến phòng bệnh thuyết giới. Cũng từ việc này mà Tăng ni khắp vùng đều tuân thủ việc bố-tát.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
29/11/2015
PUCL QUYỂN 55 - CHƯƠNG PHÁ TÀ
QUYỂN 55 Quyển này gồm một chương Phá tà. 62. CHƯƠNG PHÁ TÀ 62.1. LỜI DẪN Từng nghe: Tam thừa mở lối, giúp các con thoát nạn nhà lửa; Bát chính dẫn đường, đưa chúng sinh ngộ quả Vô vi. Cho nên, mây từ tuôn mưa, không phâ...
29/11/2015
PUCL QUYỂN 54 CHƯƠNG TRÁ NGỤY, LƯỜI BIẾNG, KIÊU MẠN
QUYỂN 54 Nội dung quyển này gồm hai chương: Trá ngụy, Lười biếng và kiêu mạn. 60. CHƯƠNG TRÁ NGỤY 60.1. LỜI DẪN Chí đạo không phân biệt, chỉ cốt ở lời ngay. Cho nên, nói lời thiện thì dù xa nghìn dặm vẫn có người hưởng ứ...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 53 - CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ, NGU ĐỘN
QUYỂN 53 Nội dung quyển này gồm hai chương: Thông minh cơ trí, Ngu độn. 58. CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ 58.1. LỜI DẪN Phàm ba tạng mênh mông, bảy chúng đông nhiều. Nhưng lập giáo hợp cơ thì mọi người sẽ thông đạt. Nếu nghe...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 52 - CHƯƠNG QUYẾN THUỘC, SO SÁNH, HƠN KÉM
QUYỂN 52 Quyển này gồm hai chương: Quyến thuộc, So sánh hơn kém. 56. CHƯƠNG QUYẾN THUỘC 56.1. LỜI DẪN Trộm nghĩ: quyến thuộc luôn hoán chuyển, nào mới cũ đổi thay, nào ở đi khó biết, nào tan họp tạm thời. Bởi do duyên th...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 51 - CHƯƠNG BẠN TỐT, BẠN XẤU, TRỌN BẠN
QUYỂN 51 Quyển này gồm ba chương: Bạn tốt, Bạn xấu, Chọn bạn. 53. CHƯƠNG BẠN TỐT 53.1. LỜI DẪN Luận đến chỗ tột cùng của đạo lý thì chỉ có thiện và ác. Thật cũng dễ nhận biết hai con đường này, như ẩn kín thì có tội phúc...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 50 - CHƯƠNG BÁO ÂN, QUÊN ÂN, TRÁI ÂN
QUYỂN 50 Quyển này gồm hai chương: Báo ân, Quên ân-trái ân. 51. CHƯƠNG BÁO ÂN 51.1. LỜI DẪN Ân Phật thật sâu nặng, phủ mây từ che mát bốn loài; giáo hóa khắp mười phương, xem chúng sinh như con một. Người kém cũng được t...
24/11/2015
PUCL QUYỂN 49 - CHƯƠNG TRUNG HIẾU
QUYỂN 49 Quyển này gồm hai thiên: Trung hiếu, Bất hiếu. 49. CHƯƠNG TRUNG HIẾU 49.1. LỜI DẪN Trộm nghĩ, người có trung hiếu-kính thành thì vượt trên đức hiền của Đổng Ảm; như trái nghịch, khinh mạn tôn thân thì tội còn lớ...
22/11/2015
PUCL QUYỂN 47 - CHƯƠNG TRỪNG PHẠT LỖI LẦM, HÒA THUẬN
QUYỂN 47 Quyển này gồm hai chương: Trừng phạt lỗi lầm, Hòa thuận. 46. CHƯƠNG TRỪNG PHẠT LỖI LẦM 46.1. LỜI DẪN Hình hài gây nhiều họa, đúng lí phải răn dè; căn thức hôn trầm, theo lẽ luôn cảnh tỉnh. Cho nên kinh Di giáo g...
