PUCL QUYỂN 50 - CHƯƠNG BÁO ÂN, QUÊN ÂN, TRÁI ÂN
27/11/2015
QUYỂN 50 Quyển này gồm hai chương: Báo ân, Quên ân-trái ân. 51. CHƯƠNG BÁO ÂN 51.1. LỜI DẪN Ân Phật thật sâu nặng, phủ mây từ che mát bốn loài; giáo hóa khắp mười phương, xem chúng sinh như con một. Người kém cũng được t...

QUYỂN 50
Quyển này gồm hai chương: Báo ân, Quên ân-trái ân.
51. CHƯƠNG BÁO ÂN
Ân Phật thật sâu nặng, phủ mây từ che mát bốn loài; giáo hóa khắp mười phương, xem chúng sinh như con một. Người kém cũng được thấm nhuần; bậc trí vẫn mong dạy dỗ. Vì thế, vua Ưu-điền tạc tượng chiên-đàn, tượng phóng quang rực rỡ; vua Ba-tư-nặc đúc tượng vàng, tượng rời tòa đến đỉnh lễ Phật.
Từ đó về sau, điềm lành nhiều lần ứng hiện, tiếng tốt đồn xa, người người qui hướng. Niệm Phật thì tội diệt phúc sinh; kính Phật thì đức vang thiên cổ. Như Lai nuôi dưỡng Pháp thân của ta, cha mẹ nuôi nấng nhục thân của ta. Đã dạy tu nhân trường thọ, không giữ mạng phù du, thì ân nghĩa nặng sâu, cần phải báo đáp.
51.2. DẪN CHỨNG
Kinh Chính pháp niệm ghi: “Có bốn ân khó báo: một, ân mẹ; hai, ân cha; ba, ân Như Lai; bốn, ân thầy. Nếu người nào cúng dường cha, mẹ, Như Lai và thầy thì phúc báo vô lượng, đời này được mọi người khen ngợi, về sau sẽ chứng quả Bồ-đề”.
Kinh Đại bát-nhã ghi: “Nếu có người hỏi:
- Ai là người biết ân và báo ân?
Nên đáp ngay rằng:
- Phật là người biết ân và báo ân.
Vì sao? Vì trong thế gian không ai biết ân và báo ân như Phật”.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: “Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Nếu người biết ân và báo ân thì dù ân nhỏ còn không quên, huống gì ân lớn. Người ấy thật đáng kính. Hạng người như thế dẫu có cách trăm nghìn do-tuần cũng như ở gần bên Ta, Ta thường khen ngợi. Nếu có chúng sinh không biết ân và báo ân thì ân lớn còn không nhớ huống gì ân nhỏ. Người ấy không thể gần Ta, Ta cũng không gần người ấy. Dầu người ấy có đắp tăng-già-lê ở bên Ta, nhưng vẫn cách xa Ta. Thế nên, tì-kheo phải luôn luôn nhớ ân và báo ân, chớ học theo thói vong ân”.
Kinh Xá-lợi-phất vấn ghi: “Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
- Vì sao Như Lai nói không thể không báo đáp ân cha mẹ, lại nói ân sư trưởng không thể tính lường, vậy ân nào lớn nhất?
Đức Phật dạy:
- Người tại gia thì ở gần cha mẹ để hầu hạ phụng dưỡng, chớ cho rằng ân thầy thế tục bằng ân sinh trưởng. Vì ân sinh dưỡng sâu nặng hơn nên nói là lớn. Nếu theo thầy học thế gian, mở mang kiến thức thì đó là ân lớn thứ hai. Người xuất gia lìa bỏ nhà sinh tử của cha mẹ vào nhà Phật pháp, thụ nhận được giáo pháp vi diệu là nhờ công sức của thầy. Thầy chính là người nuôi lớn pháp thân của ta, đem tài sản công đức vun bồi tuệ mệnh của ta, nên ân ấy to lớn vô cùng, hơn cả ân sinh dưỡng”.
Kinh Trung ấm ghi: “Phật hỏi ngài Di-lặc:
- Ở châu Diêm-phù-đề từ khi đứa bé sinh ra cho đến ba tuổi, cho bú hết bao nhiêu sữa?
Ngài Di-lặc đáp:
- Người châu Diêm-phù-đề bú hết một trăm tám mươi hộc sữa và khi còn trong bụng mẹ lấy hết bốn phần thức ăn của mẹ. Người châu Đông Phất-vu-đãi từ khi sinh ra cho đến ba tuổi bú hết một nghìn tám trăm hộc sữa. Người châu Tây Câu-na-ni từ khi sinh ra cho đến ba tuổi bú hết tám trăm tám hộc sữa. Vì ở châu Bắc uất-đơn-việt không có sữa, nên đứa bé châu này khi sinh ra được đặt ở đầu đường, người đi ngang cho mút ngón tay, trải qua bảy ngày thì đã lớn khôn.
Thân trung ấm của bốn châu đều hưởng thụ mùi trong gió mà sống”.
Kinh Nan báo nói: “Nếu có người vai trái vác cha, vai phải mang mẹ, suốt cả nghìn năm, mặc cho cha mẹ tiểu tiện trên lưng, vẫn chưa đền hết công ơn cha mẹ”.
Kinh Tăng nhất A-hàm nói: “Công đức của người hiếu thuận, nuôi dưỡng cha mẹ sánh bằng công đức của vị bồ-tát Nhất sinh bổ xứ”.
Kinh Phật thuyết cổ lai thế thời ghi:
Tì-kheo A-na-luật tự kể lại túc mạng của mình:
- Vào một năm nọ, nước Ba-la-nại mất mùa, lúa gạo vô cùng quí hiếm, nhân dân đói khát. Lúc ấy ta gánh cỏ bán lấy tiền sinh sống. Bấy giờ cũng có một vị duyên giác tên là Hòa Lí đến nước này. Vào buổi sáng ta ra khỏi thành gánh cỏ thì gặp vị duyên giác đắp y ôm bát vào thành khất thực; lúc trở về, tại cổng thành, ta lại gặp Ngài ôm bát không xuất thành. Vị duyên giác từ xa trông thấy ta đến, thì suy nghĩ: “Ta vào thành thì người này xuất thành, bây giờ lại gặp gánh cỏ trở về. Chắc buổi sáng chưa dùng cơm, ta nên theo người này về nhà, xin ít thức ăn để qua cơn đói”.
Ta về đến nhà, đặt gánh cỏ xuống đất, quay lại thấy vị duyên giác đi theo mình không rời. Bấy giờ ta cũng nghĩ: “Buổi sáng ta xuất thành thì gặp vị này vào thành khất thực, bây giờ mang bát không trở về, chắc là không xin được thức ăn, ta nên nhịn bữa này để cóng dường”. Thế là ta vào nhà mang thức ăn đến trước vị duyên giác, quì xuống dâng cho ngài. Ngài xót thương nhận lấy và dạy:
- Nay lúa gạo quí hiếm, nhân dân đói khổ, bữa ăn này ta chia làm hai phần, một phần sớt vào bát, một phần để lại thí chủ dùng, như vậy mới đúng pháp.
Ta liền thưa:
- Thưa vâng! Thánh nhân! Hàng bạch y chúng con sống tại gia, từ từ nấu ăn cũng được, sớm muộn cũng không sao. Xin thánh nhân thụ nhận, thương xót chúng con!
Vị duyên giác thụ nhận hết phần cúng dường ấy. Nhờ công đức này mà Ta bảy lần sinh lên cõi trời làm thiên vương, bảy lần sinh vào cõi người làm bậc tôn quí. Chỉ dâng cúng một bữa ăn mà được vua, được trưởng giả, nhân dân, các quan phụng sự, bốn chúng đạo tục cúng dường. Ai đến cầu ta, ta đều không quên sót.
Kinh Phật thăng Đao-lợi thiên vị mẫu thuyết pháp ghi: “Đức Phật lên cõi trời Đao-lợi, đến bên cội cây Ba-lợi-chất-đa trong ‘Vườn Hoan Hỉ an cư ba tháng hạ, bốn chúng nhóm họp quanh Ngài. Bấy giờ từ lỗ chân lông trên thân Ngài phổng ra nghìn tia sáng rực rỡ chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới. Phu nhân Ma-da thấy vậy, từ nơi ngực tự nhiên tuôn sữa, bà nguyện: ‘Nếu thật là Tất-đạt-đa, con của ta thì dòng sữa này sẽ rót vào miệng!’. Vừa nói xong, hai dòng sữa như hoa sen trắng tuôn thẳng vào miệng Như Lai. Phu nhân vô cùng vui mừng, như hoa sen nở tròn đầy, bà nhất tâm đỉnh lễ, chuyên tinh chính niệm, do đó kết sử tiêu trừ. Đức Phật lại thuyết pháp cho phu nhân nghe, bà liền chứng quả Tu-đà-hoàn.
Thời gian an trụ nơi cõi trời Đao-lợi, Đức Phật đã làm vô số lợi ích cho chư thiên, không thể thuật hết. Ba tháng hạ an cư xong, Đức Phật sắp về cõi Diêm-phù-đề, Ngài phóng những luồng ánh sáng năm màu rực rỡ, Đế Thích biết Phật sắp trở về, liền sai quỉ thần chuẩn bị ba đường thềm báu. Đường ở giữa bằng vàng Diêm-phù-đàn, đường bên trái bằng lưu li, đường bên phải bằng mã não, lan can được chạm trổ vô cùng tinh xảo. Đức Phật nói với phu nhân:
- Pháp sinh tử, hễ có hợp thì có lìa, nay Như Lai phải trở về cõi Diêm-phù-đề, không bao lâu nữa sẽ vào niết-bàn.
Thế Tôn từ biệt mẫu thân, chân vừa đặt lên thềm báu thì Phạm thiên vương cầm lọng quí, Tứ thiên vương đứng hầu hai bên, bốn bộ chúng đồng thanh tán tụng ngợi ca, chư thiên khắp hư không trỗi nhạc, rải hoa, đốt hương theo xuống cõi Diêm-phù-đề. Bấy giờ vua Ba-tư-nặc cùng tất cả quan dân quì trước thềm báu cung đón Thế Tôn. về đến cõi Diêm-phù, Thế Tôn đến ngồi trên tòa sư tử trong tinh xá Kì-hoàn, bốn chúng vây quanh vui mừng không kể xiết”.
Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Phụ vương bạch Phật:
- Ngài nên đến Đao-lợi thuyết pháp cho mẫu thân!
- Nên như phép tắc của Chuyển luân thánh vương, Ta lên nơi ấy thăm hỏi đàn việt._Thế Tôn đáp.
Bây giờ bồ-tát Trì Địa nhập định Thủ-lăng-nghiêm, từ mé kim cang tạo hoa kim cang, từng đóa nối nhau, bốn vị long vương, mỗi mỗi cầm đài bảy báu, bồ-tát Trì Địa làm ba đường thềm báu cho Thế Tôn lên cõi trời. Sau khi vào cung Đao-lợi, từ giữa hai chặng mày, Phật phóng ánh tạo thành lọng báu che bên mẫu thân, lại tạo tòa bảy báu thỉnh bà ngồi”.
Lục độ tập kinh ghi: “Xưa, bồ-tát là một người giàu có, cùa cải vô lượng, thường phụng hiến Tam bảo và có lòng thương xót chúng sinh.
Một hôm đi qua chợ, bồ-tát thấy một con ba ba bị bắt đem bán, động lòng trắc ẩn, bồ-tát bèn hỏi mua. Người bán ba ba biết bồ-tát có lòng từ bi nên nói:
- Giá một trăm vạn lượng.
Bồ-tát nói:
- Tốt lắm!
Thế rồi, bồ-tát đem ba ba về nhà, thả xuống dòng sông. Nhìn nó bơi đi mà lòng bồ-tát vô cùng vui, phát thệ nguyện: ‘Mong cho những chúng sinh gặp nạn được an toàn như ngươi hôm nay’.
Phát nguyện lớn ấy xong, ngài được các Đức Phật khen ngợi.
Vào nửa đêm hôm sau, ba ba đến gặm vào cánh cửa nhà bồ-tát. Nghe tiếng lạ, bồ-tát bèn mở cửa ra xem thì thấy ba ba. Ba ba nói:
- Tôi mang ơn của ngài mà bảo toàn thân mạng, nay không biết lấy gì để đền đáp. Là loài ở dưới nước, tôi biết được sự lên xuống. Nạn hồng thủy sắp xảy ra, sẽ gây thiệt hại rất lớn. Mong ngài mau chuẩn bị thuyền, đến lúc ấy tôi sẽ đến đón.
Bồ-tát nói:
- Tốt lắm!
Sáng hôm sau, bồ-tát vào cung trình bày hết sự việc cho vua nghe. Vua cho rằng bồ-tát trước đây vốn nổi tiếng là người tốt nên tin lời bồ-tát. Liền đó, vua ra lệnh cho di dời từ chỗ thấp đến chỗ cao.
Nước dâng cao, ba ba bơi đến, nói với bồ-tát:
- Ngài hãy mau lên thuyền đi theo tôi sẽ được an toàn.
Thuyền của bồ-tát liền theo sau ba ba. Đi được một đoạn, thấy có con rắn bơi đến thuyền, bồ-tát nói:
- Hãy cứu con rắn.
Ba ba đáp:
- Vâng.
Đi thêm một đoạn, lại gặp một con cáo đang bị nước cuốn trôi, bồ-tát nói:
- Hãy cứu con cáo.
Ba ba cũng đáp:
- Vâng!
Tiến đến đoạn nữa lại gặp một người bị nước cuốn trôi, mặt mày tái nhợt, ngửa mặt lên trời luôn gọi cứu mạng.
Bồ-tát nói:
- Hãy vớt người ấy lên.
Ba ba trả lời:
- Đừng vớt! Người phàm đều dối trá, bất tín, vong ân bội nghĩa, chạy theo quyền thế, làm chuyện phản nghịch.
Bồ-tát nói:
- Loài vật ta còn cứu vớt, huống gì con người, nếu ta khinh rẻ họ thì đâu thể gọi là nhân từ? Ta không thể nhẫn tâm!
Thế rồi, bồ-tát vớt người ấy lên. Ba ba nói:
- Rồi ngài sẽ hối hận!
Thuyền của bồ-tát đã đến được nơi an toàn. Ba ba từ biệt và nói với bồ-tát:
- Ân nghĩa đã đền xong, tôi xin từ biệt.
Bồ-tát nói:
- Khi thành tựu Như Lai, Vô Sở Trước, Chí Chân, Đẳng Chính Giác, Ta sẽ độ ngươi.
Ba ba đáp:
- Thưa vâng!
Ba ba đã cáo biệt, rắn và cáo cũng tạ từ, mỗi con đi mỗi đường.
Cáo đào một cái hang để ở, chợt nó phát hiện có một trăm cân vàng ròng của người xưa chôn cất. Nó vui vẻ tự nói:
- Ta sẽ lấy số vàng này dâng cho bồ-tát để đền ơn.
Cáo đến chỗ bồ-tát thưa:
- Tôi mang ơn ngài cứu giúp mà được bảo toàn . thân mạng. Khi tôi đào hang để ở, gặp được một trăm cân vàng. Hang này không phải gò mả, không phải là nhà, số vàng này chẳng phải do trộm, cũng chẳng phải do cướp đoạt mà có. Tôi xin thật lòng mang đên dâng lên hiền giả.
Bồ-tát suy nghĩ: ‘Ta không nhận thì cũng vất bỏ một cách vô ích, chi bằng tạm nhận rồi phân phát cho những người nghèo, chẳng phải tốt lắm sao!’.
Ngài bèn nhận lấy số vàng ấy. Người được bồ-tát cứu thấy thế nói:
- Hãy chia cho tôi một nửa.
Bồ-tát bèn lấy mười cân vàng chia cho người ấy. Ông ta lại nói:
- Ngài đào mồ để ăn cắp vàng, tội này như thế nào, ngài cũng biết. Nếu không chia một nửa, tôi sẽ báo quan!
Bồ-tát nói:
- Ta muốn chia đều số vàng này cho những người nghèo khổ, ngươi muốn chiếm phần hơn, chẳng phải không công bằng sao?
Người kia liền báo quan. Bồ-tát bị bắt, ngài không biện bạch, chỉ hướng về Tam bảo sám hối lỗi lầm của mình, ăn năn tự trách. Với lòng từ bi Ngài nguyện: ‘Mong cho chúng sinh sớm xa lìa tám nơi nạn, không bị oán kết như tôi ngày nay’.
Rắn và cáo biết tin, bèn họp bàn:
-Việc này nên làm thế nào?
Rắn nói:
- Tôi sẽ đi cứu bồ-tát.
Nói rồi, nó liền ngậm một viên thuốc hay bò vào ngục. Thấy bồ-tát tiều tụy, thân hình bị tổn thương, nên lòng nó vô cùng đau xót. Rắn nói với bồ-tát:
- Ngài hãy mang viên thuốc này bên mình. Tôi tìm cách cắn vào ngón tay thái tử, chất độc của tôi cực độc, không ai có thể giải được. Lúc đó, ngài xin gặp và lấy viên thuốc này giải độc cho thái tử.
Bồ-tát im lặng làm theo lời của rắn.
Lúc bấy giờ, mạng sống của thái tử đang lâm vào tình huống nguy kịch, vua bèn ra lệnh:
- Nếu có ai trị được chất độc cho thái tử, ta sẽ phong làm thừa tướng và cùng ta cai trị đất nước.
Bồ-tát xin vua được trị độc cho thái tử, thái tử liền hoàn toàn bình phục. Vua rất vui mừng, hỏi duyên cớ. Bồ-tát kể hết sự việc cho vua nghe. Vua buồn bã tự trách:
- Ta thật ngu muội.
Sau đó, vua lệnh bắt người kia chém đầu, rồi ra lệnh ân xá cho tội nhân trong cả nước. Đúng như lời hứa, vua phong bồ-tát làm tướng quốc, thỉnh vào cung, đàm luận Phật pháp. Từ đó, đất nước thái bình.Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Người giàu có lúc ấy nay là Ta; vua của đất nước ấy là Di-lặc; ba ba là A-nan; cáo là Xá-lợi-phất; rắn chính là Mục-kiền-liên; người sắp chết đuối ấy là Đề-bà-đạt-đa.
Bồ-tát từ bi, trí tuệ thực hành bố thí ba-la-mật như thế”.
Luận Tân tì-bà-sa ghi: “Thuở xưa, thời vua Ca-nị-sắc-ca nước Kiền-đà-la, có một thái giám quản lí nội cung. Một hôm, ông ra ngoại thành thấy bầy bò năm trăm con đang được đưa vào nội thành. Ông ta đến hỏi chủ đàn bò:
- Đây là loại bò gì?
- Đây là những con bò đang đưa đi thiến._Người chủ đàn bò trả lời.
Thái giám suy nghĩ: ‘Đời trước ta gây nghiệp ác, đời này mang thân hoàng môn. Nay ta nên xuất tiền cứu đàn bò gặp nạn này’.
Thế rồi, ông đến hỏi mua cả đàn bò, cứu chúng thoát nạn. Nhờ năng lực nghiệp thiện vừa làm, ngay đó ông trở lại thành người nam. Lòng vô cùng sung sướng, ông bèn trở về hoàng cung, đứng ngoài cửa hồi lâu rồi nhờ sứ vào thưa xin được gặp vua. Vua lấy làm lạ cho gọi ông vào và hỏi nguyên do. Vị hoàng môn kể lại toàn bộ sự việc. Vua nghe xong, lòng kinh ngạc, nhưng cũng rất vui mừng, ban tặng cho ông nhiều châu báu và phong làm quan lớn quản lí việc ngoài cung”.
Có bài tụng:
Vĩ đại thay! Năng Nhân
Tâm bi độ muôn loài
Tùy cơ cảm ứng hiện
Lòng thương xót dưỡng nuôi
Cáo dâng vàng, rắn cứu
Hoàng môn thân vẹn toàn
Người biết ân, báo đức
Âm thầm được phúc lành.
51.3. CẢM ỨNG
51.3.1. Đời Tống, Ngô Tử Anh: Ông người ở làng Thư, rất giỏi bơi lặn. Một hôm ông bắt được một con cá chép màu đỏ. Vì thích màu sắc của cá rất đẹp, nên ông mang về thả nuôi trong ao nhà, chứ không giết. Hằng ngày ông cho cá ăn lúa gạo, trải qua một năm, cá dài hơn một trượng, đầu mọc sừng và có cánh. Tử Anh vô cùng sợ hãi, lễ tạ. Cá nói:
- Ta đến đây đón ông! Hãy ngồi lên lưng, ta đưa ông lên trời.
Sau một năm, ông trở về gặp vợ con. Sau đó cá lại đến lần lượt đưa bảy mươi người lên trời. Do đó dòng họ Ngô này về sau đều lập đền thờ cá chép thần và Ngô Tử Anh.
51.3.2. Niệm Phật thoát nạn: Vào thời Tống, tại Trung Quốc có một nước nhỏ nằm gần vùng đất của la-sát, quỉ này nhiều lần xâm nhập bắt người ăn thịt vô độ. Vua nước này bèn giao ước với la-sát: “Một ngày ta sẽ dâng một người, các ngươi chớ lạm sát!”.
Ngày kia đến phiên dâng người của một gia đình tin Phật, vợ chồng nhà này chỉ có một bé trai mới tròn mười tuổi. Cha mẹ thương xót, khóc lóc kêu gào, bảo tất cả chí tâm niệm Phật, đồng thời mời thân tộc đến hỗ trợ tinh thần cho con mình, họ cùng tiễn đứa bé đến nơi đã định rồi trở về. Nhờ thần lực Phật, la-sát không thể đến gần đứa bé. Sáng hôm sau mọi người đến, thấy đứa bé vẫn còn. Họ vô cùng vui mừng, dẫn bé về nhà. Từ đó về sau nước này không còn nạn la-sát ăn thịt người nữa. Nhân dân trong nước vui mừng, tin kính Phật pháp.
51.3.3. Đời Tống, Trần Bùi ở Bột Hải: Vào thời này, hễ vị quan nào đến quận Tửu Tuyền nhận chức Thái thú, thì không bao lâu sẽ chết. Bấy giờ Trần Bùi người Bột Hải được triều đình cử nhậm chức nơi đây, ông vô cùng lo sợ, bèn đến thày toán số gieo một quẻ. Thày toán số bảo: “Tránh xa Chư Hầu, buông tha Bá Cừu. Nếu ngài hiểu được lời này thì không có gì phải lo!”. Nhưng ông không giải đáp được. Thầy toán số lại bảo: “Ngài cứ đi, ắt sẽ hiểu được”.
Khi ông đến nhiệm sở, nơi đây có quan giám ngục là Vương Hầu Bình, lại có các viên quan khác tên là Sử Hầu, Đổng Hầu. Bấy giờ mới hiểu hai chữ Chư Hầu, thế là ông tránh xa các người này. Đêm đến, ông nằm suy nghĩ mãi mà vẫn không hiểu buông tha Bá Cừu là gì. Đến khuya, bỗng có một vật rơi trên chăn ông đang đắp, ông thức giấc, dùng chăn túm bắt được. Vật ấy vùng vẫy, phát ra những tiếng kêu lớn, mọi người cầm đuốc chạy vào phòng và đều muốn giết chết. Vật ấy nói:
- Tôi không có ác ý, chỉ muốn thử thái thú mà thôi! Xin tha cho một lần, tôi sẽ trọng báo ân này!
Ông nói:
- Ngươi là loài gì mà vô cớ xúc phạm thái thú?
Đáp: Tôi vốn là hồ li trăm tuổi, nay đã biến thành yêu mị, sắp trở thành thần, mà nay phạm uy thái thú, nên gặp phải nguy khốn này. Xin tha cho tôi một lần, tôi tên là Bá Cừu. Nếu ngài gặp nạn cấp bách, xin cứ gọi tên tôi thì sẽ tự thoát được!
Ông vui mừng thầm nghĩ: “Đây đúng là nghĩa buông tha Bá Cừu của quẻ!”. Ông hé mở tấm mền thì có một luồng sáng màu đỏ như ánh chớp vọt ra khỏi nhà. Hôm sau, lại có người gõ cửa, ông hỏi:
- Ai đó?
- Dạ! Bá Cừu đây!
- Có việc gì?
- Có việc cần thưa!
- Thưa việc gì?
- Phía bắc quận có giặc tên là Phát Nô!
Ông đến nơi tra xét thì đúng thật như thế. Từ đó về sau, trong quận không có kẻ gian, mọi người đều cho là Thánh quân xuất hiện. Sau hơn một tháng, quan Chủ bạ Lí Âm tư thông với tì nữ của Trần Bùi, sợ Bá Cừu đến báo, nên cùng với những kẻ có tên Hầu âm mưu giết ông. Đợi lúc không có người bên cạnh, Lí Âm sai bọn chúng cầm gậy xông vào phòng định đánh chết ông. Trần Bùi hoảng sợ kêu lớn: “Bá Cừu đến cứu ta!” thì liền có một vật tung ra giống như một dải lụa đỏ, lại phát ra tiếng. Những kẻ tên Hầu té ngã trên đất, hoảng sợ mất vía. ông cho bắt chúng và tra hỏi nguyên do, chúng đều cúi đầu nhận tội. Hơn một tháng sau, Bá Cừu đến nói lời từ biệt: “Nay tôi đã được làm thần, phải lên thiên đình, không còn gặp ngài nữa!”. Từ đó về sau Bá Cừu không còn xuất hiện.
51.3.4. Đời Đường, vị tăng ở Tinh châu: Sư trụ ở chùa Thạch Bích, lấy tụng kinh và tọa thiền làm sự nghiệp. Hằng ngày sư siêng năng, khổ hạnh tu tập. Khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-650) đời Đường, bỗng nhiên có một con chim câu mẹ đến làm tổ trên cây cột trong phòng của sư, nuôi hai chim non trong tổ. Mỗi khi thức có ăn thừa, sư thường đem về mớm cho hai chim non. Hai chim non dần lớn, nhưng đôi cánh chưa đủ lông, một hôm chúng tập bay, chẳng may rơi xuống đất chết. Sư nhặt lấy và đem chôn.
Mười ngày sau, ban đêm sư nằm mộng thấy hai đứa bé đến thưa: “Đời trước vì phạm một chút tội mà phải bị đọa làm thân bồ câu, những ngày gần đây nghe pháp sư tụng kinh Pháp hoa, Kim cang, Bát-nhã, nên đã được thụ thân người. Chúng con sẽ thác sinh làm con trai trong một gia đình họ đó, tại thôn đó, cách chùa hơn mười dặm, sau mười tháng nữa sẽ chào đời”. Đúng vào ngày ấy, sư đến xem thì thấy người vợ trong gia đình ấy sinh đôi, được hai bé nam. Nhân lúc dự trai lễ đầy tháng, sư gọi: “Cáp nhi!”. Hai đứa bé đều đáp: “Dạ!”. Sau lần đáp này, mãi đến hơn một năm sau hai đứa bé mới biết nói.
52. CHƯƠNG QUÊN ÂN-TRÁI ÂN
52.1. LỜI DẪN
Từng nghe, bốn loài chìm đắm, ắt phải nhờ thuyền từ cứu vớt; sáu cõi mịt mờ hẳn phải nương thầy bạn dẫn dắt. Cho nên Tam bảo đại từ rủ lòng hóa độ quần sinh, xót thương cứu vớt muôn loài thoát li khổ nạn. Như vậy mà quên ân, bội ân, há không vĩnh viễn đắm chìm trong biển khổ hay sao? Thế nên, vợ ngầm bỏ thuốc độc hại chồng mà chồng nhờ đó được vua ban thưởng; tiều phu phản bội hại gấu liền bị hiện báo rụng tay. Bởi do nghiệp ác vong ân rất nặng, nên hiện đời mới bị ác báo như thế. Cho nên, luận Trí độ nói: “Biết ơn là gốc của đại bi, là cửa đầu tiên để mở ra nghiệp lành, được người kính mến, tiếng tăm vang xa, chết được sinh lên cõi trời, cuối cùng thành quả Phật. Người không biết ơn còn xấu xa hơn cả súc sinh”.
50.2. DẪN CHỨNG
Kinh Bách dụ ghi: “Thuở xưa, có một phụ nữ hoang dâm vô độ, tính dục lẫy lừng, ghen ghét chồng mình. Bà thường nghĩ phương cách để làm hại chồng, tuy đã bày ra nhiều cách nhưng không thành. Một hôm, bà biết chồng sẽ làm sứ giả đến nước láng giềng, nên đã âm thầm làm viên thuốc độc để hại. Bà nói dối chồng:
- Nay chàng làm sứ giả đi xa, sợ gặp phải khó khăn thiếu thốn, nên thiếp đã chuẩn bị năm trăm hoan hỷ hoàn dùng làm lương thực để chàng mang theo.
Khi chàng sang nước khác, lúc đói thì có thể lấy dùng.
Tin theo lời vợ, người chồng khi vào đến địa phận nước khác, định dùng bữa, nhưng chưa kịp ăn thì trời đã sập tối nên phải dừng nghỉ qua đêm trong rừng. Vì sợ thú dữ, ông leo lên cây, bỏ quên hoan hỷ hoàn dưới gốc. Ngay đêm đó, năm trăm tên giặc đoạt của vua nước ấy năm trăm con ngựa và nhiều báu vật cũng dừng nghỉ bên gốc cây này. Vì vội vàng tháo chạy nên tất cả đều đói khát, nay chợt gặp được
hoan hỷ hoàn ở gốc cây, bọn giặc mỗi người ăn một viên. Thuốc độc phát tác, năm trăm tên giặc cùng lúc chết ngay tại chỗ.
Đến sáng, người chồng tỉnh dậy thấy bọn cướp chết ở dưới gốc cây, ông xuống lấy dao, tên đâm vào thây người chết, thâu lấy ngựa và châu báu rồi đi đến diện kiến vua nước ấy. Đúng lúc, vua nước ấy đem quân lần theo dấu của bọn cướp, giữa đường gặp người đi sứ, vua hỏi:
- Ngươi là người nước nào, từ đâu có được nhiều ngựa như thế?
Người đi sứ trả lời:
- Tôi là người nước kia, trên đường đi sứ, tình cờ gặp bọn cướp nên đã ra tay trừ gian, năm trăm tên giặc đó nay đều đã chết hết nơi gốc cây kia. Vì thế mà tôi có được ngựa, của cải châu báu, nay xin đem đến dâng trả cho bệ hạ. Nếu người không tin thì hãy đến xem.
Vị vua kia liền sai người thân tín đi xem, thì thật đúng vậy. Vua vui mừng khen ngợi, được điều chưa từng có. Sau khi về cung, vua thưởng cho ông ta rất hậu và còn phong cho làm chủ một vùng. Các vị cựu thần của vua ganh ghét, nên tâu:
- Người này từ xa đến, chưa tin dùng được, vì sao bệ hạ vội vàng sủng ái, hậu đãi quá mức, thậm chí còn ban chức lớn hơn những cựu thần?
Người đi sứ nghe được liền nói:
- Ai là người mạnh mẽ, hãy cùng ta ra chỗ đất trống so tài.
Các cựu thần hoảng sợ không ai dám đối địch. Một hôm, trong vùng hoang dã rộng lớn có con sư tử dữ chặn đường giết người, cản trở giao thông. Các cựu thần cùng nhau bàn bạc: ‘Ông ấy tự cho mình là người mạnh mẽ không ai địch nổi, nếu nay ông ta có thể giết sư tử kia, trừ họa cho đất nước thì mới thật là giỏi’. Bàn xong, họ liền tâu vua. Vua nghe theo, lại ban cho người đi sứ đao gậy, sai đi giết sư tử.
Ông ta nhận sắc lệnh của vua, ý chí kiên cường đi đến chỗ sư tử. Sư tử thấy ông đến liền chồm dậy, rống lên rồi lao tới trước, ông sợ hãi liền leo lên cây. Sư tử há miệng ngẩng đầu nhìn lên. Ở trên cây, ông run sợ làm rơi dao trúng miệng sư tử, làm cho sư tử chết ngay tại chỗ. Ông vui mừng trở về tâu vua. Vua càng thêm quí trọng, đồng thời tất cả nhân dân trong nước đều kính phục và khen ngợi ông”.
Luận Đại trí độ trích dẫn kinh Phật thuyết bản sinh: “Có người vào rừng đốn củi, lạc mất lối về, lại gặp trời mưa lớn, đến chiều vì bị đói rét và sơ trùng độc thú dữ làm hại nên người ấy trú trong hang đá. Trong hang ông gặp phải một con gấu rất lớn, người ấy hoảng hốt chạy ra ngoài. Con gấu liền nói:
- Ông chớ khiếp sợ, hang đá này thật ấm áp, hãy trú ngụ nơi đây!
Trời mưa liên tiếp bảy ngày, gấu thường đem trái ngon nước ngọt cung cấp cho người ấy. Bảy ngày sau trời tạnh, gấu dẫn người ấy ra chỉ lối cho về. Trước khi đi, gấu dặn:
- Tôi phạm nhiều tội, mọi người đều oán ghét, nếu có ai hỏi, chớ nói là đã gặp tôi.
Người ấy trả lời:
- Được!
Người ấy đi về phía trước thì gặp những người đi săn, họ hỏi ông:
- Ông từ đâu đến, có thấy con thú nào không?
Người ấy trả lời:
- Có thấy một con gấu lớn, nhưng nó có ân cứu mạng, tôi không thể chỉ cho các vị.
Những người đi săn nói:
- Ông là loài người, hãy đứng về phía của con người, sao lại tiếc một con gấu. ông chỉ lạc đường hôm nay thôi, biết khi nào mới trở lại chỗ này? ông hãy chỉ cho tôi, tôi sẽ chia cho ông nhiều hơn.
Người ấy vội thay lòng, dẫn thợ săn đến hang gấu. Thợ săn giết con gấu, chia cho ông ta phần nhiều, nhưng khi vừa đưa hai tay ra lấy thịt thì lập tức hai tay ông ta lìa khỏi thân. Người thợ săn hỏi:
- Ông có tội gì thế?
Người ấy trả lời:
- Gấu này xem tôi như cha với con, thế mà nay tôi vong ân bội nghĩa, cho nên mới đưa đến quả báo này.
Người thợ săn nghe nói hoảng sợ không dám ăn thịt gấu, họ lại đem đến cúng dường cho chúng tăng. Trong đó có vị thượng tọa đã đắc A-la-hán bảo các vị hạ tọa:
- Đây là thịt của bồ-tát, tương lai ngài sẽ thành Phật, các vị chớ ăn thịt này.
Chư tăng bèn xây tháp cúng dường. Vua nghe việc đó liền ban sắc lệnh: “Người trong nước ta, nếu ai vong ân bội nghĩa thì bị đuổi ra khỏi nước”.
(Luận Tân Bà-sa ghi: “Khi ấy, vị thượng tọa quán sát biết đó là thịt của bồ-tát nên đã cùng nhau lấy gỗ hương thiêu nhục thân rồi gom xương còn lại để xây tháp lễ bái cúng dường, giống như thờ tháp Phật).
Kinh Cửu sắc lộc ghi: “Thuở xưa, bồ-tát là một con nai có bộ lông chín màu, sừng nai trắng như tuyết. Nai thường ra bờ sông ăn cỏ, uống nước và làm bạn với một con quạ. Một hôm, có người bị nước cuốn trôi giữa dòng, lúc chìm, lúc nổi, kêu cứu: ‘Hỡi sơn thần, thụ thần, chư thiên, long thần, sao không cứu tôi!’. Nghe tiếng kêu, nai liền bơi xuống sông cứu người ấy. Nai nói:
- Ông hãy ngồi lên lưng và nắm chặt hai sừng của tôi, tôi sẽ đưa ông lên bờ.
Sau khi được đưa lên bờ, người ấy đi quanh con nai ba vòng, cúi đầu lạy tạ:
Nay tôi xin làm kẻ hầu hạ, tùy ý ngài sai khiến, như lấy nước, hái rau v.v...
Con nai nói:
- Thôi, không cần đâu, đường ai nấy đi! Nếu muốn đền ơn, tôi chỉ xin ông một điều là đừng nói cho ai biết tôi ở đây. Vì người ta thích da và sừng của tôi, nếu biết được chỗ của tôi, nhất định họ sẽ tìm giết.
Bấy giờ, hoàng hậu của vua nước ấy, đêm nằm mộng thấy có con nai chín màu, liền giả bệnh nằm mãi. Thấy vậy, vua hỏi nguyên nhân, hoàng hậu tâu:
- Đêm qua thiếp nằm mộng thấy một con nai rất lạ, lông chín màu, sừng trắng như tuyết. Thiếp mong sao có thể lấy da nó làm nệm lót ngồi, lấy sừng nó làm cán cho cây quét bụi. Bệ hạ hãy tìm bắt nó cho thiếp. Nếu bệ hạ không tìm được chắc thiếp sẽ chết mất! Nghe xong, vua thông báo cho cả nước biết, nếu ai tìm được con nai như vậy thì sẽ chia đât nước cùng cai trị và ban cho bát vàng đựng đầy hạt lúa bạc, bát bạc đựng đầy hạt lúa vàng.
Bấy giờ, người bị nước cuốn trôi nghe được tin ấy, vì muốn được giàu sang nên anh ta nghĩ: ‘Nai là loài vật, sống chết đâu có nghĩa gì’! Thế là người ấy vào cung tâu: ‘Tôi biết chỗ ở của con nai ây’.
Nhà vua vui mừng nói: ‘Nếu người lấy được dạ và sừng của nó đem về đây thì ta sẽ chia cho ngươi một nửa đất nước’. Vua nói lời ấy xong thì bỗng nhiên mặt người ấy sinh mụn độc. Ông ta lại tâu:
- Đại vương! Con nai kia tuy là loài vật, nhưng nó có oai thần lớn. Bệ hạ nên cho nhiều binh lính cùng đi mới có thể bắt được nó.
Nghe lời người ấy, vua đích thân dẫn một đạo quân lớn thẳng đến bên bờ sông Hằng. Bấy giờ, con quạ đang đậu trên ngọn cây trông thấy binh lính nhà vua ồ ạt kéo đến, nó liền gọi nai: ‘Bạn ơi! Hãy tỉnh dậy mau! Quân lính nhà vua đã đến!’. Nai vẫn ngủ say, không hề biết. Thấy vậy, con quạ bay xuống mổ vào tai nai; nai tỉnh giấc, nhìn bốn phía thì thấy quân lính đã vây kín không còn đường thoát. Nai đến cạnh xe của vua, vị đại thần đứng gần vua định bắn, nhưng nhà vua ngăn: ‘Đừng bắn! Con nai này trông rất lạ, có lẽ đây là thiên thần!’.
Nai nói với vua:
- Đại vương chớ bắn tôi. Trước đây tôi có cứu sống một người trong nước của nhà vua.
Nói rồi nó lại quỳ xuống và hỏi nhà vua:
- Ai đã chỉ cho bệ hạ biết tôi ở đây?
Nhà vua chỉ sang người đứng bên cạnh xe và nói:
- Chính người mặt có đầy mụn độc kia đã dẫn ta đến đây.
Nai ngước nhìn mặt người kia, nó nghẹn ngào rơi lệ, không sao ngăn được. Nai nói với nhà vua:
- Người kia trước đây bị nước cuốn trôi, tôi không tiếc thân mạng, liều mình xuống mang anh ta lên bờ. Khi chia tay người kia đã hứa không nói cho ai biết chỗ tôi ở. Người này chẳng biết báo ân, cứu người này không bằng vớt một khúc gỗ trôi sông.
Nhà vua nghe nai nói, lòng hổ thẹn vô cùng, ông mắng người kia:
- Ngươi chịu ơn cứu mạng của nai, vì sao lại trở lòng muốn làm hại?
Vua liền hạ lệnh khắp cả nước:
- Nếu người nào đuổi bắt con nai này thì bị giết cả năm họ!
Từ đó, một bầy nai mấy nghìn con thường đến cư trú ở nước này, chúng chỉ ăn cỏ, uống nước mà không hề phá hoại mùa màng. Nước ấy mưa hòa gió thuận, ngũ cốc được mùa, nhân dân không có bệnh dịch, thiên hạ an hưởng thái bình.
Phật nói với các tì-kheo:
- Con nai chín màu thuở đó nay chính là Ta; con quạ là A-nan; nhà vua nước kia nay là vua Tịnh Phạn; hoàng hậu của vua thuở đó nay là Tôn-đà-lợi; người bị nước cuốn trôi kia nay chính là Điều-đạt. Dù Ta có lòng tốt mà Điều-đạt lại cố muốn hại Ta, song vẫn không được toại nguyện”.
Kinh Tước vương ghi: “Thuở xưa, bồ-tát là một chim sẻ chúa, với tâm từ bi cứu độ tất cả chúng sinh. Có lần, vì cứu mạng chúng sinh mà bồ-tát bị thương.
Đó là, một hôm, hổ ăn thịt con vật, răng nó bị mắc xương nên không ăn uống gì được, đói khát kéo dài sắp chết. Chim sẻ chúa thấy vậy bay vào miệng mổ gỡ xương giúp nó, nhiều ngày như thế. Sau khi lấy hết xương ra, hổ thoát chết, nhưng mỏ của chim sẻ chúa bị thương, không ăn được, thân thể gầy mòn.
Chim sẻ chúa bay lên cây nói cho hổ nghe lời Phật dạy: ‘Giết hại mạng sống là việc làm tàn bạo, tội ác ấy không tội nào lớn bằng!’.
Nghe tiếng khuyên bảo của chim sẻ chúa, hổ đùng đùng nổi giận và nói:
- Ngươi mới vừa thoát khỏi miệng của ta mà còn dám nhiều lời!
Thấy hổ không thể giáo hóa được, chim sẻ chúa liền bay xa.
Đức Phật dạy:
- Chim sẻ chúa thuở ấy nay chính là Ta, còn con hổ kia nay chính là Điều-đạt”.
Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Đề-bà-đạt-đa luôn khởi tâm ác, muốn hại Đức Phật, ông thuê năm trăm bà-la-môn thiện xạ bắn Đức Phật. Khi giương cung thì những mũi tên bắn ra đều hóa thành hoa đẹp. Năm trăm bà-la-môn thấy vậy đều rất sợ hãi, lập tức buông bỏ cung tên, lễ Phật sám hối. Đức Phật thuyết pháp, tất cả đều chứng được quả Tu-đà-hoàn.
Năm trăm bà-la-môn lại bạch Phật:
- Cúi xin đức Thế Tôn cho phép chúng con được xuất gia học đạo!
Phật nói:
- Thiện lai tì-kheo!
Tức thời râu tóc năm trăm bà-la-môn tự rụng, pháp phục tự đắp lên thân. Phật lại thuyết pháp cho họ, khiến tất cả đều chứng được quả A-la-hán.
Bấy giờ, các tì-kheo bạch Phật:
- Thần lực của Đức Thế Tôn thật là hiếm có, Đề-bà-đạt-đa luôn muốn hại Phật, nhưng Ngài thường khởi lòng từ đối với ông ta.
Đức Phật nói:
- Không chi đời này như thế. Vào thời quá khứ, trong nước Ba-la-nại có một thương gia tên là Bất Thức An. Một hôm, ông dẫn năm trăm người ra biển tìm châu báu. Sau khi tìm được thì trở về. Trên đường trở về, đến đoạn vực sâu nước xoáy, lại gặp la-sát dưới nước bắt giữ, nên thuyền không thể đi được. Mọi người đều rất sợ hãi đồng thanh kêu cứu:
- Hỡi các thiên thần, địa thần, các thần mặt trời, thần mặt trăng! Xin các ngài xót thương cứu giúp chúng tôi!
Lúc ấy, có một con rùa lớn, lưng nó rộng một dặm, nghe tiếng cầu cứu, động lòng thương xót liền đến chỗ thuyền, chở mọi người vào bờ.
Khi đến bờ, rùa nằm thiếp đi, Bất Thức Ân muốn lấy đá đập đầu giết rùa, thì mọi người đều can:
- Chúng ta nhờ ơn cứu nạn của rùa nên mới toàn mạng, nếu giết nó là điều không tốt, là kẻ vong ân.
Bất Thức Ân nói:
- Giải quyết cơn đói đang bức bách, đâu còn nghĩ đến việc ân nghĩa!
Nói xong, anh ta liền giết rùa ăn thịt. Ngay trong đêm ấy bỗng có một bầy voi lớn kéo đến giày đạp chết cà đoàn thương buôn.
Đức Phật bảo các tì-kheo:
- Con rùa lớn lúc ấy chính là thân Ta; Bất Thức Ân chính là Đề-bà-đạt-đa, năm trăm thương buôn chính là năm trăm bà-la-môn xuất gia đắc đạo ngày nay. Thuở xưa, ta cứu họ thoát hoạn nạn, bây giờ lại giúp họ thoát khỏi họa sinh tử”.
Kinh Phật thuyết chiên-đàn thụ ghi: “Phật bảo A-nan:
- Hãy lắng nghe và lĩnh thụ. -Trong nước Duy-dạ-li có năm trăm người ra biển tìm châu báu. Lúc trở về, họ bỏ thuyền đi bộ theo con đường tạt xuyên qua rừng sâu. Trời sụp tối, họ dừng nghỉ và dự định sáng sớm tiếp tục lên đường. Trời vừa sáng, bốn trăm chín mươi chín người đều ra đi, nhưng có một người vì ngủ say, dậy trễ, nên lạc mất đoàn, lại gặp lúc trời mưa tuyết lấp hết lối đi. Người này khốn đốn trong rừng, chỉ biết gào khóc kêu trời.
Trong rừng có cây chiên-đàn hương rất lớn, vị thụ thần của cây này nói với người lạc đường: ‘Ngươi có thể lưu trú ở đây, ta sẽ cung cấp thức ăn đồ mặc cho ngươi, đợi đến mùa xuân rồi đi’
- Người lạc đường liền ở lại ba tháng. Một hôm, người ấy nói với thụ thần:
- Tôi nhờ ân của ngài nên mới bảo toàn được tính mạng, lại chưa có chút gì báo đáp, nhưng tôi còn song thân ở quê nhà nên muốn trở về, xin ngài chỉ giúp đường.
Thụ thần chấp nhận và còn tặng cho người lạc đường một bình vàng, lại nói:
- Làng của ông cách đây không xa.
Lúc sắp lên đường, người ấy hỏi:
- Cây này có hương thơm thanh khiết, thật ít có ở đời. Nay tôi sắp ra về, muốn được biết tên của nó.
Thụ thần nói:
- Anh chẳng nên hỏi làm gì!
Người lạc đường lại nói:
- Tôi nhờ cây này chở che ba tháng, khi trở về quê nhà phải nêu công ơn của cây này.
Thụ thần đáp:
- Cây này tên chiên-đàn, gốc rễ cành lá của nó đều chữa được nhiều bệnh, hương của nó bay xa. Đây là cây quí hiếm, mọi người rất muốn có được, xin ông đừng nói cho ai biết.
Người ấy trở về quê hương, họ hàng thân tộc đều rất vui mừng.
Sau đó không lâu, vua nước này mắc bệnh đau đầu, đã cầu cúng các thần đất, trời, non nước... nhưng bệnh không khỏi. Danh y xem bệnh nói: ‘Chỉ có cây chiên-đàn hương mới chữa khỏi bệnh cho bệ hạ’.
Nghe xong, vua liền sai người tìm khắp nhưng không có, vua lại ra lệnh trong nước nếu ai tìm được cây chiên-đàn hương thì sẽ được phong hầu và gả cho công chúa.
Bấy giờ, người lạc đường nghe vua ban thưởng trọng hậu, liền đến tâu: ‘Tôi biết nơi có cây chiên-đàn hương’.
Vua liền ra lệnh cho thợ mộc cùng người ấy đốn cây đem về. Khi đến nơi vị quan thấy cây to cao sừng sững, cành lá sum suê, hoa quả rực rỡ hiếm thấy nên không nỡ chặt, song nếu không chặt thì trái lệnh vua. Đang phân vân do dự chưa biết phải làm sao thì nghe từ không trung có tiếng của vị thụ thần bảo:
- Cứ chặt đi, nhưng để gốc lại, lấy máu người bôi vào và đặt ruột gan người lên trên thì cây tự nhiên sẽ xanh tốt lại như cũ. Vị quan nghe thụ thần nói như vậy liền sai người chặt cây.
Trong lúc chặt, người lạc đường đứng bên cây, bông nhiên bị cành cây rơi xuống quật chết. Chặt xong, vị quan nói với mọi người:
- Lúc đầu thụ thần có nói nên lấy máu và gan ruột của người để tế cây, nhưng không biết phải lấy ai để thay thế. Nay người này đã chết, ta nên dùng thân ông ta.
Bàn xong, họ liền mổ thân người chết lấy máu và gan làm theo lời của vị thụ thần, cây liền xanh tốt như cũ.
Chở cây về nước, ngự y bào chế thuốc đem dâng vua, vua uống bệnh liền khỏi, khắp nước đều rất vui mừng. Vua ra lệnh cho dân chúng trong nước nếu có ai mắc bệnh đều được ban cho cây chiên-đàn hương để chữa trị, mọi bệnh đều khỏi, người người vui hưởng thái bình.
Bấy giờ, ngài A-nan rời tòa đỉnh lễ Đức Phật thưa:
- Bạch Thế Tôn! Vì sao người ấy lại bội ân, thất hứa với vị thụ thần.
Phật đáp:
- Khi xưa, vào thời Đức Phật Duy-vệ, có ba cha con một nhà nọ. Người cha trì trai giữ giới rất tinh tiến. Người con lớn thường ra khoảng trống ở sân đốt hương cúng dường mười phưomg chư Phật. Còn người con thứ ngu si, chẳng biết Tam bảo, nên thấy anh đốt hương cúng dường liền lấy áo phủ lên. Người anh nói:
- Việc này rất hệ trọng, sao em dám xúc phạm?
Người em liền buông lời độc ác:
- Tôi sẽ chặt hai chân của anh đấy!
Người anh lại nghĩ: ‘Ta sẽ đánh chết người em này!’.
Người cha nghe hai anh em cãi nhau nói:
- Hai con cãi nhau làm cha đau đầu quá!
Người anh thưa:
- Con xin đem thân này làm thuốc chữa bệnh cho cha để cha bình phục.
Vì khẩu nghiệp đã tạo không bao giờ mất, nên đời đời họ phải chịu tội. Vì người em khởi lòng ác muốn chặt chân anh, nên quả báo về sau dẫn người đến chặt cây. Người anh muốn đánh chết em, nên nay làm thụ thần, mượn cây làm thân quật chết người em. Vị quốc vương đau đầu ấy kiếp trước chính là phụ thân của người lạc đường, vì trước đây trì trai giữ giới nên nay được tôn quý. Lúc ấy ông ta nói: ‘Anh em cãi nhau làm ta đau đầu’, nên quả báo về sau lại bị đau đầu. Mỗi người phải tự chuốc họa của mình”,,
Phật bảo:
- Tội phúc báo ứng theo nhau như bóng với hình”.
Có bài tụng:
Đại bi cứu chúng sinh
Đức nặng hơn trời đất
Ân sâu của cha mẹ
Nghĩa vượt cả quân thần
Trung hiếu ấy suốt đời
Cũng không thể báo đáp
Nếu trái nghịch lí ấy
Sẽ mất mạng tan thân.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
29/11/2015
PUCL QUYỂN 55 - CHƯƠNG PHÁ TÀ
QUYỂN 55 Quyển này gồm một chương Phá tà. 62. CHƯƠNG PHÁ TÀ 62.1. LỜI DẪN Từng nghe: Tam thừa mở lối, giúp các con thoát nạn nhà lửa; Bát chính dẫn đường, đưa chúng sinh ngộ quả Vô vi. Cho nên, mây từ tuôn mưa, không phâ...
29/11/2015
PUCL QUYỂN 54 CHƯƠNG TRÁ NGỤY, LƯỜI BIẾNG, KIÊU MẠN
QUYỂN 54 Nội dung quyển này gồm hai chương: Trá ngụy, Lười biếng và kiêu mạn. 60. CHƯƠNG TRÁ NGỤY 60.1. LỜI DẪN Chí đạo không phân biệt, chỉ cốt ở lời ngay. Cho nên, nói lời thiện thì dù xa nghìn dặm vẫn có người hưởng ứ...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 53 - CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ, NGU ĐỘN
QUYỂN 53 Nội dung quyển này gồm hai chương: Thông minh cơ trí, Ngu độn. 58. CHƯƠNG THÔNG MINH CƠ TRÍ 58.1. LỜI DẪN Phàm ba tạng mênh mông, bảy chúng đông nhiều. Nhưng lập giáo hợp cơ thì mọi người sẽ thông đạt. Nếu nghe...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 52 - CHƯƠNG QUYẾN THUỘC, SO SÁNH, HƠN KÉM
QUYỂN 52 Quyển này gồm hai chương: Quyến thuộc, So sánh hơn kém. 56. CHƯƠNG QUYẾN THUỘC 56.1. LỜI DẪN Trộm nghĩ: quyến thuộc luôn hoán chuyển, nào mới cũ đổi thay, nào ở đi khó biết, nào tan họp tạm thời. Bởi do duyên th...
27/11/2015
PUCL QUYỂN 51 - CHƯƠNG BẠN TỐT, BẠN XẤU, TRỌN BẠN
QUYỂN 51 Quyển này gồm ba chương: Bạn tốt, Bạn xấu, Chọn bạn. 53. CHƯƠNG BẠN TỐT 53.1. LỜI DẪN Luận đến chỗ tột cùng của đạo lý thì chỉ có thiện và ác. Thật cũng dễ nhận biết hai con đường này, như ẩn kín thì có tội phúc...
24/11/2015
PUCL QUYỂN 49 - CHƯƠNG TRUNG HIẾU
QUYỂN 49 Quyển này gồm hai thiên: Trung hiếu, Bất hiếu. 49. CHƯƠNG TRUNG HIẾU 49.1. LỜI DẪN Trộm nghĩ, người có trung hiếu-kính thành thì vượt trên đức hiền của Đổng Ảm; như trái nghịch, khinh mạn tôn thân thì tội còn lớ...
24/11/2015
PUCL QUYỂN 48 - CHƯƠNG KHUYÊN RĂN
QUYỂN 48 Quyển này có một chương Khuyên răn. 48. CHƯƠNG KHUYÊN RĂN 48.1. LỜI DẪN Phàm lập tượng để biểu thị chân hình là phép tắc thường của thế gian; nhờ ngón tay để thấy mặt trăng là phương tiện hằng dùng của đạo xuất...
22/11/2015
PUCL QUYỂN 47 - CHƯƠNG TRỪNG PHẠT LỖI LẦM, HÒA THUẬN
QUYỂN 47 Quyển này gồm hai chương: Trừng phạt lỗi lầm, Hòa thuận. 46. CHƯƠNG TRỪNG PHẠT LỖI LẦM 46.1. LỜI DẪN Hình hài gây nhiều họa, đúng lí phải răn dè; căn thức hôn trầm, theo lẽ luôn cảnh tỉnh. Cho nên kinh Di giáo g...
