Buddha.com.vn

PUCL QUYỂN 47 - CHƯƠNG TRỪNG PHẠT LỖI LẦM, HÒA THUẬN

22/11/2015

QUYỂN 47 Quyển này gồm hai chương: Trừng phạt lỗi lầm, Hòa thuận. 46. CHƯƠNG TRỪNG PHẠT LỖI LẦM 46.1. LỜI DẪN Hình hài gây nhiều họa, đúng lí phải răn dè; căn thức hôn trầm, theo lẽ luôn cảnh tỉnh. Cho nên kinh Di giáo g...

PUCL QUYỂN 47 - CHƯƠNG TRỪNG PHẠT LỖI LẦM, HÒA THUẬN
Phần 1

QUYỂN 47
Quyển này gồm hai chương: Trừng phạt lỗi lầm, Hòa thuận.
46. CHƯƠNG TRỪNG PHẠT LỖI LẦM

46.1. LỜI DẪN
Hình hài gây nhiều họa, đúng lí phải răn dè; căn thức hôn trầm, theo lẽ luôn cảnh tỉnh. Cho nên kinh Di giáo ghi: “Không nên vì việc ngủ nghỉ mà để cuộc đời luống trôi qua, không đạt được gì”. Nhưng thân là gốc của tai họa, nếu không có thân thì họa diệt. Cho nên Khúc lễ ghi: “Cần phải kính thì mới không nuôi lớn tâm cao ngạo”. Nếu buông tâm cao ngạo, tăng trưởng tính biếng lười, luống bày việc đấu tranh, thì biết làm sao với mối tai họa đây! Miệng là cửa đao búa, là khởi đầu của mọi tai họa. Bởi tâm nghĩ điều ác, miệng sẽ nói lời ác, thân theo đó gây việc ác. Hễ khởi ba nghiệp này rồi thì sẽ rước lấy quả bốn cõi ác. Cho nên Luận ngữ ghi: “Một lời có thể dựng nước, một lời cũng có thể làm mất nước”. Chu Dịch ghi: “Ngôn hạnh là then chốt của bậc quân tử, then chốt phát động là đã quyết định sự vinh nhục”. Ý là gốc của nghiệp, hai nghiệp thân miệng phát khởi từ đây. Vì thế trước nên trừ tâm ác, bỏ tà cầu chính. Cho nên biết muôn ác hưng khởi đều do tâm tạo. Sao biết được? Vì tâm duyên vừa khởi, miệng liền phát lời ác, lời do ý mà có, khiến thân tạo mọi việc ác. Luận Thành thật ghi: “Lìa tâm, bặt suy nghĩ, thì không có nghiệp thân và miệng”.
46.2. DẪN CHỨNG
Kinh Duy-ma ghi: “Cho nên, phải dùng biết bao nhiêu lời thống thiết mới có thể đưa người vào khuôn phép”.
Sách Nho chép: “Nghe lời can gián như dòng nước chảy”. Câu này đáng ghi nhớ. Thông thường, kẻ hung ngu không tin, ngựa dữ khó thuần; đến lúc mạng tận, kế cùng mới nghĩ đến lời này, vừa hối hận vừa hổ thẹn, liền lấy đó để tự răn, mong được nghe đồng bạn khuyên răn để mở sáng tâm trí. Nay muốn ngậm miệng để chỉnh thân, đâu bằng trước kềm chế tâm, sau nhiếp phục ý! Thế nên, kinh chép: “An trụ tâm vào môt chỗ thì không việc gì không thành”. Ví như chồn, thỏ đâu dám ở trong hang núi vàng; ếch nhái nào dám sống nơi vực sâu, biển rộng.
Vì vây, người biết lắng tâm, định ý thì dứt được quả báo trong ba đường, đầy đủ bốn đức. Người giữ ý như giữ thành, giữ miệng như bình đậy kín thì đáng nhận lãnh di giáo nơi Kim Hà, có thể giúp việc khai hóa đế vương hưng thịnh khắp thiên hạ. Người giữ gìn ba nghiệp như thế thì có khả năng dứt trừ được bốn nỗi khổ: sinh, già, bệnh, chết”.
Cho nên, kinh Thụ thai ghi: “Lúc thụ thai, chúng sinh chịu đủ mọi thứ khổ sở, mờ mịt giống như đám bụi mù. sắp đủ mười tháng thì thai nhi bắt đầu biết khổ. Bấy giờ, gió nghiệp chuyển, đẩy đầu đứa bé hướng về cửa mình người mẹ. Vừa lọt lòng mẹ, toàn thân đau đớn như nằm trên núi đao, gió thổi lạnh buốt như băng giá. Ngay khi ấy, sinh là nỗi khổ đích thực”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Giống như tim đèn cháy được là nhờ dầu. Nếu dầu hết thì đèn không thể cháy. Con người cũng thế, chỉ nhờ lúc mạnh khỏe trẻ trung, đến khi sức khỏe cạn kiệt thì sức già làm sao giữ mạng được lâu dài”.
Trong kinh Xuất diệu, Đức Phật nói về nỗi khổ của tuổi già bằng bài kệ:
Tuổi trẻ thân tráng kiện,
Bị già suy bức bách,
Gầy yếu như cây khô,
Kiệt sức, đi nhờ gậy.
Đức Phật nói về nỗi khổ của cái chết bàng bài kệ:
Tắt thở hồn lìa xác,
Hình hài thật thảm thương,
Người vật cũng như nhau,
Không sinh ắt chẳng tử.
Kinh Niết-bàn ghi: “Người chết như đi vào nơi hiểm nạn mà không có lương thực; đến chốn xa xồi, nguy hiểm mà không có bạn bè; ngày đêm đi mãi mà không biết chỗ dừng; tối tăm mờ mịt mà không có đèn sáng; vào nơi không nhà mà lại có chỗ nương thân; tuy không đau đớn nhưng không thể chữa trị; đến đâu cũng không ngăn ngại nhưng không có lối thoát”.
Kinh Vô lượng thọ ghi: “Sinh một mình, chết cũng một mình; một mình đến, một mình ra đi; chốn khổ vui riêng mình chịu lấy, không người thay thế, mờ mờ mịt mịt vĩnh viễn cách xa, đi không cùng lối, chẳng bao giờ gặp nhau. Khó thay! Khó thay! Nếu được gặp nhau, sinh ra thì vui vẻ, bà con quấn quít, rất mực yêu thương, quí mến; khi chết thì sáng mất chiều chôn, lại lo sợ cảnh chia ly, khóc lóc tiễn đưa mà người chết không hề hay biết. Quyến thuộc trở về thì cảnh nhà trống vắng, không còn trông thấy người thân. Còn mất, có không thay đổi trong khoảnh khắc”.
Cho nên, trong kinh Xuất diệu, Đức Phật nói lại nỗi khổ của sự chết bằng bài kệ:
Mạng sống như quả chín,
Thường sợ phải rụng rơi,
Đã sinh ắt có khổ,
Đời người ai không chết.
Như kẻ tử tù kia,
Bị đưa đến pháp trường;
Mỗi bước dần đến chết,
Mạng người cũng như vậy.
Như dòng nước chảy xiết,
Trôi đi không trở lại,
Mạng người cũng như thế,
Chết nào sống lại đâu
Kinh Xuất diệu ghi: “Ngày xưa có bốn anh em Phạm chí chứng được ngũ thông, biết mạng sống của mình chỉ còn bảy ngày, nên cùng nhau bàn luận:
- Anh em chúng ta thông đạt ngũ thông, có thể dùng thần lực của mình lật đổ trời đất, biến cánh tay cực lớn bắt lấy mặt trời, mặt trăng, dời non lấp biển, không việc gì chẳng làm được, sao không thể tránh nạn chết này?
Người anh lớn nói:
- Ta sẽ vào biển cả trốn ở khoảng lưng chừng giữa đáy và mặt biển, quỉ vô thường đâu biết được chỗ ở của ta.
Người em thứ hai nói:
- Tôi vào trong lòng núi Tu-di rồi bít kĩ khe trống, quỉ vô thường đâu biết được chỗ ở của tôi.
Người em thứ ba nói:
- Tôi ẩn hình trong hư không, chẳng lưu dấu vết, quỉ vô thường đâu biết được chỗ ở của tôi.
Người em thứ tư nói:
- Tôi trốn trong chợ đông người, không ai biết cả, quỉ vô thường bắt càn một người nào đó, cần gì bắt tôi.
Bốn người bàn bạc xong cùng đến từ giã nhà vua:
- Chúng tôi biết mạng sống chỉ còn bảy ngày nên mỗi người muốn chạy trốn để cầu đươc nhiều phúc.
Nhà vua liền nói:
- Hãy siêng năng tạo thêm phúc!
Họ từ biệt nhau, mỗi người đến chỗ riêng. Kì hạn bảy ngày đã mãn, bốn người đều mạng chung ngay chỗ ẩn núp của mình. Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh biết bốn Phạm chí trốn tránh vô thường, đều mong khỏi chết, nhưng không thể thoát. Bấy giờ Thế Tôn nói bài kệ:
Hư không và biển cả
Núi đá hoặc hang sâu
Chẳng có một nơi nào
Trốn thoát khỏi cái chết.
Phần 2

Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Bấy giờ Đức Phật cùng năm trăm vị tì-kheo trú trong vườn Lộc Mau, phía đông nước Xá-vệ. Lúc ấy nhằm ngày mười lăm tháng bảy, Thế Tôn trải tòa ngồi trên khoảng đất trống với các tì-kheo vây quanh. Đức Phật bảo A-nan:
- Hôm nay, nơi khoảng đất trống này, ngươi mau đánh kiền chùy. Vì sao? Vì ngày rằm tháng bảy là ngày thọ tuế.
Lúc ấy, tôn giả A-nan gối phải quỳ sát đất, chăp tay nói kệ:
Đấng Tịnh Nhãn vô thượng
Thông suốt tất cả việc
Trí tuệ không đắm nhiễm
Thọ tuế, nghĩa là gì?
Thế Tôn dùng kệ đáp A-nan:
Thọ tuế, tịnh ba nghiệp
Do thân, miệng, ý tạo
Hai Tì-kheo đối nhau,
Tự nêu những khiếm khuyết.
Lại tự xưng danh tính
Hôm nay Tăng thọ tuế
Tôi cũng ý tịnh thọ.
Cúi xin chỉ lỗi cho
Sau khi nghe những lời này, tôn giả A-nan vô cùng vui mừng, cầm kiên chùy nói kệ:
Hàng phục sức ma oán
Trừ phiền não không còn
Đất trống, đánh kiền chùy
Tì-kheo nghe hãy họp.
Những người muốn nghe pháp,
Vượt qua biển sình tử
Nghe tiếng trống mầu này
Hãy nhóm họp về đây.
Sau khi gõ kiền chùy, tôn giả A-nan đến chỗ Thế Tôn, đỉnh lễ sát chân, rồi đứng qua một phía, bạch Thế Tôn:
- Đã đến giờ, cúi xin Thế Tồn chỉ dạy?
Thế Tôn bảo A-nan:
- Các ông hãy ngồi theo thứ tự, Như Lai tự biết đúng giờ.
Thế Tôn ngồi xuống đệm cỏ, bảo các tì-kheo:
- Các ông hãy ngồi xuống đệm cỏ.
Các tì-kheo đáp:
- Kính vâng, bạch Thế Tôn!
Các tỳ kheo đều ngồi xuống đệm cỏ. Bấy giờ, Thế Tôn im lặng quán sát các tì-kheo, rồi bảo:
- Nay Ta muốn thọ tuế. Đối với mọi người, Ta có lỗi gì chăng? Thân, miệng, ý có phạm chăng?
Như Lai nói những lời này xong, các tì-kheo im lặng không đáp. Ngài lại hỏi đến lần thứ ba, thì tôn giả Xá-lợi-phất từ chỗ ngồi đứng dậy, quì gối, chắp tay bạch Thế Tôn:
- Các chúng tì-kheo quán sát, Như Lai không có lỗi nơi thân, miệng, ý. Vì sao? Vì hôm nay Thế Tôn đã độ cho người chưa được độ, đã giúp cho người chưa giải thoát được giải thoát, người chưa niết-bàn giúp cho Bát-niết-bàn, đã cứu giúp cho người chưa được cứu giúp, làm con mắt cho người mù, làm đại y vương cho người bệnh. Ngài là đấng độc tôn trong ba cõi, không ai sánh bằng.Vì những duyên sự này, Như Lai không có lỗi đối với mọi người, cũng không có lỗi nơi thân miệng ý.
Xá-lợi-phất bạch tiếp:
- Nay con đối trước Như Lai và đại chúng tỏ bày, không biết đối với Như Lai cùng tì-kheo tăng, con có lỗi gì không?
Thế Tôn bảo:
- Này Xá-lợi-phất, nay những việc làm từ thân, miệng, ý của ông hoàn toàn đúng hạnh. Vì sao? Vì ông có trí tuệ không ai sánh kịp, lời ông nói ra thường hợp nghĩa pháp, chưa từng trái lí.
Xá-lợi-phất lại bạch Phật:
- Năm trăm tì-kheo này đều nên thọ tuế. Năm trăm vị này đối với Như Lai có lỗi gì chăng?
Thế Tôn nói:
- Cũng không có gì phải trách các hành vi từ thân, miệng, ý của năm trăm tì-kheo này. Trong đại chúng trong đây, Xá-lợi-phất rất thanh tịnh, không có tỳ vết. Nay người thấp nhất trong chúng này, cũng đắc quả Tu-đà-hoàn, nhất định sẽ tiến đến pháp bất thối chuyển. Vì vậy Ta không thể chê trách họ.
Kinh Phật bản hạnh ghi: “Bấy giờ, chín vạn chín nghìn người họ Thích và dân cư thành Ca-tì-la-bà-tô-đô đều muốn đến diện kiến Như Lai.
Từ xa, Thế Tôn thấy vua Thâu-đầu-đàn và đại chúng trang nghiêm đi đến, ngài nghĩ: ‘Nếu ta thấy họ mà chẳng đứng lên nghinh tiếp thì mọi người sẽ nói ta là người có giới hạnh biết quả báo, tại sao thấy cha đến mà không đứng lên nghinh tiếp! Nếu ta đứng lên nghinh tiếp thì họ sẽ chịu vô lượng tội. Nếu ta vẫn giữ oai nghi ngồi tại chỗ thì họ sẽ không cung kính ta”.
Như Lai ba lần suy nghĩ, xem xét ba cách ứng xử rồi, ngài liền từ tòa đứng dậy bay vút lên không trung, hiển các món thần thông biến hóa, khiến mọi người sinh tín tâm nhập đạo.
Kinh Phạm võng ghi: “Này các Phật tử! Các vị nên ngồi theo thứ tự đúng như pháp, ai thụ giới trước thì ngồi trên (trước), ai thụ giới sau thì ngồi dưới (sau). Không kể già trẻ, tì-kheo, tì-kheo-ni, người cao quí, quốc vương, vương tử, quan lớn cho đến hoàng môn, nô tì..., ai thụ giới trước thì ngồi trên (trước), ai thụ giới sau thì ngồi dưới (sau); không như hàng ngoại đạo ngu si hoặc già hoặc trẻ, không trước cũng không sau; hay ngồi lộn xộn không theo thứ tự như quân lính. Trong pháp của ta, người thụ giới trước ngồi trên, người thụ giới sau ngồi dưới. Nếu bồ-tát ngồi không theo thứ tự, thì phạm tội khinh cấu.
Này các Phật tử! Các vị nên luôn giáo hóa, dùng tâm đại bi mà vào nhà đàn việt, nhà của người tôn quí hay trong tất cả chúng. Nhưng không được đứng thuyết pháp cho hàng cư sĩ nghe, mà phải ngồi trên tòa cao trước các cư sĩ mà thuyết pháp. Pháp sư không được đứng trên đất thuyết pháp cho bốn chúng cư sĩ. Khi thuyết pháp, pháp sư phải ngồi trên tòa cao, có hương hoa cúng dường; bốn thính chúng ngồi phía dưới như con hiếu thuận cha mẹ, kính trọng thầy giáo huấn như các Bà-la-môn thờ lửa. Nếu người thuyết pháp không thực hành đúng pháp, thì phạm tội khinh cấu”.
Luận Thiện kiến ghi: “Khi đệ tử tham vấn thầy, cần phải tránh sáu vị trí: Ngay trước mặt thầy, ngay sau lưng thầy, không quá xa thầy, không quá gần thầy, không ở chỗ cao hơn thầy, không ở đầu gió.
Hỏi: Trong bốn tư thế của thân, vì sao chỉ nói: Đứng về một bên?
Đáp: Vì tham học nên không được đi, vì cung kính nên không được ngồi, vì cúng dường nên không được nằm”.
Bộ Tam thiên oai nghi ghi:
- Khi sắp lên giường, cần phải thực hành đúng năm việc: khoan thai ngồi vào giường, không được bò lên giường, không được làm cho giường phát ra tiếng, không được lau giũ mạnh khiến phát ra tiếng, nên rửa và lau khô chân.
- Khi ở trên giường cần phải chú ý năm việc: Không được thổi mạnh, không được quát mắng kêu la, không được thở ‘than nghĩ nhớ việc đời, không được nằm chung nhiều người; ngồi dậy phải đúng lúc, nếu ngồi dậy không đúng lúc thì phải tự trách.

Phần 3

- Lúc nằm phải chú ý năm việc: Đầu hướng về Phật, không được nằm mà nhìn Phật, không được duỗi thẳng hai chân, không được quay mặt vào vách và không được nằm úp, không được dựng hai gối, phải nằm nghiêng và hai chân xếp chồng.
- Khi nằm mà muốn đứng dậy ra khỏi phòng phải biết năm việc: Ngồi dậy xuống giường không được để giường phát ra tiếng; trước khi mang giày hay dép phải phủi đập kĩ; đứng ngay ngắn đắp pháp y; trước khi rời phòng phải búng ngón tay ba lần, không được gây tiếng động trong phòng; nếu trong phòng có thờ tượng Phật, không được đi quay lưng về phía tượng, lưng hướng ra cửa mà rời phòng; khi ra cũng không được đứng lại nói chuyện với người khác.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Bồ-tát Khổng Tước nói pháp điều phục cho các vị trời:
Tại gia hay xuất gia, dù già hay trẻ đều nên dùng pháp Điều phục để chỉnh thân. Người xuất gia dùng ca-sa để nghiêm trang tự thân, cần phải biết bảy việc:
- Pháp ca-sa điều phục: như phép nước, tì-kheo thụ nhận y phấn tảo, tức y phục mà những người tại gia vất bỏ. Như y phục của người chết ngoài nghĩa địa, nếu đang đắp phủ cho tử thi thì không được lấy dùng, còn y phục đó đã cũ rách và vất bỏ rồi thì được lấy dùng.
- Pháp vào thôn xóm điều phục: khi đi vào thôn xóm, mắt nên nhìn xuống đất cách chân một tầm, tưởng hình ảnh Phật, chuyên tâm chính niệm, các giác quan không loạn động, không nhìn đến những vật cần dùng, không nói chuyện với người nữ, không bồng bế trẻ con, không được chạm chân, chạm tay và giường ghế của họ, không được dùng tay xoa đầu họ, không được luôn chỉnh sửa y phục, không được nâng ca-sa, không được xoa tay, không được búng ngón tay.
- Pháp vào nhà thí chủ thụ thực điều phục: vào nhà thí chủ, trước khi thụ thực nên rửa đến ngang cổ tay, thụ thực không nên duỗi thẳng tay, chỉ nên đưa tay ra khoảng một tấc, không được dùng một miếng quá nhiều hoặc quá ít, nếu là nắm corm thì cũng vậy; không được há lớn miệng, không được nhai ra tiếng, chỉ dùng hai phần thức ăn mình có, khi ăn nên biết đủ mà dừng, không nhìn vào bát người bên cạnh để khởi tâm tham, khi ăn không khởi niệm khác, nên nhìn vào bát của mình, không quay nhìn hai bên.
- Pháp vào xóm thôn, thành ấp khất thực điều phục: khi vào thôn xóm hay thành ấp, khi thấy thức ăn, không được khởi niệm ham thích, không nói nhiều, cũng không mong cầu, đúng như pháp nhận chứa các vật trải ngồi nằm, không cầu những món tốt đẹp.
- Tất cả các Phật sự, không nên chấp trước, không tham tiếc thân mạng, không cất chứa nhiều vật dụng, không đến những nơi biên cương nguy hiểm, không mặc y phục thế gian, không nên ham thích đến mãi một nhà nào.
- Không được chặt phá cỏ cây và đào đất, không được mang giày dép và y phục nhiều màu, không phá hoại giới cấm của người khác, không chê bai không nói lỗi người, không mong cầu, không ham thích thức ăn ngon của vua chúa, không thân gần với các tì-kheo thích đấu tranh.
- Nếu gặp người đồng tâm, đồng pháp thì nên gần gũi để được lợi ích; nếu trụ nơi núi rừng, hang động, cội cây, đồng trống thì nên siêng năng tu tập pháp không, vô tướng, vô nguyện.
Tì-kheo nào thực hành đúng bảy việc này, thì xa lìa được tất cả những trói buộc, đạt đến giải thoát”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Vào đêm Đức Phật xuất gia, La-hầu-la mới nhập thai, đến đêm Đức Phật thành đạo, thì La-hầu-la chào đời. Toàn thể cung nữ đều cảm thấy xấu hổ và nói:
- Thật kì lạ thay! Da-du-đà-la làm việc quá xấu xa, chẳng nghĩ phải trái, xem thường việc làm, chẳng e dè thận trọng, khiến cho cả cung cấm của chúng ta bị ô nhiễm lây. Bồ-tát Tất-đạt xuất gia đã lâu, mà nay sinh ra người con trai này, thật là một điều sỉ nhục!
Lúc đó, có một Thích nữ tên Điển Quang, là con gái của di mẫu nàng Da-du-đà-la giận dữ, đấm ngực, vỗ đùi, chửi mắng:
- Này Da-du-đà-la! Ngươi là con nhà dòng dõi tôn quý, mà sao lại tự tổn hại mình? Thái tử Tất-đạt xuất gia học đạo đã sáu năm trời, nay ngươi sinh đứa bé này thật là không đúng lúc. Ngươi đã theo ai có được đứa bé này? Ngươi làm nhục cả dòng tộc nhà ta, chẳng biết giữ gìn tiếng xấu. Lúc đó vua Tịnh Phạn đang ở trên lầu thấy cõi đất này nổi sáu cách chấn động, cho là Bồ-tát đã chết, lòng ông đau xót như bị mũi tên bắn thẳng vào tim, lại nghe trong cung đều cất tiếng khóc than, vua càng kinh ngạc, hoảng sợ, cho rằng Thái tử đã chết, vua liền hỏi một thị nữ :
- Ai than khóc gì vậy? Lẽ nào con ta đã chết thật sao?
Người thị nữ tâu:
- Tâu Hoàng thượng! Thái tử không chết. Nhưng hôm nay Da-du-đà-la sinh lại được một hoàng nam. Tất cả mọi người trong cung đều xấu hổ, do đó mà khóc lớn như thế!
Nghe nói vậy, vua càng thêm sầu não, liền khóc lớn, rồi to tiếng than rằng:
- Lạ thay! Thật nhục nhã! Con ta xuất gia đã sáu năm, sao hôm nay Da-du-đà-la lại sinh con?
Bấy giờ, vua theo phép nước, gióng một hồi trống, chín muôn chín ngàn người thuộc dòng họ Thích đều nhóm họp, lại gọi Da-du-đà-la đến. Lúc đó Da-du-đà-la mặc y phục trắng, bế con trong lòng, không mảy may hoảng sợ, đến đứng giữa mọi người. Lúc đó, những người họ Thích đều nổi giận, mắng chửi Da-du-đà-la:
- Này! Ngươi là đồ phàm phu bỉ ổi, thật quá xấu xa, còn mặt mũi nào mà ngươi dám đứng trước mặt chúng ta? Ngươi nên nói thật ra, rốt cuộc do đâu ngươi mang thai đứa bé này?
Da-du-đà-la hoàn toàn không xấu hổ, thẳng thắn trả lời:
- Từ người họ Thích tên là Tất-đạt đã xuất gia kia, mà có được đứa bé này!
Vua Duyệt-đầu-đàn nghe nàng nói thế, liền nói:
- Tất-đạt, con ta khi còn tại gia, nói đến ngũ dục còn không muốn nghe, huống gì nói đến việc sinh con. Lời ngươi nói hoàn toàn dối trá, chẳng chút trung thực! Vua vô cùng phẫn nộ, hỏi những người dòng họ Thích:
- Nay nên dùng cực hình gì để giết hại cô ta?
Một người bảo:
- Theo ý tôi, nên làm một hầm lửa, rồi ném nàng ta vào trong lửa, khiến cho mẹ con cháy thành tro!
Mọi người đều đồng ý. Thế là họ liền đào một hầm sâu, dùng gỗ khư-đà-la6 chất đầy trong hầm, châm lửa đốt, rồi dẫn Da-du-đà-la đến bên hầm lửa. Lúc ấy, Da-du-đà-la thấy hầm lửa, lòng vô cùng hoảng sợ, giống như con nai hoang, một mình ở giữa vườn, ngơ ngác nhìn quanh, chẳng biết nương cậy vào đâu? Da-du-đà-la tự hận mình không có tội mà phải chịu tai họa này. Nhìn quanh những người dòng họ Thích, không thấy ai có thể cứu được mình, nàng ôm con than khóc nghĩ nhớ Bồ-tát:
- Ngài có lòng từ bi, thương tất cả mọi loài, được trời, rồng, quỷ, thần cung kính! Nay hai mẹ con đơn độc chẳng ai cứu giúp, không có tội mà phải cam chịu khổ. Tại sao Bồ-tát không lưu tâm đến? Vì sao không cứu mẹ con con thoát khỏi ách nạn nguy hiểm hôm nay? Hỡi chư thiên!
Thầm niệm xong, bà liền hướng về Phật, nhất tâm cung kính đỉnh lễ, rồi lạy những người dòng họ Thích, xong chắp tay hướng vào hầm lửa mà phát nguyện:
- Đứa con này, thật không phải của người khác, mà tôi đã mang nó suốt sáu năm trong bụng. Nếu việc này hoàn toàn không dối thì lửa sẽ không thể đốt cháy chúng tôi!
Phát nguyện xong, bà liền nhảy vào hầm lửa, lập tức hầm lửa biến thành ao nước. Bà thấy mình ngồi trên hoa sen, hoàn toàn không chút sợ hãi, nhan sắc tươi đẹp, bà vội chắp tay hướng về những người dòng họ Thích nói:
- Nếu như lời của tôi không thật thì lửa sẽ thiêu chết, thật đứa bé này chính là con của Bồ-tát. Vì lời của tôi chân thật nên thoát khỏi nạn lửa thiêu!
Có người dòng họ Thích nói:
- Nhìn hình tướng của nàng ta không hề kinh sợ, nhìn hầm lửa này đã biến thành ao nước mát, thì biết nàng vô tội!
Bấy giờ, cả dòng họ Thích đưa Da-du-đà-la trở về hoàng cung, càng cung kính nàng gấp bội, liền tìm nhũ mẫu chăm sóc con bà, giống như lúc mới sinh. Vua Tịnh Phạn càng thương yêu, quý trọng hơn nhiều, hễ không thấy La-hầu-la thì vua không ăn uống gì được. Mỗi khi nhớ đến Bồ-tát, vua liền ẵm bồng La-hầu-la để vơi đi nỗi nhớ.

Phần 4

Sáu năm trôi qua, vua Tịnh Phạn quá thương nhớ Phật, sai người đến thỉnh Ngài. Vì thương xót, Đức Phật trở về cố hương. Khi đến cung dòng họ Thích, Đức Phật biến một nghìn hai trăm năm mươi vị tì-kheo đều giống như thân Phật, hào quang như nhau. Da-du-đà-la nói với La-hầu-la:
- Con xem vị nào là cha thì hãy đến bên cạnh vị ấy!
Lúc ấy, La-hầu-la liền đỉnh lễ Đức Phật xong, đến đứng ngay bên chân trái của Như Lai. Như Lai liền dùng bàn tay xoa đỉnh La-hầu-la rồi nói bài kệ:
Đối tất cả thân thuộc
Và cả La-hầu-la,
Ta không chút thiên vị,
Chỉ dùng tay xoa đầu.
Ta đã diệt kiết sử,
Yêu ghét đã dứt sạch
Các người chở hoài nghi
Với đứa con của ta
Cũng nên cho xuất gia
Làm Pháp tử cùa ta.
Lược nói công đức này
Xuất gia học chân đạo
Sẽ thành A-la-hán! ”
Có bài tụng rằng:
Gió nghiệp thường thổi mạnh
Sóng biển khổ thét gào
Đẩy ta trôi đây đó
Lìa xa thành Niết-bàn
Bỗng gặp thuyền Từ đến
Chở ta thoát biển này.
Thật biết kính mộ bạn
Răn lỗi chuyển phàm tình
Tội cấu trừ sạch hết
Châu sáng rọi tối tăm
Thích môn, cảnh rực sáng
Thế sự khổ buộc ràng
Mong trừ năm ấm cái
Mới biết nhẹ sáu trần
Nếu chẳng nương xe báu
Làm sao diệt lừa phiền?
46.3. CẢM ỨNG
46.3.1. Đời Tống, sa-môn Thích Tăng Bao: Sư người Kinh Triệu, trụ chùa Kì-hoàn, kinh đô, thuở nhỏ thụ học nơi ngài La-thập ở Quan Trung. Trong khoảng niên hiệu Vĩnh Sơ (420-423) đời Tống, sư đến trú tại tinh xá Hoàng Sơn, rồi theo hai sư Tĩnh và Định tu tập; cũng tại nơi đây, sư lập trai sám Phổ Hiền hai mươi mốt ngày. Đến ngày thứ mười bảy có một con hạc trắng bay đến đậu trước tòa bồ-tát Phổ Hiền, đến trưa khi dâng hương xong thì bay đi. Đến chiều tối ngày thứ hai mươi mốt, có bốn người mặc áo vàng đến nhiễu tháp mấy vòng rồi biến mất.
Lúc nhỏ sư đã có chí tiết, nay lại thêm điềm lành cảm hiện, cho nên càng siêng năng tu tập. Hằng ngày sư tụng hơn vạn lời kinh, lễ Phật mấy trăm lạy. về sau sư xuống kinh đô, gặp lúc chùa Kì-hoàn khai hội giảng pháp, tăng chúng nhóm họp rất nhiều, quan dân tụ hội đông đảo. Bấy giờ sư cưỡi lừa, áo quần rách rưới, dáng vẻ phong trần, không một ai biết sư. Giảng đường chật ních, sư cưỡi lừa đứng bên ngoài dự nghe. Khi pháp sư giảng đề xong, sư muốn phát biểu vài lời, pháp sư hỏi:
- Khách tăng pháp danh là gì?
- Tên là Bao. Sư đáp.
- Bao trọn đến đâu?
- Có thể bao luôn người trên tòa cao. Sư đáp.
Sau đó sư thưa hỏi thêm vài ba câu, đều là những điều mà các bậc tiền bối không thể suy nghĩ đến. Pháp sư không giải đáp được bèn thoái tòa. Vương Hoằng, Phạm Thái... nghe luận nghĩa, đều ca ngợi tài trí, sức tư duy của sư, xin được cùng đàm luận. Sau đó thỉnh sư trụ chùa Kì-hoàn, khai giảng các kinh, liên tiếp nhiều hội. Tạ Linh Vận người quận Trần nghe đạo phong của sư liền tìm đến, thấy sư có thần khí cao siêu, nên vô cùng thán phục.
Có người hỏi sư: Tạ công thế nào?
Sư đáp:
- Tạ công, về tài thì có dư, nhưng về hiểu thì chưa đủ, có lẽ tự thân không nỗ lực.
Có lần sư đi trên đường gặp sáu tên cướp bị bắt, sư thuyết pháp và dạy chúng niệm danh hiệu Quán Thế Âm. Sau đó, đến lúc lâm nguy, chúng khẩn thiết xưng niệm, bỗng nhiên những người áp tải uống rượu say mềm, các tên cướp bẻ gông cùm trốn thoát.
Trong khoảng niên hiệu Nguyên Gia (424-454) đời Tống, sư thị tịch.
46.3.2. Đời Tống, Thích Tăng Viễn, chùa Tiết Hà, Lương châu: Không biết sư người nơi nào, bản tính phóng khoáng, không tu giới hạnh, thích lãng du, yến ẩm. Niên hiệu Vũ Bĩnh thứ năm (574), sư mộng thấy một người cao lớn nghiến răng mắng:
- Ngươi là người xuất gia mà mặt mày như thế, lại buông lung tạo ác, sao không soi gương xem thử mặt mình!
Sư giật mình tỉnh thức, hoảng sợ toát mồ hôi. Đến sáng sư soi mặt trong thau nước, thấy quanh mắt có các điểm đen, sư cho là cáu bẩn mới dùng nước lau rửa, nhưng lông mày theo tay rơi rụng hết. Sư tự trách, không biết làm sao với tai họa này. Sau đó sư thay đổi lối sống, đổi hình dạng chuyển tính tình, mặc áo vải thô, mang đôi giày rách, ngày ăn một bữa, trường trai giữ giới, nghiêm hành luật nghi, sáng tối sám hối, cảm xúc lệ tuôn tràn. Trải qua một tháng, người hôm trước lại nhập mộng, mỉm cười bảo:
- Phạm lỗi mà biết sửa chính là người trí. Tha tội trước cho ngươi, từ nay không được tái phạm!
Sư vừa mừng vừa sợ, tỉnh giấc, toàn thân toát mồ hôi, diện mạo tươi nhuận, lông mày dần dần mọc lại. Trong một đời sư cảm báo hai lần, thế mới tin biết khổ vui trong ba đời thật không dối. Từ đó về sau, sư dốc lòng tu tập, không phút giây biếng trễ, nhân dân trong vùng đều qui hướng về sư. Sau sư tịch tại nơi đây.
46.3.3. Đời Tùy, Thích Hồng Hiến: Sư xuất gia từ thuở nhỏ, trụ chùa Đại Từ, Tương châu. Sư sớm thông hiểu luật nghi, nhưng vì quá lao nhọc nghiên cứu tụng đọc, nên hai mắt bị mù. Do không có người dẫn đường, nên sư luôn ở trong phòng, sáng tối lễ Phật, tụng kinh, không bao giờ phế bỏ.
Niên hiệu Khai Hoàng mười bốn (594), một hôm cảm hiện đến một vị thần tự xưng là Bát-nhã đàn việt đến cầu thụ giới, luận đàm mấy câu. Bấy giờ thiền sư Tăng Cang đến trai đường thụ thực, Bát-nhã bèn lấy vải y của vị này đến cúng dường cho sư và thưa:
- Sư lập pháp sự rất lao nhọc, sẽ được lợi ích rất lớn. Nay đệ tử kính dâng y vật, xin thầy thụ nhận!
Sư nhận rồi cất vào rương. Lát sau Tăng Cang thụ thực xong, trở về phòng, thấy mất y, bèn lục soát khắp chùa thì phát hiện y trong rương của sư. Sư thuật lại sự việc, Tăng Cang không tin, nghi sư lấy cắp. Vị thần bèn phá nát y phục, mùng mền, bàn ghế trong phòng của Tăng Cang và vứt khắp sân, nào gậy, quạt, thước, gãy thành mấy đoạn. Trên hư không, vị thần vọng xuống:
- Tăng Cang không thích lập trai hội cúng dường Tam bảo, ta sẽ gây họa cho ông, không tha cho ông đâu!
Sư cảm được minh báo, nói chuyện với Bát-nhã giống như người mắt sáng. Thần nói với Bát-nhã:
- Đồng bạn của đệ tử rất nhiều, đều ở trên sông Tử Mạch, chỉ ba mươi người đi theo, có thể bảo nhà chùa chuẩn bị thức ăn.

Phần 5

Tăng chúng lập hội tại Tây viện. Thần nói:
- Rất tốt! Bày biện thức ăn thức uống tốn phí của các thầy, nhưng Tăng Cang không tham gia, sau này sẽ làm cho biết!
Cang vô cùng sợ hãi, không biết phải làm sao, bèn xuất tư tài tổ chức trai hội. Bát-nhã nói:
- Đã có thể tạo phúc, thì ta tha cho thầy!
Thần trao cho sư hai tấm lụa và thưa:
- Một tấm cúng dường đại chúng, một tấm tặng cho Tăng Cang.
Sư ở trước chúng nhận được hai tấm lụa, mọi người đều thấy nghe; sư theo lời giao phó mà thực hiện. Từ đó, Tăng Cang sám hối lỗi lầm, siêng năng tụng kinh, về sau sư thị tịch tại chùa này.
47. CHƯƠNG HÒA THUẬN
47.1. LỜI DẪN
Phàm thiện với ác đối nghịch; nếu nói và làm trái nhau thì sinh ra họa, dẫn đến oán hận sâu. Nhưng nói thì dễ mà làm mới khó. Cho nên cương nhu phải điều hòa, nghịch thuận nên hợp tính. Thí như đúc kiếm, cứng quá thì dễ gãy, mềm quá thì dễ cong; muốn cho kiếm không gãy thì pha thêm thiếc, muốn kiếm không cong thì trộn thêm vàng. Vì sao? Vì tính chất của vàng thì cứng, còn thiếc thì mềm. Cương nhu quân bình thì mới tốt, bản tính nhu hòa mới thiện lương. Cho nên La-vân tu mật hạnh tự điều phục, đươc Đức Phật khen mà có tiếng tốt; Đạt-đa hành hạnh thô luôn ác độc, bị chúng chê mà tội hiển bày.
Sách thế gian có ghi: “Tây Môn Báo tính tình nóng nảy, nên luôn mang cành lau để tự răn nhắc mình phải trầm tỉnh; Đổng An Vu tính chậm chạp, nên phải mang dây cung để tự nhắc lòng phải nhanh nhẹn. Do đó, âm dương điều hòa là sự dung hợp của trời đất, cương nhu quân bình là bản tính của người vật.
47.2 DẪN CHỨNG
Kinh Mật Tích Kim Cang lực sĩ ghi: “Vua A-xà-thế thưa hỏi Thế Tôn:
- Bậc bồ-tát nhân từ hòa hiếu có mấy pháp để lúc giao tiếp đối xử luôn giữ được vẻ hòa nhã, không khởi ác tâm?
- Bậc bồ-tát nhân từ hòa hiếu nên thực hành tám pháp: một, tâm tính ngay thẳng, không dua nịnh; hai, tính hạnh hòa nhã, không gian trá; ba, tâm địa thuần lương, không hư dối; bốn, tâm hạnh vững chắc, không yếu mềm; năm, không mê lầm, có lòng nhân hòa; sáu, làm nơi nương tựa cho thế gian, giúp họ được đức hạnh tốt đẹp; bảy, tâm trí thông đạt mà không chấp trước; tám, suy xét rõ tội phúc mà tâm không có ý niệm phân biệt.
Vua A-xà-thế lại bạch: ‘Bạch đức Thế Tôn! Bồ Tát có bao nhiêu công hạnh mà được thế lực cực lớn như vậy?’.
Đức Phật dạy: ‘Bồ Tát có mười hạnh lớn mà được oai lực ấy:
- Thà bỏ thân mạng chứ không phế bỏ việc thụ trì chính pháp.
- Chưa từng tự cao tự đại, luôn khiêm hạ lễ kính chúng sinh.
- Gặp chúng sinh cang cường khó dạy bảo, thì nhẫn nhục chịu đựng.
- Thấy người đói khát thì bố thí món ăn ngon để cho họ được no đủ.
- Thấy kẻ sợ sệt thì an ủi cho họ được an.
- Nếu có chúng sinh bị bịnh nặng thì lo thuốc men chạy chữa.
- Nếu có ai yếu đuối, ai bị người khinh thì bô-tát kính mến, xót thương để không ai xem thường.
- Lấy đất sét sạch vá chỗ nứt bể trên vách điện thờ Phật.
- Thấy người cô độc nghèo khổ thường mang vác nặng, thì giúp cho họ thoát gánh nặng khổ sở.
- Nếu có người không ai bảo vệ, không nơi nương tựa thì luôn giúp đỡ họ, giữ đúng lời không hề quên bỏ hay thay đổi”.
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Nếu có chúng sinh thấy bạn bè thân thuộc phá hoại lẫn nhau, gây ra oán thù, mà giúp họ hòa hợp thì sau khi mạng chung sẽ sinh lên cõi trời Dục Ái, tùy ý niệm, năm dục liền hiện để thụ hưởng. Nếu có chúng sinh thấy người bị kẻ khác cướp đoạt, sắp phá sản mà cứu họ thoát được, hoặc ở nơi hiểm nạn dạy người tu theo chính đạo, hoặc nơi sợ hãi giúp người được an ổn, thì khi mạng chung sẽ sinh lên cõi trời Chính Hành, được thiên nữ cúng dường, thụ hưởng năm dục. Nếu sinh vào loài người, người ấy sẽ sinh vào nhà đại trưởng giả chính kiến. Nếu người nào tâm nhu hòa, xa lìa tất cà phiền não, thì niết-bàn giải thoát đã trong lòng tay. Người nhu hòa thì tâm như bạch lạp, tu tập nghiệp thiện, được mọi người tin. Người ác độc thì tâm như thép, luôn kết oán thù, hành vi không thuần thiện, bị mọi người ghét, không ai ưa thích và tin tưởng.
Bồ-tát Khổng Tước thuyết kệ:
Người tâm tính nhu hòa
Như vàng đã luyện thành
Trong ngoài đều thuần thiện
Chóng thoát được khổ đau.
Người thân tâm điều phục
Tất cả đều nhu hòa
Người này sinh giòng thiện
Giống ruộng phúc tốt lành. ”
Kinh Ha-điêu A-na-hàm ghi: “A-na-hàm có tám việc không muốn cho người khác biết: không mong cầu, tin, tự thẹn với mình, tự thẹn với người, tinh tiến, tự quán xét, được thiền định, có trí tuệ sáng tỏ. Sở dĩ không muốn cho người khác biết, vì không muốn gây phiền nhiễu cho họ”.
47.3. THUẬN HÒA BỐ THÍ
Kinh Phật thuyết Nhất Thiết Thí vương sở hành đàn ba-la-mật ghi:
Cách đây vô ương số kiếp ở quá khứ có một đại quốc vương tên là Tát-hòa-đạt. Vị vua này luôn bố thí thuận theo lòng mong muốn của người đến xin, không bao giờ làm trái ý họ.
Bấy giờ tại một quốc gia khác, có một bà-la-môn mồ côi cha từ thuở nhỏ, nhà rất nghèo, đang sống với mẹ và các chị em. Một hôm người mẹ nói:
- Nhà ta khốn cùng không biết lấy gì để sống. Khi cha con còn sống, ông ấy thường đến vua Tát-hòa-đạt xin tài vật đem về chi dụng. Ngày nay sao con không đến vị vua ấy để cầu xin tài vật?
Người con trả lời:
- Con chưa hiểu biết gì, phải học tập rồi mới đến gặp vua!
Người mẹ lại hỏi:
- Nay trong nhà ta không còn gì mà con nói học xong mới đi. Vậy sau khi con đi, gia đình lấy gì sinh sống?
Người con đáp:
- Con sẽ tạm mượn một lượng vàng, mua lương thực cho một năm.
Người mẹ đồng ý, thế là người con đi mượn được một lượng vàng, đem về trao cho mẹ, mới rời nhà học tập. Vừa tròn một năm, người con trở về. Thấy con về, người mẹ hỏi:
- Con đã đến chỗ vua Nhất Thiết Thí chưa?
- Học chưa thông, con cần phải học thêm mới được.
- Số vàng đã hết, nay phải làm sao?
- Con sẽ mượn tiếp!- Người con đáp.
Người con lại đến chỗ đã mượn lần trước hỏi mượn thêm một lượng vàng. Chủ nợ nói:
- Số vàng ngươi mượn lần trước còn chưa trả, nay lại muốn mượn tiếp sao? Nếu ngươi thật muốn có vàng, thi mang mẹ và các chị em ngươi ra lập ước mới được. Nếu đến lúc đó ngươi không trả, ta sẽ sung mẹ và các chị em ngươi làm nô tì.
Người con chấp nhận, lập ước xong, người con nhận vàng mang về cho mẹ, rồi rời nhà học tập. Một năm sau sở học tạm thông, người con định trở về báo với mẹ là đã đến lúc gặp vua Nhất Thiết Thí. Nhưng trên đường đi, người con bị chủ nợ bắt

Phần 6

cùng với mẹ và các chị em. Tất cả đều được dẫn về nhà chủ nợ cùm chân. Bấy giờ người con nói:
- Dù ông có trói ta ở đây suốt đời cũng không có ích gì, chi bằng thả ta ra, ta sẽ đến vua Nhất Thiết Thí xin tài vật, nếu được ta sẽ trả hết cho ông!
Chủ nợ suy nghĩ rồi thả người con ra đi. Bấy giờ vua một nước khác muốn khởi binh đánh chiếm nước của vua Nhất Thiết Thí. Nghe tin, các quan tâu: “Nay có nước kia đem binh xâm phạm, không biết đại vương có kế gì?”. Vua Nhất Thiết Thí liền suy nghĩ: “Mạng người quá ngắn ngủi, rồi sẽ trở về vô thường. Từ nhỏ đến nay ta chỉ thích bố thí, từ bi, nhân ái, nhẫn nhục, không có ý niệm làm tổn hại ai, không muốn kháng cự vua kia. Vì sao? Chỉ vì một mình ta mà phải động đao binh, dẫu có chân chính đi nữa, ta cũng không nên làm”.
Thế là vua bảo quần thần không cần đề phòng, cũng không nên sợ hãi, chỉ cần chuẩn bị xuất thành nghinh đón, hành lễ, cung kính phụng sự, nhận lãnh lời giáo huấn của vua ấy, xem hơm cả mình nữa. Quân thần hỏi vua tại sao quân giặc đến lại không phòng bị, vua im lặng. Họ hỏi ba lần như thế, vua đáp: “Không cần kháng cự, hãy làm như lời ta đã nói!”. Quần thần đều nói: “Đại vương đã lịnh không chuẩn bị, chúng thần đều tuân mệnh!”. Vua nói: “Tốt lắm! Các khanh hãy an tâm về nhà, chớ lo lắng nhọc mệt!”.
Nửa đêm hôm ấy, vua cởi ấn tín để lại, âm thầm ra đi. Vua nước kia vào thành đoạt lấy vương vị rồi ra lệnh ban thưởng trong hậu cho người nào tìm bắt được vua Nhất Thiết Thí. Bấy giờ vua đã cách thành hơn năm trăm dặm đường, từ xa nhìn thấy một bà-la-môn, vua suy nghĩ: “Nhất định người này đến cầu xin ta”. Bà-la-môn cũng suy nghĩ: “Lẽ nào người này là vua Nhất Thiết Thí!”. Hai người cùng tiến về phía trước, khi giáp mặt thì cùng dừng lại. Vua hỏi:
- Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?
Bà-la-môn đáp:
- Tôi muốn đến gặp vua Nhất Thiết Thí.
Vua hỏi:
- Đến gặp ông ấy để cầu những gì?
- Tôi mất cha từ nhỏ, nhà lại rất nghèo, đã đem mẹ và các chị em lập ước mượn nợ. Nay tôi muốn đến vua Nhất Thiết Thí cầu xin tài vật về chuộc lại họ, và cũng để lại một ít làm vốn mưu sinh!
- Ta chính là vua Nhất Thiết Thí.
- Tùy tùng đâu hết mà chi có mình ngài?
- Vua nước khác đến chiếm, nên ta lánh đi. Vì sao? Vì ta không muốn nhân dân và quân lính bị tổn hại_Vua đáp.
Bà-la-môn nghe vua nói, liền té ngã trên đất, kêu gào khóc lóc không thể kềm chế. Vua đến dùng lời an ủi khuyên bảo, đỡ đứng lên.
- Ngươi không Cần phải khóc, ta sẽ thỏa mãn điều mà ngươi mong cầu.
- Nay ngài đã mất nước, lấy gì để cho tôi?
- Vua nước kia trọng thưởng cho ai bắt được ta, nay ngươi có thể cắt đầu ta mang đến đó, thì ước nguyện của ngươi sẽ thành_Vua đáp.
Nghe thế, bà-la-môn liền nói kệ:
Người đời giết cha mẹ
Mang tội đọa địa ngục
Nay làm hại vua này
Tội lỗi cũng không khác
Tôi nay thật không nỡ
Làm tổn hại đại vương
Thà bỏ thân mạng này
Chứ không tạo việc ác.
Vua Nhất Thiết Thí nói:
- Nếu ngươi không dám cắt đầu ta, thì có thể cắt tai, mũi đưa đến cũng được thưởng, nhưng e rằng không hợp ý vua kia.
Bà-la-môn nói:
- Tôi không nỡ làm việc này.
- Nếu không, ngươi có thể trói ta rồi dẫn đến trao cho vua kia. Như thế chắc được trọng thưởng.
Bà-la-môn có khả năng xem tướng, biết vua Nhất Thiết Thí không bị vua kia sát hại, lại còn trở lại làm vua, nên nói:
- Ngài thật muốn như thế, thì chúng ta cùng trở về, nhưng gần đến cung thành mới trói.
Thế là hai người cùng trở về, cách thành hai mươi dặm, vua cho là đã gần đến, liền tự bẻ quặt hai tay ra sau rồi bảo: “Ngươi hãy trói ta đi!”. Bà-la-môn liền trói vua. Nhân dân cả nước thấy vua Nhất Thiết Thí bị một Bà-la-môn nước khác bát trói dẫn về, thì già trẻ, gái trai đều kêu gào khóc lóc, té ngã trên đất, thảm thương hơn cả mất cha mẹ. Vừa dẫn đến cung, các quan vào tâu:
- Vua Nhất Thiết Thí đã bị một bà-la-môn bắt trói dẫn về, hiện đang đứng ngoài cửa cung.
Vua kia bảo dẫn vào. Vua kia cùng quần thần và quyến thuộc thấy Nhất Thiết Thí đến thì đều khóc lóc, ngã quị trên đất. Vua kia vừa khóc vừa hỏi các quan:
- Tại sao các ngươi khóc?
- Vì chúng tôi thấy vua Nhất Thiết Thí lúc trước để đất nước cho đại vương, bây giờ lại thí thân này cho bà-la-môn, mà không hối tiếc, cho nên khóc.
Vua ấy nghe các quan nói xong thì kêu gào khóc lóc, ngã quị trên đất, không tự kềm chế minh. Ông lại hỏi bà-la-môn:
- Làm thế nào ngươi bắt được vua này?
Bà-la-môn thuật lại toàn bộ sự việc trên, nghe xong vua kia càng khóc lóc thảm thương hơn, vội bảo các quan mau mở trói cho vua Nhất Thiết Thí, đưa đi tắm rửa, thay y phục, đeo ấn tín, lập lại làm vua. Thế là Nhất Thiết Thí ngồi lên tòa cao, xử lí việc nước như cũ. Vua kia quì gối chắp tay ca ngợi rằng:
Tại bản quốc được nghe
Đức của vua cao tột
Hôm nay đến nơi đây
Thấy còn hơn lời ấy
Công đức cao vòi vọi
Thí như núi vàng rồng
Sức bền chắc như vậy
Không gì lay động được
Nay thấy công hạnh vua
Thế gian thật hiếm có
Xin trả lại nước này
Và dâng cả nước tôi
Xin được về bản quốc
Kính lễ như quân thần
Không dám sinh kiêu mạn
Thờ vua như trời cao.
Đức Phật dạy các tì-kheo:
"Vua Nhất Thiết Thí ngày ấy chính là Ta; vua nước kia, nay chính là Xá-lợi-phất; bà-la-môn kia, nay chính là Điều-đạt. Người giúp ta thành tựu sáu ba-la-mật, đầy đủ tướng quí và vẻ đẹp chính là Điều-đạt. Điều Đạt là thiện tri thức của Ta, cũng là thầy giỏi của Ta. Trải qua a-tăng-kì kiếp về sau, Điều-đạt sẽ thành Phật hiệu là Đề-hòa-la-da”.

Phần 7

47.4. HÒA GIẢI QUỐC GIA
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Đức Phật kể:
Vào thời quá khứ xa xưa, vua nước Tì-đề-hê có một con voi đực lớn, nhờ sức của voi đực lớn này mà dễ dàng đẩy lùi quân của vua Ca-thi. Vua Ca-thi suy nghĩ: ‘Nay ta làm thế nào để có một voi lớn hầu đánh dẹp quân của Tì-đề-hê?’. Bấy giờ có người nói:
- Thần thấy trong núi có một con voi đực trắng lớn.
Vua Ca-thi nghe nói vậy, liền chiêu mộ:
- Ai có thể bắt được voi đực trắng lớn kia, ta sẽ trọng thưởng!
Có một người nhận lời, dẫn nhiều quân lính đến vây bắt voi đực lớn kia. Voi liền suy nghĩ: ‘Nếu ta trốn đi xa, thì cha mẹ già mù sẽ không có ai phụng dưỡng, chi bằng ta hãy thuận theo họ đến chỗ vua!’. Bấy giờ mọi người bèn dẫn voi đực về, vua Ca-thi rất vui mừng, liền sai làm nhà đẹp, trải thảm lông thú, lại cho các kĩ nữ khảy đàn để làm vui. Nhưng đến khi cho ăn thì voi không chịu ăn. Người giữ voi đến tâu với vua:
- Tâu Bệ hạ! Voi không chịu ăn!
Vua liền đích thân đến. Loài súc sinh thời thượng cổ đều nghe hiểu được tiếng người, vua hỏi voi:
- Vì sao ngươi không chịu ăn?
Voi đáp:
- Tôi còn cha mẹ già nua, hai mắt mù lòa, lại không có người lo ăn uống. Cha mẹ tôi không có ăn, làm sao tôi ăn được! Vì cha mẹ tôi đã già lại bị mù, nên tôi tự nguyện đến đây, chứ các quân lính của bệ hạ không thể ngăn cản tôi được. Bệ hạ hãy cho tôi trở về lo phụng dưỡng đến khi thọ mạng của cha mẹ hết, thì tôi sẽ tự trở lại!
Vua nghe voi nói như vậy, trong lòng rất cảm kích:
- Quả thật, chúng ta đều là voi mang đầu người; còn con voi này, chính là người mang đầu voi!
Trước đây, nhân dân trong nước Ca-thi đều xem thường cha mẹ, không cung kính. Do con voi hiếu thảo cha mẹ này, vua liền ban lịnh: ‘Tất cả người dân trong nước, nếu ai không hiếu dưỡng, cung kính cha mẹ thì sẽ bị kết tội nặng!’. Thế là, vua thả voi trở về với cha mẹ.
Khi trở về rừng, voi phụng dưỡng cho đến lúc cha mẹ đều qua đời. Sau đó, voi trở lại chỗ vua. Vua rât mừng, lập tức trang bị chỉnh tề, xuất quân chinh phạt nước Tì-đề-hê. Voi nói với vua:
- Không nên gây chiến tranh! Bởi vì khi đánh nhau, rất nhiều người bị thương vong!
Vua nói:
- Vì nước kia khinh thường ta!
Voi nói:
- Cho phép tôi làm sứ, khiến nước kia không dám khinh thường nước ta nữa!
Vua nói:
- Nếu ngươi đi, e rằng ngươi không trở về được?
Voi đáp:
- Không ai có khả năng ngăn cản tôi trở về cả!
Nói xong, voi liền đi đến nước kia, vua Tì-đề-hê
nghe tin voi đến, lòng rất vui mừng, đích thân đến đón. Khi thấy voi, vua nói:
- Có phải ngươi muốn đến ở với nước ta chăng?
Voi nói:
- Không phải! Vì từ khi lập thân đến nay, tôi chưa từng trái lời thề, tôi đã hứa với vua Ca-thi sẽ trở về. Các ngài nên dẹp bỏ oán cừu thì hai nước sẽ được bình an, há không vui hơn sao?

Voi liền nói bài kệ:
Thắng thì thêm thù oán
Thua lại lắm khổ sầu
Không tranh giành thắng bại
Là niềm vui bậc nhất!
Khi voi nói bài kệ xong, liền quay về nước Ca-thi. Từ đó về sau, hai nước hòa giải, thân thiện với nhau.
Vua nước Ca-thi bấy giờ, nay chính là vua Ba-tư-nặc; vua Tì-đề-hê chính là vua A-xà-thế. Voi trắng thuở ấy, nay chính là Ta. Thời đó, nhờ Ta hiếu dưỡng cha mẹ, nên khiến cho nhiều chúng sinh cũng noi theo hiếu dưỡng cha mẹ. Thuở ấy, Ta đã giúp cho hai nước hòa giải, thân thiện, ngày nay cũng thế!”.
47.5. HÒA THUẬN TRONG CÔNG VIỆC
Luật Tăng-kì ghi: “Đức Phật dạy các tì-kheo:
Vào thời quá khứ có một tòa thành tên là Ba-la-nại, thuộc nước Già-thi. Bấy giờ một bà-la-môn trong thành có loại đậu ma-sa để lâu năm, nấu mãi không chín, người này bèn mang đậu ra chợ bán, nhưng không ai mua. Lúc ấy trong chợ cũng có một người bán con lừa ngang bướng chai lì, nhưng cũng chẳng hi vọng gì. Người bán đậu suy nghĩ: ‘Ta nên dùng đậu này đổi lấy con lừa’. Thế là ông đến nói với người bán lừa:
- Ông có thể đổi con lừa cho ta để lấy đậu chăng?
Người kia suy nghĩ: ‘Để con lừa ngang bướng này làm gì, ta nên đổi nó lấy đậu’. Thế là ông ta liền đáp: ‘Cũng được!’. Đổi được lừa, người bán đậu rất vui, ông nghĩ nay mình đã có lừa, ông liền nói kệ:
Phép Bà-la-môn khéo bán buôn
Đổi lấy đậu đã mười sáu năm
Luống hết củi rồi mà chẳng chín
Già trẻ nhà ông gãy hết răng!
Chủ lừa vội nói kệ:
Bà-la-môn ông có gì vui
Tuy đủ bốn chân lông cũng đẹp
Vác nặng đường xa, ông nên biết
Dùi đâm, lửa đốt cũng chẳng đi.
Người bán đậu lại nói kệ:
Con độc sinh nghìn năm
Đầu mang sừng bốn tấc
Trị được lừa bướng lì
Lo gì không thuần phục
Con lừa ngang bướng nghe nói, nó cũng nói kệ:
Đứng thẳng hai chân trước
Song phi hai chân sau
Gãy hết hàm răng ông
Lúc đó ông mới biết
Người bán đậu liền nói kệ với lừa:
Muỗi mòng trùng độc chích
Chỉ vểnh đuôi tự phòng
Nay ta chặt đứt đuôi
Cho ngươi nếm đau khổ.
Lừa nói kệ:
Xưa nay tổ tiên tôi
Thường ngang bướng như vậy
Nay tôi học tính ấy
Dù chết cũng không lìa.
Người bán đậu biết con lừa này ngang bướng không thể dùng lời cay độc chuyển đổi, nên dùng kệ khen:
Tiếng kêu cũng thật hay
Mặt trắng như ngọc, tuyết
Sẽ cưới vợ cho ngươi
Cùng dạo chốn lâm tuyền.
Lừa nghe lời hòa dịu, liền nói:
Sức tôi mang tám đấu
Ngày đi sáu trăm dặm
Bà-la-môn biết rằng
Nghe cưới vợ, tôi vui ”.
Có bài tụng:
Tính nhân ái nhu hòa
Hiền ngu đều gần gũi
Lòng tham thêm độc ác
Người vật đều lánh xa.
Bên ngoài trái phép thường
Nội tâm thuận hằng đạo
Muôn đời sẽ vang danh
Nghìn thu tồn tại mãi.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục